Để thực hiện được các chức năng nêu trên, trước tiên chúng ta phải nhận dạng về hệ thống điện, phân tích tính toán các thông số chế độ hoạt động của nó,trên cơ sở đó áp dụng để thực hiện
Trang 1- LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT
Trang 22 PGS TS Trần Bách Lưới điện và Hệ thống điện (Tập 1 ) Nhà Xuất Bản Khoa học và Kỹ thụât , Nà Nội , 2004
3 PGS TS Trần Bách Lưới điện và Hệ thống điện (Tập 2 ) Nhà Xuất Bản Khoa học và Kỹ thụât , Nà Nội , 2005
4 PGS TS Trần Bách Lưới điện và Hệ thống điện (Tập 3 ) Nhà Xuất Bản Khoa học và Kỹ thụât , Nà Nội , 2006
5 TS Trần Quang Khánh Mạng điện.Tính chế độ xác lập của mạng và hệ thống điện phức tạp Nhà Xuất Bản Khoa học và Kỹ thụât , Nà Nội ,
Trang 3PhÇn më đầu
1 Giíi thiÖu ……….….1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG ĐIỆN CỦA LÀO…….… 3
1.1 T×nh h×nh ph¸t triÓn hÖ thèng ®iÖn Lµo ……… …3
1.2 Giíi thiệu chung về hÖ thèng ®iÖn Viªng ch¨n……… …3
1.3 HÖ thèng ®−êng d©y truyÒn t¶i…….……….….…5
1.4 Dù ¸n ®ang x©y dùng hiÖn nay……… ….7
1.5 Dự án đang chuẩn bị xây dựng trong tương lai……… …8
1.6 Sản xuất và phân phối……… … 8
1.7 Mua, nhËp ®iÖn n¨ng……… …….9
1.8 Tæn thÊt ®iÖn n¨ng……… 9
1.9 Thống kẻ sản xuất, mua nhập, bán xuất nước ngoài và cung cấp điện năng trong nước………10
CHƯƠNG 2: LÝ THUY ẾT TÍNH TOÁN CHẾ ĐỘ XÁC LẬP HỆ THỐNG ĐIỆN………12
2.1 Tầm quan trọng của bài toán giải tích lưới điện……….12
2.1.1 Giới thiệu chung về kỹ thuật tính toán hệ thống điện……… 14
2.1.2 Một số vấn đề cần quan tâm trong chế độ xác lập……… ….15
2.2 Mô hình các phần tử trong bài toán giải tích lưới điện……….16
2.2.1 Mô hình lưới điện chuẩn……… ………16
2.2.2 Mô hình đường dây tải điện……… 18
2.2.3 Mô hình máy biến áp điện lực……… 23
2.2.3.1 Máy biến áp điều chỉnh dưới tải diều chỉnh mô dun……… 24
2.2.4 Sơ đồ thay thế của các thết bị bù (kháng điện và tụ điện)………….29
2.3 Giải tích chế độ xác lập……….31
Trang 4CHƯƠNG 3: CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢI TÍCH CHẾ ĐỘ XÁC LẬP
HỆ THễNG ĐIỆN………52
3.1 Phương phỏp Gauss - Seider ……….52
3.1.1 Cơ sở toỏn học ……….52
3.1.2 Áp dụng phương phỏp Gauss - Seidel cho bài toỏn giải tớch chế độ xỏc lập……… 54
3.1.3 Tốc độ hội tụ của phương phỏp Gauss - Seidel Cơ sở và kinh nghiệm cài đạt hệ số gia túc trong phộp lập……….59
3.2 Phương phỏp Newton - Raphson……… 60
3.2.1 Cơ sở toỏn học……… 60
3.2.2 Áp dụng phương phỏp Newton – Raphson cho thi toỏn giải tớch chế độ xỏc lập……… 62
3.2.3 Cơ sở lý thuyết và ỏp dụng phương phỏp tỏch biến nhanh cho bài toỏn giải tớch chế độ xỏc lập……….71
3.3 Cỏc phương trỡnh dũng điện và cụng suất trờn cỏc nhỏnh……….76
CHƯƠNG 4: SO SÁNH HAI PHƯƠNG PHÁP NEWTON - RAPHSON VÀ GAUSS – SEIDEL……… 80
4.1 So sỏnh hai phương phỏp ……… ………80
4.2 Kết luận……… ………82
CHƯƠNG 5: Sử dụng chơng trình tính toán chế độ xác lập hệ thống điện Lào ……… ……… 83
5.1 Cấu trúc chương trình tính toán chế độ xác lập……… 83
5.1.1 Số liệu đầu vào……….83
5.1.2 Tính toán và xử lý số liệu……….86
Trang 55.2 Sử dụng chương trình tính toán chế độ xác lập
hệ thống điện Lào……… 92
5.2.1 Cấu trỳc của cột hệ thống tại Viờng Chặn……… ………….92 5.2.1.1 Số liệu nhánh……….……… 93 5.2.1.2 Số liệu thông số kỹ thuật của máy biến áp
ba pha hai cuộn dây……….95 5.3 Số liệu vào chương trình……… 96 5.4 Kết quả tính chế độ xác lập của hệ thống điện Lào………… ………… 98 Các kết quả đạt đợc của luận văn ……… 102
Trang 6
Phần mở đầu
1 Giới thiệu
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế Lào,
vấn đề phát triển hệ thống điện cũng được phát triển nhanh chóng Các nguồn
điện, đường dây tải điện, trạm biến áp được phát triển và xây dựng nhiều hơn,
các thiết bị cũ, lạc hậu trong hệ thống điện dần dần được thay thế bởi các
thiết bị hiện đại có khả năng tự động, thích nghi cao Đặc biệt công tác vận
hành, điều khiển, hiệu chỉnh các thiết bị bảo vệ càng được quan tâm hơn
Để thực hiện được các chức năng nêu trên, trước tiên chúng ta phải nhận
dạng về hệ thống điện, phân tích tính toán các thông số chế độ hoạt động của
nó,trên cơ sở đó áp dụng để thực hiện các bài toán khác như: Nghiên cứu Quy
hoạch, thiết kế, vận hành hệ thống điện, tối ưu hoá chế độ làm việc, tính toán
ổn định và nghiên cứu các sự cố
Luận văn: “ Nghiên cứu bài toán tính toán chế độ xác lập của hệ thống
điện” là một trong những nghiên cứu cơ sở để nghiên cứu các bài toán khác
về hệ thống điện
1- Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
- Nghiên cứu các phương pháp lặp để giải hệ phương trình phi tuyến
mô tả chế độ của hệ thống điện
- Tìm hiểu cách sử dụng chương trình tính toán chế độ xác lập bằng
