1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng đội ngũ cán bộ ban tổ chức ở các sư đoàn trong quân đội nhân dân việt nam hiện nay

207 451 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 207
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hệ thống tổ chức đảng thuộc Đảng bộ QĐNDVN, đảng bộ sưđoàn là đảng bộ cấp trên cơ sở, lãnh đạo toàn diện các mặt công tác ở sưđoàn, bảo đảm cho sư đoàn hoàn thành thắng lợi mọi nhi

Trang 1

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Văn Phương

Trang 2

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGHIÊN CỨU CÓ

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ

XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ BAN TỔ CHỨC Ở CÁC SƯ ĐOÀN TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN

1.1 Ban tổ chức và đội ngũ cán bộ ban tổ chức ở các sư đoàn

1.2 Những vấn đề cơ bản về xây dựng đội ngũ cán bộ ban tổ

chức ở các sư đoàn trong Quân đội Nhân dân Việt Nam 52

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM

XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ BAN TỔ CHỨC

Ở CÁC SƯ ĐOÀN TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN

2.1 Thực trạng xây dựng đội ngũ cán bộ ban tổ chức ở các sư

đoàn trong Quân đội nhân dân Việt Nam 752.2 Nguyên nhân và một số kinh nghiệm xây dựng đội ngũ

cán bộ ban tổ chức ở các sư đoàn trong Quân đội nhân

Chương 3 YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP TĂNG

CƯỜNG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ BAN TỔ CHỨC Ở CÁC SƯ ĐOÀN TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN

3.1 Tình hình nhiệm vụ và yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ

ban tổ chức ở các sư đoàn trong Quân đội nhân dân Việt

3.2 Những giải pháp tăng cường xây dựng đội ngũ cán bộ

ban tổ chức ở các sư đoàn trong Quân đội nhân dân Việt

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

01 Ban Chấp hành Trung ương BCHTW

02 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá CNH, HĐH

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Giới thiệu khái quát về luận án

Đề tài luận án: “Xây dựng đội ngũ cán ban tổ chức ở các sư đoàn trong

Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”, được nghiên cứu sinh tâm huyết, ấp ủ

và đầu tư trí tuệ, công sức nghiên cứu suốt quá trình học tập và trải nghiệmthực tiễn công tác trong lĩnh vực tổ chức xây dựng Đảng gần 20 năm Trongthời gian đó, nghiên cứu sinh luôn nỗ lực tích luỹ kiến thức, kinh nghiệm vàchủ động nghiên cứu, viết các bài báo đăng trên các tạp chí có uy tín trongquân đội về nội dung có liên quan

Đề tài được thực hiện dựa trên nền tảng lý luận Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tácxây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng ĐNCB; tham khảo, kế thừa kết quảnghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến đề tài;cùng với các báo cáo sơ kết, tổng kết của các đơn vị và số liệu điều tra, khảosát; sự định hướng, trao đổi của tập thể cán bộ hướng dẫn khoa học để nghiêncứu sinh giải quyết những nhiệm vụ mà công trình nghiên cứu đặt ra

Đề tài luận án hướng vào làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn

về xây dựng ĐNCB ban tổ chức ở các sư đoàn trong QĐNDVN Trên cơ sở

đó, đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm, nguyênnhân và rút ra một số kinh nghiệm xây dựng ĐNCB ban tổ chức ở các sưđoàn trong QĐNDVN những năm vừa qua Từ những phân tích làm rõ sự tácđộng của tình hình nhiệm vụ, đề tài luận án xác định yêu cầu và đề xuấtnhững giải pháp tăng cường xây dựng đội ĐNCB ban tổ chức ở các sư đoàntrong QĐNDVN hiện nay

2 Lý do lựa chọn luận án

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh vàĐảng ta luôn coi công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt Trong đó,xây dựng ĐNCB là khâu then chốt của nhiệm vụ then chốt, nhân tố quyết

Trang 5

định đến sự thành bại của cách mạng, gắn liền với sứ mệnh của Đảng, vậnmệnh của đất nước và chế độ Nhờ đó, mọi đường lối, chủ trương của Đảng,chính sách, pháp luật của Nhà nước đều được lãnh đạo, triển khai tổ chứcthực hiện thống nhất từ trung ương tới cơ sở, góp phần quan trọng cùng toànĐảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Trong hệ thống tổ chức đảng thuộc Đảng bộ QĐNDVN, đảng bộ sưđoàn là đảng bộ cấp trên cơ sở, lãnh đạo toàn diện các mặt công tác ở sưđoàn, bảo đảm cho sư đoàn hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.ĐNCB ban tổ chức thuộc phòng chính trị ở các sư đoàn có vai trò rất quantrọng trong công tác xây dựng đảng ở đảng bộ các sư đoàn, họ là những ngườitrực tiếp tham mưu, đề xuất với ban chủ nhiệm phòng chính trị những chủtrương, biện pháp xây dựng đảng bộ sư đoàn về mặt tổ chức; hướng dẫn,bồi dưỡng các cấp ủy, cán bộ chính trị, đội ngũ cấp ủy viên các cấp vềnghiệp vụ công tác tổ chức xây dựng Đảng; theo sự phân công của thủtrưởng cơ quan chính trị và đảng ủy sư đoàn chuẩn bị các văn kiện, nghịquyết, soạn thảo các quy chế, chỉ thị, hướng dẫn, các báo cáo nghiệp vụcông tác tổ chức xây dựng Đảng của đảng ủy sư đoàn Vì vậy, ĐNCB ban

tổ chức có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động lãnh đạo và công tác xâydựng cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong đảng bộ sư đoàn Chất lượng ĐNCBban tổ chức ở các sư đoàn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng lãnh đạo, nănglực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng thuộc đảng bộ các sưđoàn trong QĐNDVN

Trong những năm qua, được sự quan tâm của các cấp ủy, tổ chức đảngtrong đảng bộ sư đoàn nên số lượng ĐNCB ban tổ chức thường xuyên đượckiện toàn, chất lượng ngày càng được nâng lên; đại bộ phận được đào tạo cơbản trong các nhà trường quân đội, được rèn luyện qua các cương vị cán bộ

Trang 6

chủ trì về chính trị ở các đơn vị cấp phân đội, có năng lực công tác xây Đảng,CTĐ, CTCT tốt, có phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức tốt, hoàn thànhtốt chức trách, nhiệm vụ được giao Tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm vụ côngtác xây dựng đảng bộ các sư đoàn TSVM, thì chất lượng ĐNCB ban tổ chức

có mặt chưa đáp ứng Số lượng còn thiếu so với nhu cầu nhiệm vụ, cơ cấu độingũ chưa thật hợp lý, năng lực công tác xây dựng Đảng, nhất là năng lực thammưu đề xuất; năng lực chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra; năng lực tổng hợp, dựbáo; năng lực phối hợp hiệp đồng; năng lực xử lý các tình huống…cũng cònbộc lộ những hạn chế nhất định so với yêu cầu chức trách, nhiệm vụ Nhữnghạn chế, khuyết điểm đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến công tác tổ chức xâydựng Đảng ở đảng bộ các sư đoàn trong QĐNDVN hiện nay

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ nâng cao chất lượng công tác xây dựngdựng Đảng ở đảng bộ các sư đoàn trong tình hình hiện nay, phải xây dựng vàphát huy tốt vai trò, trách nhiệm của ĐNCB ban tổ chức - lực lượng trực tiếptham mưu giúp đảng ủy, chính ủy sư đoàn về công tác xây dựng Đảng Điều

đó, đòi hỏi phải tập trung xây dựng ĐNCB ban tổ chức ngang tầm với yêu cầunhiệm vụ Với những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề “Xây dựng ĐNCB ban tổ ở các sư đoàn trong QĐNDVN hiện nay” làm đề tài luận án, mong

muốn góp phần xây dựng ĐNCB ban tổ chức ở các sư đoàn trong QĐNDVNđáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích

Luận giải làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn và đề xuấtnhững giải pháp tăng cường xây dựng ĐNCB ban tổ chức ở các sư đoàn trongQĐNDVN hiện nay

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

Trang 7

- Làm rõ những vấn đề cơ bản về cán bộ ban tổ chức và xây dựng ĐNCBban tổ chức ở các sư đoàn trong QĐNDVN

- Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra những kinhnghiệm xây dựng ĐNCB ban tổ chức ở các sư đoàn trong QĐNDVN

- Làm rõ sự tác động tình hình nhiệm vụ, xác định yêu cầu và đề xuấtnhững giải pháp tăng cường xây dựng ĐNCB ban tổ chức ở các sư đoàn trongQĐNDVN hiện nay

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Xây dựng ĐNCB ban tổ chức ở các sư đoàn trong QĐNDVN là đốitượng nghiên cứu của luận án

* Phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động xây dựng ĐNCB ban tổ chứcthuộc phòng chính trị ở các sư đoàn đủ quân trong quân đội, bao gồm các sưđoàn bộ binh, bộ binh cơ giới thuộc các quân khu, quân đoàn, các sư đoànphòng không, sư đoàn không quân thuộc Quân chủng Phòng không - Khôngquân Các số liệu, tư liệu phục vụ cho luận án được giới hạn chủ yếu từ năm

2005 đến nay, những giải pháp có giá trị định hướng đến năm 2030

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận

Luận án được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng về công tác xây dựngĐảng, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay; các văn kiện, nghị quyết của Đảng,của Quân ủy Trung ương về cán bộ và công tác cán bộ

* Cơ sở thực tiễn

Là thực tiễn xây dựng ĐNCB ban tổ chức và công tác tổ chức xây dựngĐảng ở các sư đoàn trong QĐNDVN; tham khảo các báo cáo sơ kết, tổng kết

Trang 8

của các quân khu, quân đoàn, Quân chủng Phòng không - Không quân vàcác sư đoàn về những vấn đề có liên quan Kết hợp với kết quả điều tra,khảo sát thực tế về thực trạng xây dựng ĐNCB ban tổ chức ở các sư đoàn củanghiên cứu sinh.

* Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin,luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên ngành vàliên ngành, trong đó chú trọng sử dụng các phương pháp: phân tích, tổnghợp, so sánh, hệ thống-cấu trúc, lịch sử-logic, khái quát hoá, hệ thống hóa,khảo sát thực tế, tổng kết thực tiễn và phương pháp chuyên gia

6 Những đóng góp mới của luận án

- Luận giải làm rõ quan niệm và những vấn đề cơ bản vể xây dựngĐNCB ban tổ chức ở các sư đoàn trong QĐNDVN

- Tổng kết một số kinh nghiệm xây dựng ĐNCB ban tổ chức ở các sư

đoàn trong QĐNDVN Đó là, luôn xuất phát từ nhiệm vụ của sư đoàn, yêu

cầu nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng và chức trách, nhiệm vụ của cán bộban tổ chức; xây dựng ĐNCB ban tổ chức phải tiến hành đồng bộ các khâu,các bước trong quy trình xây dựng ĐNCB; chú trọng giải quyết hài hòamối quan hệ giữa yêu cầu “chuyên môn hóa” và luân chuyển cán bộ ban tổchức ở các sư đoàn trong quân đội

- Đề xuất một số nội dung, biện pháp tăng cường xây dựng ĐNCB ban

tổ chức ở các sư đoàn trong QĐNDVN hiện nay Đó là, nâng cao nhận thứccủa cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì các cấp về vị trí, vai trò, nhiệm vụcông tác xây dựng Đảng; làm tốt công tác tạo nguồn, tuyển chọn cán bộ ban

tổ chức; phối hợp chặt chẽ giữa các nhà trường và đơn vị trong đào tạo ĐNCBban tổ chức ở các sư đoàn; tăng cường sự chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quanchức năng cấp trên trong xây dựng ĐNCB ban tổ chức ở các sư đoàn

