Phạm vi nghiên cứu: trên cơ sở mục tiêu của chương trình khung, tác giả xây dựng bài giảng, giáo án, hệ thống bài tập thực hành, tài liệu học tập, câu hỏi trắc nghiệm khách quan áp dụng
Trang 1TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
Đề tài: Thiết kế bài giảng điện tử và biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan
cho Mô đun lập trình Java theo quan điểm tích hợp
Tác giả luận văn: Lê Thị Hiếu Khoá: 2009 - 2011
Người hướng dẫn: PGS Thái Thế Hùng
1 Lý do chọn đề tài:
Do thực tiễn dạy học lập trình Java chưa phù hợp với xu thế phát triển của ngành Công nghệ thông tin, phương pháp dạy học tích hợp hầu như chưa được ứng dụng, tác giả lựa chọn đề tài này nhằm ứng dụng quan điểm tích hợp vào dạy học, thiết kế chương trình học sao cho gần gũi với thực tiễn hơn
2 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: chọn lọc kiến thức để xây dựng chương trình học vừa đảm
bảo bám sát mục tiêu chương trình khung vừa đảm bảo chương trình học gần với thực
tế, vận dụng các phương pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả học tập
Đối tượng nghiên cứu: sinh viên trình độ cao đẳng nghề, ngành Quản trị mạng Phạm vi nghiên cứu: trên cơ sở mục tiêu của chương trình khung, tác giả xây dựng
bài giảng, giáo án, hệ thống bài tập thực hành, tài liệu học tập, câu hỏi trắc nghiệm khách quan áp dụng cho dạy học lập trình Java trong trường cao đẳng nghề
3 Nội dung chính và đóng góp mới của tác giả:
Luận văn gồm các phần:
Mở đầu
Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương II: Phân tích môn học và lựa chọn phương pháp dạy học
Chương III: Các kết quả đạt được
Kết luận và kiến nghị
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã:
Trang 2- Biên soạn bộ giáo án, bài giảng cho môđun Lập trình Java theo quan điểm tích hợp, gồm 7 chương và một số phụ lục bổ sung kiến thức
- Thiết kế tài liệu học sinh dùng để học tập trên lớp dưới dạng điền khuyết
- Xây dựng bộ 375 câu hỏi trắc nghiệm khách quan, bao quát nội dung lý thuyết của môn học, phân chia thành nhiều mức độ vận dụng kiến thức
- Thiết kế hệ thống ví dụ, bài tập thực hành nhằm rèn luyện kỹ năng trên lớp
- Xây dựng ứng dụng Easy English, website Vui học tiếng Anh để làm mẫu, hướng dẫn học sinh áp dụng lý thuyết vào sản phẩm thực tế
- Xây dựng website tự học Java căn bản, giúp ích cho việc tự học và tạo cơ hội học lập trình Java cho mọi người
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến đánh giá, tư vấn, trao đổi kinh nghiệm từ các giáo viên dạy học kỹ thuật lâu năm, đặc biệt là giáo viên công nghệ thông tin
- Phương pháp tổng hợp kinh nghiệm bản thân: phân tích, tổng hợp thực tiễn quá trình giảng dạy các môn lập trình, dựa vào hiểu biết về đối tượng người học, kết quả đạt được và kinh nghiệm bản thân để lựa chọn phương pháp xây dựng đề tài
- Phương pháp thực nghiệm: Tổ chức lên lớp, lấy kết quả đánh giá kiểm chứng
5 Kết luận:
Tác giả đã hoàn thành công trình nghiên cứu, kết quả là các sản phẩm nói trên Tuy nhiên trong quá trình thực hiện luận văn có sự thay đổi về nghề nghiệp nên chưa có điều kiện tiến hành áp dụng vào thực tế để đánh giá hiệu quả
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 3
1.1 Cơ sở lý luận của phương pháp dạy học theo quan điểm tích hợp 3
1.2 Các phương pháp dạy học .8
1.3 Bài giảng điện tử 26
1.4 Phép trắc nghiệm khách quan 31
1.5 Thực tiễn dạy học Java 37
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH MÔN HỌC VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ……….42
2.1 Phân tích nội dung và đặc điểm môđun 42
2.2 Phối hợp các phương pháp dạy học truyền thống 49
2.3 Kế hoạch tiến hành dạy học môđun Lập trình Java 49
2.4 Kế hoạch và phương pháp cụ thể cho môn học Java 51
CHƯƠNG III: CÁC KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 58
3.1 Giáo án, bài giảng 58
3.2 Tài liệu học sinh 77
3.3 Bộ bài tập ví dụ và ứng dụng mẫu 79
3.4 Bộ câu hỏi trắc nghiệm 87
3.5 Website tự học 93
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh nhà trường chuẩn bị thành lập khoa Quản trị mạng, tôi và các giáo viên khác được cung cấp chương trình khung ngành Quản trị mạng, trình độ cao đẳng do Tổng cục dạy nghề ban hành Trong các môn học được trình bày, Java
là một môn học mà hầu hết giáo viên trong trường đều không biết Một số giáo viên không được học môn học Lập trình Java Các giáo viên đã học Java chỉ biết các câu lệnh Java căn bản, không thể viết ứng dụng, xây dựng trang web, làm việc với Graph, so với yêu cầu trong chương trình khung chưa thể đáp ứng được Hơn nữa, dạy học Lập trình Java theo quan điểm tích hợp chưa được thực hiện rộng rãi, các bài tập trắc nghiệm và ví dụ tham khảo môn Lập trình Java bằng tiếng Việt chưa có nhiều Xuất phát từ thực trạng đó, tôi lựa chọn đề tài “Thiết kế bài giảng điện tử và xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan cho môdun Lập trình Java theo quan điểm tích hợp”
Thực hiện đề tài này không chỉ giúp tôi củng cố lại kiến thức cũ, nghiên cứu thêm kiến thức mới, luyện tập kỹ năng viết ứng dụng mà còn có thể biến kết quả nghiên cứu của mình thành sản phẩm giúp cho việc dạy học Java trở nên gần gũi hơn, dễ dàng hơn
2 Mục đích của đề tài:
Mục đích của đề tài là tìm hiểu và chọn lọc kiến thức để xây dựng bộ bài giảng, giáo án, hệ thống bài tập sao cho vừa bám sát mục tiêu chương trình khung, vừa đảm bảo vừa sức với đối tượng người học, vận dụng các phương pháp giảng dạy và thiết kế bài giảng, giáo án, chương trình dạy học, nhằm tạo ra chất lượng dạy học
Mục đích thứ hai của đề tài là tạo ra khả năng tự học cho học sinh, sinh viên, cung cấp tài liệu, hệ thống câu hỏi, bài tập ví dụ để học sinh tự củng cố
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng người học: Sinh viên trình độ Cao đẳng, nghề Quản trị mạng nói riêng và các nghề khác trong lĩnh vực công nghệ thông tin
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu xây dựng bài giảng theo mục tiêu của chương trình khung, hệ thống các hình ảnh mô phỏng, minh hoạ, các ví dụ, bài tập thực
Trang 5hành, ứng dụng mẫu, website mẫu, bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhằm nâng cao chất lượng dạy học, đảm bản phù hợp với năng lực của đối tượng người học
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến đánh giá, tư vấn từ các giáo viên dạy học
kỹ thuật lâu năm, đặc biệt là công nghệ thông tin, đúc rút kinh nghiệm để xây dựng kế hoạch dạy học và xây dựng đề tài
- Phương pháp tổng hợp kinh nghiệm bản thân: phân tích, tổng hợp thực tiễn quá trình giảng dạy các môn lập trình cho đối tượng Cao đẳng - trung cấp nghề, dựa trên hiểu biết về đối tượng người học, kết quả đạt được nhờ vận dụng kinh nghiệm bản thân để lựa chọn phương án xây dựng đề tài
- Phương pháp thực nghiệm: tổ chức lên lớp, lấy kết quả đánh giá kiểm chứng của giáo viên trong bộ môn
5 Giả thiết khoa học:
Nếu đề tài thành công sẽ được áp dụng để nâng cao hiệu quả đào tạo môn Lập trình Java cho học sinh cao đẳng nghề Quản trị mạng nói riêng, học sinh trình độ cao đẳng nghề nói chung
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
- Ý nghĩa khoa học: lần đầu tiên nghiên cứu xây dựng bài giảng Lập trình Java theo quan điểm tích hợp Lần đầu tiên biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan, hệ thống bài tập ví dụ và ứng dụng mẫu
- Ý nghĩa nghĩa thực tiễn: áp dụng vào quá trình dạy học Java trong trường cao đẳng nghề
7 Cấu trúc luận văn:
Mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Phân tích môn học và lựa chọn phương pháp dạy học
Chương 3: Các kết quả đạt được
Kết luận và kiến nghị
Trang 6CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO QUAN
ĐIỂM TÍCH HỢP
1.1.1 Khái niệm “Tích hợp”
Trong nhiều tài liệu khác nhau có các khái niệm về tích hợp như sau:
Theo Từ điển Tiếng Việt, tích hợp là dồn chung lại, là sự phối hợp lắp ghép các bộ phận khác nhau của một hệ thống, nhưng vẫn đảm bảo xứng hợp, cũng như chức năng của toàn hệ thống
Theo Triết học, tích hợp là quá trình tăng cường mối liên kết lẫn nhau giữa các thành phần thống nhất cùng trong một tổng thể
Theo Logic học, Tích hợp là sự thống nhất của các thành phần bất kỳ nào đó trong một chỉnh thể
Theo Bách khoa toàn thư, tích hợp là một mặt của quá trình phát triển, thống nhất các phần tử khác nhau (có thể là các thành phần của các hệ thống trước đó) trong một hệ thống thống nhất, có đặc tính thống nhất và tổ chức cao hơn
Như vậy, ta có thể nói tích hợp là sự xây dựng một chỉnh thể hoàn chỉnh từ những phần được rút ra từ các chỉnh thể độc lập khác Chỉnh thể hoàn chỉnh đó có tính chất trội độc lập của nó Tính trội đó thể hiện các tính chất của các chỉnh thể độc lập, nhưng không phải là phép cộng những thuộc tính của các chỉnh thể đó.”
