Thuyết ngang giá sức mua PPP được áp dụng tại tất cả mọi thời điểm.Nhớ lại chương 2 công thức 2.4 từ giả thuyết bắt đầu của ngang giá sức mua, vớimức giá nội địa P của Anh và mức giá nướ
Trang 1TÀI CHÍNH QUỐC TẾ CHƯƠNG 5: GIÁ LINH HOẠT VÀ MÔ HÌNH TIỀN TỆ
(156-184)
Gồm 5 phần
1 Mô hình tiền tệ giản đơn đối với tỷ giá hối đoái thả nổi
2 Mô hình tiền tệ giản đơn đối với tỷ giá hối đoái cố định
3 Lãi suất trong mô hình tiền tệ
4 Mô hình tiền tệ như là lời giải thích cho thực tế
5 Kết luận
GIỚI THIỆU
Có khá nhiều lý do khiến chúng ta tìm hiểu về mô hình tiền tệ đầu tiên Điều đầutiên, mô hình là cách tiếp cận đầu tiên nhằm giải thích các hiện tượng liên quan đến biếnđộng tỷ giá hối đoái, một cách khác đó là cán cân thanh toán, và những thứ khác nữa Nódiễn ra như một cuộc phục hưng ngắn trong những năm 1970 Quan trọng hơn, nó đạidiện cho một tiêu chuẩn rõ ràng nhằm so sánh đối chiếu các phương pháp khác đối vớiviệc xác định tỷ giá hối đoái, một số trong các phương pháp đó đã phát triển thành các
mô hình tiền tệ Và cuối cùng, mặc dù mô hình này không giải thích được sự biến độngđối với tỷ giá hối đoái được quan sát hằng ngày, hàng tháng trong những năm qua, nhưnglại cho ta thấy một cái nhìn toàn cảnh bức tranh trong dài hạn của tỷ giá hối đoái – một
xu hướng trong dài hạn
Định nghĩa cái được gọi là mô hình tiền tệ bắt nguồn từ cách tiếp cận đối với cáncân thanh toán trong khoảng thời gian trước đó, ít nhất là giống như những việc màDavid Hume đã làm ở những năm 1741 Bao gồm 2 nội dung cơ bản mối quan hệ ngangbằng sức mua (chương 4) và nhu cầu về tiền tệ (chương 2)
Trong phần thứ nhất, hai mối quan hệ sẽ được kết hợp trong mô hình tổng cungtổng cầu giản đơn, sau đó sẽ được sử dụng để phân tích tác động của sự gia tăng cungtiền, thu nhập và giá cả nước ngoài trên tỷ giá thả nổi trong các phần tiếp theo Trongphần 5.2, chúng ta xem xét diễn biến của cán cân thanh toán trên tỷ giá cố định Trong
đó, phần 5.2.4 sẽ phân tích ảnh hưởng của việc mất giá Trong phần 5.3, chúng ta tìm
Trang 2hiểu vai trò của lãi suất Phần cuối cùng, cung cấp một cuộc khảo sát ngắn gọn là bằngchứng đối với mô hình tiền tệ.
5.1 MÔ HÌNH TIỀN TỆ GIẢN ĐƠN VỚI TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THẢ NỔI
Chúng ta bắt đầu bằng thiết lập tình huống, mô hình được thiết lập trong phần này
vô cùng đơn giản, nhưng lại đủ đưa ra những kết luận điển hình đối với tiền tệ quốc tế
5.1.1 Đặt vấn đề
Mô hình tiền tệ chủ yếu dựa trên 3 giả định chính: đường tổng cung thẳng đứng,
sự ổn định của nhu cầu tiền trệ và thực hiện được sức mua tương đương (PPP), chúng ta
sẽ xem xét những giả định này
Giả định 5.1 – đường tổng cung là thẳng đứng
Có hai điểm phải nhớ trong vấn đề này bắt đầu từ chương 4 Đầu tiên, điều nàykhông phải ngụ ý rằng sản lượng là hằng số - đơn giản rằng, sản lượng có thể chỉ biếnđộng khi mà kết quả của sự thay đổi trong sản xuất suất của nền kinh tế, hiểu rộng ra làbởi vì tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự tích lũy vốn, sự tăng trưởng tiền lương hay nhưtiến bộ của giá dục đào tạo hay nhiều cái khác nữa
Thứ hai, đường tổng cung thẳng đứng giả định trước giá linh hoạt hoàn hảo trongtất các thị trường
Giả định 5.2 – Nhu cầu số dư tiền thực đòi hỏi ổn định chỉ ở biến kinh tế vĩ mô của một số nước Trong thực tế, tại thời điểm này và cho đến khi có thông báo mới, chúng ta sẽ làm việc với phương trình Cambridge (4.7):
M d =k.P.y, k>0
Trong đó, y là thu nhập thực của Quốc gia và k là một tham số dương.
