Việc bảo tồn và phát triển loài cây Ba kích tím có nguồn gốc tại Sơn La sẽ góp phần bảo tồn đa dạng nguồn gen thực vật bản địa tại vùng Tây Bắc, đánh giá được thực trạng khai thác, sử dụ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG IN VITRO
CÂY BA KÍCH (MORINDA OFFICINALIS HOW)
TẠI KHOA NÔNG - LÂM, TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Thuộc nhóm ngành: Khoa học Nông nghiệp
SƠN LA, NĂM 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG IN VITRO
CÂY BA KÍCH (MORINDA OFFICINALIS HOW)
TẠI KHOA NÔNG - LÂM, TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Thuộc nhóm ngành: Khoa học Nông nghiệp
Người thực hiện: Lò Thị Dung Giới tính: Nữ Dân tộc: Thái
Lò Văn Đức Giới tính: Nam Dân tộc: Thái Lớp: K54 ĐH Nông học, Khoa: Nông Lâm
Năm thứ 4/số năm đào tạo 4
Ngành học: ĐH Nông học
Sinh viên chịu trách nhiệm chính: Lò Thị Dung
Người hướng dẫn: ThS Đoàn Thị Thùy Linh
Sơn La, tháng 01 năm 2017
Trang 3Chúng em xin được gửi lời trân thành cảm ơn tới các thầy cô trong bộ môn Nông học, khoa Nông- Lâm những người đã trực tiếp giảng dạy trang bị cho chúng em những kiến thức bổ ích trong suốt quá trình học tập
Cuối cùng chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả người thân, bạn bè những người luôn bên cạnh động viên giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập và trong quá trình thực hiện đề tài
Sơn la, tháng 10 năm 2016 Nhóm tác giả đề tài
Lò Thị Dung Quàng Văn Đông
Lò Văn Đức
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích, yêu cầu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục đích nghiên cứu 3
1.2.2 Yêu cầu nghiên cứu 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
2.1 Giới thiệu về cây ba kích 4
2.1.1 Phân loại, nguồn gốc [2] 4
2.1.2 Phân bố [2] 4
2.1.3 Đặc điểm sinh vật học và sinh thái học 4
2.1.3.1 Đặc điểm hình thái [2] 4
2.1.3.2 Đặc điểm sinh vật học và sinh thái học [7] 5
2.2 Giá trị của cây ba kích 6
2.2.1 Giá trị y học 6
2.2.2 Giá trị kinh tế 7
2.3 Tình hình phát triển nguồn dược liệu và cây Ba Kích ở Việt Nam 7
2.3.1 Tình hình phát triển nguồn cây dược liệu 7
2.3.2 Tình hình phát triển cây Ba Kích 9
2.4 Kỹ thuật nuôi cấy mô - tế bào 9
2.4.1 Cơ sở khoa học của phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật 10
2.4.2 Vai trò của một số hormone sử dụng trong nuôi cấy mô tế bào thực vật 11
2.4.3 Ứng dụng nuôi cấy mô tế bào thực vật trong nhân giống cây trồng 12
2.5 Những nghiên cứu nhân giống nuôi cấy in vitro cây Ba Kích 14
2.5.1 Trên thế giới 14
2.5.2 Ở Việt Nam 15
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Đối tượng, phạm vi và vật liệu nghiên cứu 17
3.1.1 Đối tượng 17
3.1.2 Phạm vi 17
3.1.3 Vật liệu 17
Trang 53.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 18
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 18
3.2.2 Thờ i gian nghiên cứu 18
3.3 Nội dung nghiên cứu 18
3.4 Phương pháp nghiên cứu 18
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của BAP tới khả năng nhân chồi cây ba kích in vitro 19
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của IBA tới khả năng ra rễ cây ba kích in vitro 19
3.4.3 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của loại giá thể đến khả năng thích ứng cây Ba Kích in vitro 20
3.4.4 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu kết quả nghiên cứu 21
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23
4.1 Ảnh hưởng của nồng độ BAP đến khả năng nhân chồi in vitro cây ba kích 23
4.2 Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến khả năng ra rễ của cây Ba Kích 26
4.3 Ảnh hưởng của loại giá thể tới khả năng sinh trưởng của cây Ba Kích invitro ngoài vườn ươm 30
4.3.1 Ảnh hưởng của loại giá thể tới tỷ lệ sống của cây ba kích ngoài vườn ươm 31
4.3.2 Ảnh hưởng của loại giá thể tới khả năng sinh trưởng của cây ba kích invitro ngoài vườn ươm 32
PHẦN 5.KẾT LUẬN, ĐỀ NGHỊ 36
5.1 Kết luận 36
5.2 Kiến nghị 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MS : Murashige & Skoog, 1962 BAP : 6-Bezyl amino purine KIN : Kinetin (6-furfurol amino purine) IBA : Indole -3-Butyric Acid
α.NAA : 1-Naphthalene Acetic Acid
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của một số nồng độ BAP tới khả năng nhân nhanh chồi cây ba kích in vitro 24 Bảng 4.2 Ảnh hưởng của một số nồng độ IBA tới khả năng ra rễ cây ba kích in vitro 27 Bảng 4.3 Ảnh hưởng của loại giá thể đến khả năng sống sót của cây ba kích in vitro ở vườn ươm 31 Bảng 4.4 Ảnh hưởng của loại giá thể đến khả năng sinh trưởng của cây ba kích in vitro ở vườn ươm 33
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Sơ đồ ảnh hưởng của các nồng độ BAP tới một số chỉ tiêu ở giai đoạn nhân nhanh chồi cây ba kích in vitro 24 Hình 4.2 Sơ đồ ảnh hưởng của nồng độ IBA tới khả năng ra rễ cây ba kích in vitro 27 Hình 4.3 Thí nghiệm hình thành rễ cây Ba Kích in vitro trên môi trường bổ sung IBA
ở các nồng độ khác nhau 29 Hình 4.4 Biểu đồ ảnh hưởng của loại giá thể đến khả năng sống sót của cây ba kích in vitro ở vườn ươm 32 Hình 4.5 Biểu đồ ảnh hưởng của loại giá thể đến khả năng sinh trưởng của cây ba kích
in vitro ở vườn ươm 33 Hình 4.6 Cây ba kích in vitro sau 4 tuần huấn luyện ở các giá thể khác nhau 34
