1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Những di tích thuộc thời đại đồ đá ở Thái Nguyên (NCKH)

170 287 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những di tích thuộc thời đại đồ đá ở Thái NguyênNhững di tích thuộc thời đại đồ đá ở Thái NguyênNhững di tích thuộc thời đại đồ đá ở Thái NguyênNhững di tích thuộc thời đại đồ đá ở Thái NguyênNhững di tích thuộc thời đại đồ đá ở Thái NguyênNhững di tích thuộc thời đại đồ đá ở Thái NguyênNhững di tích thuộc thời đại đồ đá ở Thái NguyênNhững di tích thuộc thời đại đồ đá ở Thái NguyênNhững di tích thuộc thời đại đồ đá ở Thái NguyênNhững di tích thuộc thời đại đồ đá ở Thái NguyênNhững di tích thuộc thời đại đồ đá ở Thái NguyênNhững di tích thuộc thời đại đồ đá ở Thái NguyênNhững di tích thuộc thời đại đồ đá ở Thái NguyênNhững di tích thuộc thời đại đồ đá ở Thái NguyênNhững di tích thuộc thời đại đồ đá ở Thái NguyênNhững di tích thuộc thời đại đồ đá ở Thái NguyênNhững di tích thuộc thời đại đồ đá ở Thái NguyênNhững di tích thuộc thời đại đồ đá ở Thái Nguyên

Trang 2

Xác nhận của tổ chức chủ trì Chủ nhiệm đề tài

(ký, họ tên, đóng dấu) (ký, họ tên)

Th.s Nguyễn Đức Thắng

Thái Nguyên, 2017

Trang 3

DANH SÁCH CÁN BỘ THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

TT Họ và tên Đơn vị công tác Trách nhiệm

Trường ĐHSP – ĐHTN

Tham gia thám sát và điều tra khảo cổ học

Trường ĐHSP – ĐHTN

- Thống kê, tập hợp tài liệu nghiên cứu

Nơi tác giả giảng

nghiên cứu trong học phần Khảo cổ học

PGS.TS Hà Thị Thu Thủy

Trang 4

MỤC LỤC

DANH SÁCH CÁN BỘ THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI i

ĐƠN VỊ PHỐI HỢP NGHIÊN CỨU i

MỤC LỤC ii

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BẰNG TIẾNG VIỆT Error! Bookmark not defined MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TƯ LIỆU 5

1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên tỉnh Thái Nguyên 5

1.1.1 Vị trí địa lý, sự thay đổi địa danh trong lịch sử 5

1.1.2 Điều kiện tự nhiên 8

1.1.2.1 Lịch sử hoạt động kiến tạo địa chất khu vực 8

1.1.2.2 Địa hình 9

1.1.3 Khí hậu 11

1.1.4 Thủy văn 12

1.1.5 Thực vật - động vật 13

1.2 Lịch sử phát hiện và nghiên cứu khảo cổ học thời đại Đá ở Thái Nguyên 15

Tiểu kết chương 1 19

CHƯƠNG 2 NHỮNG DI TÍCH THỜI ĐẠI ĐÁ Ở THÁI NGUYÊN 34

2.1 Các di tích thuộc thời đại Đá cũ 34

2.1.1.Các di tích thuộc kỹ nghệ mảnh tước 34

2.1.1.1 Mái đá Ngườm 34

2.1.1.2 Hang Miệng Hổ 47

2.1.2 Các di tích thuộc kỹ nghệ công cụ cuội ghè ( hạch cuội) 50

2.1.2.1 Hang Thắm Choong 50

2.1.2.2 Hang Nà Ngùn 52

2.1.2.3 Hang Thẩm Hấu 54

Trang 5

2.1.2.4 Di tích thềm sông cổ ở xã Thần Sa 55

2.2 Các di tích thuộc thời đại Đá mới 56

2.2.1 Các di tích thuộc sơ kỳ Đá mới 56

2.2.1.1 Hang Ốc 56

2.2.1.2 Hang Kim Sơn 64

2.2.1.3 Địa điểm Khắc Kiệm (hang Thắm Phựt) 66

2.2.1.4 Địa điểm Nà Cà (Thắm Uông) 69

2.2.1.5 Hang Con Hổ 72

2.2.1.6 Hang Thần 73

2.2.1.7 Hang Thủng 75

2.2.1.8 Hang Nghinh Tắc 76

2.2.1.9 Các hang khác 77

2.2.2 Các di tích thuộc hậu kỳ Đá mới 78

2.2.2.1 Hang Suam Sơn 78

2.2.2.2 Hang Ông Trúc 78

2.2.2.3 Địa điểm xã Liên Minh, huyện Võ Nhai 79

Tiểu kết chương 2 80

CHƯƠNG 3 NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN DI TÍCH VÀ DI VẬT, NIÊN ĐẠI VÀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN THỜI ĐẠI ĐÁ THÁI NGUYÊN 82

3.1 Đặc trưng di tích 82

3.1.1 Đặc trưng phân bố 82

3.1.2 Đặc trưng nơi cư trú 82

3.1.3 Đặc trưng tầng văn hóa 85

3.1.4 Đặc trưng di tích bếp 86

3.1.5 Đặc trưng mộ và di cốt người 90

3.1.5.1 Mộ táng 90

3.1.5.2 Di cốt người 92

3.1.6 Đặc trưng di tích động - thực vật 97

3.1.6.1 Đặc trưng di cốt động vật 97

3.1.6.2 Vỏ nhuyễn thể 101

Trang 6

3.1.6.3 Đặc trưng di tích thực vật 102

3.2 Đặc trưng di vật 104

3.2.1 Đặc trưng đồ đá 104

3.2.2 Đặc trưng đồ gốm 110

3.3 Niên đại và các giai đoạn phát triển 111

3.3.1 Niên đại tuyệt đối 111

3.3.2 Niên đại tương đối 113

3.3.3 Các giai đoạn phát triển 113

Tiểu kết chương 3 116

CHƯƠNG 4 MỐI QUAN HỆ VĂN HÓA VÀ VÀI NÉT VỀ ĐỜI SỐNG CỦA CƯ DÂN THỜI ĐẠI ĐÁ THÁI NGUYÊN 118

4.1 Mối quan hệ của các di tích thời đại Đá ở Thái Nguyên trong bối cảnh rộng hơn 118 4.1.1 Mối quan hệ với các di tích thuộc hậu kỳ Đá cũ 118

4.1.1.1 Mối quan hệ với các di tích thuộc hậu kỳ Đá cũ ở Việt Nam 118

4.1.1.2 Mối quan hệ với các di tích thuộc hậu kỳ Đá cũ ở Đông Nam Á và Nam Trung Quốc 120

4.1.2 Mối quan hệ với văn hóa sơ kỳ Đá mới: Văn hóa Bắc Sơn 123

4.1.3 Mối quan hệ với các văn hóa hậu kỳ Đá mới ở miền núi phía Bắc Việt Nam và khu vực liền kề 126

4.1.3.1 Với văn hoá Hà Giang 126

4.1.3.2 Với văn hoá Hạ Long 127

4.1.3.3 Với văn hoá xẻng đá ở Nam Trung Quốc 129

4.2 Vài nét về đời sống của cư dân thời đại Đá ở Thái Nguyên 130

4.2.1 Môi trường sinh thái 130

4.2.2 Hoạt động kinh tế 131

4.2.3 Vài nét về tổ chức xã hội và đời sống tinh thần 133

Tiểu kết chương 4 136

KẾT LUẬN 138

DANH MỤC TÀI LIỆU DẪN VÀ THAM KHẢO 141

Trang 7

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT Ký hiệu Tiếng Việt

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Thống kê các di tích thời đại đồ Đá đã được phát hiện ở Thái Nguyên 21

Bảng 2.1: Thống kê mảnh gốm ở Ngườm 45

Bảng 2.2: Kích thước công cụ mảnh tước ở hang Miệng Hổ 48

Bảng 2.3: Các mẫu xác định niên đại C14 hang Ốc 64

Bảng 2.4: Thống kê hiện vật hang Kim Sơn 66

Bảng 2.5: Thống kê hiện vật đá hang Khắc Kiệm 69

Bảng 2.6: Thống kê loại hình di vật hang Nà Cà 71

Bảng 2.7: Thống kê hiện vật đá hang Nà Cà 71

Bảng 2.8 : Thống kê di tích, di vật địa điểm hang Con Hổ 73

Bảng 2.9: Thống kê hiện vật hang Thần 74

Bảng 3.1: Thống kê diện tích, hướng, độ cao các hang động tiền sử ở Thái Nguyên 87

Bảng 3.2: Thống kê các địa điểm có di tích cổ nhân (mộ táng) 91

Bảng 3.3: Một số kích thước đo xương chi di cốt hang Con Hổ 94

Bảng 3.4: Kích thước răng hàm trên bên phải sọ người Làng Trang (mm) 96

Bảng 3.5: Thống kê các địa điểm có di tích cổ sinh 100

Bảng 3.6: Thống kê số lượng và chủng loại vỏ ốc ở các hang Thần, hang Thủng, hang Kim Sơn và hang Con Hổ 101

Bảng 3.7: Kết quả hiệu chỉnh tuổi Carbon phóng xạ tại hang Ốc 111

Bảng 3.8: Kết quả đo tuổi Carbon phóng xạ di tích hang Thần, hang Thủng và hang Kim Sơn, tỉnh Thái Nguyên, năm 2014 112

Bảng 3.9: Kết quả hiệu chỉnh tuổi Carbon phóng xạ tại các di tích hang Thần, hang Thủng và hang Kim Sơn, năm 2014 112

Bảng 3.10: Các di tích thuộc các giai đoạn thời đại đồ Đá Thái Nguyên 115

Bảng 4.1: So sánh kích thước công cụ mảnh tước ở một số địa điểm 125

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1: Thống kê hiện vật đá ở các hố khai quật Ngườm (hố A,B,C) 39

Biểu đồ 2: Thống kê hiện vật đá theo mặt cắt địa tầng Ngườm 41

Biểu đồ 3: Phân loại công cụ hạch cuội ở Ngườm hố A 41

Biểu đồ 4: Thống kê loại hình di vật hang Miệng Hổ 49

Biểu đồ 5: Thống kê số lượng di vật theo lớp 59

Biểu đồ 6: Thống kê loại hình di vật 61

Biểu đồ 7: Phân loại loại hình - nguyên liệu - kỹ thuật hang Ốc 62

Biểu đồ 8: Thống kê hiện vật đá hang Khắc Kiệm 69

Biểu đồ 9: Biểu đồ thống kê diện tích các hang 83

Biểu đồ 10: Biểu đồ thống kê độ cao các hang 84

Biểu đồ 11: Biểu đồ hướng các hang 85

Biểu đồ 12: Biểu đồ độ dày địa tầng các di tích đã được khai quật, thám sát 85

Trang 10

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BẰNG TIẾNG VIỆT

1 Thông tin chung:

Tên đề tài: Những di tích thuộc thời đại đồ đá ở Thái Nguyên

Mã số: ĐH2014-TN04-11

Chủ nhiệm đề tài: Th.S Nguyễn Đức Thắng

Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên

Thời gian thực hiện: 24 tháng

2 Mục tiêu:

Tập hợp, hệ thống hóa tư liệu và kết quả nghiên cứu các di tích thời đại đồ đá trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên từ trước tới nay nhằm cung cấp cho các nhà nghiên cứu thông tin đầy đủ, khách quan về thời đại Đá ở Thái Nguyên

