1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Nâng cao chất lượng dịch vụ quản lý chợ cấp 2 và 3 trên địa bàn tỉnh bình định

73 442 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy để giải quyết triệt để những khó khăn, hạn chế góp phần gia tăng hiệu quả họat động của các nhóm chợ loại 2, 3 thì ngoài việc tạo môi trường pháp lý thuận lợi, khuyến khích các th

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-

DƯƠNG ĐẠI HẢO

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ QUẢN LÝ CHỢ CẤP 2 VÀ 3 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh - 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-

DƯƠNG ĐẠI HẢO

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ QUẢN LÝ CHỢ CẤP 2 VÀ 3 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH

Chuyên ngành : Quản lý công

Mã số chuyên ngành : 60340403

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM QUỐC HÙNG

TP Hồ Chí Minh - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng luận văn “Nâng cao chất lượng dịch vụ quản lý chợ cấp 2

và 3 trên địa bàn tỉnh Bình Định” là bài nghiên cứu của chính tôi

Ngoài trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác

Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

TP Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 11 năm 2016

Tác giả

Dương Đại Hảo

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Thống kê số lượng chợ trên địa bàn tỉnh Bình Định 31

Bảng 2.2 Bảng thống kê ý kiến khách hàng và các tiểu thương về chất lượng dịch vụ quản lý chợ 44

Bảng 2.3 Bảng thống kê ý kiến khách hàng về Vệ sinh môi trường tại các chợ 45

Bảng 2.4 Bảng thống kê ý kiến khách hàng về Công tác phòng cháy chữa cháy 47

Bảng 2.5 Bảng thống kê ý kiến khách hàng về an ninh trật tự 48

Bảng 2.6 Bảng thống kê ý kiến khách hàng về Quy định vận hành các chợ 50

Bảng 2.7 Bảng thống kê ý kiến khách hàng về Cơ sở vật chất 52

Trang 6

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

GIỚI THIỆU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

7 Bố cục đề tài 4

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

1.1 Lý thuyết về chất lượng dịch vụ 5

1.1.1 Khái niệm dịch vụ 5

1.1.2 Chất lượng dịch vụ 5

1.1.3 Vai trò của việc đánh giá chất lượng dịch vụ 8

1.2 Tổng quan về chợ 9

1.2.1 Khái niệm chợ 9

1.2.2 Đặc trưng của chợ 10

Trang 7

1.3Các mô hình tổ chức quản lý chợ 12

1.3.1 Mô hình Ban quản lý 12

1.3.2 Mô hình doanh nghiệp (Doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ) 15

1.4Kinh nghiệm tổ chức quản lý chợ ở Việt Nam và trên thế giới 17

1.4.1 Kinh nghiệm tổ chức quản lý chợ ở Việt Nam 17

1.4.2 Kinh nghiệm tổ chức quản lý chợ trên thế giới 21

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ QUẢN LÝ CHỢ CẤP 2 VÀ 3 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH 24

2.1 Khái quát về hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh Bình Định 24

2.1.1 Về số lượng, quy mô và phân bố của mạng lưới chợ 24

2.1.2 Về mô hình tổ chức quản lý chợ 26

2.1.3 Về cơ sở hạ tầng 27

2.1.4 Về lao động quản lý và kinh doanh trên chợ 27

2.1.5 Về đầu tư xây dựng chợ 28

2.2 Kết quả đánh giá của tiểu thương và khách hàng mua sắm về chất lượng dịch vụ quản lý chợ cấp 2 và 3 trên địa bàn tỉnh Bình Định 28

2.2.1 Chất lượng dịch vụ quản lý chợ 28

2.2.2 Vệ sinh môi trường tại các chợ 31

2.2.3 Công tác phòng cháy chữa cháy 32

2.2.4 An ninh trật tự 34

2.2.5 Quy định vận hành các chợ 36

2.2.6 Cơ sở vật chất 38

Trang 8

2.3 Các đánh giá và phát hiện những vấn đề về chất lượng dịch vụ quản lý chợ

cấp 2 và 3 tại các chợ trên địa bàn tỉnh Bình Định 40

2.3.1 Đánh giá chung 40

2.3.2 Một số mặt tồn tại 41

2.3.3 Nguyên nhân hạn chế 42

CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊNÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ QUẢN LÝ CHỢ CẤP 2 VÀ 3 TẠI CÁC CHỢ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH 44

3.1 Kiến nghị nâng cao chất lượng dịch vụ quản lý chợ cấp 2 và 3 tại các chợ trên địa bàn tỉnh Bình Định 44

3.1.1 Chuyển đổi mô hình quản lý các chợ trên địa bàn tỉnh Bình Định 44

3.1.2 Nâng cao chất lượng dịch vụ quản lý chợ 46

3.2 Kiến nghị với UBND tỉnh Bình Định 51

3.2.1 Xây dựng các chính sách phát triển thương nhân 51

3.2.2 Xây dựng các chính sách khai thác cơ sở vật chất chợ 51

3.2.3 Xây dựng các chính sách và cơ chế quản lý chợ 52

3.2.4 Chuẩn bị nguồn nhân lực cho kế hoạch chuyển đổi mô hình quản lý chợ52 3.3 Kiến nghị với các Bộ, ngành liên quan 53

KẾT LUẬN 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

GIỚI THIỆU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chợ là loại hình thương mại có từ rất lâu đời, nó không những là kênh lưu thông hàng hóa mà còn là một nét đẹp văn hóa truyền thống của người Việt Nam.Hiện nay, có khoản hơn 40% giao dịch mua bán thông qua chợ Duy trì và phát triển hiệu quả mạng lưới chợ sẽ góp phần mở rộng thị trường, đẩy mạnh lưu thông hàng hóa và dịch vụ; Góp phần tiêu thụ ngày càng nhiều nông sản hàng hóa

và cung cấp đầy đủ vật tư, hàng tiêu dùng, góp phần phát triển sản xuất cải thiện đời sống nhân dân, nhất là người dân ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa của tỉnh

Theo số liệu thống kê, tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2015 trên địa bàn tỉnh

có tổng số 179 chợ các loại, trong đó: Có 12 chợ hạng 1, 16 chợ hạng 2 và 151 chợ hạng 3; có 26 chợ có Ban quản lý; 55 chợ có Tổ quản lý; 02 chợ do doanh nghiệp,

Hiện nay, tại các chợ việc thực hiện văn minh thương mại hầu như rất kém; riêng về công tác quản lý thì việc rõ ràng, minh bạch trong tài chính thu chi ở một

số chợ chưa thực hiện tốt; các chủ trương chính sách, quy định pháp luật về thuế,

Trang 10

bảo đảm an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, an toàn PCCC, chống bán hàng giả, hàng nhái, nói thách, văn minh trong giao tiếp có triển khai thực hiện, nhưng chưa thực sự đi sâu vào ý thức thương nhân kinh doanh tại chợ Nguyên nhân, ngoại trừ các BQL chợ là đơn vị sự nghiệp có thu, có bộ máy quản lý được đào tạo khá chuyên nghiệp, còn hầu hết các chợ còn lại năng lực quản lý còn yếu, chưa được đào tạo chuyên nghiệp; cơ chế khoán chi theo định mức vừa hạn chế vừa không tạo động lực cho BQL chợ khi làm việc trong môi trường đầy phức tạp (không khác một xã hội thu nhỏ); đối với một số chợ cơ chế thưởng phạt chưa nghiêm minh nên không kích thích ý thức tiết kiệm chi; việc phối hợp, giám sát, kiểm tra của các cơ quan chức năng, cơ quan quản lý chưa được thường xuyên, ít hiệu quả