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, nhu cầu của con người về nguồn dược liệu ngày càng tăng Nguồn dược liệu con người đang sử dụng có thể được tổng hợp bằng nhiều con đường khác nhau như tổng hợp hóa học, tổng hợp từ vi sinh vật, song nguồn dược liệu từ thực vật
đã được con người sử dụng từ lâu và nhu cầu ngày càng lớn Tuy nhiên, các loài cây dược liệu trong tự nhiên đang bị giảm về số lượng và chất lượng bởi sự khai thác quá mức, các điều kiện ngày càng bất lợi của môi trường tự nhiên,…dẫn đến nhiều loài cây dược liệu quý hiếm bị tuyệt chủng, ảnh hưởng đến nguồn cung cấp dược liệu bền vững cho con người [12]
Cây Ba Kích (Morinda officinalis How) hay còn gọi là cây Ruột gà, Ba kích
thiên,…là cây thuốc quý trong y học cổ truyền Theo Quyết định số BYT ngày 01/02/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế về danh mục các vị thuốc y học cổ truyền chủ yếu dùng để khám chữa bệnh, ba kích đứng đầu trong nhóm các vị thuốc bổ dương khí [11] Củ của cây Ba kích có tác dụng bổ thận, tăng cường thể lực, tăng cường sức đề kháng, sức dẻo dai, khử phong thấp [21], dịch chiết từ củ Ba Kích có tác dụng giảm huyết áp, bổ trí não, giúp ăn ngủ ngon [18] Do có nhiều tác dụng nên hiện nay nhu cầu sử dụng đối với củ ba kích đang gia tăng, dẫn đến bị khai thác ồ ạt, vùng phân bố bị tàn phá khiến số lượng loài cây này giảm nghiêm trọng, gần như tuyệt chủng Vì thế, Ba kích tím đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam (1996) [1] và Danh lục
05/2008/QĐ-Đỏ Cây thuốc Việt Nam (1996, 2001, 2004) nhằm khuyến cáo bảo vệ Theo Nghị định số 48/2002/NĐ-CP ngày 22 tháng 4 năm 2002 quy định danh mục thực vật, động vật rừng quý hiếm và chế độ quản lý, bảo vệ thì ba kích thuộc nhóm IIA,thực vật hoang dã, hạn chế khai thác, sử dụng [6]
Trong những năm gần đây xu hướng trồng và kinh doanh cây ba kích lấy củ ngày một tăng tại các tỉnh phía bắc có giá trị kinh tế thu nhập lớn hơn hẳn với các loại cây trồng khác như: ngô, lúa, sắn [5] nên nhu cầu về giống đặc biệt là giống chất lượng cao ngày càng tăng Tuy nhiên, việc nhân giống cung cấp cho nhu cầu sản xuất hiện nay còn găp nhiều bất cập, khó khăn
Trang 10Tại Sơn La, cây Ba kích tím mọc tự nhiên, chủ yếu trong các quần hệ rừng, được đồng bào dân tộc Thái gọi là cây Sáy Cáy, người Mông gọi là cây Chẩu Phòng Xì,…loài cây này do khai thác không chú ý đến tái sinh trong nhiều năm qua, cùng với nhiều nguyên nhân khác như thói quen phá rừng, đốt rừng, đốt nương làm rẫy,… làm cho số lượng loài cây này tại Sơn La giảm nghiêm trọng
Ba kích tím là loại cây thuốc rất quý, có giá trị kinh tế cao, đang được nhiều địa phương trong cả nước quan tâm nghiên cứu để bảo tồn và phát triển Tại nhiều địa phương như Quảng Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh Yên,…đã có nhiều nghiên cứu về loài cây này
và nghề trồng cây ba kích tím nguyên liệu là một hướng phát triển kinh tế hiệu quả, giúp nhiều hộ dân ổn định cuộc sống, thoát nghèo Nhưng tại Sơn La công tác bảo tồn và phát triển loài cây này hiện là vấn đề rất mới mẻ, chưa được quan tâm nghiên cứu
Việc bảo tồn và phát triển loài cây Ba kích tím có nguồn gốc tại Sơn La sẽ góp phần bảo tồn đa dạng nguồn gen thực vật bản địa tại vùng Tây Bắc, đánh giá được thực trạng khai thác, sử dụng, hiện trạng của loài cây này tại địa phương, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm bảo vệ và phát triển chúng, phát triển sản xuất bằng Công nghệ Sinh học để góp phần sản xuất cây giống tốt, sạch bệnh, đáp ứng nhu cầu nguyện vọng về cây giống cho người dân địa phương Mô hình không chỉ góp phần bảo tồn một loại dược liệu quý mà còn thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với điều kiện thực tiễn ở địa phương; hạn chế người dân phá rừng làm kạn kiệt nguồn tài nguyên, từng bước thay đổi tập quán canh tác, đưa người nông dân vùng cao, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trong tỉnh Sơn La chuyển từ sản xuất tự phát sang tập trung theo vùng sản xuất hàng hóa, nâng cao đời sống, xoá đói giảm nghèo cho người dân
Nguồn cung cấp giống hiện nay chủ yếu bằng phương pháp giâm hom Việc nhân giống ba kích bằng phương pháp này tuy có ưu điểm là kỹ thuật tương đối đơn giản, không đòi hỏi máy móc hiện đại, dễ áp dụng nhưng cũng có nhiều nhược điểm như: hệ số nhân giống thấp chỉ đạt 0.6/lần/ năm [6] đòi hỏi nguồn cung cấp hom thường xuyên và rất lớn cây giống không hoàn toàn sạch bệnh sản xuất phụ thuộc vào mùa vụ, chất lượng cây giống không đảm bảo vì vậy chưa đáp ứng đủ nhu cầu hiện nay
Xuất phát từ những thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu nhân
giống invitro cây Ba kích (Morinda officinalis How) tại Khoa Nông – Lâm, trường Học Tây Bắc”
Trang 111.2 Mục đích, yêu cầu nghiên cứu
1.2.1 Mục đích nghiên cứu
Hoàn thiện quy trình nhân giống Ba kích tím bằng kỹ thuật nuôi cấy in vitro với 3 công đoạn chính: nhân nhanh chồi, tạo cây hoàn chỉnh, thích ứng cây trong
vườn ươm
1.2.2 Yêu cầu nghiên cứu
- Xác định môi trường nhân nhanh chồi ba kích tím có hiệu quả
- Xác định môi trường ra rễ thích hợp với cây ba kích tím
- Xác định loại giá thể phù hợp cho giai đoạn ra cây con in vitro
Trang 12PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Giới thiệu về cây ba kích
Cây Ba kích có tên khoa học là Morinda officinalis How, ở một số vùng miền
còn gọi với tên khác như: Cây ruột già, chẩu phóng xì (Quảng Ninh), sáy cáy (Thái),
thau tày cáy (Tày), chày kavằng dòi (Dao), Ba kích thiên (Trung Quốc)