Trang 9

7 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp thêm những luận cứkhoa học giúp cho đảng ủy các sư đoàn, cấp ủy, thủ trưởng phòng chính trị sưđoàn xác định các chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng ĐNCBban tổ chức ở các sư đoàn trong quân đội vững mạnh, hoàn thành tốt chứctrách, nhiệm vụ được giao

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trongnghiên cứu, giảng dạy, học tập môn CTĐ, CTCT ở các nhà trường quân đội

8 Kết cấu của luận án

Luận án gồm: Mở đầu; tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đềtài luận án; 3 chương (6 tiết); kết luận; danh mục các công trình của tác giả đãcông bố có liên quan đến luận án; danh mục tài liệu tham khảo; phụ lục

Trang 10

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài

1.1 Các công trình nghiên cứu về cán bộ và công tác cán bộ

Tác giả Tăng Ngọc Thành, Chu La Canh (1997),“Đẩy mạnh cải cách

mở cửa, tiến lên phía trước” [118], đã tổng kết những kinh nghiệm và thành

tựu trong công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc, những thách thức màTrung Quốc đang phải đối mặt Một trong những vấn đề nghiên cứu được tácgiả cuốn sách nêu lên là: để vượt qua thách thức đưa công cuộc cải cách mởcửa tiếp tục tiến lên cần phải quan tâm xây dựng ĐNCB cách mạng, năngđộng, sáng tạo Kinh nghiệm cốt tử là công tác cán bộ phải phục tùng Đảng.Đảng phải xây dựng ĐNCB cho cả hệ thống chính trị bao gồm cả ngườitrong Đảng và người ngoài Đảng Trung Quốc kiên trì phương châm “bốnhóa” trong xây dựng ĐNCB Bốn hóa bao gồm: Cách mạng hóa, trẻ hóa, trithức hóa, chuyên môn hóa Trung Quốc coi đó là một khái niệm hoànchỉnh, trong đó cách mạng hóa là tiền đề quyết định tính chất của phươngchâm này Thực hiện phương châm “bốn hóa” là yêu cầu tất yếu của sựnghiệp cải cách mở cửa hiện nay Về tiêu chuẩn cán bộ, Trung Quốc kiêntrì nguyên tắc “tài đức song toàn” gắn chặt với nguyên tắc “thực tiễn là sốmột” và nguyên tắc “được nhân dân công nhận” Về đánh giá cán bộ,Trung Quốc thực hiện xem xét một cách toàn diện cả “đức, năng, cần, tích”

để quyết định lấy hay không lấy, dùng hay không dùng Một kinh nghiệmquý giá mà Trung Quốc đúc kết là: phải coi trọng bồi dưỡng cán bộ mới vàcốt cán cách mạng Đảng Cộng sản Trung Quốc coi việc bồi dưỡng người

kế tục sự nghiệp cách mạng là việc quan trọng trong công tác cách mạngcủa Đảng, hình thành nên một hệ thống lý luận và phương châm, nguyêntắc hoàn chỉnh Theo đó, Trung Quốc đã xây dựng và hoàn thiện “Chiếnlược nhân tài”, trọng tâm của chiến lược hướng vào việc đào tạo, bồi dưỡngđội ngũ hiền tài kế tục sự nghiệp cách mạng Trung Quốc coi trọng cải cách

Trang 11

việc dạy và học ở các trường Đảng, Học viện Hành chính, coi trọng đưangười ra nước ngoài đào tạo, đa dạng hóa các loại hình đào tạo, tăng cườngtính thực tiễn trong đào tạo cán bộ.

Thẩm Vinh Hoa, Ngô Quốc Diệu (2008), (đồng chủ biên) “Tôn trọng tri thức, tôn trọng nhân tài, kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước” [62] Đã phân

tích rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của việc xây dựng ĐNCB Trung quốc trongthời kỳ mới, trong đó tri thức được đề cao, đi đôi với đòi hỏi “tài đức songtoàn” Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của cách mạng Trung Quốc,tác giả chỉ ra tính cấp thiết để xây dựng CNXH, Đảng phải tìm cho ra và đàotạo được ĐNCB có tài, đức, hết lòng với sự nghiệp cách mạng Đảng Cộng sảnTrung Quốc kiên trì tư tưởng Mao Trạch Đông và lý luận Đặng Tiểu Bìnhtrong tiến hành đường lối công tác tổ chức cán bộ Theo quan niệm của MaoTrạch Đông và Đặng Tiểu Bình, sự nghiệp xây dựng CNXH cần những conngười Macxit-Lêninnit chân chính, toàn tâm toàn ý phục vụ cho sự nghiệp vĩđại của tuyệt đại đa số nhân dân Trung Quốc Mao Trạch Đông nhấn mạnhrằng: cán bộ lãnh đạo phải cố gắng để trở thành chuyên gia tinh thông công táckinh tế “Những người không chú trọng nghiên cứu sản xuất thì không thể nói làngười lãnh đạo tốt được” [62, tr.67] Mao Trạch Đông cũng yêu cầu: cán bộphải hăng hái nỗ lực để nâng cao trình độ chủ nghĩa Mác-Lênin, làm chomình trở thành chuyên gia tinh thông công tác chính trị nữa Tuy nhiên, donhững hạn chế của thời đại và đặc biệt là cá nhân Mao Trạch Đông đã cónhững sai lầm nghiêm trọng, làm ảnh hưởng sự phát triển của Trung Quốc,nhất là tư tưởng tả khuynh trong “Đại cách mạng văn hoá” đã gây tổn hại chocách mạng, nhất là tổn thất ĐNCB của Đảng Song, những tư tưởng của MaoTrạch Đông về xây dựng ĐNCB vẫn có giá trị, nhất là trong điều kiện xâydựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc hiện nay

Tác giả A.A.Grê-Scô (1978), “Các lực lượng vũ trang của Nhà nước Xô Viết” [53] Cuốn sách với dung lượng 582 trang, đây là một công trình khoa học

có giá trị lý luận và thực tiễn cao về xây dựng quân đội Chương VII của công

Trang 12

trình đã luận giải về cán bộ, sĩ quan của các lực lượng vũ trang đó là: “Không thểxây dựng và phát triển quân đội mà không có một số lượng đầy đủ cán bộ chỉhuy, cán bộ chính trị, cán bộ kỹ thuật - kỹ sư được đào tạo một cách thích đáng.

Đó là chân lý hoàn toàn rõ ràng Sĩ quan là cơ sở, là sườn của quân đội và hạmđội” [53, tr.289] Tác giả đã đưa ra những yêu cầu rất cụ thể với cán bộ, sĩ quan

và việc đào tạo họ như: phải có tính kiên định cộng sản chủ nghĩa, lòng trungthành vô hạn với Đảng và nhân dân; có kỷ luật và ý thức chấp hành cao, đó làviệc thực hiện một cách chính xác và kịp thời mệnh lệnh của cấp trên, tính trungthực và chân thành; phải thường xuyên sáng kiến và tính chủ động trong mọihoạt động; luôn có ý chí chỉ huy và năng lực tổ chức trong việc đạt tới mục đích;phải có trình độ nghiệp vụ, trình độ văn hóa và trình độ kỹ thuật - quân sự cao;biết huấn luyện và giáo dục những người dưới quyền của mình

1.2 Các công trình nghiên cứu về cơ quan chính trị, cán bộ chính trị

và cán bộ tổ chức trong quân đội

Viện Lịch sử quân sự Bộ Quốc phòng Liên Xô (1976), “Công tác đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang Liên Xô 1918 - 1973” [150], đã

tổng kết khá sâu sắc về lịch sử quá trình hình thành, phát triển CTĐ, CTCTtrong các lực lượng vũ trang Liên Xô; sự hình thành, phát triển, bổ sung vềbiên chế tổ chức, thay đổi chức năng, nhiệm vụ và vai trò của hệ thống cơ quanchính trị trong Quân đội và Hải quân Xô viết đối với sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc XHCN từ năm 1918 đến năm 1973 Bàn về cơ quan chính trị,cuốn sách đề cập ở chương V, chương VI và chương VII Điểm 3, phần 1,Chương V: “Việc củng cố các cơ quan chính trị và các tổ chức đảng trong thời

kỳ chiến tranh thế giới thứ hai từ năm 1941 đến năm 1945”, trong đó có nhấnmạnh việc củng cố các cơ quan chính trị là vấn đề có ý nghĩa rất lớn Đồngthời, đánh giá cao những thành công trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ củacán bộ ở cơ quan chính trị Tác giả cuốn sách xác định: “Trong quá trình chiếntranh, các cán bộ chính trị đã hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách tốt đẹp”[150, tr.340] Điểm 2 phần 1 của chương VI đề cập đến việc cải tổ lại cơ cấu và

Trang 13

công tác của các cơ quan chính trị, các tổ chức đảng và đoàn thời kỳ nhữngnăm sau chiến tranh năm 1946 đến năm 1953 Lý do cải tổ cơ quan chính trị lànhằm đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ chuyển từ thời chiến sang thời bình; đểđáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ Điều lệ về cơ quan chính trị của các lực lượng

vũ trang Xô viết được Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xôthông qua và ban hành đã quy định rõ về cơ cấu, nhiệm vụ của cơ quan chínhtrị, đồng thời xác định: cơ quan chính trị phải tập trung sự chú ý của mình vàoviệc giáo dục chính trị cho các quân nhân, củng cố chế độ một thủ trưởng, lãnhđạo các tổ chức đảng và đoàn, tổng kết và áp dụng vào kinh nghiệm CTĐ,CTCT đã tích lũy được trong những năm chiến tranh

P.l.Các-pen-cô (1981), “Công tác đảng - chính trị trong các lực lượng vũ trang Xô viết” [16] Đây là một cuốn sách giáo khoa dùng để giảng dạy về công

tác đảng - chính trị, theo chương trình đào tạo sỹ quan dự bị tại các trường đại học

và cao đẳng Cuốn sách đã nghiên cứu về nhiều vấn đề, song ở Điểm 1, ChươngIII đề cập “Các cơ quan chính trị, nhiệm vụ, cơ cấu, tính chất hoạt động” Vềnhiệm vụ của cơ quan chính trị được xác định là: giáo dục chính trị, tư tưởng chocán bộ, chiến sĩ; giáo dục đạo đức quân nhân; tăng cường ảnh hưởng của Đảngđến mọi mặt của đời sống và hoạt động của bộ đội; tăng cường vai trò của tổ chứcđảng; lãnh đạo các tổ chức đoàn thanh niên; nghiên cứu, lựa chọn, giáo dụcĐNCB chính trị Về cơ cấu tổ chức của hệ thống cơ quan chính trị: lãnh đạo côngtác đảng trong các lực lượng vũ trang thông qua Tổng cục Chính trị Quân đội vàHải quân Xô viết (với quyền hạn là một ban của Ban Chấp hành Trung ươngĐảng Cộng sản Liên Xô); dưới từng quân chủng, tập đoàn, binh đoàn, thành lậpCục chính trị; dưới các cụm bộ đội, hạm đội, nhà trường, cơ quan nghiên cứuthành lập phòng chính trị Về tính chất của cơ quan chính trị được xác định: tínhlãnh đạo; tính chính trị, tư tưởng; tính chiến đấu và tính quần chúng

