ĐẶT VẤN ĐỀ Trong quá trình phát triển và ứng dụng công nghệ điện tử hiện đại hóa ở nước ta, ngành công nghiệp điện tử lần lượt đi từ dạng lắp ráp những thiết bị điện tử thô sơ cỡ lớn đến lắp ráp tinh vi cỡ nhỏ sau đó là sản xuất những thiết bị điện tử hiện đại. Cho đến nay, công nghiệp điện tử phát triển rất mạnh, đi vào sản xuất, lắp ráp những thiết bị điện tử tân tiến, thông minh hơn, hiện đại hơn để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội. Qua quá trình phát triển trên, nhiều loại hình lao động mới cũng hình thành theo, từ lao động thô đến lao động tinh vi, từ lao động ít ảnh hưởng đến chức năng thị giác đến lao động ảnh hưởng nhiều đến chức năng thị giác đó là sản xuất ra các sản phẩm điện tử ngày càng chi tiết nhỏ và phức tạp, đây được coi như một loại hình lao động thị giác rất cao. Các nghiên cứu ở nước ngoài đã cho thấy lao động sản xuất linh kiện điện tử là dạng lao động đòi hỏi độ chính xác cao, gây căng thẳng cơ quan phân tích thị giác và ảnh hưởng nhiều tới chức năng thị giác người lao động. Đặc trưng của dạng lao động này là làm việc với linh kiện có kích thước rất nhỏ, đòi hỏi quan sát, thao tác với độ chính xác cao và như vậy điều kiện lao động đặc trưng đòi hỏi chiếu sáng đặc biệt, yêu cầu cao phải đảm bảo cả về cường độ chiếu sáng và kỹ thuật chiếu sáng. Ở nước ta cũng đã có những nghiên cứu về sức khoẻ người lao động trong các công ty lắp ráp điện tử. Người lao động làm việc trong các cơ sở được thiết kế tương đối hiện đại. Dây chuyền sản xuất là tự động hoặc bán tự động, làm việc trong nhà kín có điều hoà nhiệt độ. Điều kiện làm việc tưởng như rất thuận lợi, tuy nhiên bước đầu qua khảo sát sơ bộ điều kiện làm việc và sức khoẻ công nhân trong hai cơ sở lắp ráp điện tử liên doanh với nước ngoài, đã thấy có một số điều kiện làm việc bất lợi về môi trường và đặc điểm công việc, xuất hiện những ảnh hưởng tới sức khoẻ người lao động, trong đó ảnh hưởng nhiều nhất là cơ quan thị giác. Với những lý do trên, trong nghiên cứu này chúng tôi dự kiến tiến hành khảo sát điều kiện lao động đặc trưng nghề sản xuất, lắp ráp linh kiện điện tử, trong đó đặc biệt chú ý đến đặc điểm của lao động thị giác như: kích thước chi tiết thao tác, khoảng cách từ mắt tới chi tiết, độ tương phản chi tiết/nền, độ phản xạ của nền, màu sắc…và các vấn đề về kỹ thuật chiếu sáng như chói loá, ánh sáng nhấp nháy… Ngoài các vấn đề liên quan đến căng thẳng thị giác ở người lao động, đề tài dự kiến đánh giá sâu về biến đổi thị lực và tật khúc xạ. Đánh giá rối loạn một số chức năng thị giác do lao động như: nhìn hình nổi, nhìn màu sắc, rối loạn năng động hình làm cho hình ảnh của hai mắt không hợp nhất (lác ngang, lác đứng), hợp thị hai mắt, các vấn đề về trường thị giác, cân bằng cơ mắt…, đồng thời khám phát hiện, đánh giá các bệnh của mắt và một số tác hại sức khoẻ ở người lao động. Trên cơ sở đó, phát hiện các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến hiệu suất lao động thị giác và gây bệnh mắt, đề xuất một số giải pháp cải thiện điều kiện lao động nói chung và điều kiện kỹ thuật chiếu sáng nói riêng. Đề xuất chế độ lao động nghỉ ngơi hợp lý và thực hiện biện pháp luyện tập thư giãn mắt, nhằm giảm căng thẳng thị giác, dự phòng tổn thương và bệnh về mắt cho người lao động. Mục tiêu đề tài: 1. Đánh giá điều kiện lao động liên quan đến lao động thị giác của công nhân sản xuất, lắp ráp linh kiện điện tử bán dẫn tại một số doanh nghiệp. 2. Xác định một số biến đổi chức năng thị giác của công nhân sản xuất, lắp ráp linh kiện điện tử bán dẫn và áp dụng giải pháp thư giãn mắt.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
-* -
TRẦN VĂN ĐẠI
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN LAO
ĐỘNG ĐẾN CHỨC NĂNG THỊ GIÁC Ở CÔNG NHÂN
LẮP RÁP LINH KIỆN ĐIỆN TỬ BÁN DẪN
Chuyên ngành: Sức khỏe nghề nghiệp
Trang 2MỤC LỤC
Trang
1.1 Sơ lược một số đặc điểm giải phẫu, sinh lý cơ quan thị giác 3
1.3.2 Đặc điểm lao động sản xuất lắp ráp linh kiện điện tử 23
Chương 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37 2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 37
2.2.2 Nội dung nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu 42
Trang 32.3 Xử lý số liệu 46
3.2 Điều kiện lao động sản xuất linh kiện điện tử 51 3.2.1 Đặc điểm dây chuyền công nghệ sản xuất 51 3.2.2 Đặc điểm nhà xưởng, loại hình chiếu sáng 52
3.2.5 Đặc điểm chiếu sáng liên quan đến lao động chính xác cao 61 3.2.6 Kết quả đo vi khí hậu, tiếng ồn và hơi khí độc 64 3.2.7 Đánh giá cảm nhận về điều kiện lao động 66 3.3 Xác định một số biến đổi chức năng thị giác 68 3.3.1 Đánh giá căng thẳng thị giác và các triệu chứng kèm theo 68 3.3.2 Đánh giá biến đổi một số test chức năng thị giác 71 3.3.3 Đánh giá tỷ lệ tật khúc xạ và bệnh mắt 78 3.4 Đánh giá hiệu quả giảm căng thẳng thị giác qua bài tập thư giãn mắt 90
4.2 Điều kiện lao động sản xuất linh kiện điện tử 95 4.2.1 Đặc điểm nhà xưởng, loại hình chiếu sáng 95
4.2.4 Đặc điểm của chiếu sáng liên quan đến lao động chính xác cao 102 4.2.5 Đặc điểm vi khí hậu, tiếng ồn và hơi khí độc 106 4.2.6 Đánh giá cảm nhận về điều kiện lao động 108 4.3 Xác định một số biến đổi chức năng thị giác 109 4.3.1 Đánh giá căng thẳng thị giác và các triệu chứng kèm theo 109 4.3.2 Đánh giá biến đổi một số test chức năng thị giác 114
Trang 44.3.3 Đánh giá tỷ lệ tật khúc xạ và bệnh mắt 120 4.4 Đánh giá hiệu quả giảm căng thẳng thị giác qua bài tập thư giãn mắt 127
3 Phương pháp thư giãn mắt là giải pháp tốt làm giảm căng thẳng thị giác
cho công nhân sản xuất linh kiện điện tử
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHLĐ: Bảo hộ lao động BT: Bình thường CFF: Tần số nhấp nháy tới hạn CN: Công nhân
CS: Chiếu sáng D: Diop
ĐH - CĐ: Đại học - cao đẳng ĐKLĐ: Điều kiện lao động HCNK: Hội chứng nhà kín KT: Kiểm tra
MP: Mắt phải MT: Mắt trái MTLĐ: Môi trường lao động NHANES: The National Health and Nutrition
Examination Survey PTTH: Phổ thông trung học SKNN & MT: Sức khỏe nghề nghiệp & Môi trường
SKTH: Sức khỏe trường học SXLKĐT: Sản xuất linh kiện điện tử
TB: Trung bình TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam TCVSCP: Tiêu chuẩn vệ sinh cho phép TKTL: Thần kinh tâm lý
TKTƯ: Thần kinh trung ương TKTV: Thần kinh thực vật TL: Thị lực
TGPX: Thời gian phản xạ TKX: Tật khúc xạ TMH: Tai - Mũi - Họng TSL: Tâm sinh lý RHM: Răng - Hàm - Mặt VTLĐ: Vị trí lao động
X ± SD: Trung bình ± độ lệch chuẩn
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
3 Bảng 3.1 Các đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 49
4 Bảng 3.2 Một số chỉ số Ecgônômi tại các VTLĐ của nhà máy SXLKĐT 55
5 Bảng 3.3 Một số chỉ số Ecgônômi tại các VTLĐ của nhà máy Ruler 57
6 Bảng 3.4 Mức độ chiếu sáng tại các VTLĐ của nhà máy SXLKĐT 58
7 Bảng 3.5 Mức độ chiếu sáng tại các VTLĐ của nhà máy Ruler 59
8 Bảng 3.6 Kết quả đo mức độ chiếu sáng chung tại các nhà máy 60
9 Bảng 3.7 Độ phản xạ và hệ số K tại một số VTLĐ của nhà máy
SXLKĐT
61
10 Bảng 3.8 Độ phản xạ và hệ số K tại một số VTLĐ của nhà máy Ruler 62
11 Bảng 3.9 Kết quả góc nhìn mắt - đèn tại VTLĐ của nhà máy SXLKĐT 63
12 Bảng 3.10 Kết quả góc nhìn mắt - đèn tại VTLĐ của nhà máy Ruler 64
17 Bảng 3.15 Kết quả điều tra cảm nhận về MTLĐ của các nhóm công nhân 66
18 Bảng 3.16 Cảm nhận chủ quan về gánh nặng công việc của các nhóm 67
19 Bảng 3.17 Các triệu chứng căng thẳng thị giác 68
20 Bảng 3.18 Các triệu chứng kích thích da và niêm mạc 69
21 Bảng 3.19 Các triệu chứng căng thẳng thần kinh và đau mỏi cơ xương
khớp
70
22 Bảng 3.20 Kết quả TGPX thị vận động của các nhóm nghiên cứu 71
23 Bảng 3.21 Kết quả đo tần số CFF của các nhóm đối tượng nghiên cứu 72
Trang 726 Bảng 3.24 Đánh giá test lác đứng 75
28 Bảng 3.26 Đánh giá test nhìn chữ E ngã - hợp thị - cân bằng cơ 77
29 Bảng 3.27 Tỷ lệ giảm thị lực của hai nhóm nghiên cứu 78
30 Bảng 3.28 Tỷ lệ giảm thị lực của hai nhóm theo tuổi ≤ 25 tuổi 79
31 Bảng 3.29 Tỷ lệ giảm thị lực của hai nhóm theo tuổi ≥ 26 tuổi 79
32 Bảng 3.30 Tỷ lệ giảm thị lực của hai nhóm theo giới nam 80
33 Bảng 3.31 Tỷ lệ giảm thị lực của hai nhóm theo giới nữ 80
34 Bảng 3.32 Mức giảm thị lực theo thâm niên của nhóm công nhân
37 Bảng 3.35 Tật khúc xạ cận thị qua thử kính của các nhóm nghiên cứu 84
38 Bảng 3.36 Tật khúc xạ viễn thị qua thử kính của các nhóm nghiên cứu 85
40 Bảng 3.37 TKX cận thị của hai nhóm theo tuổi ≤ 25 85
41 Bảng 3.38 TKX cận thị của hai nhóm theo tuổi ≥ 26 86
42 Bảng 3.39 Kết quả TKX cận thị của các nhóm nghiên cứu theo giới nam 86
43 Bảng 3.40 Kết quả TKX cận thị của các nhóm nghiên cứu theo giới nữ 87
44 Bảng 3.41 TKX cận thị theo thâm niên nghề của nhóm công nhân
SXLKĐT
88
45 Bảng 3.42 Kết quả khám bệnh mắt của các nhóm công nhân nghiên cứu 89