Trên cơ sở hệ thống hóa tư liệu về các di tích thời đại đồ đá, đề tài sẽ nghiên cứu các giai đoạn phát triển của thời đại Đá Thái Nguyên và những đóng góp của các di tích thời đại Đá Thái Nguyên với văn hóa tiền sử Việt Nam

Bước đầu phác thảo quá trình phát triển văn hóa tiền sử ở Thái Nguyên, góp thêm tư liệu và nhận thức vào việc biên soạn Lịch sử địa phương và nội dung trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Thái Nguyên

cũ, sơ kỳ Đá mới và hậu kỳ Đá mới, cũng như những vấn đề mới đã và đang đặt ra cần đi sâu giải quyết trong tương lai

Đề tài đã xác định được đặc trưng cơ bản, tính chất, niên đại và các giai đoạn phát triển của các di tích thuộc thời đại Đá ở Thái Nguyên; bước đầu phác thảo về cuộc sống của cư dân thời đại Đá ở Thái Nguyên

Trang 11

4 Kết quả nghiên cứu:

Đề tài là chuyên khảo đầu tiên về các di tích thời đại Đá Thái Nguyên Đóng góp trước hết của đề tài là tập hợp, hệ thống hóa, phân tích và phân loại đầy đủ các

di tích, di vật thời đại Đá trên đất Thái Nguyên

Bước đầu trình bày được những đặc trưng cơ bản về di tích, di vật, niên đại, các giai đoạn phát triển của thời đại Đá Thái Nguyên; góp phần làm rõ quá trình phát triển văn hóa thời tiền sử ở Thái Nguyên và mối quan hệ với các văn hóa tiền

sử trong khu vực

5 Sản phẩm:

5.1 Sản phẩm khoa học:

Nguyên và những vấn đề nghiên cứu đặt ra”, Tạp chí Khoa học và công nghệ,

Tập 118, số 04, tr.27 - 31

Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, Những phát hiện mới về Khảo cổ

học, Nxb KHXH, Hà Nội , tr 82 – 83

tỉnh Thái Nguyên, Những phát hiện mới về Khảo cổ học, Nxb KHXH, Hà Nội,

tr 86 - 87

Carbon phòng xạ năm 2014, tại Thái Nguyên, Những phát hiện mới về Khảo

cổ học, Nxb KHXH , Hà Nội, tr 137 – 138

hiện và nghiên cứu”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 01 - 2015, tr 33 - 35

quan hệ”, Tạp chí Khảo cổ học, số 4, tr 3 - 18

5.2 Sản phẩm đào tạo:

1 Mai Thị Thanh Phương (2014), Tìm hiểu về Kỹ nghệ Ngườm, Đề tài NCKH

Sinh viên, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên

Trang 12

2 Phạm Công Thành (2014), Tìm hiểu công cụ lao động và vũ khí đồng Đông Sơn

được sưu tầm tại Thái Nguyên, Đề tài NCKH Sinh viên, Trường Đại học Sư

phạm, Đại học Thái Nguyên

Kết quả của đề tài còn có thể sử dụng trong việc đào tạo cử nhân, thạc sĩ tại khoa Lịch sử - Đại học Sư Phạm - Đại học Thái Nguyên hoặc có thể ứng dụng trong các trung tâm phân tích môi trường

Trang 13

INFORMATION ON RESEARCH RESULTS

1 General information:

Project title : Stone Age site in Thai Nguyen

Code number : DH2014-TN04-11

Coordinator : Dr Nguyen Duc Thang

Implementing institution : (TNU Thai Nguyen College of Education )

Duration : 24 months

2 Objectives:

Collecting and systematizing documents and research results of Stone Age relics obtained up to now in Thai Nguyen province to provide researchers with full and objective information about the Stone Age in Thai Nguyen

Based on those data, the dissertation studies the development stages of the Stone Age in Thai Nguyen and the contribution of the Stone Age relics to Vietnamese prehistoric culture

The dissertation initially outlines the development of prehistoric culture in Thai Nguyen, providing more materials and awareness to the compilation of The Local History Module and the display content at Thai Nguyen Museum

3 Creativeness and innovativeness:

The dissertation systematizes all archaeological sites and artifacts from 30 places of the Stone Age in Thai Nguyen

Through organizing systematically documents established by conducting investigations, explorations, excavations and researches about relics of the Stone Age in the region, the thesis also well provides researchers, cultural management institutions, archaeological teachers information updated about relics of the Stone Age in Thai Nguyen from late Paleolithic Age to early and late Neolithic Age, as well as new issues that have been and are exposing which need to be solved in the future

The dissertation determines the basic characteristics, features, dates and developing periods of the Stone Age in Thai Nguyen; initially drafts the settlement and subsistence pattern of the prehistoric inhabitants other in the region

Trang 14

4 Research results:

This is the first monograph about Stone Age vestiges in Thai Nguyen province The first contribution of the project is gathering, systematizing, analyzing and classifying all kinds of Stone Age vestiges and relics in Thai Nguyen province The project initially presents the basic characteristics of vestiges, relics, ages, development stages of the Stone Age; contributes to the development of prehistoric culture in Thai Nguyen and its relationship with other prehistoric cultures in the region

5 Products:

5.1 Scientific results:

1 Nguyen Duc Thang (2014a), “Nguom industry in Thai Nguyen archaeological

history and the issues for research”, Journal of Science and Technology, Vol

118, No 04, pp 27 - 31

Commune, Vo Nhai District, Thai Nguyen Province, New Findings on

Archeology , pp 82 - 83

investigation in Thai Nguyen province, New Findings on Archeology, pp 86 -

87, Hanoi

radioactive carbon to measure age in Thai Nguyen, New Findings on

Archeology, pp 137 - 138, Hanoi

of discovery and research”, Journal of Arts and Culture, No 01, pp 33 - 35

relationships”, Archeology, No 4, pp 3 - 18

5.2 Training results:

1 Mai Thi Thanh Phuong (2014), Investigation into Nguom industry, Subject

Research students, College of Education, Thai Nguyen University

Trang 15

2 Pham Cong Thanh (2014), Studying Dong Son copper tools and weapons

collected in Thai Nguyen, Subject Research students , College of Education,

Thai Nguyen University

5.3 Applied products:

University publishing house

6 Transfer alternatives, application institutions, impacts and benefits of research results:

The research results will provide additional materials for the content displayed

in provincial museum; help compile materials for the Local history module; plan to protect and promote Thai Nguyen’s cultural heritage; and support the teaching at the university where the author is working

The results of the project can also be used in training undergraduate and graduate students of History Department- Thai Nguyen University of Education July 19th, 2017

Chair organization Project leader

(Signature & university stamp)

Nguyen Duc Thang

Trang 16

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài đề tài

Thái Nguyên là một trong những mảnh đất rất giàu tiềm năng về khảo cổ học Ngay từ năm 1924, một số di tích hang động thuộc văn hóa Bắc Sơn đã được M.Colani phát hiện Tuy nhiên, việc nghiên cứu về các di tích thời đại Đá trên địa bàn Thái Nguyên khi đó chưa nhiều

Sau những phát hiện và nghiên cứu ở khu vực Thần Sa vào đầu những năm

1980, việc nghiên cứu khảo cổ học Thái Nguyên dường như rơi vào tình trạng ngưng trệ do nhiều lý do khác nhau Bắt đầu từ thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, công cuộc nghiên cứu khảo cổ học Thái Nguyên mới bắt đầu khởi động trở lại Cho đến nay, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện được 30 di tích khảo

cổ thuộc thời đại đồ Đá Quá trình nghiên cứu các di tích đó từ trước đến nay đã đạt được một số thành tựu quan trọng Một trong những thành tựu nổi bật của khảo cổ học Thái Nguyên là phát hiện và xác lập một kỹ nghệ khảo cổ học mới - kỹ nghệ Ngườm, có niên đại hậu kỳ Đá cũ Thành tựu đó có ý nghĩa rất to lớn không những đối với việc nhận thức về thời tiền sử Việt Nam mà với cả khu vực Đông Nam Á Mặc dù kỹ nghệ Ngườm đã được nghiên cứu khá nhiều, nhưng vẫn còn rất nhiều vấn đề cần làm sáng tỏ như về nguồn gốc và khuynh hướng phát triển, phạm vi phân bố…

Dựa vào các tài liệu khảo cổ học thời đại Đá đã được phát hiện cho thấy, Thái Nguyên là địa bàn cư trú của các cư dân từ thời đại Đá cũ đến thời Đá mới

Đến nay, chúng ta chưa có nhiều công trình nghiên cứu khoa học mang tính tổng quát, hệ thống hóa đầy đủ các di tích thời đại Đá ở Thái Nguyên Hiện nay, đã

có một số tác giả công bố các công trình nghiên cứu, bài báo về những phát hiện và nghiên cứu khảo cổ học Thái Nguyên Tuy nhiên, những công bố đó còn tản mạn, chưa hệ thống hoá được toàn bộ các tư liệu mới được phát hiện Trên cơ sở những

tư liệu đã được hệ thống hoá, cần phải nghiên cứu để tìm ra những đặc trưng văn hoá tiêu biểu của thời tiền sử ở Thái Nguyên

Trang 17

Các phát hiện khảo cổ học Thái Nguyên nằm rải rác ở nhiều nơi, diễn ra trong thời gian dài, lại do nhiều cơ quan, nhiều cá nhân thực hiện, nên việc hệ thống hóa các tư liệu là một yêu cầu bức thiết Hơn nữa, nghiên cứu thời đại Đá ở Thái Nguyên không thể chỉ tiến hành riêng rẽ mà phải đặt trong mối quan hệ khu vực, trên một bình tuyến rộng hơn Do đó, các vấn đề về những di tích thời đại đồ Đá ở Thái Nguyên đã đến lúc đặt ra và cần nghiên cứu đồng bộ, có hệ thống, toàn diện

Để góp phần tìm hiểu những đặc trưng cơ bản của thời đại Đá ở Thái Nguyên, xác định những đóng góp của chúng đối với văn hóa tiền sử Việt Nam, nghiên cứu

sinh mạnh dạn chọn đề tài “Những di tích thời đại Đá ở Thái Nguyên” làm đề tài

đề tài tiến sĩ, chuyên ngành Khảo cổ học

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

1 Đề tài sẽ hệ thống hóa tất cả các di tích khảo cổ học thuộc thời đại đồ Đá đã được điều tra, khai quật và nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên từ trước tới nay Trên cơ sở đó, rút ra những đặc trưng cơ bản của thời đại Đá ở Thái Nguyên