2.1.1 Phân loại, nguồn gốc [2]
Cây Ba kích thường mọc hoang ở hầu như tất cả các tỉnh miền núi phía Bắc Ngoài ra cây còn có ở Trung Quốc, Lào, Ấn Độ và Triều Tiên, cây Ba kích có nguồn
gốc từ Trung Quốc
Cây Ba kích thuộc: Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta)
Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) Phân lớp Hoa môi (Lamiidae)
Bộ Long não (Gentianales)
Họ Cà phê (Rubiaceae) Chi Nhàu (Morinda)
Loài Morinda officinalis.How Tên thường gọi là Ba kích
2.1.3 Đặc điểm sinh vật học và sinh thái học
2.1.3.1 Đặc điểm hình thái [2]
Ba Kích là cây thân thảo, leo bằng thân, quấn vào cành cây khác hoặc giàn giá
đỡ thân cây có thể dài tới hàng mét, sống nhiều năm, thân non có màu tím hoặc xanh, cành còn non có lông bao phủ, thân cành già nhẵn, màu nâu Cành non, ngọn có cạnh, màu tím Lá mọc đối, hình mác hoặc bầu dục, thuôn nhọn, mép nguyên, phiến lá cứng
có lông tập trung ở mép và ở gân, lá non có lông ở gân và mép lá, dày hơn ở mặt dưới, màu xanh lục, khi già ít lông hơn, màu trắng mốc, dài 6-15cm, rộng 2,5-6cm, cuống
Trang 13ngắn Lá kèm mỏng ôm sát vào thân Rễ dạng rễ củ hình trụ tròn, thắt khúc, vặn vẹo cong queo, nhiều đoạn thắt nghẹt như ruột gà (nên gọi là cây ruột gà), đường kính 1.5 - 2,0 cm Bên trong là lớp thịt củ dầy màu hồng hoặc tím, không mùi, vị ngọt nhưng hơi chát, trong cùng là lõi củ, thông thường khi chế biến sử dụng phần lõi được loại bỏ Rễ dùng làm thuốc thường khô, thường được cắt thành từng đoạn ngắn, dài trên 5cm, đường kính khỏang 5mm, có nhiều chỗ đứt để lộ ra lõi nhỏ bên trong.Vỏ ngoài màu
nâu nhạt hoặc hồng nhạt, có vân dọc Bên trong là thịt màu hồng hoặc tím, vị hơi ngọt
Hoa nhỏ, lúc non màu trắng, sau hơi vàng, tập trung thành tán tròn ở đầu cành, dài 1,5cm gồm 8 – 10 hoa, hoa mẫu 4 (4 lá đài, 4 cánh hoa, 4 nhị), lúc non màu trắng sau hơi vàng, đài hoa hình chén hoặc hình ống gồm những lá đài nhỏ tam giác đều phát triển không đều Tràng hoa 4 cánh màu trắng, dính liền ở phía dưới thành ống ngắn, nhị đính ở đáy của sống tràng, bầu hạ, vòi chẻ đôi ở đỉnh Mùa hoa vào tháng 5, tháng
0,3-6 Quả hình cầu, rời hoặc dính với nhau, đường kính 6 – 11 cm khi chín màu đỏ, mang đài còn lại ở đỉnh Mùa quả: tháng 7-10 Hạt nhỏ, màu vàng nhạt, vỏ hạt nhám.[2] Ba Kích trồng được 3 năm có thể thu hoạch Thời gian thu hoạch thường vào tháng 10-11
2.1.3.2 Đặc điểm sinh vật học và sinh thái học [7]
Cây Ba Kích thích ứng với nhiều điều kiện sinh thái khác nhau Ở giai đoạn trưởng thành cây ưa sáng, khi cây non 2 tuổi cây ưa bóng Cây sinh trưởng tốt ở điều kiện nhiệt độ từ 22,5° - 23,1°C, độ ẩm không khí từ 82- 89% Lượng mưa từ 1420.7 – 2574.5mm trên năm, Ba kích thích hợp với đất feralit đỏ vàng và đất feralit giầu mùn trên núi, đất thịt ẩm mát
Mùa hoa vào tháng 5 và tháng 6, mùa quả vào tháng 7 đến tháng 10, quả chín từ tháng 11 đến tháng 12, cây tái sinh bằng hạt hoặc bằng chồi Cây mọc hoang dưới tán rừng thứ sinh trong các rừng cây hoặc bụi thưa, ở ven rừng rậm ưa ẩm Thích ở vùng nhiệt đới ẩm có 2 mùa mùa mưa và mùa khô rõ rệt, nhiệt độ không khí mùa mưa là 25- 38 0C, nhiệt độ mùa khô là 8- 24 độ 0C Lượng mưa năm là 1100 – 2000mm Khi còn nhỏ cây chịu bóng, thích hợp độ tàn che từ 0,4- 0,5 ở nơi đất trống cần trồng cây che phủ Trong tự nhiên có 2 loại: Ba kích tím có lõi củ màu tím và Ba kích trắng có lá bầu hơn, lõi củ thường có màu vàng đến hồng vàng, người sử dụng thường ưa chuộng
Ba kích tím hơn cây Ba kích trắng.[4]
Cây sinh trưởng sau 5 đến 7 năm được thu dược liệu, năng suất 8- 12kg củ tươi/gốc, cây càng để lâu năm sản lượng càng cao chất lượng càng tốt Cây Ba Kích
Trang 14được sử dụng rộng rãi như một loại dược liệu quý có tác dụng bổ thận âm, bổ thận dương, tăng cường gân cốt, khử phong thấp, dịch chiết cồn từ củ cây Ba kích có tác dụng giảm huyết áp, tác dụng nhanh với các tuyến cơ năng, bổ trí não giúp ăn và ngủ ngon
Ngày nay, nhu cầu sử dụng loài cây này làm dược liệu đang gia tăng nên nó bị khai thác kiệt quệ Mặt khác, vùng phân bố của cây Ba Kích bị tàn hóa nghiêm trọng khiến loài cây này lâm vào tình trạng gần như tuyệt chủng và đưa vào sách đỏ Việt Nam cần phải được bảo vệ Nguồn cung cấp cây giống Ba Kích hiện nay chủ yếu bằng phương pháp giâm cành nhưng hệ số nhân rất thấp (chỉ đạt 0.61/ năm), chất lượng giống không được cao
2.2 Giá trị của cây ba kích
2.2.1 Giá trị y ho ̣c
Củ Ba kích là loại dược liệu quý dùng trong y học cổ truyền
Tăng sức dẻo dai: Trên thực nghiệm, khi dùng Ba kích với liều 5-10g/kg thể trọng dùng liên tiếp 7 ngày thấy có tác dụng tăng sức dẻo dai cho súc vật thí nghiệm
Tăng sức đề kháng: Ba Kích có tác dụng tăng cường sức đề kháng của
cơ thể đối với các yếu tố độc hại
Đối với người già hoặc những bệnh nhân biểu hiện mệt mỏi, ăn kém, ngủ ít, gầy yếu mà không thấy có những yếu tố bệnh lý gây nên và một số trường hợp có đau mỏi các khớp, Ba Kích có tác dụng tăng lực rõ rệt thể hiện qua những cảm giác chủ quan như giảm mệt mỏi, ăn ngon, ngủ ngon và những dấu hiệu khách quan như tăng cân nặng, tăng cơ lực Đối với bệnh nhân đau mỏi các khớp thì sau khi dùng Ba Kích dài ngày cho thấy có hiệu quả [22]
Chống viêm: Các kết quả nghiên cứu ở chuột cống trắng đã cho thấy ba kích có tác dụng chống viêm rõ rệt
Đối với hệ thống nội tiết, Các thí nghiệm trên chuột lớn và chuột nhắt cho thấy