1.1.2 Dạy nghề theo quan điểm tích hợp
Khi dạy lý thuyết và thực hành riêng, các môn học lý thuyết được coi là các môn đại cương, do giáo viên lý thuyết đảm nhận Các môn học thực hành được coi
là các môn học chuyên ngành, do giáo viên thực hành đảm nhận Các môn học lý thuyết phải được học hết trước khi chuyển sang các môn học thực hành, do đó nhà trường cần có khu lý thuyết và thực hành riêng biệt Khi chuyển sang học thực hành, học sinh không phải học môn học lý thuyết nào nữa và cũng không học ở khu
lý thuyết nữa, do đó trong khu thực hành vẫn phải có phòng học để ôn tập lại kiến thức cần thiết phục vụ cho các bài thực hành
Khác với quan điểm dạy học cũ là dạy học lý thuyết và thực hành tách biệt, hoặc mỗi bài học, môn học chỉ áp dụng một vài phương pháp dạy học kinh điển, thì
Trang 7tích hợp ở đây lại kết hợp cả lý thuyết, thực hành, cả các phương pháp dạy học với nhau nhằm đạt được mục tiêu dạy học, nâng cao hiệu quả dạy học
Tích hợp nội dung có thể hiểu là phối kết hợp các môn học hay các phần kiến thức của môn học vào một hệ thống thống nhất nhằm hình thành ở người học mộ t
hệ thống kiến thức, kỹ năng mới có chất lượng hơn, thành phần nội dung của hệ thống mới liên kết với nhau chặt chẽ hơn so với hệ thống cũ, tạo điều kiện rút ngắn thời gian đào tạo, tăng khả năng trang bị thêm các lĩnh vực kiến thức mới
1.1.2.2 Tích hợp phương pháp:
Một môn học nói chung, bài học nói riêng có nhiều phần lý thuyết, thực hành đan xen nhau Mỗi phần kiến thức trong một bài học lại có tính chất khác nhau, người dạy không thể chỉ áp dụng một phương pháp cụ thể nào, mà phải linh hoạt vận dụng nhiều phương pháp phù hợp vào dạy học, nhằm tăng tối đa khả năng tiếp thu, lĩnh hội cho người học Tích hợp về phương pháp trong dạy nghề dựa trên nội dung của môn học, trên đối tượng người học và mục tiêu dạy học
Khi vận dụng các phương pháp dạy học truyền thống, các phương pháp dạy học tích cực nhằm truyền thụ kiến thức, kỹ năng và thái độ cho người học, người giáo viên phải vận dụng sáng tạo và phối hợp hài hoà các phương pháp nhằm làm cho người học phát huy hết tính tích cực chủ động sáng tạo trong lĩnh hội kiến thức
- kỹ năng
1.1.2.3 Ưu điểm của dạy nghề theo quan điểm tích hợp:
- Dạy nghề theo quan điểm tích hợp giúp tiết kiệm thời gian giảng dạy
Với việc tích hợp nội dung, các phần kiến thức chung, trùng lặp ở các môn học, mođun sẽ được giản lược, chỉ dạy một lần, không phải lặp đi lặp lại nhiều lần nữa Chúng ta có thể thấy rõ điều này khi kết hợp môn học lý thuyết và thực hành Nếu dạy lý thuyết riêng rồi mới dạy thực hành, thì học sinh dễ quên kiến thức đã học ở môn lý thuyết, bắt buộc phải nhắc lại toàn bộ kiến thức đó trong
Trang 8môn học thực hành Với mỗi bài thực hành, giáo viên phải dành ra 25 ÷ 30% thời gian để ôn tập lại kiến thức cũ, hoặc có thể nhiều hơn
Khi kết hợp hai môn học này lại thành một môn học, thì thời gian dạy lý thuyết giảm đi, thời gian thực hành tăng lên Sau khi giới thiệu xong lý thuyết, giáo viên hướng dẫn học sinh thực hành luôn, vừa có thể rút ngắn thời gian học, vừa tăng hiệu quả lĩnh hội cả lý thuyết lẫn thực hành Học sinh sau khi học lý thuyết được vận dụng ngay trên bài thực hành sẽ nhanh hiểu hơn, thời gian thực hành tăng lên sẽ giúp người học luyện tập các thao tác thuần thục hơn, đặc biệt lý thuyết mới nếu được áp dụng ngay vào thực hành thì sẽ nhớ lâu hơn
Dạy tích hợp lý thuyết và thực hành nghề phù hợp với quy luật nhận thức của
chủ nghĩa Mác Lê nin : “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện tượng khách quan.” Cách dạy học này giúp học sinh có
thêm hứng thú, chủ động sáng tạo trong học tập
- Kỹ năng nghề được nâng cao cho học sinh: Thời gian lý thuyết giảm đi, thời gian thực hành tăng lên là một lợi thế của dạy học theo quan điểm tích hợp Ngay sau khi giáo viên cung cấp kiến thức mới, lý thuyết sẽ được kiểm chứng ngay bằng thực hành Giáo viên có thể tăng thời gian, số lần làm mẫu, học sinh
có thể tăng thời gian, số lần thực hành
- Nâng cao khả năng phối hợp nhiều lĩnh vực kiến thức vào giải quyết vấn đề: tích hợp nội dung nhiều môn học giúp cho học sinh bao quát được kiến thức, có khả năng ứng dụng kiến thức trên diện rộng để giải quyết vấn đề nhanh hơn, đa dạng, linh hoạt hơn
- Nâng cao tinh thần tích cực học tập cho học sinh: Những giờ học lý thuyết kéo dài, trùng lặp sẽ làm người học cảm thấy nhàm chán, thiếu thực tế Với phương pháp dạy học tích hợp, học sinh sớm được bắt tay vào thực hành hơn, luyện tập nhiều hơn, do đó họ sẽ cảm thấy việc học thực tế, ý nghĩa hơn
- Đòi hỏi giáo viên phải toàn diện và không ngừng nâng cao trình độ Nếu dạy lý thuyết và thực hành riêng, phần lý thuyết sẽ do giáo viên lý thuyết hướng dẫn, phần thực hành sẽ do giáo viên thực hành hướng dẫn, do đó không đòi hỏi người dạy phải giỏi cả lý thuyết lẫn thực hành Nhưng trong dạy học tích hợp, chỉ có một giáo viên hướng dẫn cả lý thuyết lẫn thực hành, do đó đòi hỏi giáo viên phải
Trang 9toàn diện, vững cả kiến thức lẫn thực hành, nhiệt tình trong giảng dạy, có năng lực sư phạm, có trách nhiệm tự trau dồi và nâng cao năng lực bản thân
1.1.3 Các bước xây dựng bài giảng theo nguyên lý tích hợp:
Hình vẽ sau trình bày quy trình xây dựng bài giảng theo nguyên lý tích hợp:
Hình 1.1: Quy trình xây dựng bài giảng theo nguyên lý tích hợp
Qua sơ đồ trên, ta có thể thấy quy trình xây dựng bài giảng bao gồm các bước sau:
- Bước 1: Xác định mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể cho bài giảng trên cơ sở mục
tiêu của toàn môn học Phải trả lời được câu hỏi: sinh viên hoàn thiện được kỹ năng gì khi học xong bài này, đồng thời cụ thể hoá sinh viên cần hình thành mức
độ về kiến thức, kỹ năng, thái độ gì qua từng đề mục của bài giảng
- Bước 2: Xác định hệ thống kiến thức kỹ năng của bài giảng theo mục tiêu đã
xác định, cụ thể hoá lý thuyết và kỹ năng nghề theo từng mục tiêu thành phần trên cơ sở sản phẩm cụ thể, máy thiết bị với trình độ công nghệ hiện tại
- Bước 3: Xây dựng trình tự nội dung kiến thức, kỹ năng hợp lý khoa học, liên
kết kiến thức các môn học liên quan, thiết lập mối quan hệ giữa chúng
Xác định hệ thống kiến thức, kỹ năng theo mục tiêu
Xây dựng trình tự nội dung kiến
Kiểm tra tính hợp lý
Biên soạn các tài liệu giảng dạy
Đúc rút kinh nghiệm
Xác định mục tiêu chung, mục tiêu
cụ thể của bài giảng
Trang 10- Bước 4: Hoàn thành nội dung bài giảng theo phương pháp tích hợp Thực hiện
đầy đủ cấu trúc của một bài giảng (thường bao gồm phần hướng dẫn thường xuyên, hướng dẫn kết thúc)
- Bước 5: Xác định thời gian tiến hành nội dung bài giảng theo chương trình
Trong bước này giáo viên xác định hợp lý thời gian lên lớp ban đầu bằng phương pháp tích hợp trên cơ sở xác định thời gian từng đề mục phù hợp với khối lượng kiến thức kỹ năng cần cung cấp
- Bước 6: Lựa chọn, phối kết hợp các phương pháp dạy học nhằm truyền tải nội
dung bài giảng đến sinh viên có hiệu quả nhất
- Bước 7: Kiểm tra tính hợp lý cả về nội dung và phương pháp thực hiện bài
giảng theo phương pháp tích hợp trên cơ sở các nguyên tắc đã nêu, đồng thời tính đến yếu tố thực tiễn của trường như nhà xưởng, phòng thực hành, thiết bị máy móc, thiết bị dạy học
- Bước 8: Biên soạn các tài liệu giảng dạy Giáo viên phải có đủ hồ sơ giảng dạy
theo qui định chung của khoa, trường, bao gồm: Giáo án, bài giảng, giáo trình,
kế hoạch thực hiện bài giảng, sổ lên lớp, phiếu hướng dẫn
- Bước 9: Giáo viên đúc rút kinh nghiệm thực hiện sau khi kết thúc bài giảng,
đánh giá ưu nhược điểm trong quá trình tiến hành bài giảng, những kiến thức, kỹ năng cần bổ sung cho bài giảng
1.1.4 Yêu cầu của dạy nghề theo quan điểm tích hợp
Dạy nghề theo phương pháp tích hợp lý thuyết và thực hành nghề được tiến hành đồng thời tại xưởng thực hành, do đó nơi học tập cần đạt các yêu cầu sau:
- Thiết kế phòng học phải phù hợp với việc học cả lý thuyết lẫn thực hành
- Phòng đủ ánh sáng, diện tích thông thoáng, đủ chỗ ngồi cho sinh viên, thiết bị trong phòng học phải phù hợp với chuyên môn nghề, người học cảm nhận được
sự thoải mái, hứng khởi khi vào phòng học
- Trang bị đầy đủ đồ dùng, phương tiện dạy học hiện đại như trực quan máy
chiếu, vật thật, mô hình, bản vẽ, …
- Bàn ghế, phương tiện học lý thuyết phải đặt ở vị trí phù hợp, thuận lợi cho việc
đi lại trong xưởng, không ảnh hưởng đến không gian thực hành
- Giáo viên phải vững cả lý thuyết và thực hành, có kỹ năng dạy học tốt
Trang 111.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Phương pháp dạy học là tổ hợp cách thực hoạt động của thày và trò trong quá trình dạy học, thày giữ vai trò chủ đạo, trò đóng vai trò tích cực chủ động nhằm đạt được mục tiêu dạy học
1.2.1 Phương pháp dạy học truyền thống:
1.2.1.1 Phương pháp thuyết trình
