các nhà chăn nuôi là phải đưa ra được các giống lợn có năng suất cao để nâng caohơn nữa khả năng sinh sản của đàn mẹ và đồng thời làm tăng tốc độ sinh trưởngcủa đàn con, giảm chi phí thứ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CHĂN NUÔI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT SINH SẢN VÀ TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH CỦA ĐÀN LỢN NÁI F1 (LANDRACE X YORKSHIRE) PHỐI VỚI ĐỰC DUROC NUÔI TẠI TRANG TRẠI CỦA BÀ ĐỖ THỊ BÌNH, HUYỆN KIM
BẢNG, TỈNH HÀ NAM.
Người thực hiện : TRẦN THỊ QUỲNH
Chuyên ngành : CHĂN NUÔI - THÚ Y Giáo viên hướng dẫn : ThS DƯƠNG THU HƯƠNG
HÀ NỘI - 2017
Trang 2Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới ThS Dương Thu Hương
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thànhkhóa luận tốt nghiệp
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn cô Đỗ Thị Bình- Chủ trang trại, nơi tôi thựctập đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi trong thời gian thực tập
Cuối cùng tôi xin cảm ơn bạn bè và người thân đã giúp đỡ, động viên, giúptôi hoàn thành báo cáo này
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 7 năm 2017
Sinh viên
Trần Thị Quỳnh
Trang 3MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăn nuôi lợn ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung đóng vai trò hết sứcquan trọng trong hệ thống chăn nuôi Lợn là loài gia súc được nuôi phổ biến vàcung cấp lượng thực phẩm lớn nhất có giá trị dinh dưỡng cao cho con người Việctiêu thụ thịt lợn trong các bữa ăn hàng ngày của con người rất phổ biến, mùi vị dễthích hợp với tất cả các đối tượng và không gây ra hiên tượng dị ứng do thựcphẩm Ngoài ra,chăn nuôi lợn còn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệpchế biến, tạo ra nguồn nguyên liệu cho y học trong công nghệ sinh học y học đểphục vụ nâng cao sức khỏe cho con người, cung cấp nguồn phân bón cho cây trồng
và cải tạo đất nông nghiệp.
Thời gian qua đàn lợn trong nước có sự tăng trưởng khá nhanh về tổng đàn,chất lượng đàn cũng như quy mô sản xuất, kim ngạch xuất khẩu Theo thống kêcủa cục chăn nuôi đến ngày 1/10/2015 tổng quy mô đàn lợn nước ta là 27,1 triệucon tăng 1,15% so với năm 2013 là 26,6 triệu con Trong đó số lượng lợn nái năm
2013 là 3,19 triệu con tăng lên 4,1 triệu con vào năm 2015, (Cục chăn nuôi 2015).Tuy nhiên lớn lượng sản phẩm sản xuất chủ yếu được tiêu thụ ở thị trường nộiđịa, xuất khẩu thịt lợn của Việt nam vẫn chưa đủ sức cạnh tranh, là do cơ cấugiống lợn của nước ta vẫn là lợn địa phương, lợn lai (nội x ngoại), năng suất thấp,
tỷ lệ mỡ cao Các cơ sở cung cấp giống lợn ngoại, lợn tốt chưa đảm bảo nhu cầucủa người sản xuất
Năm 2016 Việt Nam đã gia hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP),trong đó lĩnh vực nông nghiệp đặc biệt là chăn nuôi được coi là ngành kinh tế chịutác động lớn khi nước ta tham gia hiệp định thương mại này Do giá thành sảnphẩm chăn nuôi của chúng ta còn cao, chất lượng sản phẩm thấp khó cạnh tranhvới các sản phẩm của các nước là vì năng suất chăn nuôi thấp Yêu cầu đặt ra cho
Trang 4các nhà chăn nuôi là phải đưa ra được các giống lợn có năng suất cao để nâng caohơn nữa khả năng sinh sản của đàn mẹ và đồng thời làm tăng tốc độ sinh trưởngcủa đàn con, giảm chi phí thức ăn, tiết kiệm thời gian nuôi.
Đứng trước yêu cầu này, ngành chăn nuôi lợn phải có những giải pháp thíchhợp như: cải tạo cơ cấu đàn giống, nhập các giống ngoại để tiến hành nhân thuần
và cho lai tạo ra đàn con thương phẩm nuôi thịt có năng suất thịt cao và nhiều nạc.Gần đây, nhiều giống lợn ngoại như: Yorkshire, Landrace, Duroc, Pietrain, … đãđược nhập vào nước ta để nuôi thuần chủng và lai tạo thành những tổ hợp lai mới
có năng suất cho thịt cao, được ứng dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả Nâng caochất lượng đàn giống thông qua chọn lọc và cải tạo, tổ chức chăn nuôi theo hướnghàng hóa và áp dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao hiệu cả chăn nuôi để đáp ứngnhu cầu trong nước và xuất khẩu
Lợn ngoại nhập vào nước ta còn chịu sự tác động của nhiều yếu tố: khí hậu,thức ăn, phương thức chăn nuôi, vệ sinh thú y…Các yếu tố này đều có liên quantrực tiếp hoặc gián tiếp đến các bệnh sinh sản Do đó việc tìm hiểu năng suất sinhsản, các yếu tố ảnh hưởng đến sinh sản là rất cần thiết Sự hiểu biết này giúpngười chăn nuôi có nhận định đúng trong việc lựa chọn con giống, kỹ thuật chămsóc, nuôi dưỡng và quy trình vệ sinh thú y trong quá trình sản xuất
Tuy nhiên, năng suất chăn nuôi luôn bị đe dọa bởi các yếu tố dịch bệnh Nóthường gây tổn thất lớn và là mối quan tâm của bất cứ cơ sở nào
Xuất phát từ xu thế và thực tế trên, nhằm nâng cao kiến thức cũng như góp phầnđẩy mạnh công tác chăn nuôi lợn ở Việt Nam, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá năng suất sinh sản và tình hình dịch bệnh của đàn lợn nái (Landrace x Yorkshide) phối với đực Duroc nuôi tại trang trại của bà Đỗ Thị
Bình, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam”.
2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI.
Trang 5- Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái Landrace x Yorkshide phối vớiđực Duroc nuôi tại trang trại của bà Đỗ Thị Bình, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
- Đánh giá được tình hình dịch bệnh của lợn nái và lợn con theo mẹ
- Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp góp phần nâng cao năng suất sinhsản cho đàn nái
Trang 6
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC GIỐNG LỢN
1.1.1 Giống lợn Yorkshire
Giống lợn Yorkshire có nguồn gốc từ vùng Yorkshire của nước Anh vào đầu thế kỉ XVI Là giống lợn được nuôi phổ biến ở hầu khắp các nước trên thế giới Ở Việt Nam lợn cũng được nhập vào từ những năm 1920 ở miền Nam để tạo ra lợn Thuộc Nhiêu Nam Bộ Đến 1964, lợn được nhập vào miền Bắc thông qua Liên Xô
cũ Đến năm 1978, chúng ta đã nhập lợn Yorkshire từ Cu Ba
Lợn Yorkshire có đặc điểm ngoại hình: toàn thân da có màu trắng tuyền, ngựcsâu, đầu cổ nhỏ và hơi dài, mõm thẳng và dài, bụng gọn bốn chân chắc chắn, tai to-đứng, mông đùi to, vai lớn, khung xương to vững chắc
Đặc tính sinh sản: Lợn Yorkshire mắn đẻ, sai con, nuôi con khéo, chịu đượckham khổ, đề kháng rất tốt với bệnh tật, không kén ăn, khả năng chống chịu vớiđiều kiện khí hậu, môi trường thay đổi cao Số con/ lứa là 10 – 13 con (có lứa đạt
17 – 18 con) Con cai sữa ở 60 ngày tuổi đạt 16 - 20 kg/con (Võ Trọng Hốt và cộng
sự, 2000)
Hiện nay lợn Yorkshire được nuôi rất phổ biến với số lượng lớn thườngdùng làm nái nền tạo nhiều công thức lai, cũng là giống sản xuất thịt đáp ứng đượcnhu cầu thị trường Thông thường người ta sử dụng hai giống Yorkshire vàLandrace để tạo ra đàn nái bố mẹ có khả năng sinh sản tốt, thích nghi rộng rãi, chấtlượng thịt cao, năng suất cao khi cho lai với các đực giống Pietrain và Duroc…
1.1.2 Giống lợn Landrace
Trang 7Giống lợn Landrace có nguồn gốc từ Đan Mạch, được nuôi phổ biến ở các nước
Châu Âu từ năm 1990 Chúng được tạo thành bởi quá trình lai tạo chính giữa giốnglợn Youtland có nguồn gốc Đức với lợn Yorkshire có nguồn gốc từ Anh Năm
1970, giống lợn này được nhập vào Việt Nam qua Cuba Giống lợn Landraceđược chọn là một trong những giống tốt để thực hiện chương trình nạc hóa đàn lợnViệt Nam
Đặc điểm ngoại hình: Toàn thân có màu trắng tuyền, tai to dài rủ xuống kín
mặt, tai cúp về phía trước, cổ nhỏ và dài, mình dài, ngực nông, bụng thon vai- lưng– mông- đùi rất phát triển, mõm thẳng, thân hình dài, ngoại hình thể chất vữngchắc, tầm vóc lớn
Khả năng sinh trưởng: khối lượng sơ sinh 1,2-1,4kg, trọng lượng 5-6 tháng tuổi90kg, trọng lượng trưởng thành 250-300 kg, tỷ lệ nạc đạt 56% trở lên, thịt ngon,mềm, sớ cơ ít dai Tiêu tôn thức ăn/kg tăng trọng: 2,8-3,0 kg Đạt 100 kg khi được160-170 ngày tuổi
Lợn Landrace có khả năng sinh sản cao, nuôi con khéo, mắn đẻ và đẻ nhiềutrung bình đạt 1,8-2 lứa/năm Mỗi lứa đẻ 10-12 con, trọng lượng sơ sinh (Pss)trung bình đạt 1,2-1,3 kg, trọng lượng cai sữa (Pcs) từ 2-15 kg Sức tiết sữa từ 5-9
kg sữa/ ngày Khả năng thích nghi kém hơn Yorkshire, dễ bị stress, kén ăn vàtương đối đòi hỏi nhu cầu dinh dưỡng cao và phải có điều kiện chăm sóc tốt
Hiện nay giống lợn Landrace đang được nuôi phổ biến ở nước ta và được sửdụng trong các công thức lai kinh tế giữa các giống lợn ngoại với nhau để tạo racon lai thương phẩm có năng suất và chất lượng thịt tốt, đặc biệt nái lai F1(LY)đang được nuôi rất phổ biến ở các trang trại chăn nuôi nước ta hiện nay.
1.1.3 Giống lợn Duroc
Giống lợn Duroc có nguồn gốc từ miền Đông nước Mỹ và vùng Corn Belt.
Dòng Duroc được tạo ra ở vùng New York năm 1923, bởi Issac Frink GiốngDuroc-Jersey có nguồn của hai dòng khác biệt Jersey đỏ của New Jersey và Duroccủa New York
Đặc điểm ngoại hình: Lợn toàn thân có lông màu hung đỏ hoặc nâu đỏ, đầu
to vừa phải, mõm dài, tai to và dài, cổ nhỏ và dài, mình dài, vai-lưng-mông-đùi rất
Trang 8phát triển Lợn thuần chủng có sắc lông đỏ nâu, bốn móng ở mỗi chân màu đentuyền, khi lai lông có màu vàng nhạt và xuất hiện đốm đen
Giống Duroc là giống tiêu biểu hướng nạc Trọng lượng trưởng thành conđực trên 300 kg/con, con cái 200-300 kg/con, tỷ lệ nạc cao Chúng là giống lợn chonhiều nạc, mỡ lưng mỏng (10-12 mm), nạc có sớ cơ dai, ít vân mỡ nên thịt khôngmềm, không ngon lắm Lợn tăng trọng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp, có khả năngtăng trọng từ 750-800 g/ngày, 6 tháng tuổi lợn thịt có thể đạt 105-125 kg
Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2010) cho biết khả năng tăng khối lượngtrung bình trong thời gian từ 60 đến 165 ngày tuổi của các tổ hợp lai giữa nái lai F1
(L x Y), F1 (Y x L) phối với lợn đực Duroc và đực L19 (đực VCN03) đạt từ 680
-702 g/ngày và cùng trên tổ hợp lai giữa lợn đực Duroc, lợn đực L19 với nái F1 (L xY) và F1 ( Y x L) tác giả Phan Văn Hùng và Đặng Vũ Bình (2008) cho biết tỉ lệmóc hàm là 75,33 - 75,94%, tỉ lệ thịt xẻ 68,57 - 69,64%, tỉ lệ nạc là 57,21 -58,87%, dài thân thịt là 87,38 - 90,87 cm
Duroc có khả năng sinh sản tương đối cao Trung bình đạt 1,7 – 1,8 lứa/năm.Mỗi lứa đẻ từ 9 đến 11 con, lợn con trung bình đạt 1,2 – 1,3 kg, khối lượng cai sữađạt 12 – 15 kg Sức tiết sữa của lợn đạt 5 – 8 kg/ngày Khả năng sinh trưởng của lợntốt Tuy nhiên, khả năng sinh sản của nái không cao, đẻ khoảng 7-9 con/lứa, nuôi conkém Lợn nái đẻ mỗi năm 1,8 lứa, mỗi lứa 8 – 9 con, nái tiết sữa kém, nuôi con kém,nhu cầu dinh dưỡng cao, sức kháng bệnh kém
1.2 ĐẶC ĐIỂM SINH LÍ SINH SẢN CỦA LỢN NÁI
Trang 9nhau có khả năng thụ thai Xuất hiện các phản xạ sinh dục con cái thích gần conđực và chịu đực, con đực có phản xạ giao phối Các đặc điểm sinh dục thứ cấp xuấthiện.
Sự thành thục của lợn cái được ghi nhận bằng lần động dục đầu tiên, mặc dù ởlần động dục đầu tiên này, lợn cái có trứng rụng và có khả năng thụ thai Nhưngngười ta thường bỏ qua lần động dục đầu tiên này, vì bộ máy sinh sản chưa pháttriển hoàn chỉnh, thể vóc chưa thành thục Sự thành thục về tính thường biểu hiệnsớm hơn sự thành thục về thể vóc Nó báo hiệu khả năng sinh sản của lợn nái Tuổi phối giống lần đầu tốt nhất cho lợn cái là bỏ 1-2 chu kỳ động dục đầu tiêntuy nhiên cũng không nên phối giống muộn quá sẽ làm giảm khả năng sinh sản củalợn nái.
* Các nhân tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính
Giống
Các giống khác nhau thường có tuổi động dục về tính khác nhau Các giống lợnnội thành thục về tính sớm hơn lợn ngoại Lợn nội thành thục về tính khi được 4-5tháng tuổi, còn lợn ngoại là 6-7 tháng tuổi Theo Golubec lợn Duroc thành thục vềtính lúc 207 ngày, trọng lượng đạt 73kg Theo Trần Thế Thông lợn nái Móng Cáithành thục về tính lúc 4 tháng 12 ngày, trọng lượng đạt 12kg Các giống lợn nhỏthường thành thục sớm hơn lợn to Ở cùng một giống thì gia súc cái thành thục vềtính sớm hơn gia súc đực
Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng
Chế độ nuôi dưỡng ảnh hưởng rất lớn tới tuổi thành thục về tính Trong cùngmột giống những cá thể được nuôi dưỡng tốt hơn thì sẽ thành thục sớm hơn vàngược lại Theo Burger (1972), lợn nái trong điều kiện nuôi dưỡng tốt thì sẽ thànhthục về tính ở độ tuổi trung bình là 188,5 ngày, với trọng lượng 80 kg Nhưng nếuchúng ta cho lợn ăn hạn chế thì sẽ là 234,8 ngày, với trọng lượng 48,4 kg Theo
Trang 10Zimmerman, nếu dinh dưỡng tốt thì sẽ rút ngắn được thời gian thành thục về tính
từ 4-16 ngày so với mức chỉ đáp ứng được 60-70% nhu cầu dinh dưỡng
Khi lợn bị cung cấp thiếu dinh dưỡng sẽ dẫn đến bị chậm động dục, còn nếuthừa sẽ gây tích mỡ quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năngcủa chúng Để lợn sinh trưởng và phát triển bình thường thì phải đảm bảo cung cấpđầy đủ về nhu cầu năng lượng, protein, khoáng, vitamin Nhu cầu dinh dưỡngphải phù hợp với từng giai đoạn phát triển của lợn để chúng phát triển tốt nhất vàđem lại hiệu quả kinh tế cao nhất
Thời tiết thời gian chiếu sáng
Nơi có nhiệt độ cao cùng với thời gian chiếu sáng dài hơn sẽ thành thục về tính
sớm hơn nơi nhiệt độ thấp, thời gian chiếu sáng ngắn hơn
Nuôi nhốt
Mật độ nuôi nhốt sẽ ảnh hưởng đến sự thành thục về tính Nếu nuôi nhốt quá
đông sẽ làm chậm động dục Tuy nhiên nuôi lợn nái hậu bị tách biệt đàn cũng làmchậm sự thành thục về tính Như vậy lợn nái hậu bị cần được nuôi nhốt theo nhómthích hợp
Khối lượng cơ thể
Cùng tuổi nhưng khối lượng cơ thể con nào lớn hơn thì thành thục sớm hơn.Thường phối lần đầu khi khối lượng cơ thể đạt 75-80% so với khối lượng trưởngthành Nếu phối sớm khối lượng con mẹ bé sẽ đẻ khó, tỷ lệ hao hụt nhiều dẫn đếnnái dễ bị suy thoái Mặt khác, khi phối sớm trứng rụng ít tỷ lệ sinh thấp Do vậy,người ta thường bỏ qua 1-2 chu kỳ đầu
Sự kích thích của con đực
Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng tới sự thành thục về tính của con cáihậu bị Những lợn cái mà hạn chế được tiếp xúc với đực thì động dục lần đầu chậmhơn so với lợn cái được tiếp xúc với đực thường xuyên Vì vậy nên thường xuyêncho lợn đực tiếp xúc với lợn cái hậu bị
Trang 11Theo Hughes (1961) nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với đực 2 lần/ngày (15-20phút/lần) thì 83% lợn cái sẽ động dục lúc 165 ngày tuổi.
Các yếu tố khác
Ngoài ra tuổi thành thục về tính còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như: khí hậu,
mùa vụ, bệnh tật, tính biệt, nề nếp thói quen, công tác quản lí chăm sóc
1.2.2 Sự thành thục về thể vóc
Sự thành thục về thể vóc là tuổi mà gia súc có sự phát triển về ngoại hình vàthể vóc đạt đến mức độ hoàn chỉnh, xương đã cốt hóa hoàn toàn, tầm vóc ổn định.Đây mới là thời điểm tốt nhất để con vật thực hiện các hoạt động sinh sản.Thờigian thành thục về thể vóc thường chậm hơn thời gian thành thục về tính Do đó,cần chú ý trong chăn nuôi, không nên cho gia súc sinh sản quá sớm quá sẽ gây ảnhhưởng đến chất lượng đời con sinh ra và gây hại cho sự phát triển hoàn thiện của
cơ thể lợn mẹ, nếu phối muộn quá thì làm mất hiệu quả kinh tế Thời điểm thíchhợp nên cho phối là vào 7-8 tháng tuổi lúc đó khối lượng cơ thể đạt 40-50kg đốivới lợn nái nội, 8-9 tháng tuổi khối lượng đạt 100-110kg đối với lợn nái ngoại
1.2.3 Chu kì tính và điều hòa chu kì tính
1.2.3.1 Chu kì tính
Là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể con nái đã pháttriển hoàn thiện đầy đủ Lúc này, cơ thể đặc biệt là cơ quan sinh dục có hàng loạtcác biến đổi về hình thái và chức năng sinh lý Các biến đổi đó được lặp đi lặp lạinhiều lần có tính chất chu kì nên được gọi là chu kì tính Chu kỳ tính được bắt đầukhi cơ thể gia súc đã thành thục về tính, nó xuất hiện liên tục và chấm dứt khi cơthể già yếu
Thời gian của một chu kì tính được tính lần rụng trứng trước đến lần rụngtrứng sau, chu kỳ động dục của lợn cái thường kéo dài từ 18-25 ngày, trung bình là
21 ngày, đây là thời gian đường sinh dục cái chuẩn bị cho chu kỳ tiếp theo Lúc này
cơ quan sinh dục cái có sự biến đổi như: âm hộ, âm đạo, tử cung xung huyết; các
Trang 12tuyến sinh dục tăng cường hoạt động, ở bên trong buồng trứng có quá trình noãn bàothành thục, chín và rụng Nắm vững chu kì sinh dục trong chăn nuôi để có thể pháthiện chính xác hiện tượng động dục và rụng trứng, cho phối đúng thời điểm, nâng cao
tỉ lệ thụ thai, góp phần phát triển đàn lợn
Mỗi chu kỳ tính của lợn nái được chia làm 4 giai đoạn: giai đoạn trước độngdục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục và giai đoạn yên tĩnh
* Giai đoạn trước động dục (1-2 ngày)
Là giai đoạn đầu tiên của chu kì sinh dục Ở giai đoạn này, đường sinh dục bắtđầu có những biến đổi, xuất hiện đầy đủ các hoạt động về sinh lí Trên buồng trứngnoãn bao phát triển nổi rõ trên bề mặt, ở ống dẫn trứng các vách thế bào tăngcường sinh trưởng, hệ thống lông nhung phát triển, niêm mạc đường sinh dục xunghuyết nhẹ, hệ thống tuyến tăng cường tiết dịch, niêm dịch ở cổ tử cug tiết ra kíchthích cổ tử cug hé mở Đến cuối giai đoạn này, noãn bao chín dần, tế bào trứngtách ra ngoài, tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung mở to ra, niêm dịch tiết ra nhiềunhưng loãng, con vật bắt đầu xuất hiện hiện tượng động dục
Biểu hiện bên ngoài: âm đạo sưng to, hơi mở ra, có màu đỏ hồng, không cóhoặc ít dịch nhày chảy ra, bỏ ăn hoặc ăn ít, kêu rít, thích nhảy lên lưng con khácnhưng không cho con khác nhảy lên lưng
* Giai đoạn động dục( 2-3 ngày)
Là giai đoạn mà các biến đổi cơ quan sinh dục thể hiện rõ nhất Lúc này, âm hộsưng to, xung huyết rõ, niêm dịch tiết ra nhiều như keo dính, cổ tử cung tăngcường co bóp, nhiệt độ âm hộ tăng 0,3-0,70C, pH âm đạo hạ hơn trước
Biểu hiện của con vật hưng phấn cao độ, đứng nằm không yên, ăn uống giảm,kêu rít, phá chuồng đi tìm con đực, luôn nhảy lên lưng con khác hoặc để con khácnhảy lên lưng mình, khi gần đực thì luôn đứng ở tư thế sẵn sàng chịu đực: đuôicong lên và lệch sang một bên, hai chân sau dạng ra và khụy xuống sẵn sàng chocon đực nhảy Bên trong cổ tử cung đã hé mở và co bóp mạnh, âm hộ chuyển sang
Trang 13màu mận chín có dịch nhờn chảy ra Phối ở giai đoạn này sẽ cho hiệu quả thụ thaicao nhất Nếu trứng rụng được thụ tinh thì lợn nái chuyển sang giai đoạn có chửa,chu kì sinh dục sẽ xuất hiện trở lại sau khi đẻ xong một thời gian nhất định thì chu
kỳ mới xuất hiện lại Sau khi trứng rụng mà không được thụ tinh thì chuyển sanggiai đoạn tiếp theo
* Giai đoạn sau động dục( 3-4 ngày)
Ở giai đoạn này, cơ quan sinh dục dần dần trở về trạng thái sinh lý bình thường.Trên buồng trứng thể vàng đã xuất hiện và tiết ra progesteron tác động lên tuyếnyên làm giảm tiết oestrogen từ đó làm giảm hưng phấn của con vật Các biểu hiệnhoạt động sinh dục giảm dần, niêm mạc đường sinh dục ngừng tăng sinh, các tuyến
ở tử cung không tiết niêm dịch, mọi phản xạ sinh dục giảm dần, âm hộ teo dần vềtrạng thái bình thường, con vật chịu ăn uống và trở nên yên tĩnh hơn
* Giai đoạn yên tĩnh( 12-14 ngày)
Con vật hoàn toàn không có phản xạ sinh dục, cơ quan sinh dục trở lại bìnhthường, yên tĩnh và ăn uống bình thường, hoàn toàn không có phản xạ với con đực.Trong buồng trứng, thể vàng bắt đầu teo đi, noãn hoàng bắt đầu phát triển nhưngchưa nổi rõ trên bề mặt buồng trứng
Trong chăn nuôi cần quan tâm đến chu kỳ động dục để phát hiện sớm vàphối giống phù hợp Phối sớm quá hoặc muộn quá đều ảnh hưởng đến tỷ lệ thụthai Nếu phối giống 1 lần thì nên phối giống trong khoảng thời gian 24 - 30giờ sau khi lợn bắt đầu chịu đực Nếu phối giống 2 lần thì lần 1 từ 15 - 20 giờ, lần
2 từ 24 - 36 giờ kể từ khi lợn bắt đầu chịu đực
1.2.3.2 Sự điều hòa chu kì tính
Chu kì tính được điều hòa qua cơ chế điều hòa ngược dưới sự điều khiển: Hệthần kinh và thể dịch, với sự tham gia vùng dưới đồi, tuyến yên, buồng trứng điềukhiển mọi hoạt động sinh lý, sinh dục của lợn nái
Trang 14Dưới tác động của các yếu tố ngoại cảnh như, não bộ tác động lên vùng dướiđồi (hypothalamus) giải phóng ra kích dục tố GnRH (Gonadotropine Releasehormone) GnRH kích thích thùy trước tuyến yên sản xuất ra các hormone FSH(Follicle Stimulating Hormone: Kích thích bao noãn phát triển, tiết ra oestrogen),
LH (Luteinizing Hormone: Làm trứng chín và rụng, hình thành nên thể vàng) vàProlactin (Thúc đẩy tiết sữa, kích thích hoạt động thể vàng tiết Progesteron, thúcđẩy bản năng làm mẹ)
Thể vàng được hình thành sau khi rụng trứng và sản sinh ra hormoneprogesteron, hormone này cùng với estrogen thúc đẩy sự tăng sinh lớp nội mạc tửcung chuẩn bị đón hợp tử Progesteron duy trì quá trình mang thai, kích thích tuyến
vú phát triển và ức chế tuyến yên tiết FSH và LH Khi con cái động dục thì nồng
độ hormone ostradiol và LH tăng lên rất cao còn progesteron lại giảm rất thấp Saukhi kết thúc quá trình động dục thì ngược lại progesteron tăng dần và hai hormonetrên có xu hướng giảm đi Nồng độ progesteron tăng đạt đỉnh tối đa sau động dụclúc 13-14 ngày, sau giảm rất nhanh do thể vàng teo biến, khi đó không còn ức chếthùy trước tuyến yên tiết FSH và LH, nồng độ của hai hormone này cũng nhưestrogen tăng lên để chuẩn bị cho lần động dục sau Nếu trứng được thụ tinh thì thểvàng tồn tại suốt thời gian mang thai, nó sinh ra Progesteron tác động ngược trở lạituyến yên làm ngừng FSH và LH làm cho trứng không chín, gia súc ngừng độngdục đến khi đẻ và sau khi cai sữa thì động dục trở lại Nếu trứng không được thụtinh thì sau 15 ngày thể vàng tiêu biến bởi tác động của Prosglandine do sừng tửcung tiết ra Một chu kì mới lại được bắt đầu
1.2.4 Quá trình thụ tinh
Quá trình thụ tinh là quá trình sinh lí phức tạp của tế bào trứng và tế bào tinhtrùng đã hoàn toàn thành thục và còn khả năng thụ thai Sau khi tế bào tinh trùngđược đưa vào đường sinh dục của con cái Nhờ các đặc tính và sự tác động củaniêm dịch đường sinh dục cái cộng với sự hấp dẫn bởi chất nữ bào tố Fertilizin,
Trang 15giúp cho tinh trùng vận động tiến thẳng đến vị trí thụ tinh để gặp trứng Chúng sẽbao vây lấy tế bào trứng tiết men để lần lượt xuyên qua màng phóng xạ, màngtrong suốt và màng nguyên sinh chất để vào nhân Khi đầu tinh trùng chạm đượcvào màng nguyên sinh chất, nó sẽ mở màng nguyên sinh chất ra sau đó đóng lạiđồng thời tiêu diệt hết tinh trùng còn lại Sau khi vào nguyên sinh chất của tế bàotrứng nó sẽ bộc lộ nhân Chúng gặp nhau phát sinh các phản ứng đồng hóa và dịhóa để tạo thành một tế bào sống mới mang một nửa NST của bố, một nửa NSTcủa mẹ.
1.2.5 Quá trình sinh trưởng phát triển của bào thai
Sau khi trứng được thụ tinh, hợp tử hình thành và phát triển qua 3 thời kỳ:
* Thời kỳ phôi thai (từ ngày thứ 1- 22)
Sau khi trứng và tinh trùng gặp nhau ở 1/3 phía trên ống dẫn trứng, tại đây
diễn ra quá trình thụ tinh Trứng được thụ tinh hình thành hợp tử, 1 – 3 ngày saukhi thụ tinh hợp tủ di chuyển về hai bên sừng tử cung và làm tổ ở đó, trong sừng
tử cung hợp tử lại tiếp tục phân chia thành hàng trăm tế bào phôi
Túi phôi được hình thành sau đó 5 - 6 ngày, túi phôi chứa chất lỏng Màng
ối hình thành sau 7 - 8 ngày, đây là màng ngoài cùng bao bọc lấy bào thai trong
có chứa dịch ối Dịch ối có tác dụng giúp cho bào thai nằm thoải mái, đệm đỡcho bào thai không bị va chạm với các cơ quan xung quanh của cơ thể lợn mẹ
Màng niệu được hình thành sau khoảng 10 ngày, là màng giữa có chứa dịchniệu, chứa nước tiểu của bào thai, chứa kích tố nhau thai, trong dịch niệu cũngchứa một số chất dinh dưỡng cung cấp cho bào thai
Màng đệm được hình thành sau khoảng 12 ngày là màng ngoài cùng tiếp giápvới niêm mạc tử cung của lợn mẹ, trên bề mặt của màng đệm có nhiều lông nhung
để hút các chất dinh dưỡng từ cơ thể lợn mẹ Cuối thời kỳ này thì trọng lượng củaphôi đạt 1 – 2g, hình dáng và các cơ quan bộ phận như: đầu, hố mắt, tim, gan đượchình thành nhưng chưa hoàn chỉnh, sự gắn kết giữa cơ thể mẹ và bào thai chưa
Trang 16chắc chắn nên dễ bị sảy thai Như vậy người chăn nuôi cần phải có kỹ thuật chămsóc phải cẩn thận và tỉ mỉ Những yếu tố ngoại cảnh như: ô nhiễm, dinh dưỡng,môi trường nuôi quá ô nhiễm…đều ảnh hưởng rất lớn đến phôi thai.
*Thời kỳ tiền thai (từ ngày thứ 23 – 39)
Đặc điểm của thời kỳ này là phôi phát triển mạnh dần, bắt đầu hình thành nhauthai, mối liên hệ giữa phôi thai và tử cung chắc chắn hơn, ít xáy ra hiện tường xảythai Các khí quan hình thành rõ rệt Cuối thời kỳ này khối lượng thai đạt 6 – 7g
*Thời kỳ bào thai (từ ngày thứ 40 đến khi đẻ, 114 ngày)
Ở thời kỳ này quá trình trao đổi chất của bào thai diễn ra mạnh mẽ nhất đểhoàn thành nốt những bộ phận còn lại như: da, lông, răng, thể hiện đặc điểm củagiống Thai phát triển mạnh nhất ở 30 ngày trước đẻ Khối lượng bào thai tăng lên
ở tháng cuối cùng trước đẻ có thể chiếm 2/3 hoặc 3/4 so với khối lượng bào thai.Đến cuối thời kỳ, mỗi thai nặng khoảng 1300 – 1400g Khi các cơ quan đã pháttriển hoàn chỉnh thì cơ thể mẹ đẩy thai ra ngoài
Trong thực tế để áp dụng kỹ thuật nuôi dưỡng chăm sóc, người ta chia giaiđoạn chửa thành 2 kỳ: 84 ngày đầu là chửa kỳ 1, 30 ngày sau là chửa kỳ 2 Cần chú
ý việc nuôi dưỡng chăm sóc nái chửa kỳ 2, cần cung cấp thức ăn có chất lượng tốt,khẩu phần được chia nhỏ để tránh sự chèn ép gây ảnh hưởng tới thai
1.3 KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI
1.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái
Năng suất sinh sản của lợn nái được cấu thành bởi nhiều yếu tố, do đó cũng cónhiều chỉ tiêu để đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái Nhưng người ta thườngquan tâm đến 1 số chỉ tiêu quan trọng về năng suất mà qua đó có thể đánh giá đượckhả năng cũng như năng suất sinh sản của lợn nái
Theo Trần Đình Miên và cs (1997), việc tính toán khả năng sinh sản của lợnnái cần xét đến các chỉ tiêu như chu kì động dục, tuổi thành thúc về tính, tuổi có
Trang 17khả năng sinh sản, thời gian chửa và số con đẻ/lứa.
Mabry et al (1997) cho rằng: các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu của
lợn nái bao gồm: số con sơ sinh/ổ, số con cai sữa/ổ, khối lượng toàn ổ ở 21 ngàytuổi và số lứa đẻ ra/nái/năm Các tính trạng này ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận củangười chăn nuôi lợn nái
*Nhóm chỉ tiêu về sinh lý sinh dục của lợn nái
Tuổi động dục lần đầu:
Được tính từ khi sơ sinh đến khi lợn nái hậu bị xuất hiện động dục lần đầutiên Các giống khác nhau thì tuổi động dục khác nhau, lợn nội có tuổi động dụcsớm hơn lợn ngoại
Tuổi động dục lần đầu chịu ảnh hưởng bởi chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc,quản lý và tuổi động dục lần đầu cũng ảnh hưởng lớn đến tuổi phối giống lần đầunên ảnh hưởng lớn đến thành tích sinh sản của con cái
Tuổi phối giống lần đầu:
Tuổi phối giống lần đầu sớm hay muộn đều ảnh hưởng đến khả năng sảnxuất của lợn nái, nên phối giống lần đầu cho lợn ở lần động dục thứ 2,3 là tốt nhất,khi đó khối lượng của nái đạt khoảng 100-110kg Đối với lợn cái phối giống lầnđầu nên phối giống trực tiếp là tốt nhất Cần xác định chính xác thời điểm mê ì ởlợn cái hậu bị để cho phối giống ngay Sau đó phối lại lần thứ 2 cách lần đầu 10-12giờ Phối vào sáng sớm, chiều muộn
Tuổi đẻ lứa đầu:
Là khoảng thời gian tính từ sơ sinh đến khi đẻ lứa đầu tiên, phụ thuộc vào tuổiphối giống lần đầu, kết quả phối giống, thời gian mang thai, giống Nếu tuổi phốigiống lần đầu sớm thì tuổi đẻ lứa đầu sớm Lợn nội thì tuổi đẻ lứa đầu sớm hơn lợnngoại
Thời gian mang thai:
Thời gian mang thai của lợn là một chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn Thời gian này
Trang 18dao động từ 110 – 117 ngày, trung bình 114 ngày.
Thời gian chờ phối:
Là thời gian động dục trở lại sau khi cai sữa và phối giống có kết quả, thờigian chờ phối phụ thuộc vào giống lợn, thể trạng, điều kiện dinh dưỡng và thờigian cai sữa lợn con
Khoảng cách lứa đẻ:
Là khoảng thời gian lợn đẻ lứa trước đến khi lợn đẻ lứa tiếp theo hay bằngtổng thời gian mang thai, thời gian nuôi con và thời gian chờ phối Nếu khoảngcách lứa đẻ ngắn thì hệ số lứa đẻ của nái/năm tăng lên Trong ba yếu tố thì thờigian mang thai thường cố định hoặc biến đổi rất nhỏ nên khoảng cách hai lứa đẻphụ thuộc vào thời gian nuôi con và thời gian chờ phối Hiện nay đã áp dụng caisữa sớm cho lợn con ở 21 ngày tuổi và cho lợn nái ăn theo chế độ phù hợp để rútngắn thời gian động dục trở lại sau cai sữa
Số lứa đẻ/nái/năm:
Công thức tính:
Số lứa đẻ/nái/năm = Khoảngcách lứa đẻ365
*Nhóm chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn nái
Số con sơ sinh/ổ:
Là tổng số con đẻ ra trên ổ bao gồm cả số con sống, số con chết, số thai chết
và thai gỗ Số con đẻ ra/ổ khác nhau qua các lứa đẻ, tăng lên ở lứa 2, tương đối ổnđịnh ở các lứa tiếp theo và giảm dần từ lứa 6-7
Chỉ tiêu này đánh giá khả năng nuôi thai của lợn nái và kỹ thuật nuôi dưỡng,chăm sóc, quản lý của người chăn nuôi
Số con sơ sinh sống/ổ:
Là số con sơ sinh sống đến 24 giờ kể từ khi lợn mẹ đẻ xong con cuối cùng,không tính những con có khối lượng dưới 0,2 kg đối với lợn nội 0,5 kg đối với lợn
Trang 19Chỉ tiêu này đánh giá khả năng đẻ nhiều hay ít của lợn nái, kĩ thuật chăm sóclợn nái chửa, kĩ thuật thụ tinh, chất lượng tinh của đực giống
Tỷ lệ sơ sinh sống đến 24h sau khi đẻ:
Tỷ lệ sơ sinh sống đến 24h sau đẻ được tính như sau:
Tỷ lệ sơ sinh sống (%) = Số con còn sống đến 24 h Số con đẻ ra ×100
Tỷ lệ này không đảm bảo được 100% do nhiều nguyên nhân như lợn con chếtkhi đẻ ra, thai gỗ, thai non…
Số con để nuôi (con)
Là số con còn lại sau khi đã loại bỏ những con quá nhỏ và ghép loại thải, sốcon gửi nuôi
Số con để nuôi (con) = Số con sống đến 24 giờ - Số con loại thải ± Số congửi nuôi
Khối lượng sơ sinh/ổ:
Là khối lượng toàn ổ cân được sau khi lợn con sinh ra được lau khô, cắt rốn
và chưa bú sữa đầu Chỉ tiêu này cho chúng ta biết được đặc điểm về giống và khảnăng nuôi thai của lợn mẹ
Khối lượng sơ sinh/con:
Là khối lượng từng con sau khi lợn con sinh ra được lau khô, cắt rốn và chưa
bú sữa đầu Chỉ tiêu này cho ta biết được khả năng nuôi thai cũng như mức độđồng đều của lợn sơ sinh
Khối lượng cai sữa/ổ:
Khối lượng của toàn ổ cân lúc cai sữa, chỉ tiêu này đánh giá khả năng nuôi concủa lợn mẹ, kỹ thuật chăm sóc lợn con theo mẹ của người chăn nuôi
Khối lượng cai sữa/con:
Trang 20Khối lượng của từng con lúc cai sữa, chỉ tiêu này đánh giá khả năng sinhtrưởng của từng con và khả năng nuôi con của lợn mẹ.
Số con cai sữa/ổ (con)
Là số con còn sống nuôi đến cai sữa mẹ, thời gian cai sữa tùy thuộc vào kỹthuật chăn nuôi lợn con bú sữa, khả năng tiết sữa và khả năng nuôi con của lợn mẹ.Đây là chỉ tiêu kinh tế quan trọng đánh giá chính xác khả năng sinh sản của lợnnái Chỉ tiêu này phản ánh khả năng nuôi con khéo của nái, sức sống của lợn contheo mẹ và kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng của người chăn nuôi
Tỷ lệ cai sữa (%)
Là tỷ lệ số con còn sống nuôi đến khi cai sữa Chỉ tiêu này quyết định hiệuquả chăn nuôi, tỷ lệ cai sữa càng cao thì hiệu quả chăn nuôi càng cao
Tỷ lệ cai sữa (%) = Số con để nuôi Số con cai sữa ×100
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái
1.3.2.1 Yếu tố di truyền
Giống là nhân tố di truyền quan trọng liên quan tới các chỉ tiêu sinh sản củalợn nái (Đặng Vũ Bình, 1999), (Trần Tiến Dũng và cs, 2002) Giống khác nhau thìsinh sản khác nhau
Theo Legault (trích từ Rothschild và cộng sự, 1998), căn cứ vào khả năng sinhsản và sức sản xuất thịt, các giống lợn được chia làm bốn nhóm chính như sau:
+ Các giống đa dụng như: Yorkshire, Landrace và một số dòng nguyênchủng được xếp vào loại có khả năng sản xuất thịt và sinh sản khá
+ Các giống chuyên dụng “dòng bố” như Pietrain, Duroc có khả năng sinhsản trung bình nhưng khả năng sản xuất thịt cao
+ Các giống chuyên dụng “dòng mẹ” như Yorkshire, Landarce, đặc biệt một
số giống chuyên sản của Trung Quốc như Taihu (điển hình là Meishan) có khảnăng sinh sản đặc biệt cao nhưng khả năng cho thịt kém
Trang 21+ Các giống địa phương có đặc tính chung là khả năng sinh sản và sức sảnxuất thịt kém, song có khả năng thích nghi tốt với môi trường.
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của giống đến năng suất sinh sản của lợn nái,Schimidin (1980) đã đưa ra kết quả sau:
Bảng 1.1 Năng suất sinh sản của một số giống lợn nái Chỉ tiêu Số con cai sữa/ổ Số con cai sữa/nái/năm
Thời gian phối giống lại sau cai sữa 0,20
Nguồn :Schmitten (1988)