Trương Tư Nghị (1986, 1987), (chủ biên) “Giáo trình công tác đảng, công tác chính trị của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc” (dùng trong các

học viện, nhà trường trong thời kỳ mới) [93], ở Phần 3, Chương XI, viết về cơ

Trang 14

quan chính trị, xác định các đơn vị Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc: từcấp trung đoàn và tương đương thành lập phòng chính trị, từ sư đoàn và tươngtrở lên thành lập Bộ chính trị, cơ quan chính trị toàn quân gọi Tổng bộ Chính

trị Trong đó: Bài một, đã đề cập đến tính chất, vị trí, vai trò của cơ quan chính trị Bài hai, đề cập đến công tác chủ yếu và yêu cầu nhiệm vụ của cơ quan

chính trị Đây là cơ quan có nhiệm vụ rất quan trọng trong tham mưu và tổchức thực hiện mọi đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản, Hiến pháp, phápluật của Nhà nước và điều lệnh, điều lệ của Quân giải phóng nhân dân TrungQuốc Cuốn sách xác định rõ, công tác chủ yếu của cơ quan chính trị là:

Quán triệt thực hiện đường lối, phương châm, chính sách và Hiếnpháp, pháp luật quốc gia, của Đảng Cộng sản Trung Quốc, bảo đảm

sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với quân đội, kiên trì “bốnnguyên tắc” cơ bản, quét sạch ảnh hưởng của cánh tả, phòng ngừa

và khắc phục thiên hướng cánh hữu, duy trì sự thống nhất với Trungương Đảng về mặt chính trị, tư tưởng [93, tr.254]

Bài ba, đề cập đến chức trách công tác của các ban ngành trong cơ quan

chính trị như: ngành tổ chức, ngành cán bộ, ngành tuyên truyền, ngành bảo

vệ, ngành văn hoá, ngành công tác quần chúng, ngành liên lạc và ngành thư

ký Đối với công tác tổ chức, tác giả đã đưa ra nhiều quan điểm, luận cứcứu có giá trị như:

Ngành tổ chức các cấp là ngành nghiệp vụ quản lý công tác tổ chức

và công tác thanh niên Nhiệm vụ cơ bản của nó là lấy học thuyếtxây dựng Đảng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Mao TrạchĐông làm kim chỉ nam, lấy Điều lệ Đảng Cộng sản Trung Quốc,những chuẩn mực cơ bản của đời sống chính trị trong Đảng vànhững chỉ thị, nghị quyết của đảng ủy làm căn cứ để chỉ đạo côngtác xây dựng Đảng đoàn của các đơn vị [93, tr.259]

Trong bài này, còn chỉ rõ chín chức trách của công tác tổ chức, đây lànhững vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao, làm cơ sở cho việc triển

Trang 15

khai tổ chức thực hiện công tác tổ chức ở các đơn vị quân đội Trung Quốc.

Về chức trách công tác tổ chức được tác giả chỉ ra, gồm:

Một là, tìm hiểu và nghiên cứu tình hình xây dựng đảng ủy của các

đơn vị trực thuộc

Hai là, nắm vững và nghiên cứu tình hình tổ chức cơ sở đảng, chỉ

đạo và giúp đỡ các chi bộ đảng tăng cường tự thân vận động

Ba là, tìm hiểu và nghiên cứu tình hình kỷ luật của Đảng, phối hợp

giúp đỡ với ủy ban kiểm tra kỷ luật của Đảng để làm tốt công táckiểm tra kỷ luật

Bốn là, chỉ đạo bộ đội trực thuộc làm tốt công tác tổ chức Đoàn

thanh niên Cộng sản và công tác thanh niên

Năm là, đồng thời phối hợp với những ngành có liên quan nghiên

cứu và chỉ đạo bộ đội làm tốt công tác chính trị trong quá trình huấnluyện quân sự và công tác chính trị thời chiến

Sáu là, chỉ đạo bộ đội triển khai các hoạt động xây dựng văn minh

tinh thần, những vấn đề mũi nhọn mang tính quần chúng nhân dân,v.v Tổng kết phát triển kinh nghiệm tiên tiến, phụ trách công tác tổchức và công tác xét tuyển của hội nghị đại biểu đơn vị tiên tiến, cánhân tiên tiến

Bẩy là, tìm hiểu và chỉ đạo công tác ủy ban hội đồng quân nhân

cách mạng quân đội về phát huy Ba dân chủ trong quân sự, kinh tế,chính trị

Tám là, phụ trách công tác quản lý việc chăm sóc, động viên an ủi và

quản lý việc hôn nhân của chiến sĩ, đảm nhận công tác có liên quanđến tổ chức như là tham gia các tổ chức đại hội đại biểu nhân dân,đại hội hiệp thương chính trị và đại hội công nhân viên chức quốcphòng, thanh niên, phụ nữ, v.v

Chín là, quản lý biên chế cơ quan chính trị đơn vị trực thuộc, kiểm

tra tình hình chấp hành Điều lệ Đảng của các quân nhân trong các

Trang 16

đơn vị trực thuộc Phụ trách công tác thống kê thực lực công tácchính trị; công tác quản lý đảng viên; công tác khen thưởng và kỷluật đảng; công tác quản lý và tiếp nhận đảng viên, đoàn viên; côngtác chuyển đảng và công tác tổ chức đảng, quản lý đảng phí, đoànphí, sử dụng, quản lý công tác đảng vụ, công tác đoàn và các cộngtác viên làm công tác chính trị sở tại thực hiện Điều lệ Công tácchính trị Phụ trách việc lấy thực lực chính trị, quản lý đảng viên,công tác thưởng phạt, quan hệ tổ chức đoàn, sử dụng đảng phí, đoànphí, giải quyết xử lý công tác, nhiệm vụ khác của Đảng và công tác,nhiệm vụ của đoàn, v.v [93, tr.260-261].

1.3 Các công trình nghiên cứu về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính trị trong quân đội

A.Ph.Sram-tren-cô (1983), “Những vấn đề Tâm lý học trong chỉ huy bộ đội” [112] Ở chương IV, tác giả đã đưa ra vấn đề lựa chọn và phân phối cán

bộ, hình thành các tập thể quân nhân Trong đó, chú ý nhiều đến việc lựa chọncán bộ, tìm tòi và phát hiện những người thực sự có tài, có năng lực, từ đó màbiết giao việc cho từng người cán bộ để họ trưởng thành, và thường xuyêngiúp đỡ họ Đồng thời, đưa ra những nội dung, biện pháp trong bồi dưỡng,giáo dục, quản lý cán bộ trẻ, ít kinh nghiệm thực tế, tâm lý, tư tưởng luôn bịtác động chi phối, dao động trong thực tiễn công tác Tác giả xác định:

Trong kế hoạch công tác đảng - công tác chính trị của tổ chức cáccấp cần phải dự kiến trước những biện pháp giúp đỡ các sĩ quantrẻ như: tổ chức gặp gỡ những người chỉ huy có kinh nghiệm vàchuyên gia giỏi về phương pháp giảng dạy, những nhà cách mạnglão thành và cựu chiến binh, trao đổi kinh nghiệm, giúp đỡ họtrong công tác, trong tổ chức đời sống và các hoạt động văn hóaquần chúng khác nhau [112, tr.227]

A.A.Ê-pi-sép (1976), “Tóm tắt lịch sử công tác đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang Liên Xô 1918 – 1973” [51], chương III, phần 2 của

Trang 17

cuốn sách đã tổng kết lịch sử CTĐ, CTCT trong lực lượng vũ trang Xô viết giaiđoạn 1921 đến 1928 Tác giả cho rằng: Đảng Cộng sản Liên xô rất coi trọng đếnviệc lựa chọn, đào tạo cán bộ chính trị cho quân đội và đã đưa ra những quanđiểm chỉ đạo như: phải lựa chọn, bồi dưỡng cán bộ chính trị đáp ứng yêu cầu sựphát triển của quân đội, trở thành một việc hết sức cấp thiết để cán bộ chính trị

có đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ; việc đào tạo, nâng cao trình độ nghiệp vụcho ĐNCB chính trị được tiến hành bằng các phương hướng cơ bản: bằng họctập ở các nhà trường quân sự, trực tiếp ở các đơn vị và tự học của cán bộ chínhtrị Tùy theo điều kiện, hoàn cảnh lịch sử để quân đội tiến hành đào tạo bổ túc,đào tạo dài hạn cán bộ chính trị Nhưng việc bồi dưỡng tại chức cho cán bộchính trị, là hình thức quan trọng để nâng cao trình độ năng lực của cán bộ chínhtrị, bảo đảm cho họ đủ sức hoàn thành nhiệm vụ được giao Tuy nhiên, tác giảcho rằng hình thức tự học vẫn là hình thức chủ yếu để mở rộng kiến thức lý luận,thực tiễn của các cán bộ chính trị Nội dung đào tạo cán bộ chính trị được tiếnhành toàn diện, trên tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự

Bun Lon Sa Luôi Sắc (2014) "Xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội nhân dân Lào ngày càng vững mạnh và có chất lượng cao" [15] Tác giả khẳng định:

ĐNCB giữ các cương vị, trọng trách lãnh đạo, chỉ huy, quản lý các cơ quan,đơn vị trong toàn quân là lực lượng nòng cốt trong tổ chức thực hiện đường lốiquân sự, quốc phòng của Đảng; có vai trò quyết định trong tổ chức thực hiệnthắng lợi nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng chính quy, rènluyện kỷ luật và trong thực hiện các nhiệm vụ khác của quân đội Vì vậy, Đảngnhân dân cách mạng Lào luôn coi trọng lãnh đạo công tác cán bộ, bảo đảm choĐNCB thực sự là lực lượng nòng cốt trong công tác xây dựng Đảng, xây dựngquân đội, làm cho quân đội thực sự là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành,tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân các bộ tộc Lào

Khi bàn về: nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo, chỉ huy, quản lýđơn vị của ĐNCB, tác giả chỉ rõ: thực hiện các nội dung trong công tác cán

bộ, nâng cao trình độ mọi mặt của ĐNCB phải gắn với trách nhiệm lãnh đạo,

Trang 18

quản lý chỉ huy đơn vị; lấy kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giaocủa cán bộ mà đánh giá chất lượng công tác xây dựng ĐNCB.

Neang Phat (2016) “Xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội Hoàng gia Cam puchia hiện nay” [91] Tác giả cho rằng: trong Quân đội Hoàng gia

Campuchia, ĐNCB có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, trực tiếp góp phầnxây dựng quân đội, cơ quan, đơn vị VMTD, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ

mà Nhà vua, Chính phủ Hoàng gia và nhân dân giao cho Từ khi ra đời chođến nay, Hoàng gia và Chính phủ Campuchia đặc biệt quan tâm, chăm lo xâydựng ĐNCB quân đội, bảo đảm cho quân đội được quản lý và chỉ huy thôngsuốt Trên cơ sở phân tích các đặc điển của ĐNCB, chỉ ra những yếu tố tácđộng đến xây dựng ĐNCB Quân đội Hoàng gia Campuchia, tác giả đã đềxuất 06 giải pháp tăng cường xây dựng ĐNCB Quân đội Hoàng giaCampuchia hiện nay, Ở giải pháp thứ 03, bàn về đổi mới, nâng cao chấtlượng tạo nguồn, tuyển chọn, quy hoạch ĐNCB Quân đội Hoàng giaCampuchia, tác giả cho rằng: thực hiện đúng phương châm “động”, “mở” và

“mềm” trong quy hoạch ĐNCB các cấp, đảm bảo cho công tác quy hoạchkhông hạn chế số người định sẵn, có nhiều nguồn để lựa chọn, không khép

kín trong từng cơ quan, đơn vị; cần nhớ đến chính sách tiến cử, bầu cử, thăng

chức vượt cấp của các triều đại Campuchia trong lịch sử dựng nước và giữnước nhằm trọng dụng, không bỏ sót người tài Chính sách này đã được thựctiễn lịch sử chứng minh là đúng đắn và có hiệu quả

2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài

2.1 Các công trình nghiên cứu về cán bộ và công tác cán bộ

Nguyễn Minh Tuấn (2012),“Tiếp tục đổi mới đồng bộ công tác cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [140], tác giả đã chỉ ra vấn

đề cán bộ là then chốt của khâu then chốt, là nhân tố quyết định thành bại củacách mạng, đồng thời đưa ra cơ sở lý luận, thực tiễn của việc đổi mới đồng bộcông tác cán bộ hiện nay là xuất phát từ đòi hỏi của thời kỳ CNH, HĐH đấtnước, từ yêu cầu của chiến lược cán bộ của Đảng thời kỳ mới Từ đó, tác giả

Trang 19

đề xuất những giải pháp đồng bộ bao gồm: xây dựng tiêu chuẩn, tạo nguồn,đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, quản lý, bố trí, sử dụng, thực hiện chế độchính sách đối với ĐNCB Trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết về công táccán bộ, tác giả đã đưa ra những vấn đề mới trong xây dựng ĐNCB hiệnnay như: đổi mới quy trình đào tạo, bồi dưỡng theo hướng thiết thực, hiệuquả; nâng cao chất lượng nguồn quy hoạch đáp ứng yêu cầu trẻ hoá cánbộ; đưa ra được nhiều hình thức, phương pháp cụ thể phát huy vai trò củanhân dân trong giám sát, đánh giá, kiểm tra cán bộ…

Dương Quang Hiền (2013), “Xây dựng đạo đức cách mạng của người cán bộ, viên chức xứng đáng là “công bộc” của dân” [61, tr.50-52] Tác giả

đã khái quát, đánh giá thực trạng tình hình yếu kém về đạo đức, tác phongcũng như trình độ năng lực của ĐNCB hiện nay đó là: vẫn còn một bộ phậnkhông nhỏ cán bộ, viên chức tự coi mình là “quan cách mạng”, vẫn còn hiệntượng “quan tham”, làm việc trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêungạo, những hiện tượng đó đều đối lập với tư tưởng của Chủ tịch Hồ ChíMinh về “công bộc” của dân [61, tr.51] Để khắc phục tình trạng yếu kémtrên, đồng thời bảo đảm cho công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chấtlượng cán bộ của Đảng nói chung theo tác giả cần thực hiện tốt các giải pháp

cơ bản sau đây: Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý để điều chỉnh đối tượng là cán bộ, công chức Thứ hai, cán bộ, viên chức phải luôn

hành động theo phương châm “việc gì lợi cho dân, phải hết sức làm; việc gì

hại cho dân, phải hết sức tránh” Thứ ba, mỗi cán bộ, viên chức phải yêu dân, tin dân, trọng dân, gần dân, học dân Thứ tư, mỗi cán bộ, đảng viên luôn thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Thứ năm, mỗi cán bộ, công

chức phải ra sức học tập, không ngừng nâng cao trình độ, năng lực để có

cống hiến cao nhất cho nhân dân Thứ sáu, Nhà nước chăm lo đến chế độ,

chính sách đối với ĐNCB, công chức để họ thực sự là “công bộc” của dân

Thứ bảy, mỗi cán bộ công chức nghiêm túc và thường xuyên thực hành phê

bình và tự phê bình [61, tr.51-52]

Trang 20

Nguyễn Quang Phát (2001), “Xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị phân đội của Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay theo tư tưởng

Hồ Chí Minh” [94], tác giả khái quát tư tưởng của Hồ Chí Minh về tiêu chuẩn

cán bộ chính trị, đó là: phải là người thật sự tiêu biểu về đạo đức cách mạng,

có năng lực toàn diện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu củaquân đội; thực sự mẫu mực về phong cách, phương pháp công tác, nói đi đôivới làm Tác giả đánh giá thực trạng xây dựng ĐNCB chính trị cấp phân độitheo tư tưởng Hồ Chí Minh và đề xuất những nội dung cơ bản về tạo nguồn,đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, thực hiện chính sách đối với ĐNCB chính trị cấpphân đội, bảo đảm đội ngũ này có cơ cấu hợp lý, chất lượng cao, số lượng phùhợp theo yêu cầu nhiệm vụ cách mạng Tuyển chọn chặt chẽ qua thực tiễn,đào tạo, bồi dưỡng toàn diện, chú trọng về bồi dưỡng đạo đức cách mạng,đánh giá đúng đắn, khéo bố trí, sử dụng và quan tâm đến đời sống vật chất,tinh thần của cán bộ chính trị

2.2 Các công trình nghiên cứu về phòng chính trị, đội ngũ cán bộ chính trị trong quân đội

Tổng Cục chính trị (1990), “Tổng kết công tác đảng, công tác chính trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” [124] Cuốn sách đã bàn về vấn

đề xây dựng ĐNCB chính trị trong quân đội Khẳng định ĐNCB chính trị trongquân đội đã được phát triển nhanh, được bồi dưỡng về phẩm chất, năng lực;phát huy được trách nhiệm trong xây dựng và chiến đấu Trang bị cho ĐNCB

cơ quan chính trị cả nội dung quân sự và nội dung chính trị; hệ thống cơ quanchính trị được kiện toàn theo kịp sự phát triển lực lượng và quy mô tác chiếntrong chiến tranh; hoạt động có chất lượng, có tính chiến đấu và sinh độngđược nhân dân yêu mến; đánh dấu bước tiến bộ của ĐNCB chính trị, nhưngcũng chỉ ra những hạn chế của cán bộ chính trị, do chưa đi sâu sát được vàomọi hoạt động của bộ đội, hoặc chưa bám sát thực tế chiến trường, có một sốcán bộ chính trị trình độ lý luận và kiến thức quân sự còn thấp; ít liên hệ côngtác nghiên cứu khoa học, tổng kết kinh nghiệm để phát triển bổ sung lý luận

Trang 21

CTĐ, CTCT, nên nhận thức về vị trí, vai trò, tính chất và chức năng CTĐ,CTCT chưa được thống nhất.

Phạm Văn Thắng (2003), “Nâng cao hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam đáp ứng với yêu cầu thời kỳ mới” [119] Trong Chương III của đề tài, các tác giả đã đưa ra biện pháp có

hiệu quả nhất để nâng cao năng lực của cơ quan chính trị và cán bộ chính trịcác cấp trong quân đội là: phải tích cực bồi dưỡng để cơ quan chính trị, cán

bộ chính trị thể hiện tốt vai trò là lực lượng nòng cốt, chuyên trách tiến hànhCTĐ, CTCT Xác định một số nội dung, biện pháp cụ thể để bồi dưỡng cơquan chính trị, cán bộ chính trị trong quân đội, gồm: bồi dưỡng nâng caophẩm chất, năng lực của chủ nhiệm chính trị, bảo đảm điều hành cơ quanchính trị, làm và triển khai thực hiện tốt kế hoạch CTĐ, CTCT của đơn vịdưới sự chỉ đạo trực tiếp của phó chỉ huy về chính trị; Bồi dưỡng ĐNCBchính trị làm việc ở các cơ quan chuyên môn, đội ngũ trợ lý chính trị ở cácđơn vị không có cơ quan chính trị, nâng cao phẩm chất, năng lực, phương phápcông tác chuyên môn theo cương vị được giao Trong đó, cần chú ý năng lựcnắm tình hình, nghiên cứu, đề xuất; năng lực hướng dẫn, kiểm tra việc thựchiện kế hoạch của ngành, kế hoạch CTĐ, CTCT; năng lực tổng hợp, báo cáo,

sơ kết, tổng kết Cùng với bồi dưỡng năng lực cần bồi dưỡng nâng cao tínhnguyên tắc, sáng tạo, nhạy bén, linh hoạt trong các hoạt động thể hiện đúng tácphong của cán bộ chính trị; bồi dưỡng nâng cao trí tuệ, trình độ nghiên cứukhoa học xã hội nhân văn cho ĐNCB chính trị, bảo đảm nắm, phân tích, đánhgiá đúng đắn mọi diễn biến của tình hình làm cơ sở xử lý kịp thời, chính xácnhững vấn đề nảy sinh Nâng cao năng lực đấu tranh trên mặt trận chính trị, tưtưởng hiện nay cũng như đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, thoái hoátrong hệ thống chính trị nói chung và quân đội nói riêng Bản thân ĐNCBchính trị phải tự mình phấn đấu để có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầunhiệm vụ và yêu cầu nâng cao hiệu lực CTĐ, CTCT Ở từng cấp, ngành, đơn vịcần có kế hoạch cụ thể và tổ chức chu đáo việc bồi dưỡng cơ quan chính trị,

Trang 22

cán bộ chính trị; phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, cán bộ chủ trìtrong vấn đề này; kết hợp tốt giữa cấp trên với cấp dưới, giữa tổ chức với từng

cá nhân trong quá trình bồi dưỡng Coi trọng việc lựa chọn cán bộ đi đào tạotập trung, đồng thời tích cực bồi dưỡng trong thực tiễn công tác

Tổng Cục chính trị (2008), “Tổng kết công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 1975 - 2005” [131] Cuốn sách

đã đánh giá những ưu điểm, khuyết điểm chính về hoạt động CTĐ, CTCT vàrút ra những bài học kinh nghiệm CTĐ, CTCT trong quá trình xây dựng quân

đội Bài học kinh nghiệm thứ bảy, đã xác định: xây dựng hệ thống cơ quan

chính trị và cán bộ chính trị các cấp có chất lượng cao, thực sự làm nòng cốttrong tiến hành CTĐ, CTCT, xây dựng quân đội về chính trị Đưa ra nhữngbiện pháp cụ thể trong xây dựng cơ quan chính trị và ĐNCB chính trị các cấptrong quân đội, gồm: xây dựng hệ thống cơ quan chính trị và cán bộ chính trịlàm nòng cốt trong tiến hành CTĐ, CTCT và xây dựng quân đội vững mạnh

về chính trị trong thời kỳ mới; phải xây dựng, củng cố, kiện toàn, nâng caochất lượng cơ quan chính trị để bảo đảm sự thống nhất giữa chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn, trách nhiệm trong tính chỉnh thể của cơ chế Đảng lãnh đạoquân đội và cơ cấu bộ máy tổ chức của quân đội; phải thường xuyên chăm lo,đào tạo, bồi dưỡng và đổi mới ĐNCB chính trị, cấp ủy, chính trị viên, bảođảm cho họ có bản lĩnh chính trị vững vàng, và phẩm chất đạo đức cáchmạng, có năng lực, trí tuệ và năng lực tổ chức thực tiễn các hoạt động CTĐ,CTCT; thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toànquân, trước hết là ĐNCB, đảng viên trong quân đội về vị trí, vai trò của CTĐ,CTCT và vai trò của ĐNCB chính trị trong sự nghiệp xây dựng Quân độinhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại Đã đánh giácông tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNCB chính trị trong những năm qua, từng bướcđược nâng lên, có tác dụng thiết thực tăng cường khả năng xây dựng quân đội

về chính trị Tuy nhiên, trong đào tạo cán bộ chính trị có tình trạng chưa phânbiệt vai trò của cán bộ chính trị, chưa thực sự coi trọng tư duy lý luận và tư

Trang 23

duy chính trị, chưa phân biệt rõ ĐNCB chính trị ở tầm chiến lược, chiến dịch,chiến thuật Đồng thời, cuốn sách còn xác định tiêu chuẩn và yêu cầu ngườicán bộ chính trị trong quân đội trong tình hình hiện nay.

Bộ Quốc phòng (2010), “Nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan chính trị cấp trung, sư đoàn bộ binh trong điều kiện mới” [11] Đề tài đã đưa

ra quan niệm cơ quan chính trị trung, sư đoàn bộ binh, đặc điểm, biên chế, tổchức và hoạt động của cơ quan chính trị trung, sư đoàn bộ binh Theo đề tài,biên chế của phòng chính trị sư đoàn đủ quân là 33 người Ban tổ chức phòngchính trị sư đoàn có 4 người Đối với sư đoàn khung thường trực, chỉ biên chếmột cán bộ tổ chức Ở sư đoàn rút gọn, số lượng cán bộ, nhân viên ở ban tổchức ít hơn Đề tài đã luận giải quan niệm chất lượng và nâng cao chất lượnghoạt động của cơ quan chính trị trung, sư đoàn Về chất lượng hoạt động của

cơ quan chính trị cấp trung, sư đoàn, đề tài quan niệm: “….tổng hoà chấtlượng các yếu tố hợp thành hoạt động của cơ quan chính trị theo yêu cầu,chức năng, nhiệm vụ, phản ánh giá trị của các nội dung, hình thức, biện pháptiến hành….” [11, tr.42]

2.3 Các công trình nghiên cứu về công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính trị trong quân đội

Trần Xuân Trường (2002), (chủ biên), “Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời

kỳ mới” [139], đã trình bày có tính hệ thống toàn bộ nội dung nâng cao chất

lượng đào tạo, bồi dưỡng ĐNCB chính trị quân đội trong các thời kỳ Các tácgiả đã phân tích làm rõ vị trí, vai trò cán bộ chính trị quân đội; xác địnhnhững yêu cầu về đào tạo, bồi dưỡng ĐNCB chính trị quân đội; đánh giá thựctrạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính trị của Quân đội nhân dân ViệtNam trong tiến trình lịch sử và hiện nay Trong đó, khẳng định những thànhcông trong bồi dưỡng cán bộ chính trị tại chức ở một số đơn vị, đó là: các cấp

ủy, chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp đã có nhận thức đúng về vị trí, vai tròcủa cán bộ chính trị và công tác bồi dưỡng cán bộ chính trị; đã lựa chọn

Trang 24

những nội dung bồi dưỡng phù hợp; vận dụng các hình thức, phương phápthích hợp để bồi dưỡng cho cán bộ chính trị các cấp ở các đơn vị trong toànquân; tổ chức và duy trì chặt chẽ nền nếp, chế độ bồi dưỡng Vì vậy, đã khắcphục được một phần những hạn chế về năng lực của ĐNCB chính trị trongthực tiễn công tác ở đơn vị Đồng thời, đưa ra yêu cầu đối với người cán bộchính trị và một số giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡngĐNCB chính trị quân đội thời kỳ mới Tuy nhiên, xuất phát từ mục đíchnghiên cứu, cũng như do thời điểm lịch sử chưa có Nghị quyết 51 của BộChính trị khóa IX “Về tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng thực hiệnchế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viêntrong Quân đội nhân dân Việt Nam”, các tác giả chưa có điều kiện làm rõ vịthế, đặc điểm riêng của cán bộ chính trị và yêu cầu bồi dưỡng ĐNCB chính trịtrong quân đội đáp ứng yêu cầu cao của tình hình nhiệm vụ CTĐ, CTCT củaquân đội hiện nay

Nguyễn Đức Độ (2009),“Đẩy mạnh tự học, tự rèn của đội ngũ cán bộ

cơ quan chính trị ở các đơn vị hiện nay” [50], cho rằng: tự học tập, tu dưỡng

rèn luyện trong thực tiễn là phương thức chủ yếu và trực tiếp để mỗi cán bộ

cơ quan chính trị ở các đơn vị bổ sung thiếu hụt về phẩm chất chính trị, đạođức kiến thức, năng lực, kinh nghiệm công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụđược giao Đồng thời, tác giả đưa ra một số yêu cầu, nội dung chủ yếu để đẩymạnh tự học tập, tự rèn của cán bộ, gồm: tăng cường giáo dục, xây dựng động

cơ tự giác tự học, tự rèn luyện nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu đòi hỏi củachức trách; tổ chức cho cán bộ xây dựng kế hoạch học tập, rèn luyện; thườngxuyên vận dụng linh hoạt và kết hợp chặt chẽ các hình thức, phương pháp đểnâng cao hiệu quả tự học, tự rèn của cán bộ và thường xuyên tạo ra môitrường thuận lợi cho việc tự học, tự rèn của cán bộ cơ quan chính trị trongquân đội

Ngô Xuân Lịch, (2010), “Tăng cường công tác cán bộ trong quân đội đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc” [73], cho rằng: những năm

Trang 25

qua công tác cán bộ, công tác cán bộ trong quân đội đã đạt được nhiều kết quảquan trọng, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội trong thời kỳ mới Tuy nhiên,vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm: công tác quy hoạch, bồi dưỡng tài năng;công tác đào tạo còn chậm đổi mới nội dung, chương trình và chưa gắn chặtvới mục tiêu sử dụng; chưa kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo theo chức vụ với đàotạo theo trình độ học vấn, giữa bồi dưỡng chuyên môn với phát triển nhâncách Đồng thời, tác giả đưa ra biện pháp nâng cao chất lượng công tác đàotạo, bồi dưỡng góp phần xây dựng ĐNCB vững mạnh ĐNCB phải được đàotạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng toàn diện Đối với cán bộ chỉ huy, quản lýphải chú ý kiến thức, năng lực toàn diện; cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ phảichú ý trình độ chuyên môn sâu; đào tạo càng cao càng phải nhuần nhuyễn giữakiến thức khoa học xã hội nhân văn với kiến thức chuyên ngành và tạo đượctiềm năng phát triển lâu dài Trong quá trình đào tạo, cùng với việc nâng caotrình độ lý luận, cần hết sức chú ý bồi dưỡng năng lực thực tiễn, truyền thụkinh nghiệm chiến đấu; kết hợp giữa đào tạo tại nhà trường với bồi dưỡng tạichức, gắn đào tạo với tự đào tạo.

Cấn Xuân Hùng (2015), “Nâng cao năng lực công tác xây dựng Đảng của đội ngũ bí thư đảng ủy trung, lữ đoàn phòng không hiện nay” [65], cho

rằng năng lực công tác xây dựng Đảng của bí thư đảng ủy trung, lữ đoànphòng không là một dạng năng lực chuyên biệt của người đứng đầu đảng ủy

trung, lữ đoàn phòng không, được cấu thành bởi kiến thức, kinh nghiệm, kỹ

năng tiến hành các hoạt động xây dựng Đảng, biểu hiện ra ở khả năng, trình

độ tổ chức thực tiễn công tác xây dựng Đảng theo phạm vi chức trách, nhiệm

vụ, phản ánh mức độ, kết quả công tác xây dựng đảng bộ TSVM, đủ sức lãnhđạo trung, lữ đoàn hoàn thành nhiệm vụ trong mọi tình huống Năng lực đókhông hình thành tự phát mà phải được trang bị cơ bản ở các nhà trường, bồidưỡng và tự học tập, bồi dưỡng công phu, thường xuyên trong thực tiễn

Việc nâng cao năng lực công tác xây dựng Đảng của đội ngũ bí thư đảng

ủy trung, lữ đoàn phòng không là tổng hợp những chủ trương, biện pháp, cách

Trang 26

thức tác động của chủ thể và các lực lượng gắn với quá trình tự học tập, bồidưỡng của đội ngũ này Để nâng cao năng lực công tác xây dựng Đảng của độingũ bí thư đảng ủy trung, lữ đoàn phòng không, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụcủa từng đơn vị, tác giả đã đưa ra các giải pháp cơ bản: tạo sự chuyển biếnmạnh mẽ về nhận thức của các tổ chức, lực lượng; tăng cường sự lãnh đạo,chỉ đạo của cấp ủy, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị cấp trên; đổi mới nộidung, hình thức, phương pháp nâng cao năng lực công tác xây dựng Đảng củađội ngũ bí thư đảng ủy trung, lữ đoàn phòng không; phát huy tính tích cực,chủ động, sáng tạo của đội ngũ bí thư đảng ủy trong tự học tập, bồi dưỡng vàphát huy sức mạnh tổng hợp trong nâng cao năng lực công tác xây dựng Đảngcủa đội ngũ bí thư đảng ủy trung, lữ đoàn phòng không

3 Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình đã công bố và những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết

3.1 Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình khoa học đã công

bố liên quan đến luận án

Kết quả các công trình khoa học nghiên cứu của nước ngoài và trongnước của các tác giả có liên quan đến xây dựng ĐNCB ban tổ chức ở các sưđoàn được tổng quan thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, các công trình khoa học trên đã trực tiếp hoặc gián tiếp nghiên

cứu những vấn đề cơ bản về công tác cán bộ, ĐNCB nói chung, cán bộ trongquân đội, cán bộ chính trị và cán bộ làm công tác tổ chức xây dựng Đảng ở các

sư đoàn nói riêng; nghiên cứu vấn đề xây dựng, bồi dưỡng ĐNCB trong lựclượng vũ trang đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới

Thứ hai, các công trình đã tập trung làm rõ: các đảng cầm quyền lãnh đạo

lực lượng vũ trang nói chung, quân đội nói riêng thông qua nhiều tổ chức,trong đó có hệ thống cơ quan chính trị và tổ chức đảng là một tất yếu kháchquan; hệ thống cơ quan chính trị luôn giữ vị trí, vai trò rất quan trọng trong sựnghiệp xây dựng và phát triển, chiến thắng của quân đội các nước; việc tăngcường sự lãnh đạo của các đảng cầm quyền đối với quân đội trước hết cần

Trang 27

phải thông qua hệ thống cơ quan chính trị, ĐNCB chính trị, đồng thời khẳngđịnh: việc chăm lo, xây dựng cơ quan chính trị và ĐNCB chính trị là vấn đề

có tính nguyên tắc và cần tiến hành thường xuyên, liên tục

Thứ ba, các công trình nghiên cứu đều khẳng định: nâng cao chất lượng

ĐNCB nói chung và ĐNCB làm công tác tổ chức xây dựng Đảng trong quânđội nói riêng là một đòi hỏi khách quan, cấp thiết trong xây dựng quân đội,cũng như xây dựng các sư đoàn hiện nay, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quảcông xây dựng Đảng trong quân đội, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo củaĐảng đối với quân đội, làm cho quân đội trung thành vô hạn với Đảng, với Tổquốc và nhân dân

Thứ tư, khi nghiên cứu về chất lượng của người cán bộ chính trị trong

quân đội, các tác giả đã khái quát được vị trí, vai trò, chức trách, nhiệm vụ vàchỉ ra những yêu cầu về phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống,năng lực, phương pháp, tác phong công tác, trình độ chuyên môn nghiệp vụcủa từng loại cán bộ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ

Thứ năm, một số công trình đã đi sâu phân tích làm rõ những vấn đề cơ

bản về xây dựng, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng ĐNCB; đưa ra quanniệm, yếu tố cấu thành, những vấn đề có tính nguyên tắc và tiêu chí đánh giáxây dựng ĐNCB; đánh giá thực trạng, chỉ ra nguyên nhân của những ưuđiểm, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm trong xây dựng ĐNCB; xác địnhyêu cầu và đề xuất giải pháp xây dựng, bồi dưỡng và nâng cao chất lượngĐNCB trong quân đội

Tuy nhiên, do đối tượng, phương pháp tiếp cận, mục tiêu, nhiệm vụnghiên cứu của mỗi công trình khác nhau, chưa có công trình nào nghiên cứumột cách cơ bản, hệ thống về lý luận, thực tiễn và đề xuất các giải pháp xâydựng ĐNCB ban tổ chức ở các sư đoàn trong QĐNDVN hiện nay, dưới góc độ

là một công trình khoa học độc lập Song, các công trình khoa học nêu trên đãchỉ ra những vấn đề có liên quan trực tiếp đến đề tài luận án, là tư liệu, cơ sởthực tiễn quan trọng cung cấp những luận cứ khoa học để tác giả có thể kế

Trang 28

thừa, tiếp tục nghiên cứu, phát triển các ý tưởng của các công trình đã công bốchưa đề cập tới, xây dựng thành công luận án đúng mã số chuyên ngành xây dựngĐảng và Chính quyền Nhà nước.