Công thức đặc biệt đơn giản hoá các vấn đề một cách đáng kể Xem xét ngụ ý màcông thức biểu lộ đối với tổng cầu Cho 1 lượng tiền, Ms
0, cân bằng nghĩa là ta có:
Ms
0=k.P.y=k.Y (5.1)
Theo đó, thu nhập danh nghĩa Y, phải được cố định trong suốt đường tổng cầu, khi
đó, chỉ ra giá trị nhất định cho một lượng tiền
Nhìn vào biểu thức 5.1 Thu nhập danh nghĩa Y=P.y liên kết các điểm trên đường
AD0 (Ms
0) tạo ra vùng chữ nhật – phản ánh Ms Ví dụ như OP0Ay0 từ điểm A, hay OP2Dy1
từ điểm D Diện tích của các hình là bằng nhau và bằng Ms
0 Khi đó, nếu như mức giá P
Trang 3giảm xuống thì sẽ có lượng tăng tương ứng tỷ lệ đối với thu nhập y Đảm bảo là mức Ms
0
không đổi
Nhiều điều quan trọng hơn cho mục đích hiện tại, xem xét một sự tăng lên tronglượng tiền danh nghĩa Như chúng ta thấy trong chương 4, sự thay đổi này làm cho đườngtổng cầu dịch chuyển lên và qua phải Khi ấy, so sánh 2 điểm A và B, hiển nhiên, P1 lớnhơn P0 thì tương ứng Ms
1 sẽ lớn hơn Ms
0 tương ứng tỷ lệ
Trang 4Giả định 5.3 Thuyết ngang giá sức mua (PPP) được áp dụng tại tất cả mọi thời điểm.
Nhớ lại chương 2 (công thức 2.4) từ giả thuyết bắt đầu của ngang giá sức mua, vớimức giá nội địa P của Anh và mức giá nước ngoài P* của Hoa Kỳ, cân bằng xảy ra khicác mức giá có mối quan hệ như sau:
SP * = P
Để không thể thu lợi bằng cách vận chuyển hàng hoá từ nước này sang nước khác.Điều này cũng tương đương với việc sức mua của đồng tiền mỗi quốc gia phải giốngnhau dù rằng chi tiêu ở thị trường trong nước hay chuyển sang ngoại tệ và chi tiêu ranước ngoài
Bây giờ xem xét hình 5.2 (a), trong đó trục thẳng đứng cắt ngang mức giá trongnước và ngang các lô giá đồng bảng Anh Dòng được rút ra từ nguồn gốc là locus của tất
cả các kết hợp của S và P đáp ứng được phương trình 2.4 - gọi nó là đường PPP Rõ ràng,
nó có một gradient bằng P * Điểm phía trên và phía bên trái của đường dây là nhữngđiểm mà nền kinh tế Anh không cạnh tranh (mức giá trong nước quá cao), vì vậy nó cógiá trị nhập khẩu hàng hoá từ Mỹ thay cho các sản phẩm Anh tương đối đắt Điều ngượclại là đúng dưới dòng
Trang 5Về tỷ giá hối đoái thực (xem lại định nghĩa trong mục 2.4, nếu cần), trên đườngPPP sự sụt giảm thực là cần thiết nhằm khôi phục lại vị trí cân bằng, bên dưới nó điềungược lại cũng đúng
5.1.2 Trạng thái cân bằng
Trong hình 5.2 (b), đường tổng cầu và tổng cung được vẽ nên bởi giá trị lượng tiên
và sản lượng đầu ra Với một lượng cung tiền ban đầu Ms
0, P0 là giá cân bằng tại nền kinh
tế đóng hoàn toàn và tất cả phải phù hợp với tình hình nền kinh tế trong nước đó
Thực tế, P0 vẫn là mức giá cân bằng, thậm chí ngay cả ở mô hình nền kinh tế mở.Hơn thế nữa, giá trị này đã được xác định mà không có bất cứ tài liệu tham khảo nào đốivới tình trạng trong khu vực bên ngoài của nền kinh tế
Tuy nhiên, trong lĩnh vực bên ngoài, PPP yêu cầu mức giá P0 gắn liền với tỷ giá
S0 Một giá trị thấp hơn của S sẽ để sản lượng trong nước không cạnh tranh trên thịtrường thế giới và do đó dẫn đến việc cung cấp dư thừa tiền tệ gia đình và ngược lại ởmức cao hơn của S (trang 161)
However, in the external sector, PPP requires that a price level of P0 be associatedwith an exchange rate of S0 A lower value of S would leave domestic outputuncompetitive on world markets and hence result in an excess supply of the homecurrency and vice versa at a higher level of S
Ta có thể thấy bản chất của sự cân bằng chính thức bằng cách kết hợp các phươngtrình 2.4 và 5.1 để có:
Bây giờ hãy xem xét ảnh hưởng đến sự cân bằng của ba sự thay đổi: sự mở rộngtiền tệ, sự gia tăng thu nhập thực trong nền kinh tế trong nước và sự gia tăng của mức giáchung của thế giới