Thuyết trình là phương pháp giáo viên sử dụng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để cung cấp cho người học hệ thống thông tin về nội dung học tập Người học tiếp nhận hệ thống thông tin đó từ người dạy và xử lý chúng tuỳ theo tính chủ thể người học và nhu cầu của người học Phương pháp thuyết trình bao gồm:
- Phương pháp giảng thuật: Miêu tả, trần thuật phối hợp với phương tiện trực quan
- Phương pháp giảng giải: Dùng luận cứ số liệu chứng minh một hiện tượng,
một vấn đề
- Phương pháp giảng diễn: Trình bày một vấn đề hoàn chỉnh có tính chất phức
tạp với thời gian dài
Cấu trúc của phương pháp thuyết trình:
Hình 1.2 mô tả cấu trúc của phương pháp thuyết trình
Hình 1.2: Cấu trúc của phương pháp thuyết trình
Trong sơ đồ này, phương pháp thuyết trình được thực hiện qua các bước:
- Đặt vấn đề: thông báo vấn đề, định hướng dưới dạng tổng quát nhằm kích
thích sự chú ý ban đầu của học sinh
- Giải quyết vấn đề: giáo viên giải quyết bằng một trong hai con đường: quy nạp
hoặc diễn dịch
Nêu vấn đề Phát biểu vấn đề Giải quyết vấn đề Kết luận Phương pháp quy nạp Phương pháp diễn dịch
Trang 12- Kết luận: đây là giai đoạn kết thúc của việc trình bày và giải quyết vấn đề Kết
luận phải là sự kết tinh dưới dạng cô đọng, chính xác, đầy đủ nhưng khái quát nhất bản chất của vấn đề đưa ra; chỉ ra được lĩnh vực và phạm vi ứng dụng
Yêu cầu của phương pháp thuyết trình:
- Nội dụng trình bày phải chính xác, nêu bật bản chất của vấn đề
- Đảm bảo tính logic
- Giải thích rõ khái niệm, các từ kỹ thuật mới
- Ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu
- Thu hút và duy trì sự chú ý của học sinh qua giọng nói
- Kết hợp lời nói với điệu bộ, nét mặt
- Bảo đảm cho học sinh ghi chép nội dung cần thiết
Ưu điểm của phương pháp thuyết trình:
- Có thể truyền đạt được nội dung khó, bổ sung cập nhật kiến thức mới
- Giúp học sinh nắm được tư duy logic, cách đặt vấn đề, giải quyết vấn đề
- Giáo viên tác động trực tiếp đến tâm tư, tình cảm của học sinh
- Truyền đạtđược lượng thông tin lớn, cho nhiều người học một lúc
- Đảm bảo kinh tế, chi phí ít
Nhược điểm của phương pháp truyết trình:
- Người học thụ động, chỉ sử dụng chủ yếu là thính giác kết hợp với tư duy tái hiện để nhận thức
- Người học hạn chế phát triển ngôn ngữ nói
- Không sát với nhận thức và mức độ lĩnh hội kiến thức của người học
1.2.1.2 Phương pháp đàm thoại
Phương pháp đàm thoại là phương pháp dạy học mà giáo viên khéo léo đặt ra một hệ thống những câu hỏi để học sinh trả lời nhằm gợi mở cho họ sáng tỏ những vấn đề mới, tìm ra những tri thức mới Phương pháp đàm thoại bao gồm:
- Vấn đáp tái hiện: Giáo viên đặt câu hỏi, học sinh trả lời dựa vào trí nhớ
- Vấn đáp giải thích minh hoạ: Học sinh trả lời câu hỏi có luận cứ
Trang 13- Đàm thoại gợi mở: Giáo viên đặt câu hỏi, đặt người học trong hoàn cảnh có
vấn đề mâu thuẫn và có nhu cầu lĩnh hội tri thức mới để giải quyết vấn đề, người học phải tích hợp kiến thức
Các dạng của phương pháp đàm thoại:
- Đàm thoại trực tiếp từng học sinh: Giáo viên đặt câu hỏi cho từng học sinh
suy nghĩ, trả lời trực tiếp với giáo viên
- Đàm thoại nhóm( bổ sung): Giáo viên đặt ra câu hỏi cho học sinh Nếu học
sinh thứ nhất trả lời chưa đầy đủ thì lần lượt các học sinh thứ 2, thứ sẽ bổ sung Cuối cùng, giáo viên tổng kết và đưa ra kết luận
- Thảo luận: Giáo viên đặt câu hỏi, cả lớp thảo luận để đưa ra đáp án và một học
sinh đại diện trả lời, giáo viên tổng kết bổ sung câu trả lời đó
Ưu điểm của phương pháp đàm thoại :
- Phát huy được tính tích cực độc lập của học sinh
- Giúp học sinh phát triển khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ nói, phát triển tư duy
- Giáo viên trực tiếp nhận phản hồi từ học sinh, qua đó có thể điều chỉnh hoạt động của mình, nâng cao hiệu quả dạy học
- Tạo không khí sôi nổi sẵn sàng nhận thức trong lớp học
Nhược điểm của phương pháp đàm thoại:
- Tốn nhiều thời gian khi giáo viên đặt câu hỏi không vừa sức
cơ sở đó học sinh nắm được các thuộc tính kỹ thuật của đối tượng
Ưu điểm của phương pháp trực quan:
- Phát triển kỹ năng quan sát của người học
- Giới thiệu được kỹ thuật mới bằng nhiều hình thức
- Sử dụng nhiều giác quan
Trang 14- Gần gũi với thực tiễn đời sống
Nhược điểm của phương pháp trực quan:
- Không thích hợp với lớp học đông người
- Làm giảm chú ý nếu phương tiện trực quan có độ phức tạp cao
- Kinh phí dành cho giảng dạy cao
1.2.1.4 Phương pháp tham quan thực tế
Tham quan thực tế là phương pháp dạy học trong đó giáo viên và học sinh tiếp cận với thực tiễn sản xuất ở các doanh nghiệp, giúp người học thu thập những thông tin, nhiệm vụ cụ thể mà người học cần phải có khi kết thúc khoá học hay môn học
Các hình thức tổ chức tham quan:
- Tham gia tìm hiểu theo chủ đề: Giáo viên đặt ra yêu cầu tìm hiểu, học sinh tự
tổ chức tham quan, kết thúc có đánh giá kết luận
- Tổ chức theo nhóm, lớp: Quan sát thực tiễn sản xuất, công trình có phân tích đánh giá kết quả
Ưu điểm của phương pháp tham quan:
- Gắn đào tạo với thực tiễn sản xuất
- Tạo động lực học tập tốt
- Gây hứng thú trong học tập
Nhược điểm của phương pháp tham quan:
- Tiêu tốn thời gian đào tạo
- Giáo viên lợi dụng làm giảm trách nhiệm giảng dạy
1.2.1.5 Các phương pháp thực hành
Dạy học thực hành là quá trình sư phạm do giáo viên tổ chức nhằm củng cố hiểu biết tạo ra những cơ sở hình thành kỹ năng kỹ xảo kỹ thuật cho học sinh và thực hiện những chức năng giáo dục Nhiệm vụ của dạy học thực hành là: củng cố hoàn thiện vận dụng và khẳng định tính đúng đắn các kiến thức lý thuyết kỹ thuật và thực hiện các chức năng giáo dục
Cấu trúc bài dạy thực hành kỹ thuật:
Hình 1.3 dưới đây thể hiện cấu trúc của bài dạy thực hành kỹ thuật:
Trang 15Hình 1.3: Cấu trúc bài dạy thực hành kỹ thuật
Bước học lý thuyết: giáo viên truyền tải các kiến thức cần thiết, định hướng
cho bài thực hành, học sinh lĩnh hội kiến thức này Kết quả của quá trình này là hình thành trong đầu học sinh hình ảnh biểu tượng của hành động
Bước làm mẫu: Giáo viên thực hiện làm mẫu, học sinh quan sát bắt chước, kết
Các giai đoạn của phương pháp làm mẫu:
- Giai đoạn chuẩn bị:
Giáo viên phân tích công việc cần làm mẫu để xác định các thao động tác và
cử động thực hiện, sắp xếp trình tự thực hiện các thao động tác đó, dự đoán các sai sót xảy ra khi luyện tập Sau khi xác định trình tự thực hiện các công việc, giáo viên chuẩn bị phương tiện làm mẫu, chọn vị trí làm mẫu phù hợp với yêu cầu quan sát Để làm quá trình làm mẫu diễn ra chính xác, phải làm mẫu thử để
xác dụng cụ và thời gian làm mẫu, chọn lời giải thích cần thiết khi làm mẫu
- Giai đoạn thực hiện làm mẫu:
Giáo viên định hướng hoạt động của học sinh bằng cách nêu rõ mục đích làm mẫu, tên công việc, vật liệu, máy, dụng cụ, trình tự công việc thực hiện
Lĩnh hội hiểu biết kỹ thuật
Quan sát bắt chước Định hình hành động Làm mẫu hành động
Hỉnh ảnh biểu tượng của hành động Định hướng dạy lý thuyết thực hành
Học lý thuyết Làm mẫu Học sinh tự làm
Trang 16Lần làm mẫu thứ nhất, giáo viên thực hiện với tốc độ bình thường, trong điều kiện tiêu chuẩn, giúp học sinh có biểu tượng khái quát về toàn bộ công việc Lần thứ hai, giáo viên làm mẫu lại với tốc độ chậm, chia công việc thành từng bước, thao động tác nêu bật các bước chuyển tiếp, coi trọng việc giảng giải Trong bước này giúp học sinh nắm chính xác từng thao tác, trình tự thực hiện Lần cuối, giáo viên làm mẫu tóm tắt toàn bộ công việc với tốc độ bình thường
để ghi nhận lại ấn tượng về tiến trình công việc
- Giai đoạn đánh giá kết quả:
Giáo viên yêu cầu một học sinh thực hiện lại công việc để tập thể học sinh quan sát cho nhận xét, kết luận việc thực hiện thao động tác, các sai hỏng thường gặp
và các phòng ngừa
Ưu điểm của phương pháp làm mẫu:
- Người học có cảm giác, tri giác trực tiếp các thao tác công việc sắp tiến hành
- Thực hiện được các thao động tác phù hợp với thực tiễn sản xuất
- Có cơ hội cập nhật kỹ năng công nghệ mới
Nhược điểm của phương pháp làm mẫu:
- Chuẩn bị công phu, tốn thời gian vật chất
- Không phù hợp với lớp đông học sinh
1.2.1.5.2 Phương pháp luyện tập, huấn luyện:
Huấn luyện là phương pháp dạy học kỹ thuật mà trong đó giáo viên hướng dẫn học sinh luyện tập
Luyện tập là sự lặp đi lặp lại một hành động kỹ thuật một cách có mục đích, có
kế hoạch có hệ thống nhằm hình thành rèn luyện kỹ năng kỹ xảo nghề
Ưu điểm của phương pháp luyện tập, huấn luyện:
- Giúp học sinh rèn luyện kỹ năng nghề
- Gây hứng thú say sưa nghề nghiệp cho học sinh
- Kết hợp đào tạo với sản xuất, học đi đôi với hành
- Đánh giá đúng năng lực thực hiện của học sinh
Nhược điểm của phương pháp luyện tập, huấn luyện:
- Tốn thời gian
- Chi phí lớn
Trang 171.2.2 Phương pháp dạy học tích cực:
Phương pháp dạy học tích cực là phương pháp làm cho học sinh động não, biết suy nghĩ có phương pháp (phương pháp tư duy), suy nghĩ tích cực chủ động, độc lập và sáng tạo, từ đó nâng cao chất lượng hoạt động trí tuệ, phát triển trí thông minh của học sinh