2 Đề tài tập trung nghiên cứu các giai đoạn phát triển của thời đại Đá Thái Nguyên và những đóng góp của các di tích thời đại Đá Thái Nguyên với văn hóa tiền sử Việt Nam

3 Đề tài bước đầu phác thảo quá trình phát triển văn hóa tiền sử ở Thái Nguyên, góp thêm tư liệu và nhận thức vào việc biên soạn Lịch sử địa phương và nội dung trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Thái Nguyên

3 Đối tượng nghiên cứu và nội dung các vấn đề cần giải quyết

1 Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các di chỉ khảo cổ học thuộc thời đại Đá, các bộ sưu tập thời đại Đá thu được do điều tra, thám sát hoặc khai quật trên đất Thái Nguyên từ trước đến nay, trong đó có các di tích quan trọng như Mái đá Ngườm, hang Miệng Hổ, hang Ốc, hang Con Hổ Đề tài không chỉ quan tâm các

hồ sơ báo cáo khoa học của các di chỉ này mà còn đặc biệt chú ý đến các sưu tập công cụ của các di tích đó hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Thái Nguyên

Trang 18

Tác giả đề tài cũng đặc biệt chú ý đến những di tích với những bộ sưu tập do chính tác giả điều tra phát hiện và tham gia đào thám sá tại các huyện Võ Nhai, Đồng Hỷ, Phú Lương của tỉnh Thái Nguyên

Đề tài có tham khảo những tư liệu và bài viết về khảo cổ học Thái Nguyên từ những năm 20 Đồng thời tác giả cũng chú ý nghiên cứu và tham khảo các bài viết

về các di chỉ thuộc thời đại đồ Đá có liên quan đến đề tài đề tài ở Việt Nam, Nam Trung Quốc và Đông Nam Á

2 Nội dung cơ bản mà đề tài đi sâu giải quyết là xác định những đặc trưng cơ bản của các di tích thuộc thời đại Đá ở Thái Nguyên Đề tài cũng bước đầu giải quyết mối quan hệ giữa kỹ nghệ mảnh tước Ngườm và kỹ nghệ cuội nghè ở Thái Nguyên, cũng như mối quan hệ giữa các di tích thời đại Đá ở Thái Nguyên với các văn hóa tiền sử khác trong khu vực

4 Phương pháp nghiên cứu

1 Đề tài sử dụng các phương pháp khảo cổ học truyền thống để phân loại và miêu tả di vật, di tích; tập trung phân tích loại hình và kỹ thuật chế tác công cụ Ngoài sử dụng những phương pháp trên, đề tài đặc biệt chú ý đến phương pháp phân tích, so sánh và đối chiếu giữa các sưu tập để tìm hiểu mối quan hệ giữa chúng

2 Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành kết hợp nghiên cứu khảo cổ học với nghiên cứu về môi trường học, dân tộc học Sử dụng kết quả nghiên cứu của khoa học tự nhiên như: phân tích niên đại tuyệt đối, giám định di cốt người và động vật vận dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử trong nghiên cứu xã hội tiền sử

5 Những kết quả và đóng góp của đề tài

1 Đề tài là công trình đầu tiên tập hợp tương đối đầy đủ những tư liệu khảo cổ thời đại đồ Đá đã được nghiên cứu từ trước đến nay trên đất Thái Nguyên, từ những sưu tập nhỏ lẻ đến những cuộc khai quật quy mô lớn, từ những nghiên cứu trước đây của người Pháp cho đến những công trình nghiên cứu mới nhất Đặc biệt tập trung nghiên cứu các phát hiện khảo cổ mới từ năm 2011 tới nay, trong đó có những

Trang 19

tư liệu do chính tác giả tham gia thám sát, sưu tầm Đó chính là những nguồn tư liệu vật chất quý phục vụ việc nghiên cứu khảo cổ học tiền sử Thái Nguyên

2 Đề tài bước đầu trình bày được những đặc trưng cơ bản về di tích, di vật, tính chất, niên đại, các giai đoạn phát triển của thời đại Đá Thái Nguyên: góp phần làm rõ diện mạo văn hóa thời tiền sử ở Thái Nguyên nói riêng và khu vực trung du - miền núi phía Bắc nói chung Đề tài cũng gợi mở phương hướng để tiếp tục nghiên cứu khảo cổ học Thái Nguyên trong tương lai

3 Với một khối lượng tư liệu khá phong phú của đề tài, tác giả đề tài đã cung cấp cơ sở khoa học để tham khảo cho việc xây dựng nội dung trưng bày của Bảo tàng tỉnh, biên soạn Lịch sử địa phương, quy hoạch, bảo vệ, phát huy di sản văn hóa tiền sử Thái Nguyên và phục vụ cho công tác giảng dạy, nơi tác giả đề tài đang công tác

6 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung đề tài chia thành 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tư liệu

Chương 2: Những di tích thời đại Đá ở Thái Nguyên

Chương 3: Những đặc trưng cơ bản di tích, di vật, niên đại và các giai đoạn phát triển thời đại Đá Thái Nguyên

Chương 4: Mối quan hệ văn hóa và vài nét về đời sống của cư dân thời đại

Đá Thái Nguyên

Ngoài ra, trong đề tài còn có: danh mục phụ lục minh họa, tài liệu tham khảo (168 tài liệu tiếng Việt, 8 tài liệu tiếng Anh, Pháp, 4 tài liệu tiếng Trung Quốc) và phụ lục minh họa

Trang 20

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TƯ LIỆU

1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên tỉnh Thái Nguyên

1.1.1 Vị trí địa lý, sự thay đổi địa danh trong lịch sử

Thái Nguyên là một tỉnh miền núi, thuộc vùng trung du - miền núi Đông Bắc,

03 vĩ độ

km), từ tây sang đông rộng 46 phút kinh độ (85km)

Thái Nguyên phía bắc giáp tỉnh Bắc Kạn; phía đông giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang; phía nam giáp Thủ đô Hà Nội; phía tây giáp các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang [82]

Thái Nguyên là miền đất giao nối giữa vùng núi rừng Việt Bắc với đồng bằng châu thổ sông Hồng, là cửa ngõ bảo vệ Kinh đô Thăng Long xưa và Thủ đô Hà Nội ngày nay Từ thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã xác định vị trí chiến lược của Thái

Nguyên trong sách Dư địa chí: "Đấy (Thái Nguyên) là nơi phên giậu thứ hai về

phương bắc vậy’’[157]

Ngày nay, Thái Nguyên được xác định là trung tâm kinh tế - văn hoá của vùng trung du và đông bắc Bắc Bộ Tại đây có nhiều cơ sở kinh tế, văn hoá, giáo dục, quốc phòng có tầm chiến lược của đất nước Nằm kề phía bắc Thủ đô Hà Nội, Thái Nguyên còn có lợi thế rất lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội cả hiện tại và trong tương lai

Thái Nguyên có hình dáng cân đối, đường quốc lộ 3 và sông Cầu gần như trục đối xứng chạy dọc suốt từ phía bắc xuống phía nam tỉnh Lãnh thổ Thái Nguyên không có chỗ nào quá co hẹp hoặc phình rộng

Quốc lộ số 3 nối Thái Nguyên với Hà Nội, với các tỉnh đồng bằng sông Hồng

và các tỉnh khác trong cả nước, đồng thời chạy qua các tỉnh Bắc Cạn, Cao Bằng để

Trang 21

lên tới biên giới Việt - Trung Ngoài ra, các quốc lộ 37, 1B, 279 cùng với hệ thống tỉnh lộ, huyện lộ là những mạch máu quan trọng nối Thái Nguyên với các tỉnh xung quanh

Với vị trí chiến lược, Thái Nguyên còn là một trung tâm kinh tế, văn hoá, đào tạo của khu vực Việt Bắc Cũng như các địa phương khác trên đất nước Việt Nam, tỉnh Thái Nguyên cũng trải qua một quá trình phát triển lâu dài cùng lịch sử dân tộc Ngược dòng lịch sử, trở lại thời các vua Hùng, đất nước ta được chia làm 15 bộ

Theo Nguyễn Trãi trong Dư địa chí, Thái Nguyên xưa thuộc bộ Vũ Định: đông và

bắc giáp Cao Lạng, tây và nam giáp Kinh Bắc, có 2 phủ và 9 huyện, 2 châu và 366 làng xã [157]

Thời nhà Hán đô hộ, đất Thái Nguyên thuộc huyện Long Biên, sau là huyện Tây Vu thuộc quận Giao Chỉ

Dưới thời thống trị của nhà Đường (thế kỉ VIII đến thế kỉ IX) Thái Nguyên nằm trong đất Châu Long, sau đó thuộc châu Vũ Nga

Năm 1010, sau khi thành lập, nhà Lý đổi 10 đạo trong cả nước thành 24 lộ, Thái Nguyên là một châu thuộc Như Nguyệt Giang Lộ, sau lại thuộc phủ Phú Lương

Sau khi nhà Trần lên thay, vào năm Quang Thái thứ 10 (1397) đổi châu Thái Nguyên thành trấn Thái Nguyên Dưới thời thuộc Minh, vào năm 1407, trấn Thái Nguyên đổi thành châu Thái Nguyên Năm 1410, châu Thái Nguyên được nâng lên thành phủ Thái Nguyên

Đến triều đại nhà Lê, năm Thuận Thiên thứ nhất (1428) Lê Thái Tổ chia cả nước thành 5 đạo, phủ Thái Nguyên thuộc Bắc đạo Năm Quang Thuận thứ 7 (1466), thời Lê Thánh Tông, Thái Nguyên được đặt là Thừa tuyên Thái Nguyên gồm 3 phủ: Phú Bình, Thông Hóa, Cao Bằng Năm 1490, thời Lê Thánh Tông, Thái Nguyên được gọi là Thừa tuyên xứ với 3 phủ, 7 huyện, 6 châu Đến thời Lê Trung Hưng (1533 - 1788), đổi thành trấn Thái Nguyên

Từ thời Tây Sơn cho đến thời Gia Long nhà Nguyễn, trấn Thái Nguyên thuộc

về Bắc thành, thủ phủ của trấn đặt ở xã Binh Kỳ, huyện Thiên Phúc (nay là Sóc Sơn, Hà Nội)

Vào năm Minh Mạng thứ 12 (1831), đất nước ta được chia thành các tỉnh hạt,

và trấn Thái Nguyên đổi thành tỉnh Thái Nguyên từ đó

Trang 22

Theo sách “Đại Nam nhất thống chí” thì hình thể tỉnh Thái Nguyên lúc đó

như sau:

“Đông tây cách nhau 294 dặm, nam bắc cách nhau 241 dặm

- Phía đông đến địa giới các huyện Yên Thế và Hữu Lũng tỉnh Bắc Ninh 32 dặm

- Phía tây đến địa giới các châu huyện Chiêm Hoá, Vĩnh Điện tỉnh Tuyên Quang và địa giới huyện Sơn Dương tỉnh Sơn Tây 263 dặm