Ba Kích không có tác dụng kiểu androgen (là kích thích tố đực) nhưng có thể có khả năng tăng cường hiệu lực của androgen hoặc tăng cường quá trình chế tiết hormon androgen [19] Đối với nam giới có hoạt động sinh lý yếu Ba kích có tác dụng làm tăng khả năng giao hợp (đặc biệt đối với những trường hợp giao hợp yếu, ít) Ba kích còn có tác dụng tăng cường sức dẻo dai, mặc dù nó không làm tăng nhu cầu sinh lý, không thấy có tác dụng kiểu androgen Tuy không làm thay đổi tinh dịch đồ nhưng
Trang 15trên thực tế có tác dụng hỗ trợ và cải thiện hoạt động sinh lý cũng như điều trị vô sinh cho nam giới có biểu hiện vô sinh tương đối và suy nhược cơ thể Đối với các trường hợp tinh dịch ít, tinh trùng chết nhiều, không có tinh trùng, không xuất tinh khi giao hợp thì sử dụng Ba kích chưa thấy có kết quả [20]
Theo y học cổ truyền, rễ Ba Kích vị ngọt, cay, hơi ấm không độc, có tác dụng: bổ thận, tráng dương, ích tinh, cường gân cốt, khứ phong thấp, bổ thận
âm, bổ huyết hải, định tâm khí, trừ các loại phong, hóa đờm chủ trị: thận hư, lãnh cảm, lưng gối mỏi, tê bại, phong thấp, thần kinh suy nhược, trúng phong,
ho suyễn, tiêu chảy
Rễ ba kích chiết xuất bằng rượu có tác dụng hạ huyết áp, có tác dụng nhanh đối với các tuyến cơ năng, tăng cường hoạt động của não, giúp ngủ ngon [8]
2.3 Tình hình phát triển nguồn dƣợc liệu và cây Ba Kích ở Việt Nam
2.3.1 Tình hình phát triển nguồn cây dƣợc liệu
Việc khai thác cây thuốc một cách tự phát, mạnh ai người ấy làm, không có kế hoạch, đã làm cạn kiệt nhanh chóng nguồn cây thuốc và nhất là chất lượng dược liệu thu hái không đảm bảo chất lượng Hiện nay nguồn dược liệu từ cây cỏ được khai thác
từ trong nước không đủ dùng để chữa bệnh và sản xuất thuốc mà vẫn phải nhập một khối lượng lớn từ nước ngoài
Trước thực trạng đó, việc trồng cây thuốc để cung cấp nguyên liệu cho nhu cầu
sử dụng ở trong nước đang trở nên cấp bách Cần trồng những cây thuốc bản địa có nhu cầu sử dụng lớn, kể cả di thực cây thuốc của nước ngoài phù hợp với điều kiện thổ
nhưỡng và khí hậu ở Việt Nam
Nằm trong vùng khí hậu gió mùa nóng ẩm nên Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng với khoảng 10.350 loài thực vật bậc cao, 800 loài rêu 600 loài nấm và hơn 2000 loài tảo Kết quả điều tra trong nước đã ghi nhận được 3.948 loài thực vật và nấm lớn có thể dùng làm thuốc trong đó có hàng trục loại có giá trị chữa
Trang 16bệnh cao.Tổng sản lượng dược liệu ở Việt Nam hằng năm ước tính khoảng từ ba đến năm nghìn tấn Một số dược liệu quý được thế giới công nhận và có tiềm năng phát triển rất lớn như: Sâm Ngọc Linh, cây Ba Kích, Trinh Nữ Hoàng Cung, Quế, [23]
Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy đến nay các vùng phân bố tự nhiên của cây thuốc bị suy giảm nghiêm trọng do khai thác một cách cạn kiệt Nhiều vùng rừng có cây thuốc phong phú nay đã hoàn toàn bị phá bỏ, như khu vực núi Hàm Rồng - Sa Pa, Lào Cai, cao nguyên An Khê thuộc hai tỉnh Gia Lai và Bình Ðịnh, nhiều loại có nguy
cơ tuyệt chủng, có 144 loài cây thuốc thuộc diện quý hiếm cần được bảo tồn: Sâm Ngọc Linh, Tam Thất, Ba Kích, Bách Hợp [23] Thực tế, nhiều địa phương có đầy đủ các điều kiện để trồng trọt dược liệu có giá trị cao, nhưng do cách làm manh mún, tự phát, thiếu liên kết và thị trường dược liệu không ổn định nên việc phát triển các vùng dược liệu hiện nay gặp nhiều khó khăn Chính sách bảo tồn nguồn gen, nhất là các cây quý còn quá ít Từ một nước xuất khẩu, Việt Nam trở thành một nước nhập khẩu dược liệu để phục vụ thị trường trong nước Mở rộng diện tích trồng cây thuốc là con đường tất yếu bảo đảm cung cấp đủ dược liệu cho công nghiệp dược trong nước và xuất khẩu
Khó khăn cơ bản cho các đơn vị sản xuất dược liệu hiện nay là nguồn nguyên liệu đầu vào không ổn định, không có khả năng truy nguồn gốc xuất xứ, dược liệu chất lượng kém, dược liệu rác từ biên giới nhập khẩu khó kiểm soát, giá rẻ cho nên dược liệu trong nước có giá cao không cạnh tranh được
Cần phải có một chiến lược khác, nuôi trồng và chế biến hợp lý có thể phát huy giá trị của nguồn tài nguyên quý bấu này trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, đảm bảo tính ổn định trong sản xuất và tạo điều kiện cho 3 nhà „nhà doanh nghiệp - nhà khoa học - nhà nông‟ liên kết chặt chẽ để phát triển hiệu quả
Việt nam có điều kiện khí hậu đất đai phù hợp với việc phát triển nhiều loại cây dược liệu Trong khi đó, các loại dược liệu tự nhiên đã bị khai thác quá mức mà chưa chú ý đến bảo tồn, tái sinh, dẫn đến nguy cơ bị cạn kiệt Để cây dược liệu thực sự trở thành cây mũi nhọn trong tái cơ cấu nông nghiệp cần xây dựng chương trình hỗ trợ của nhà nước để phát triển cây dược liệu thành thế mạnh nông nghiệp đặc trưng lưu trữ những dược liệu quý trước nguy cơ cạn kiệt Với điều kiện thiên nhiên nhiều ưu lãi, Việt Nam có một hệ sinh thái phong phú và đa dạng, có tiềm năng to lớn về tài nguyên cây thuốc Đây cũng là điều kiện thuận lợi để phát triển nguồn dược liệu, cung cấp nguyên liệu cho sản xuất thuốc trong nước Tuy nhiên, cho đến nay, nguồn dược
Trang 17liệu nước ta vẫn phải phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu mà chưa phát huy được hết những tiềm năng thảo dược tự nhiên
2.3.2 Tình hình phát triển cây Ba Kích