3.2 Những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết

Từ kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu những công trình khoa học ở

nước ngoài và trong nước có liên quan đến luận án “Xây dựng đội ngũ cán bộ ban tổ chức ở các sư đoàn trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” cho

thấy, luận án cần tập trung giải quyết những nội dung cơ bản sau đây:

Một là, nghiên cứu luận giải một cách cơ bản, hệ thống những vấn đề lý

luận, thực tiễn về xây dựng ĐNCB ban tổ chức ở các sư đoàn trong quân đội.Trong đó, tập trung làm rõ quan niệm về ĐNCB ban tổ chức, xây dựngĐNCB ban tổ chức ở các sư đoàn trong QĐNDVN hiện nay

Hai là, phân tích làm rõ đặc điểm, yêu cầu phẩm chất, năng lực, phương

pháp, tác phong công tác của ĐNCB ban tổ chức, quy trình, nội dung, biệnpháp xây dựng ĐNCB ban tổ chức ở các sư đoàn

Ba là, khảo sát, đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân khách

quan, chủ quan và rút ra những bài học kinh nghiệm xây dựng ĐNCB ban tổchức ở các sư đoàn trong quân đội

Bốn là, trên cơ sở đánh giá sự tác động của tình hình nhiệm vụ, xác định

yêu cầu và đề xuất giải pháp tăng cường xây dựng ĐNCB ban tổ chức ở các sưđoàn trong QĐNDVN hiện nay

Trang 29

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ BAN TỔ CHỨC Ở CÁC SƯ ĐOÀN TRONG

QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 1.1 Ban tổ chức và đội ngũ cán bộ ban tổ chức ở các

sư đoàn trong Quân đội nhân dân Việt Nam

1.1.1 Các sư đoàn và ban tổ chức ở các sư đoàn trong Quân đội nhân dân Việt Nam

* Các sư đoàn trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Sư đoàn trong QĐNDVN là đơn vị cấp chiến thuật, chiến dịch hoànchỉnh; có khả năng tác chiến độc lập và trong đội hình cấp trên; được tổ chức

ở các quân khu, quân đoàn và Quân chủng Phòng không - Không quân, có tổchức, biên chế tương đối đồng bộ, đóng quân trên các địa bàn chiến lược Các

sư đoàn có nhiệm vụ: huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu nâng cao chất lượng tổnghợp, sức mạnh chiến đấu đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam

XHCN; rèn luyện kỷ luật, xây dựng nền nếp chính quy; tham gia cứu hộ, cứu

nạn, phòng, chống khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa; tăng gia sản xuấtgóp phần cải thiện đời sống của bộ đội; tiến hành công tác dân vận, tham giagiữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn đóng quân

Hiện nay, trong QĐNDVN có ba loại hình sư đoàn và được phân biệt

theo hai tiêu chí; thứ nhất, theo nhiệm vụ có: sư đoàn bộ binh thuộc các quân

khu, quân đoàn; sư đoàn bộ binh cơ giới thuộc các quân đoàn; sư đoàn phòngkhông, sư đoàn không quân thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân;

thứ hai, theo tổ chức biên chế có: sư đoàn đủ quân, sư đoàn rút gọn và sư

đoàn khung thường trực

Các sư đoàn đủ quân là lực lượng thường trực sẵn sàng chiến đấu vàchiến đấu của quân đội Sức mạnh chiến đấu, trình độ sẵn sàng chiến đấu của

Trang 30

các sư đoàn ảnh hưởng quyết định đến trình độ sẵn sàng chiến đấu và sứcmạnh chiến đấu của Quân đội ta trong mọi tình huống

Các sư đoàn rút gọn (sư đoàn bộ binh, bộ binh cơ giới), là các sư đoàn chỉ

có một trung đoàn đủ quân, một đến hai trung đoàn rút gọn (mỗi trung đoàn cómột tiểu đoàn đủ quân) và một trung đoàn khung thường trực Biên chế của cơquan sư đoàn, trung đoàn rút gọn và trung đoàn khung thường trực cũng đượcrút gọn cho phù hợp với nhiệm vụ Khi cần thiết hoặc khi có tình huống tácchiến xẩy ra các sư đoàn rút gọn được bổ sung quân số theo biên chế của sưđoàn đủ quân để thực hiện nhiệm vụ trên giao

Các sư đoàn khung thường trực (sư đoàn bộ binh), là các sư đoàn đượcrút gọn về tổ chức và biên chế, từ cơ quan chỉ huy sư đoàn đến các cơ quan,đơn vị trực thuộc Nhiệm vụ chủ yếu của các sư đoàn khung thường trực làphối hợp với các địa phương huấn luyện và xây dựng lực lượng dự bị độngviên theo kế hoạch Khi cần thiết hoặc khi có tình huống xảy ra các sư đoànkhung thường trực được bổ sung quân số theo biên chế của sư đoàn đủ quân

để thực hiện nhiệm vụ trên giao

Hệ thống chỉ huy ở các sư đoàn bộ binh, bộ binh cơ giới thuộc các quânkhu, quân đoàn; sư đoàn phòng không thuộc Quân chủng Phòng không -Không quân bao gồm các cấp: sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội, trungđội và tiểu đội (khẩu đội) Đối với các sư đoàn không quân thuộc Quân chủngPhòng không - Không quân, hệ thống chỉ huy bao gồm các cấp: sư đoàn,trung đoàn, phi đội và biên đội bay Hệ thống tổ chức đảng gồm: đảng bộ sưđoàn là đảng bộ cấp trên trực tiếp cơ sở, đảng bộ trung đoàn, đảng bộ tiểuđoàn trực thuộc sư đoàn là đảng bộ cơ sở, đảng bộ tiểu đoàn thuộc trung đoàn

là đảng bộ bộ phận và các chi bộ đại đội (chi đội biên đội bay) Tổ chức cơ sởđoàn được thành lập ở các trung đoàn và các tiểu đoàn trực thuộc sư đoàn,liên chi đoàn ở các tiểu đoàn trực thuộc trung đoàn và chi đoàn ở các đại đội

Trang 31

Hội đồng quân nhân được tổ chức ở cấp đại đội và tương đương Hội phụ nữ,công đoàn quốc phòng được thành lập và kiện toàn theo yêu cầu tổ chức biênchế, nhiệm vụ chính trị và đặc điểm của các đơn vị Các sư đoàn có một sốđặc điểm về tổ chức và hoạt động như sau:

Thứ nhất, hình thức tổ chức đa dạng, phong phú đáp ứng với các chức năng, nhiệm vụ khác nhau

Tổ chức, biên chế, vũ khí, trang bị của các sư đoàn phụ thuộc vào từngloại hình sư đoàn (sư đoàn đủ quân, sư đoàn rút gọn, sư đoàn khung thườngtrực), phụ thuộc vào biên chế của các quân chủng (Quân chủng Lục quân có

sư đoàn bộ binh, bộ binh cơ giới; Quân chủng Phòng không - Không quân có

sư đoàn Phòng không, sư đoàn Không quân) Các sư đoàn trong quân đội đặtdưới sự lãnh đạo trực tiếp của đảng ủy quân khu, quân đoàn, quân chủng, sựchỉ huy trực tiếp của tư lệnh quân khu, quân đoàn, quân chủng Việc sử dụng,điều động các sư đoàn tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Quân ủy Trungương, mệnh lệnh, chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng

Thứ hai, các sư đoàn luôn hoạt động với cường độ cao, căng thẳng, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao

Trong thời bình, nhiệm vụ chính trị trung tâm của các sư đoàn trong quânđội là huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu đánh bại mọi âm mưu, thủđoạn tiến hành chiến tranh xâm lược, quy mô lớn, có sử dụng vũ khí công nghệcao, xung đột quân sự trên biên giới, biển, đảo; âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòabình”, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch trong mọitình huống Bên cạnh nhiệm vụ chính trị trung tâm, các sư đoàn còn sẵn sàngthực hiện các nhiệm vụ cấp trên giao như: phòng, chống thiên tai, thảm họa, cứu

hộ, cứu nạn và các nhiệm vụ đột xuất khác

Trang 32

Thứ ba, các sư đoàn đóng quân và hoạt động trên địa bàn chiến lược về quân sự, quốc phòng, trong thế trận quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc

Các sư đoàn đứng chân và hoạt động ở những địa bàn có vị trí chiếnlược về quân sự, quốc phòng bảo vệ Tổ quốc, trực tiếp đảm nhiệm thực hiệnnhiệm vụ trên một hướng chiến lược, đồng thời sẵn sàng cơ động chiến đấutheo yêu cầu nhiệm vụ trên giao, tham gia tác chiến hợp đồng quân, binhchủng khi tình huống chiến tranh xẩy ra, phối hợp, hiệp đồng tác chiến vớicác lực lượng vũ trang trong thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.Hiện nay, các sư đoàn, nhất là các sư đoàn đủ quân đều được đầu tư xây dựngdoanh trại khang trang, kiên cố, hiện đại, chính quy, với cảnh quan môitrường xanh, sạch đẹp, góp phần nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của cán

bộ, chiến sĩ

Thứ tư, các sư đoàn trong quân đội đang được hiện đại hóa vũ khí, trang vị, phương tiện chiến đấu

Để thực hiện chủ trương xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh

nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu nâng cao trình độ sẵn sàng chiếnđấu và sức mạnh chiến đấu của quân đội trước những diễn biến phức tạp củatình hình thế giới và khu vực, âm mưu, thủ đoạn chống phá của chủ nghĩa đếquốc và các thế lực thù địch Hiện nay, các sư đoàn bộ binh, bộ binh cơ giớitrên cơ sở vũ khí trang bị hiện có tiếp tục được bảo dưỡng, nâng cấp, Đảng,Nhà nước, Bộ Quốc phòng đang tích cực quan tâm đầu tư thêm một số loại vũkhí, trang bị kỹ thuật hiện đại, đáp ứng yêu cầu chiến tranh công nghệ cao Đặcbiệt, các sư đoàn đủ quân, sư đoàn phòng không, không quân được quan tâmmua sắm nhiều loại vũ khí, trang bị hiện đại, tên lửa phòng không, máy baychiến đấu, máy bay vận tải… Đây là điều kiện rất thuận lợi để xây dựng các sư

Trang 33

đoàn VMTD, không ngừng nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu, sức mạnhchiến đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống

* Ban tổ chức ở các sư đoàn trong quân đội

Ban tổ chức thuộc biên chế của phòng chính trị ở các sư đoàn; là cơquan chịu trách nhiệm tham mưu cho đảng ủy, bí thư đảng ủy sư đoàntrong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đảng bộ sư đoàn vững mạnh về tư tưởng,chính trị và tổ chức; tham mưu cho chủ nhiệm chính trị những nội dung,biện pháp chỉ đạo công tác tổ chức xây dựng Đảng trong đảng bộ sư đoàntheo phạm vi chức năng, nhiệm vụ của phòng chính trị; hướng dẫn, bồidưỡng các cấp ủy, cán bộ chính trị, đội ngũ cấp ủy viên cơ sở về nghiệp

vụ công tác tổ chức xây dựng Đảng; theo sự phân công của thủ trưởng cơquan chính trị và đảng ủy sư đoàn chuẩn bị các dự thảo văn kiện, nghịquyết, các quy chế, chỉ thị, hướng dẫn trình thường vụ, đảng ủy quyếtđịnh và các báo cáo về công tác tổ chức xây dựng lên cơ quan tổ chức cấptrên

Tổ chức, biên chế: căn cứ vào Quyết định số 253/QĐ-TM ngày

09/5/2001 của Tổng Tham mưu trường về việc ban hành biểu tổ chức, biênchế sư đoàn trong thời bình để xác định tổ chức, biên chế của ban tổ chức.Song, hiện nay, ở các sư đoàn đủ quân, biên chế của ban tổ chức gồm 4 sĩquan, trong đó có 1 trưởng ban và 3 trợ lý

Chức năng của ban tổ chức: theo Điểm 1, Điều 11 Quy chế Công tác tổ

chức xây dựng Đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam [133, tr.18-19] và từthực tiễn hoạt động công tác tổ chức xây dựng Đảng ở sư đoàn, có thể kháiquát chức năng của ban tổ chức như sau:

Một là, nghiên cứu đề xuất với thường vụ, đảng ủy và thủ trưởng phòng

chính trị nội dung, biện pháp xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng TSVM; xây dựng

cơ quan chính trị, ĐNCB chính trị và các tổ chức quần chúng vững mạnh

Trang 34

Hai là, giúp thường vụ, đảng ủy và thủ trưởng phòng chính trị hướng

dẫn, triển khai và kiểm tra việc thực hiện các nội dung công tác tổ chức xâydựng Đảng trong toàn sư đoàn

Nhiệm vụ của ban tổ chức: theo Điểm 2, Điều 11 Quy chế Công tác tổ

chức xây dựng Đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam [133, tr.19-21] và từthực tiễn hoạt động công tác tổ chức xây dựng Đảng ở sư đoàn hiện nay, cóthể khái quát nhiệm vụ của ban tổ chức như sau:

Một là, nghiên cứu nắm chắc nghị quyết, chỉ thị của cấp trên, tình hình

của đảng bộ và đơn vị, tham mưu đề xuất với đảng ủy, bí thư đảng ủy sưđoàn các chủ trương, giải pháp tổ chức quán triệt và triển khai thực hiệntrong toàn đảng bộ sư đoàn Nắm chắc kế hoạch công tác tổ chức xây dựngĐảng của cấp trên, đề xuất với thủ trưởng phòng chính trị kế hoạch côngtác tổ chức xây dựng Đảng của đảng bộ sư đoàn Tham gia chuẩn bị vănkiện đại hội đảng bộ, nghị quyết lãnh đạo thường kỳ và các chỉ thị, quyđịnh của thường vụ, đảng ủy về công tác tổ chức xây dựng Đảng

Hai là, nghiên cứu, đề xuất với thủ trưởng phòng chính trị chương trình,

nội dung đại hội đảng bộ cấp mình và hướng dẫn chương trình, nội dung đạihội cho cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng cấp dưới

Ba là, nghiên cứu, đề xuất với thủ trưởng phòng chính trị nội dung, biện

pháp chỉ đạo xây dựng, củng cố, kiện toàn cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng TSVM;xây dựng ban chính trị các trung đoàn, cán bộ chính trị và các tổ chức quầnchúng ở cơ sở

Bốn là, nghiên cứu, đề xuất với thủ trưởng phòng chính trị kế hoạch, nội

dung, biện pháp xây dựng, quản lý, giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên

Năm là, nghiên cứu, đề xuất với thủ trưởng phòng chính trị nội dung

hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Điều lệ Đảng; các nghị quyết, chỉ thị, quyđịnh, quy chế về công tác tổ chức xây dựng Đảng

Trang 35

Sáu là, tham gia thẩm định các nội dung về tổ chức đảng, tổ chức, biên

chế cơ quan chính trị, cán bộ chính trị, các tổ chức quần chúng và công táccán bộ do cấp dưới đề nghị

Bẩy là, chuẩn bị dự thảo quy chế làm việc của cấp ủy và cơ quan chính

trị cấp mình, giúp thủ trưởng phòng chính trị thẩm định quy chế làm việc của

cơ quan chính trị cấp dưới

Tám là, đề xuất với thủ trưởng phòng chính trị nội dung hướng dẫn, kiểm

tra và trực tiếp tiến hành các nội dung về công tác phát đảng viên Thẩm định

hồ sơ phát triển đảng của các tổ chức cơ sở đảng trực thuộc không được ủyquyền quyết định kết nạp đảng viên, chuyển đảng chính thức, đề nghị thường

vụ cấp ủy xét duyệt

Chín là, nghiên cứu, đề xuất với thủ trưởng phòng chính trị kế hoạch

CTĐ, CTCT trong các nhiệm vụ; hướng dẫn sơ kết, tổng kết, bồi dưỡngnghiệp vụ cho cán bộ tổ chức của đơn vị Tham gia ý kiến về điều động, bổnhiệm, đào tạo cán bộ tổ chức cấp dưới Hướng dẫn hoạt động tài chính đảng

và thực hiện một số nhiệm vụ khác do thủ trưởng phòng chính trị giao

Mối quan hệ công tác của ban tổ chức: theo Điều 15 Quy chế Công tác

tổ chức xây dựng Đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam [133, tr.25-28], và từthực tiễn hoạt động công tác tổ chức xây dựng Đảng ở sư đoàn, có thể kháiquát các mối quan hệ của ban tổ chức như sau:

Một là, quan hệ giữa ban tổ chức với đảng ủy sư đoàn là quan hệ giữa phục tùng và lãnh đạo Ban tổ chức phải phục tùng sự lãnh đạo, chỉ

đạo của đảng ủy sư đoàn; trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, ban tổchức tham mưu cho phòng chính trị, để phòng chính trị đề xuất đối với đảng ủy sưđoàn về công tác tổ chức xây dựng Đảng, CTĐ, CTCT trong các nhiệm vụ và kếhoạch tổ chức thực hiện nghị quyết của đảng ủy sư đoàn trong các cơ quan, đơnvị

Hai là, quan hệ giữa ban tổ chức với chính ủy, người chỉ huy và phó chính ủy, phó chỉ huy sư đoàn là quan hệ giữa phục tùng và chỉ đạo, quản lý.

Trang 36

Ban tổ chức phải chấp hành sự chỉ đạo của chính ủy, phó chính ủy về công tác tổchức xây dựng Đảng; chịu sự quản lý, điều hành của chính ủy, người chỉ huy,phó chính ủy, phó chỉ huy trong các hoạt động của sư đoàn Định kỳ báo cáo với

chính ủy và phó chính ủy sư đoàn về kết quả công tác tổ chức xây dựng Đảng

Ba là, quan hệ giữa ban tổ chức với đảng ủy, ban chủ nhiệm phòng chính trị sư đoàn là quan hệ giữa phục tùng và lãnh đạo,quản lý Ban tổ chức phải chấp hành sự lãnh đạo của đảng ủy, chỉ đạo của

ban chủ nhiệm phòng chính trị về công tác tổ chức xây dựng Đảng, thườngxuyên báo cáo với đảng ủy, ban chủ nhiệm phòng chính trị về kết quả triển khaicông tác tổ chức xây dựng Đảng; chịu sự quản lý, điều hành trực tiếp của đảng

ủy, ban chủ nhiệm phòng chính trị trong các hoạt động chung của cơ quan

Bốn là, quan hệ giữa ban tổ chức với ủy ban kiểm tra đảng ủy sư đoàn

là quan hệ phối hợp công tác Ban tổ chức chủ động phối hợp với cơ quan ủy

ban kiểm tra đảng ủy sư đoàn trong hướng dẫn, kiểm tra các nội dung về côngtác xây dựng Đảng; đồng thời chịu sự hướng dẫn, kiểm tra về các mặt công táctheo chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan

Năm là, quan hệ giữa ban tổ chức với các ban, ngành trong phòng chính trị là quan hệ phối hợp công tác Ban tổ chức phối hợp với các ban,

ngành trong phòng chính trị (tuyên huấn, cán bộ, dân vận, chính sách, bảo vệ…)

để thực hiện kế hoạch CTĐ, CTCT theo chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan

Sáu là, quan hệ giữa ban tổ chức với cơ quan tổ chức cấp trên là quan

hệ chấp hành sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về nghiệp vụ công tác tổ chức xây dựng Đảng cấp trên với cơ quan tổ chức xây dựng Đảng cấp dưới Ban tổ

chức phải chấp hành nghiêm túc sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về nghiệp vụcủa cơ quan tổ chức cấp trên, đồng thời đề xuất với cơ quan tổ chức cấp trênnhững nội dung liên quan đến công tác nghiệp vụ và công tác cán bộ ngành tổchức Định kỳ báo cáo kết quả công tác tổ chức xây dựng Đảng của đảng bộ sưđoàn với cơ quan tổ chức cấp trên theo quy định

Trang 37

Bảy là, quan hệ giữa ban tổ chức với cơ quan chính trị cấp dưới là quan

hệ phối hợp công tác Ban tổ chức sư đoàn theo chức năng, nhiệm vụ chủ động

phối hợp với cơ quan chính trị cấp dưới cùng hướng dẫn, kiểm tra thực hiệnnghiệp vụ công tác tổ chức xây dựng Đảng

1.1.2 Đội ngũ cán bộ ban tổ chức ở các sư đoàn trong Quân đội nhân dân Việt Nam

* Quan niệm ĐNCB ban tổ chức ở các sư đoàn trong quân đội

Để có quan niệm đúng đắn và đầy đủ về ĐNCB ban tổ chức ở các sưđoàn trong quân đội, phải trên cơ sở nghiên cứu các quan niệm về cán bộ

và cán bộ quân đội Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳngđịnh: giai cấp vô sản muốn trở thành giai cấp thống trị, giai cấp cầmquyền thì phải đào tạo cho mình một ĐNCB có phẩm chất, năng lực đểlãnh đạo toàn thể giai cấp và quần chúng nhân dân lao động thực hiệnmục tiêu, lý tưởng đã xác định V.I.Lênin chỉ rõ: “Trong lịch sử chưa hề

có một giai cấp nào giành được quyền thống trị nếu không đào tạo ra đượctrong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiênphong có khả năng tổ chức, lãnh đạo phong trào” [71, tr.473] Bàn về vấn

đề cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ là người đem chínhsách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thihành Đồng thời, đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng choChính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng” [80, tr.269]

Như vậy, cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ lãnh đạo,quản lý, chỉ huy được bầu, được bổ nhiệm hoặc có chuyên môn nghiệp vụ,hoạt động trong các ngành, các lĩnh vực khác nhau, giữ trọng trách trong một

tổ chức, cơ quan, đơn vị, có tác động, ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triểncủa tổ chức, cơ quan, đơn vị đó

Quân đội là một tổ chức chính trị, công cụ bạo lực của Đảng,Nhà nước XHCN ĐNCB quân đội là bộ phận cán bộ của Đảng, vừa

Trang 38

phải đảm bảo tiêu chuẩn, điều kiện chung vừa phải có những yêucầu riêng về phẩm chất, năng lực, phương pháp, tác phong công tácphù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và tính chất, đặc điểm của hoạt độngquân sự Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam đã định nghĩa cán bộquân đội: “Thành phần chủ yếu là đội ngũ sĩ quan quân đội Theongành chuyên môn có cán bộ: quân sự, chính trị, hậu cần, quân y,hành chính, kỹ thuật, quân pháp theo quân hàm có cán bộ cấptướng, cấp tá, cấp úy theo chức vụ có cán bộ tiểu đội, trung đội,đại đội, tiểu đoàn ” [143, tr.119].