Trang 65.1.3 Gia tăng (mở rộng) cung tiền khi áp dụng tỷ giá thả nổi
Bắt đầu bằng việc mở rộng lượng tiền sang một mức mới - Ms
1 Giả định rằng cácbiến ngoại sinh (thu nhập thực y, và mức giá ngoại tệ P*) không thay đổi
Tại mức giá ban đầu P0, rõ ràng có một lượng cung tiền dư thừa, điều này khiếncho các nền kinh tế gia tăng chi tiêu nhằm giảm cân bằng tiền của họ (Nhớ lại rằng lýthuyết về số lượng được xây dựng trên giả định rằng các nước muốn giảm lượng tiền chỉ
có một cách duy nhất là gia tăng mua hàng hoá, dịch vụ) Đối ngược với cung tiền quámức là do nhu cầu về hàng hoá quá cao, được đo lưởng bởi khoảng cách (yd-y0) trongbiểu đồ 5.2 (b)
Với giả định của chúng ta về cố định thu nhập thực và sản lượng đầu ra, việc chitiêu thêm làm tăng giá (do đó có các mũi tên từ c, b, từ điểm A đến điểm B) Khi giá cảhàng hoá tăng, giá cảu Đô la Mỹ cũng phải tăng (the pound depreciate) để giữ cho sảnlượng trong nước được cạnh tranh, hay nói cách khác, để ngăn chặn sự sụt giảm giá trịcủa lượng hàng hoá ở Mỹ vào thị trường nền kinh tế Anh nhằm đáp ứng tỷ giá thực thíchhợp
Thật dễ dàng để thấy sự sụt giảm giá trị lớn như thế nào nhằm khôi phục lại trạngthái cân bằng Với mức giá trong nước cao hơn tỷ lệ mở rộng tiền tệ và mức giá của Hoa
Kỳ không đổi, sự bảo toàn của ngang giá sức mua có nghĩa là tăng một tỷ lệ tương tựtrong giá của đô la
Chúng ta đã đạt được kết luận quan trọng đầu tiên trong phân tích của chúng ta về
mô hình tiền tệ:
Mệnh đề 5.1 Trong mô hình tiền tệ, một tỷ lệ phần trăm gia tăng trong cung tiền
nội địa, và những điều kiện khác không đổi thì sẽ làm sụt giảm một mức tỷ lệ tương ứngđối với giá trị của đồng nội tệ
Hộp 5.1 Bằng chứng cho mệnh đề 5.1
Viết lại phương trình 5.1, lấy đạo hàm hai vế, sau đó ta có:
dM/M - dP/P = dy/y
Nhớ rằng, đối với bất kỳ biến X, d (log X) = dX / X Vì chúng ta giả định rằng
y hiện tại là hằng số, bên phải đẳng thức bằng 0 Do đó, mức giá trong nước phải thayđổi theo tỷ lệ thay đổi của lượng tiền
Bây giờ xử lý phương trình PPP theo cách tương tự, để có:
dS/S + dP*/P* = dP/P
Trong đó P* được giả định không đổi, điều này nói rằng tỷ giá phải sụt giảmtheo tỷ lệ gia tăng của giá Anh
Trang 75.1.4 Gia tăng thu nhập khi áp dụng tỷ giá thả nổi
Bây giờ xem xét đến ảnh hưởng của sự gia tăng thu nhập thực, từ y0 đến y1, vàlượng tiền tệ không đổi (hình 5.3)
Ở bất cứ mức giá nào, thu nhập thực cao hàm ý là nhu cầu về tiền tệ sẽ cao hơn.Nói cách khác, với một lượng cung tiền nhất định chúng ta phải có thu nhập danh nghĩakhông đổi, Py Vì vậy, thu nhập thực cao hơn hay thấp hơn phải được thể hiện ở mức giá
Khi thu nhập danh nghĩa có bước nhảy vọt lên P0y1 (tại điểm c trong hình 5.3 (b)),
sẽ tác động làm dư thừa nhu cầu về lượng tiền và dư thừa về cung hàng hoá bằng khoảngcách (y1-y0) tại mức giá ban đầu P0 Khi đó, chúng ta có thể thấy, số dư thật sự chỉ được
bù trừ bằng cách giảm chi tiêu
Kết quả làm giảm phát, mức giá từ P0 sụt xuống mức P1 Tại điểm cân bằng mới,
tại b, cả thị trường tiền tệ và thị trường hàng hoá đều clear, với cung và cầu như trước khi
gia tăng thu nhập và có cùng mức thu nhập danh nghĩa
Tuy nhiên, trong nền kinh tế mở, tỷ giá hối đoái giảm từ S0 xuống S1 Nếu không,giá trong nước sẽ giảm ( sự sụt giảm trong tỷ giá thực), làm cho hàng hoá của Anh
overcompetitive, gây ra hiện tượng dư thừa cầu cho đồng Bảng Anh (ví dụ trường hợp ở
điểm G) Ngang giá sức mua PPP được duy trì do được đánh giá cao, do đó, việc giảm
Trang 8giá sản lượng ở Anh được bù đắp bởi sự gia tăng giá của đồng Bảng Anh so với đồng Đôla.