1.2.2.1 Phương pháp giải quyết vấn đề:
Bản chất của phương pháp này là: giáo viên đặt ra trước học sinh một hay một
hệ thống các vấn đề nhận thức có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, đưa học sinh vào tình huống có vấn đề Bằng nghiệp vụ sư phạm, giáo viên đưa học sinh vào một trạng thái tâm lý, trong đó mâu thuẫn khách quan của nhiệm
vụ nhận thức được học sinh chấp nhận như một mâu thuẫn nội tại của bản thân Việc giải quyết mâu thuẫn này không chỉ dựa vào những kinh nghiệm, kiến thức đã
có sẵn mà đòi hỏi học sinh phải nỗ lực tìm tòi, phát hiện Tình huống này kích thíc h học sinh phải suy nghĩ và có sự sáng tạo, bắt đầu một quá trình tư duy Kết quả là
họ đạt được kiến thức mới và phương thức hành động mới
Tình huống có vấn đề phải thoả mãn các điều kiện:
- Tính vừa sức: tình huống phải phù hợp với trình độ hiểu biết của học sinh trong việc phân tích các điều kiện của nhiệm vụ đặt ra và được học sinh chấp nhận
- Trong quá trình giải quyết vấn đề, học sinh gặp phải những khó khăn hoặc cách giải quyết không tối ưu
- Tình huống đưa ra phải nhằm mục đích cung cấp kiến thực và có trong nội dung chương trình Cần chú ý yếu tố mới, hấp dẫn, thu hút sự chú ý của học sinh
Cấu trúc của dạy học nêu vấn đề:
Dạy học nêu vấn đề phải thực hiện theo các bước như sau:
- Bước 1: Giáo viên đưa ra tình huống có vấn đề, đưa học sinh vào trạng thái tâm lý chứa đựng mâu thuẫn, kích thích trí tò mò của học sinh
- Bước 2: Từ tình huống đã đưa ra, giáo viên phát biểu vấn đề cần giải quyết, đưa học sinh vào quá trình tìm kiếm câu trả lời
- Bước 3: Giáo viên khéo léo gợi ý, kích thích học sinh tư duy, tìm tòi, đề xuất các giả thuyết có thể xảy ra
Trang 18- Bước 4: Giáo viên cùng học sinh kiểm tra giả thuyết Nếu giả thuyết sai, quay
về bước 3, nếu giả thuyết được kiểm tra là đúng, thì đi tiếp đến bước 5
- Bước 5: Giáo viên kết luận vấn đề, nêu các trường hợp vận dụng
Các phương pháp tạo tình huống có vấn đề:
- Tạo tình huống qua một câu chuyện liên quan đến nội dung dạy học
- Tạo tình huống bằng cách tiến hành thí nghiệm để tạo ra mâu thuẫn nhận thức
- Tạo tình huống bằng cách sử dụng các bài toán đơn giản
Ưu điểm của dạy học nêu vấn đề:
- Giúp học sinh nắm vững tri thức
- Phát huy tính tích cực, độc lập suy nghĩ
- Kích thích hứng thú học tập
Nhược điểm của dạy học nêu vấn đề:
- Tính hệ thống chưa cao
- Dễ gây mất thời gian nếu xây dựng bài không hợp lý
- Việc soạn thảo công phu, yêu cầu cao đối với giáo viên
1.2.2.2 Phương pháp chương trình hoá:
Dạy học chương trình hoá là hình thức dạy học nhằm điều khiển tối ưu việc học của
cá nhân học sinh Ở đây người ta coi sự dạy học là một hệ điều khiển, đối tượng điều khiển là con người Kết quả điều khiển phụ thuộc vào sự hiểu biết các quy luật
và tham số của việc điều khiển, điều chỉnh các quá trình tư duy Các quá trình phản hồi liên tục đảm bảo cho sự điều khiển và điều chỉnh có hiệu quả (liên hệ ngược bên trong là cơ sở của sự tự điều chỉnh bản thân sự học của học sinh, liên hệ ngược bên ngoài giúp cho sự điều khiển của giáo viên)
Mục đích của dạy học chương trình hoá
- Chú ý đến việc học của học sinh
- Cá biệt hoá quá trình dạy học theo năng lực của từng học sinh
- Sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại (máy dạy học)
Đặc điểm của dạy học chương trình hoá
Dạy học chương trình hoá được thực hiện dưới sự chỉ đạo của một chương trình dạy Ở đây chức năng dạy được khách quan hoá và hoạt động học được chương trình hoá
Trang 19- Tài liệu học được chia thành các liều kiến thức
- Sau khi nhận liều thứ nhất, học sinh trả lời câu hỏi kiểm tra
- Học sinh tự kiểm tra để biết mình đúng hay sai Liều kiến thức tiếp theo phụ thuộc vào kết quả của liều trước
- Việc học nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào năng lực mỗi người học
Cấu trúc dạy học chương trình hoá:
Hình 1.4 thể hiện cấu trúc của dạy học chương trình hoá
Hình 1.4: Cấu trúc của dạy học chương trình hoá
Nội dung học tập được chia thành các liều, lưu trữ dưới dạng bộ các phiếu học tập Khi nhận phiếu, học sinh phải trả lời câu hỏi kiểm tra Câu trả lời được phân tích để xác định người học đã nắm vững liều kiến thức này hay chưa Kết quả kiểm tra vừa là thông tin liên hệ ngược trong, giúp học sinh biết khả năng nhận thức của mình để tự điều chỉnh việc học, vừa là thông tin liên hệ ngược ngoài, giúp giáo viên quyết định cho học sinh chuyển tới liều tiếp theo hay học lại liều hiện tại
Các kiểu chương trình hoá
Mỗi liều kiến thức gồm 3 phần, mỗi phần được ký hiệu như sau:
- Chương trình đường thẳng
Trong kiểu chương trình hoá đường thẳng, khi kết thúc liều thứ n, học sinh trả lời câu hỏi Sau khi biết được câu trả lời, học sinh nhận tiếp liều thứ n+1 hoặc quay về học lại liều thứ n
Hình 1.5: Biểu diễn kiểu chương trình đường thẳng
Bộ các phiếu
Phân tích câu trả lời
Liên hệ ngược trong Liên hệ ngược ngoài
Liều thứ n Liều thứ n+1
Thông tin Câu trả lời của học sinh Học sinh biết đúng hoặc sai
Trang 20- Chương trình phân nhánh
Trong chương trình phân nhánh, khi kết thúc liều thứ 1, học sinh trả lời câu hỏi Nếu trả lời đúng chuyển sang liều thứ 2, nếu sai chuyển đến liều bổ sung 1a hoặc 1b để khắc phục sai lầm hoặc phải trở lại nghiên cứu một số thông tin của liều thứ nhất Các câu hỏi và các câu trả lời cho sẵn được soạn căn cứ vào dự đoán những sai lầm điển hình của học sinh
Hình 1.6: Biểu diễn kiểu chương trình phân nhánh
Phương tiện dạy học chương trình hoá:
- Dùng tài liệu chương trình hoá: Sách giáo khoa, bài tập, bài kiểm tra
- Dùng máy dạy học: Ở các nước tiên tiến có nhiều loại máy dạy học chương trình hoá, máy kiểm tra ôn tập cho học sinh
- Kết hợp máy và tài liệu chương trình hoá: học sinh nghiên cứu bài học trong tài liệu chương trình hoá Sau mỗi liều kiến thức, học sinh trả lời câu hỏi kiểm tra trên máy Nếu sai, máy chỉ số trang có liều phụ mà học sinh cần đọc thêm Nếu đúng, máy chỉ số trang có liều tiếp theo
Ưu điểm của dạy học chương trình hoá:
- Tìm ra quy luật mới của dạy học (quy luật điều khiển hoạt động nhận thức)
- Cá thể hoá học tập
Nhược điểm của dạy học chương trình hoá:
- Chỉ áp dụng cho các bài giảng có cấu trúc chặt chẽ
- Chưa điều khiển những hoạt động tâm lý bên trong học sinh
1.2.2.3 Phương pháp Angorit hoá
Angorit là một khái niệm toán học, được hiểu như một bản quy định chung chính xác việc thực hiện theo một thứ tự nhất định (trong mỗi trường hợp cụ thể) những thao tác nguyên tố (trong một hệ thống các thao tác nào đó) để giải một bài toán Dạy học Angorit hoá là một trong những kiểu dạy học nhằm hình thành cho học sinh một phương pháp tư duy, phương pháp hành động tổng quát gọi là Angorit Phương pháp này giúp học sinh tư duy có kế hoạch và tiến hành các thao tác tư duy một cách đúng đắn
1a 1b
Trang 21Các tính chất cơ bản của Angorit hoá:
- Tính xác định: Những chỉ dẫn trong bảng quy định Angorit phải chính xác, dễ hiểu Đó là một quá trình định hướng rõ ràng, được điều khiển hoàn toàn, không cho phép tuỳ tiện
- Tính đồng loạt: Angorit được coi là phương pháp chung, cho phép giải quyết không chỉ một bài toán nào đó với điều kiện ban đầu cho trước mà cho một loạt các bài toán loại đó
- Tính kết quả: Angorit luôn hướng tới việc nhận được kết quả cần tìm nào đó với một loạt các bài toán có điều kiện ban đầu như nhau
Các kiểu Angorit:
- Angorit nhận biết: là bản quy định gồm các thao tác dẫn đến sự nhận biết đối tượng đó thuộc loại gì, tình trạng ra sao Loại này sử dụng nhiều trong dạy học thực hành để tìm ra nguyên nhân hỏng hóc, chẩn đoán kỹ thuật của các thiết bị
- Angorit biến đổi: là bản quy định gồm các thao tác dẫn đến sự biến đổi đối tượng
Các phương pháp dạy học sinh giải quyết vấn đề thực tiễn bằng Angorit
- Dạy Angorit lời giải cho học sinh
- Dạy Angorit để tìm Angorit lời giải
- Dạy các quy tắc hành động riêng bằng cách chỉ dẫn cho học sinh các thao tác nào cần thực hiện để giải bài toán
- Không dạy Angorit có sẵn, không dạy Angorit tìm lời giải mà đặt học sinh vào tình huống có vấn đề và trong quá trình tự giải quyết thì hình thành Angorit
Ưu điểm của Angorit hoá:
Dạy cho học sinh phương pháp tư duy và phương hướng hành động
Nhược điểm của Angorit hoá:
- Không phải nội dung dạy học nào cũng vận dụng được phương pháp này
- Yêu cầu giáo viên phải nắm rõ bản chất của dạy học Angorit, nắm vững nội dung môn học
1.2.2.4 Phương pháp dự án
Dạy học theo dự án là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự
Trang 22lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện Làm việc nhóm là hình thức cơ bản của dạy học dự án
Đặc điểm của dạy học dự án:
- Định hướng người học: Người học cần tham gia tích cực và tự lực vào các