46 Bảng 3.43 Kết quả khám sức khỏe chung đối tượng nghiên cứu 89
47 Bảng 3.44 Kết quả các triệu chứng căng thẳng thị giác trước và sau tập
thư giãn
91
48 Bảng 3.45 Kết quả các triệu chứng đau mỏi trước và sau tập thư giãn 91
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
4 Sơ đồ 2.3 Các bước khám phát hiện TKX và bệnh mắt 45
5 Biểu đồ 3.1 Đặc điểm giới của đối tượng nghiên cứu 49
6 Biểu đồ 3.2 Đặc điểm tuổi đời và tuổi nghề của đối tượng nghiên cứu 50
7 Biểu đồ 3.3 Đặc điểm trình độ văn hóa của đối tượng nghiên cứu 50
8 Biểu đồ 3.4 Đặc điểm trình độ nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 51
9 Biểu đồ 3.5 So sánh trung bình TGPX thị vận động của hai nhóm 71
10 Biểu đồ 3.6 So sánh trung bình CFF của hai nhóm 72
11 Biểu đồ 3.7 So sánh test nhìn màu giữa các nhóm 73
12 Biểu đồ 3.8 So sánh test lác ngang giữa các nhóm 74
13 Biểu đồ 3.9 So sánh test lác đứng giữa các nhóm 75
14 Biểu đồ 3.10 So sánh test nhìn hình nổi giữa các nhóm 76
15 Biểu đồ 3.11 Test nhìn chữ E ngã - hợp thị - cân bằng cơ giữa các
nhóm
77
16 Biểu đồ 3.12 So sánh tỷ lệ giảm thị lực của hai nhóm nghiên cứu 78
17 Biểu đồ 3.13 So sánh tỷ lệ giảm thị lực theo thâm niên của nhóm
SXLKĐT
82
18 Biểu đồ 3.14 So sánh tỷ lệ TKX hình cầu khi đo khúc xạ kế tự động 83
19 Biểu đồ 3.15 So sánh tỷ lệ TKX cận thị của các nhóm 84
20 Biểu đồ 3.16 So sánh tỷ lệ cận thị theo thâm niên của nhóm SXLKĐT 88
21 Biểu đồ 3.17 Các triệu chứng căng thẳng thị giác trước và sau tập thư
giãn mắt
92
22 Biểu đồ 3.18 So sánh tỷ lệ đau mỏi trước và sau tập thư giãn mắt 92
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình phát triển và ứng dụng công nghệ điện tử hiện đại hóa ở nước
ta, ngành công nghiệp điện tử lần lượt đi từ dạng lắp ráp những thiết bị điện tử thô
sơ cỡ lớn đến lắp ráp tinh vi cỡ nhỏ sau đó là sản xuất những thiết bị điện tử hiện đại Cho đến nay, công nghiệp điện tử phát triển rất mạnh, đi vào sản xuất, lắp ráp những thiết bị điện tử tân tiến, thông minh hơn, hiện đại hơn để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội
Qua quá trình phát triển trên, nhiều loại hình lao động mới cũng hình thành theo, từ lao động thô đến lao động tinh vi, từ lao động ít ảnh hưởng đến chức năng thị giác đến lao động ảnh hưởng nhiều đến chức năng thị giác đó là sản xuất ra các sản phẩm điện tử ngày càng chi tiết nhỏ và phức tạp, đây được coi như một loại hình lao động thị giác rất cao
Các nghiên cứu ở nước ngoài đã cho thấy lao động sản xuất linh kiện điện tử
là dạng lao động đòi hỏi độ chính xác cao, gây căng thẳng cơ quan phân tích thị giác và ảnh hưởng nhiều tới chức năng thị giác người lao động Đặc trưng của dạng lao động này là làm việc với linh kiện có kích thước rất nhỏ, đòi hỏi quan sát, thao tác với độ chính xác cao và như vậy điều kiện lao động đặc trưng đòi hỏi chiếu sáng đặc biệt, yêu cầu cao phải đảm bảo cả về cường độ chiếu sáng và kỹ thuật chiếu sáng
Ở nước ta cũng đã có những nghiên cứu về sức khoẻ người lao động trong các công ty lắp ráp điện tử Người lao động làm việc trong các cơ sở được thiết kế tương đối hiện đại Dây chuyền sản xuất là tự động hoặc bán tự động, làm việc trong nhà kín có điều hoà nhiệt độ Điều kiện làm việc tưởng như rất thuận lợi, tuy nhiên bước đầu qua khảo sát sơ bộ điều kiện làm việc và sức khoẻ công nhân trong hai cơ sở lắp ráp điện tử liên doanh với nước ngoài, đã thấy có một số điều kiện làm việc bất lợi về môi trường và đặc điểm công việc, xuất hiện những ảnh hưởng tới sức khoẻ người lao động, trong đó ảnh hưởng nhiều nhất là cơ quan thị giác
Trang 10Với những lý do trên, trong nghiên cứu này chúng tôi dự kiến tiến hành khảo sát điều kiện lao động đặc trưng nghề sản xuất, lắp ráp linh kiện điện tử, trong đó đặc biệt chú ý đến đặc điểm của lao động thị giác như: kích thước chi tiết thao tác, khoảng cách từ mắt tới chi tiết, độ tương phản chi tiết/nền, độ phản xạ của nền, màu sắc…và các vấn đề về kỹ thuật chiếu sáng như chói loá, ánh sáng nhấp nháy…
Ngoài các vấn đề liên quan đến căng thẳng thị giác ở người lao động, đề tài
dự kiến đánh giá sâu về biến đổi thị lực và tật khúc xạ Đánh giá rối loạn một số chức năng thị giác do lao động như: nhìn hình nổi, nhìn màu sắc, rối loạn năng động hình làm cho hình ảnh của hai mắt không hợp nhất (lác ngang, lác đứng), hợp thị hai mắt, các vấn đề về trường thị giác, cân bằng cơ mắt…, đồng thời khám phát hiện, đánh giá các bệnh của mắt và một số tác hại sức khoẻ ở người lao động
Trên cơ sở đó, phát hiện các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến hiệu suất lao động thị giác và gây bệnh mắt, đề xuất một số giải pháp cải thiện điều kiện lao động nói chung và điều kiện kỹ thuật chiếu sáng nói riêng Đề xuất chế độ lao động nghỉ ngơi hợp lý và thực hiện biện pháp luyện tập thư giãn mắt, nhằm giảm căng thẳng thị giác, dự phòng tổn thương và bệnh về mắt cho người lao động
Trang 11Chương 1 - TỔNG QUAN 1.1 Sơ lược một số đặc điểm giải phẫu, sinh lý cơ quan thị giác
Cơ quan thị giác cấu tạo bao gồm:
+ Nhãn cầu (cơ quan thụ cảm) và các cơ vận nhãn
+ Thần kinh thị giác: dây thần kinh thị giác và trung khu thị giác ( cơ quan nhận và phân tích thông tin)
1.1.1 Sơ lược về giải phẫu nhãn cầu
Nhãn cầu nằm trong hốc mắt, có các cơ bám vào xương sọ làm cho mắt cử động được Nhãn cầu có hình cầu, trục nhãn cầu tạo với trục hốc mắt một góc khoảng 22,50 Trục trước sau nhãn cầu có thể dài từ 20,5-29,2mm, nhưng phần lớn vào khoảng từ 23,5-24,5mm
Hình 1.1 Giải phẫu nhãn cầu Nhãn cầu được cấu tạo bởi 3 lớp vỏ bọc gồm có: lớp giác - củng mạc, lớp màng mạch và lớp màng thần kinh (võng mạc) và nội dung bên trong của nhãn cầu bao gồm những môi trường trong suốt: thủy dịch, thể thủy tinh và dịch kính
- Giác mạc: chiếm 1/5 phần trước vỏ nhãn cầu, giác mạc có hình chỏm cầu,
trong suốt, nhẵn bóng, không có mạch máu và phong phú về thần kinh Trong quá trình phát triển của cơ thể thì giác mạc thay đổi rất ít, bán kính độ cong mặt trước của giác mạc lúc mới sinh là 6,6mm, khi 1 tuổi là 7,5mm và đến trên 6 tuổi đã ổn định ở mức 7,8mm Công suất giác mạc chiếm 2/3 tổng số công suất của hệ quang học mắt và là yếu tố ít biến đổi trong quá trình chính thị hóa của mắt
Dịch kính Thể thủy tinh
Hoàng điểm Gai thị
Mống mắt Giác mạc
Cơ thể mi Dây chằng Zinn
Đồng tử
Hậu phòng Tiền phòng
Trang 12- Củng mạc: là một sợi mô xơ dai, màu trắng, chiếm 4/5 phần sau của nhãn
cầu Củng mạc được cấu tạo gồm nhiều lớp băng xơ dày đan chéo nhau rất vững chắc có nhiệm vụ bảo vệ cho các màng và các môi trường bên trong của mắt
- Màng mạch: hay còn gọi là màng bồ đào gồm 3 phần: mống mắt, thể mi và
hắc mạc Mống mắt là phần trước của màng bồ đào, mống mắt như một màng ngăn cách giữa tiền phòng và hậu phòng, điều chỉnh lượng ánh sáng vào trong nhãn cầu qua lỗ đồng tử Thể mi là phần nhô lên của màng mạch nằm giữa mống mắt ở phía trước và hắc mạc ở phía sau Hắc mạc là phần sau của màng bồ đào chứa nhiều mạch máu để nuôi nhãn cầu và nhiều tế bào mang sắc tố đen tạo ra buồng tối để ảnh được in rõ trên võng mạc
- Võng mạc: là lớp màng thần kinh, nằm ở phía trong lòng của màng mạch
Võng mạc là nơi tiếp nhận các kích thích ánh sáng từ bên ngoài rồi truyền về vỏ não thị giác
- Thủy dịch: là chất lỏng trong suốt nằm ở tiền phòng và hậu phòng Thủy
dịch là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến nhãn áp và đảm bảo dinh dưỡng cho nhãn cầu
- Thể thủy tinh: là thấu kính hội tụ trong suốt hai mặt lồi được treo cố định
vào vùng thể mi nhờ các dây chằng Zinn Thể thủy tinh dày khoảng 4mm, đường kính xích đạo khoảng 8-10mm, bán kính độ cong của mặt trước là 10mm, mặt sau là 6mm Thể thủy tinh biến đổi không ngừng kể từ khi trẻ ra đời đến tuổi già Khi trẻ mới sinh, thể thủy tinh có hình cầu và công suất khúc xạ rất cao tới +42D, sau đó thể thủy tinh dẹt dần và khoảng dưới 15 tuổi công suất khúc xạ chỉ còn 16-24D Vì vậy trẻ em thường có viễn thị sinh lý, sau đó sẽ giảm dần và đến trên 6 tuổi thì sẽ trở thành mắt chính thị Ngoài ra, thể thủy tinh chịu tác động của lực điều tiết do cơ thể mi phối hợp, làm thể thủy tinh có thể co giãn, tăng hoặc giảm lực khuất triết để điều chỉnh nhìn xa và nhìn gần cho rõ Khi điều tiết, lực khuất triết của thể thủy tinh
có thể thay đổi từ 19-24D làm tăng tổng công suất khúc xạ của hệ quang học mắt
- Dịch kính: là một chất lỏng như lòng trắng trứng nằm sau thể thủy tinh,
chiếm toàn bộ phần sau nhãn cầu, lớp ngoài cùng đặc lại thành màng hyaloid
Trang 13Nhóm 2 cơ chéo: cơ chéo lớn vận động nhãn cầu vào trong và hướng xuống dưới ra ngoài, do dây thần kinh số IV chi phối; cơ chéo bé vận động nhãn cầu ra ngoài và hướng lên trên ra ngoài, do dây thần kinh số III chi phối
Ngoài ra, mỗi mắt còn có 2 cơ vận nhãn nội tại là cơ thể mi và cơ co thắt đồng tử cũng liên quan đến động tác vận nhãn trong động tác quy tụ và điều tiết