- Phía nam đến địa giới huyện Yên Lãng tỉnh Sơn Tây và địa giới các huyện Hiệp Hoà, Kim Anh, Thiên Phúc tỉnh Bắc Ninh 62 dặm

- Phía bắc đến địa giới các huyện Văn Quan, Thất Khê tỉnh Lạng Sơn và địa giới các huyện Thạch An, Thạch Lâm tỉnh Cao Bằng 179 dặm

- Phía đông nam đến địa giới tinh Bắc Ninh và tỉnh Sơn Tây 81 dặm

- Phía tây nam đến địa giới tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Sơn Tây 118 dặm '

- Phía đông bắc đến địa giới tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Lạng Sơn 134 dặm

- Phía tây bắc đến địa giới tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Cao Bằng 296 dặm

- Từ tỉnh lỵ đi về phía nam đến Kinh thành 1.542 dặm”[66, tr.153]

Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835), nhà Nguyễn tách Châu Định và ba huyện Văn Lãng, Đại Từ, Phú Lương khỏi phủ Phú Bình để đặt thêm phủ Tòng Hoá; phủ Phú Bình còn năm huyện là Tư Nông, Phổ Yên, Đồng Hỷ, Vũ Nhai, Bình Tuyền; phủ Thông Hoá gồm có huyện Cảm Hoá và Châu Bạch Thông [108]

Theo sách Đồng Khánh dư địa chí, vào gần cuối thế kỷ XIX (1886 - 1888),

tỉnh Thái Nguyên gồm có ba phủ: Phú Bình, Tòng Hoá và Thông Hoá [108]

Năm 1892, thực dân Pháp thành lập tỉnh Thái Nguyên gồm ba phủ: Phú Bình, Tòng Hoá, Thông Hoá

Hiện nay, tỉnh Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 2 thành phố và 1 thị xã: thành phố Thái Nguyên; thành phố Sông Công và thị xã Phổ Yên, 6 huyện phụ thuộc: Phú Bình, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ, Định Hóa, Phú Lương Tổng số gồm 180 xã, phường, thị trấn, trong đó có 125 xã vùng cao và miền núi, còn lại là các xã đồng bằng và trung du

Theo tổng điều tra dân số toàn quốc, năm 2006 số dân cư ở Thái Nguyên là 1.127.170 người, có 8 dân tộc anh em cùng sinh sống gồm Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, Sán Chay, Hmông, Hoa [155] Theo số liệu thống kê mới nhất của phòng

Trang 23

Thống kê, đo đạc tỉnh Thái Nguyên, dân số toàn tỉnh tính đến năm 2014 là 1.173.238 người

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

1.1.2.1 Lịch sử hoạt động kiến tạo địa chất khu vực

Theo sách Địa chí Thái Nguyên, các tài liệu địa chất cho biết khu vực tây bắc

Định Hoá, các xã phía tây Phú Lương, Đại Từ có lịch sử hình thành sớm nhất thuộc chu kỳ tạo sơn Calêđôni, bắt đầu cách đây 480 triệu năm và được hình thành xong trong đại Cổ sinh cách đây 225 triệu năm Ở dưới sâu là các lớp đá có tuổi Nguyên sinh và Thái cổ, có nhiều đá mácma axít và bazơ xâm nhập

Phía trên là các lớp đá trầm tích có tuổi Cổ sinh, bề dày tổng cộng 2.500 đến 3000m, trầm tích dưới Trung sinh thấy rất ít, thường ở những khu vực trũng [155] Vận động kiến tạo cách đây 25 triệu năm, ảnh hưởng rõ rệt đến khu vực này, làm cho khu vực được nâng cao 200m - 500m Nham thạch chủ yếu là sa phiến thạch và đá vôi bị biến chất ở mức độ thấp Ở dưới sâu, đá bị biến chất mạnh hơn, thường là: diệp thạch kết tinh, diệp thạch mi ca, đá hoa là kết quả của hoạt động mácma Các khu vực núi còn lại của Thái Nguyên có lịch sử địa chất trẻ hơn, quá trình sụt võng để tạo nên các trầm tích trẻ hơn trong suốt Trung sinh đến tận kỷ Crêta với các trầm tích lục nguyên màu đỏ rất đặc trưng

Trầm tích sau Calêđôni có ba phức hệ:

- Phức hệ trầm tích bên dưới gồm đá trầm tích hạt thô, cát kết và đá phiến tuổi

- Phía trên là trầm tích lục nguyên T1dày 500m - 1.000m

- Trên cùng là trầm tích trẻ hơn tuổi T2- 3 là trầm tích C+ và C2 rất phổ biến trên bề mặt địa hình

Các khối mácma xâm nhập nằm rải rác khắp nơi:

- Khối ở tây bắc thành phố Thái Nguyên (núi Chúa, xã Phục Linh, huyện Đại Từ) cách thành phố Thái Nguyên 15 km được cấu tạo bằng đá Gabrô hơi sẫm màu,

- Khối xâm nhập Khau Quế (núi Pút, phía đông bắc huyện Định Hoá) rộng tới

Trang 24

rộng 15km, cấu tạo chủ yếu bằng dung nham riôlit, sườn dốc, nhiều nơi 25 - 300

, đứng sừng sững bên rìa đồng bằng Bắc Bộ [155]

Phần lớn lãnh thổ Thái Nguyên có lịch sử hình thành suốt Trung sinh (bắt đầu hình thành cách đây 240 triệu năm, kết thúc cách đây 67 triệu năm, kéo dài 173 triệu năm)

Sau khi được hình thành xong (cách đây 67 triệu năm) lãnh thổ Thái Nguyên tồn tại dưới chế độ lục địa liên tục 50 triệu năm Với thời gian đó địa hình được san bằng trở thành bình nguyên Đến tạo sơn Hymalaya cách đây 25 triệu năm, do vận động nâng lên mãnh liệt, Thái Nguyên được nâng cao, tùy nơi có thể từ 200m đến 500m, làm cho địa hình trẻ lại ở những miền được nâng cao, địa hình bị cắt xẻ Các vật liệu trầm tích trẻ, mềm bị ngoại lực bóc mòn, các núi cổ được cấu tạo bằng các nham thạch cổ hơn, cứng hơn lại lộ ra, tái lập lại địa hình như lúc mới hình thành xong (cuối Trung sinh) [155]

1.1.2.2 Địa hình

Thái Nguyên là một tỉnh miền núi có độ cao trung bình so với mặt biển khoảng 200m - 300m, địa hình chủ yếu là đồi núi thấp chạy theo hướng bắc - nam, thấp dần từ bắc xuống nam Bao quanh phía tây nam và phía bắc là những dãy núi Tam Đảo, Ngân Sơn, Bắc Sơn Phía tây nam có dãy Tam Đảo với đỉnh cao nhất 1.591m, các dãy núi dựng đứng và kéo dài theo hướng tây bắc - đông nam Dãy Ngân Sơn bắt đầu từ Bắc Cạn chạy theo hướng đông bắc - tây nam đến Võ Nhai Dãy núi Bắc Sơn chạy theo hướng tây bắc - đông nam [155]

Trong phạm vi lãnh thổ Thái Nguyên có 4 nhóm hình thái địa hình chính, với

15 kiểu cảnh quan hình thái địa hình sau [155]:

- Nhóm cảnh quan hình thái địa hình đồng bằng : Nhóm này được tách ra bởi

gồm bốn kiểu:

+ Cảnh quan đồng bằng aluvi châu thổ

+ Cảnh quan đồng bằng đáy các trũng giữa núi

+ Cảnh quan đồng bằng đáy thung lũng và cánh đồng karst phân bố rải rác ở huyện Võ Nhai

+ Cánh quan đồng bằng thung lũng sông, xen đồi thoải dạng bậc thềm cổ

Trang 25

- Nhóm cảnh quan hình thái địa hình đồi: Nhóm cảnh quan hình thái địa hình

-

+ Cảnh quan đồi thấp, trung bình, dạng bát úp, đỉnh bằng rộng: là di tích của

bề mặt san bằng cổ, phân cách nhau bởi các đáy thung lũng rộng Phân bố ở các huyện Phú Bình, Phổ Yên, đặc biệt là khoảng giữa sông Cầu và sông Công Độ cao tuyệt đối 50m - 70m

+ Cảnh quan đồi cao, đỉnh bằng hẹp: là di tích của bề mặt san bằng cổ bị chia cắt bởi hệ thống thung lũng hẹp Phân bố ở phía tây bắc của tỉnh, kéo dài từ huyện Đại Từ đến huyện Định Hoá và phía tây thành phố Thái Nguyên cùng một số nơi khác Độ cao phổ biến 100m - 125m

+ Cảnh quan dãy đồi cao, sườn lồi - thẳng, đỉnh nhọn hẹp kéo dài dạng dãy: phân bố ở phía bắc thành phố Thái Nguyên trong lưu vực sông Cầu và các huyện Đồng

Hỷ, Phú Lương đến Định Hoá Độ cao phổ biến 100m - 125m, đôi nơi tới 150m

- Nhóm cảnh quan địa hình núi thấp

Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có nhiều đồi núi thấp, đặc biệt là những dãy núi đá vôi, địa hình karst Những dãy núi này có nhiều hang động, mái đá là “những ngôi nhà” tự nhiên thiên nhiên ban tặng cho người nguyên thủy cư trú và sinh sống Theo phân loại núi theo độ cao tuyệt đối ở Thái Nguyên chủ yếu là núi thấp và rất ít đỉnh đạt tới độ cao núi trung bình Địa hình núi được phân biệt bởi độ chia cắt

+ Cảnh quan núi thấp cấu tạo bởi đá vôi bị kast hoá mạnh, sườn dốc đứng tới vạt tích tụ coluvi ở chân sườn: phân bố ở phía đông đông bắc tỉnh, trong khu vực La Hiên, Đình Cả

+ Cảnh quan núi thấp cấu tạo bởi đá trầm tích xen lẫn đá vôi có sườn phức tạp, dốc đến dốc trung bình: bề mặt đỉnh mềm mại ít lộ đá gốc, đất phủ dày 0,5m - 1m Kiểu này phân bố ở phần đông của tỉnh Thái Nguyên

+ Cảnh quan núi thấp cấu tạo bởi đá vôi xen trầm tích biến chất, có sườn dốc thẳng: bề mặt đỉnh mềm mại xen những đoạn lởm chởm không liên tục Phân bố hạn chế ở phía tây bắc tỉnh

Trang 26

+ Cảnh quan núi thấp, trung bình: cấu tạo bởi đá biến chất với sườn dài lồi lõm phức tạp, bề mặt đỉnh rộng và mềm mại, bị chia cắt yếu, phân bố rộng rãi ở phía tây bắc tỉnh