giai đoạn của quá trình dạy học Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học Giáo viên chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ Tuy nhiên mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của học sinh và mức độ khó khăn của nhiệm vụ
- Định hướng hoạt động thực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình
huống của thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp, thực tiễn đời sống Nhiệm
vụ dự án chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của người học Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết
và vận dung lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học
- Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các dự án học tập góp phần gắn việc học tập
trong nhà trường với thực tiễn đời sống xã hội Trong những trường hợp lý tưởng, việc thực hiện dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực
- Tính phức hợp: Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc
môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp
- Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, có sự
cộng tác và phân công giữa các thành viên Dạy học dự án đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa học sinh và giáo viên cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong
dự án Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính xã hội
- Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được
tạo ra không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết, mà trong đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu
Phân loại dự án theo chuyên môn
- Dự án trong một môn học: trọng tâm nội dung nằm trong một môn học
Trang 23- Dự án liên môn: trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn khác nhau
- Dự án ngoài chuyên môn: Là các dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học, ví dụ dự án chuẩn bị cho các lễ hội trong trường
Phân loại dự áns theo sự tham gia của người học:
- Dự án cho nhóm học sinh
- Dự án cá nhân
- Trong trường phổ thông còn có dự án toàn trường, dự án dành cho một khối lớp, dự án cho một lớp học
Phân loại dự án theo sự tham gia của giáo viên:
- Dự án dưới sự hướng dẫn của một giáo viên
- Dự án với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều giáo viên
Phân loại dụa án theo quỹ thời gian:
- Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2-6 giờ học
- Dự án trung bình: dự án trong một hoặc một số ngày (“Ngày dự án”), nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học
- Dự án lớn: dự án thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần (hay 40 giờ học), có thể kéo dài nhiều tuần
Cách phân chia theo thời gian này thường áp dụng ở trường phổ thông Trong đào tạo đại học, có thể quy định quỹ thời gian lớn hơn
Phân loại dự án theo nhiệm vụ
- Dự án tìm hiểu: là dự án khảo sát thực trạng đối tượng
- Dự án nghiên cứu: giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng, quá trình
- Dự án thực hành: có thể gọi là dự án kiến tạo sản phẩm, trọng tâm là việc tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế hoạch hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như trang trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác
- Dự án hỗn hợp: là các dự án có nội dung kết hợp các dạng nêu trên
- Các loại dự án trên không hoàn toàn tách biệt với nhau Trong từng lĩnh vực chuyên môn có thể phân loại các dạng dự án theo đặc thù riêng
Cấu trúc của phương pháp dạy học dự án:
Cấu trúc của phương pháp dạy học dự án được thể hiện trong hình 1.7
- Bước hình thành ý tưởng và phân tích ý tưởng : giáo viên và học sinh cùng nhau
đề xuất, xác định đề tài và mục đích của dự án Cần tạo ra một tình huống xuất
Trang 24phát, chứa đựng một vấn đề, hoặc đặt một nhiệm vụ cần giải quyết, trong đó chú
ý đến việc liên hệ với hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống Cần chú ý đến hứng thú của người học cũng như ý nghĩa xã hội của đề tài Giáo viên có thể giới thiệu một số hướng đề tài để học viên lựa chọn và cụ thể hoá Trong trường hợp thích hợp, sáng kiến về việc xác định đề tài có thể xuất phát từ phía học sinh
Hình 1.7: Cấu trúc phương pháp dạy học dự án
- Bước lập kế hoạch thực hiện: học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên xây
dựng đề cương, kế hoạch thực hiện dự án, xác định các việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành, phân công công việc trong nhóm
- Bước thực hiện dự án: các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra,
thực hiện các hoạt động trí tuệ và thực tiễn, thực hành Kiến thức lý thuyết, các phương án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực tiễn Trong quá trình đó sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra
- Bước thu thập kết quả và công bố sản phẩm: kết quả thực hiện dự án có thể được
viết dưới dạng báo cáo, luận văn…Trong nhiều dự án các sản phẩm vật chất được tạo ra Sản phẩm của dự án cũng có thể là phi vật chất, chẳng hạn biểu diễn một vở kịch, tổ chức một buổi sinh hoạt nhằm tạo ra các tác động xã hội Sản phẩm của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm sinh viên, có thể được giới thiệu trong nhà trường, hay ngoài xã hội
- Bước đánh giá dự án: giáo viên và học sinh đánh giá quá trình thực hiện, kết quả
và kinh nghiệm đạt được, từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện các
Hình thành ý tưởng dự án
Phân tích ý tưởng
Lập kế hoạch Thực hiện Đánh giá Kết thúc
Trang 25dự án tiếp theo Kết quả của dự án cũng có thể đuợc đánh giá từ bên ngoài Hai giai đoạn cuối này cũng có thể được mô tả chung thành giai đoạn kết thúc dự án
Ưu điểm của dạy học dự án:
- Gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội
- Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học
- Phát triển khả năng sáng tạo, phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm
- Rèn luyện năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp
- Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn, năng lực cộng tác làm việc
- Phát triển năng lực đánh giá
Nhược điểm của phương pháp dạy học dự án:
- Dạy học theo dự án không phù hợp trong việc truyền thụ tri thức lý thuyết mang tính trừu tượng, hệ thống cũng như rèn luyện hệ thống kỹ năng cơ bản
- Dạy học theo dự án đòi hỏi nhiều thời gian Vì vậy dạy học dự án không thay thế cho phương pháp thuyết trình và luyện tập, mà là hình thức dạy học bổ sung cần thiết cho các phương pháp dạy học truyền thống
- Dạy học theo dự án đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp
1.2.2.5.1 Mô hình trong phương pháp mô phỏng:
Mô hình là một thể hiện bằng thực thể hay bằng khái niệm một số thuộc tính và quan hệ đặc trưng của một đối tượng nào đó (gọi là nguyên hình) nhằm mục đích nhận thức: dùng làm đối tượng quan sát thay cho nguyên hình hoặc dùng làm đối tượng nghiên cứu về nguyên hình
Sơ đồ sau đây liệt kê các loại mô hình:
Trang 26Hình 1.8: Các loại mô hình
Các loại mô hình trong sơ đồ hình 1.13:
- Mô hình thực thể: là những mô hình vật chất hoặc vật chất hoá được Dựa trên
chất liệu tạo ra mô hình, người ta chia mô hình thực thể thành các loại:
Mô hình trích mẫu: là tập các phần tử được chọn ra từ tổng thể cần
nghiên cứu (còn gọi là tập mẫu) Qua phân tích tập mẫu người ra suy ra kết luận
về tổng thể cần nghiên cứu dựa vào lý thuyết xác suất
Mô hình đồng dạng: là một thực thể có các đại lượng vật lý cùng tên và tỉ
lệ với nguyên hình, được xác định theo lý thuyết đồng dạng Từ kết quả nghiên cứu nhận được trên mô hình, người ra suy ra kết luận trên nguyên hình thông
qua tỷ số đồng dạng Có các loại mô hình đồng dạng: đồng dạng hình học: phản ánh hình ảnh đối tượng tại thời điểm quan sát, đồng dạng động học: mô tả trạng thái động của nguyên hình, đồng dạng động lực học: phản ánh sự thay đổi trạng
thái dưới tác động của môi trường
Mô tương tự: là một thực thể có những thông số vật lý khác tên với
nguyên hình và được xác định theo lý thuyết tương tự Mô hình này thường được gọi tên theo chất liệu của mô hình và nguyên hình Từ kết nghiên cứu trên
mô hình có thể suy ra nguyên hình dựa trên lý thuyết tương tự
- Mô hình khái niệm: Là các mô hình có tính chất hình thức, trừu tượng Trong
các ngành khoa học kỹ thuật, mô hình toán học là điển hình của loại mô hình này Mô hình toán học dùng để miêu tả đối tượng Việc nghiên cứu các mô hình toán học thường dựa trên cơ sở vận dụng các lý thuyết toán học hiện đại kết hợp với công nghệ thông tin Mô hình toán học được phân thành các loại:
Mô hình hệ thức: dùng hệ thức để mô tả trạng thái của đối tượng nghiên cứu
Mô hình tương tự
Mô hình hệ thức
Mô hình cấu tạo
Mô hình
hình học
Mô hình động học
Mô hình động lực học
Trang 27Mô hình cấu trúc: Dùng cấu trúc toán học để mô tả cấu trúc và trạng thái
bên trong của nguyên hình
1.2.2.5.2 Cấu trúc của phương pháp mô phỏng
Phương pháp mô phỏng được tiến hành theo 3 bước:
Hình 1.9: Cấu trúc phương pháp mô phỏng
(1) Mô hình hoá: từ mục đích nghiên cứu, cần xác định, lựa chọn một số tính
chất và mối quan hệ chính của đối tượng nghiên cứu đồng thời trừu xuất
những tính chất và mối quan hệ thứ yếu để xây dựng mô hình
(2) Nghiên cứu mô hình hoá để rút ra những hệ quả lý thuyết, kết luận về đối
tượng nghiên cứu
(3) Từ kết quả thu được trên mô hình suy ra các kết quả thực tiễn
Cấu trúc của phương pháp mô phỏng trong dạy học:
Cấu trúc phương pháp mô phỏng trong dạy học gần
Hình 1.10: Phương pháp mô phỏng trong dạy học (1) Mô hình hoá - xử lý sư phạm: Từ đối tượng nghiên cứu, phân tích nội dung
kiến thức cần truyền đạt, xác định mục tiêu mô phỏng, lựa chọn các thuộc
tính đặc trưng và lược bớt những yếu tố không cần thiết
(2) Tổ chức hoạt động dạy học: Cần chú ý đến khâu kích thích động viên, có
thể dạy theo phương pháp tư duy của các nhà hoa học hoặc dạy qua các thao
tác trên mô hình: cho học sinh tự thao tác trên mô hình hoặc quan sát thao tác
của giáo viên
Đối tượng nghiên cứu (1) Mô hình (2) Kết quả
Xử lý
sư phạm
Tổ chức hoạt động dạy học
Đối tượng
(3)
Trang 28(3) Xử lý sư phạm: Mô hình nghiên cứu cần phải phù hợp với trình độ nhận thức
và khả năng tư duy của học sinh, do đó cần phải được thiết kế sao cho đơn giản, dễ quan sát, dễ thao tác Đồng thời trong quá trình thực nghiệm trên mô hình cần có sự liên hệ đến nguyên hình
(4) Từ kết quả nghiên cứu trên mô hình, suy ra kết quả trên nguyên hình
Ưu điểm của phương pháp mô phỏng
Nhược điểm của phương pháp mô phỏng:
- Tốn kém về thời gian, tiền bạc để chế tạo mô hình
- Đòi hỏi sự khéo léo, công phu trong việc thiết kế mô hình, xây dựng bài giảng
1.2.2.6 Kỹ thuật công não
Trong quá trình dạy học, giáo viên nêu ra một chủ đề đê học sinh suy nghĩ và tham gia giải quyết Mọi học sinh được khuyến khích đưa ra các ý kiến một cách tự nhiên Mọi ý kiến được ghi nhận, chú ý, đánh giá, nhận xét
Quy trình kỹ thuật công não trong dạy học:
- Lựa chọn vấn đề học tập sử dụng công não
- Nêu vấn đề gợi ý
- Người học nêu ý kiến (nếu bằng lời thì giáo viên viết lên bảng, nếu bằng thẻ thì đính thẻ vào bảng)
- Giáo viên và học sinh cùng phân tích loại bỏ những ý sai, ý trùng nhau
- Phân loại và đặt tên cho các nhóm ý kiến
- Rút ra kết luận
Lưu ý khi sử dụng kỹ thuật công não:
- Ciáo viên cần phải có kinh nghiệm, nghệ thuật kích thích và dẫn dắt học sinh
tham gia xây dựng bài
- Ghi lại nhanh các ý kiến của học sinh lên bảng, giấy khổ rộng hoặc thẻ giấy
Trang 29- Giữ cho các ý kiến liên tục không hạnchế
- Không sa vào thảo luận ngay ý nghĩa của các ý kiến
- Đối xử bình đẳng với tất cả các ý kiến
- Tránh phê phán đả kích
- Cần giới hạn thời gian
Ưu điểm của kỹ thuật công não:
- Tạo cơ hội cho học sinh đưa ra các ý kiến mà không hề e ngại
- Cho phép đưa ra cả những ý tưởng mới lạ hoặc không bình thường nhưng có thể đưa tới quyết định sáng tạo
- Khuyến khích học sinh tham gia, đóng góp vào quá trình giải quyết vấn đề, đưa học sinh vào trạng thái cảm thấy dường như chính họ tìm ra kiến thức, làm cho
họ tự tin hơn trong học tập
Nhược điểm của kỹ thuật công não:
- Có thể mất nhiều thời gian
- Có thể có tình trạng một số học sinh lấn át, số khác không tham gia ý kiến gì
- Không cẩn thận có thể dẫn tới tình trạng “hỗn loạn” trong lớp
1.3 BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ:
1.3.1 Khái niệm bài giảng điện tử
Bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hoá, do giáo viên điều khiển thông qua môi trường multimedia do máy vi tính tạo ra
Bài giảng điện tử không phải chỉ đơn thuần là các kiến thức để học sinh ghi vào vở, mà đó là toàn bộ hoạt động dạy và học Bài giảng điện tử là nơi tất cả các tình huống sẽ xảy ra trong quá trình truyền đạt và tiếp thu kiến thức của học sinh Bài giảng điện tử càng không phải là một công cụ để thay thế “bảng đen phấn trắng” mà nó phải đóng vai trò định hướng trong tất cả các hoạt động trên lớp
Các đơn vị của bài học đều phải được Multimedia hóa (đa phương tiện hoá) Trong môi trường đa phương tiện, thông tin được biểu diễn dưới các dạng: Văn bản (text), hình ảnh (image), đồ hoạ: (graphics), hoạt hình (animation), các đoạn phim (video clip), âm thanh (audio)
Trang 30Giáo án điện tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của giáo viên trên giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy học đó đã được multimedia hoá một cách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cấu trúc của bài học Giáo án điện tử là một sản phẩm của hoạt động thiết kế bài dạy được thể hiện bằng vật chất trước khi bài dạy học được tiến hành Giáo án điện tử chính là bản thiết kế của bài giảng điện tử, chính vì vậy xây dựng giáo án điện tử hay thiết kế bài giảng điện tử là hai cách gọi khác nhau cho một hoạt động cụ thể để có được bài giảng điện tử
Mục đích của bài giảng điện tử:
- Giúp giáo viên triển khai và thực hiện đúng kế hoạch học tập
- Giúp người học hiểu bài dễ hơn, chính xác hơn
- Đề cao khả năng tự học nhờ bài giảng điện tử, đáp ứng tính cá thể trong học tập
- Giúp người học có thể tự học ở mọi nơi, mọi lúc
1.3.2 Quy trình thiết kế bài giảng điện tử
Quy trình xây dựng bài giảng điện tử gồm 6 bước sau:
Bước 1 Xác định mục tiêu bài học
Khi thiết kế bài giảng điện tử, có hai loại mục tiêu cần được xác định rõ ràng
và chặt chẽ, đó là mục tiêu của toàn môn học và mục tiêu của từng bài Mục tiêu toàn môn học được chia thành các mục tiêu nhỏ, chính là mục tiêu của các chương, các bài Khi hoàn thành tất cả các mục tiêu nhỏ, thì mục tiêu lớn của cả môn học cũng được hoàn thành Mục tiêu cần xác định khi xây dựng mỗi bài giảng là kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo học sinh cần đạt được sau khi học xong mỗi bài học Trong dạy học hướng tập trung vào học sinh, mục tiêu ở đây là mục tiêu học tập, chứ không phải là mục tiêu giảng dạy, tức là chỉ ra sản phẩm mà học sinh có được sau bài học
Bước 2 Lựa chọn kiến thức cơ bản, xác định nội dung trọng tâm
Có rất nhiều giáo trình, tài liệu tham khảo liên quan đến bài học, với nội dung
vô cùng phong phú Giáo viên không thể đưa hết tất cả nội dung vào bài giảng, mà cần có sự chọn lọc Việc chọn lọc phải căn cứ vào mục tiêu của bài học Chương trình khung là căn cứ để lựa chọn kiến thức cơ bản, nhằm đảm bảo tính thống nhất của nội dung dạy học trên cả nước
Trang 31Khi thiết kế bài giảng điện tử, nội dung phải đủ để thực hiện mục tiêu, không thiếu, không thừa, không gián đoạn, ngắn gọn súc tích Giáo viên phải kết hợp trình chiếu bài giảng với tư liệu bên ngoài, cùng với nhiều hoạt động khác trên lớp Ngoài
ra, cần sắp xếp cấu trúc của bài để làm nổi bật các mối liên hệ giữa các phần kiến thức của bài, từ đó rõ thêm các trọng tâm bài giảng
Bước 3 Multimedia hoá kiến thức
Multimedia hoá kiến thức là nét đặc trưng cơ bản của bài giảng điện tử, phân biệt với các loại bài giảng truyền thống Việc multimedia hoá kiến thức được thực hiện qua các bước:
- Dữ liệu hoá thông tin trong bài học
- Phân loại kiến thức được khai thác dưới dạng văn bản, bản đồ, đồ hoạ, ảnh tĩnh, phim, âm thanh
- Xây dựng nguồn tư liệu sử dụng cho bài học Tư liệu có thể tự xây dựng bằng cách sử dụng các phương tiện kỹ thuật số như máy quét, máy ảnh, camera, máy thu âm,… Ngoài ra, tư liệu còn có thể tìm kiếm trên internet
- Xử lý tư liệu thu được để nâng cao chất lượng hình ảnh, âm thanh, bằng cách sử dụng phần mềm chuyên dụng như Flash, Photoshop, Visual Ulead Studio,…
- Chọn lựa các phần mềm dạy học có sẵn cần dùng đến trong bài học
- Tạo liên kết đến các tư liệu
Khi sử dụng các đoạn phim, hình ảnh, âm thanh cần phải đảm bảo các yêu cầu về mặt nội dung, phương pháp, thẩm mỹ và ý đồ sư phạm
Bước 4 Xây dựng các thư viện tư liệu
Sau khi có được đầy đủ tư liệu cần thiết, giáo viên phải sắp xếp lại thành thư viện tư liệu, tức là tạo được cây thư mục hợp lý, tạo điều kiện tìm kiếm thông tin nhanh chóng và giữ được các liên kết trong bài giảng đến các tập tin âm thanh, video clip khi sao chép bài giảng từ ổ đĩa nay sang ổ đĩa khác, từ máy này sang máy khác
Bước 5 Lựa chọn ngôn ngữ hoặc các phần mềm trình diễn để xây dựng tiến trình dạy học thông qua các hoạt động cụ thể
Giáo viên lựa chọn ngôn ngữ hoặc các phầm mềm trình diễn thông dụng để tiến hành xây dựng giáo án điện tử Các phần mềm thường dùng là Microsoft Power Point hoặc Microsoft FrontPage
Trang 32Trước hết, cần chia quá trình dạy học thành các hoạt động nhận thức cụ thể Dựa vào các hoạt động đó để định ra các slide (trong PowerPoint) hoặc các trang (trong Frontpage) Sau đó xây dựng nội dung cho các slide (hoặc các trang) Tuỳ theo nội dung mà thông tin trên mỗi slide(trang) có thể là văn bản, âm thanh, tranh ảnh, đồ hoạ, video clip
Bước 6 Chạy thử chương trình, sửa chữa và hoàn thiện
Sau khi thiết kế xong, giáo viên phải chạy thử chương trình, kiểm tra nội dung bài giảng, kiểm tra các hiệu ứng trình diễn, kiểm tra các liên kết… nhằm tìm chỗ thiếu, chỗ sai sót, chỗ chưa hợp lý để sửa chữa và hoàn thiện
1.3.3 Yêu cầu đối với bài giảng điện tử
Các yêu cầu về mục tiêu:
- Mục tiêu bài dạy rõ ràng, đầy đủ, bảo đảm tính chính xác, khoa học của nội
dung bài giảng
- Bài giảng phải chuyển tải đầy đủ nội dung, làm nổi bật trọng tâm bài dạy
- Thực hiện đầy đủ các bước của quá trình lên lớp (Đặt vấn đề, hình thành tri thức
mới, luyện tập, hệ thống hoá, củng cố, kiểm tra)
- Phân bổ thời gian hợp lý cho từng phần
- Hệ thống câu hỏi thể hiện các mức độ yêu cầu phù hợp từng đối tượng học sinh
- Qua nội dung bài soạn, khai thác được tính ứng dụng thực tế và tính giáo dục
cho học sinh
Yêu cầu về kỹ năng trình bày slide:
- Không ghi quá nhiều chữ mà nên trình bày ngắn gọn, cô đọng
- Mỗi slide nên có tiêu đề
- Chữ đủ lớn, dễ đọc, đảm bảo khi trình chiếu người ngồi cuối phòng học vẫn đọc được Font chữ nên dùng là các font Unicode phổ biến, giản dị như Arial, Time news roman, Tahoma, Venada Với các Font này, cỡ chữ tối thiểu là 18-20pt Chữ đọc tốt nhất trong khoảng 24pt đến 32pt Cỡ chữ 36pt trở lên là cỡ lớn
- Màu sắc hài hoà, dễ quan sát, phân biệt ý nghĩa của các đoạn khác nhau như lời dẫn, cú pháp, đoạn mã, chú thích… Tránh sử dụng quá nhiều màu trên một slide tạo ra cảm giác rối loạn màu sắc Thông thường, chỉ dùng 3 hoặc 4 màu là đủ
- Nền slide không nên trang trí quá nhiều, tránh dùng các màu sắc loè loẹt
Trang 33- Âm thanh dùng đúng lúc, cường độ vừa phải, không ồn ào, dồn dập
- Có slide ngăn cách khi chuyển chủ đề lớn
- Số slide không quá nhiều cũng không quá ít Thông thường, trình chiếu khoảng
10-12 slide/1 tiết học là vừa
- Dễ dàng trở về trang trước và các phần đã học khi cần thiết, có thể liên kết với
các bài học cũ có liên quan hay với hệ thống bài tập, ví dụ minh hoạ
Yêu cầu về kỹ năng sử dụng đa phương tiện:
- Bài giảng thể hiện được tính vượt trội so với bài giảng truyền thống Sử dụng hợp lý các công cụ đa phương tiện để mô phỏng các nội dung phức tạp, giúp học
sinh dễ hiểu, đào sâu kiến thức
- Có đầy đủ các tư liệu (hình ảnh, video clip, audio,sơ đồ, bảng biểu, số liệu mẫu,
ví dụ minh hoạ, mô hình) phục vụ cho bài học
- Có sử dụng các phần mềm thích hợp với từng nội dung được nhúng vào các trang hoặc liên kết động với các đối tượng (hình ảnh, đoạn phim ) trên các
trang hoặc file khác
Yêu cầu về phương pháp:
- Kết hợp các phương pháp dạy truyền thống với ứng dụng công nghệ thông tin (Giải thích, diễn giảng, ghi chú đầy đủ các bảng biểu, hình ảnh, đoạn phim, mô phỏng bằng hoạt cảnh )
- Phải chuẩn bị phương án dạy học bằng phấn bảng hoặc phương tiện khác đề phòng sự cố mất điện, máy chiếu hỏng,… Tránh bị động để các giờ học của học sinh trôi đi lãng phí
- Dạy học lấy học sinh làm trung tâm Có các câu hỏi để trao đổi, thảo luận, khuyến khích người học phát biểu Tránh tình trạng giáo viên chỉ đọc slide và nói từ đầu đến cuối Các câu hỏi được xây dựng nhằm kích thích tính động não
của người học
- Người học có thể trình bày kết quả làm việc trên trang trình chiếu (như có các
ứng dụng phù hợp cho học sinh trình bày, giải bài, minh hoạ, trắc nghiệm )
- Hình thức trình bày phù hợp, không có lỗi chính tả, sinh động, lôi cuốn nhưng
vẫn đảm bảo hiệu quả của tiết học
Yêu cầu về tư liệu:
Trang 34Trong bài học, nên có tài liệu, nguồn trích dẫn phong phú để phục vụ cho bài học, cuối bài nên chỉ dẫn các tài liệu, website tham khảo để người học tự chủ đọc thêm, đặc biệt tránh việc trích dẫn tràn lan trên slide và trong bài học
1.4 PHÉP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
1.4.1 Ý nghĩa của kiểm tra đánh giá
Trong quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tâp là một khâu quan trọng nhằm xác định thành tích học tâp của người học Kiểm tra đánh giá là hai công việc có nội dung khác nhau, nhưng liên quan mật thiết với nhau Mối quan hệ giữa giáo viên với học sinh trong kiểm tra đánh giá phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau, được tiến hành một cách bình thường và thường xuyên
- Ý nghĩa của việc kiểm tra đánh giá đối với giáo viên:
Kết quả kiểm tra đánh giá cung cấp cho giáo viên những thông tin liên hệ ngoài, giúp giáo viên tự xem xét được hiệu quả công tác giảng dạy của mình Kiểm tra đánh giá kết hợp với theo dõi thường xuyên tạo điều kiện cho giáo viên nắm được chính xác năng lực của từng học sinh trong lớp, trên cơ sở đó giáo viên có thể lập kế hoạch bồi dưỡng thích hợp, kịp thời
Thông qua kết quả kiểm tra đánh giá, giáo viên cũng tự xem xét được hiệu quả công tác giảng dạy của mình để có biện pháp điều chỉnh, cải tiến về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động sư phạm Giáo viên có trách nhiệm và có kinh nghiệm thường xem kiểm tra đánh giá như một biện pháp cá nhân hoá dạy học
- Ý nghĩa của việc kiểm tra đánh giá đối với học sinh
Việc kiểm tra đánh giá có hệ thống và thường xuyên cung cấp kịp thời thông tin tự liên hệ ngược bên trong về kết quả học tập của học sinh, giúp học sinh tự xem xét, điều chỉnh và tự hoàn thiện quá trình học tập của mình cho phù hợp
Về mặt giáo dưỡng, kiểm tra đánh giá chỉ cho mỗi học sinh thấy mình đã tiếp thu được gì và chưa được những gì, ở đâu, cần phải có kế hoạch học bổ sung ra sao
Về mặt phát triển năng lực nhận thức: Thông qua các hình thức kiểm tra đánh giá, học sinh có điều kiện để tiến hành hoạt động trí tuệ như: Ghi nhớ, tái hiện, chính xác hoá, khái quát hóa hệ thống kiến thức Trên cơ sở đó họ phát huy được năng lực
Trang 35tư duy sáng tạo, vận dụng linh hoạt các kiến thức đã học vào trong tình huống thực
tế Về mặt giáo dục: kiểm tra đánh giá nếu được tổ chức nghiêm túc sẽ giúp cho học sinh nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập, ý chí vươn lên đạt kết quả cao hơn, củng cố lòng tin vào khả năng của mình, nâng cao ý thức tự giác khắc phục tính chủ quan, tính tự mãn
- Ý nghĩa của việc kiểm tra đánh giá đối với cán bộ quản lý
Thông qua kiểm tra đánh giá cung cấp những thông tin cơ bản về thực trạng dạy học trong nhà trường, qua đó có biện pháp chỉ đạo kịp thời, nhằm đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu đề ra của quá trình dạy trong một nhà trường nói riêng mục tiêu đào tạo của cả nước nói chung Trong quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng không thể thiếu được trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cao cả của mục tiêu của ngành giáo dục
1.4.2 Trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm theo nghĩa rộng là một hoạt động được thực hiện để đo lường năng lực của đối tượng nào đó nhằm mục đích xác định Trong giáo dục trắc nghiệm được tiến hành thường xuyên ở các kỳ thi, kiểm tra nhằm kiểm tra đánh giá kết quả quá trình học tập Bài trắc nghiệm khách quan bao gồm rất nhiều câu hỏi, mỗi câu nêu ra là một vấn đề và những thông tin cần thiết sao cho học sinh chỉ phải trả lời vắn tắt cho từng câu
Đặc điểm của trắc nghiệm khách quan:
Đề thi có nhiều câu hỏi bao phủ được nội dung chương trình do đó học sinh không thể xem nhẹ chương mục nào để tự bỏ bớt trong quá trình học tập Do có nhiều câu hỏi nên đề cuối học phần thường có phạm vi rộng để kiểm tra kiến thức của học sinh, buộc họ phải học kỹ, nắm chắc kiến thức mới có thể làm bài tốt được Thi trắc nghiệm đòi hỏi học sinh phải tự giác, chủ động, tích cực, tránh học tủ
để đối phó với thi cử Giáo viên bớt căng thẳng khi phải dồn dập coi thi, hỏi thi, chấm thi vào cuối kỳ và đảm bảo được thời gian quy định
Số lượng câu hỏi nhiều, được dự trữ trong ngân hàng đề thi nên có thể tiến hành theo từng học phần ở nhiều nơi Khi làm bài trắc nghiệm, số lượng câu hỏi nhiều, đòi hỏi học sinh phải tranh thủ thời gian để học và suy nghĩ do đó có tác dụng rèn luyện tác phong nhanh nhẹn
Trang 36Điểm thi của bài trắc nghiệm hầu như hoàn toàn do khả năng của học sinh quyết định, hạn chế tác động của bên ngoài Giáo viên có thể chấm bài với số lượng
lớn, nhanh, chính xác, khách quan
Nhược điểm của trắc nghiệm khách quan:
Việc soạn thảo các câu hỏi rất công phu và tốn nhiều thời gian Mặt khác, do
đề thi có sẵn các phương án trả lời nên khó đánh giá được quá trình suy nghĩ đi đến kết quả cuối cùng của học sinh, có thể khuyến khích học sinh đoán mò
Nếu số lượng đề thi không đủ lớn thì không bảo mật được, học sinh sẽ dựa vào các câu dẫn trong đề thi cũ để chuẩn bị sẵn các phương án trả lời Kết quả của bài kiểm tra không đánh giá được tính năng động và khả năng sáng tạo của học sinh
1.4.3 Bảng so sánh trắc nghiệm khách quan với các phương pháp kiểm tra đánh giá khác:
Vấn đề cần
so sánh
Phương pháp vấn đáp
Kiểm tra
tự luận
Trắc nghiệm khách quan
Đo kết quả phân
- Đánh giá được khả năng diễn đạt, tư duy trừu tượng
- Có thể đo được các trình độ
- Sử dụng tốt nhất khi
đo về trình độ tổng hợp và đánh giá
- Tốt nhất ở mức đo hiểu biết, ứng dụng
- Có thể đo được các trình độ
- Sử dụng tốt để đo kết quả ở mức: hiểu biết, ứng dụng, phân tích
- Không thích hợp ở mức đo kết quả
Phạm vi bao
trùm nội dung
môn học
- Hạn chế sử dụng ít câu hỏi
- Do sử dụng ít câu hỏi nên nội dung không bao phủ kín được nội dung môn học Khó chọn mẫu tiêu biểu
- Do sử dụng nhiều câu hỏi nên mẫu đề thi bao phủ kín được nội dung môn học Chọn mẫu tiêu biểu
Khuyến khích học sinh tự sắp xếp, diễn đạt ý kiến
Khuyến khích học sinh
tự tích luỹ kiến thức, hiểu biết, phản xạ nhanh
Trang 37Chấm bài thi
- Mất nhiều thời gian, chủ quan,
độ tin cậy thấp
- Khó thực hiện khi học sinh quá đông, nhiều đối tượng nhiều cơ
- Khách quan, đơn giản,
có độ tin cậy cao
- Nhanh chóng áp dụng được công nghệ mới, phù hợp số học sinh đông, nhiều đối tượng
và nhiều cơ sở đào tạo
- Sự đối phó của
học sinh
Học sinh có thể gian lận, học tủ,
có may rủi
Học sinh có thể gian lận, quay cóp, học tủ,
có yếu tố may rủi
- Học sinh không thể học tủ, tránh được quay cóp và sử dụng tài liệu,
it may rủi do trúng tủ
- Chống mọi hình thức gian lận
1.4.4 Các kiểu câu hỏi trắc nghiệm:
1.4.4.1 Câu hỏi trắc nghiệm “Đúng- Sai”
Câu hỏi trắc nghiệm “Đúng - sai” là câu hỏi với một đoạn dẫn đề và có hai phương
án trả lời: Đúng và Sai Học sinh phải chọn một trong hai đáp án “Đúng” hay “Sai”
Ưu điểm của câu hỏi trắc nghiệm “Đúng - sai”:
Đây là loại câu hỏi trắc nghiệm đơn giản nhất, giúp cho việc trắc nghiệm bao quát được một lĩnh vực kiến thức lớn trong một khoảng thời gian lớn Mặc dù soạn thảo cũng cần nhiều công phu, song phần đông giáo viên có thể soạn được nhiều câu hỏi đúng - sai trong một thời gian ngắn
Nhược điểm của loại câu hỏi này:
Loại câu hỏi này có thể khuyến khích sự đoán mò Học sinh có khuynh hướng đoán may rủi để có 50% hy vọng trả lời đúng Loại câu hỏi này cũng có độ tin cậy thấp vì học sinh có thể được điểm cao nhờ xác xuất đúng 50%, do đó khó có thể xác định được sự thiếu sót trong nhận thức của học sinh Để có độ tin cậy tương ứng với các loại trắc nghiệm khách quan khác, bài trắc nghiệm đúng - sai phải giảm xác xuất đúng xuống Dùng nhiều loại câu hỏi này có thể tạo cho học sinh thói quen thuộc
Trang 38lòng, suy nghĩ thiếu cẩn thận hơn là thói quen tìm hiểu suy nghĩ chín chắn Thời gian trả lời câu hỏi ngắn, nên không phát huy được tính sáng tạo ở học sinh giỏi
1.4.4.2 Câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn
Câu hỏi nhiều lựa chọn là câu hỏi thường được dùng nhiều nhất Mỗi câu hỏi gồm 2
phần: Phần câu dẫn và phần lựa chọn Phần câu dẫn: Là một câu hỏi bỏ lửng tạo cơ
sở cho sự lựa chọn Phần lựa chọn: gồm nhiều phương án trả lời (thường từ 4 đến 5
phương án) Học sinh chọn một trong các phương án trả lời duy nhất đúng, hoặc không có liên quan gì trong các phương án cho trước, còn lại là các phương án gây nhiễu
Ưu điểm của loại câu hỏi nhiều lựa chọn:
Loại câu hỏi này có độ tin cậy cao vì có nhiều phương án, giảm yếu tố may rủi Học sinh buộc phải nhớ, hiểu bài và vận dụng tốt mới có kết quả cao Kết quả đánh giá sẽ có độ phân cách lớn nếu soạn đúng kỹ thuật Có thể phân tích được độ khó dễ của từng câu hỏi thông qua phương pháp phân tích tính chất câu hỏi, nhờ đó tìm ra được câu quá khó hoặc quá dễ, mơ hồ hay không có giá trị đối với mục tiêu trắc nghiệm Phương pháp phân tích này khó thực hiện với loại câu trắc nghiệm khác
Nhược điểm của loại câu hỏi nhiều lựa chọn:
Việc soạn câu hỏi rất khó Với giáo viên có kinh nghiệm và khả năng cũng mất nhiều thời gian và công phu mới có thể viềt được những câu hỏi hay đúng kỹ thuật Nhược điểm thứ hai của loại câu hỏi này là khó thoả mãn với các phương án trả lời đúng đã chọn ra vì học sinh có thể tìm ra phương án trả lời hay hơn Loại câu này
có thể không đo được khả năng phán đoán tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề linh hoạt, vì mỗi học sinh phải có riêng một đề
1.4.4.3 Câu hỏi trắc nghiệm ghép đôi
Trong loại câu hỏi này thông tin đưa ra được xếp thành 2 cột, thông tin hoàn toàn dựa vào kiến thức đã được học Học sinh sẽ ghép từng thông tin ở cột này với thông tin tương ứng của cột kia Số phần tử ở mỗi cột có thể bằng nhau hay khác nhau Mỗi phân tử trong cột trả lời thể có được dùng một hay nhiều lần để ghép với thông tin ở cột kia
Ưu điểm của loại câu hỏi trắc nghiệm ghép đôi:
Trang 39Các câu trả lời loại này dễ viết, dễ dùng đặc biệt thích hợp khi kiểm tra các mục tiêu ở mức độ thấp Học sinh thường thích loại câu hỏi ghép đôi Song việc lựa chọn việc trắc nghiệm nào nên dựa vào mục tiêu hơn là ý thích của học sinh
Làm bài loại câu hỏi này đòi hỏi học sinh phải chuẩn bị kiến thức tốt trước khi làm Vì yếu tố đoán mò giảm đi nhiều khi phải ghép những cột có nhiều phần tử với nhau, và số thông tin cần lựa chọn nhiều hơn số thông tin câu hỏi
Loại câu hỏi này thường được dùng để đo mức độ nhận thức khác nhau, được xem như hữu hiệu nhất trong đánh giá khả năng nhận biết các hệ thức, hay lập các mối tương quan Nếu soạn thảo khéo léo, loại trắc nghiệm này được dùng như loại
có nhiều câu trả lời sẵn để trắc nghiệm các kiến thức cao hơn
Nhược điểm của loại câu hỏi ghép đôi:
Để đo được mức độ nhận thức cao, giáo viên phải có sự đầu tư rất công phu, nên thông thường loại câu hỏi này chỉ dùng để trắc nghiệm các kiến thức đơn giản Loại câu này cũng không thích hợp cho việc thẩm định như sắp đặt và áp dụng kiến thức nguyên lý Nếu lượng thông tin đưa ra trong câu hỏi này quá dài, học sinh sẽ mất nhiều thời gian cho mỗi lần đọc để lựa chọn thông tin trả lời đúng
1.4.4.4 Câu hỏi trắc nghiệm điền khuyết:
Loại câu hỏi này đòi hỏi người làm bài chỉ ra một từ hay một cụm từ cho một câu hỏi trực tiếp hay một nhận định chưa đầy đủ
Ưu điểm của loại câu hỏi trắc nghiệm điền khuyết:
Loại câu hỏi này tạo điều kiện cho người làm bài nhớ ra hoặc nghĩ ra câu trả lời, phát huy được tính sáng tạo, giảm đáng kể sự đoán mò So với loại câu hỏi nhiều lựa chọn và câu hỏi ghép đôi thì loại câu điền khuyết dễ soạn hơn Loại này thích hợp dùng để kiểm tra những điều đòi hỏi trí nhớ
Khi làm bài loại này, học sinh có cơ hội trình bày những câu hỏi khác so với đáp án, nên dễ phát huy được tính sáng tạo Loại câu hỏi này thích hợp cho những vấn đề tính toán, nhận biết hay đánh giá mức độ hiểu biết các nguyên lý, giải thích các dữ kiện, diễn đạt các ý kiến và thái độ Loại câu hỏi này cũng giúp học sinh luyện trí nhớ khi học
Nhược điểm của loại câu hỏi trắc nghiệm điền khuyết:
Trang 40Do khái niệm câu trả lời đúng rộng rãi, nên mất nhiều thời gian khi chấm điếm
so với các loại trắc nghiệm khác Mặt khác, khi có nhiều chỗ trống trong một câu hỏi dễ làm cho người làm bài bị rối trí Nếu không cẩn thận giáo viên có thể hiểu sai hoặc đánh giá thấp giá trị các câu hỏi sáng tạo của người làm bài
1.4.4.5 Câu hỏi trắc nghiệm “ diễn giải “ hay vẽ hình
Với loại câu hỏi này học sinh được giới thiệu một đoạn văn hoặc một đoạn tư liệu bằng hình vẽ hay biểu tượng, sau đó phải xử lý những vấn đề dựa trên các dữ kiện
đã cho Câu hỏi loại này dùng để đánh giá mức độ hiểu biết, nhận thức, phê phán hay đánh giá đoạn văn hay tư liệu đó Loại câu này rất phù hợp để đánh giá những khả năng phức tạp, đặc biệt là đánh giá dự hiểu biết
1.5 THỰC TIỄN DẠY HỌC JAVA
1.5.1 Nhu cầu xã hội và thế mạnh của Java
Trong thập niên trước, khi ngôn ngữ lập trình Java trở nên phổ biến và ứng dụng rộng rãi, hầu hết các phần mềm ứng dụng vẫn được viết bằng C, C++ C#, Visual Basic, ASP, PHP, … và đến bây giờ, đa số lập trình viên Việt Nam vẫn quen sử dụng các ngôn ngữ lập trình này, sử dụng chúng để viết phần mềm, mà chưa có ý định thay đổi Ngoài lý do đã quen và thông thạo một trong số ngôn ngữ đó, lý do khác để các lập trình viên không thay đổi ngôn ngữ là do họ có thể được sử dụng một kho mã nguồn mở khổng lồ đã được tích luỹ qua rất nhiều năm Đa số các phần mềm được viết dựa trên một khung cơ bản giống nhau, lập trình viên không mất quá nhiều thời gian để lập một chương trình hoàn toàn mới, thậm chí họ chỉ cần sửa lại chương trình đã có của người khác là thành sản phẩm của mình Trong khi đó, những người làm quen với ngôn ngữ Java gặp nhiều khó khăn hơn, bởi Java chưa
có kho mã nguồn mở rộng lớn như các ngôn ngữ khác ra đời trước nó, thậm chí còn chưa có phần mềm hỗ trợ soạn thảo trực quan Lập trình viên phải tự viết chương trình bằng tay, tự biên dịch và soát lỗi Quá trình hình thành một sản phẩm bằng Java vất vả và mất rất nhiều thời gian, do đó không nhiều người hào hứng nghiên cứu và làm việc với nó
Nhưng ngày nay chúng ta bắt gặp rất nhiều ứng dụng mạng, ứng dụng trên máy tính, điện thoại di động, các phần mềm nhúng,… được viết bằng ngôn ngữ Java, từ