Theo từ điển Công tác đảng, công tác chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam,thì cán bộ thuộc các đối tượng sau: 1) Người có nghiệp vụ chuyên môn làm việctrong các cơ quan Nhà nước (cán bộ khoa học, cán bộ giảng dạy, cán bộ chính trị,cán bộ quân sự); 2) Người có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệtvới người không có chức vụ (trong cơ quan, tổ chức) [148, tr 36]

Đội ngũ cán bộ là tập hợp những người cán bộ thành một lực lượng có

số lượng, cơ cấu và chất lượng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị, chức năngcủa một cơ quan, một tổ chức

Từ cách tiếp cận trên, có thể quan niệm: ĐNCB ban tổ chức ở các sư đoàn trong quân đội bao gồm những sĩ quan có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn cán bộ theo quy định, được cấp có thẩm quyền bổ nhiệm các chức vụ trưởng ban, trợ lý thuộc biên chế của ban tổ chức, phòng chính trị sư đoàn, theo yêu cầu về số lượng, cơ cấu, chất lượng đội ngũ cán bộ ban tổ chức, hoạt động dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đảng ủy phòng chính trị, sự chỉ đạo của chính

ủy, phó chính ủy, thủ trưởng phòng chính trị sư đoàn và cơ quan tổ chức cấp trên, là lực lượng tham mưu cho đảng ủy sư đoàn về công tác tổ chức xây dựng Đảng theo chức năng, nhiệm vụ của ban tổ chức, chức trách, nhiệm vụ của từng cán bộ

Trang 39

Quan niệm trên đã xác định rõ cán bộ thuộc ban tổ chức gồm trưởngban và các trợ lý thuộc biên chế của ban tổ chức, đồng thời chỉ rõ chứctrách, nhiệm vụ chủ yếu và vai trò quan trọng của ĐNCB này Dưới sựlãnh đạo của đảng ủy phòng chính trị, sự chỉ đạo của thủ trưởng phòngchính trị sư đoàn, trưởng ban, các trợ lý ban tổ chức là những cán bộ

nòng cốt tham mưu cho đảng ủy sư đoàn về công tác tổ chức xây dựng

Đảng Trên cơ sở đó chịu trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việcthực hiện các nội dung công tác tổ chức xây dựng Đảng của cấp ủy, tổchức đảng, cơ quan chính trị các đơn vị trực thuộc sư đoàn; trực tiếp tiếnhành các nội dung, hình thức, biện pháp công tác tổ chức, bồi dưỡngnghiệp vụ công tác tổ chức xây dựng Đảng cho cấp ủy viên, cán bộ chínhtrị các đơn vị trong sư đoàn

* Chức trách, nhiệm vụ của ĐNCB ban tổ chức ở các sư đoàn trong quân đội Trong ĐNCB thuộc ban tổ chức có hai chức danh:

trưởng ban tổ chức và trợ lý tổ chức; theo Điều 12 Quy chế Công tác tổ chứcxây dựng Đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam [133, tr.21-24] và từ thựctiễn hoạt động công tác tổ chức xây dựng Đảng ở sư đoàn, có thể khái quátchức trách, nhiệm vụ của ĐNCB ban tổ chức như sau:

Trưởng ban tổ chức

Chức trách: trưởng ban tổ chức là người chỉ huy ban, chịu trách nhiệm

trước đảng uỷ phòng chính trị, chủ nhiệm chính trị sư đoàn và phòng tổ chức cục chính trị các quân khu, quân đoàn, Quân chủng Phòng không - Khôngquân về mọi mặt công tác tổ chức xây dựng Đảng trong sư đoàn và hoànthành các nhiệm vụ khác khi được phân công

-Nhiệm vụ: một là, nghiên cứu nắm vững nghị quyết, tình hình thực

tiễn của sư đoàn, hướng dẫn của cơ quan nghiệp vụ cấp trên, đề xuất chủtrương, lập kế hoạch xây dựng tổ chức đảng và đảng viên trong sư đoàn,báo cáo chủ nhiệm chính trị, trình đảng uỷ, khi được phê duyệt, tổ chức

Trang 40

thực hiện Hai là, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các tổ chức đảng chấp

hành nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, xây dựng, củng cố, kiện toàn

các cấp uỷ, tổ chức cơ sở đảng TSVM Ba là, chuẩn bị các văn kiện cho

đảng uỷ sư đoàn theo quy định, quản lý, nắm vững tình hình các tổ chứcđảng, đảng viên trong đảng bộ sư đoàn, hướng dẫn, theo dõi hoạt độnggiáo dục, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực cho

cán bộ, đảng viên Bốn là, phối hợp hiệp đồng với các cơ quan, đơn vị có

liên quan để thực hiện công tác tổ chức, hướng dẫn việc chấp hànhnguyên tắc, chế độ về công tác quản lý đảng viên, công tác phát triểnđảng, công tác hành chính đảng và công tác khen thưởng trong đảng

Năm là, chỉ đạo, hướng dẫn thực hành CTĐ, CTCT trong các nhiệm vụ

cả thường xuyên và đột xuất Sáu là, tiến hành tốt công tác quản lý, điều

hành, chăm lo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhân viên ban tổ chức có phẩmchất năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; giữ vững nền nếp chế độ công

tác, xây dựng ban tổ chức VMTD Bảy là, quản lý, tổ chức tốt việc chi

tiêu kinh phí công tác tốt chức theo đúng quy định, nguyên tắc, thủ tục

Tám là, tích cực học tập, rèn luyện nâng cao trình độ mọi mặt đáp ứng

yêu cầu nhiệm vụ được giao

Trợ lý ban tổ chức

Chức trách: một là, nghiên cứu đề xuất với trưởng ban về nội dung,

biện pháp xây dựng các tổ chức đảng trong đảng bộ sư đoàn TSVM; xâydựng cơ quan chính trị, cán bộ chính trị, các tổ chức quần chúng về tổ chức

và quy chế hoạt động, tiến hành CTTĐ, CTCT trong các nhiệm vụ Hai là,

giúp trưởng ban tổ chức hướng dẫn, kiểm tra thực hiện các nội dung côngtác tổ chức xây dựng Đảng ở các cơ quan, đơn vị thuộc sư đoàn

Nhiệm vụ: một là, nắm chắc tình hình đảng bộ và đơn vị, kế hoạch công

tác tổ chức xây dựng Đảng của cấp trên, đề xuất với trưởng ban kế hoạch côngtác tổ chức xây dựng Đảng tháng, quý, năm và trong các nhiệm vụ Hướng dẫn,

Ngày đăng: 28/07/2017, 15:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban Bí thư (2009), Quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy cơ quan chuyên trách tham mưu giúp việc tỉnh ủy, thành ủy, Số 222 - QĐ/TW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy cơ quanchuyên trách tham mưu giúp việc tỉnh ủy, thành ủy
Tác giả: Ban Bí thư
Năm: 2009
3. Ban Chấp hành Trung ương (2009), Kết luận của Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa X về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020, Số 37 - KL/TW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận của Hội nghị lần thứ chín BanChấp hành Trung ương khóa X về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lượccán bộ từ nay đến năm 2020
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2009
4. Ban Chấp hành Trung ương (2011), Quy định về tổ chức đảng trong QĐNDVN, Số 49-QĐ/TW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về tổ chức đảng trongQĐNDVN
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2011
5. Ban Chấp hành Trung ương (2011), Quy định về tổ chức cơ quan chính trị trong QĐNDVN, Số 50-QĐ/TW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về tổ chức cơ quan chính trịtrong QĐNDVN
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2011
6. Bộ Chính trị (2014), Nghị quyết về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Số 42 - NQ/TW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo,quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2014
7. Trần Danh Bích (2000), (chủ biên) Xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, trong giai đoạn cách mạng mới, Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội đáp ứngyêu cầu nhiệm vụ, trong giai đoạn cách mạng mới
Tác giả: Trần Danh Bích
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2000
8. Lê Đức Bình (2002), “Tổ chức và cán bộ”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 10/2002, tr.9-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và cán bộ”, "Tạp chí Xây dựng Đảng
Tác giả: Lê Đức Bình
Năm: 2002
9. Lê Đức Bình (2003), Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt
Tác giả: Lê Đức Bình
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2003
10. Bộ Quốc phòng (2005), Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Nhà XB: NxbQĐND
Năm: 2005
11. Bộ Quốc phòng (2010), Nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan chính trị cấp trung, sư đoàn bộ binh trong điều kiện mới, Đề tài Khoa học cấp Bộ Quốc phòng, Đại tá, PGS, TS Tô Xuân Sinh - chủ nhiệm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quanchính trị cấp trung, sư đoàn bộ binh trong điều kiện mới
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Năm: 2010
12. Bộ Quốc phòng (2010), Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng lãnh đạo của tổ chức đảng ở các cơ quan cấp chiến lược trong quân đội hiện nay, Đề tài khoa học cấp Bộ Quốc phòng, Thiếu tướng, GS, TS Nguyễn Văn Tài - chủ nhiệm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng lãnhđạo của tổ chức đảng ở các cơ quan cấp chiến lược trong quân đội hiệnnay
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Năm: 2010
13. Phạm Đình Bộ (2004), “Một số vấn đề đặt ra trong bồi dưỡng năng lực công tác của đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội”, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, (số 85), tr.63-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề đặt ra trong bồi dưỡng năng lựccông tác của đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội”", Tạp chí Giáo dục lýluận chính trị quân sự
Tác giả: Phạm Đình Bộ
Năm: 2004
14. Phạm Đình Bộ (2007), Bồi dưỡng năng lực công tác của đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội binh chủng hợp thành trong Quân đội nhân dân Việt nam hiện nay, Luận án tiến sĩ khoa học chính trị, HVCTQS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng năng lực công tác của đội ngũ cán bộchính trị cấp phân đội binh chủng hợp thành trong Quân đội nhân dânViệt nam hiện nay
Tác giả: Phạm Đình Bộ
Năm: 2007
15. Bun Lon Sa Luôi Sắc (2014), "Xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội nhân dân Lào ngày càng vững mạnh và có chất lượng cao" . Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, số 1 (143), tr. 90 - 93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đội ngũ cán bộ Quân độinhân dân Lào ngày càng vững mạnh và có chất lượng cao
Tác giả: Bun Lon Sa Luôi Sắc
Năm: 2014
16. P.l.Các-pen-cô (1981), Công tác đảng - chính trị trong các lực lượng vũ trang Xô Viết, Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác đảng - chính trị trong các lực lượng vũtrang Xô Viết
Tác giả: P.l.Các-pen-cô
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 1981
17. Bùi Quang Cường (2012), “Quán triệt quan điểm của Đảng trong xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội hiện nay”, Tạp chí Giáo dục Lý luận Chính trị quân sự, tr. 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quán triệt quan điểm của Đảng trong xâydựng đội ngũ cán bộ quân đội hiện nay”, "Tạp chí Giáo dục Lý luậnChính trị quân sự
Tác giả: Bùi Quang Cường
Năm: 2012
18. Nguyễn Văn Cần (2007), “Chính uỷ, chính trị viên với nhiệm vụ xây dựng cơ quan chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam”, Học viện Chính trị quân sự, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính uỷ, chính trị viên với nhiệm vụ xây dựngcơ quan chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam”, "Học viện Chính trịquân sự, Kỷ yếu hội thảo khoa học
Tác giả: Nguyễn Văn Cần
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2007
19. Học viện Chính trị (2013), Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong nhà trường quân đội hiện nay, Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạotrong nhà trường quân đội hiện nay
Tác giả: Học viện Chính trị
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2013
20. Trịnh Cư, Nguyễn Duy Hùng, Lê Văn Yên (2009), kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ ở Trung Quốc, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: kinh nghiệm xây dựngđội ngũ cán bộ ở Trung Quốc
Tác giả: Trịnh Cư, Nguyễn Duy Hùng, Lê Văn Yên
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2009
21. V.V.Daborski (2006), “Người sĩ quan tham mưu các lực lượng vũ trang Liên bang Nga phải là người như thế nào”, Tạp chí Tư duy quân sự Nga, (Số 3), tr.32-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người sĩ quan tham mưu các lực lượng vũ trangLiên bang Nga phải là người như thế nào”, "Tạp chí Tư duy quân sựNga
Tác giả: V.V.Daborski
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w