Ba kích là cây dược liệu có nhiều công dụng quý, sử dụng lại đơn giản nên nhu cầu về cây ba kích trên thị trường lớn Cây Ba Kích trong rừng tự nhiên bị khai thác quá mức, lạm dụng và không chú ý đến khâu nuôi dưỡng, tái sinh Dẫn đến số lượng cây Ba Kích còn ít thưa thớt thậm chí một số vùng còn không còn nữa.[10]
Trong những năm qua, được sự quan tâm của các nghành chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi ở các huyện miền núi thông qua các chương trình 134, 135 các chương trình này hỗ trợ phát triển kinh tế Cây ba kích được xếp vào nhóm loài cây lâm sản ngoài gỗ Dự án lâm sản ngoài gỗ này do chính phủ Hà Lan tài trợ (1998- 2007) đã được tập huấn, giúp nông dân triển khai mô hình trồng cây Ba Kích tại các tỉnh phía bắc như: Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bắc Giang, Quảng Ninh [3] Do thấy được hiệu quả từ cây Ba Kích đem lại, người dân một số địa phương được triển khai dự án đã tự trồng cây Ba Kích trên đất được giao khoán Tuy nhiên, nguồn giống được mua từ nhiều nơi không rõ nguồn gốc xuất xứ, không kiểm tra được chất lượng
Cây Ba Kích là loài cây đang được phát triển trồng trong vườn nhà,vườn rừng Bởi đây là loài cây ít tốn đất, có khả năng sống chịu bóng, sản phẩm có giá trị, thị trường tiêu thụ không chỉ trong nước mà còn được xuất khẩu Ở nước ta Ba Kích được
sử dụng chủ yếu trực tiếp như ngâm rượu, sắc nước uống Sản phẩm rượu ngâm củ
ba kích được coi là đặc sản của tỉnh Quảng Ninh [10]
Dự kiến phát triển ngành nông lâm nghiệp nước ta là chuyển đổi dần diện tích cây có giá trị kinh tế cao thay thế cây có giá trị kém hơn Ba Kích đang là một trong những đối tượng được lựa chọn để mở rộng diện tích trồng ở các tỉnh phía Bắc trong những năm tới [13]Việc quy hoạch vườn trồng và nguồn giống có xuất xứ, chất lượng hiện nay là việc làm mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn
2.4 Kỹ thuật nuôi cấy mô - tế bào
Nhân giống bằng nuôi cấy mô (propagation by tisue culture), hoặc vi nhân giống (micropropagation) là tên gọi chung cho các phương pháp nuôi cấy in vitro cho các bộ phận nhỏ được tách khỏi cây [15] đang được dùng phổ biến để nhân giống thực vật, trong đó có cây lâm nghiệp Các bộ phận được dùng để nuôi cấy có thể là chồi đỉnh, chồi bên, chồi bất định, bao phấn, phấn hoa, phôi và các bộ phận khác như vỏ
Trang 18cây, lá non, thân mầm (hypocotyl) v.v Song nuôi cấy mô cho chồi bên và chồi bất định là những phương pháp chính được dùng trong nhân giống cây rừng [9]
Ưu điểm chính của nuôi cấy mô là cây mô được trẻ hoá cao độ và có rễ giống như cây mọc từ hạt, thậm chí không có sự khác biệt đáng kể so với cây mọc từ hạt Một ưu điểm khác của nhân giống bằng nuôi cấy mô là có hệ số nhân cao hơn nhân giống hom, từ một cụm chồi sau một năm nuôi cấy mô liên tục có thể sản xuất hàng triệu cây con Hơn nữa, nuôi cấy mô cũng là một trong những biện pháp làm sạch bệnh Vì thế mặc dầu nuôi cấy mô đòi hỏi kỹ thuật phức tạp, giá thành cao, song vẫn được nhiều nơi áp dụng, đặc biệt là phối hợp với giâm hom, tạo thành công nghệ mô-hom đang được sử dụng khá phổ biến trong sản xuất lâm nghiệp [9]
2.4.1 Cơ sở khoa học của phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật
Khái niệm: Nuôi cấy mô, tế bào thực vật là lĩnh vực nuôi cấy các nguyên liệu thực vật hoàn toàn sạch các vi sinh vật trên môi trường nhân tạo, trong ñiều kiện vô trùng [13]
Cơ sở lý luận của phương pháp nuôi cấy mô, tế bào thực vật dựa trên học thuyết về tính toàn năng của tế bào của nhà sinh lý thực vật người Đức Haberlandt (1902) là người đầu tiên đề xuất phương pháp nuôi cấy mô và tế bào thực vật để chứng minh tính toàn năng của tế bào Haberlandt cho rằng mỗi tế bào của bất kỳ sinh vật nào cũng đều có khả năng tiềm tàng để phát triển thành một cơ thể hoàn chỉnh Ông nhận thấy rằng, mỗi tế bào của cơ thể đa bào đều phát sinh từ hợp bào thông qua quá trình phân bào nguyên nhiễm Điều đó có nghĩa là mỗi tế bào của một sinh vật sẽ chứa toàn bộ thông tin di truyền cần thiết của một cơ thể hoàn chỉnh Khi gặp điều kiện thuận lợi nhất định, những tế bào đó có thể sẽ phát triển thành một cơ thể hoàn chỉnh
Miller và Skoog (1956) đã tạo chồi thành công từ mô thuốc lá nuôi cấy, chứng minh được tính toàn năng của tế bào Thành công trên đã tạo ra công nghệ mới: Công nghệ sinh học ứng dụng trong nhân giống vô tính, tạo giống cây trồng và dòng chống chịu Tính toàn năng của tế bào mà Haberlandt nêu ra chính là cơ sở lý luận của phương pháp nuôi cấy mô và tế bào thực vật Cho đến nay, con người đã hoàn toàn chứng minh được khả năng tái sinh một cơ thể thực vật hoàn chỉnh từ một tế bào riêng rẽ
Mỗi tế bào riêng rẽ đã phân hóa đều mang toàn bộ lượng thông tin di truyền cần thiết và đủ của cả cơ thể sinh vật đó Khi gặp điều kiện thích hợp mỗi tế bào đều có thể phát triển thành một cá thể hoàn chỉnh
Trang 19Sự phân hoá tế bào là sự chuyển các tế bào phôi sinh thành các tế bào của mô chuyển hoá, đảm nhận các chức năng khác nhau trong cơ thể Mặc dù các tế bào đã chuyển hoá thành các mô chức năng nhưng chúng vẫn giữ nguyên khả năng phân chia Trong điều kiện thích hợp, các tế bào lại có thể trở về dạng tế bào phôi sinh và phân chia mạnh mẽ Quá trình đó được gọi là phản phân hoá tế bào, (ngược lại với quá trình phân hoá tế bào) Tuy nhiên, khi tế bào đã phân hoá thành các tế bào có chức năng chuyên biệt, chúng không hoàn toàn mất khả năng biến đổi của mình Trong điều kiện cần thiết ở điều kiện thích hợp, chúng lại có thể trở về dạng tế bào phôi sinh và phân chia mạnh mẽ Quá trình đó gọi là phản phân hoá tế bào, ngược lại với quá trình phân hoá tế bào