Về lâu dài, hầu hết các chợ loại 2, 3 các khoản thu nộp không đủ bù chi phí ngân sách đã cấp, đầu tư; chợ không được quản lý tốt là môi trường cho nạn trộm cắp xảy ra thường xuyên; an ninh trật tự tại chợ kém, thiếu vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm; việc mua bán, trao đổi, giao thương tại chợ chưa thật sự thuận lợi

và khuyến khích người mua vào mua hàng trong chợ; chợ tạm, chợ “chồm hổm” tự phát mọc lên ở nhiều nơi gây cản trở giao thông, mất an ninh trật tự, ảnh hưởng tới sức mua tại các chợ chính; hoạt động quản lý chợ gần như “phó thác” cho đơn vị, cá nhân quản lý

Vì vậy để giải quyết triệt để những khó khăn, hạn chế góp phần gia tăng hiệu quả họat động của các nhóm chợ loại 2, 3 thì ngoài việc tạo môi trường pháp lý thuận lợi, khuyến khích các thành phần kinh tế, các tổ chức, cá nhân đầu tư, kinh doanh chợ thì các quan nhà nước cũng cần tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ quản lý chợ Nhận thức được tầm qua trọng của vấn đề này, thì

nghiên cứu “Nâng cao chất lượng dịch vụ quản lý chợ cấp 2 và 3 trên địa bàn tỉnh bình định” của tác giả là hết sức cần thiết

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Phân tích, đánh giá thực trạng về chất lượng dịch vụ quản lý chợ trên địa

Trang 11

- Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ quản lý chợ cấp 2 và 3 trên địa bàn tỉnh bình định trong thời gian tới

3 Câu hỏi nghiên cứu

- Nội dung đánh giá chất lượng dịch vụ quản lý chợ cấp 2 và 3 bao gồm các vấn đề gì?

- Các tiêu chí phản ánh chất lượng dịch vụ quản lý chợcấp 2 và 3?

- Giải phápnâng cao chất lượng dịch vụ quản lý chợ cấp 2 và 3 trên địa bàn tỉnh Bình Định trong thời gian tới?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: chất lượng dịch vụ quản lý chợcấp 2 và 3 trên địa bàn tỉnh Bình Định

- Phạm vi nghiên cứu: khảo sát tiểu thương và khách hàng tham gia mua sắm tại các chợ trên địa bàn tỉnh Bình Định

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đảm bảo tính khoa học trong nghiên cứu này: sử dụng các phương pháp truyền thống như thống kê, tổng hợp, so sánh và phân tích, điều tra, khảo sát… để đánh giá thực trạng chất lượng dịch vụ quản lý chợ cấp 2 và 3 trên địa bàn tỉnh Bình Định

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

 Ý nghĩa khoa học

Là tài liệu để Cơ quan quản lý nhà nước các cấp xem xét, lựa chọn cách chuyển đổi và phương thức chuyển đổi mô hình quản lý chợ cho phù hợp; sử dụng hiệu quả công trình, tài sản nhà nước; góp phần chỉnh trang đô thị ngày càng văn minh, sạch đẹp

 Ý nghĩa thực tiễn

Trang 12

- Cung cấp cái nhìn thực tế về thực tiễn chất lượng dịch vụ quản lý chợ cấp 2

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chương 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ QUẢN LÝ CHỢ CẤP

2 VÀ 3 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH

Chương 3: KIẾN NGHỊNÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ QUẢN LÝ CHỢ CẤP 2 VÀ 3 TẠI CÁC CHỢ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH

Trang 13

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Lý thuyết về chất lượng dịch vụ

1.1.1 Khái niệm dịch vụ

Dịch vụ là thực hiện những gì mà công ty/tổ chức đã hứa hẹn nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ đối tác lâu dài với khách hàng và thị trường Dịch vụ chỉ đạt chất lượng khi khách hàng cảm nhận rõ ràng là việc thực hiện các hứa hẹn đó của công ty/ tổ chức mang đến cho khách hàng giá trị gia tăng nhiều hơn các doanh nghiệp/ tổ chức khác hoạt động trong cùng lĩnh vực (Tôn Thất Nguyễn Thiêm - 2005)

1.1.2 Chất lượng dịch vụ

Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về chất lượng dịch vụ, nhưng nhìn chung chất lượng dịch vụ là những gì mà khách hàng cảm nhận được Mỗi khách hàng có nhận thức và nhu cầu cá nhân khác nhau nên cảm nhận về chất lượng dịch vụ cũng khác nhau

Theo Russell (1999) “chất lượng thể hiện sự vượt trội của hàng hóa và dịch

vụ, đặc biệt đạt đến mức độ mà người ta có thể thỏa mãn mọi nhu cầu và làm hài lòng khách hàng”

Theo Lehtinen & Lehtinen (1982) cho là chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh: quá trình cung cấp dịch vụ và kết quả của dịch vụ

Gronroos (1984) cũng đề nghị hai lãnh vực của chất lượng dịch vụ, đó là chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng:

- Chất lượng kỹ thuật bao gồm những giá trị mà khách hàng thực sự nhận được từ dịch vụ doanh nghiệp cung cấp Chất lượng kỹ thuật hàm chứa những giá trị do yếu tố kỹ thuật công nghệ mang lại ví dụ như giải pháp kỹ thuật, máy móc, hệ thống vi tính hóa ở cơ sở đó hoặc yếu tố bí quyết kỹ thuật công nghệ

Trang 14

- Chất lượng chức năng bao gồm phương cách phân phối, nói lên chúng được phục vụ như thế nào Dịch vụ cung cấp tốt hay không là tùy thuộc vào người cung cấp dịch vụ qua thái độ, quan hệ bên trong công ty, hành vi, tinh thần phục vụ,

sự biểu hiện bên ngoài, sự tiếp cận và tiếp xúc khách hàng Tất cả những yếu tố đó ảnh hưởng đến người cung cấp dịch vụ

Tuy nhiên, có lẽ Parasuraman & ctg (1985, 1988) là những người tiên phong trong nghiên cứu chất lượng dịch vụ trong ngành tiếp thị một cách cụ thể và chi tiết.Theo Parasuraman & ctg, chất lượng dịch vụ là sự đánh giá toàn diện về thái độ hướng tới sự xuất sắc của dịch vụ

Trong quản lý chất lượng hiện đại, triết lý hướng đến khách hàng đang đóng vai trò chủ đạo.Một trong những yếu tố quyết định cho sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp là sự thỏa mãn của khách hàng về chất lượng sản phẩm-dịch vụ mình cung ứng.Chất lượng này phải được đánh giá bởi chính khách hàng chứ không phải bởi doanh nghiệp.Và việc tìm hiểu chất lượng dịch vụ là cơ sở cho việc thực hiện các biện pháp cải thiện chất lượng dịch vụ của mạng viễn thông di động.Vì vậy, nó không chỉ quan trọng trong việc xây dựng mục tiêu phát triển mà còn định hướng cho VinaPhone phát huy được thế mạnh của mình một cách tốt nhất.Chất lượng dịch vụ có thể được hiểu thông qua các đặc điểm của nó Xét một cách tổng thể, chất lượng dịch vụ bao gồm các đặc điểm như sau:

1.1.2.1 Tính vượt trội

Đối với khách hàng, dịch vụ có chất lượng là dịch vụ thể hiện được tính vượt trội “ưu việt” của mình so với những sản phẩm dịch vụ cùng loại khác.Và chính tính ưu việt này làm cho chất lượng dịch vụ trở thành thế mạnh cạnh tranh của các nhà cung cấp.Sự đánh giá về tính vượt trội của chất lượng dịch vụ chịu ảnh hưởng rất lớn bởi sự cảm nhận từ phía người sử dụng dịch vụ Quan hệ này có ý nghĩa rất lớn đối với việc đánh giá chất lượng dịch vụ từ phía khách hàng trong các hoạt động Marketing và nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng

Trang 15

1.1.2.2 Tính đặc trưng của sản phẩm

Chất lượng dịch vụ là tổng thể những mặt cốt lõi và tinh túy nhất kết tinh trong sản phẩm dịch vụ tạo nên tính đặc trưng của sản phẩm dịch vụ.Vì vậy, dịch vụ hay sản phẩm có chất lượng cao sẽ hàm chứa nhiều “đặc trưng vượt trội” hơn so với dịch vụ cấp thấp Sự phân biệt này gắn liền với việc xác định các thuộc tính vượt trội hữu hình hay vô hình của sản phẩm dịch vụ Chính nhờ những đặc trưng này

mà khách hàng có thể nhận biết chất lượng dịch vụ của VinaPhone khác với các đối thủ cạnh tranh.Tuy nhiên, trong thực tế rất khó xác định các đặc trưng cốt lõi của dịch vụ một cách đầy đủ và chính xác.Vì vậy, các đặc trưng này không có giá trị tuyệt đối mà chỉ mang tính tương đối giúp cho việc nhận biết chất lượng dịch vụ trong trường hợp cụ thể dễ dàng hơn mà thôi

1.1.2.3 Tính cung ứng

Chất lượng dịch vụ gắn liền với quá trình thực hiện, chuyển giao dịch vụ đến khách hàng Do đó, việc triển khai dịch vụ, phong thái phục vụ và cách cung ứng dịch vụ sẽ quyết định chất lượng dịch vụ tốt hay xấu Đây là yếu tố bên trong phụ thuộc vào sự biểu hiện của nhà cung cấp dịch vụ Chính vì thế, để nâng cao chất lượng dịch vụ, nhà cung cấp dịch vụ trước tiên cần phải biết cải thiện yếu tố nội tại này để tạo thành thế mạnh lâu dài của chính mình trong hoạt động cung cấp dịch vụ cho khách hàng

1.1.2.4 Tính thỏa mãn nhu cầu

Dịch vụ được tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng Do đó, chất lượng dịch vụ nhất thiết phải thỏa mãn nhu cầu khách hàng và lấy yêu cầu của khách hàng làm căn cứ để cải thiện chất lượng dịch vụ Nếu khách hàng cảm thấy dịch vụ không đáp ứng được nhu cầu của mình thì họ sẽ không hài lòng với chất lượng dịch

vụ mà họ nhận được.Trong môi trường kinh doanh hiện đại thì đặc điểm này càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết vì các nhà cung cấp dịch vụ phải luôn hướng đến nhu cầu khách hàng và cố gắng hết mình để đáp ứng các nhu cầu đó.Sẽ là vô ích và

Trang 16

không có chất lượng nếu cung cấp các dịch vụ mà khách hàng đánh giá là không có giá trị

Xét trên phương diện phục vụ khách hàng, “tính thỏa mãn nhu cầu” đã bao gồm cả ý nghĩa của “tính cung ứng”.Sở dĩ như vậy, là vì chất lượng dịch vụ bắt đầu

từ khi mạng thông tin di động nắm bắt nhu cầu của khách hàng đến khi triển khai dịch vụ.Nhưng chính trong quá trình thực hiện cung ứng dịch vụ mà khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng hay không và từ đó cảm nhận chất lượng dịch vụ là tốt hay xấu.Nếu tính cung ứng mang yếu tố nội tại thì tính thỏa mãn nhu cầu lại bị chi phối bởi tác động bên ngoài nhiều hơn

1.1.2.5 Tính tạo ra giá trị

Rõ ràng,chất lượng dịch vụ gắn liền với các giá trị tạo ra nhằm phục vụ khách hàng Dịch vụ không sản sinh ra giá trị nào hết thì được xem là không có chất lượng Ví dụ, mạng thông tin di động tạo ra giá trị và khách hàng là đối tượng tiếp nhận những giá trị đó Vì vậy, việc xem xét chất lượng dịch vụ hay cụ thể hơn là các giá trị đem lại cho khách hàng phụ thuộc vào đánh giá của khách hàng chứ không phải của mạng.Thông thường, khách hàng đón nhận những giá trị dịch vụ mang lại và so sánh chúng với những gì họ mong đợi sẽ nhận được

1.1.3 Vai trò của việc đánh giá chất lượng dịch vụ

Chất lượng dịch vụ thường được xem là một yếu tố tiên quyết, mang tính quyết định đến sự cạnh tranh để tạo lập và duy trì mối quan hệ với khách hàng.Quan tâm đến chất lượng dịch vụ sẽ làm cho một tổ chức khác với những tổ chức khác và đạt được lợi thế cạnh tranh trong lâu dài (Morre, 1987) Lehtinen (1999) cho rằng chất lượng dịch vụ phải đánh giá trên hai khía cạnh: (1) quá trình cung cấp dịch vụ

và (2) kết quả của dịch vụ Qua phân tích về chất lượng dịch vụ có thể thấy những đặc điểm cơ bản sau:

 Đánh giá chất lượng của dịch vụ khó khăn hơn trong việc đánh giá chất lượng của hàng hóa hữu hình

Trang 17

 Chất lượng dịch vụ là kết quả của quá trình so sánh giữa sự mong đợi của khách hàng về chất lượng mà dịch vụ cụ thể mang lại nhằm đáp ứng những mong đợi đó

 Khách hàng không chỉ đánh giá kết quả mang lại của một lọai dịch vụ nào đó mà còn phải đánh giá tiến trình cung cấp của nó diễn ra như thế nào

Đối với dịch vụ tại các chợ là loại dịch vụ cung cấp trực tiếp cho khách hàng, gắn liền việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong hoạt động kinh doanh thương mại, và việc thực hiện chức năng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của người dân Vì vậy, lọai chất lượng dịch vụ này được đánh giá dựa trên việc thực thi pháp luật đúng qui định và trách nhiệm của cơ quan quản lý chợ, đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp của tiểu thương và người dân, duy trì trật tự an ninh và phát triển xã hội

Theo Thông tư số 15/TM-CSTTTN ngày 16/10/1996 của Bộ Thương mại hướng dẫn tổ chức và quản lý chợ "Chợ là mạng lưới thương nghiệp được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội"

Theo Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính Phủ về phát triển và quản lý chợ "Chợ là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát triển mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hoá và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư"

Trang 18

(1) Phạm vi chợ: là khu vực được quy hoạch dành cho hoạt động chợ, bao

gồm diện tích để bố trí các điểm kinh doanh, khu vực dịch vụ (như: bãi để xe, kho hàng, khu ăn uống, vui chơi giải trí và các dịch vụ khác) và đường bao quanh chợ

(2) Chợ đầu mối: là chợ có vai trò chủ yếu thu hút, tập trung lượng hàng hoá

lớn từ các nguồn sản xuất, kinh doanh của khu vực kinh tế hoặc của ngành hàng để tiếp tục phân phối tới các chợ và các kênh lưu thông khác

(3) Điểm kinh doanh tại chợ: bao gồm quầy hàng, sạp hàng, ki-ốt, cửa hàng

được bố trí cố định trong phạm vi chợ theo thiết kế xây dựng chợ, có diện tích quy chuẩn tối thiểu là 3m2/điểm

Từ những điểm hội tụ chung của nhiều định nghĩa, ta có thể rút ra kết luận: Chợ là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát triển mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm công cộng, tập trung đông người mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ với nhau, được hình thành do yêu cầu của sản xuất, lưu thông và đời sống tiêu dùng xã hội và hoạt động theo các chu kỳ thời gian nhất định (Đại học Kinh tế Quốc Dân, 2016)

1.2.2 Đặc trưng của chợ

Chợ có những đặc trưng sau:

- Chợ là một nơi (địa điểm) công cộng để mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch

vụ của dân cư, ở đó bất cứ ai có nhu cầu đều có thể đến mua, bán và trao đổi hàng hoá, dịch vụ với nhau

- Chợ được hình thành do yêu cầu khách quan của sản xuất và trao đổi hàng hoá, dịch vụ của dân cư, chợ có thể được hình thành một cách tự phát hoặc do quá trình nhận thức tự giác của con người Vì vậy, trên thực tế có nhiều chợ đã được hình thành từ việc quy hoạch, xây dựng, tổ chức, quản lý chặt chẽ của các cấp chính quyền và các ngành quản lý kinh tế kỹ thuật Nhưng cũng có rất nhiều chợ được hình thành một cách tự phát do nhu cầu sản xuất và trao đổi hàng hoá của dân cư, chưa được quy hoạch, xây dựng, tổ chức, quản lý chặt chẽ