ngôn ngữ lập trình Delphi để tính toán chế độ xác lập hệ thống điện
của Lào
2- Tóm tắt nội dung của luận văn
Nội dung chính của luận văn bao gồm các phần như sau:
Chơng1: Tổng quan về hệ thống điện của Lào, giới thiệu đôi nét về sự
phát triển hệ thống điện Lào
Chơng 2: Lý thuyết tính toán chế độ xác lập của hệ thống điện
Trang 7Chơng 3: Các phương pháp giải tích chế độ xác lập của hệ thống điện
Chơng 4: So sánh hai phương pháp Newton-Raphson và Gauss-Seidel
tính toán chế độ xác lập của hệ thống điện
Chơng 5: Sử dụng chương trình tính chế độ xác lập hệ thống điện Lào
Kết luận
Trang 8CHƯƠNG 1 Tổng quan về hệ thống điện của Lào
1.1 Tình hình phát triển hệ thống điện Lào
Điện năng ngày càng được sử dụng rộng rãi và đóng vài trò rất quan
trọng trong mọi lĩnh vực đời sống, kinh tế, xã hội của Lào
Đất nước Lào có nhiều núi cao và hệ thống sông ngòi, đó là điều kiện
tốt, tiềm năng rất lớn, thích hợp cho việc phát triển, xây dựng các nhà máy thủy
điện trên toàn đất nước Nhận thức được điều đó, Đảng, nhà nước Lào có kể
hoạch khảo sát và xây dựng nhiều nhà máy thủy điện từ miền Bắc đến miền
Nam để cung cấp điện năng cho phụ tải tiêu thụ đang tăng trưởng và một phần
để xuất khẩu
Cùng với sự phát triển nguồn điện, lưới điện cũng được phát triển và mở
rộng mạnh mẽ về cấp điện áp vận hành, cũng như bán kính cung cấp điện
Hiện nay công ty điện lực Lào có quy hoạch phát triển và mở rộng mạng lưới
điện để cung cấp điện năng cho nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước Hệ
thống truyền tải điện cao áp ở Lào đã vận hành ở cấp điện áp 115 kV có tổng
chiều dài 1.610 km Điện năng được sản xuất từ các nhà máy thuỷ điện Nam
Ngum , Nam Leuk , Nam Mang nhờ hệ thống truyền tải cung cấp điện năng
cho các phụ tải ở một số tỉnh miền Bắc, miền Nam, thành phố Viêng Chăn và
xuất khẩu sang Thai Lan Trong tương lai không xa sẽ có dự án xây dựng
đường dây truyền tải nối với đường dây truyền tải của các nước Asean
Phần cơ bản,xương sống hệ thống điện Lào, đó là hệ thống điện Vien Chan
1.2 Giới thiệu chung về hệ thống điện Viêng Chăn
Lào có biên giới giáp với các nước Việt Nam, Trung Quốc, Miên Ma,
Thái Lan và Cam Pu Chia Trong đó, phía đông giáp Việt Nam với chiều dài
khoảng 2.069 km, phía bắc giáp Trung quốc với chiều dài khoảng 505 km, phía
tây bắc giáp Miên Ma có chiều dài khoảng 236 km, phía tây giáp Thai Lan có
Trang 9chiều dài khoảng 1.835 km, phía nam giáp Cam Pu Chia có chiều dài khoảng
492 km Đất nước Lào có diện tích 236.800 km2 , có dân số khoảng 6.521.998
người và bảo gồm 17 tỉnh
Hệ thống điện Lào đã được thành lập từ năm 1959, thời kỳ đó chỉ có một
nhà máy điện nhỏ, có sản lượng nhỏ chỉ đủ cung cấp cho quân đội Pháp và một
số phụ tải trung tâm Viêng Chăn Trong thời kỹ 1966 đến 1971 hệ thống điện
Lào đã được mở rộng khi hoàn thành dự án xây dựng nhà máy thuỷ điện Nam
Ngum 1 có công suất 30 MW và xây dựng nhà máy điện chạy dầu có công suất
10 MW
Năm 1975 ở miền Bắc đã xây dựng nhà máy thủy điện nhỏ Nam Đông
(tỉnh Luang Pra Bang) có công suất phát là 0,9 MW, ở miền Nam đã xây dựng
nhà máy thủy điện Sê La Băm (tỉnh Chăm Pa Sắc) có công suất phát là
2,04MW, cả nước có công suất phát là 42 MW Sản lượng điện toàn quốc đạt
241 triệu kWh/năm, cung cấp cho 19.000 hộ gia đình
Giai đoạn 1976-1979 đã mở rộng nhà máy thủy điện Nam Ngum từ 30
MW đến 110 MW, cả nước có công suất phát là 122 MW đạt sản lượng 898
triệu kWh/năm, cung cấp điện năng cho 25.000 hộ gia đình và xuất sang Thái
Lan tăng 4 lần so với năm 1975
Giai đoạn 1983-1990 mở rộng công suất phát của nhà máy thủy điện
Nam Ngum từ 110MW đến 150 MW, cả nước có công suất phát 162 MW, đạt
sản lượng 900 triệu kWh/năm có thể đáp ứng được nhu cầu sử dụng của đất
nước và xuất khẩu
Giai đoạn 1991-1999 là thời kỳ hệ thống điện của Lào phát triển khá
nhanh, nhiều nhà máy thủy điện đã được xây dung: nhà máy thủy điện Xê Xết
1(xây dựng xong năm 1991), có công suất 45 MW; nhà máy thủy điện Thân
Hịn Bun (xây dựng xong năm 1998), có công suất 210 MW; nhà máy thủy
Trang 10điện Huổi Hỏ (xây dựng xong năm 1999), có công suất 150 MW, tăng công
suất phát toàn quốc từ 162MW lên đến 570 MW
Trong giai đoạn này dự án tăng công suất phát của nhà máy thủy điện Sê
la băm đã tăng công suất phát từ 2,04MW đến 5MW (xong năm 1994) Song
song với sự phát triển nguồn, mạng lưới truyền tải cũng được mở rộng: Dự án
xây dựng đường dây 115 kV từ nhà máy thủy điện Nam Ngum đến tỉnh Luang
Pra Bang hoàn thành năm 1993, dự án xây dựng lưới điện (Southern Project