1.1.3 Thần kinh thị giác
Thần kinh thị giác bao gồm đường thần kinh và trung khu thị giác Đây là cơ quan nhận và phân tích thông tin quan trọng nhất, giúp cho con người nhận biết và xác định sự vật
Đường thần kinh thị giác kết nối giữa những tế bào nhạy cảm với các tế bào nón, tế bào que (các tế bào nhạy cảm với ánh sáng) đến não, sợi trục của các tế bào tập trung đến gai thị, chui qua lá sàng tạo thành dây thần kinh thị giác (dây số II) Thần kinh thị giác đi đến đỉnh hố mắt rồi chui qua lỗ thị giác để vào trong hộp sọ Đường thần kinh thị giác có sự bắt chéo thần kinh giữa hai bên mắt ngay trên hố yên gọi là giao thoa thị giác, cho phép thông tin giữa hai mắt nhận đồng thời và thống nhất với nhau Các sợi thần kinh bên mắt trái sẽ đi đến phần bên trái của não
và một số sợi khác (bó mũi) đi sang bên phải Ngược lại, các sợi thần kinh bên mắt phải cũng đi đến phần não phải và các sợi khác đi sang bên trái Từ đoạn giao thoa thị giác đến thể gối ngoài - là bộ phận trung chuyển các xung thần kinh tới vỏ bán cầu não, các sợi này có xu hướng toả rộng ra hơn đoạn trước nên còn gọi là dải thị
Trang 14giác Từ thể gối ngoài các sợi thị giác tiếp tục toả rộng ra như nan quạt nên gọi là tia thị đến dừng ở vỏ não thuỳ chẩm chính là trung khu thị giác
Trung khu thị giác ở vỏ não gồm các vùng vỏ não 17, 18 và 19 thuộc vỏ não thuỳ chẩm, xung quanh rãnh cựa và lấn một phần vào mặt ngoài của thuỳ chẩm Vùng 17 còn được gọi là diện Brodmann - là phần của não có liên quan đến nhiều
mặt của chức năng thị giác cơ bản [26]
1.1.4 Sinh lý con mắt về mặt quang học
Mắt có thể coi như một máy ảnh Khi chụp ảnh, muốn được kiểu ảnh rõ ta phải điều chỉnh ống kính (đối với mắt là hệ thống khúc xạ và lực điều tiết) và tùy theo chụp ở chỗ sáng nhiều hay ít mà chỉnh cho thích hợp (giống như đồng tử của mắt) Nhưng mắt là một máy ảnh “sống” có tri giác, biết thích nghi với ngoại cảnh
để nhìn được rõ nhất, với một số yếu tố của mắt như sau:
- Sự điều tiết của mắt: là khả năng thay đổi công suất của quang hệ mắt làm
các tia sáng phát ra từ vật nằm ở xa hoặc gần được hội tụ rõ nét trên võng mạc
- Đoạn và biên độ điều tiết: cự ly xa nhất của một vật mà mắt còn nhìn thấy
rõ gọi là viễn điểm điều tiết Cự ly gần nhất của một vật mà mắt còn nhìn rõ gọi là cận điểm điều tiết Ở cự ly này lực điều tiết được huy động tối đa và khúc xạ mắt ở mức độ tối đa Đoạn điều tiết là khoảng cách giữa viễn điểm và cận điểm điều tiết, nghĩa là khoảng cách trong đó điều tiết hoạt động hiệu quả Sự chênh lệch độ khúc
xạ của mắt giữa viễn điểm và cận điểm được gọi là biên độ điều tiết
- Thị lực: là khả năng của mắt đó nhận biết rõ các chi tiết, nói cách khác là khả năng của mắt phân biệt rõ hai điểm ở gần nhau
- Góc nhìn: về phương diện quang học, vật nào cũng được mắt ta nhìn dưới 1
góc gọi là góc nhìn Góc nhìn được tạo bởi hai tia sáng đi từ hai đầu mút của vật, hai tia này gặp nhau ở điểm mút của mắt, điểm này nằm ở mặt sau tại trung tâm cực sau của thể thủy tinh [36]
1.1.5 Một số bất thường của khúc xạ
Muốn hiểu các tật khúc xạ thì trước hết phải biết khúc xạ của mắt bình thường - mắt chính thị: là mắt có chiều dài trục nhãn cầu khoảng 22,5- 23mm,
Trang 15tương ứng với độ hội tụ của mắt khoảng 62D, lúc đó ảnh của vật ở vô cực sẽ hội tụ trên võng mạc và thị lực nhìn xa luôn ≥10/10
Khi ảnh không rơi vào võng mạc, đó là mắt không chính thị hay còn gọi là tật khúc xạ Có 2 loại mắt không chính thị: thứ nhất là tật khúc xạ hình cầu bao gồm cận thị, viễn thị và thứ hai là tật khúc xạ không hình cầu - hình trụ bao gồm các loại loạn thị (loạn thị đơn, loạn thị kép và loạn thị hỗn hợp…)
* Cận thị
- Khái niệm mắt cận thị: là mắt có trục nhãn cầu dài hơn bình thường hoặc
có công suất khúc xạ quá lớn, do đó các tia sáng phản chiếu từ các vật ở xa sẽ hội tụ
ở trước võng mạc vì vậy mắt cận thị không nhìn rõ các vật ở xa và thị lực nhìn xa bao giờ cũng dưới 10/10
- Phân loại cận thị: hiện nay có nhiều kiểu phân loại cận thị khác nhau dựa trên thực thể lâm sàng hay mức độ cận thị hoặc thời điểm xuất hiện cận thị [32]
Bảng 1.1 Phân loại cận thị
Thực thể lâm sàng
Cận thị đơn thuần Cận thị ban đêm Giả cận thị (cận thị điều tiết) Cận thị thoái hóa
Cận thị thứ phát Mức độ
Cận thị thấp (<3D) Cận thị trung bình (3 - 6D) Cận thị cao (>6D)
* Viễn thị
- Định nghĩa: là sự sai lệch về khúc xạ khiến khi mắt ở trong trạng thái nghỉ
ngơi, các tia sáng tới song song vào mắt sẽ hội tụ ở phía sau võng mạc Muốn thấy
rõ, mắt phải điều tiết để đưa ảnh từ sau về đúng trên võng mạc
Trang 16Viễn thị cũng là một giai đoạn phát triển của mắt trước khi thành chính thị vào khoảng dưới 15 tuổi Ở một số người thì sự phát triển này ngừng lại, con mắt bị ngắn, đó là nguyên nhân chính của viễn thị, gọi là viễn thị do trục chiếm hơn 90% tổng số viễn thị Ngoài ra viễn thị còn do những nguyên nhân khác như khi mổ lấy thể thủy tinh bị đục, giác mạc bị dẹt do sẹo, v.v…
Do lực điều tiết tốt, ở người trẻ viễn thị không gây nên sự khó chịu nào Khi tuổi lớn dần, lực điều tiết kém đi, nhìn mới thấy khó khăn Hiện tượng này phụ thuộc vào mức độ viễn thị, viễn thị càng cao thì thị lực càng bị giảm sút nhanh chóng Người viễn thị cảm thấy nhìn gần khó khăn, làm việc lâu bằng mắt sẽ rất mỏi, nghỉ ngơi sẽ hết Viễn thị cũng hay gây ra cảm giác nặng ở trán, đau thái dương, nhức đầu, muốn nhìn rõ, mắt phải cố gắng điều tiết, làm co kéo các cơ trán, lông mày và mi, khiến cho mắt người viễn thị có những nếp nhăn tạo nên một dạng
riêng gọi là “bộ mặt viễn thị” Nếu khám đáy mắt, đa số không có tổn hại gì, riêng ở
gai thị có khi có hình thái như bị viêm, nên được gọi là “viêm gai thị giả của viễn thị” Viễn thị cũng có thể gây hậu quả rất thường gặp là lác trong, bệnh glôcôm
* Loạn thị
- Định nghĩa của loạn thị: một hệ quang học loạn thị cho ảnh của một điểm
không phải là một điểm, mà là hai đường thẳng gọi là tiêu tuyến Khoảng cách của hai tiêu tuyến xác định độ loạn thị Về lý thuyết, không có mắt nào hoàn toàn không loạn thị, nhưng trong thực tế người ta gọi là loạn thị khi có rối loạn về chức năng thị giác kiểu loạn thị mà bệnh nhân nhận thức được
Loạn thị hầu hết là do giác mạc Giác mạc ở đây không còn là một chỏm cầu với tất cả mọi kinh tuyến đều có cùng một bán kính cong mà nó thay đổi tùy theo kinh tuyến Thực ra giác mạc bình thường cũng không phải hoàn toàn là một phần của hình cầu, như vậy là có loạn thị giác mạc sinh lý Độ loạn thị này được bù bằng
độ loạn thị ngược lại của thể thủy tinh, nên có sự cân bằng khúc xạ và mắt được chính thị hóa Người ta chia ra loạn thị đều và không đều Những dấu hiệu thường thấy khiến người bệnh đi khám là: song thị và quáng mắt
Trang 17thể do mắt bị nhược thị hoặc có bệnh lý tại mắt
* Thử kính: đứng cách xa bảng thị lực 5m, cho đối tượng đeo kính phân kì
-0,5D nếu thị lực không tăng thì mắt có thể là viễn thị hoặc loạn thị và nếu thị lực tăng hơn thì mắt cận thị Xác định độ cận thị bằng cách lần lượt cho đeo kính phân kỳ với
số lớn dần và chọn số kính phân kỳ nhỏ nhất tương ứng với thị lực tối đa nhất Tương
tự để xác định độ viễn thị là: kính hội tụ có số lớn nhất, cho thị lực nhìn xa cao nhất
+ Phương pháp khách quan
* Máy đo khúc xạ kế tự động: máy đo khúc xạ tự động do sử dụng những tiến
bộ mới của điện tử và vi tính, máy đo khúc xạ theo đường kinh tuyến rồi tự động tìm ra điểm trung hòa Do sử dụng tia hồng ngoại nên không bị chói mắt, giảm điều tiết nhưng bản thân máy cũng có thể cho kết quả sai lệch do phối hợp không tốt từ
bệnh nhân hay đồng tử nhỏ dưới 2mm
* Soi bóng đồng tử: soi bóng đồng tử là phương pháp ra đời sớm nhất cho
phép đánh giá một cách khách quan tật khúc xạ hình cầu, loạn thị đều hay không đều, vẩn đục của môi trường quang học Dụng cụ dùng để soi cũng ngày một hoàn thiện, ngày nay thường sử dụng máy Retinoscope [5] [8] [14] [27] [28]
Trang 181.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến chức năng thị giác trong lao động
1.2.1 Khái niệm chức năng thị giác và quá trình tiếp nhận thị giác
Thị giác là giác quan quan trọng trong các giác quan của con người, nhờ vào thị giác ta có thể cảm nhận chính xác về kích thước, hình dáng, vị trí, chiều sâu, khoảng cách xa gần, cử động nhanh chậm, khả năng cảm nhận ánh sáng và phân biệt được màu sắc của sự vật bên ngoài Như vậy, chức năng thị giác chính là sự nhìn nhận được đúng hình ảnh của sự vật xung quanh