+ Cảnh quan núi thấp cấu tạo bởi đá trầm tích phun trào với sườn thẳng, lồi, bề mặt bị chia cắt lởm chởm: phân bố ở phía tây nam nằm trong dãy núi Tam Đảo là chính + Cảnh quan núi thấp cấu tạo bởi đá bazơ và siêu bazơ, sườn dài dốc thẳng, chia cắt ngang yếu, có tầng phong hoá dày màu đỏ: phân bố ở khu vực núi Chúa, phía tây huyện Phú Lương

+ Cảnh quan núi thấp cấu tạo bởi đá xâm nhập axit sườn dài dốc, lồi, bề mặt đỉnh rộng: phân bố rải rác thành các khối riêng biệt như các khối núi Pháo, núi Điệng…

- Nhóm cảnh quan hình thái địa hình nhân tác

Tác động nhân sinh lên địa hình có tính chất bề mặt, nhưng tác động này tạo ra một kiểu cảnh quan hình thái địa hình nhân tác khác ở Thái Nguyên

Hồ chứa nước nhân tạo: đó là hồ Núi Cốc và 153 hồ nhỏ khác Đây là kiểu hình thái địa hình mới phát sinh chuyển từ địa hình thung lũng sang hồ chứa nước Vì vậy, chế độ động lực cũng chuyển từ xâm thực bóc mòn sang tạo hồ

1.1.3 Khí hậu

Khí hậu Thái Nguyên được hình thành từ một nền nhiệt độ cao của đới chí tuyến và sự thay thế của các hoàn lưu lớn theo mùa, kết hợp với hoàn cảnh địa lý cụ thể đã làm nên khí hậu nóng ẩm, mưa mùa, có mùa đông lạnh và rất thất thường trong năm

Nằm lệch về phía chí tuyến hơn xích đạo, ở Thái Nguyên hàng năm có hai lần mặt trời lên thiên đỉnh vào ngày 29/5 và ngày 16/7 Góc nhập xạ lớn, ngay cả trong mùa đông Tổng số giờ nắng đạt 4421 giờ/ năm, tổng lượng bức xạ mặt trời là 125,4

chênh lệch mấy giữa các mùa, dài nhất là vào tháng 6 và ngắn nhất vào tháng 12, chênh nhau gần 3 giờ [155]

Hoàn lưu gió mùa có ảnh hưởng trực tiếp và rất mạnh đến khí hậu Thái Nguyên Vào mùa đông,Thái Nguyên chịu ảnh hưởng của áp cao Xibia nên hướng gió thịnh hành có thành phần bắc là chủ yếu: tây bắc, bắc, đông bắc, kèm theo khối không khí lục địa lạnh, khô Trung bình mỗi năm Thái Nguyên chịu ảnh hưởng của 22 đợt gió mùa đông bắc, mỗi đợt kéo dài 2 - 3 ngày Gió mùa đông bắc tràn qua làm

Trang 27

nhiệt độ giảm đột ngột, có giông đi kèm rất hại cho con người, vật nuôi và cây trồng

Vào mùa hạ, hướng gió thịnh hành có phần nam là chủ yếu, chiếm hơn 50%, thành phần bắc chiếm tỉ lệ rất nhỏ Đầu mùa hạ, gió có nguồn gốc từ áp cao chí tuyến vịnh Bengan mang theo khối khí nóng ẩm kết hợp với gió tây nam khi vượt qua Trường Sơn tạo thời tiết nóng khô Tháng 8, do ảnh hưởng của sự giao thoa hai khối khí khác nhau nên thời tiết mưa ngâu rất điển hình cho cả Thái Nguyên, hàng năm Thái Nguyên cũng chịu ảnh hưởng của bão nhiệt đới [155]

Lượng mưa trung bình năm ở Thái Nguyên đạt khoảng 1.600mm - 1.900mm chế độ mưa chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa nhiều và mùa mưa ít Mùa mưa nhiều trùng với mùa nóng, chiếm 85% - 90% lượng mưa toàn năm; mùa mưa ít trùng với mùa lạnh, lượng mưa chỉ chiếm 10% - 15% lượng mưa toàn năm

Sự phân hóa mưa trên lãnh thổ khá rõ: lượng mưa ở phía đông Tam Đảo lớn hơn lượng mưa ở sườn phía tây, phía đông tỉnh ít mưa hơn phía tây tỉnh Ở phía bắc tỉnh, sự giảm dần lượng mưa từ tây sang đông một cách từ từ; ở phía nam tỉnh sự giảm dần lượng mưa từ tây bắc xuống đông nam diễn ra nhanh hơn Với lượng mưa phong phú, Thái Nguyên là một tỉnh khá ẩm ướt, độ ẩm trung bình năm đạt khoảng 82% - 84% [155]

/s Chế độ nước sông Cầu phù hợp với chế độ mưa Mùa mưa đồng thời là mùa lũ lớn kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, mùa cạn từ tháng 11 đến tháng 4 Mùa lũ chiếm 75% lượng nước, mùa cạn chỉ chiếm dưới 25% lượng nước cả năm

Trang 28

Ngoài dòng chảy chính là sông Cầu, trên địa bàn tỉnh còn có nhiều sông ngòi, hầu hết đều là phụ lưu của sông Cầu Ở hữu ngạn có các sông Chợ Chu, sông Đu, sông Công, trong đó sông Công là phụ lưu lớn nhất Sông Công dài 96km, lưu vực

lưu ở hữu ngạn Phía tả ngạn có các sông Nghinh Tường, sông Khe Mo - Huống Thượng Đây là hai dòng chảy chuyển gần như toàn bộ tổng lượng nước của vùng phía nam Võ Nhai và huyện Đồng Hỷ đổ vào sông Cầu

Thái Nguyên không có hồ tự nhiên lớn, nhưng lại có rất nhiều hồ nhân tạo do ngăn dòng chảy, lấy nước làm thủy lợi Lớn nhất là Hồ Núi Cốc Hồ Núi Cốc có

nước Hồ có vai trò quan trọng trong việc điều tiết lũ ở sông Công và cung cấp nước cho các vùng lân cận Ngày nay, hồ Núi Cốc là một địa điểm du lịch lớn nhất, thu hút khách tới tham quan đông nhất của tỉnh Thái Nguyên

Chính những hệ thống sông, hồ này cùng với những con suối nhỏ chằng chịt trên địa bàn tỉnh đã cung cấp nước góp phần hình thành các cánh rừng xanh tốt là môi sinh lý tưởng cho cuộc sống của người nguyên thủy Mạng lưới sông ngòi ở Thái Nguyên đóng vai trò cực kì quan trọng đối với cuộc sống của người nguyên thủy nơi đây Các con sông là nơi cung cấp nguồn thức ăn từ các loại thủy sinh dễ kiếm để con người tồn tại Theo các nhà nghiên cứu thủa ban đầu đối với người nguyên thủy, thức ăn từ các loài nhuyễn thế, ốc suối, cá nhỏ là thức ăn chủ đạo của

họ Mặt khác, hệ thống sông ngòi còn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nguyên liệu chính cho người nguyên thủy để chế tác công cụ đó là đá cuội Với nguồn nguyên liệu đá cuội sẵn có, dồi dào lại bền chắc hơn các công cụ bằng tre, nứa, gỗ họ đã chế tạo ra các công cụ phục vụ cuộc sống hàng ngày bắt đầu từ những công cụ vạn năng rồi đến những công cụ có tính chuyên môn hóa cao

1.1.5 Thực vật - động vật

Phần lớn diện tích Thái Nguyên ở độ cao dưới 600m nên rừng ở Thái Nguyên

là rừng chí tuyến chân núi Về cơ bản có thể chia làm 3 kiểu địa hình:

- Rừng chân núi ưa ẩm, ưa nhiệt: Rừng rập rạp, có nhiều cây gỗ quý như chò nâu, chò chỉ, chò xanh, táu mật, cây cao có thể tới 40m - 50m, đường kính 1,2m - 1,5m Kiểu rừng nguyên sinh này còn rất ít ở chân núi Tam Đảo, phần nhiều do khai

Trang 29

thác quá mức đã trở thành rừng thứ sinh Trong rừng thứ sinh có bồ đề, xoan đào Thoái hóa hơn nữa có rừng tre, nứa, vầu, chuối rừng, cỏ tranh, cây bụi Động vật trong rừng giống với Vân Nam, Trung Quốc…

- Rừng vùng núi thấp, hiện nay phần lớn là rừng thứ sinh phục hồi… trong rừng ít gỗ quý, phần lớn là các cây dễ tính, mọc nhanh như sau sau, dẻ, thông mã vĩ

…Thoái hóa hơn nữa có cây bụi như sim, mua, chổi xuể, guộc hoặc đồi trọc Động vật nghèo hơn động vật trong rừng chân núi ưa ẩm, có ít thú quý Loài đặc hữu có hươu xạ, chó sói

- Rừng trai, nghiến ở vùng núi đá vôi…Trong rừng nguyên sinh có nhiều gỗ quý như trai, nghiến, lát… Động vật trong rừng có hươu xạ, khỉ, vượn, nai, hoẵng, sơn dương [155]

Từ xưa rừng Thái Nguyên đã nổi tiếng về đặc sản cây thuốc và động vật hoang

dã Sách Đại Nam nhất thống chí đã trích dẫn nhận xét của Lê Quý Đôn về các loại

lâm thổ sản của Thái Nguyên “…xứ Thái Nguyên có vàng, bạc, đồng thiếc, chì, sắt,

tre, gỗ, củi, than, công tư dùng đủ; lại có chè, sơn, vỏ gió, dâu, gai và tôm cá, mối lợi dồi dào” [66, tr.161 - 162] Cũng theo sách trên, Thái Nguyên có những loại lâm

sản là thức ăn tự nhiên mà người nguyên thủy có thể săn bắt, hái lượm được trong

tự nhiên như: củ mài, củ đậu, hươu, gấu, mật ong, gà rừng, trăn, rắn…

Theo thống kê của sách Địa chí Thái Nguyên cho biết, hiện nay Thái Nguyên

về thực vật có 21 họ, 32 chi và 53 loài gồm cả hạt kín và hạt trần Động vật sách trên cũng thống kê Thái Nguyên có khoảng 422 loài, 91 họ và 28 bộ của 4 lớp động vật: chim, thú, bò sát, ếch nhái [155]

Nghiên cứu văn hóa thời đại Đá ở Thái Nguyên không thể không tìm hiểu một

số vấn đề về điều kiện tự nhiên khu vực này trong thời Cánh tân (Pleistocene) và đầu Toàn tân (Early Holocene) Các nhà địa chất cho biết, bắt đầu từ thế Cánh tân, địa hình, địa mạo của Thái Nguyên khá ổn định như ngày nay, các dòng sông, suối vẫn ổn định hướng tây bắc - đông nam hoặc bắc - nam [155] Toàn bộ khu vực bắc, đông bắc Thái Nguyên nằm trọn vẹn trong vòng cung sơn khối Bắc Sơn được bắt nguồn từ vùng đông nam Hà Giang, qua Nguyên Bình xuống Bắc Cạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn rồi ra vùng biển Quảng Ninh, Hải Phòng Trong khu vực này, chúng ta đã phát hiện trong một số hang động tiền sử một số lượng khá lớn xương răng động vật hoá thạch được giám định là thuộc thời Cánh tân Đó là các hoá thạch