Quá trình phát sinh hình thái trong quá trình nuôi cấy mô, tế bào thực vật thực chất là kết quả của quá trình phân hóa và phản phân hóa tế bào Kỹ thuật nuôi cấy mô,
tế bào chính là kỹ thuật điều khiển sự phát sinh hình thái của tế bào thực vật một cách định hướng dựa vào sự phân hóa và phản phân hóa của tế bào trên cơ sở tính toàn năng của tế bào thực vật Để điều khiển sự phát sinh hình thái của mô nuôi cấy, người ta thường bổ sung vào môi trường nuôi cấy 2 nhóm hormone thực vật là auxin và cytokinin Nếu tỷ lệ auxin/cytokinin thấp thì sự phát sinh hình thái theo hướng tạo chồi; nếu tỷ lệ này cao thì tạo thành rễ, còn khi tỷ lệ này cân bằng thì sẽ phát sinh theo hướng tạo mô sẹo
2.4.2 Vai trò của một số hormone sử dụng trong nuôi cấy mô tế bào thực vật
Các hormone thực vật là các yếu tố hóa học cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của thực vật Đó là các chất tự nhiên được sinh ra với hàm lượng nhỏ trong cơ thể thực vật hoặc các chất được tổng hợp nhân tạo Các chất này được vận chuyển đến các
cơ quan, bộ phận khác nhau của thực vật để điều tiết sự sinh trưởng của cơ quan, bộ phận đó Trong môi trường nuôi cấy mô tế bào và thực vật, thành phần phụ gia quan trọng nhất quyết định kết quả nuôi cấy là các chất điều hòa sinh trưởng Những hormone đó thuộc các nhóm sau:
- Auxin: Auxin được gọi là hormone sinh trưởng do Went và Thimann (1937) phát hiện, chủ yếu kích thích sinh trưởng của tế bào, nhưng cũng làm tăng phân bào
Có 4 loại auxin thường được dùng trong nuôi cấy mô là: Indolyl Acetic Acid (IAA) tồn tại trong tự nhiên; Naphthyl Acetic Acid (NAA); 2,4–Dichlorphenoxyacetic Acid (2,4-D); Indolyl Butyric Acid (IBA)
Trang 20Auxin có tác dụng điều chỉnh rất nhiều quá trình sinh trưởng của tế bào, cơ quan và toàn cây, kích thích mạnh lên sự dãn của tế bào, kích thích sự hình thành rễ, kích thích sự hình thành và sinh trưởng của quả, tạo quả không hạt, kìm hãm sự rụng của lá, hoa và quả, điều chỉnh hiện tượng ưu thế ngọn, có vai trò quan trọng trong các
cử động sinh trưởng, tính hướng sáng và tính hưởng thủy của thực vật, hoạt hóa tổng hợp ARN
- Cytokinin (hormone phân bào) lần đầu tiên được Skoog (khoảng 1950) phát hiện trong một thí nghiệm chiết xuất acid nucleic bị sơ suất Đó là những cấu tử của acid nucleic bị phân hủy thành 3 loại cytokinin thường được dùng trong nuôi cấy mô là: Kinetin có cấu trúc phân tử là 6-(2-furfuryl)-aminopurin; Zeatin có cấu trúc phân tử
là 6-(4-hydroxy-3-methylbut-2-enyl) aminopurin; BAP (6 benzyl aminopurin)
Cytokinin có vai trò kích thích sự phân chia tế bào, ảnh hưởng đến sự biệt hóa, đặc biệt là sự phân hóa chồi, kìm hãm sự phân hủy diệp lục, protein và acid nucleic do
đó kéo dài tuổi thọ của lá, kích thích sự nảy mầm của chồi hạt và chồi ngủ, kích thích
sự sinh trưởng của chồi bên và loại bỏ ưu thế ngọn, ảnh hưởng đến các quá trình trao đổi chất như quá trình tổng hợp protein, acid nucleic, diệp lục, giúp thực vật chống lại Stress của môi trường, có hiệu quả lên sự phân hóa giới tính cái
- Giberelin: Giberelin được phát hiện vào những năm 1930 Hiện nay, các nhà khoa học đã phát hiện được trên 100 loại thuộc nhóm này, nhưng loại thông dụng nhất trong nuôi cấy mô là acid gibberilic (GA3) Giberelin có vai trò kích thích sự nảy mầm của hạt và củ, kích thích mạnh mẽ sự sinh trưởng về chiều cao của thân, chiều dài của cành, rễ, hoạt hóa cá enzym thủy phân amilase, protease, lipase,…
2.4.3 Ứng dụng nuôi cấy mô tế bào thực vật trong nhân giống cây trồng
Nuôi cấy in vitro là một phương thức nhân giống dựa trên cơ sở của phân bào nguyên nhiễm, lối phân bào về cơ bản không có sự tổ hợp lại của thể nhiễm sắc trong quá trình phân chia, vì thế đây là phương thức nhân giống truyền đạt các biến dị di truyền của cây mẹ cho cây in vitro Cây in vitro không những giữ được các hình thái giải phẫu của cây mẹ, giữ được các biến dị di truyền mong muốn mà còn giữ được các biến dị di truyền về sinh trưởng nhanh và cho năng suất cao của chúng Nhân giống in vitro là phương thức giữ được ưu thế lai đời F1 và khắc phục được hiện tượng phân ly đời F2, nhân giống in vitro làm rút ngắn chu kỳ sinh sản, rút ngắn thời gian thực hiện chương trình cải thiện giống cây trồng và là phương thức nhân nhanh các loài cây quý
Trang 21hiếm đang bị khai thác cạn kiệt
Vì thế, nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy invitro là một trong những công
cụ có hiệu quả nhất cho chọn giống cây trồng, là phương thức đang được áp dụng phổ biến để nhân giống các dòng vô tính có năng suất cao
Nay cùng với công nghệ gen, nuôi cấy mô tế bào là một phần quan trọng không thể thiếu, thúc đẩy ứng dụng công nghệ sinh học trong cải thiện chất lượng giống cây trồng Hai nhiệm vụ lớn của công nghệ sinh học thực vật ở nước ta từ nay tới năm
2020 là: Tạo ra các giống cây trồng mới bằng phương pháp công nghệ sinh học thực vật, đặc biệt là công nghệ gen và nhân nhanh các giống, dòng ưu việt bằng kỹ thuật nuôi cấy mô in vitro
Limmasets và cs (1949), đã phát hiện rằng, ở các cây nhiễm bệnh virus, virus phân bố không đồng nhất trên cây và thường không thấy có virus ở vùng đỉnh sinh trưởng của cây Phát hiện đó là cơ sở để Morel và cs (1952) chứng minh giả thuyết trên bằng cách tạo được cây sạch bệnh virus từ 6 giống khoai tây qua nuôi cấy đỉnh sinh trưởng