Chức năng thị giác hoạt động bởi quá trình tiếp nhận thị giác sau: các tia sáng của vật đi qua đồng tử và đến võng mạc, ở đấy năng lượng ánh sáng được chuyển thành năng lượng điện - sinh học và được truyền vào não nhờ thần kinh thị giác dưới dạng xung động thần kinh, điều khiển sự co giãn đồng tử, độ cong của thể thủy tinh và sự hoạt động của mống mắt Những kích thích của các xung động thần kinh tiếp tục đi vào vỏ não thị giác vùng thùy chẩm, phân tích hình ảnh cùng cơ chế hợp thị của hai mắt, cuối cùng toàn bộ những kích thích của ánh sáng được cảm giác thu nhận giống như hình ảnh của sự vật xung quanh cho chúng ta nhìn được hình ảnh của sự vật xung quanh [18]
Trong lao động, chức năng thị giác bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như: đặc điểm và tính chất công việc, đặc điểm về kỹ thuật chiếu sáng… Ngoài ra, sự ảnh hưởng nhiều hay ít còn phụ thuộc vào khả năng của mỗi người lao động có sự đáp ứng và độ bền thị giác khác nhau Những ảnh hưởng đến chức năng thị giác ban đầu
có thể gây ra các triệu chứng căng thẳng thị giác sau đó là tật khác xạ, bệnh mắt và bệnh tật toàn thân
1.2.2 Ảnh hưởng thị giác do đặc điểm và tính chất công việc
Đặc điểm và tính chất công việc là vấn đề quan trọng để thấy loại lao động
đó làm công việc thô hay công việc chính xác, tinh vi, công việc căng thẳng hay không căng thẳng, thể hiện được mức độ yêu cầu về thị giác và ảnh hưởng tới thị giác là khác nhau với mỗi loại công việc
Trang 19* Đặc điểm và tính chất chi tiết thao tác
- Kích thước chi tiết thao tác thể hiện mức độ chính xác của công việc, với
chi tiết thao tác nhỏ, màu sắc của chi tiết khó nhìn hoặc chi tiết chuyển động làm khó quan sát, làm căng thẳng thị giác và gây bệnh mắt Căng thẳng thị giác là một trong những yếu tố chính ở những nghề phải thao tác, làm việc với chi tiết kích thước vật nhỏ và đòi hỏi độ chính xác cao, trong đó có công việc sản xuất, lắp ráp linh kiện điện tử Kích thước chi tiết vật phải thao tác của các linh kiện điện tử phần lớn có kích thước < 1mm
- Trong Ecgônômi phân loại mức độ chính xác công việc theo kích thước chi tiết vật, được chia làm 6 mức độ: [25]
Mức độ 1: Công việc chính xác rất cao; có kích thước chi tiết < 0,15mm Mức độ 2: Công việc chính xác cao; có kích thước chi tiết từ 0,15 - 0,3mm Mức độ 3: Công việc chính xác; có kích thước chi tiết từ 0,3 - 0,5mm
Mức độ 4: Công việc chính xác trung bình; có kích thước chi tiết từ 0,5-1mm Mức độ 5: Công việc ít chính xác; có kích thước chi tiết 1 - 5mm
Mức độ 6: Công việc thô; có kích thước chi tiết >5mm
Ở một số tài liệu nước ngoài với công việc thực hiện chi tiết thao tác < 3mm
đã là công việc thuộc loại chính xác và gây căng thẳng thị giác cao cho người lao động
- Ngoài ra, vấn đề màu sắc của chi tiết thao tác và bề mặt nền thao tác cũng ảnh hưởng đến việc nhìn nhận chi tiết có rõ không, nhất là chi tiết nhỏ và màu khó nhìn đều làm tăng căng thẳng thị giác Sự nhìn nhận chi tiết có rõ không phụ thuộc vào màu của bề mặt nền thao tác, nếu phối hợp màu tương phản tốt sẽ tạo tiếp nhận thị giác tốt, giúp cho việc thao tác chi tiết dễ dàng Ví dụ như: chi tiết màu đen hoặc màu xanh phải được thao tác trên nền trắng mới cho tiếp nhận thị giác tốt nhất, nhưng chi tiết màu vàng mà thao tác trên nền trắng thì rất khó nhìn (Tham khảo thêm phụ lục 5- bảng tương phản chi tiết/nền) [18]
Trang 20* Đặc điểm và tính chất công việc
- Do yêu cầu của công nghệ sản xuất và tổ chức lao động mà người lao động
có thể phải lao động ở cường độ lao động quá mức theo ca, kíp, tư thế làm việc gò
bó trong thời gian dài, làm việc theo dây chuyền, tư thế lao động không thuận lợi và đơn điệu trong lao động cùng với đó là trách nhiệm công việc cao gây căng thẳng thị giác và thần kinh tâm lý
- Trong sản xuất, lắp ráp linh kiên điện tử, đánh giá Ecgônômi vị trí, tư thế lao động chủ yếu là tư thế ngồi có góc cúi đầu cao hoặc làm việc ở tư thế cúi khom, công việc phải nhìn rất gần vào chi tiết thao tác nhỏ Làm việc theo dây chuyền đòi hỏi phải liên tục, công việc đơn điệu kéo dài, thường xuyên làm thêm giờ, làm đêm Tất cả những đặc điểm này ảnh hưởng xấu tới sức khỏe thị giác và sức khỏe chung cho người lao động [18] [20] [21] [22]
1.2.3 Ảnh hưởng thị giác do đặc điểm kỹ thật chiếu sáng
Trong công việc, thị giác của người lao động bị ảnh hưởng bởi các đặc điểm chiếu sáng không tốt như: mức độ chiếu sáng thấp; ánh sáng bị chói; độ tương phản không thích hợp; phân bố ánh sáng không đồng đều và hiện tượng nhấp nháy ánh sáng [43] [48] [54] [55] [56] [57]
* Mức độ chiếu sáng
- Mức độ chiếu sáng (độ rọi): là lượng ánh sáng chiếu tới một bề mặt, đơn vị
đo là lux Sử dụng máy đo độ chiếu sáng bằng Luxmetre Khi đo, tế bào quang điện của máy đo được đặt ngửa trên mặt phẳng cần đo hoặc cách mặt sàn khoảng 76cm (theo tiêu chuẩn của Mỹ, một số khác có thể đo cách từ 70 hoăc 85cm), tránh bóng che
- Giá trị đo được đánh giá từ nhiều góc độ và nhiều điểm đo, ở các phòng nhỏ các điểm đo có thể cách 1-2m, còn ở xưởng lớn các điểm đo có thể cách khoảng 5m Tuy nhiên, tùy theo vị trí và tính chất công việc, các điểm đo và cách đánh giá sẽ khác nhau
- Đánh giá ánh sáng thiếu: đo độ rọi chiếu sáng trung bình nơi làm việc thấy dưới tiêu chuẩn cho phép so với công việc Ngoài ra, khi khảo sát có thể nhìn thấy
Trang 21bóng che, nhất là xung quanh vị trí làm việc và lối đi lại Đồng thời, hỏi công nhân
có những triệu chứng căng thẳng thị giác hay phải nheo mắt để nhìn không
* Ánh sáng bị chói
- Ánh sáng chói là vấn đề hay gặp, xảy ra khi có nguồn ánh sáng chói tới mắt hoặc do phản xạ ánh sáng cao trong tầm nhìn thao tác của công nhân Trong hầu hết trường hợp, mắt sẽ tự điều chỉnh để thích nghi mức độ ánh sáng chói Tại vùng ánh sáng chói, khi hiện tượng thích nghi xảy ra, mắt sẽ trở nên khó để nhìn chi tiết vùng
mờ và tối khu vực xung quanh vị trí làm việc
- Ánh sáng chói gây ra căng thẳng và khó chịu khi làm việc và sẽ dẫn đến căng thẳng thị giác và làm giảm khả năng nhìn của một người Có hai loại gây chói bao gồm:
+ Chói gián tiếp: là do phản xạ ánh sáng như những phản xạ ánh sáng chói từ
bề mặt nhẵn, bóng hoặc sáng; phản xạ từ kính bóng; phản xạ của màn hình hay phản xạ của bề mặt làm việc quá bóng…
+ Chói trực tiếp: là ánh sáng trực tiếp từ nguồn sáng tới mắt như ánh sáng chói từ nguồn sáng đặt sai vị trí, không có chụp che làm cho người lao động nhìn trực tiếp vào nguồn sáng; hoặc vị trí lao động được thiết kế có quá nhiều ánh sáng mặt trời
- Đánh giá ánh sáng chói gián tiếp ta đánh giá qua đặc điểm của nền/ chi tiết
và hệ số phản xạ ánh sáng:
+ Độ phản xạ của chi tiết và nền: là lượng ánh sáng phản xạ từ bề mặt được chiếu sáng Đơn vị đo được tính theo lux Khi đo, tế bào quang điện của máy đo hướng về nền hoặc chi tiết cần đo, cách khoảng 5-7cm, với góc ~450, đo 4 lần theo
4 hướng rồi lấy giá trị trung bình
+ Đánh giá đặc điểm nền bằng tính hệ số phản xạ ánh sáng (Reflectance) Hệ
số phản xạ được tính theo công thức:
Độ phản xạ của nền
R(%) = - x 100
Độ rọi chiếu sáng lên nền đó
Trang 22Đánh giá đặc điểm nền: nền tối R<20%; nền trung bình 20%≤ R≤40%; nền sáng R>40%
- Đánh giá ánh sáng chói trực tiếp ta đánh giá qua đo góc nhìn mắt - đèn:
Góc nhìn mắt - đèn là góc tạo bởi đường nhìn ngang của mắt và đường thẳng nối từ mắt đến đèn Một số đề xuất giới hạn góc mắt - đèn để đảm bảo trong lao
động như sau:
+ TCVN 7174 - 2002 [20]: góc mắt - đèn ≥ 45o
+ Grandjean [43]: góc mắt - đèn > 30o
+ Tài liệu Nga [86]: góc mắt đèn ≥ 40o
Như vậy, để đảm bảo nguyên tắc kỹ thuật chiếu sáng nhằm tránh chói lóa, nguồn sáng cần có chụp che hiệu quả sao cho góc mắt - đèn đảm bảo được những yêu cầu trên, ít nhất trên 30o, nếu như trong một xưởng sản xuất rộng đèn cần có chụp hiệu quả để mắt không trực tiếp nhìn thấy nguồn sáng từ đèn của những dây chuyền kế bên [43]
vệ được thị giác cho người lao động
Trong công nghiệp sản xuất, nếu các chi tiết chuyển động của máy gần tựa màu nhau tức là độ tương phản kém thì sẽ khó để nhận biết hơn, ví dụ như cánh quạt quay và thân máy cố định lại cùng màu nhau làm khó quan sát, gây nguy hiểm cho công nhân
Trang 23- Để đánh giá tương phản giữa chi tiết và nền ta đánh giá bằng hệ số tương phản Hệ số tương phản là mối liên quan giữa đặc điểm của chi tiết và nền, nhằm xác định liên quan đó là tốt hay không tốt cho tiếp nhận thị giác và thao tác công việc Hệ số tương phản được tính theo công thức:
Độ phản xạ của chi tiết(Lct) - Độ phản xạ của nền(Ln)
K = -
Độ phản xạ của nền(Ln)
Nếu K < 0,2: tương phản không tốt (tương phản thấp)
Nếu 0,2 ≤ K ≤ 0,5: tương phản mức trung bình (tương phản trung bình) Nếu K > 0,5: tương phản tốt (tương phản cao)
Trong thiết kế công việc được khuyến cáo giữa chi tiết thao tác với nền nên ở mức tương phản tốt
- Ngoài ra, sự tương phản không tốt còn do chiếu sáng không đồng đều trong cùng khu vực nhà xưởng Ánh sáng bị phân bố không đồng đều sẽ gây sự điều tiết mắt khác nhau khi nhìn từ vùng này sang vùng khác, làm cho khó phát hiện và thao tác các chi tiết