Chúng ta kết luận như sau:
Mệnh đề 5.2 Trong mô hình tiền tệ, sự gia tăng thu nhập thực trong nước, với các
yếu tố khác không đổi sẽ dẫn đến sự sụt giảm trong giá đồng nội tệ
Lưu ý rằng, chúng ta kết hợp việc tăng thu nhập thực với việc định giá tiền tệ Kếtluận này mâu thuẫn với kết luận của mô hình DIY, khi thu nhập gia tăng kinh tế trongnước có xu hướng hút hàng nhập khẩu, gây ra sự sụt giảm (mất giá) đối với tỷ giá thả nổi
Lý do chúng ta có kệt quả ngược lại ở đây là bởi mô hình tiền tệ tập trung vào tácđộng của việc gia tăng thu nhập lên nhu cầu tiền tệ chứ không phải là hàng hoá Kể từ khilàm gia tăng nhu cầu về tiền, mô hình tiền tệ gây ra sự sụt giảm đối với nhu cầu về hànghoá, dẫn đến việc làm giảm giá cả trong nước
5.1.5 Gia tăng giá nước ngoài khi áp dụng tỷ giá thả nổi
Một đặc trưng quan trọng của mô hình này là kết luận về tác động của các biếnngoại sinh hệ quả của nó
An important feature of the model is its conclusion regarding the effect of achange in the remaining exogenous variable, P*, the foreign price level
Tập trung vào đường ngang giá sức mua PPP trong hình 5.4 (a) Đường PPP sẽthay đổi như thế nào khi giá nước ngoài P* tăng lên? Khi độ dốc của đường PPP là P/S =P*, nó sễ trở nên dốc hơn, do đó mức giá ban đầu P0 của Anh, gắn liền với một mức giáthấp hơn đồng Đô la Mỹ, hay nói cách khác sẽ có một tỷ giá cao hơn cho đồng Bảng Anh
Lý do để được kết quả như trên càng minh bạch rõ ràng hơn Với mức giá Hoa Kỳ
cao hơn, hàng hóa của Anh overcompetitive tại mức tỷ giá cũ Nhu cầu tiềm năng của
Hoa Kỳ nhập khẩu hàng hóa Anh rẻ hơn đang áp đảo nhu cầu của các nhà cung cấp ởAnh và làm tăng giá trị của đồng bảng Anh cho đến khi sức cạnh tranh của Mỹ được phụchồi
Tại điểm cân bằng mới, thực tế thì sản lượng của Hoa Kỳ có giá cao hơn với đồng
Đô la so với trước đây, được bù đắp bổi giá tương đối cao của đồng Bảng Anh Chúng takết luận được:
Trang 9Mệnh đề 5.3 Trong mô hình tiền tệ, việc tăng mức giá nước ngoài khi các điều
kiện khác không đổi được kết nối với việc định giá đồng nôi tệ (đó là việc sụt giảm tỷgiá) và không có bất cứ sự thay đổi nào khác của nền kinh tế trong nước
Từ quan điểm của chính sách kinh tế vĩ mô, mệnh đề này rất có ý nghĩa Nó chothấy lạm phát thế giới không ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nước Mức giá của Anhđược xác định trên thị trường tiền tệ Anh theo cùng một cách Tỷ giá hối đoái thả nổi hoạtđộng như một cái van, liên tục trượt lên hoặc xuống theo yêu cầu để bảo vệ thuyết nganggiá sức mua PPP khi đối mặt với những rối loạn có nguồn gốc từ thị trường tiền tệ trongnước (hoặc của cả hai nước)
Hàm ý rằng chủ quyền chính sách kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia được duy trì bởitính linh hoạt của tỷ giá hối đoái Mỗi nước có thể lựa chọn tỷ lệ lạm phát một cách độclập mà không quan tâm đến hành động của nước kia Nếu tính độc lập của quốc gia đượccoi là đặc điểm mong muốn của một trật tự tiền tệ quốc tế, hệ thống tỷ giá hối đoái có vẻhấp dẫn hơn trên cơ sở phân tích trong
Lưu ý rằng, khi đưa ra mệnh đề 5.3, chúng ta không cần tham khảo ý kiến Hình5.4 (b) Điều đó có nghĩa là các thị trường tiền tệ không có liên quan gì đến kết quảchung cuộc?
Trang 10Có hai lý do tại sao các thị trường tiền tệ chắc chắn là không liên quan Thứ nhất,thực tế là sự cân bằng của thị trường tiền tệ không bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của giá
Mỹ giữ mức giá trong nước cố định ở mức ban đầu P0 và tạo gánh nặng buộc phải điềuchỉnh tỷ giá hối đoái
Thứ hai, bạn hãy tự hỏi mình câu hỏi sau: điều gì đã làm cho mức giá của Mỹtăng?
5.1.6 Mô hình hai quốc gia về tỷ giá thả nổi
Câu trả lời rõ ràng cho câu hỏi trước đó là: cái gì làm cho nguồn cung dư thừa xuấthiện trên thị trường tiền tệ của Hoa Kỳ, ví dụ như sự gia tăng nguồn cung tiền Mỹ hay sựsụt giảm trong thu nhập của Mỹ Trên thực tế, nếu bạn nghĩ về điều đó trong một thờiđiểm, cách xác định mức giá của Mỹ chắc chắn sẽ giống như việc xác định mức giá củaAnh, tức là trong thị trường tiền tệ ở Mỹ
Xem lại phân tích của chúng ta về ảnh hưởng của việc mở rộng tiền tệ trong nềnkinh tế trong nước (xem Phần 5.1.3) Tại sao chúng ta không nên áp dụng cùng một lậpluận với Mỹ như đã được áp dụng cho nước Anh?
Sự gia tăng cung tiền của Mỹ sẽ gây ra sự dư thừa trong thị trường tiền tệ Mỹ,khiến người Mỹ phải chi tiêu nhiều hơn, các thứ khác không đổi, nhằm giảm số dư tiền
tệ Kết quả của nỗ lực đó nhằm chi tiêu nhiều hơn cuối cùng sẽ thúc đẩy mức giá của họ,
P*, do đó làm đồng đô la mất giá để ngăn chặn Hoa Kỳ being flooded with what would otherwise be cheaper imports.