Morel (1976) đã thực hiện bước ngoặt khi áp dụng thành công kỹ thuật này trong nhân nhanh các loài Địa Lan Cymbidium thông qua protocom Sau đó, việc phát hiện ra cytokinin và môi trường nuôi cấy cải tiến đã tạo sức sống mới để ứng dụng nuôi cấy đỉnh sinh trưởng trong nhân giống thương mại ở thực vật
Nuôi cấy invitro đã và đang được sử dụng rộng rãi trong sản xuất Nông – Lâm nghiệp ở các nước trên thế giới Cho đến nay công nghệ này đã có các thành tựu rất đáng kể, hàng trăm loài cây lá rộng và hàng trục loài cây lá kim đã được nuôi cấy mô thành công Cho tới năm 1991, Thái Lan đã nhân giống in vitro thành công cho 55 loài trong tổng số 67 loài tre, trúc đem thử nghiệm
Số lượng các loài bạch đàn đã được nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy in vitro ngày càng tăng, đến năm 1987 đã có trên 20 loài bạch đàn khác nhau được nuôi cấy thành công Hiện nay có hơn 22 chi Phong Lan được nhân giống bằng công nghệ invitro Hàng triệu cây dâu tây có thể được tạo ra từ một cây mẹ tốt trong vòng một năm Trung Quốc là nước thành công trong việc tạo cây in vitro cho các loài cây thân gỗ Đến nay đã
có hơn 100 loài cây thân gỗ được nuôi cấy như: bạch đàn, tếch, dương,…
Ở Việt Nam, ngành công nghệ sinh học nói chung, công nghệ nuôi cấy mô và tế bào nói riêng mới được hình thành trong vài trục năm gần đây và được phát triển mạnh
Trang 22mẽ từ năm 1990 đến nay Tuy mới được hình thành nhưng đã có những bước tiến nhanh chóng và bước đầu đã có một số ứng dụng vào sản xuất nông – lâm nghiệp, y học, môi trường,…
Hiện nay, nước ta đã có nhiều cơ sở nhân giống bằng nuôi cấy mô ở quy mô lớn như: Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng, Viện nghiên cứu nguyên liệu giấy Phù Ninh, Trường Đại học Lâm nghiệp, Đại học Nông nghiệp, Viện Công nghệ Sinh học, Viện nghiên cứu khoa học Lâm nghiệp,…
Kỹ thuật nuôi cấy mô, tế bào thực vật đã được ứng dụng rộng rãi trong việc nhân giống các loài hoa, cây cảnh Đặc biệt, trong lĩnh vực nông lâm nghiệp, nuôi cấy
mô đã đạt được một số thành tựu như nuôi cấy tế bào hạt phấn để tuyển chọn giống lúa; nuôi cấy tế bào trần từ khâu tách đến nuôi cấy, tái sinh cây hoàn chỉnh trên các đối tượng: cà chua, cài dầu, khoai tây, lúa, lúa mì,…; dung hợp thành công tế bào trần cà chua với tế bào trần khoai tây; nuôi cấy mô tế bào thực vật sản xuất cây giống chuối tiêu hồng sạch bệnh; tuyển chọn và nhân nhanh giống khoai tây sạch bệnh; ứng dụng phương pháp nuôi cấy lớp mỏng tế bào từ đốt thân mầm và đốt tủ diệp của cây điều; nhân giống một số cây lâm nghiệp mới như lát hoa, keo lai tự nhiên, bạch đàn nhân tạo; nhân giống cây hoa Địa Lan Cymbidium, cây hoa Cúc, cây hoa Cẩm Chướng, hoa
Đồng Tiền, cây hoa Lily, Lan Dendrobium anosmum, Dendrobium mini,
2.5 Những nghiên cứu nhân giống nuôi cấy in vitro cây Ba Kích
2.5.1 Trên thế giới
Ba Kích phân bố tự nhiên ở các nước Đông Nam Á, chủ yếu tập trung ở Lào, Trung Quốc, Việt Nam Trung Quốc là nước có nền Đông dược phát triển từ rất lâu đời, Ba Kích là một trong nhiều loại dược liệu dược quan tâm khai thác và phát triển
từ kỹ thuật nhân giống, gây trồng đến kỹ thuật chế biến dược liệu Về nghiên cứu nuôi cấy mô cây Ba Kích đã được nhiều tác giả đề cập đến:
Nghiên cứu tái sinh cây Ba Kích bằng phương pháp nuôi cấy mô He Hong và cộng sự (2000) cho rằng: với vật liệu là đoạn chồi ngọn khi khử trùng bằng HgCl20,1% với thời gian từ 10 đến 15 phút cho kết quả 32,8% mẫu đạt Môi trường nuôi cấy
bổ sung 1mg/l BAP có hiệu quả cho việc tái sinh chồi, trên môi trường này 97,5% mẫu tạo chồi [17]
Trang 23Chen Wei XuLi, Zhiying Li Kelie (2006) nghiên cứu nhân nhanh cây Ba Kích
đã cho kết luận: môi trường nhân nhanh hiệu quả là môi trường MS bổ sung 1,0 mg/l
BA và 0,2 mg/l IBA với hệ số nhân chồi đạt 6 lần sau 50 ngày nuôi cấy [16]
Huang Ning-Zhen và cộng sự (2007) nghiên cứu kỹ thuật nhân giống cây Ba Kích bằng nuôi cấy mô, các tác giả kết luận rằng tạo rễ cho cây Ba kích in vitro hiệu quả trên môi trường 1/2MS bổ sung 0,4-0,8 mg/l IBA với tỷ lệ ra rễ đạt 100%, cây ra ngôi được cấy trên cơ chất là cát hoặc đất tỷ lệ sống đạt 90%
2.5.2 Ở Việt Nam
Nguồn giống cây Ba kích hiện nay chủ yếu được nhân giống bằng phương pháp truyền thống giâm cành từ cây mẹ để lại từ vụ trước Một số nơi nhập nội giống (như ở Quảng Ninh chủ yếu là nhập từ Trung Quốc) tuy nhiên nguồn gốc giống không được kiểm soát, không có xuất xứ rõ ràng, giá thành lại khá cao Những nghiên cứu nhân giống Ba kích bằng phương pháp nuôi cấy nuôi cấy mô ở trong nước còn khá hạn chế
Đặng Ngọc Hùng (2009) bước đầu nghiên cứu môi trường nuôi cấy in vitro cho cây Ba kích đã kết luận môi trường nuôi cấy thích hợp là môi trường MS với tỷ lệ mẫu phát sinh chồi là 62% sau 60 ngày nuôi cấy, số chồi trung bình trên mẫu đạt 1,14 chồi, chiều cao trung bình chồi đạt 1,67cm [4]
Võ Châu Tuấn, Huỳnh Minh Tư (2010) nghiên cứu nhân giống in vitro cây ba kích đã kết luận rằng môi trường cơ bản MS bổ sung 3,5 mg/l BAP và 0,2 mg/l IBA thích hợp cho nhân nhanh chồi in vitro cây Ba kích, số chồi trung bình trên mẫu đạt 15 chồi, chiều cao trung bình chồi đạt 1,97 cm sau 60 ngày nuôi cấy Môi trường cơ bản