- Để đánh giá ánh sáng không đồng đều ta đo cường độ ánh sáng tại nhiều điểm khác nhau trong cùng khu nhà xưởng, thấy có sự chênh lệch nhiều gây chiếu sáng không đồng đều Để đảm bảo chiếu sáng đồng đều thì giá trị cường độ ánh sáng điểm đo được ít nhất phải từ 2/3 giá trị cường độ ánh sáng chung của toàn xưởng [21] [22] [25] [43]
Trang 24quang hoặc đèn cao áp HID - high intensity discharge); cường độ ánh sáng khu vực xung quanh vị trí làm việc
- Một số trường hợp có thể nhìn thấy nhấp nháy ánh sáng:
+ Phụ thuộc loại bóng đèn được dùng: ở một số bóng đèn huỳnh quang có thể nhìn thấy hiện tượng nhấp nháy ở hai cực phần cuối của bóng, bởi vậy khi dùng đèn huỳnh quang thường phải có chụp che được hai đầu của bóng đèn
+ Khi tần số nhấp nháy ánh sáng bị giảm dưới ngưỡng: thông thường tần số nhấp nháy của bóng đèn hiện nay ở giá trị rất lớn ta không thấy được sự nhấp nháy Sau một thời gian tần số nhấp nháy giảm dần và con người có thể bắt đầu cảm nhận được khi tần số nhấp nháy dưới 50Hz và hầu hết thấy rõ nhấp nháy trong khoảng tần số từ 30-35Hz
Trường hợp này xảy ra khi các bóng đèn không tốt, đã cũ hoặc bị lão hóa sẽ gây hiện tượng nhấp nháy ánh sáng ở tần số mắt bắt đầu cảm nhận được, do vậy cần phải thay thế bóng mới ngay
+ Khi có sự thay đổi điện áp lớn: trong các xưởng sản xuất, khi bật tắt các thiết bị điện tiêu thụ nguồn điện năng lớn như các máy móc lớn, máy hàn, máy chụp chiếu trong y học…, làm thay đổi điện thế mạnh gây nên nhấp nháy ánh sáng
Thông thường sự dao động điện thế thường nhỏ ít gây ảnh hưởng Tuy nhiên, trong các văn phòng, phòng hành chính thì chỉ cần điện thế dao động nhỏ khoảng 10%, tức giảm khoảng 5-15Hz, cũng đủ gây ra tần số nhấp nháy khó chịu Điều này
có thể giảm được bằng dùng bộ cân bằng điện thế
+ Do hiệu ứng hoạt nghiệm “stroboscopic effect”: xảy ra trên các máy móc chuyển động quay và các vật chuyển động khác khi công việc đòi hỏi phải quan sát chú ý cao, liên tục Có thể nguy hiểm khi hiệu ứng hoạt nghiệm này xuất hiện ở các
bộ phận quay của của máy móc, bởi gây nên cảm giác vận tốc di chuyển bị giảm, ngừng quay hay đảo chiều quay, gây mất an toàn và tai nạn lao động Điều này có thể tránh bằng cách dùng đèn sợi tóc cục bộ để chiếu sáng các chi tiết di chuyển quay của máy móc [65]
Trang 25- Ngày nay, trong công nghiệp sản xuất hay văn phòng thường sử dụng đèn huỳnh quang ánh sáng trắng, thiết kế đèn lắp đôi trở lên và đều có chụp, lưới phân tán ánh sáng Những thiết kế này nhằm làm giảm hiện tượng nhấp nháy ánh sáng, giúp phân bố ánh sáng đều và không bị chói, đồng thời cũng làm tăng năng suất lao động và bảo vệ được thị giác cho người lao động Tuy nhiên, hiện nay nhiều cơ sở sản xuất vẫn không đảm bảo được những điều kiện này, đèn vẫn lắp đơn, không có chụp che chắn, hệ thống chiếu sáng không được bảo dưỡng thay thế định kỳ…gây ảnh hưởng tới sức khỏe thị giác cho người lao động
1.2.4 Những yếu tố do đặc điểm thị giác của người lao động
Chức năng thị giác được duy trì bằng khả năng tiếp nhận thị giác của mỗi người Khả năng tiếp nhận thị giác phụ thuộc vào: cơ quan nhận cảm, trường nhìn,
sự điều tiết, phản xạ đồng tử, thị lực của mắt, khả năng nhận biết độ sâu, hình dạng màu sắc và vận tốc tiếp nhận thị giác…
Ngoài ra, sự tiếp nhận thị giác còn phụ thuộc vào tuổi đời, giới hạn thích ứng của thị giác theo tuổi, khi tuổi đời càng cao thì khả năng thị giác càng giảm dần
* Cơ quan nhận cảm
Là những tế bào cảm quang của võng mạc, bao gồm tế bào nón cho ta nhìn thấy được ánh sáng ban ngày và tế bào gậy đặc biệt nhạy cảm cho ta nhận thấy được trong ánh sáng yếu, mật độ tế bào gậy rất nhiều so với mật độ tế bào nón Trên võng mạc phía sau ở khoảng cách một vài độ đối với trục mắt là hố trung tâm của võng mạc - ở đó có mật độ lớn các tế bào nón với số lượng 10000/1mm2 Tại “hố trung tâm” mỗi tế bào nón chỉ nối với 1 sợi dây thần kinh thị giác, vì vậy hình ảnh được thu nhận trên hố trung tâm được thu nhận với một mức độ rõ nét và chính xác nhất
Xa hố trung tâm dần thì mật độ tế bào gậy tăng lên và mật độ tế bào nón giảm đi Tế bào gậy nhậy cảm hơn tế bào nón nhưng không cho phép phân biệt rõ về hình dạng
và màu sắc, tuy nhiên sự nhìn thấy trong ánh sáng yếu là do tế bào gậy Như vậy, những đặc điểm về chiếu sáng có ảnh hưởng hưởng rất lớn tới sự cảm nhận hay sự phân biệt chi tiết có tốt hay không, sự chiếu sáng không đều hay chiếu sáng quá kém hay quá sáng chói đều tạo ra sự cảm nhận về chi tiết không tốt
Trang 26* Trường nhìn
Là một phần của môi trường xung quanh ta mà cơ thể nhận thấy được sự vật
mà không cần phải đảo mắt hay quay đầu Trong trường nhìn đó chỉ thấy được rõ ở góc có khẩu độ là 1º và hình ảnh của vật càng mờ khi khoảng cách đối với trục của mắt càng lớn Trường nhìn có thể phân thành: vùng nhìn thấy rõ (góc có khẩu độ 1º; vùng trung bình (góc 40º) và vùng ngoại vi (góc có khẩu độ 40-70º) Trong vùng trung bình, không thể nhìn thấy rõ, nhưng nếu có sự di động hay có tương phản mạnh thì có thể thấy được khá dễ dàng Vùng ngoại vi tạo bởi giới hạn tối đa của trường nhìn và được giới hạn bởi đầu mũi và mắt
* Sự điều tiết của mắt
Là khả năng của mắt “xác định được vị trí” của vật thể ở các khoảng cách khác nhau Khi nhìn vật ở gần thì mắt thực hiện sự điều hòa bằng cách biến đổi độ cong của thể thủy tinh nhờ co các cơ điều tiết (cơ thể mi) Khi cơ thể mi duỗi (tình trạng nghỉ ngơi của bộ máy điều tiết), độ chiết quang ở trạng thái tự nhiên, các tia sáng song song từ vô tận đến được tập trung trên võng mạc Nếu vật ở gần mắt mà không có sự điều tiết, mặt phẳng tiêu điểm sẽ ở sau võng mạc nên ảnh của vật bị
mờ Nhờ các cơ điều tiết, độ cong của thể thuỷ tinh tăng lên làm mặt phẳng tiêu điểm rơi đúng trên võng mạc Khoảng cách giữa vật và mắt càng gần thì căng thẳng các cơ điều tiết càng tăng, giống như sau một thời gian dài làm các công việc chính xác và nhìn gần làm căng thẳng các cơ điều tiết Như vậy, khi mắt nhìn vào vô tận hay phóng tầm mắt ra xa thì cơ chế điều tiết được thư giãn, mắt được nghỉ ngơi Người ta thấy màu xanh lơ và xanh lục cho cảm giác xa, như vậy cũng cho sự nghỉ ngơi với mắt
Khả năng điều tiết còn phụ thuộc vào tuổi đời vì tính đàn hồi của thể thuỷ tinh và khả năng làm biến đổi độ cong của nó giảm theo tuổi đời Đồng thời, mức
độ điều tiết phụ thuộc rất nhiều đến đặc điểm chiếu sáng: khi ánh sáng yếu thì tốc
độ và sự chính xác điều tiết cũng giảm; khi sự tương phản của vật thể mắt nhìn thấy càng lớn thì sự điều tiết càng nhanh và càng chính xác
Trang 27* Sự phản xạ đồng tử
Sự co giãn đồng tử là phản xạ, phản xạ này phụ thuộc nhiều vào cường độ chiếu sáng Ban ngày, đường kính đồng tử thay đổi ít hơn, còn ban đêm thay đổi nhiều hơn Ngoài ra, việc co giãn đồng tử phụ thuộc vào khoảng cách nhìn và trạng thái cơ thể: khi nhìn gần đồng tử sẽ co lại, nếu nhìn ra xa đồng tử sẽ giãn ra; thay đổi trương lực như cảm xúc mạnh sợ hãi, vui buồn hay một hoạt động căng thẳng sẽ gây nên co đồng tử Như vậy, khi nhìn gần và chi tiết nhỏ hay khi mệt mỏi sẽ ảnh hưởng nhiều tới điều tiết và co giãn đồng tử
* Các khả năng nhìn nhận màu sắc, hình nổi
Đây là khả năng nhận biết rõ các chi tiết, phân biệt được những chi tiết rất
nhỏ của vật hay của một diện tích, phân biệt được sự khác biệt nhỏ nhất về độ sáng
và màu sắc, tất cả điều này quyết định nhìn về hình thái cụ thể của chi tiết, đó là màu sắc, độ sâu, nhìn hình nổi
* Vận tốc tiếp nhận thị giác
Vận tốc tiếp nhận thị giác là khoảng thời gian xuất hiện vật nhìn trong trường thị giác cho đến lúc não tiếp nhận được Vận tốc tiếp nhận thị giác tăng lên với sự tăng độ chiếu sáng và tăng độ tương phản giữa vật và nền xung quanh Trong thực
tế để cải thiện thị lực bằng cách tăng độ chiếu sáng và tăng độ tương phản giữa chi tiết/nền cũng chính là làm cho vận tốc tiếp nhận thị giác sẽ tốt hơn
Như vậy, tất cả những vấn đề trên đảm bảo cho sự tiếp nhận thị giác có tốt hay không, ngoài sự đảm bảo một chức năng sinh lý mắt bình thường còn phải đảm bảo cung cấp một môi trường làm việc thị giác tốt, tạo sự tiếp nhận thị giác tốt, làm tăng hiệu quả công việc và bảo vệ được sức khỏe thị giác cho người lao động
1.2.5 Một số triệu chứng căng thẳng thị giác
Sự căng thẳng thị giác và mệt mỏi có thể xuất hiện sau khi làm việc kéo dài trong điều kiện chiếu sáng không tốt (độ rọi thấp, chiếu sáng không đồng đều, làm phân tán, nhấp nháy ánh sáng, sự chói loá…) Ánh sáng không tốt không chỉ ảnh hưởng đến hệ thống thị giác mà còn gây đau mỏi cổ, mỏi vai gáy và thần kinh trung ương Những vấn đề này có thể xảy ra nhiều hơn khi tư thế lao động gò bó hoặc tư
Trang 28thế lao động không tốt và khi cố phải đọc, quan sát một cái gì đó trong điều kiện chiếu sáng không tốt [41] [43]