Electrification) của miền Nam (năm 1993) và dự án xây dựng lưới điện (Power
Grid Install) năm 1998 Sản lượng điện toàn quốc đạt 1.200 triệu kWh/năm,
cung cấp cho 225.882 hộ gia đình, gấp 11,8 lần so với năm 1975
Giai đoạn 2000-2007 hoàn thành việc xây dựng 2 nhà máy thủy điện
trong tỉnh Viêng Chăn: Nhà máy thủy điện Nam Leuk (xây dựng xong năm
2000), có công suất phát 60 MW, nhà máy thủy điện Nam Mang 3 (xây dựng
xong năm 2005), có công suất phát 40 MW
Năm 2004 đã thực hiện dự án mở rộng nhà mày thủy điện Nam Ngum
từ 150MW lên 170MW Cũng thời gian này, thực hiện giai đoạn 1: mở rộng
lưới điện hệ thống điện miền Bắc, hệ thống điện miền Nam Đặc biết đã thực
hiện dự án xây dựng đường dây 115 kV từ thành phố Tha Khach (tỉnh Kham
Muom) đến mỏ vàng Se Pon, nâng sản lượng điện cung cấp cho toàn quốc gia
lên 1.400 triệu kWh/năm, cung cấp cho 408.206 hộ gia đình, gấp 21,4 lần so
với năm 1975
1.3 Hệ thống đường dây truyền tải
Điện năng dưới sự quản lý của chính phủ Để đóng góp vào sự phát triển
kinh tế xã hội đảm bảo mức độ tăng trưởng 11%, Công ty điện lực Lào đã phát
triển đường đây cao áp 115kV có tổng chiều dài 1.610 km (năm 2006 chỉ có
1.168 km), tăng khoảng 442 km; lưới trung áp 22 kV bao gồm 9.800 km tăng
795 km và lưới hạ áp 0.4 kV gồm: 8.855 km, tăng 537 km
Trang 111 Có thể thấy sự mở rộng các đường dây 115 kV ở các địa phương từ
năm 2006 đến năm 2007 qua bảng tổng kết sau:
(km)
Năm 2007 (km)
Na Xay Thong-Phone Tong Phone Tong-Tha Na Leng
Na Xay Thong-Tha Ngon Nam Mang-Kok Sa Ad Kok Sa Ad-Tha Na Leng Nam Leuk-Nam Ngum
Hệ thông điện miền bắc Thalat-Non Hai
Thalat-Vang Vieng Xieng Ngeu-Sayabury Vang Vieng-Luang Pra Bang Nam Leuk-Phone Savan
Hệ thông điện miền nam Nam Leuk- Pak San Tha Kek-Nakonpanom Pak Bo-Keng Kok
Se Xet-Song Mek Pak Se-Khon Pa Peng
Trang 12L−íi h¹ ¸p N¨m 2006 N¨m 2007 (km) (km)
742 1,233
752 1,385 1,491
851 1,308
641 1,194
598
846 1,226
670 1,348
1.4 Dù ¸n ®ang x©y dùng hiÖn nay:
HiÖn nµy ®ang x©y dựng lưới điện 0,4kV, 22kV vµ ®−êng d©y 115kV:
* ë miền Bắc (6tØnh) giai ®o¹n 2 (Northern Area Rural Power Distribution 2):
- X©y dùng ®−êng d©y 115 kV cã chiÒu dµi 272 km
- X©y dùng l−íi ®iÖn 22 kV cã chiÒu dµi 915 km
Trang 13- Xây dựng lưới điện 0.4 kV có chiều dài 439 km
* ở miền Nam (7tỉnh), đang xây dựng lưới điện 0.4kV, 22kV,115kV giai đoạn
2 (Rural Electrification Project 2):
- Xây dựng đường dây 115 kV có chiều dài 300 km
- Xây dựng lưới điện 22 kV có chiều dài 1.447 km
- Xây dựng lưới điện 0.4 kV có chiều dài 1.059 km
1.5 Dự án đang chuẩn bị xây dựng trong tương lai:
Dự án đang nghiên cứu xây dựng lưới điện 500kV để nối với các Nước
trong khu vực như : Việt Nam, Thái Lan và các nước Asean
1.6 Sản xuất và phân phối :
1.6.1 Sản xuất:
Trong năm 2007 sản lượng điện năng: 1.715 triệu kWh
1.6.2 Việc phân phối điện năng
Xuất khấu sang Thái Lan 704 triệu kWh
Trong nước 1.011 triệu kWh, được biểu diễn trong bảng sau:
Các loại khách hàng Số lượng Sử dụng (triệu kWh) Tiền (triệu Kip)
Trang 141.7 Mua, nhập điện năng
Mặc dù Công ty điện lực Lào đã sản suất điện năng để đáp ứng cho các phụ
tải, tuy nhiên để cung cấp cho các tỉnh giáp biên giới (với sản lượng 1.715 triệu
kWh trong năm 2007), Công ty điện lực vẫn nhập điện năng từ các nước Việt
Nam, Thái Lan
1.8 Tổn thất điện năng
Trong những năm qua, tổn thất điện năng cả nước vẫn còn cao và tăng
thêm hàng năm Vấn đề này đã trở thành cấp bách, Công ty điện lực Lào cần
phải nghiên cứu, giải quyệt Tổn thất năng lượng có 2 mặt kỹ thuật và không
kỹ thuật
Trong quá trình thực hiện giải pháp giảm tổn thất năng lượng, một số chi
nhánh tỉnh, đặc biệt ở 6 tỉnh miền Bắc có khả năng giảm được(ví dụ: Xiêng
Khoang tổn thất năng lượng còn 6,2%.Còn ở chi nhánh một số tỉnh miền Nam
tổn thất năng lượng tương đối cao (Chăm Pa Sắc: 26,64%)
Tỷ lệ tổn thất năng lượng so với sự cung cấp
21.30 12.55 13.45 10.92 9.91 6.20 10.27 12.59 18.61 21.46 15.19
Trang 15Salavan
Champasak
21.34 23.57
15.19 26.64
1.9 Thèng kÎ s¶n xuÊt, mua nhËp , t¸i xuÊt n−íc ngoµi vµ cung cÊp ®iÖn
n¨ng trong n−íc
1 B¶ng thèng kÎ s¶n xuÊt, mua nhËp, t¸i xuÊt n−íc ngoµi vµ cung cÊp
®iªn m¨ng trong n−íc cña C«ng ty ®iÖn lùc Lµo
n−íc ngoµi
Cung cÊp trong n−íc
ChØ sè t¨ng tr−ëng (%)
155,289,801 156,617,600 176,722,000 222,510,033 787,968,903 766,405,400 708,703,800 749,762,200 694,416,900 709,716,277 716,277,200 683,588,000 387,250,600 363,607,900 490,542,990 595,192,720 562,586,811 459,818,078 595,786,249