Chúng ta có thể thực hiện mô hình hóa đối xứng này bằng cách viết phiên bản Hoa
Kỳ đối với phương trình số lượng của chúng ta (phương trình 4.7) như sau:
Công thức đơn giản nói rằng nhu cầu tiền của Mỹ, Md*, tỷ lệ thuận với thu nhậpdanh nghĩa của Mỹ, P*y* Lưu ý về các yếu tố tỷ lệ là k*, cho phép nhu cầu tiền của Mỹ cóthể khác biệt về số lượng so với Anh, mặc dù chúng có thể tương đồng về chất lượng(hay tức là có cùng một công thức)
Bây giờ giả định rằng giống với lượng tiền Anh ban đầu Ms
0, cung tiền của Mỹcũng bắt đầu từ Ms
0 Phân chia nhu cầu tiền của Anh theo phương trình (4.7) bằngphương trình 5.4 và đặt ra nhu cầu tiền tương ứng nhằm cung cấp cho mỗi quốc gia
Công thức 5.5
Trang 11Theo PPP, chúng ta có P/P* = S, sau đó chúng ta có thể viết lại công thức 5.5 nhưsau:
Để xem làm thế nào chúng ta có thể sửa đổi những kết luận, viết lại công thức 5.7một cách đơn giản hơn như sau:
Công thức 5.8
Trong đó quy ước đã được đưa ra (và sẽ được tuân theo bất cứ nơi nào cần thiếttrong toàn bộ quyển sách) rằng một dấu ngã trên một biến số biểu thị tỉ số của giá trịtrong nước đối với giá trị nước ngoài, vì vậy M có nghĩa là M/M*
Bây giờ hãy nhớ rằng cung tiền Anh tăng 10%, so với Mỹ M/M * = M, có thể tăng
từ 10% trở lên trong lượng tiền của Anh, từ mức giảm 10% trong lượng tiền Mỹ hoặcnhiều hơn, từ một số kết hợp của cả hai, nói rằng tăng 15% cung tiền của Anh, với sự giatăng 5% tiền của Mỹ
Do đó, mặc dù chúng ta có thể chấp nhận kết luận ban đầu (Mệnh đề 5.1) rằng sự
gia tăng trong cung tiền của Anh, với các yếu tố không đổi làm sụt giảm trong sterling
(gia tăng tỷ giá S) với cùng một tỷ lệ tương ứng, chúng ta cũng nhận ra rằng điều tương
tự với lượng tiền tương đối Như vậy, ví dụ, một sự sụt giảm 10% trong lượng tiền của
Mỹ trong khi lượng tiền của Anh vẫn không đổi sẽ gây ra sự mất giá 10% trong tỷ giá hốiđoái của đồng bảng, với điều kiện các yếu tố khác không đổi
Tương tự, thu nhập thực tế tương đối quan trọng trong việc xác định nhu cầu vềtiền của một quốc gia so với nước khác, do đó thu nhập của Mỹ tăng cũng tác động như
sự sụt giảm trong thu nhập của Vương quốc Anh mà chúng ta biết từ mệnh đề 5.2 rằnglàm gia tăng giá tương đối của đô la
Sau đó, chúng ta có thể tổng hợp cả mệnh đề 5.1 và 5.2 bằng cách thay thế giá trị các biến trong nước với các biến ngoại tương ứng.
Trang 125.2 MÔ HÌNH TIỀN TỆ ĐƠN GIẢN CỦA MỘT TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỐ ĐỊNH
Bây giờ cân nhắc một tình huống khi tỷ giá hối đoái không được phép thay đổi.Phân tích ở đây hơi phức tạp hơn một chút, vì vậy sẽ dễ dàng hơn nếu chúng ta bắt đầubằng cách làm rõ các biến nào được xem như biến ngoại sinh và biến nào là nội sinh
Thu nhập thực, y, được giả định là được đưa ra bởi các yếu tố nằm ngoài phạm vi
mô hình của chúng ta, như trước đây, và mức giá của hàng nước ngoài, P*, được xác địnhbởi cung ngoại tệ, thu nhập và tương tự, và do đó cũng được thực hiện như đã cho trước
Nhớ lại những thảo luận về cung tiền trong phần 4.1.2 (phương trình 4.10) Dướimột chế độ tỷ giá hối đoái cố định, chúng ta kết luận rằng cung tiền không phải là mộtbiến ngoại sinh Thay vào đó, biến chính sách là tín dụng trong nước, DC, và chúng ta cóthể viết:
5.2.1 Cung tiền tăng dưới tỷ giá hối đoái cố định
Nhìn vào hình 5.5, đồ thị nào cho thấy ảnh hưởng của một chính sách mở rộngtiền tệ, nói cách khác, một sự gia tăng tín dụng trong nước, từ cấp độ ban đầu của DC0 lêncấp độ cao hơn, DC1
Trang 13Bắt đầu với hình 5.5(c), phát họa những mức tiền mặt (trục đứng) tương ứng vớicác mức dự trữ ngoại tệ, FX (trục ngang) Đánh dấu mức DC0 trên trục đứng, và từ điểm
đó kéo một đường thẳng 455̊ Đường vẽ đó cho thấy lượng tiền tăng như thế nào khi bổsung dự trữ, với lượng tín dụng trong nước ban đầu cho trước, DC0 Ví dụ, nếu dự trữbằng không, toàn bộ tiền mặt sẽ là tín dụng Khi chúng ta di chuyển sang phải, mỗi pound
bổ sung vào dự trữ sẽ gia tăng lượng tiền mặt đúng bằng 1 pound
Nếu chúng ta bắt đầu với dự trữ FX0, lượng tiền mặt sẽ là:
(5.9)
để điểm bắt đầu trong đồ thị đó là tại H
Bây giờ chúng ta thiết lập giá trị ban đầu của cung tiền và mức giá thống nhất Nóicách khác, giả sử chúng ta có: ky0 = 1 Biểu tượng này chỉ nhằm mục đích minh họa Nó
có lợi ích là cho phép chúng ta chuyển giá trị tiền mặt trên trục đứng của hình 5.5(c) trựctiếp thành mức giá bao hàm trong hình 5.5(a) và (b)
Khai thác thực tế này, mức giá ban đầu mà đưa ra một lượng tiền mặt phải là P0
Do đó nền kinh tế bắt đầu tại điểm a trong hình 5.5(b) Lưu ý rằng nếu tổng cung và cầu
có liên quan, đồ thị vẫn không thay đổi, vì ở giai đoạn này chúng ta không có lý do để tinrằng hành vi của khu vực tư nhân sẽ khác biệt dưới hình thức tỷ giá hối đoái cố định hơn
là thả nổi
Như hình 5.4, đồ thị bên tay trái (hình 5.5(a)) phát họa đường ngang giá sức muaPPP Tuy nhiên, với tỷ giá hối đoái đã được ấn định tại , nên kinh tế phải luôn là các điểmnằm dọc theo theo đường thẳng đứng Bởi vì, như trước đây, việc ngang giá đòi hỏi rằngmức giá trong nước phải tương đương với cân bằng sức mua, theo đó hệ thống phải bắtđầu tại A, tại giao điểm của đường PPP với đường tỷ giá hối đoái cố định Đưa vào chínhthức, chúng ta phải có:
do đó tương ứng với cân bằng của tổng cung và cầu tại điểm a trong hình 5.5(b)
Bây giờ giả sử sự cân bằng ban đầu mà được minh họa bằng các điểm A, a và H bịxáo trộn bởi một sự mở rộng tiền tệ
Trang 14Cùng với việc mở rộng tín dụng trong nước, đường 45 5̊ trong đồ thị cung tiền hình5.5(c) dịch chuyển lên trên tương ứng với sô lượng mở rộng, vì vậy, với việc dự trữ ngoại
tệ vẫn ở mức trước đây của nó (FX0), lượng tiền bây giờ tăng lên tới , như chúng ta có thểthấy ở điểm J
Theo đường thẳng kéo từ J, chúng ta nhìn thấy rằng lượng tiền mới hàm chứa mộtmức giá là P1 (tại b), nhờ vào sự thay đổi trong tổng cầu Từ đường PPP trong hình 5.5(a),
rõ ràng rằng mức giá cao hơn đã làm cho nền kinh tế trong nước không có tính cạnhtranh, bởi vì, giá cả hàng nước ngoài không thay đổi và tỷ giá hối đoái cố định, nó thực
sự tăng giá Tại C, khuyến khích các doanh nghiệp trong nước nhập khẩu từ ngước ngoài
và không cho người nước ngoài mua hàng hóa sản xuất trong nước
Kết quả rõ ràng phải là thâm hụt trong cán cân thanh toán do nền kinh tế phản ứnglại với các điều khoản thương mại thay đổi Tình huống không bền vững Nó sẽ gây ramột sự khấu hao ngay lập tức nếu các cơ quan cho phép Tuy nhiên, theo giả định, họtránh kết quả đó bằng cách sử dụng dự trữ ngoại tệ để mua nội tệ hoặc, để làm nó khác,
để thanh toán các khoản thâm hụt đang diễn ra Kết quả là dự trữ bắt đầu giảm
Mỗi lần giảm dự trữ liên tục có xu hướng làm làm giảm cung tiền, đẩy nền kinh tếdọc theo các đường mũi tên trong trục tọa độ, để hệ thống di chuyển từ J đến K, từ b quaylại a và từ C xuống A Quy trình kết thúc với năng lực cạnh tranh được phục hồi và thâmhụt cán cân thanh toán giảm xuống 0, quay lại điểm A trên đường PPP, với mức giá đượcphục hồi lại mức ban đầu P0 (tại điểm a) việc khôi phục trạng thái cân bằng ban đầu là cóthể vì cung tiền đã thu hẹp, tới mức nó lại ở mức ban đầu,
Để hiểu tại sao chúng ta có kết quả này, quay lại từ phương trình 4.7 mà cầu tiềncủa chúng ta, đường PPP cho trước, phải được tính:
(5.11)
Vấn đề cuối cùng là cầu tiền Chú ý rằng tất cả thành phần của nó là các biếnngoại sinh Sau đó, dưới các giả định của chúng ta, không có gì mà cơ quan tiền tệ làm cóthể ảnh hướng đến cầu tiền Nếu thị trường là rõ ràng, thì sau đó tương tự là cung tiềnphải tự động tìm cách quay lại mức trước khi mở rộng của nó
Cung và cầu tương đương:
(5.12)
Do đó, giải quyết FX cho chúng ta:
(5.13)
Trang 15Phương trình 5.13 cho chúng ta biết rằng dự trữ ngoại tệ, FX, phải chính xác bằng khoảnchênh lệch giữa cầu nội tệ và nguồn cung từ hệ thống ngân hàng địa phương, thông quaquy trình mở rộng tín dụng nội tệ Sau đó các cơ quan trong nước càng tiết kiệm trong tạolập tín dụng, thì sẽ càng thiếu hụt lớn hơn do dự trữ.
Về mặt thay đổi, chúng ta có thể nói rằng:
Mệnh đề 5.4 dưới tỷ giá hối đoái cố định trong mô hình tiền tệ, bắt đầu từ trạng thái cân
bằng, việc gia tăng tín dụng nội tệ sẽ bị vô hiệu hóa, những yếu tố khác cân bằng nhau,
do suy giảm dự trữ do thâm hụt trong cán cân thanh toán tạm thời Ngược lại, sự sụt giảmtín dụng nội địa sẽ gây ra thặng sư trong cán cân thanh toán tạm thời và hậu quả bù đắpgia tăng trong dự trữ
Lưu ý rằng, như mọi khi trong mô hình tiền tệ, cơ chế tham gia ở đây có thể đượcthể hiện hoàn toàn dưới dạng cầu tiền vượt mức
Phía bên phải của phương trình 5.13 là phần cầu tiền vượt mức Đây là nhu cầuvượt mức mà được đáp ứng bằng cung ngoại tệ Sự gia tăng trong tín dụng nội địa từtrạng thái cân bằng tạo ra cung tiền vượt mức trong thị trường nội địa Như trong bốicảnh nền kinh tế khép kín (xem mục 4.1.2), ảnh hưởng là làm cho người dân trong nướcchi tiêu cạn kiệt số dư tiền của họ Tuy nhiên, với thu nhập thực cố định, lạm phát làmcác sản phẩm nước ngoài tương đối rẻ hơn và xuất khẩu trong nước đắt hơn Thâm hụtbên ngoài là kết quả phụ của nỗ lực của khu vực tư nhân để thay thế các hàng hóa cholượng tiền vượt mức Khi dự trữ chi ra, thành phần nước ngoài của lượng tiền giảmxuống cùng với giá nội địa cho tới khi cần bằng được lập lại
Lưu ý rằng vì nó là lượng tiền được tính trong mô hình này, dòng chảy của dự trữvào hay ra một quốc gia có thể chỉ là hiện tượng tạm thời, vì lượng tiền điều chỉnh quathời gian theo nhu cầu Nói cách khác, thâm hụt hay thặng dư cán cân thanh toán đượcxem như là kết quả phụ thoáng qua vốn có của cơ chế điều chỉnh Một khi quy trình đóhoàn thành và thị trường tiền tệ quay lại cân bằng, thâm hụt hay thặng dư sẽ biến mất
Nếu cung tiền, mức giá và cán cân thanh toán đều quay lại mức ban đầu của nó,cái gì thay đổi trong trạng thái cân bằng mới?
So sánh điểm K và H trong hình 5.5(c) Mặc dù cung tiền không thay đổi tại K,nhưng thành phần của nó thay đổi do sự tích lũy các tác động của thâm hụt cán cân thanhtoán tồn tại trong suốt thời gian điều chỉnh Cung tiền mới được tính lại như sau:
(5.14)
Trang 16Nói cách khác, kết quả thuần là lượng tiền bây giờ bao gồm nhiều tín dụng nội địa
và ít ngoại tệ hơn trước đây Những gì xảy ra là một cách làm giảm giá trị của tiền tệ - sựpha loãng tài sản quốc tế trong cung tiền nội địa Chắc chắn, quy trình có một giới hạn rõràng – tại điểm khi mà dự trữ giảm xuống 0 và toàn bộ lượng tiền là tín dụng nội địa
Loại bỏ các thay đổi dự phòng
Chú ý rằng quy trình được mô tả ở đây liên quan đến một loại ổn định tự động.Trên thực tế, cơ chế này được sử dụng rộng rãi để đảm bảo sự ổn định của cả tiêu chuẩnvàng trước chiến tranh thế giới thứ I và hệ thống Bretton Woods (xem phần 1.5.1) Với tỷgiá hối đoái cố định, dòng chảy của dự trữ tự động hành động để điều chỉnh lượng tiền đểkhôi phục trạng thái cân bằng Chính sách tiền tệ của chính phủ không chỉ là không thể,
mà còn không cần thiết
Cụ thể, nhìn từ quan điểm này, thâm hụt (hoặc thặng dư) cán cân thanh toán,không đòi hỏi chính sách vĩ mô khắc phục, thực sự là những kênh thông qua đó chênhlệch được tự điều chỉnh
Tuy nhiên, một chính phủ mà mong chờ vì bất cứ lý do gì để chống lại những lực
ổn định này về nguyên tắc có thể làm như vậy, ít nhất là tạm thời Để xem làm cách nào
có thể đạt được điều này, hãy quay lại tình huống mà các nhà hoạch định chính sách trongnước vào lúc bắt đầu của giai đoạn điều chỉnh, hậu quả của bất ổn ban đầu do mở rộng tíndụng nội địa, khi nền kinh tế ở các điểm C, b và J tương ứng trong hình 5.5(a) đến (c)
Tại điểm giao nhau, tại Anh đang diễn ra thâm hụt cán cân thanh toán và vì vậymất dự trữ (như thấy lần đầu trong phương trình 4.11) Nói cách khác, lượng tiền ở Anhđang giảm bởi vì, nhận thấy:
Biến đâu tiên là âm Vì biến thứ hai là hằng số (một lần và cho tất cả gia tăng đượcgiả định là đã diễn ra), cung tiền đang giảm Vì vậy, nó chỉ là vấn đề thời gian cho tới khiảnh hưởng tích lũy của thâm hụt liên tục làm giảm cung tiền tới mức trước khi xáo trộncủa nó
Bây giờ giả sử cơ quan chức năng quyết định cố gắng ngăn cản lượng tiền giảmbằng việc mở rộng tín dụng nội địa Có vẻ như, khi làm như vậy, họ có thể ngăn chặnviệc giảm cung tiền Nếu họ tăng tín dụng đủ để bù đắp sụt giảm trong dự trữ ngoại tệvào mỗi thời kỳ, có vẻ như họ có thể vô hiệu hóa hoàn toàn thâm hụt
Phần sau đây của thuật ngữ thường được sử dụng:
Trang 17Vô hiệu hóa là quá trình vô hiệu hóa ảnh hưởng của thâm hụt (thặng dư) cán cân thanh
toán bằng cách tạo ra đủ tín dụng nội địa để bù đắp sụt giảm trong dự trữ ngoại tệ
Đã có rất nhiều cuộc tranh luận, trong cả các nhà nghiên cứu và các nhà hoạchđịnh chính sách, về việc làm thế nào vô hiệu hóa thực sự khả thi Kể cả những người ủng
hộ nhiệt tình nhất cũng không tuyên bố là nó có thể hoạt động trong thời gian rất dài Nếu
nó có thể hoạt động ở tất cả các thị trường tiền tệ hiện nay là rất đáng ngờ
Để biết lý do tại sao tính hữu ích của nó có thể bị giới hạn, chúng ta cần phải làmtheo thông qua ngụ ý của sự gia tăng giai đoạn thứ hai trong tín dụng nội địa Rõ ràng,ảnh hưởng của việc gia tăng tín dụng nội địa bắt đầu từ tình huống tại J trong hình 5.5(c)
sẽ làm di chuyển đường cung tiền lên thêm nữa theo trục dọc Kết quả sẽ làm giảm thêmngoại tệ trong lượng tiền ở Anh
Không phải là tất cả Chúng ta đã củng cố rằng, ngay khi lượng tiền ở trên mứccân bằng của nó, Anh sẽ bị cạn kiệt dự trữ Rõ ràng, bất cứ điều gì mà làm kéo dài tìnhtrạng đó sẽ làm giảm dự trữ dưới mức mà chúng ngược lại sẽ không có trong bất cứ nỗlực vô hiệu hóa nào
Sau đó việc vô hiệu hóa có thể thử nghiệm một máy chạy bộ Mỗi mở rộng tíndụng nội địa sẽ kéo dài thời gian tổn thất dự trữ và do đó tạo ra nhu cầu tạo thêm tíndụng Ở mỗi giai đoạn, thành phần tín dụng nội địa của lượng tiền trở nên lớn hơn vàthành phần dự trữ nhỏ hơn
Theo lý thuyết, ít nhất, sẽ đến một giai đoạn khi dự trữ cạn kiệt và trò chơi sẽ kếtthúc Trên thực tế, giới hạn cho quá trình này có thể đến lúc nào đó trước khi dự trữ củaquốc gia thật sự cạn kiệt, đơn giản bởi vì thị trường tiền tệ sẽ đoán trước ngày xấu và do
đó đẩy nhanh sự xuất hiện của nó bằng cách đổ xô bán đồng bảng tại tỷ giá hối đoái hiệntại trong khi vẫn có thể, như chúng ta sẽ thấy trong Chương 17
5.2.2 Thu nhập tăng dưới tỷ giá hối đoái cố định
Xét về những thay đổi trong thu nhập thực và mức giá thế giới, phân tích bao gồmmột áp dụng thẳng kết quả từ trường hợp tỷ giá thả nổi
Với mức giá không đổi, một gia tăng trong thu nhập thực sẽ làm tăng nhu cầu số
dư tiền thực, những yếu tố khác là như nhau Bắt đầu từ một vị trí cân bằng, khi đó tácđộng sẽ làm cho người dân trong nước chi tiêu ít hơn, để tăng số dư của họ đến một mứctương xứng với khối lượng giao dịch mới, cao hơn Khi làm như vậy, họ buộc mức giágiảm xuống, với tỷ giá hối đoái cố định làm cho sản lượng trong nước vượt mức cạnhtranh trên thị trường thế giới, dẫn đến thặng dư cán cân thanh toán và hệ quả là tăng dự