Những triệu chứng căng thẳng thị giác chủ yếu như: khó nhìn dữ liệu trên màn hình, khó nhìn chi tiết thao tác; căng thẳng khó chịu ở mắt, kích thích mắt; nhìn mờ, khô rát mắt; đỏ mắt, chảy nước mắt, mỏi mắt…
Các triệu chứng mệt mỏi và đau mỏi cơ bao gồm:
+ Sự mệt mỏi hệ thần kinh trung ương do yêu cầu gắng sức để nhận biết những tín hiệu mập mờ hoặc không rõ Sự mệt mỏi cơ toàn thân khi phải duy trì một tư thế không thích hợp để thay đổi khoảng cách nhìn hoặc tránh làm sao lãng hoặc những phản xạ không mong muốn có thể xảy ra
+ Ngoài ra có thể xảy ra căng thẳng cơ cục bộ khi công việc phải cúi nhiều
và lâu dài, ví dụ đau đầu, đau mỏi cổ và vai gáy…khi sử dụng kính hiển vi
Trang 291.3 Đặc điểm và thực trạng lao động sản xuất, lắp ráp linh kiện điện tử
1.3.1 Đặc điểm ngành công nghiệp điện tử
Điện tử là một trong những ngành công nghiệp phát triển nhanh nhất hiện nay, đặc biệt là ở các nước nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Mặc dù những linh kiện điện tử giản đơn đã được sản xuất ở Việt Nam từ những năm 70, nhưng ngành công nghiệp quan trọng này chỉ chính thức được phát triển từ những năm 80, cho đến ngày nay đã có một lượng lớn các công ty, doanh nghiệp điện tử trong và ngoài nước hoạt động [2]
Theo tài liệu của Hiệp hội các doanh nghiệp điện tử Việt Nam (VEIA), năm
2002, có trên 200 doanh nghiệp chính thức tồn tại với tư cách là doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm điện tử và tin học Gần nửa các doanh nghiệp này trực thuộc trung ương và địa phương Còn lại là 29 doanh nghiệp liên doanh và 21 doanh nghiệp 100% vốn đầu tư của nước ngoài Khoảng l/3 các doanh nghiệp điện tử thuộc sở hữu cá nhân của các công dân Việt Nam Hoạt động của các doanh nghiệp
tư nhân này tồn tại dưới hình thức lắp ráp với quy mô nhỏ và cung cấp các dịch vụ khác [4]
Các cơ sở công nghiệp điện tử trong nước tập trung chủ yếu ở thành phố Hồ Chí Minh (117), Đồng Nai (7) và Hà Nội (23) Tuy nhiên, đa số các doanh nghiệp điện tử trong nước chủ yếu tham gia vào loại hình chế tác và lắp ráp đơn giản, dạng CKD (Complete Knocked Down) chiếm tới 80% Khoảng 70% tổng số tivi và radio, casstte là lắp ráp trong nước, chủ yếu dùng linh kiện và các đầu vào khác của nước ngoài [6]
Năm 2007, sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới WTO, ngành công nghiệp điện tử Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh, thu hút được nhiều dự án đầu tư nước ngoài Từ chỗ chỉ có vài chục doanh nghiệp năm 1990, đến nay ngành này đã có gần 500 doanh nghiệp, trong đó khoảng 1/3 là các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài [24]
Trang 30Tính đến năm 2013, Việt Nam có khoảng 1000 nhà máy, công ty điện tử trên
cả nước, trong đó có khoảng 2/3 là các công ty sản xuất lắp ráp linh kiện điện tử có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đáp ứng được nhu cầu trong nước với các loại sản phẩm điện tử, điện lạnh, công nghệ thông tin-viễn thông thông dụng với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 20-30% một năm Từ năm 2011-2013, sản phẩm công nghệ thông tin tăng trưởng từ 20-30% [2]
Nhằm thúc đẩy ngành công nghiệp điện tử trong nước phát triển, Nhà nước
đã đưa ra nhiều chủ trương về sản xuất linh kiện điện tử Theo Nghị định số 71/2007/NĐ-CP ngày 03/5/2007củaThủ tướng Chính phủ, quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật công nghệ thông tin(CNTT) về công nghiệp CNTT, hoạt động công nghiệp phần cứng, điện tử bao gồm các loại hình thiết kế, chế tạo sản phẩm phần cứng; lắp ráp, gia công sản phẩm phần cứng; cung cấp dịch vụ công nghiệp phần cứng Sản phẩm phần cứng bao gồm: máy tính, thiết
bị mạng, thiết bị ngoại vi; điện tử nghe nhìn; điện tử gia dụng; điện tử chuyên dùng; thông tin - viễn thông, thiết bị đa phương tiện; phụ tùng, linh kiện điện tử; các sản
phẩm phần cứng khác [16]
Hiện nay, chính phủ cũng đang tạo những ưu đãi cần thiết cho khối doanh nghiệp ngành điện tử, xây dựng thí điểm một số khu công nghiệp ngành điện tử với các ưu đãi đặc thù, hoàn thiện cả về cơ sở hạ tầng lẫn môi trường pháp lý Có biện pháp cải thiện sản xuất, tăng tỷ lệ nội địa hóa cung cấp những sản phẩm được thị trường chấp nhận Thu hút các tập đoàn đa quốc gia phát triển các cơ sở sản xuất linh kiện điện tử kỹ thuật cao như hệ thống bán dẫn tích hợp cao, vi điều khiển, IC
thông minh, vi mạch… [29]
Từ những thu hút ưu đãi trên, những năm trở lại đây, Việt Nam đang dần trở thành điểm đến chính của nhiều doanh nghiệp điện tử với 100% vốn nước ngoài hoặc doanh nghiệp liên doanh sản xuất linh kiện điện tử và là một trong những nước sản xuất, lắp ráp linh kiện cho các tập đoàn điện tử lớn trên thế giới như Samsung, Sony, Sanyo, Toshiba, Intel, Nidec Foxcon, Nokia…[13]
Trang 31Với kim ngạch xuất khẩu từ năm 2013 đạt hơn 32 tỷ USD từ các lĩnh vực sản xuất máy vi tính, linh kiện điện thoại…, công nghiệp điện tử chiếm tới gần 24% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu cả nước Những con số trên cho thấy ngành công nghiệp điện tử là ngành phát triển nhanh nhất hiện nay Bên cạnh đó, nó còn có những đóng góp tích cực trong khâu giải quyết việc làm, nhất là đối với những lao động phổ thông, góp phần tăng trưởng kinh tế [17]
Cho đến hiện tại, các nhà đầu tư, các tập đoàn xuyên quốc gia lớn đang đổ vào nước ta một cách rầm rộ, nhanh chóng Từ chương trình đầu tư hàng tỷ USD của Tập đoàn Intel trong Sài Gòn, cho đến Tập đoàn Samsung với hai nhà máy lớn tại Bắc Ninh và Thái Nguyên, hay Tập đoàn Canon, Panasonic đều có lượng vốn đầu tư lớn, để tiến hành chuyển từ lắp ráp đến sản xuất các con chíp điện tử và các
linh kiện điện tử kỹ thuật cao [2]
Theo văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, xu hướng phát triển ngành công nghiệp điện tử đó là xây dựng một số nhà máy sản xuất các thiết bị điện
tử kỹ thuật cao, thiết bị cảnh báo điện tử Đến năm 2020, nhóm ngành sản phẩm ưu tiên là linh kiện điện tử phục vụ sản xuất và lắp ráp thiết bị văn phòng, thiết bị viễn thông, đồ gia dụng, thiết bị nghe nhìn, cơ điện tử, linh kiện điện tử Đến năm 2030, nhóm ngành sản phẩm ưu tiên hệ thống vi cơ điện tử, hệ thống nano cơ điện tử, vi mạch điện tử phục vụ ngành công nghệ cao, mạch tích hợp, bộ nhớ dụng lượng cao, vật liệu bán dẫn, vật liệu từ tính phục vụ xuất khẩu… [30]
1.3.2 Đặc điểm lao động sản xuất lắp ráp linh kiện điện tử
Với dân số hơn 90 triệu người, Việt Nam là một thị trường tiêu thụ đầy tiềm năng Nguồn lao động dồi dào của Việt Nam với 60%trongđộ tuổi lao động, được đánh giá là học hỏi nhanh trong khai thác, sử dụng và lắp ráp các thiết bị điện tử, kể
cả các thiết bị điện tử hiện đại
Theo báo cáo của Viện nghiên cứu chiến lược công nghiệp và chính sách thuộc Bộ Công nghiệp đã cho thấy ngành công nghiệp điện tử và tin học có khoảng hơn 200.000 lao động, chủ yếu tập trung vào lĩnh vực lắp ráp sản phẩm điện tử tiêu dùng và sản xuất phụ tùng, linh kiện điện tử xuất khẩu Tuy nhiên, con số này đang
Trang 32ngày càng tăng nhanh chóng với xu thế tuyển dụng ồ ạt của các doanh nghiệp điện
tử
Đặc điểm về độ tuổi và giới trong số hơn 200.000 lao động ngành sản xuất, lắp ráp linh kiện điện tử, có tới 80-85% là lao động nữ, độ tuổi từ 18-30 tuổi Đặc biệt hầu hết là người lao động di cư từ các tỉnh khác nhau về làm, tập trung ở các khu công nghiệp lớn Những đặc điểm này tạo nên những đặc trưng về cơ cấu bệnh tật, cùng những phức tạp trong nghiên cứu mô hình bệnh tật và công tác quản lý [2]
Thêm vào đó, người lao động một phần là không quan tâm tìm hiểu về môi trường độc hại mình đang làm, họ chưa có một hiểu biết nào về nguy cơ đối với sức khỏe trong quá trình làm việc, đặc biệt là làm việc trong môi trường sản xuất lắp ráp điện tử, một môi trường tưởng chừng rất sạch sẽ nhưng cũng có thể lại tiềm ẩn nhiều yếu tố, nhiều chất độc hại hơn nhiều các ngành khác
Cùng với những vấn đề trên, xu hướng ngay từ đầu các doanh nghiệp sản xuất lắp ráp điện tử đều tập trung tuyển dụng nhiều lao động nữ trẻ tuổi, với tính chất cần mẫn tỉ mỉ, lao động nữ thích hợp cho những công việc đòi hỏi khéo léo tinh vi và chi tiết nhỏ trong sản xuất lắp ráp linh kiện điện tử Hàng năm, các doanh nghiệp đều tuyển dụng một lượng lớn lao động với mục đích thay thế, thải loại và luân chuyển công nhân, mỗi công nhân ở vị trí nào đó chỉ làm trong vài ba năm, cho nên khi điều tra phỏng vấn ở các dây chuyền sản xuất thì tuổi nghề của công nhân thường chỉ dưới 3-5 năm Do vậy, khi khám sức khỏe nghề nghiệp thường không phát hiện nhiều các vấn đề về sức khỏe, những người lao động đáng lẽ có vấn đề về sức khỏe thì họ lại nghỉ việc hoặc ở một vị trí công việc khác không có trong danh sách ưu tiên khám
Như vậy, những vấn đề trên đã tạo nên đặc trưng riêng về sức khỏe và cơ cấu bệnh tật của lao động sản xuất lắp ráp linh kiện điện tử, có nhiều mối nguy cơ lớn hay những hiểm họa tiềm ẩn cho những người lao động Mặt khác, những yếu tố trên gây khó khăn cho công tác quản lý cũng như chăm sóc sức khỏe cho người lao động
Trang 331.4 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Theo nhà nghiên cứu sinh lý lao động Grandjean, khi bị căng thẳng thị giác kéo dài sẽ dẫn đến mệt mỏi toàn thân và các bệnh tật toàn thân không chỉ bệnh tại
cơ quan thị giác Các triệu chứng căng thẳng thị giác xảy ra khi căng thẳng quá mức đối với bất kỳ các chức năng của mắt, như phải điều tiết mắt liên tục do nhìn quá gần vào những chi tiết có kích thước nhỏ và ảnh hưởng của độ tương phản cục bộ quá lớn đối với võng mạc
Căng thẳng thị giác có đặc trưng chính là: mắt bị kích thích, đau, nóng, kèm theo chảy nước mắt nhiều, đỏ mí mắt, viêm kết mạc; nhìn vật loá thành 2 hình; đau đầu; giảm khả năng điều tiết và hội tụ; giảm thị lực, giảm độ nhạy tương phản và vận tốc tiếp nhận thị giác Những ảnh hưởng trên đặc biệt xảy ra khi chiếu sáng không phù hợp, do ảnh hưởng bệnh tật ở mắt hoặc do ảnh hưởng của tuổi tác hoặc
do không chỉnh nhìn phù hợp Các công việc đòi hỏi độ chính xác cao sẽ gây ra các triệu chứng nói trên, vì đòi hỏi chuyển động mắt nhanh, tập trung chú ý cao với giám sát kiểm tra thao tác của tay Vì vậy, khi căng thẳng thị giác trong thời gian dài, các triệu chứng căng thẳng thị giác như đau nhức mắt và đau đầu sẽ có cùng với mệt mỏi chung [43] [49]
Các triệu chứng căng thẳng thị giác liên quan tới dạng lao động thị giác cao như sản xuất đồ điện tử, sản xuất đồng hồ… đã được nghiên cứu nhiều trên thế giới Theo báo cáo của các bác sỹ chuyên khoa mắt Ấn Độ, triệu chứng căng thẳng thị giác phổ biến là: mỏi mắt, đau đầu, mệt mỏi, nóng mắt, chảy nước mắt, nhìn một thành hai, ngứa mắt và đỏ mắt Một báo cáo 300 đối tượng khi làm việc căng thẳng với màn hình điện tử, thấy tỷ lệ đứng đầu là mỏi mắt 97,8%, đau đầu 82,1%, sự mệt nhọc cùng cảm giác nóng mắt 79,1%, chảy nước mắt 66,4% và đỏ mắt 61,2% [35]
Một điều tra xã hội học của Rosenfield về những triệu chứng thị giác ở những công nhân có căng thẳng thị giác, cho thấy tỷ lệ phàn nàn rất cao từ 64-90% với các triệu chứng như mỏi mắt, đau đầu, khó chịu ở mắt, khô mắt, nhìn một thành hai và nóng rát mắt [69]
Trang 34Theo kết quả nghiên cứu của Salibello và cộng sự với 324 đối tượng ngồi trước màn hình máy tính ít nhất 2 tiếng một ngày, cho thấy tỷ lệ mỏi mắt là 65% và đau đầu 42% là những triệu chứng phàn nàn chủ yếu nhất [71]
Còn kết quả nghiên cứu của Aakre với 40 người khỏe mạnh, tuổi trung bình
từ 24-44 được điều tra phỏng vấn, cho thấy tỷ lệ phàn nàn về căng thẳng thị giác là 70%, đau đầu là 62,5% và các phàn nàn về bệnh mắt là 82,5% [31]
Cũng với nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng thị giác của Smita Agarwal, với
150 người sử dụng máy tính tại một trường đại học, tuổi trung bình 24,13 Kết quả cho thấy nhiều phàn nàn về căng thẳng thị giác nhất ở những đối tượng làm việc với máy tính trên 6giờ/ngày, trong đó mỏi mắt 53,8%, đau đầu 51,6%, chảy nước mắt 50,0%, đỏ mắt 58,6%, ngứa mắt 47,6%, nóng rát mắt 66,7% và nhìn đôi 62,5% Ở nhóm có điều chỉnh độ sáng thích hợp và thời gian ngồi màn hình ít hơn thì các triệu chứng phàn nàn về thị giác cũng ít hơn Khi các triệu chứng căng thẳng thị giác kéo dài sẽ dẫn đến các tật khúc xạ và bệnh về mắt, do vậy để bảo vệ tốt sức khỏe thị giác, tác giả đề xuất nên thường xuyên tập các bài tập thư giãn mắt, nhất là những công việc có căng thẳng thị giác cao [73]
Ngoài điều tra các triệu chứng căng thẳng thị giác, các nhà sinh lý thị giác Nga nghiên cứu đánh giá căng thẳng thị giác ở người lao động đã dùng nhiều chỉ tiêu như đánh giá độ tương phản, đặc điểm chiếu sáng, chi tiết thao tác nhỏ, tần số nhấp nháy tới hạn của mắt (CFF), thời gian phản xạ thị-vận động và dùng các test thị giác …[85] [86]
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rõ khi lao động căng thẳng thần kinh tâm lý và căng thẳng thị giác, làm giảm chỉ tiêu tần số nhấp nháy tới hạn của mắt (CFF) và làm chậm TGPX thị-vận động Cụ thể một nghiên cứu của Schmidke, trên những đối tượng khi làm việc có sử dụng kính hiển vi, sau 3 giờ hầu như CFF bị giảm 5-7Hz, và chỉ tiêu CFF giảm cùng với triệu chứng mệt mỏi khác như cảm thấy buồn ngủ, mệt và kiệt sức [43]
Trang 35Theo Bhavanani và cộng sự, nghiên cứu ở 34 đối tượng làm việc căng thẳng thị giác, tuổi 18-25, TGPX thị giác là 296,15±13,49ms, nhưng sau tập thư giãn mắt thì TGPX nhanh hơn tương ứng là 263,59±12,53ms với p < 0,001 [37]
Còn với đối tượng 27 sinh viên trong nghiên cứu của Madanmohan và cộng
sự, thì TGPX thị giác là 270±6,20ms, sau khi tập thư giãn mắt trong 12 tuần thì TGPX nhanh hơn là 224,81±5,76ms với p < 0,001 [59]
Nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến thị giác ở công nhân làm những công việc rất chính xác đòi hỏi thị giác cao trong các xí nghiệp điện tử tại Singapore (K.H.Lim và cộng sự, 1972) [52] đã nghiên cứu chức năng điều tiết và hợp thị của mắt qua đánh giá các test thị giác: lác ẩn, test đánh giá cân bằng cơ, chuyển động mắt, thị lực nhìn xa, thị lực nhìn gần và khám mắt ở 105 nữ công nhân trẻ trong ngành công nghiệp điện tử Singapore, đồng thời nghiên cứu các triệu chứng căng thẳng thị giác như ngứa mắt, mỏi mắt, đỏ mắt, nhìn mờ và viêm kết mạc Các triệu chứng đau nửa đầu, đau đầu, tác giả cho là phần lớn do căng thẳng tâm thần, hay liên quan tới đau cổ và đau lưng do tư thế ngồi xấu; ngoài ra còn do yếu tố môi trường như chiếu sáng, thông gió, quan hệ giữa đồng nghiệp, với người giám sát quản lý, sự không hài lòng về quản lý và chế độ Kết quả nghiên cứu cho thấy 44,5% đối tượng có tật khúc xạ, trong số đối tượng có tật khúc xạ thì có 52% đối tượng có phàn nàn mắt Đối tượng không có tật khúc xạ thì có 27,5% có phàn nàn
về mắt, như vậy đối tượng có tật khúc xạ có phàn nàn về mắt có xu hướng cao hơn đối tượng không có tật khúc xạ; có 3/103 đối tượng có cân bằng cơ kém, và tác giả cho là tỷ lệ thấp đối tượng có cân bằng cơ kém là do có sàng lọc khi khám tuyển Phân tích theo tuổi đời thì đối tượng dưới 17 tuổi có tỷ lệ tật khúc xạ thấp hơn (15,5%) so với đối tượng có tuổi đời 19-20 tuổi (60%)
Theo Orrapan, nghiên cứu môi trường lao động và vấn đề liên quan đến thị lực ở 319 công nhân sản xuất điện tử và 153 công nhân sản xuất đồ trang sức, thấy công nhân có căng thẳng thị giác do phải làm việc với vật hoặc chi tiết có kích thước rất nhỏ (1-3mm) và phải nhìn gần (<35cm) với góc nhìn 10-15o Một số việc đối tượng còn sử dụng kính hiển vi, thao tác lắp lại ở mức cao tại dây chuyền liên
Trang 36tục, và công nhân hầu hết không thể rời vị trí làm việc cho đến khi có giờ nghỉ Có 48,3% vị trí làm việc của công nhân điện tử và 56,8% công nhân làm đồ trang sức
có mức chiếu sáng dưới TCVSCP; 95% là nữ công nhân tuổi còn rất trẻ 26,2±4,7năm với thâm niên 4,1±2,9 năm Kết quả triệu chứng căng thẳng thị giác thấy 26,6% thấy nóng mắt, 14% đau mắt, 11,2% bị kích thích mắt và 11,2% nhìn
mờ Ngoài ra, các triệu chứng như ngứa chảy nước mắt, nhìn một thành hai, cận thị chiếm khoảng 4-5% Một số triệu chứng toàn thân khác chiếm tỷ lệ cao như đau đầu 8,9%, đau vai 8,7%, đau cổ 7,8% [64]
Kết quả đánh giá chức năng thị giác bằng Visiotest ngoài thời gian làm việc thấy 26,3% công nhân điện tử và 20,9% công nhân sản xuât đồ trang sức có thị lực nhìn xa kém, tương ứng có 3,4-0,7% công nhân có thị lực nhìn gần kém, 23,8-18,3% có cả thị lực nhìn xa và thị lực nhìn gần kém, 11,6-9,8% có lác, 35,4-24,8%
có tiếp nhận hình nổi kém và có 4,4-4,6% có thị giác một mắt kém Tỷ lệ 52% công nhân có tối thiểu 1 loại có vấn đề về thị giác gây ảnh hưởng đến thực hiện công việc Sau khi tiến hành cải thiện môi trường chiếu sáng, số VTLĐ có mức chiếu sáng dưới TCVSCP là 24,5%, toàn bộ công nhân đã được nghỉ ngắn giữa giờ, và 20,5% công nhân có vấn đề biến đổi thị lực đã được chỉnh kính lại Kết quả nghiên cứu chức năng thị giác khác của công nhân sản xuất điện tử theo chỉ số CFF thấy sau cải thiện, CFF sau 1 giờ và sau 2 giờ làm việc đã tăng có ý nghĩa thống kê so với trạng thái trước cải thiện Điều này thể hiện giảm được căng thẳng thị giác ở công nhân [64]
Sự ảnh hưởng của lao động có căng thẳng thị giác ở một số nghề khác cũng cho thấy có rối loạn thị giác - tật khúc xạ và bệnh mắt, đồng thời với những đối tượng khác nhau, chủng tộc khác nhau cũng có những kết quả khác nhau về tật khúc
xạ Một kết quả nghiên cứu tật khúc xạ ở sinh viên y khoa Singapore qua đo bằng máy khúc xạ kế tự động cho 128 sinh viên năm thứ 3 (44% nữ và 56% nam) thấy ở nam sinh tật khúc xạ trung bình là -3,75D và nữ là -4,76D, trong đó 82% sinh viên mắc tật cận thị và 72% là loạn thị [79]
Trang 37Cũng trong nghiên cứu cho 157 sinh viên Singapore tuổi 19-23 của Woo và cộng sự, thấy 89,8% sinh viên mắc tật cận thị và 82,2% là loạn thị, trong đó 1,3% viễn thị Tác giả có nhận định, tỷ lệ cận thị và loạn thị ở sinh viên y khoa Singapore năm thứ 2 là một trong những tỷ lệ cao nhất thế giới [82]
Dayan Y và cộng sự nghiên cứu trên 919929 đối tượng tuổi từ 16-22 ở Israel
từ 1990-2002 nhận thấy nhóm người có trình độ học vấn ≥ lớp 12 có nguy cơ mắc cận thị cao gần như gấp hai lần so với những đối tượng có trình độ học vấn ≤ lớp
12, đồng thời với trình độ học vấn càng cao thì cận thị mức độ vừa và mức độ nặng càng tăng nhiều Lớp ≤ 8, mức cận vừa là 1,7%, mức nặng là 0,7%; thì ≥ lớp 12 tăng lên 7,7% mức vừa và 2,2% mức nặng Tỷ lệ cận thị tăng từ 20,3% năm 1990 lên 28,3% năm 2002 Mức cận thị từ cao, trung bình và thấp tương ứng ở nữ là 1,7%, 5,7% và 11,6% năm 1990 tăng lên 2,05%, 7,2% và 16,3% năm 2002 (p<0.001), còn ở nam là 1,9%, 6,6% và 13,5% năm 1990 tăng lên 2,4%, 9,2% và 20,7% năm 2002 (p<0.001) Tỷ lệ cận thị tăng theo số năm học và người nguồn gốc
Do Thái cao hơn [40]
Một nghiên cứu khác trên sinh viên hay sử dụng máy vi tính của Au Eong và cộng sự, trên 110236 nam thanh niên từ tháng 4/1987 đến tháng 1/1992 thấy tỷ lệ cận thị 48,5% ở người gốc Trung Quốc, 34,7% người gốc Châu Âu, 30,4% người gốc Ấn Độ và 24,5% người gốc Mã Lai [34]
Một nghiên cứu của Fledelius, đo khúc xạ có liệt điều tiết cho 21000 người Iceland phát hiện 20,5% bị mắc cận thị Tỷ lệ hiện mắc cận thị ở Iceland đã tăng từ 3,6% vào năm 1935 lên tới 20,51% vào năm 1975 Tại Nauy, tỷ lệ cận thị của sinh viên y khoa là 50,3% Tại Thụy Điển, nghiên cứu 2616 tân binh ở lứa tuổi 20 không
sử dụng liệt điều tiết thấy tỷ lệ cận thị là 8,9% [43]
Tại Mỹ, thấy ảnh hưởng của trình độ văn hóa cao và công việc nhìn gần gây nên tật khúc xạ là cận thị Công việc nhìn gần đòi hỏi sự điều tiết cao; công việc đọc đòi hỏi sự chuyển động của mắt từ bên này sang bên kia trong quá trình đọc có một tác động tới cận thị khác với việc làm các công việc nhìn gần mà không phải chuyển động mắt tương tự (như công việc khâu vá) Như vậy, tật cận thị cao ở những nghề
Trang 38có nhiều thời gian nhìn gần (công nhân dệt, công nhân sản xuất thiết bị điện tử…) quy cho là do ảnh hưởng của nghề nghiệp Tuy nhiên, cũng cần so sánh với một trình độ giáo dục và tình trạng kinh tế xã hội như nhau Nhiều nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cho thấy người lao động nhìn gần, tỷ lệ cận thị cao hơn [1]
Tại Kenya, kết quả điều tra cho thấy tật khúc xạ là nguyên nhân đứng hàng thứ 3 của thị lực thấp (từ 1-3/10) và là nguyên nhân đứng hàng thứ 5 của mù lòa và gợi ý là nếu tật khúc xạ không được chỉnh kính là nguyên nhân phần lớn gây giảm thị lực và mù lòa Luidstrom đã nghiên cứu tình hình cận thị ở Châu Âu thấy tỷ lệ cận thị là 25%, trong đó 90% cận thị từ 1-6D, 5% cận thị từ 6-8D và dưới 5% có độ cận thị > 8D [15]
Nghiên cứu tật khúc xạ của 29281 người từ trên 40 tuổi ở 3 khu vực là Mỹ, Tây Âu và Úc, cho thấy tỷ lệ viễn thị tương ứng là 9,9%, 11,6% và 5,8% Tỷ lệ cận thị nhẹ từ 1D trở xuống là 25,4%, 26,6% và 16,4%, còn tỷ lệ cận thị từ 5D trở xuống là 4,5%, 4,6% và 2,8% Tỷ lệ tật khúc xạ chiếm 1/3 số người từ trên 40 tuổi
ở Mỹ và Tây Âu, còn người Úc chiếm 1/5 [53]
Ngoài những nghiên cứu về các triệu chứng căng thẳng thị giác và tật khúc
xạ ở các đối tượng khác nhau, chủng tộc khác nhau, thì sự ảnh hưởng của điều kiện chiếu sáng không đảm bảo về cường độ và kỹ thuật chiếu sáng tới chức năng thị giác của người lao động rất rõ rệt Đặc biệt với những dạng lao động đòi hỏi phải quan sát và thao tác tinh vi, nếu kỹ thuật chiếu sáng không đảm bảo thì không những gây căng thẳng thị giác mà còn làm giảm năng suất lao động hay tai nạn nghề nghiệp
Do ảnh hưởng của căng thẳng thị giác, gây giảm năng suất lao động, giảm chất lượng sản phẩm, lỗi sản phẩm tăng và tăng tỷ lệ tai nạn tổn thương nghề nghiệp Kết quả nghiên cứu thực tế của ngành công nghiệp nặng ở Mỹ (Allis Chalmer) cho thấy sau khi tăng cường chiếu sáng ở một dây chuyền lắp ráp lên 200lux, tỷ lệ tai nạn tổn thương đã giảm 32%; tiếp theo khi cải thiện môi trường chiếu sáng bằng cách sơn trần và tường bằng sơn sáng màu hơn, tăng độ tương phản
và tăng cường chiếu sáng chung, tai nạn tổn thương lại giảm thêm 16,5% Các cải
Trang 39thiện tương tự ở dây chuyền lắp ráp trong các ngành công nghiệp cơ khí, đóng tàu của Anh và Pháp đã giảm tổn thương nghề nghiệp cho công nhân [43]
Một số nghiên cứu cho thấy tăng chiếu sáng làm tăng năng suất do có ảnh hưởng trực tiếp tới cơ quan thị giác như tiếp nhận thị giác nhanh chính xác hơn, đồng thời do ảnh hưởng gián tiếp là giảm căng thẳng thị giác trong quá trình lao động Theo nghiên cứu của Juslen H.T và cộng sự, tại một nghiên cứu hiện trường trong công nghiệp sản xuất điện tử tại Newtherland về mức chiếu sáng và năng suất lao động cho thấy tăng độ rọi trên mặt phẳng ngang từ 800lux lên 1200lux tại vị trí làm việc, năng suất lao động tăng 2,9% cao hơn về mùa hè; và tăng 3,1% về mùa đông [51]
Trong nghiên cứu của Yang, điều tra và khảo sát vị trí lao động tại 7 nhà máy dệt, giầy da và sản xuất điện tử ở Trung Quốc, cho thấy nhiều dây chuyền sản xuất lắp ráp có chiếu sáng không đồng đều, kỹ thuật chiếu sáng không tốt và độ phản xạ mặt bàn kém Có dây chuyền sản xuất có tới 5 vị trí với đặc điểm chiếu sáng khác nhau không tốt và không đồng đều là 500-1000-1500lux, 300-500-1000lux, 200-300-750lux, 100-300-500lux và 50-100-200lux Khi điều tra phỏng vấn 752 công nhân tại những vị trí này đều có biểu hiện căng thẳng thị giác và tiếp nhận thị giác không tốt [78]
Một nghiên cứu thực nghiệm của Grosso, trên 32 người tình nguyện, tìm hiểu về hiệu quả công việc trong điều kiện ánh sáng khác nhau đó là độ chói cao và
độ chói thấp Kết quả nghiên cứu cho thấy độ chói cao thì hiệu quả công việc thấp hơn so với độ chói thấp, kèm theo đó là tăng số lỗi, tăng thời gian thao tác và căng thẳng thị giác khi làm việc trong môi trường chói lóa cao [44]
Nghiên cứu mức chiếu sáng và năng suất lao động ở hai nhóm nghiên cứu có hoặc không điều chỉnh ánh sáng và độ chói tại vị trí lao động trong vòng 16 tháng Kết quả nghiên cứu cho thấy ở nhóm có điều chỉnh ánh sáng và độ chói tốt thì năng suất lao động tăng cao hơn 4,5% nhóm không được điều chỉnh, đồng thời cải thiện được các triệu chứng căng thẳng thị giác và các chức năng tâm sinh lý do ảnh hưởng của chiếu sáng với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê [50]
Trang 40Bên cạnh những ảnh hưởng trên, tình trạng sức khỏe và bệnh tật của công nhân điện tử đang là vấn đề được quan tâm nhiều hơn trên thế giới Trong chương trình Quản lý sức khỏe nghề nghiệp công nhân nữ tại các nhà máy sản xuất điện tử miền bắc Thái Lan Một dữ liệu được phác thảo bởi cuộc điều tra của Theobald, khảo sát trong vòng 16 tháng, tại nơi ở của công nhân nữ sản xuất vi mạch điện tử Kết quả cho thấy ngoài những áp lực xã hội phức tạp người phụ nữ phải chịu, họ còn có có nhiều yếu tố nguy cơ tác động trong quá trình làm việc như: đau mỏi cơ, căng thẳng thị giác, phơi nhiễm hóa chất độc hại, stress, trang bị bảo hộ không phù hợp và các tai nạn tác động nhiều lên sức khỏe người phụ nữ…[76]
Nghiên cứu 853 công nhân điện tử Thái Lan cho thấy tỷ lệ nhiều công nhân phàn nàn về đau mỏi cơ xương khớp trong đó đau mỏi cổ tay 13,3%, ngón tay 9,48%, hội chứng đường hầm cổ tay 8,12%, đau lồi cầu bên và giữa là 3,38% và 1,69% [66]
Theo báo cáo về các yếu tố nguy cơ nghề nghiệp của các công nhân nữ tại các khu công nghiệp điện tử Trung Quốc của Yu và cộng sự, cho thấy tỷ lệ công nhân phần lớn là nữ giới và tới trên 60% công nhân nữ có phơi nhiễm với một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ nghề nghiệp Hóa chất tiếp xúc phổ biến nhất là dung môi hữu
cơ sau đó là các kim loại nặng Các nguy cơ về Ecgônômi là các thao tác lặp đi lặp lại, lao động tư thế đứng, ánh sáng chói…[80]
Vấn đề ảnh hưởng tới sức khỏe người lao động sản xuất, lắp ráp linh kiện điện tử trên thế giới đã ghi nhận nhiều trường hợp, đặc biệt là căn bệnh ung thư do ảnh hưởng của các hóa chất độc hại trong thời gian làm việc Khi tham khảo hồ sơ của công ty IBM từ năm 1969-2001 cho thấy, IBM ghi nhận trong hơn 30 năm qua, nguyên nhân dẫn đến cái chết của 30.000 công nhân cho thấy có ung thư vú, ung thư não, ung thư thận và ung thư gan, trong đó ung thư vú ở phụ nữ tại IBM cao hơn gấp 2,42 lần bình thường Còn tại Hàn Quốc, nghiên cứu từ tập đoàn Samsung cho thấy, năm 2007 phát hiện trường hợp ung thư đầu tiên, năm 2009 phát hiện 21 trường hợp và năm 2010 có 45 trường hợp ung thư Năm 2011, con số ung thư tăng lên 120 và trong đó 46 bệnh nhân đã tử vong [13]