MS bổ sung 0,2mg/l IBA thích hợp cho tạo rễ in vitro, 100% số chồi tạo rễ sau 30 ngày nuôi cấy [12]
Hoàng Thị Thế và cộng sự (2013) nghiên cứu nhân giống cây ba kích tím đã cho thấy rằng môi trường MS bổ sung 0,25mg/l kinetin, 1,0mg/l BA thích hợp cho tái sinh chồi từ đoạn thân, 96,86% mẫu tạo chồi, sau 30 ngày nuôi cấy đạt 2.65 chồi/mẫu Môi trường thích hợp cho nhân nhanh chồi ba kích là môi trường MS bổ sung 3,0mg/l
BA, 0,2mg/l IBA, 10mg/l riboflavin, kết quả sau 45 ngày nuôi cấy hệ số nhân chồi đạt 10,13 lần Môi trường thích hợp cho ra rễ ba kích in vitro là môi trường MS bổ sung 0,2mg/l IBA, 2g/l than hoạt tính, 100% chồi ra rễ, đạt trung bình 3,5 rễ/chồi Cây in
Trang 24vitro đưa ra vườn ươm sau 60 ngày trên giá thể gồm 50% sơ dừa và 50% phế thải trồng nấm, tỉ lệ cây sống đạt 96,1%
Tuy đã được một số tác giả đề cập đến, song các nghiên cứu về nuôi cấy mô cây Ba kích chủ yếu ở quy mô phòng thí nghiệm, các tác giả khác nhau đưa ra các kết luận khác nhau về từng giai đoạn nhân giống in vitro, để ứng dụng vào sản xuất cần phải có những nghiên cứu kiểm chứng, hoàn thiện, đặc biệt trong giai đoạn thích ứng cây in vitro
Trên cơ sở tổng hợp những thông tin về các công trình nghiên cứu nhân giống cây ba kích bằng phương pháp nuôi cấy mô trong và ngoài nước, đề tài chú trọng đến nguồn tài liệu ở những kết quả nghiên cứu trong nước để phân tích và ứng dụng kết quả nghiên cứu cụ thể về những yếu tố môi trường tác động tới giai đoạn nhân nhanh, gia đoạn ra rễ và kỹ thuật huấn luyện cây ngoài vườn ươm Từ đó, đề tài tập hợp tiến hành đánh giá ảnh hưởng của một số nồng độ kích thích sinh trưởng tới giai đoạn nhân nhanh và giai đoạn ra rễ đã được các tác giả khuyến nghị
Ngoài những nghiên cứu kiểm chứng, đề tài còn tiến hành đánh giá ảnh hưởng của loại giá thể tới giai đoạn huấn luyện cây con ngoài vườn ươm nhằm đạt được tỷ lệ sống của cây khi đưa ra sản xuất, đồng thời xác định loại giá thể nhằm mục tiêu cho cây sinh trưởng nhanh hơn, chất lượng tốt hơn theo hướng sử dụng loại giá thể hữu cơ qua tận dụng nguồn nguyên, phụ liệu của sản xuất nông nghiệp
Trang 25PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng, phạm vi và vật liệu nghiên cứu
* Dụng cụ
- Dụng cụ thủy tính: bình tam giác, ống đong, đũa thủy tinh, đèn cồn,
- Dụng cụ inox: đĩa cấy, pince gắp mẫu, kéo, dao, …
Trang 26- Đường sucrose, agar Môi trường MS (Murashige & Skoog, 1962), các chất kích thích sinh trưởng nhóm cytokinin: BAP, nhóm auxin: IBA, các vitamin, axit HCl, NaOH, than hoạt tính, đường saccaroza, agar,…
* Vật liệu dùng trong thí nghiệm thích ứng cây
- Đất được đập nhỏ và dùng sàng có kích thước đường kính mắt sàng 4mm để sàng loại bỏ rễ cây, sỏi đá, rác Vụn sơ dừa được ngâm nước nhằm khử tanin trong 1 tuấn, mỗi ngày thay nước mới 1 lần, sau đó phơi khô Trấu hun sao cho vỏ trấu đen thành than nhưng vẫn giữ hình dạng vỏ trấu Cát được rửa sạch và phơi khô
- Trộn giá thể theo các công thức thí nghiệm khác nhau, đóng vào bầu nilon có kích thước 8 x 13 cm
3.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Các giai đoạn nhân giống in vitro được tiến hành tại phòng thí nghiệm Nuôi cấy
mô tế bào thực vật, Bộ môn Sinh học ứng dụng, khoa Nông – Lâm
Các thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến giai đoạn ra cây được thực hiện tại vườn ươm Khoa Nông – Lâm, Trường Đại học Tây Bắc
3.2.2 Thơ ̀ i gian nghiên cứu: Từ tháng 12/2015 đến tháng 10/2016
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Nội dung 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của BAP đến khả năng nhân chồi cây Ba Kích tím in vitro
- Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của IBA đến khả năng ra rễ cây Ba Kích tím in vitro
- Nội dung 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của loại giá thể đến khả năng thích ứng cây Ba Kích in vitro
3.4 Phương pháp nghiên cứu
- Điều kiện thí nghiệm: Tiến hành trong điều kiện nhân tạo với thời gian chiếu sáng 12 giờ/ngày, nhiệt độ: 270C
- Môi trường MS được chuẩn bị gồm 5 phần: MS1, MS2, MS3, MS4, MS5 Thành phần các chất trong môi trường MS và nồng độ các chất trong dung dịch mẹ được trình bày ở phụ lục 1
- Môi trường cơ bản MS (Murashige và Skoog, 1962), 8 g/l agar, 30 g/l đường saccharose, bổ sung than hoạt tính và các chất kích thích sinh trưởng ở các nồng độ
Trang 27khác nhau tùy nội dung thí nghiệm, pH môi trường 5,8
- Rót môi trường nuôi cấy vào các bình tam giác dung tích 250ml, mỗi bình chứa 30ml môi trường nuôi cấy
- Hấp khử trùng môi trường nuôi cấy ở áp suất 1atm, nhiệt độ 117 oC trong 15 phút
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của BAP tới khả năng nhân chồi cây
ba kích in vitro
Môi trường nền: MS + đường 30g/l + agar 6g /l
- Thí nghiệm gồm 4 công thức khác nhau về nồng độ BAP như sau:
STT Công thức thí nghiệm Nồng độ BAP (mg/l) Tổng số lượng mẫu
- Sau sáu tuần nuôi cấy, các chỉ tiêu theo dõi được tổng hợp và phân tích kết quả Các chỉ tiêu theo dõi: tỷ lệ mẫu tạo chồi, số chồi trung bình/mẫu, số lá trung bình/chồi, chiều cao trung bình chồi
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của IBA tới khả năng ra rễ cây ba kích in vitro
- Môi trường nuôi cấy cơ bản: MS + đường 30g/l + 0,4 g/l than hoạt tính
- Thí nghiệm gồm 5 công thức khác nhau về nồng độ IBA như sau:
STT Công thức thí nghiệm Nồng độ IBA Tổng số lượng mẫu