60,662,478 63,567,000 68,071,731 76,385,944 85,715,646 96,184,868 105,118,000 107,373,000 124,008,965 127,466,238 130,385,347 128,151,280 125,533,604 139,100,930 149,196,361 164,576,091 220,666,369 252,737,409 264,788,396
Cung cÊp trong n−íc
4.57 6.62 10.88 10.88 10.88 8.50 2.10 13.42 2.71 2.24 -1.74 -2.09 9.75 6.77 9.35 25.42 12.69 4.55
Trang 16829,250,624 675,546,863 792,430,900 710,211,695 405,197,069 598,140,993 862,938,275 796,379,635 771,434,261 434,656,874 507,054,590 520,460,000
303,405,519 337,472,311 379,541,423 433,860,457 513,272,507 565,546,838 639,858,582 710,330,142 766,738,823 883,722,502 902,762,784 1,025,820,000
12.73 10.09 11.08 12.52 15.47 9.24 11.61 9.92 7.36 13.24 2.11 12.00
* Kết luận:
- Với sự phát triển nguồn điện và mở rộng nhanh chóng lưới điện Hệ
thống điện Lào càng ngày càng trở thành hệ thống điện lớn, phức tạp
hơn
- Để có thể thiết kế, vận hành đảm bảo kỹ thuật, kinh tế cũng như giải
quyết tốt vấn đề giảm tổn thất điện năng trong hệ thống điện cần phải
nghiên cứu tốt phương pháp mô hình hoá và tính toán chế độ xác lập
hệ thống điện
Trang 17
CHƯƠNG 2:
Lý thuyết tính toán chế độ xác lập hệ thống điện
2.1 Tầm quan trọng của bài toán giải tích lưới điện
Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhu cầu điện
năng ngày càng cao dẫn đến hệ thống điện ngày càng phát triển và mở rộng
Các phần tử được đưa vào hệ thống ngày càng tăng về cả chất lượng và số
lượng Do đó có nhiều bái toán cần được nghiên cứu trong hệ thống điện
Trước hết phải kể đến bài toán giải tích lưới điện, đó là bài toán xác định các
thông số chế độ của lưới điện và cũng là bài toán cơ sở để nghiên cứu các bài
toán khác như: bài toán quy hoạch, thiết kế, vận hành, tính toán kiểm tra lựa
chọn trang thiết bị và tính toán các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của hệ thống điện
Trong quy hoạch phát triển hệ thống điện cần giải quyết nhiều bài toán
tối ưu về lựa chọn các thành phần và công suất của các loại nguồn điện, phạm
vi cung cấp điện tập trung và phân tán, phát triển lưới điện truyền tải và phân
phối gắn với quy hoạch nguồn điện, các vấn đề liên quan đến khai thác hệ
thống, đánh giá độ tin cậy của hệ thống Để thực hiện điều này, trước hết
chúng ta phải giải bài toán tính chế độ xác lập của hệ thống điện để xác định
được lưu lượng công suất, điện áp các nút, điểm nối các đường dây,vị trí đặt
trạm biến áp cần được xây dựng để cung cấp cho phụ tải đảm bảo độ tin cậy
làm việc của hệ thống
Trong công tác vận hành, bài toán tính toán chế độ của hệ thống điện có
vai trò hết sức quan trọng Diễn biến xảy ra trong hệ thống điện rất phức tạp,
nó thay đổi liên tục phụ thuộc vào diễn biến của phụ tải và các chế độ của hệ
thống Do đó, tại các trung tâm điều khiển hệ thống điện, công việc tính toán
phân tích các thông số chế độ của hệ thống điện được thực hiện thường xuyên
để lập phương thức vận hành cho từng thời điểm Chẳng hạn như tại thời điểm
cao điểm, cần phải tính các thông số điện áp tại các nút, dòng điện trong các
Trang 18nhánh để xác định được lưu lượng công suất, từ đó có thể biết được công suất
phát của các nguồn điện, đường dây nào quá tải, điện áp các nút có đảm bảo
không…từ các số liệu thông tin đó người vận hành có thể lập ra phương thức
vận hành hợp lý cho hệ thống điện tương ứng với chế độ đó
Trong thiết kế lựa chọn các trang thiết bị điện, việc tính toán chế độ của
hệ thống điện cũng được thực hiện trước tiên Khi đánh giá, lựa chọn phương
án thiết kế, việc tính toán, phân tích các chế độ, tính tổn thất công suất, tổn thất
điện áp của lưới điện góp phần tích cực váo việc tính toán các chỉ tiêu kinh tế
của hệ thống và từ đó đưa ra được phương án tối ưu nhất Đồng thời, khi lựa
chọn các phần tử của hệ thống, kết quả của việc tính toán các chế độ như xác
định dòng điện làm việc tính toán và dòng điện làm việc cưỡng bức chạy qua
các phần tử cho ta thực hiện các điều kiện lựa chọn các phần tử, các khí cụ điện
của hệ thống điện để đảm bảo cho hệ thống điện làm việc tin cậy và kinh tế
Nghiên cứu ổn định của hệ thống điện, thực chất là giải các bài toán về
phân tích, điều khiển các quá trình quá độ mà các thông số chế độ như: dòng
điện, điện áp, công suất, tốc độ quay của rô to của các máy phát điện thay đổi
theo thời gian Tuy nhiên, bài toán sẽ hoàn toàn vô nghĩa và không thể giải
được nếu không biết được thông tin của chế độ xác lập ban đầu Khái niệm ổn
định tĩnh phải gắn liền với chế độ xác lập cụ thể Còn ổn định động thực chất là
nghiên cứu khả năng dịch chuyển an toàn từ chế độ xác lập này này sang chế