Trang 30

nằm trong lớp trầm tích văn hóa trong các địa điểm hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai, Kéo Lèng, Thẳm Thời, Lũng Cung v.v ở Lạng Sơn; Mái đá Ngườm, Mái đá Hạ Sơn I ở Thái Nguyên v.v Quần động vật ở các hang này về cơ bản thuộc quần

động vật Hoa Nam thời Cánh tân “Voi răng kiếm - gấu mèo - đười ươi”(Stegodon -

Ailuropoda - Pongo) Quần động vật hoá thạch giữa 2 giai đoạn sớm muộn này không có sự thay đổi nhiều về giống loài, mà chỉ có thay đổi chút ít về kích thước Đáng chú ý là, trong quần động vật hoá thạch này không có loài nào chỉ thị cho khí hậu lạnh, do đó hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất là miền Bắc Việt Nam không trải qua các kỳ băng hà và gián băng trong thời Cánh tân Tuy không nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của băng hà, nhưng những tài liệu trầm tích địa tầng

từ Mái đá Ngườm, đặc biệt sự có mặt của lớp dăm kết đá vôi vào khoảng 23.000 năm được coi như bằng chứng về một thời kỳ lạnh đột ngột mang tính toàn cầu

[122] Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Sử, thì “ những tư liệu thu thập được

trong thập kỷ gần đây cho thấy, không chỉ ở giai đoạn Pleistocene mà ngay trong giai đoạn Holocene, cổ khí hậu và môi trường Bắc Việt Nam có những thay đổi đáng kể, với các pha nóng lạnh và mát xen kẽ nhau Nhưng xu hướng chung là tiến dần tới nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm” (118, tr 316 - 317)

Trong nền cảnh sinh thái như vậy, với thảm thực vật rừng và hệ thống động vật phong phú là những nguồn tài nguyên thiên nhiên vô giá, phục vụ đắc lực cho cuộc sống hàng ngày của con người Tất cả những thứ này đã được cư dân tiền sử ở Thái Nguyên sớm thích nghi, khai thác

1.2 Lịch sử phát hiện và nghiên cứu khảo cổ học thời đại Đá ở Thái Nguyên

Thái Nguyên là một trong số ít địa phương có những phát hiện và nghiên cứu khảo cổ vào loại sớm nhất khu vực miền núi nước ta Tuy vậy, do nhiều lý do khác nhau mà công cuộc nghiên cứu khảo cổ học Thái Nguyên không phải là quá trình liên tục mà có lúc bị gián đoạn khá dài

Có thể chia quá trình nghiên cứu khảo cổ học thời đại Đá ở Thái Nguyên từ trước tới nay thành 3 giai đoạn:

a Giai đoạn 1924 - 1971

Đầu những năm 20, một số nhà địa chất và khảo cổ học người Pháp đã có những cuộc khảo sát và khai quật khảo cổ học trong khu vực sơn khối đá vôi phía

Trang 31

bắc thuộc vùng Bắc Sơn, Lạng Sơn, vùng Võ Nhai, Thái Nguyên Chính trong khoảng thời gian này, văn hoá Bắc Sơn đã được xác định Năm 1925, H Mansuy và

M Colani đã công bố công trình Đóng góp vào việc nghiên cứu tiền sử Đông

D-ương [172, 173] trong đó, có đề cập đến 4 di tích Bắc Sơn được phát hiện và nghiên

cứu trên đất Thái Nguyên Đó là các di tích: Khắc Kiệm, Nghinh Tắc, Nà Cà, Ky đều thuộc huyện Võ Nhai, Thái Nguyên Ngoài ra, trong thời gian này hai nhà khảo

cổ H Mansuy và M Colani còn nghiên cứu và công bố về hai địa điểm khác là Làng Trang và Suam - Sơn Hiện nay, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia còn lưu trữ các hiện vật của hai di tích trên có ghi tên địa danh thuộc về huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên Trong những năm 1967 - 1970, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (nay là Bảo tàng lịch sử Quốc gia) đã trở lại khảo sát các di tích này và phát hiện thêm một số di vật

khá đầy đủ trong công trình Những hiện vật tàng trữ tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt

Nam về văn hóa Bắc Sơn do Bảo tàng Lịch sử xuất bản năm 1969 (166)

Như vậy, trong giai đoạn 1924 - 1971, được xem như giai đoạn đặt nền móng cho công cuộc nghiên cứu văn hóa tiền sơ sử ở Thái Nguyên Trong giai đoạn này, Thái Nguyên đã đóng góp vào lịch sử nghiên cứu khảo cổ học tiền sử Việt Nam 4 địa điểm văn hoá Bắc Sơn rất nổi tiếng Điều này khẳng định vùng đất này nằm trong địa bàn phân bố của văn hóa Bắc Sơn Những tư liệu này đã bước đầu báo hiệu về khả năng tiềm tàng những dấu tích của người tiền sử trên đất Thái Nguyên

b Giai đoạn 1972 - 2000

Đầu năm 1972, để chuẩn bị cho việc nghiên cứu sâu hơn về văn hoá Hoà Bình, văn hoá Bắc Sơn cũng như tìm hiểu mối quan hệ giữa 2 nền văn hoá này, Viện Khảo cổ học Việt Nam và Trường Đại học sư phạm Việt Bắc đã tiến hành điều tra một số hang vùng Thần Sa, Sảng Mộc, Thượng Nung và phát hiện hang Miệng Hổ, hang Nà Khù Cuộc khai quật hang Miệng Hổ đã gây sự chú ý lớn trong giới khảo cổ bởi tính chất mới lạ của chúng so với văn hoá Hoà Bình, văn hoá Bắc Sơn [18, 19, 20]

Năm 1973, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia và Ty Văn hoá Thái Nguyên (nay là

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thái Nguyên) tiếp tục nghiên cứu khu vực Thần

Sa và những vùng phụ cận

Trang 32

Liên tiếp trong 3 năm liền 1980, 1981, 1982, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Viện Khảo cổ học, Ty Văn hoá Thái Nguyên, Trường Đại học Văn hoá Hà Nội đã có nhiều đợt khảo sát, điều tra và khai quật khảo cổ tại khu vực Thần Sa Một trong những thành tựu lớn của các đợt khai quật này là đã phát hiện hơn 10 di tích khảo

cổ mới, trong đó nổi bật là di chỉ Mái đá Ngườm Phần lớn kết quả của đợt nghiên

cứu này đã được trình bày trong cuốn sách Thần Sa, những di tích của con người

thời đại Đá do Bảo tàng Lịch sử Quốc gia xuất bản năm 1981[167]

Một số công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến kỹ nghệ Ngườm cũng

đã được công bố trên ấn phẩm chuyên ngành trong thời gian này Trong đó đáng

chú ý là những bài: “Lớp dăm đá vôi ở Ngườm với khí hậu cuối Pleistocene ở Đông

Nam Á”, “Kỹ nghệ Ngườm trong một phối cảnh rộng hơn”, “Ngườm, Lang Longrien và Bạch Liên Động” của tác giả Hà Văn Tấn [122; 123; 124) “Mái đá Ngườm và các giai đoạn phát triển từ Sơn Vi đến Hoà Bình” của Hoàng Xuân

Chinh [15], “Nghiên cứu vết xử dụng trên công cụ mảnh tước Mái đá Ngườm (Bắc

Thái)” của tác giả Nguyễn Khắc Sử [110], “Suy nghĩ về niên đại ở di chỉ Mái đá Ngườm (Bắc Thái)” của Đặng Hữu Lưu [89], “Những di tích cổ sinh vùng Thần Sa (Bắc Thái)” của Lê Văn Thuế [145], “Diễn biến thành phần vỏ ốc ở Mái đá Ngườm (Bắc Thái)” của Vũ Thế Long [87], “Khảo sát và thực nghiệm kỹ thuật chế tác đá

ở Ngườm” của các tác giả Đoàn Đức Thành và Trình Năng Chung [143], “Kỹ nghệ Ngườm và văn hoá Bắc Sơn”, “Góp thêm vào việc nghiên cứu di chỉ Ngườm”của

tác giả Trình Năng Chung [29;31], “Góp bàn về mối quan hệ kỹ nghệ Ngườm và

văn hóa Sơn Vi” của tác giả Quang Văn Cậy và Trình Năng Chung [13] Đặc biệt

trong đề tài PTS “Kỹ nghệ Ngườm và vị trí của nó trong thời đại Đá Việt Nam”của nhà nghiên cứu Quang Văn Cậy [3] và trong tác phẩm “Khảo cổ học Việt Nam- tập

I Việt Nam - Thời đại Đá Việt Nam” [127] do giáo sư Hà Văn Tấn chủ biên đã bước

đầu tổng kết các nghiên cứu về Ngườm

Việc phát hiện ra Mái đá Ngườm, một di chỉ của con người thời đại Đá cũ có niên đại trên 23.000 năm cách ngày nay, với đặc trưng nổi bật là kỹ nghệ mảnh tước duy nhất tìm thấy ở Việt Nam đã đóng góp vào việc thay đổi nhận thức về văn hoá tiền sử Việt Nam và Đông Nam Á Đồng thời các tác giả trên cũng khẳng định mối liên hệ giữa kỹ nghệ Ngườm ở Việt Nam và các di tích khác ở Thái Lan và Nam Trung Quốc

Trang 33

Trong giai đoạn này, một số phát hiện lẻ tẻ về những di vật rìu có vai, rìu bôn

có vai ở huyện Đại từ và Võ Nhai đã được công bố [27, 160]

Chúng ta có thể nói rằng đây là một giai đoạn cực kỳ quan trọng đối với lịch

sử nghiên cứu khảo cổ học tại Thái Nguyên Trong giai đoạn này đã có những phát hiện mới mang tính chất “bản lề” khẳng định vị trí của Thái Nguyên trên bản đồ khảo cổ học Việt Nam Việc phát hiện ra kỹ nghệ Ngườm đã đóng góp thêm vào nhận thức về văn hóa tiền sử Việt Nam trong khu vực Đồng thời cũng đặt ra một loạt các vấn đề cần làm sáng tỏ như:

(1) Nguồn gốc của kỹ nghệ Ngườm, khuynh hướng phát triển ở giai đoạn tiếp nối (2) Mối quan hệ nội tại giữa kỹ nghệ mảnh tước Ngườm và kỹ nghệ cuội ghè ngay trên địa bàn Thái Nguyên và các vùng lân cận

c Giai đoạn từ năm 2001 đến nay

Sau ba mươi năm sau phát hiện và khai quật khảo cổ học ở khu vực Thần Sa, tháng 3 năm 2011, Viện Khảo cổ học và Bảo tàng Thái Nguyên đã tiến hành đợt điều tra trên 2 huyện Võ Nhai và Đồng Hỷ