Trang 19

- Các hoạt động mua, bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ tại chợ thường được diễn ra theo một quy luật và chu kỳ thời gian (ngày, giờ, phiên) nhất định Chu kỳ họp chợ hình thành do nhu cầu trao đổi hàng hoá, dịch vụ và tập quán của từng vùng, từng địa phương quy định

1.2.3 Phân loại chợ trong mạng lưới chợ ở nước ta

Có nhiều hình thức để phân loại chợ nhưng đối với nghiên cứu này tác giả chỉ sử dụng căn cứ theo số lượng hộ kinh doanh, vị trí và mặt bằng của chợ để phân loại chợ Cụ thể, dựa theo cách phân loại trong Điều 3, Nghị định số 02/2003/NĐ-

CP của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ thì chợ được chia thành 3 loại: chợ loại 1, chợ loại 2 và chợ loại 3

- Chợ loại 1 là chợ phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau:

 Là chợ có trên 400 điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố, hiện đại theo quy hoạch;

 Được đặt ở các vị trí trung tâm kinh tế thương mại quan trọng của tỉnh, thành phố hoặc là chợ đầu mối của ngành hàng, của khu vực kinh tế và được tổ chức họp thường xuyên;

 Có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động của chợ và

tổ chức đầy đủ các dịch vụ tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hoá, kho bảo quản hàng hoá, dịch vụ đo lường, dịch vụ kiểm tra chất lượng hàng hoá, vệ sinh an toàn thực phẩm và các dịch vụ khác

- Chợ loại 2 là chợ thoả mãn các tiêu chuẩn sau:

 Là chợ có trên 200 điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố hoặc là bán kiên cố theo quy hoạch;

 Được đặt ở trung tâm giao lưu kinh tế của khu vực và được tổ chức họp thường xuyên hay không thường xuyên;

 Có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động của chợ và

tổ chức các dịch vụ tối thiểu tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hoá, kho bảo quản hàng hoá, dịch vụ đo lường

Trang 20

- Chợ loại 3 là chợ thoả mãn các tiêu chuẩn sau:

 Là chợ có dưới 200 điểm kinh doanh hoặc các chợ chưa được đầu tư xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố;

 Chủ yếu phục vụ nhu cầu mua bán hàng hoá của nhân dân trong xã, phường và địa bàn phụ cận

Căn cứ vào tính chất, đặc điểm và quy mô của chợ, Uỷ ban nhân dân các cấp có thẩm quyền quyết định lập và giao cho Ban quản lý chợ quản lý một hoặc một số chợ (liên chợ) trên địa bàn theo phân cấp quản lý Trường hợp lập Ban quản lý liên chợ thì ở từng chợ có thể lập Ban hay tổ điều hành chợ

Ban quản lý chợ có trách nhiệm quản lý tài sản Nhà nước và các hoạt động trong phạm vi chợ của một hoặc một số chợ; thực hiện ký kết hợp đồng với thương nhân về thuê, sử dụng điểm kinh doanh; kinh doanh các dịch vụ tại chợ; tổ chức bảo đảm công tác phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an ninh trật tự và an toàn thực phẩm trong phạm vi chợ; xây dựng Nội quy của chợ trình Uỷ ban nhân dân cấp

có thẩm quyền phê duyệt theo phân cấp quản lý chợ; tổ chức thực hiện Nội quy chợ

và xử lý các vi phạm về Nội quy chợ; điều hành chợ hoạt động và tổ chức phát triển các hoạt động tại chợ; tổng hợp tình hình hoạt động kinh doanh của chợ và báo cáo định kỳ cho các cơ quan quản lý nhà nước theo hướng dẫn của Bộ Thương mại

Trang 21

1.3.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban quản lý chợ

Theo Thông tư số 06/2003/TT-BTM ngày 15/8/2003 của Bộ Thương mại hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Ban quản lý chợ, Ban quản lý chợ có các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau:

- Trình Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo phân cấp quản lý chợ quyết định

- Phê duyệt Phương án sử dụng địa điểm kinh doanh và bố trí, sắp xếp các ngành nghề kinh doanh tại chợ

- Quy định cụ thể việc sử dụng, thuê, thời hạn với các biện pháp quản lý điểm kinh doanh tại chợ

- Phê duyệt Nội quy chợ

- Phê duyệt Phương án bảo đảm Phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường,

an ninh trật tự và an toàn thực phẩm trong phạm vi chợ

- Phê duyệt Kế hoạch sửa chữa lớn, nâng cấp cơ sở vật chất và phát triển các hoạt động của chợ khi có nhu cầu

- Quyết định việc tổ chức đấu thầu theo quy định của Pháp luật để lựa chọn thương nhân sử dụng hoặc thuê địa điểm kinh doanh tại chợ theo Phương án đã được duyệt Trong trường hợp số thương nhân đăng ký ít hơn số điểm kinh doanh hiện có, Ban quản lý chợ được quyền quyết định việc lựa chọn thương nhân, không phải tổ chức đấu thầu

- Ký hợp đồng với thương nhân sử dụng hoặc thuê điểm kinh doanh tại chợ theo Phương án đã được duyệt

- Tổ chức quản lý, điều hành chợ hoạt động, tổ chức thực hiện Nội quy chợ

và xử lý các vi phạm Nội quy chợ

Trang 22

- Phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên môn tổ chức đảm bảo phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an ninh trật tự và an toàn thực phẩm trong phạm vi chợ

- Tổ chức kinh doanh, phát triển các dịch vụ hỗ trợ như: trông giữ phương tiện vận chuyển, bốc xếp hàng hoá, cho thuê kho bảo quản cất giữ hàng hoá, cung cấp thông tin thị trường, kiểm định số lượng, chất lượng hàng hoá, vệ sinh môi trường ăn uống, vui chơi, giải trí và các hoạt động khác trong phạm vi chợ phù hợp với các quy định của pháp luật và theo hướng ngày càng văn minh hiện đại

- Tổ chức thu, nộp tiền thuê, sử dụng điểm kinh doanh của thương nhân và các loại phí, lệ phí về chợ theo quy định của pháp luật

- Phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan, đoàn thể tổ chức thông tin kinh tế - xã hội, phổ biến hướng dẫn việc thực hiện các chính sách, các quy định của pháp luật và nghĩa vụ đối với Nhà nước của thương nhân kinh doanh tại chợ; tổ chức các hoạt động văn hoá xã hội tại chợ

- Chịu trách nhiệm quản lý tài sản và kết quả tài chính của Ban quản lý chợ theo quy đinh của pháp luật

- Tổng hợp tình hình hoạt động kinh doanh của chợ và báo cáo định kỳ cho các cơ quan quản lý nhà nước theo quy định của Bộ Thương mại

1.3.1.3 Về tổ chức

Ban quản lý chợ có Trưởng ban và có một đến hai Phó trưởng ban Trưởng ban, Phó trưởng ban do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng và kỷ luật

Trưởng ban Ban quản lý chợ chịu trách nhiệm trước Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền về toàn bộ hoạt động của chợ và của Ban quản lý chợ Phó Trưởng ban

có trách nhiệm giúp Trưởng ban và chịu trách nhiệm trước Trưởng ban thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ do Trưởng ban phân công

Trang 23

Căn cứ tính chất, đặc điểm, khối lượng công việc và khả năng tài chính, Trưởng ban Ban quản lý chợ quyết định việc tổ chức các bộ phận chuyên môn nghiệp vụ giúp việc quản lý, điều hành chợ hoạt động và tổ chức các dịch vụ tại chợ;

ký hợp đồng tuyển dụng lao động, các hợp đồng khác với các cơ quan, doanh nghiệp về đảm bảo vệ sinh môi trường, phòng cháy chữacháy, an ninh trật tự trong phạm vi chợ theo quy định của pháp luật

1.3.2 Mô hình doanh nghiệp (Doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý

Theo Luật doanh nghiệp 2014 thì doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh

Vậy tổ chức quản lý chợ theo mô hình doanh nghiệp (doanh nghiệp kinh doanh, khai thác và quản lý chợ) là gì?

Ta coi chợ như một tổ chức hoạt động kinh doanh bình thường, các công ty, các cá nhân, các tổ chức có mong muốn đều có thể tham gia đầu tư và tiến hành xây dựng chợ, các cấp chính quyền địa phương thông báo mời thầu Các tổ chức, các cá nhân có khả năng có thể tham gia đấu thầu Thông qua đấu thầu có thể chọn ra được một tổ chức, một cá nhân có năng lực nhất để tiến hành đầu tư, kinh doanh, khai thác, tổ chức và quản lý chợ đó Khi đó, địa phương trên cơ sở là chủ sở hữu đất

Trang 24

cho thuê, có thể thu phí hàng năm, ngoài ra còn có thể thu thêm Thuế Doanh nghiệp theo quy định của pháp luật (vì đây là doanh nghiệp đầu tư để kinh doanh chợ)

Doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh chợ sẽ có doanh thu từ các khoản phí cho thuê địa điểm chợ, các sạp chợ, các dịch vụ ở chợ và cũng phải hoạt động độc lập như các doanh nghiệp kinh doanh khác, vẫn chịu ảnh hưởng điều chỉnh của Luật doanh nghiệp

Tuy nhiên, các tổ chức, cá nhân khi tiến hành kinh doanh phải thu phí với một mức phí hợp lý, để đảm bảo cho các hộ kinh doanh có thể buôn bán được tại chợ Ngoài ra còn có thể yêu cầu phía đơn vị kinh doanh lấy lao động trực tiếp ở các địa phương nhằm giải quyết việc làm cho lao động địa phương

Vậy: Doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ là một doanh nghiệp

được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh chợ, đăng ký kinh doanh và hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật

Nhiệm vụ, quyền hạn của doanh nghiệp kinh doanh, khai thác và quản lý chợ

Doanh nghiệp kinh doanh, khai thác và quản lý chợ là đơn vị kinh tế hoạt động theo Luật doanh nghiệp và các văn bản quy định của pháp luật, có trách nhiệm

và quyền hạn tổ chức thực hiện các quy định dưới sau:

- Được tổ chức kinh doanh các dịch vụ tại chợ trong phạm vi doanh nghiệp quản lý

- Đảm bảo công tác phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an ninh trật

tự và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm trong phạm vi chợ

Xây dựng Nội quy trình Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền phê duyệt theo phân cấp quản lý chợ, tổ chức điều hành chợ hoạt động theo Nội quy chợ và xử lý các vi phạm về Nội quy chợ

- Bố trí, sắp xếp khu vực kinh doanh đảm bảo các yêu cầu về trật tự, vệ sinh,

Trang 25

- Ký kết hợp đồng với các thương nhân về việc thuê, sử dụng điểm kinh doanh tại chợ và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật

- Tổ chức thông tin kinh tế, phổ biến chính sách, quy định của pháp luật và nghĩa vụ đối với Nhà nước của thương nhân kinh doanh tại chợ theo hướng dẫn của

cơ quan chức năng

- Tổng hợp tình hình hoạt động kinh doanh của chợ và báo cáo định kỳ cho các cơ quan quản lý nhà nước theo hướng dẫn của Bộ Thương mại

1.4Kinh nghiệm tổ chức quản lý chợ ở Việt Nam và trên thế giới

Trong bối cảnh chợ phải đối đầu cạnh tranh gay gắt với các kênh bán lẻ khác như siêu thị, cửa hàng và các đội quân bán hàng di động, nếu không theo kịp nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng, mô hình chợ sẽ bị thu hẹp dần Để vực dậy hoạt động chợ, chuyển đổi mô hình tổ chức quản lý chợ là biện pháp khả thi mà một số nơi đang tiến hành

1.4.1 Kinh nghiệm tổ chức quản lý chợ ở Việt Nam

1.4.1.1 Kinh nghiệm tổ chức quản lý chợ ở Thành phố Hồ Chí Minh: tư nhân quản

lý chợ

Mặc dù chợ là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng thiết yếu phục vụ cho đời sống hàng ngày của người người dân, nhưng nhắc đến chợ nhiều người tỏ ra rất ngán ngẩm, đó là do chuyện mất vệ sinh môi trường, lối đi thì nhỏ hẹp và lầy lội, thêm nữa là vấn nạn tiểu thương nói thách, cân thiếu và vấn đề

vệ sinh an toàn thực phẩm Tình trạng chợ dơ bẩn, nhếch nhác có thể nói là rất nhiều, nhất là các loại chợ tạm, chợ cóc Do vậy, người dân thường chọn cách đi siêu thị, dù giá có nhỉnh hơn chút ít nhưng mua sắm thoải mái và sạch sẽ

Theo Báo cáo của Sở Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh, hiện thành phố

có khoảng 120 chợ chưa phù hợp với quy hoạch (chưa kể các chợ tự phát) nằm rải rác ở các như Gò Vấp, Bình Thạnh, 8 Nhiều chợ không có bãi giữ xe hoặc họp chợ gần ngay lòng lề đường, gây kẹt xe, mất trật tự trên địa bàn Ngoài ra Ban quản lý

Trang 26

chợ năng lực còn hạn chế nên không tổ chức quản lý tốt và không đảm bảo được tính văn minh thương mại trong chợ

Trong bối cảnh đó thì tại Thành phố Hồ Chí Minh trong vòng 10 năm nay,

có tới gần 50 siêu thị, chưa kể các siêu thị thực phẩm nhỏ - minimart đã ra đời, thu hút dần lượng khách của các chợ Trước đây, siêu thị được đánh giá là nơi mua sắm dành cho những người có thu nhập cao, nhưng hiện tại theo thăm dò và thống kê tại các siêu thị, đa phần khách hàng thường xuyên của siêu thị là những người có thu nhập trung bình và khá

Trước tình hình cạnh tranh găy gắt giữa các kênh bán lẻ truyền thống và hiện đại, tiểu thương nhiều chợ đã lâm vào cảnh ế ẩm Ở một số , với những chợ do Nhà nước quản lý, ngay cả chợ mới tôn tạo, phía Nhà nước cũng phải luôn bù lỗ huồng

gì nói tới việc thu nộp ngân sách

Để thúc đẩy hoạt động chợ phát triển, phục vụ tốt nhu cầu tiêu dùng trong dân thì việc nâng cấp, thay đổi cách quản lý chợ là rất cần thiết.Chính vì vậy, Nghị định số 02/2003/NĐ-CP của Chính phủ đã khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư, xây dựng và khai thác chợ.Trước mắt tư nhân mới chỉ đấu thầu kinh doanh chợ (do Nhà nước xây dựng, làm chủ đầu tư), chứ chưa bỏ tiền để xây dựng toàn bộ chợ

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ năm 1992, Sở Thương mại thành phố đã thí điểm cho tư nhân đấu thầu kinh doanh chợ, nhưng ban đầu mới chỉ đấu thầu từng phần (bãi giữ xe, thu lệ phí.) cho tới cuối năm 2004 thì đã có 18 chợ được đấu thầu toàn phần

Trước khi cho tư nhân quản lý, tổng doanh thu tại các chợ thuộc một số chỉ

đủ bù đắp cho chi phí quản lý chợ, còn chi phí đầu tư sửa chữa đều do Ngân sách Nhà nước bỏ ra Nhưng sau khi tổ chức đấu thầu, tổng số thu nộp ngân sách tăng lên, thậm chí tăng lên 10 lần so với trước

Chợ Tân Phú (thuộc Tân Bình) là chợ loại 2 (quy mô 310 sạp), được tổ chức

Trang 27

chợ này nộp ngân sách chỉ khoảng 4,5 triệu đồng/tháng, nhưng hiện nay đã tăng lên gần 30 triệu đồng/tháng Ngoài ra, các chi phí sửa chữa, tân trang chợ, thuê nhân viên đều do chợ tự lo, không phải ngân sách cấp

Còn đối với chọ Tân Hương (Tân Bình) đơn vị trúng thầu là Hợp tác xã Tân Tiến Khi chợ còn thuộc sự quản lý của phường, việc thu chi cũng không cân đối đủ, huống gì chuyện sửa chữa chợ, dẫn đến tình trạng chợ xuống cấp, tiểu thương và dân cư kêu ca Đến nay, ngoài việc nộp ngân sách Nhà nước mỗi năm chợ bỏ ra từ 50-60 triệu đồng để duy tu, sửa chữa quầy sạp

Tư nhân trực tiếp đứng ra quản lý được chủ động hoàn toàn vấn đề tài chính nhưng vẫn theo chủ trương của Nhà nước, được Nhà nước theo dõi và hỗ trợ nên hiệu quả sẽ cao hơn quản lý theo kiểu bao cấp Một khi tư nhân tự bỏ vốn và đứng

ra quản lý thì họ sẽ tìm ra phương án kinh doanh tốt nhất để thu được lợi nhuận cho mình, nếu không họ sẽ bị phá sản

Ngoài vấn đề tài chính, vấn đề vệ sinh môi trường, phòng cháy chữa cháy, an ninh trật tự cũng được quản lý sâu sát hơn Theo Sở Thương mại Thành phố Hồ Chí Minh, trước kia (khi chưa tư nhân hoá) các vấn đề trên do phường, thực hiện, phải

có sự phối hợp giữa nhiều cơ quan chức năng khác nhau và phải chi cho ngân sách địa phương nên chỉ được thực hiện một cách lỏng lẻo Tại các chợ đã giao thầu, vấn

đề trên được cải thiện hơn so với chợ do Nhà nước trực tiếp trực tiếp quản lý.Ngoài

ra các quầy sạp cũng được bố trí ngăn nắp, gọn gàng hơn nên số tiểu thương tăng đáng kể

Sau thời gian thí điểm đạt hiệu quả, Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành quy chế đấu thầu chợ (có hiệu lực từ ngày 30/09/2004) Trên cơ

sở đó, Sở Thương mại sẽ tiếp tục tổ chức đấu thầu nhiều chợ tiếp theo trong thời gian tới

Việc cho tư nhân đầu thấu chợ là cơ chế quản lý tiến bộ, tăng ngân sách Nhà nước, giảm chi phí quản lý và nâng cao trách nhiệm, hiệu quả quản lý chợ.Tuy nhiên, từ nay, các cá nhân không còn được tham gia đấu thầu mà phải là các tổ chức

Trang 28

kinh tế (doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp Nhà nước, Hợp tác xã, trừ những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) Một tổ chức hay doanh nghiệp sẽ có kinh nghiệm quản lý tốt hơn cá nhân, hơn nữa, để trúng thầu còn phải có tiềm lực tài chính mạnh và uy tín trong kinh doanh Sở Thương mại sẽ chọn lọc những đối tượng dự thầu đầy đủ năng lực quản lý và tổ chức đấu thầu minh bạch, công khai

Khi tư nhân kinh doanh chợ, trước hết họ phải tìm cách thu hút các tiểu thương (bằng chính sách, cơ sở vật chất và an ninh tốt) Nếu hoạt động của chợ văn minh lịch sự thì người tiêu dùng chắc chắn sẽ gắn bó với chợ, vì chợ vốn là nét văn hoá độc đáo của dân tộc

1.4.1.2 Kinh nghiệm tổ chức quản lý chợ ở một số tỉnh khu vực Đồng bằng Sông

Cửu Long: Hợp tác xã quản lý chợ

Theo Thống kê thì Thành phố Cần Thơ có 88 chợ, khoảng trên 50% là chợ loại 3 Nhiều chợ xã, phường, thị trấn tương đối kiên cố nhưng không ít nơi còn nhếch nhác do thiếu quan tâm tổ chức, quản lý, sắp xếp ngành Nguồn phí chợ thu được ít địa phương trích lại một phần cho tái đầu tư phát triển chợ Bên cạnh đó, các Ban quản lý chợ còn yếu kém, ít kinh nghiệm, chu yếu lo tập trung vào thu lệ phí chứ không mấy bận tâm đến công tác thăm dò thị trường, định kế hoạch phát triển khai thác chợ sao cho người bán thì mong muốn có một chỗ trong chợ để buôn bán thuận lợi, còn người mua thì khi có nhu cầu cũng nghĩ ngay đến chợ "sạch sẽ ngăn nắp, giá cả phải chăng, cân đo trung thực" Đây là hiện trạng khá phổ biến ở Thành phố Cần Thơ Do đó để thúc đẩy hoạt động chợ phát triển, phục vụ tốt nhu cầu tiêu dùng của dân cư, việc thay đổi hình thức tổ chức quản lý đã được tiến hành Uỷ ban nhân dân Thành phố Cân Thơ đã giao 17 chợ cho các doanh nghiệp đầu tư xây dựng, khai thác kinh doanh Mặc dù đến nay mới chỉ có một số chợ do Công ty Thương mại Tổng hợp Thành phố Cần Thơ khai thác được, số còn lại bị vướng mắc ở khâu giải phóng mặt bằng nhưng các chợ khai thác được đều kinh doanh rất tốt, nộp ngân sách tăng nhanh

Trang 29

Đến nay, Liên minh Hợp tác xã Thành phố Cần Thơ đã phối hợp với Sở Thương mại khảo sát mạng lưới chợ, chủ yếu là các chợ laọi 3 trên toàn thành phố, tiến hành các bước vận động tổ chức thí điểm Hợp tác quản lý chợ ở một số chợ thuộc Ninh Kiều

Bên cạnh đó ở huyện Gò Công Tây (tỉnh Tiền Giang) có Hợp tác xã Bình Tây từ một Hợp tác xã Nông nghiệp chuyển sang "đa ngành nghề" đã thực hiện mô hình khai thác chợ khá hiệu quả, đem lại việc làm thu nhập ổn định cho các xã viên, hàng hoá đổ về chợ ngày càng phong phú Hợp tác xã Bình Tây không chỉ quan tâm tạo ra một cái chợ sầm uất mà còn làm đầu mối giao thương với các vùng lân cận.Hàng năm ngoài việc nộp ngân sách Nhà nước, Hợp tác xã còn đầu tư 30 - 40 triệu đồng cho việc nâng cấp, sửa chữa, duy tu các quầy sạp trong chợ

Hợp tác xã chợ - nếu được tổ chức thực hiện tốt sẽ là bước cải tiến mang tính đột phá về công tác quản lý, hiệu quả đầu tư, thu hút mạnh vốn trong dân, đẩy mạnh giao thương, kích cầu tiêu dùng và tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước

1.4.2 Kinh nghiệm tổ chức quản lý chợ trên thế giới

1.4.2.1 Trung Quốc

Theo lộ trình ra nhập WTO ngày 11/12/2004 Trung Quốc đã tuyên bố xóa bỏ hầu hết các hạn chế trong bán lẻ đối với các công ty nước ngoài như các hạn chế về

số lượng cửa hàng, các quy định hạn chế kinh doanh bán lẻ trong các thành phố lớn

và quy định về nắm giữ cổ phần của ngườinước ngoài trong các liên doanh địa phương ở mức 65% Trung Quốc đứng trước nguy cơ bị các tập đoàn thương mại nước ngoài thâu tóm hệ thống phân phối và bán lẻ nội địa.Nhận thứcrõ nguy cơ này, Chính phủ Trung Quốc đã rất coi trọng công tác quản lý, tổ chức và phát triển thương mại nội địa.Điều này được thể hiện ngay trong việc tổ chức bộ máy quản lý nhà nước Cụ thể là:

Trung Quốc thiết lập một bộ máy quản lý khá chặt chẽ từ trung ương đến địa phương: bộ thương mại có 4 cơ quan chuyên phụ trách mảng thương mại nội địa gồm 3 Vụ thuộc Bộ và 1 văn phòng trực thuộc Chính phủ Dưới cơ quan quản lý

Trang 30

thương mại Trung ương và Bộ Thương mại là hệ thống các cơ quan quản lý cấp địa phương được đặt tại các tỉnh, thành phố, khu tự trị Với phương châm “hòa nhập nhưng không hòa tan”, với các chính sách mềm dẻo vận dụng khéo léo các chính sách mở cửa thị trường nội địa vừa khuyến khích các doanh nghiệp bán lẻ của nước ngoài đầu tưvào thị trườngtrong nước, vừa tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thương mại trong nước phát triển

Dù có áp dụng chính sách nào đi chăng nữa thì mục tiêu hàng đâu vẫn là: thị trường nội địa Trung Quốc phải chủ yếu do các nhà bán lẻ Trung Quốc nắm không thể cho phép các nhà bán lẻ nước ngoài chiếm vị trí thống trị Có lẽ vì vậy mà đến ngày nay doanh nghiệp Trung Quốc đã phát triển rất mạnh mẽ tại chính đất nước của mình, là bàn đạp giúp Trung Quốc có thể vươn ra thế giới

Ngoài ra, căn cứ vào tình hình cụ thể của từng thành phố, Trung Quốc đã tiến hành quy hoạch lại các chợ bán buôn Tại các thành phố lớn, các chợ bán buôn đều bị chuyển ra ngoại vi và đã từng bước được nâng cấp và đa dạng hoá chức năng hoạt động Đối với các thành phố nhỏ và vừa, Trung Quốc chủ yếu tập trung hoàn thiện chế độ giao dịch và trật tự giao dịch.Tại các khu vực miền Trung và miền Tây thì khuyến khích quy tụ những chợ và điểm bán buôn nhỏ lẻ để hình thành chợ bán buôn quy mô lớn hơn

Lúc này tại khu vực nông thôn Trung Quốc còn rất nhiều chợ hình thành tự phát, hoạt động không có định kỳ thời gian, chính phủ Trung Quốc chủ trương khuyến khích các doanh nghiệp thương mại lớn thâm nhập thị trường nông thôn để làm nòng cốt phát triển kênh bán hàng tiêu dùng chủ yếu ở thị trường này

Để ngăn chặn sự phát triển thái quá của các cơ sở bán lẻ quy mô lớn ở các thành phố lớn trong thời gian qua, Trung Quốc đã đưa ra quy định khá chặt chẽ về việc thẩm tra, giám sát đối với việc xây dựng mới các cơ sở phân phối quy mô lớn Theo đó, việc thẩm tra sẽ do người tiêu dùng đánh giá đầu tiên, tiếp đến là các doanh nghiệp cùng ngành nghề, thứ ba mới đến các chuyên gia thẩm tra và cuối cùng là các cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm tong hợp (và thẩm tra lại nếu

Trang 31

cần) đánh giá, làm rõ những lợi hại của việc xuất hiện cơ sở phân phối, để từ đó có quyết định cho phép dự án tiến hành hay không

1.4.2.2 Thái Lan

Nền kinh tế của Thái Lan là cao phụ thuộc vào xuất khẩu và nó vẫn tiếp tục duy trì vị trí của nó như là nền kinh tế lớn thứ hai ở Đông Nam Á Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Thái Lan phần lớn là dựa vào các ngành sản xuất như ô tô, công nghệ điện tử và ngành dịch vụ như du lịch, dịch vụ tài chính, bán lẻ

Thái Lan coi trọng phát triển các loại chợ đầu mối bán buôn và hiện nay đã

có một hệ thống chợ bán buôn hàng nông, thủy sản tương đối đồng bộ và phát triển Chợ bán buôn thường được xây dựng theo kiểu nhà khung (thép hoặc bê tong cốt thép) thường được xây dựng một tầng, thoáng mát, rộng rãi, để trống mà không ngăn thành những ô nhỏ Đường đi lại trong chợ rộng, có nhiều khoảng trống dành cho người bán và giao hàng ngay trên ô tô và có bãi để xe rộng

Đối với chợ bán lẻ truyền thống nói chung đều do chính quyền địa phương lập và quản lý Mỗi tỉnh, thành phố đều có một Văn phòng chợ trực thuộc Chủ tịch tỉnh, thành phố quản lý điều hành chung Chợ bán lẻ ở Thái Lan có 2 loại: Chợ bán

lẻ tư nhân và chợ công cộng

+ Chợ bán lẻ tư nhân là do tư nhân tự lập và quản lý, nhưng phải có giấy phép do người đứng đầu địa phương cấp

+ Chợ bán lẻ công cộng được đầu tư hoàn toàn bằng ngân sách nhà nước, do chính quyền địa phương lập và điều hành hoạt động (Văn phòng chợ địa phương trực tiếp quản lý) Khi có đủ 5 điều kiện để thành lập chợ công cộng: có mặt hàng thích hợp với sơ đồ thiết kế chi tiết; xem thấy có lãi; đảm bảo điều kiện vệ sinh; phải phục vụ được cộng đồng; chưa có chợ tư nhân nào trên địa bàn thì Văn phòng chợ địa phương đề nghị lên người đứng đầu chính quyền địa phương xem xét chấp thuận (không cần phải làm thủ tục xin phép thành lập như chợ bán lẻ tư nhân)

Trang 32

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ QUẢN LÝ CHỢ

CẤP 2 VÀ 3 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH 2.1 Khái quát về hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh Bình Định

2.1.1 Về số lượng, quy mô và phân bố của mạng lưới chợ

Tính đến tháng 6/2016, trên địa bàn tỉnh Bình Định có 179 chợ, trong đó có

12 chợ hạng I, 16 chợ hạng II, 151 chợ hạng III (03 chợ chuyên doanh: chợ cá Quy Nhơn, chợ gia súc An Nhơn, chợ cá Hà Ra Phú Thứ); phân theo địa bàn có 44 chợ thành thị và 135 chợ nông thôn

- Tỷ lệ các chợ theo hình thức xây dựng: Đầu tư xây dựng mới 60 chợ và nâng cấp cải tạo chợ cũ 119 chợ

- Tỷ lệ các chợ theo hạng như sau: 12 chợ hạng I chiếm 6.7 %; 16 chợ hạng

II chiếm 8.9%; 151 chợ hạng III chiếm 84.4%

- Tỷ lệ các chợ theo địa bàn chợ thành thị chiếm 24.6%; chợ nông thôn chiếm 75.4%

- Về diện tích xây dựng chợ: Tổng diện tích đất chợ khoảng 1.013.000 m2 Với tổng số hộ kinh doanh là 31.337 hộ Diện tích đất chợ bình quân đầu người là 0.50m2/người

- Về hình thức tổ chức thì 26 chợ có Ban quản lý chiếm 14.5%; 55 chợ có

Tổ quản lý chiếm 30.7%; 66 chợ có một người quản lý chiếm 36.9%; 2 chợ thuộc doanh nghiệp quản lý chiếm 1.1%; 7 chợ thuộc hợp tác xã quản lý chiếm 4%; 23 chợ không có quản lý 12.8%

Trang 33

Bảng 2.1: Thống kê số lượng chợ trên địa bàn tỉnh Bình Định

Nguồn: UBND tỉnh Bình Định

Nhìn chung, hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh Bình Định phân bổ chưa đều đa

số chợ ở khu vực nông thôn, bố trí điểm kinh doanh ngành hàng thực phẩm chưa được rõ ràng, riêng biệt do hạ tầng chợ còn tạm bợ, hạn chế, số lượng người bán không nhiều, hoạt động không thường xuyên Có tình trạng này là do việc quy hoạch, đầu tư xây dựng chợ trên địa bàn còn thiếu thống nhất; phân bổ mạng lưới chợ chưa hợp lý về khoảng cách, bán kính, quy mô dân số phục vụ; chưa hình thành các chợ đầu mối nông sản đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, thủy sản

Công tác quy hoạch chợ: trong những năm qua UBND tỉnh Bình Định đã bắt đầu quan tâm đến việc chuyển đổi mô hình nâng cao hiệu quả hoạt động cho hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh nhằm mục tiêu đáp ứng yêu cầu sản xuất, tiêu dùng của tỉnh nói chung và tăng trưởng của ngành nói riêng Song song đó, bảo đảm các hệ thống phân phối bao gồm nhiều kênh, nhiều phương thức kinh doanh, nhiều thành phần tham gia, huy động được nhiều nguồn lực; xây dựng năng lực cạnh tranh cao

và có tác động tích cực trong quan hệ với những ngành, lĩnh vực khác Cụ thể, năm

2005, UBND tỉnh Bình Định đã phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh Bình Định đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; năm 2012 phê

Trang 34

duyệt Quy hoạch phát triển thương mại tỉnh Bình Định giai đoạn 2011-2020 và định hướng đến năm 2025,

2.1.2 Về mô hình tổ chức quản lý chợ

Cùng với quy hoạch là cơ chế quản lý chợ, UBND tỉnh Bình Định đã ban hành quyết định số 09/2005/QĐ-UB ngày 10/01/2005 và 102/QĐ-UBND ngày 05/03/2012 quy định về cơ chế đầu tư và quản lý sau đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp chợ trên địa bàn tỉnh Bình Định, đấu thầu, thu phí chợ, quy chế an toàn, quy chế đầu tư, quy tắc cân đo Chợ có bộ máy quản lý chiếm 87.2%, trong đó có 60% cán

bộ nhân viên thuộc biên chế nhà nước Số chợ còn lại chính quyền địa phương cấp

xã, huyện giao cho các tổ quản lý có cán bộ không thuộc biên chế nhà nước Số chợ còn lại chính quyền địa phương cấp xã, huyện giao cho các tổ quản lý có cán bộ không thuộc biên chế nhà nước Trong tương lai các chợ trên địa bàn tỉnh do Ban quản lý chợ quản lý phải có bộ máy quản lý phù hợp theo mô hình doanh nghiệp hoặc HTX kinh doanh và quản lý chợ Sắp tới UBND tỉnh sẽ tiến hành ban hành Quyết định, Quy định về quy trình chuyển đổi mô hình quản lý, kinh doanh chợ trên địa bàn tỉnh

Chợ do nhà nước đầu tư xây dựng mới sẽ được xem xét giao hoặc tổ chức đấu thầu để lựa chọn doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ theo quy định của pháp luật Các chợ đầu mối, các chợ có vị trí trọng điểm về kinh tế của thành phố, ở trung tâm huyện lỵ, UBND tỉnh sẽ xem xét giao doanh nghiệp nhà nước quản lý hoặc thành lập công ty cổ phần trong đó vốn Nhà nước chiếm cổ phần chi phối để đầu tư, kinh doanh khai thác và quản lý chợ.Trường hợp chợ được xây dựng bằng vốn góp của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có hỗ trợ của Nhà nước, UBND tỉnh sẽ căn cứ vào vị trí trọng điểm về kinh tế của chợ trên địa bàn thành phố, huyện và căn cứ vào tỷ lệ vốn góp của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp để quyết định việc thành lập công ty cổ phần Nhà nước nắm cổ phần chi phối hay không cần nắm cổ phần chi phối hoặc tổ chức đấu thầu lựa chọn doanh nghiệp, HTX kinh doanh khai thác và quản lý chợ

Trang 35

Tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đầu tư xây dựng chợ dưới hình thức doanh nghiệp theo quy định của pháp luật

Các chợ đã được phân hạng, đều có Ban quản lý chợ trực thuộc UBND huyện, thị xã, thành phố hoặc UBND xã, phường, thị trấn hoặc là tổ quản lý chợ thuộc doanh nghiệp, HTX kinh doanh chợ

2.1.3 Về cơ sở hạ tầng

Trong số 179 chợ trên địa bàn tỉnh Bình Định thì có khoảng 46 chợ kiên cố, chiếm 25.7%; 101 chợ bán kiên cố, chiếm 56.4%; 32 chợ lán tạm, chiếm 17.9% Như vậy phần lớn các chợ đều được xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố, các chợ lán tạm chiếm tỷ lệ khá thấp Tuy nhiên các chợ hạng 3 tại các huyện, xã tại một

số khu vực nông thôn đều đã xuống cấp nghiêm trọng, dột nát, không đảm bảo vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống cháy nổ, tỷ lệ chợ xã xuống cấp chiếm khoảng 80% Một số chợ tại các xã chỉ là những lều lán tạm hoặc tổ chức mua bán tại những bãi đất trống Hơn nữa, hiện ở địa bàn nông thôn phổ biến tồn tại một số tụ điểm buôn bán (chợ cóc) không đúng quy hoạch, chợ họp ngay ven đường hoặc trong các thôn xóm gây ách tắc giao thông, mất trật tự

an ninh, không đảm bảo vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm Bên cạnh

đó, hiện nay trên địa bàn tỉnh Bình Định có 3 chợ đầu mối nông sản, thực phẩm; 4 chợ chuyên doanh thuỷ sản; 2 chợ gia súc là nơi trung chuyển phát luồng hàng hóa nông sản, thủy sản, thực phẩm

2.1.4 Về lao động quản lý và kinh doanh trên chợ

Trên địa bàn toàn tỉnh có khoảng 800 cán bộ, công nhân viên tham gia quản

lý chợ, trong đó có 350 người trong biên chế và 450 lao động hợp đồng Có 18.213

hộ kinh doanh thường xuyên, có đăng ký kinh doanh, và 13.164 hộ KD không cố định Trong đó có, 11.472 hộ kinh doanh thực phẩm

Trang 36

2.1.5 Về đầu tư xây dựng chợ

Việc đầu tư xây dựng chợ truyền thống là hết sức quan trọng Tuy nhiên, sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 về phát triển

và quản lý chợ, UBND tỉnh ban hành quyết định số 09/2005/QĐ-UB ngày 10/01/2005 quy định về cơ chế đầu tư và quản lý sau đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp chợ trên địa bàn tỉnh Bình Định Trong đó, nguồn vốn đầu tư xây dựng chợ chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng các chợ hạng 3, khu vực nông thôn Việc xã hội hóa đầu tư xây dựng và quản lý, kinh doanh, khai thác chợ gặp khó khăn nhất là các chợ đầu mối vì cần phải có nguồn kinh phí lớn, khả năng thu hồi vốn lâu, chợ nông thôn chủ yếu là nơi mua bán nhỏ, lẻ, hình thức tự sản xuất tự tiêu dùng của các tiểu thương và người nông dân, không có lợi thế thương mại và mức sinh lãi thấp, thậm trí không sinh lãi trong một thời gian dài Vì vậy đối với việc đầu tư các chợ này cần phải có sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước

2.2 Kết quả đánh giá của tiểu thương và khách hàng mua sắm về chất lượng dịch vụ quản lý chợ cấp 2 và 3 trên địa bàn tỉnh Bình Định

2.2.1 Chất lượng dịch vụ quản lý chợ

Hệ thống chợ cấp 2 và 3 trên địa bàn tỉnh Bình Định với số lượng khá lớn đã

và đang cung cấp đa dạng sản phẩm hàng tiêu dùng cũng như thực phẩm, nông sản chủ yếu (tươi sống và đã qua chế biến), bao gồm: thịt gia súc, gia cầm, thủy hải sản, rau củ quả phục vụ nhu cầu hàng ngày của người dân trên địa bàn tỉnh Do đó chất lượng dịch vụ quản lý chợ nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động tại các chợ là vấn đề khó khăn hiện nay

Kết quả đánh giá ý kiến từ khách hàng và các tiểu thương thì chất lượng dịch

vụ quản lý chợ hiện nay như sau:

Ngày đăng: 28/07/2017, 21:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w