độ xác lập khác Từ đó có thể thấy rõ vai trò quan trọng của tính toán chế độ
xác lập trong các bài toán nghiên cứu ổn định hệ thống điện Việc xác định
thông số của chế độ xác lập ban đầu cũng chính là tính toán điểm xuất phát của
quá trình quá độ Ngoài ra, trong những điều kiện gần đúng cho phép, ở mỗi
thời điểm, chế độ quá độ hệ thống có thể tính toán như ché độ xcá lập xấp xỉ
Khi đó việc áp dụng các phương pháp tính toán các đặc trưng công suet, phân
bố dòng, áp trong chế độ xác lập vẫn có ý nghĩa trong chế độ quá độ
Trang 19Như vây, cách thiêt lập mô hình lưới điện và tính toán chế độ xác lập là
bài toán rất cần thiết được quan tâm trước khi đi sâu vào nghiên cứu các bài
toán ổn định của hệ thống điện
Tóm lại, bài toán phân tích tính toán chế độ xác lập của hệ thống điện
rất quan trọng, nó là cơ sở, tiền đề cho việc nghiên cứu các bài toán khác của
hệ thống điện Do đó cần phải hiểu rõ, nắm bắt được các phương pháp, những
thuật toán áp dụng để giải bài toán tính chế độ xác lập của hệ thống điện Đặc
biệt, hiện nay với sự phát triển mạnh của công nghệ máy tính, cho phép chúng
ta thực hiện trên máy tính các bài toán tính toán chế độ đối với các hệ thống có
kích thước lớn, với độ chính xác cao
2.1.1 Giới thiệu chung về kỹ thuật tính toán hệ thống điện
Qúa trình đang hoạt động của hệ thống điện chính là một trong các chế độ
làm việc của hệ thống điện, chế độ làm việc của hệ thống điện bao gồm chế dộ
xác lập và chế độ qúa độ Trong các chế độ xác lập và chế độ qúa độ người ta
lại phân ra nhiều loại chế độ như:
Vấn đề đặt ra là cần phải tính toán phân tích các chế độ để hệ thống làm
việc một cách tin cậy Qúa trình phát triển của bản thân hệ thống điện như:
việc sử dụng các công nghệ mới, thiết bị mới làm gia tăng không ngừng độ
phức tạp của hệ thống điện gắn liền với sự phát triển của kỹ thuật tính toán,
công cụ tính toán, giám sát hiện đại nhất Đố là vì mục đính hàng đầu của tính
toán phân tích hệ thống là để phục vụ cho việc kiểm soát điều chỉnh, điều
Trang 20khiển qúa trình làm việc của nó, cũng vì hệ thống điện là một hệ thống điện
phức tạp, có quá trình diễn biến nhanh và vai trò kinh tế cực kì to lớn
Trong giai đoạn phát triển hiện nay, tính toán phân tích hệ thống điện ngày
càng chú trọng đến các áp dụng thời thực, tức là theo kịp các diễn biến thực
trong vận hành hệ thống Cơ sở cho tính khả thi của việc triển khai các áp dụng
này là sự xuất hiện của hệ thống điều khiển giám sát và thu thập dũ liệu
SCADA (Supervisory Control And Data Acquisition) Như tên gọi của nó, hệ
thống này đảm bảo việc thu thập và xữ lý dữ liệu thời thực từ hệ thống đo
lường từ xa RTU (Remote Terminal Units), phục vục cho khâu tính toán phân
tích và lấy quyết định điều khiển Sau đó cũng chịu trách nhiện thi hành tự
động có giám sát các điều khiển này trên hệ thống công nghiệp SCADA có vai
trò khác nhau trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau trong đó có hệ thống
điện, và dễ thấy rắng sự phát triển của nó gắn liền vối sự phát triển của công
nghệ thông tin, máy tính điện tử, viễn thông
Trước các vấn đề trên thì việc nghiên cứu các kỹ thuật tính toán phân tích
hệ thống điện và lập các chương trính tính toán chế độ hệ thống điện là cần
thiết
2.1.2 Một số vấn đề cần quan tâm trong chế độ xác lập.
Tập hợp các quá trình điện xảy ra trong một thời điểm hoặc một khoảng
thời gian vận hành gọi là chế độ của hệ thống điện.Đặc trưng của chế độ hệ
thống điện là các thông số chế độ của hệ thống điện như: U, I, φ, P, Q, f…
Các thông số này luôn biến đổi theo thời gian, là hàm số của thời gian Để biết
được một chế độ làm việc của một hệ thống điện ta cần phải tính toán các
thông số chế độ của hệ thống điện đó, các thông số chế độ có quan hệ qua lại
với nhau thông qua các thông số hệ thống (r, x, b…), những quan hệ này có thể
là tuyến tính hoặc phi tuyến
Với hệ thống điện làm việc ở chế độ xác lập thì vấn đề cần quan tâm là:
Trang 21+ Chất lượng điện năng (Có đặc trưng bởi điện áp và tần sô)
+ Độ tin cậy cung cấp điện
+ Hiệu qủa kinh tế
+ An toàn cho người và thiết bị
Để đảm bảo các yêu cầu trên ta phải cân bằng công suất giữa nguồn và phụ
tải, điều chỉnh tần số và điện áp, tính toán ổn định tĩnh, ổn định động cho hệ
thống điện nghĩa là trước hết ta phải giải tích chế độ xác lập của lưới điện
2.2 Mô hình các phần tử trong bài toán giải tích lưới điện
2.2.1 Mô hình lưới điện chuẩn
Lưới điện thực tế bao gồm nhiều cấp điện áp và có cấu trúc phúc tạp
(Hình tia, mạch vòng) được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau tỉ số biến áp
của các máy biến áp có thể nhận các giá trị tùy ý (theo đầu phân áp vận hành),
khi đó, về nguyên tắc không thể qui đổi mạch điện về một cấp điện áp, bởi
giữa hai phần mạng diện cấp điện áp khác nhau không tồn tại một cấp điện áp
duy nhất Để thiết lập hệ phương trình mô tả trạng thái của lưới điện người ta
áp dụng khái niệm nhánh và sơ đồ tính toán gồm các nhánh chuẩn gọi là lưới
chuẩn Nhánh chuẩn được định nghĩa là nhánh nối giữa hai nút i và j như hình
vẽ:
Mỗi nhánh chuẩn bao gồm một tổng trở Zij nối tiếp với một máy biến áp
lý tưởng (máy biến áp này không có tổn hao ) có hệ số biến áp phức là Kij Về
modul có trị số Kij, hệ số biến áp bằng tỷ số giữa càc vòng dây của máy biến áp
thực (và phụ thuộc đầu phân áp lựa chọn lúc vận hành), khi nối trong mạchsẽ
Trang 22bằng tỷ số modul điện áp hai phía Kij=U’i/Ui Còn pha phụ thuộc vào tổ đấu
dây của máy biến áp
Khi đó sơ đồ tính toán có thể coi như bao gồm toàn các nhánh chuẩn
(lưới chuẩn ) Các nhánh bình thường (đường dây truyền tải ) tương ứng với các
nhánh chuẩn có tỷ số biến điện áp bằng một
Ngoài ra tai các nút của sơ đồ còn có nguồn (biểu diễn bằng dòng điện
bên trong J hoặc điện áp đầu cực U) Trên hình vẽ sau, thể hiện một phần của
lưới chuẩn cho mạng điện phức tạp:
Nhận xét: Vị trí tương đối của máy biến áp lý tưởng và tổng trở Z Phân
biệt ra hai hướng khác nhau của mỗi nhánh
Xét một nhánh chuẩn, gọi nút đầu của nhánh là i và nút cuối của nhánh
là j thì ta có hai trường hợp sau:
j
J k
J i
k i
J l l j J
Trang 23a) Máy biến áp lý tưởng nối trực tiếp với nút đầu i
Sự khác nhau chủ yếu trên sơ đồ với mạch thông thường là sự có mặt của
máy biến áp lý tưởng trong mọi nhánh Hệ số biến áp là một thông số nhánh
nên có thể nhận giá tị bất kỳ Do đó số cấp điện áp của sơ đồ là không hạn chế,
trong khi đối với mỗi máy biến áp có thể xét chính xác hệ số biến áp cả về
modul và góc pha Kij = Kij ejγ
2.2.2 Mô hình đường dây tải điện
Với bất kỳ một mạng lưới điện nào cũng đều phải có phần tử đường dây,
nên phải xác định các tham số của nó và các sơ đồ thay thể phục vụ cho quá
trình tính toán Có rất nhiều loại đường dây được phân cấp theo cấu trúc của
mạng, ở đây ta chỉ xét đến đường dây cung cấp và truyền tải điện
Các thông số điện trở tác dụng (R), cảm kháng (X), điện dẫn tác dụng
(G) và điện dẫn phản kháng (B) phân bố theo chiều dài đường dây (L)
Tính toán chính xác mức độ ảnh hưởng của chúng khá phức tạp và chỉ
cần thiết khi tính chế độ làm việc của đừơng dây siêu cao áp
Đối với các đường dây truyền tải 110 kV và lớn hơn có chiều dài nhỏ
hơn 250 ữ 300 km thường không xét đến sự phân bố đều của các thông số,
đồng thời có thể sử dụng các thông số tập trung là điện trở tác dụng (R), cảm
Trang 24kháng (X), điện dẫn tác dụng (G) và điện dẫn phản kháng (B) của đường dây
trong tính toán chế độ xác lập của mạng điện
Các đường dây truyền tải 110kV và lớn hơn thường dược biển diễn bằng
sơ đồ thay thế hình Π
Sơ đồ thay thế hình Π của đường dây
Trong đó tổng trở Z= R + jX đặt tập trung ở giữa, còn tổng dẫn ngang
Yc = G + jB được chia thành hai phần bằng nhau và đặt ở hai đầu đường dây
B A
ℓ
A
R
B/2G/2
BX
Trang 25Đối với các đường dây trên không điện áp 110 ữ 220kV thường không
xét đến điện tác dụng (G) do đó sơ đồ thay thể của đường dây có dạng như
hình vẽ sau:
T
Trong tính toán, thiết kế và lựa chọn dây dẫn ta phải chú ý đến tổn thất vầng
quang điện
Vầng quang phụ thuộc vào ba yếu tố là điện áp đường dây(Uđd), đường
kính dây dẫn và điều kiện khí quyển Vầng quang chỉ xuất hiện trên các đường
dây điện áp 110kV trở lên, khi cương độ điện trường bề mặt dây dẫn đạt
20kV/cm, trên các đường dây 330kV và cao hơn tổn thất vầng quang có thể đại
tới hằng chục kilôwat trên kilômêt Trong thực tế, khi thiết kế đường dây để
hạn chế vầng quang điện người ta qui về điều kiện tối thiểu của tiết diện theo
cấp điện áp của mạng điện
Ví dụ: đối với mạng điện áp 110kV tiết diện tối thiểu là 70mm2 và mạng
điện áp 220kV tiết diện tối thiểu là 240mm2
Trong thực tế, chỉ xét đến vầng quang điện đối với đường dây trên không
Trang 26Đối với các mạng điện địa phương điện áp từ 35 kV trở xuống do điện
dung (C) của đường dây với đất nhỏ nên trong sơ đồ thường bỏ qua luôn điện
dẫn phản kháng (B) như hình vẽ sau:
Để phân tích chế độ xác lập của các đường dây điện áp siêu cao (Uđd ≥
330kV) có chiều dài lớn hơn 250 ữ 300km cũng có thể dùng sơ đồ thay thể
hình Π, song trong khi xác định các tham số của sơ đồ thay thể hình Π cần
phải xét đến sự phân bố của điện trở tác dụng (R), cảm kháng(X), điện dẫn tác
dụng (G) và phản kháng (B) dọc theo chiều dài của đường dây
Nếu xét đường dây dài như một mạng 4 cực, chúng ta có thể viết các
quan hệ dòng và áp như sau:
I1 = C.U2 +D.I2 I2 = A.U1 - C.I1
Trong đó A, B, C, D là các thông số của mạng 4 cực Đối với mạng 4
cực đối xứng thì: A=D và A.D - B.C =1 Các thông số A, B, C và D được xác
đường dây
Trang 27
Zo =ro + j xo là tổng trở dọc tính trên một đơn vị dài đường dây
Yo = go + j bo là tổng dẫn ngang tính trên một đơn vị dài đường dây thay
Thay thế bằng sơ đồ tạp trung hình Π có ưu điểm là thông số phần tử ít
mà đảm bảo được độ chính xác chấp chấp nhận được Tuy nhiên, nhược điểm
là không theo dõi được sự phân bố của hệ thông chế độ dọc theo chiều dài
đường dây Để đơn giản cho việc tính toán ta chia đường dây ra làm nhiều đoạn
.Trên mỗi đoạn ta thay bằng sơ đồ tham số tập trung hình Π
Trang 28Ta xem đường dây dài như một mạng 4 cực hợp nhất gồm n phần tử
mạng 4 cực hình Π
Fi =
Thì ma trân các thông số của mạng 4 cực hợp nhất được xác định như sau:
F = Π F1=
2.2.3 Mô hình máy biến áp điện lực
+ Máy biến áp hai cuộn dây
Trong hệ thống điện thường dùng máy biến áp điều áp dưới tải để điều
chỉnh áp Có hai loại máy biến áp điều áp dưới tải được áp dụng:
+ Máy biến áp điều chỉnh dọc dùng để điều chỉnh công suất phản kháng
tức là mức điện áp trên lưới, hệ số biến áp là số thực
Trang 29+ Máy biến áp điều chỉnh góc pha dùng để điều chỉnh công suất tác
dụng trong hệ thống điện và có hệ số biến áp là số phức
2.2.3.1 Máy biến áp điều chỉnh dưới tải, điều chỉnh mô đun
Khi tính toán nhánh máy biến áp này được thay thế bởi một mày biến áp
lý tưởng (không có tổn thất) có hệ số biến đổi t mắc nối tiếp với một tổng dẫn
Y như hình vẽ
Y được tính về phía cao thế của máy biến áp (giả thiết rằng đầu phân áp
đặt ở phía cao, vì trong thực tế ở phía cao dòng nhỏ hơn tuận tiện cho việc tạo
Vì máy biến áp lý tưởng không có tổn thất nên công suất máy biến áp lý
tưởng từ nút i: Si đúng bằng -Sj công suất ra khỏi máy biến áp lý tưởng về phía
nút j từ đó suy ra:
Formatted: Bullets and Numbering
Trang 30Ii = - Conj(t).Ij (1)
Với Ij = (Uj – t.Ui).Y = -t.Y.Ui+Y.Uj (2)
Nhân cả hai vế của phương trình (2) Với –Conj(t) Và thay vào (1) ta có Ii = t
Conj(t).Y.Ui- Conj(t).Y.Uj
Với chú ý rằng : t Conj(t) =t2 ta nhận được hệ phương trình sau:
Ma trận này được cộng thêm vào ma trận tổng dẫn Y của lưới điện như sau:
Ma trạn tổng dẫn Y của lưới điện đã được thành lập không có phần tử máy biến
áp điều áp dưới tải nối giữa hai nút i và j, sau đó các tổng dẫn Yii, Yij, Yji và Yjj
được hiệu chỉnh lại theo các thông số của máy biến áp như sau:
Trang 31Yi = Yii + t2.Y
Yj = Yji = - t.Y
Yjj = Yjj + Y
Trường hợp Y được tính về phía không phải phía đặt đầu phân áp thì sơ
đồ thay thế máy biến áp như hình vẽ dưới đây:
Sơ đồ thay thế hình Π:
Từ hệ phương trình (*), tráo đối vai trò của hai nút i, j và coi tỷ số biến
áp của máy biến áp lý tưởng là t=1/a ta cũng nhận được hệ phương trình sau:
i jj ij
ij ii
j
i
U
U a Y a Y
a Y Y
U
U Y
Y
Y Y
I
I
2/ /
Trang 32k
j
i
n+1
* Trường hợp máy biến áp điều chỉnh mô đun và góc pha
Khi đó tỷ số biến đổi của máy biến áp là một số phức và góc pha còn
phụ thuộc vào tổ đấu dây của máy biến áp, vấn đề này ta xẽ xét riêng ở mục
sau vì trong trường hợp này tổ đấu dây của máy biến áp xẽ làm mất đi tính đối
xứng của ma trận tổng dẫn nút và điều này xẽ ảnh hưởng đến thuật giải và
phương pháp xử lý dữ liệu của chương trình
* Trường hợp máy biến áp ba cuộn dây
Sơ đồ thay thế của máy biến áp ba cuộn dây (hình vẽ a) có sơ đồ thay thế
/
a Y Y
Y
a Y Y
Y
Y Y Y
jj jj
ji ij
ii ii
Trang 33=
Vậy ta coi sơ đồ thay thế của may biến áp ba cuộn day như một sơ đồ
lưới chuẩn đấu hình sao
Trong đó ZC, ZT, ZH lần lượt là tổng trở cuộn cao áp, trung áp và cuộn hạ
áp
KCT là hệ số biến áp giữa cuộn cao và cuộn trung áp KCT = UC/UT
KCH là hệ số biến áp giữa cuộn cao và cuộn hạ áp KCH = UC/UH
Phương trình trạng thái của lưới điện 4 nút trên đây như sau:
0 0 Ykk Ykn+1 Uk Jk
Yn+li Yn+lj Yi+lk Yn+ln+1 Un+1 0
Ta tháy rằng với nút phụ n+1 có Jn+1 = 0 chính vì vậy ta có thể dùng
phép khử Kron để loại nút n+1 ra khỏi lưới mà vẫn không ảnh hưởng đến
nguồn dòng tại các nút khác
Thực hiện khử Kron:
1 , 1
, 1 1 , , ,
.+ +
+ +
ư
=
n n
i n n i i
Y Y Y
1 , 1
, 1 1 , , ,
.+ +
+ +
ư
=
n n
j n n j j
Y Y Y Y
1 , 1
, 1 1 , , ,
.
+ +
+ +
ư
=
n n
k n n k k
Y Y Y Y
1 , 1
, 1 1 , , ,
.
+ +
+ +
ư
=
n n
j n n i j j
Y
Y Y Y
Trang 34=
1 , 1
, 1 1 , , ,
.
+ +
+ +
ư
=
n n
k n n i i k
Y Y Y Y
1 , 1
, 1 1 , , ,
.
+ +
+ +
ư
=
n n
k n n j k j k j
Y
Y Y Y Y
Sau khi khử nút n+1 ta có phương trình trạng thái như trên Điều đó cho
phép ta mô tả máy biến áp 3 cuộn dậy bằng một mạng 3 cực như hình vẽ trên
Như vậy với cách xử lý trên thì ta tránh được việc phải thêm nút phụ khi
lưới điện cập nhật thêm máy biến áp 3 cuộn dây
2.2.4 Sơ đồ thay thế của các thiết bị bù (kháng điện và tụ điện).
Để bù công suất phản kháng do các phụ tải và các phần tử của mạng
điện tiêu thụ, cũng như để bù các thông số phản kháng của đường dây, có thể
sử dụng các thiết bị bù như các bộ tụ, các máy bù đồng bộ, các kháng điện…
Các bộ tụ, các máy bù đồng bộ được sử dụng để phát công suất phản
kháng vào các nút của mạng điện
Các thiết bị bù này được nối vào các thanh góp của các trạm và được gọi
là bù song song hay bù ngang
Trang 35Trong sơ đồ thay thế các thiết bị bù công suất phản kháng thường được
biểu diễn giống như các nguồn cung cấp Trong trường hợp này các giá trị
công suất phản kháng do các thiết bị bù phát ra được cho ở các sơ đồ thay thế
Các thiết bị bù các thông số phản kháng của mạng điện là các bộ tụ mắc
nối tiếp với đường dây (bù dọc), các kháng điện nối song song (bù ngang)
Trong sơ đồ thay thế các thiết bị này được biển diễn bằng các thông số phản
kháng tương ứng: dung kháng của các bộ tụ và diện dẫn phản kháng của các
Q
U C
U C
X
cdd
cdd c
3
210
1 =
=
XcBc
Trang 362.3 Giải tích chế độ xác lập
2.3.1 Lý thuyết chung
Giải tích chế độ làm việc của lưới điện là xuất phát từ các phương trình
mô tả chế độ làm việc để xác định dòng, điện áp và dòng công suất trong lưới
điện bằng cách giải các phương trình này Bài toán giải tích lưới điệnđược
thực trong nghiện cứu quy hoạch hệ thống điện, chắng hạn khi mở rộng thêm
nguồn hoặc phụ tải Khi đó tính toán giải tích lưới điện được thực hiện để xem
xét khả năng đáp ứng của lưới điện giúp cho việc lựa chọn vị trị cấu trúc, thông
số các phần tử mới cho lưới điện
Giải tích chế độ làm việc cũng là một phần của tính toán tối ưu hoá chế
độ làm việc của hệ thống điện là đầu vào của bài toán phần tích ổn định hay
nghiên cứu sự cố của hệ thống điện
Đối tượng của giải tích lưới điện là các phương trình chế độ làm việc, sử
dụng mô hình toán học tuyến tính cho các phần tử lưới nhưng phi tuyến cho
nguồn và phụ tải điện Sự phi tuyến này là do dạng phi tuyến của luật Kirchoff
cho dòng công suất, mà ở chế độ làm việc phụ tải điện được cho bởi công suất
thực (P) và công suất phản kháng (Q) hằng số, còn các nguồn điện thường làm
việc với công suất tác dụng (P) xác định và ở một điện áp được điều chỉnh xác
định Dưới đây chúng ta sẽ xây dựng hệ phương trình đại số mô tả chế độ làm
việc của hệ thống điện Đó sẽ là mô hình toán học cơ bản cho các bài toán giải
tích chế độ hệ thống điện
2.3.2 Hệ phương trình cân bằng dòng nút
Nếu chế độ làm việc của lưới điện là đối xứng ba pha, thì chúng ta chỉ
cần nghiên cứu trên một lưới một pha, đó là lười điện của thành phần thứ tự
thuận, chúng ta sẽ xây dựng mô hình chế độ làm việc cho trường hợp thường
gặp này của lưới điện
Formatted: Bullets and Numbering
Trang 37Để phân tích các lưới điện này, nhất là khi áp dụng máy tính điện tử thì
mô hình nút là mô hình rất cơ bản và tiện lợi Mô hình này mô tả quan hệ giữa
các đại lượng điện ở các nút của lưới điện như điện áp nút và dòng điện nút
Điện áp nút là một đại lượng quen thuộc, còn dòng điện nút hiểu là dòng điện
trong nguồn điện hoặc phụ tải điện nối vào nút (phần tử ngoài lưới điện) Dòng
này có thể là biểu diễn tương đương của nguồn áp đặt vào một nút hoặc đặt vào
hai nút của lưới điện Biểu diễn này áp dụng định lý tương đương của Norton,
nguồn áp đặt giữa hai nút có thể chuyển thành nguồn dòng tương đương nối
giữa hai nút này Trường hợp thường gặp là nguồn áp đặt giữa một nút và điểm
trung tính như hình vẽ a) và ta có thế tính toán nguồn dòng tương đương ở
I Y
Trang 38Trường hợp nguồn áp đặt giữa hai nút của lưới chỉ khác là trong sơ đồ
trên, nút đầu dưới của nhánh không phải có điện áp bằng 0 mà bằng một giá trị
Uo nào đó Kết quả tính toán trên giữ nguyên, chỉ thay U = U1- Uo trong các
công thức (U1 là điện áp nút đầu trên của nhánh) Để tổng quát ta coi điểm đất
hay điểm trung tính của lưới điện là một nút như mọi nút khác, đánh số 0 và có
điện áp Uo = 0 nếu được đo so với chính điện thế của nó
Cần lập hệ phương trình mô tả quan hệ giữa J, I, U của các nút và nhánh
Ui - Điện áp pha tại nút i
Qui ước dấu của dòng điện Ij như sau:
Ij có chiều đi ra khỏi nút j: +Ij
Ij có chiều đi vào nút j: -Ij
Trang 39Theo định luật Kirchoff ta có quan hệ giữa dòng nhánh và dòng nút
(theo qiu ứơc của dòng điện nh− hình vẽ)
0 -1 -1 -1 0 I3 = -J2
0 0 1 0 -1 I4 -J3
I5