Trong đợt này, đoàn đã khảo sát hơn 20 địa điểm, trong đó phúc tra lại gần 10 địa điểm thuộc khu vực Thần Sa và phát hiện mới hơn 10 địa điểm khác ở huyện Võ Nhai và Đồng Hỷ

Tại huyện Võ Nhai, các địa điểm được phúc tra và phát hiện mới là: Mái đá Ngườm, Hạ Sơn II, Hạ Sơn I, hang Thắm Choong, hang Miệng Hổ, hang Nà Ngùn, hang Nà Khù, hang Đán Mèo (xã Thần Sa); hang Phượng Hoàng (xã Phú Thượng); hang Cá, hang Trâu, hang Nà Vật, hang Ốc (xã Bình Long) Trong số những hang mới phát hiện nổi bật là hang Ốc, xã Bình Long - một địa điểm có diện phân bố của

di tích khá lớn và tầng văn hóa dày

Tại huyện Đồng Hỷ, một số di tích mới được phát hiện và khảo sát sơ bộ gồm: Hang Chùa, hang Dơi (xã Văn Lăng); hang Rắn I, hang Rắn II (xã Tân Long) Tại các địa điểm này đã phát hiện một số di tích và di vật liên quan đến cư dân thời đại Đá [40]

Từ năm 2012 đến nay, tác giả đề tài đã tiến hành điều tra, thám sát khảo cổ học tại các xã Yên Ninh, Yên Trạch, Yên Đổ, Yên Lạc, Động Đạt thuộc huyện Phú Lương, xã Yên Lãng thuộc huyện Đại Từ, các xã Linh Sơn, Tân Long, Văn Lăng, Hóa Trung, Hòa Bình thuộc huyện Đồng Hỷ, thị trấn Chợ Chu và các xã Phượng

Trang 34

Tiến, Quy Kỳ thuộc huyện Định Hóa, các xã Cúc Đường, Thần Sa, Vũ Chấn, Bình Long, Phương Giao thuộc huyện Võ Nhai… Bên cạnh việc phúc tra các di tích cũ, chúng tôi đã phát hiện một số di tích mới, gồm các hang Kim Sơn, hang Ông Trúc, hang Con Hổ (Mái đá Con Hổ) thuộc huyện Võ Nhai; hang Sáng (hang Thắm), hang Yên, hang Thủng, Bộc Cuối thuộc huyện Phú Lương, hang Thần thuộc huyện Đồng Hỷ…(Bảng 1) Dựa vào đặc trưng công cụ, địa tầng hố thám sát, bước đầu chúng tôi xác định một số di tích thuộc về văn hóa Bắc Sơn, một số di tích thuộc về thời kỳ hậu kỳ Đá mới và sơ kỳ Kim khí [131, 133, 135, 137, 138, 139, 141]

Tháng 3 năm 2015, Viện Khảo cổ học và Bảo tàng Thái Nguyên khai quật địa điểm hang Ốc thuộc xã Bình Long huyện Võ Nhai Kết quả cuộc khai quật đã được báo cáo bước đầu [74]

Trong giai đoạn này, các kết quả của các đợt điều tra, thám sát đã bước đầu được công bố Một số địa điểm đã được xác định tuổi bằng niên đại tuyệt đối [40,

44, 74, 130, 131, 132, 133, 140]

Nhìn chung, giai đoạn này việc nghiên cứu khảo cổ học ở Thái Nguyên đã đạt được một số thành tựu mới Việc phát hiện và nghiên cứu mới rất nhiều các di tích thuộc thời đại Đá trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã đặt ra một số vấn đề cần giải quyết như sau:

kỳ và Đá mới hậu kỳ trên đất Thái Nguyên

(2) Tìm hiểu rõ mối quan hệ giữa các di tích hậu kỳ Đá cũ ở Thái Nguyên với các di tích đá mới ở Thái Nguyên

(3) Bước đầu làm sáng tỏ các giai đoạn phát triển văn hóa thời đại Đá ở Thái Nguyên

Trang 35

Quá trình nghiên cứu khảo cổ học ở Thái Nguyên diễn ra từ khá sớm với vai trò của các nhà khảo cổ học người Pháp trong những năm 20 của thế kỉ XX Tuy nhiên, những thành tựu nghiên cứu quan trọng nhất được phát hiện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên vào nhưng năm 1972 - 1985 Sau một thời gian tương đối dài bị gián đoạn, từ năm 2011 đến nay, quá trình nghiên cứu đã được tiếp tục và thu được nhiều thành tựu quan trọng

Vào những năm 20 của thế kỉ XX, các học giả người Pháp là H Mansuy và

M.Colani đã phát hiện và thu thập được một số di tích, di vật ở Khắc Kiệm, Nghinh Tắc,

Nà Cà, Ky trên đất Thái Nguyên Đó là những bước mở đầu cho công cuộc khám phá và nghiên cứu văn hóa tiền sử Thái Nguyên

Trong những năm 70, 80 của thế kỉ XX, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã phát

hiện được ở xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên những di tích khảo cổ học có niên đại từ hậu kỳ Đá cũ đến sơ kỳ thời đại đồ Đá mới như: Miệng Hổ, Ngườm, Nà Ngùn, Thắm Choong, Hạ Sơn 1, Hạ Sơn 2 Trong đó, đặc biệt với phát hiện di tích Ngườm đã cung cấp cho giới khảo cổ những nhận thức mới về con đường phát triển kỹ nghệ Ngườm - kỹ nghệ mảnh tước ở hậu kỳ Đá cũ Việt Nam và Đông Nam Á Những phát hiện này còn góp phần khẳng định bước phát triển văn hoá của con người nguyên thuỷ trên mảnh đất Thái Nguyên nói riêng và nước ta nói chung Tuy nhiên, xung quanh kỹ nghệ Ngườm còn nhiều vấn đề cần làm sáng tỏ, đặc biệt về nguồn gốc và khuynh hướng phát triển của kỹ nghệ Ngườm Chính vì vậy, chúng ta cần phải hệ thống hóa các nguồn tư liệu và kết quả nghiên cứu về khảo cổ học Thái Nguyên nói chung

Quá trình nghiên cứu từ 2001 đến nay, trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu các tư

liệu đã được công bố, khảo sát, thám sát, khai quật các di tích mới chúng tôi đã thu được nhiều kết quả quan trọng Các kết quả mới này giúp tác giả làm rõ được các đặc trưng cơ bản và các giai đoạn phát triển của thời đại Đá Thái Nguyên

Trang 36

Bảng 1: Thống kê các di tích thời đại đồ Đá đã được phát hiện ở Thái Nguyên

Miêu tả di tích, di vật

Niên đại tuyệt đối, tương

đối

Tài liệu công bố

BTLSVN, Trường ĐHVH Hà Nội, Trường ĐHTH Hà Nội, Viện Khảo cổ học, Viện ĐNÁ (1982)

Viện Khảo cổ học

và Bảo tàng Thái Nguyên (2011)

Di tích Mái đá Ngườm có 3 tầng văn hóa Tầng 1

từ 1,10m - 1,45m cấu tạo từ đất sét màu vàng nhạt

và lớp mảnh đá vôi Tầng 2 từ 0,6m - 1,10m cấu tạo

từ đất sét vôi tơi xốp, màu xám nhạt, chứa xương răng động vật chớm hóa thạch, trong đó có một hàm pongo khá nguyên vẹn và khá nhiều di vật đá

Tầng 3 dày trung bình là 0,6m cấu tạo bởi đất sét vôi tơi xốp, màu xám sẫm

Qua hai lần khai quật vào các năm 1981 và 1982

đã thu được 24.635 di vật đá gồm: 618 công cụ hạch cuội, 302 công cụ mảnh lớn, 10.146 công cụ mảnh tước tu chỉnh nhỏ, 13.494 mảnh tước, 75 hạch đá

- Niên đại tuyệt đối tầng II là 23.000±200 năm

BP và 23.100±100 BP

- Niên đại tuyệt đối tầng III là 19.040±40 năm

BP và 18.600±200 năm

BP

[3],[40]

Trang 37

(1972,1973,1980)

Viện Khảo cổ học

và Bảo tàng Thái Nguyên (2011)

Cấu tạo tầng văn hóa về cơ bản có:

- Lớp mặt: Lớp này dày từ 10cm - 15cm, đất có màu nâu sẫm

- Lớp tiếp theo là lớp đất màu vàng nhạt, hơi xám

có lẫn ít vỏ ốc ở phía trên, độ dày 30cm - 35cm

- Sinh thổ là tầng đất có màu đỏ sẫm, cùng nhiều tảng đá vôi lớn

Qua ba lần khai quật đã thu được 460 di vật đá gồm: 34 công cụ hạch cuội, 202 công cụ mảnh tước, 224 công cụ mảnh cuội

Ty Văn hóa thông tin Bắc Thái (1980,1981)

Viện Khảo cổ học

và Bảo tàng Thái Nguyên (2011)

Hang Thắm Choong có một tầng văn hóa thuần nhất, dày 0,7m Đất trong tầng văn hóa có màu nâu sẫm, khá xốp

Cuộc khai quật năm 1981 thu được 100 hiện vật:

Công cụ chặt 24 chiếc, công cụ chặt khía 2 chiếc, công cụ cắt nạo từ mảnh tước 13 chiếc, mảnh tước

và mảnh tách, đá nguyên liệu là 61

Hậu kỳ Đá cũ [6],

[40]

Trang 38

Viện Khảo cổ học

và Bảo tàng Thái Nguyên (2011)

Tầng văn hóa ở đây rất mỏng, khoảng 0,2m - 0,3m, đất có màu nâu sẫm, chứa nhiều đá dăm to nhỏ, một ít vỏ ốc núi, ốc suối cùng di vật khảo cổ

Sưu tầm hiện vật đào được vào năm 1980 là 102 hiện vật: Công cụ chặt 8 chiếc, công cụ nạo 8 chiếc, mảnh tước 12, 15 cuội nguyên liệu và 59 mảnh tách

Viện Khảo cổ học

và Bảo tàng Thái Nguyên (2011)

Một hố thám sát nhỏ được đào tại đây nhưng không xác định được tầng văn hóa cũng như không tìm thấy hiện vật nào

Công cụ thu được trên bề mặt hang trong đợt thám sát năm 1972 gồm: Công cụ chặt 10 chiếc, công cụ dao nạo 5 chiếc, mũi nhọn 1 chiếc, mảnh tước, mảnh tách, cuội nguyên liệu là 87

Tầng văn hóa ở đây mỏng gồm đất mặt và tầng văn hóa thứ 2, lớp sinh thổ

Cuộc khai quật năm 1972 thu được 14 hiện vật:

Công cụ chặt 7 chiếc, công cụ ghè đập 3 chiếc, công cụ nạo cắt 2 chiếc, mảnh tước 2

Hậu kỳ Đá cũ [18],[6]

Trang 39

Cuộc khảo sát năm 1982 thu được 18 hiện vật:

Công cụ rìa lưỡi ngang 4 chiếc, công cụ có 2 rìa lưỡi đối diện 3 chiếc, công cụ không định hình 4 chiếc, công cụ mảnh đá 3 chiếc, phác vật có dấu ghè đẽo 2 chiếc

bố năm 1925

Viện Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (1968)

ĐHSP Thái Nguyên (2014)

Cấu tạo tầng văn hóa gồm có 4 lớp sâu 1,3m

- Tầng I: ở dưới cùng, sâu từ 130cm - 107cm, tương ứng với lớp đào 7 và 8 Đất tơi xốp, màu nâu hơi sáng, không pha sét, nhưng pha cát, có các đốm trắng vôi nhỏ li ti và một số viên sét vôi bở màu trắng

- Tầng II: sâu từ 107cm - 55cm, tương ứng với các lớp đào 4, 5 và 6 Đất pha sét, màu nâu sẫm, chứa các mảnh đá quartz, cát bột kết, sét kết (để lại các vết lốm đốm trên vách) tập trung ở phía bên trên

- Tầng III: sâu từ 55cm - 25cm, tương ứng với lớp đào 2 và 3 Trầm tích bở rời, tơi xốp, màu nâu sáng, chứa rất nhiều các mảnh cục đá vôi, công cụ và vỏ ốc

- Tầng IV (tầng trên cùng): từ bề mặt cho đến 25cm, tương ứng với lớp đào 2, trầm tích màu nâu sáng, chia thành 2 mức rõ ràng: mức dưới từ 25cm-

Sơ kỳ Đá mới Văn hoá Bắc Sơn

[173]

Trang 40

17cm có các hiện tượng lớp đất cháy đỏ, cứng dày 4cm ở trên cùng nằm chồng lên lớp tro xám dày 2cm, và bên dưới lớp tro xám lại là lớp đất cháy dày 2cm - 3cm; mức trên dày 17cm là lớp bề mặt trên cùng, tương ứng với lớp đào 1

- Hiện nay, tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam còn lưu giữ 1 ghè thô, 1 rìu, 4 rìu mài lưỡi kiểu Bắc Sơn 35 mảnh gốm, 1 vòng đá, 1 sọ người, 1 công cụ Hòa Bình

Viện Khảo cổ năm (1972 )

- Lớp đất màu nâu sẫm, có nhiều vỏ ốc, dày khoảng 0,30m Trong lớp có lẫn nhiều vệt than tro và công

[166]

Ngày đăng: 27/07/2017, 10:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Boriskovsky P.I (1977), “Một số vấn đề về thời đại Đá Việt Nam”, Tạp chí Khảo cổ học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về thời đại Đá Việt Nam”, "Tạp chí Khảo cổ học
Tác giả: Boriskovsky P.I
Năm: 1977
2. Trịnh Căn và Quang Văn Cậy (1986), Về hai chiếc Rìu tay bằng đá cuội ở Mái đá Ngườm (Bắc Thái), Những phát hiện mới về Khảo cổ học , Viện Khảo cổ học, tr.58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về hai chiếc Rìu tay bằng đá cuội ở Mái đá Ngườm (Bắc Thái)
Tác giả: Trịnh Căn và Quang Văn Cậy
Năm: 1986
3. Quang Văn Cậy (1994), Kỹ nghệ Ngườm và vị trí của nó trong thời đại Đá Việt Nam, Luận án PTS Lịch sử, Tƣ liệu thƣ Viện KCH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ nghệ Ngườm và vị trí của nó trong thời đại Đá Việt Nam
Tác giả: Quang Văn Cậy
Năm: 1994
4. Quang Văn Cậy (1995), “ Những phát hiện và nghiên cứu khảo cổ học trong thung lũng Thần Sa và vấn đề kỹ nghệ Ngườm”, Tạp chí Khảo cổ học, số 1, tr. 3 - 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phát hiện và nghiên cứu khảo cổ học trong thung lũng Thần Sa và vấn đề kỹ nghệ Ngườm”, "Tạp chí Khảo cổ học
Tác giả: Quang Văn Cậy
Năm: 1995
5. Quang Văn Cậy (1998), Vị trí của kỹ nghệ Ngườm trong thời đại Đá Việt Nam, Thông báo khoa học, Viên Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, tr. 89 - 104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí của kỹ nghệ Ngườm trong thời đại Đá Việt Nam
Tác giả: Quang Văn Cậy
Năm: 1998
6. Quang Văn Cậy, Trình Năng Chung, Ngô Thế Phong, Bùi Văn Tiến, (1981), Thần Sa những di tích của con người thời đại đồ Đá, Viện bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Ty văn hóa và thông tin Bắc Thái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần Sa những di tích của con người thời đại đồ Đá
Tác giả: Quang Văn Cậy, Trình Năng Chung, Ngô Thế Phong, Bùi Văn Tiến
Năm: 1981
7. Quang Văn Cậy, Trịnh Căn (1981), Khai quật Mái đá Ngườm (Bắc Thái), Những phát hiện mới về Khảo cổ học, Viện Khảo cổ học, Hà Nội, tr. 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai quật Mái đá Ngườm (Bắc Thái)
Tác giả: Quang Văn Cậy, Trịnh Căn
Năm: 1981
8. Quang Văn Cậy, Bùi Văn Lợi, Trịnh Căn (1983), Điều tra Khảo cổ học ở Thượng Nung (Bắc Thái), Những phát hiện mới về Khảo cổ học, Viện Khảo cổ học, Hà Nội, tr. 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra Khảo cổ học ở Thượng Nung (Bắc Thái)
Tác giả: Quang Văn Cậy, Bùi Văn Lợi, Trịnh Căn
Năm: 1983
9. Quang Văn Cậy, Trịnh Căn, Hoàng Ngọc Đăng (1984), Những phát hiện mới về thời kỳ đồ đá ở Văn Lãng, Võ Nhai (Bắc Thái), Những phát hiện mới về Khảo cổ học, Viện Khảo cổ học, Hà Nội, tr. 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phát hiện mới về thời kỳ đồ đá ở Văn Lãng, Võ Nhai (Bắc Thái)
Tác giả: Quang Văn Cậy, Trịnh Căn, Hoàng Ngọc Đăng
Năm: 1984
10. Quang Văn Cậy, Hoàng Đăng (1986), Khảo sát một số hang và mái đá xã Bình Long, huyện Võ Nhai, tỉnh Bắc Thái, Những phát hiện mới về Khảo cổ học, Viện Khảo cổ học, Hà Nội, tr. 63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát một số hang và mái đá xã Bình Long, huyện Võ Nhai, tỉnh Bắc Thái
Tác giả: Quang Văn Cậy, Hoàng Đăng
Năm: 1986
11. Quang Văn Cậy, Trịnh Căn, Bùi Văn Lợi (1986), Hang Nà Coóc huyện Phú Lương (Bắc Thái), Những phát hiện mới về Khảo cổ học, Viện Khảo cổ học, Hà Nội, tr. 64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hang Nà Coóc huyện Phú Lương (Bắc Thái)
Tác giả: Quang Văn Cậy, Trịnh Căn, Bùi Văn Lợi
Năm: 1986
12. Quang Văn Cậy, Trình Năng Chung (1998), Công cụ xương ở di chỉ Ngườm (Thái Nguyên), Những phát hiện mới về Khảo cổ học, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr. 156 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công cụ xương ở di chỉ Ngườm (Thái Nguyên)
Tác giả: Quang Văn Cậy, Trình Năng Chung
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1998
13. Quang Văn Cậy và Trình Năng Chung (1998), Góp bàn về mối quan hệ kỹ nghệ Ngườm và văn hóa Sơn Vi, Tìm hiểu văn hóa Sơn Vi, Sở Văn hóa - Thông tin và thể thao tỉnh Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp bàn về mối quan hệ kỹ nghệ Ngườm và văn hóa Sơn Vi
Tác giả: Quang Văn Cậy và Trình Năng Chung
Năm: 1998
14. Trương Hoàng Châu (1974), “ Phải chăng di tích Miệng Hổ (Bắc Thái) thuộc thời đại Đá giữa?”, Tạp chí Khảo cổ học, số 16, tr. 45 – 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phải chăng di tích Miệng Hổ (Bắc Thái) thuộc thời đại Đá giữa?”," Tạp chí Khảo cổ học
Tác giả: Trương Hoàng Châu
Năm: 1974
15. Hoàng Xuân Chinh (1984), “Mái đá Ngườm và các giai đoạn phát triển từ Miệng Hổ đến Hoà Bình”, Tạp chí Khảo cổ học, số 3, tr.15 - 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mái đá Ngườm và các giai đoạn phát triển từ Miệng Hổ đến Hoà Bình”, " Tạp chí Khảo cổ học
Tác giả: Hoàng Xuân Chinh
Năm: 1984
16. Hoàng Xuân Chinh (1992), “Bước chuyển biến từ Pleistocene sang Holocene ở Việt Nam: Vấn đề và triển vọng”, Tạp chí Khảo cổ học, số 1, tr. 8 - 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước chuyển biến từ Pleistocene sang Holocene ở Việt Nam: Vấn đề và triển vọng”, "Tạp chí Khảo cổ học
Tác giả: Hoàng Xuân Chinh
Năm: 1992
17. Hoàng Xuân Chinh (1994), Ranh giới giữa Pleistocene - Holocene, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Môi trường, văn hóa và con người trong bước chuyển Pleistocene - Holocene ở Việt Nam, tr. 8 - 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ranh giới giữa Pleistocene - Holocene
Tác giả: Hoàng Xuân Chinh
Năm: 1994
18. Hoàng Xuân Chinh, Vũ Thế Long (1972), Điều tra cổ sinh Đệ tứ ở Cao Bằng, Lạng Sơn và Bắc Thái, Những phát hiện mới về Khảo cổ học, Viện Khảo cổ học, Hà Nội, tr. 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra cổ sinh Đệ tứ ở Cao Bằng, Lạng Sơn và Bắc Thái
Tác giả: Hoàng Xuân Chinh, Vũ Thế Long
Năm: 1972
19. Hoàng Xuân Chinh, Trần Ngọc (1972), Báo cáo điều tra khai quật ở Võ Nhai, Bắc Thái (Tháng 1,2 năm 1972), Tƣ liệu Thƣ viện Viện Khảo cổ học, HS 76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo điều tra khai quật ở Võ Nhai, Bắc Thái (Tháng 1,2 năm 1972)
Tác giả: Hoàng Xuân Chinh, Trần Ngọc
Năm: 1972
20. Hoàng Xuân Chinh, Trần Ngọc (1972), Điều tra và đào khảo cổ ở Võ Nhai (Bắc Thái), Những phát hiện mới về Khảo cổ học , Viện Khảo cổ học, Hà Nội, tr. 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra và đào khảo cổ ở Võ Nhai (Bắc Thái)
Tác giả: Hoàng Xuân Chinh, Trần Ngọc
Năm: 1972

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm