1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón và mật độ đến sinh trưởng, phát triển giống ngô lai NK 66 trong vụ xuân muộn trên đất dốc tại huyện mù cang chải, tỉnh yên bái

87 309 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TRẦN VĂN LỊCH NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ TỔ HỢP PHÂN BÓN VÀ MẬT ĐỘ ĐẾN SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN GIỐNG NGÔ LAI NK 66 TRÊN ĐẤT DỐC TẠI HU

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRẦN VĂN LỊCH

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ

TỔ HỢP PHÂN BÓN VÀ MẬT ĐỘ ĐẾN SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN GIỐNG NGÔ LAI NK 66 TRÊN ĐẤT DỐC

TẠI HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRẦN VĂN LỊCH

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ

TỔ HỢP PHÂN BÓN VÀ MẬT ĐỘ ĐẾN SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN GIỐNG NGÔ LAI NK 66 TRÊN ĐẤT DỐC

TẠI HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI

Ngành: KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Mã số: 60.62.01.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Người hướng dẫn khoa học: TS HOÀNG THỊ BÍCH THẢO

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các kết quả, số liệu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác

Tôi cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2016

Tác giả luận văn

Trần Văn Lịch

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài tôi luôn nỗ lực cố gắng để hoàn thành các nội dung theo chương trình đào tạo, để hoàn thành luận văn nghiên cứu của mình trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn

tới TS Hoàng Thị Bích Thảo, người Cô đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn

tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài và nghiên cứu

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các Thày, Cô giáo khoa Nông học, Phòng Đào tạo - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên; Ủy ban nhân dân huyện

Mù Cang Chải; Phòng Nội vụ, huyện Mù Cang Chải; Ủy ban nhân dân xã Lao Chải, huyện Mù Cang Chải đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành luận văn

Cảm ơn gia đình, đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và và làm luận văn vừa qua

Xin trân trọng cảm ơn !

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2016

Tác giả luận văn

Trần Văn Lịch

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG BIỂU vi

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 3

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu 4

1.2 Giá trị kinh tế của cây ngô 5

1.3 Tình hình sản xuất, nghiên cứu về mật độ, khoảng cách và phân bón cho ngô trên thế giới và ở Việt Nam 6

1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 6

1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 11

1.3.3 Tình hình sản xuất ngô tại tỉnh Yên Bái và huyện Mù Cang Chải 19

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 23

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23

2.1.2 Phạm vi và thời gian nghiên cứu 24

2.2 Nội dung nghiên cứu 24

2.3 Phương pháp nghiên cứu 24

2.3.1 Bố trí thí nghiệm đồng ruộng và theo dõi các chỉ tiêu khoa học 24

2.3.2 Một số biện pháp kỹ thuật áp dụng cho thí nghiệm: 29

Trang 6

2.3.3 Phương pháp lấy mẫu phân tích đất 30

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 31

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32

3.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón và mật độ đến thời gian sinh trưởng, phát triển của giống ngô lai NK 66 trong vụ Xuân muộn trên đất dốc tại huyện Mù Càng Chải, tỉnh Yên Bái, năm 2016 32

3.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón và mật độ đến một số chỉ tiêu hình thái của giống ngô lai NK 66 trong vụ Xuân muộn trên đất dốc tại huyện Mù Càng Chải, tỉnh Yên Bái, năm 2016 34

3.3 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón và mật độ đến khả năng chống chịu và sâu bệnh của giống ngô lai NK 66 trong vụ Xuân muộn năm 2016 trên đất dốc tại huyện Mù Càng Chải, tỉnh Yên Bái 38

3.4 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón và mật độ đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống ngô lai NK 66 trong vụ Xuân muộn năm 2016 trên đất dốc tại huyện Mù Càng Chải, tỉnh Yên Bái 43

3.5 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón và mật độ đến hiệu quả kinh tế của giống ngô lai NK 66 trong vụ Xuân muộn năm 2016 trên đất dốc tại huyện Mù Càng Chải, tỉnh Yên Bái 54

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57

1 Kết luận 57

2 Đề nghị 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

PHỤ LỤC 64

MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA THÍ NGHIỆM 64

Trang 7

LSD.05 : Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa ở mức tin cậy 95%

STPT : Sinh trưởng phát triển

TGSTPT : Thời gian sinh trưởng phát triển

TDVMNPB : Trung du và miền núi phía Bắc

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Diện tích, năng suất sản lượng ngô trên thế giới năm 2012-2014 10 Bảng 1.2 Diện tích, năng suất, sản lượng ngôở các châu lục năm 2014 11 Bảng 1.3 Nhu cầu dinh dưỡng của cây ngô trong các giai đoạn sinh trưởng 13 Bảng 1.4 Diện tích, năng suất, sản lượng ngôở Việt Nam từ 2013-2015 18 Bảng 1.5 Diện tích, năng suất, sản lượng ngô tỉnh Yên Bái năm 2013-2015 20 Bảng 1.6 Diện tích, năng suất và sản lượng ngô của huyện Mù Cang

Chải năm 2015 22 Bảng 3.1 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón và mật độ đến các giai đoạn

sinh trưởng, phát triển của giống ngô NK 66 trong vụ Xuân muộn tại huyện Mù Cang Chải, năm 2016 33 Bảng 3.2 Ảnh hưởng tổ hợp phân bón và mật độ đến chiều cao cây,

chiều cao đóng bắp và số lá của giống ngô lai NK 66 trong vụ Xuân muộn tại huyện Mù Cang Chải, năm 2016 35 Bảng 3.3 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón và mật độ đến khả năng

chống chịu sâu bệnh của giống ngô NK 66 trên đất dốc trong

vụ Xuân muộn tại Mù Cang Chải, năm 2016 39 Bảng 3.4 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón và mật độ đến tỷ lệ gãy thân,

đổ rễ của giống ngô lai NK 66 trên đất dốc trong vu Xuân muộn tại huyện Mù Cang Chải, năm 2016 42 Bảng 3.5 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón và mật độ số bắp/cây, chiều

dài bắp và đường kính bắp của giống ngô NK 66 vụ Xuân muộn 2016 44 Bảng 3.6 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón và mật độ đến số

hàng/bắp, số hạt/hàng và P1000 hạt của giống ngô NK 66

vụ Xuân muộn 2016 47

Trang 9

Bảng 3.7 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón và mật độ đến năng suất lý

thuyết và năng suất thực thu của giống ngô NK 66 trong vụ Xuân muộn trên đất dốc tại huyện Mù Cang Chải, năm 2016 51 Bảng 3.8 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón và mật độ đến hiệu quả kinh

tế của giống ngô NK 66 vụ Xuân muộn năm 2016 55

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón và mật độ đến thời gian sinh

trưởng và phát triển của giống ngô lai NK 66 trong vụ Xuân muộn tại huyện Mù Cang Chải, năm 2016 34 Hình 3.2 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón và mật độ đến chiều cao

cây và chiều cao đóng bắp của giống ngô lai NK 66 trên đất dốc tại huyện Mù Cang Chải, năm 2016 37 Hình 3.3 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón và mật độ đến số lá/cây của

giống ngô lai NK 66 trên đất dốc tại huyện Mù Cang Chải, năm 2016 38 Hình 3.4 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón và mật độ đến khả năng

chống chịu sâu bệnh hại ngô của giống NK 66 trên đất dốc tại huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái, năm 2016 41 Hình 3.5 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón và mật độ đến chỉ tiêu khối

lượng nghìn hạt của giống ngô lai NK 66 trên đất dốc trong vụ Xuân tại huyện Mù Cang Chải, năm 2016 50 Hình 3.6 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón và mật độ đến năng suất lý

thuyết và năng suất thực thuc của giống ngô lai NK 66 trên đất dốc tại huyện Mù Cang Chải, năm 2016 54 Hình 3.7 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón và mật độ đến hiệu quả kinh

tế của giống ngo lai NK 66 trong vụ Xuân trên đất dốc tại huyện Mù Cang Chải, năm 2016 56

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Huyện Mù Cang Chải là huyện vùng cao của tỉnh Yên Bái, nằm ở khu vực phía Tây của tỉnh, cách trung tâm tỉnh lị 180 km theo quốc lộ 32 Phía Bắc giáp huyện Văn Bàn - tỉnh Lao Cai; phía Nam giáp huyện Mường La - tỉnh Sơn La; phía Đông giáp huyện Văn Chấn; phía Tây giáp huyện Than Uyên - tỉnh Lai Châu Là khu vực núi cao bắt nguồn từ dãy Hoàng Liên Sơn, bao gồm nhiều dãy núi liên tiếp nhau chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Giữa các dãy núi là các khe suối thuộc lưu vực sông Hồng và sông Đà Có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang đặc tính ôn đới, chia thành 2 mùa: Mùa khô hanh

và mùa mưa Nhiệt độ bình quân trong năm: 18,5oc, tổng diện tích đất tự nhiên trong toàn huyện là 119.788 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 13.989 ha, đất lâm nghiệp là 78.411 ha Dân số năm 2015 là 56.370 người, chủ yếu là dân tộc Mông sinh sống (Cục thống kê tỉnh Yên Bái, 2016 [7]) Huyện có 14 xã và thị trấn đều thuộc khu vực 3, đây là huyện thuần nông, chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp, trong đó cây trồng chủ lực đảm bảo an ninh lương thực là lúa và ngô

Trong những năm vừa qua, sản xuất nông lâm nghiệp nói chung và sản xuất ngô nói riêng của huyện đã đạt được những thành tựu đáng kể, đã hình thành những vùng vùng sản xuất ngô lớn trên đất dốc, được chuyển đổi từ đất trồng lúa nương Đây là một chủ trương lớn của tỉnh và của huyện nhằm hạn chế diện tích lúa nương, tăng diện tích ngô nhằm hạn chế xói mòn trên đất dốc, tăng thu nhập cho người dân Tổng diện tích ngô toàn huyện năm 2015 đạt 4.296 ha, năng suất trung bình đạt 33,08 tạ/ha, tổng sản lượng đạt 14.213 tấn (Chi Cục thống kê huyện Mù Cang Chải, 2016 [6]) Diện tích ngô trên địa bàn toàn huyện tập trung chủ yếu tại một số xã như Lao Chải: 964,0 ha, Nậm Có: 545 ha, Cao Phạ: 392 ha…(Chi Cục Thống kê huyện Mù Cang Chải,

2016 [6])

Trang 12

Mặc dù huyện đã có nhiều chính sách đầu tư hỗ trợ về giống, phân bón

và chỉ đạo phát triển sản xuất ngô, song năng suất ngô trên địa bàn huyện hiện tại còn thấp chỉ đạt trung bình 33,08 tạ/ha (Chi Cục Thống kê huyện Mù Cang Chải, 2016 [6]), bằng 75,4% năng suất bình quân của cả nước và mới chỉ đạt

40 - 50% tiềm năng năng suất của giống ngô lai Một trong những nguyên nhân chính khiến năng suất, sản lượng ngô của toàn huyện thấp phải kể đến là nhiều diện tích trồng ngô người dân chưa quan tâm đầu tư đồng bộ, kĩ thuật canh tác ngô trên đất dốc còn nhiều hạn chế như mật độ thưa, trồng 3 - 4 cây/hốc; phân bón không cân đối, các biện pháp kĩ thuật áp dụng chủ yếu còn mang nặng tính truyền thống

Để đưa năng suất ngô của huyện Mù Cang Chải bắt kịp các huyện trên địa bàn tỉnh Yên Bái trong những năm tới cần mở rộng diện tích ngô lai một cách hợp lý, đồng thời xây dựng kế hoạch chỉ đạo tăng cường đầu tư thâm canh đưa các giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt, song song với giống tốt phải chú trọng xác định được những biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp

để mang lại hiệu quả tối ưu nhất

Hiện nay, trên địa bàn huyện Mù Cang Chải nhiều giống ngô lai đã được người dân sử dụng theo định hướng của sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Yên Bái, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Mù Cang Chải và sự thích nghi của các giống ngô lai như các giống NK 4.300,

NK 66, C919…Trong các giống ngô lai đang được trồng thì giống ngô lai NK

66 có diện tích trồng lớn nhất ở cả 2 vụ trong năm và có năng suất cao, ổn định Chính vì vậy, việc nghiên cứu một số biện pháp kĩ thuật phù hợp cho giống ngô lai NK 66 trên đất dốc tại huyện Mù Cang Chải là việc hết sức quan trọng và cần thiết, làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng mô hình trình diễn để hướng dẫn người dân sẽ có ý nghĩa thực tiễn rất lớn trong điều kiện hiện nay tại huyện vùng cao Mù Cang Chải

Trang 13

Từ những cơ sở trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Nghiên

cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón và mật độ đến sinh trưởng, phát triển giống ngô lai NK 66 trong vụ Xuân muộn trên đất dốc tại huyện

Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái"

2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

2.1 Mục tiêu

Xác định được tổ hợp phân bón và mật độ thích hợp cho giống ngô lai

NK 66 trong vụ Xuân muộn năm 2016 trên đất dốc tại huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái

Xác định được tổ hợp phân bón và mật độ thích hợp cho giống ngô

lai NK 66 trên đất dốc, góp phần nâng cao năng suất và sản lượng ngôtại huyện Mù Cang Chải nói riêng và tỉnh Yên Bái nói chung

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu

Cây ngô có tên khoa học là Zea mays L là một trong những loại cây

lương thực quan trọng trên thế giới và ở Việt Nam Ngô còn là nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, như chế biến rượu, nhiên liệu sinh học…Với ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế, cùng với tính thích ứng rộng

và tiềm năng năng suất cao, cây ngô được hầu hết các quốc gia trên thế giới gieo trồng và diện tích ngày càng mở rộng trong đó có Việt Nam

Trong sản xuất nông nghiệp, giống có vai trò quan trọng góp phần nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng Khả năng thích ứng và sản lượng thu được của giống liên quan chặt chẽ, phụ thuộc vào điều kiện sinh thái của các vùng miền cũng như trình độ và tập quán canh tác của các vùng miền đó

Vì vậy, muốn phát huy hiệu quả tối đa của giống, nhất là những giống mới có tiền năng năng suất cao thì một trong những yêu cầu quan trọng đầu tiên là phải tiến hành nghiên cứu, đánh giá khả năng thích ứng cũng như thử nghiệm các biện pháp kỹ thuật (mật độ, phân bón ) đối với giống mới đó trên những nền đất khác nhau ở mỗi địa phương

Trên cơ sở các nghiên cứu thử nghiệm của giống mới hoặc những giống đã được trồng nhưng còn thiếu về biện pháp kĩ thuật mà các nhà sản xuất giống chưa kịp nghiên cứu trên những loại đất đặc thù như đất dốc vùng cao ta để từ đó đưa ra được những kết quả nghiên cứu về mật độ, lượng phân bón tối ưu mà giống đó cho hiệu quả cao nhất

Ngày nay, sản xuất ngô muốn phát triển theo hướng hàng hóa với sản lượng cao, quy mô lớn nhằm phục vụ nhu cầu thị trường, cần phái có các biện pháp hữu hiệu như thay thế các giống cũ, năng suất thấp bằng các giống mới

Trang 15

năng suất cao, chống chịu tốt, quy hoạch, tạo vùng sản xuất, khuyến cáo người dân áp dụng theo đúng quy trình kỹ thuật Đặc biệt là ở các tỉnh Trung

du và miền núi phía Bắc, ngoài sử dụng giống có khả năng chống chịu tốt đặc biệt chịu hạn, cho năng suất cao cần phải tuyên truyền vận động khuyến cáo người dân đưa nhanh tiến bộ kỹ thuật vào trong canh tác ngô sẽ góp phần phát huy hiệu quả kinh tế của giống, đồng thời góp phần xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số (Đinh Khắc Tiến, 2013 [27])

Đề tài nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác cho giống ngô lai

NK 66 trên đất dốc tại huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái nhằm kịp thời bổ sung, đưa ra được biện pháp kỹ thuật thích hợp góp phần nâng cao năng suất

và hiệu quả kinh tế đối với giống ngô lai mới NK 66 tại địa phương

1.2 Giá trị kinh tế của cây ngô

Cây ngô là một trong những cây trồng có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao Hiện nay, ngô là cây lương thực quan trọng ở đồng bằng Bắc bộ, các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc cũng là nguồn thức ăn chính cho chăn nuôi vì ngô có thành phần dinh dưỡng cao hơn gạo (Trần Hồng Uy, 1999 [29])

Trong hạt ngô chứa 7- 12% protein; 1,8 - 4,45% lysin và 0,4 - 1,0% tryptophan tùy theo loại hạt (Krishnaveni, 1993 [43]) Thân ngô ủ chứa 193 - 238g/kg cellulose, 8- 29g/kg lignin, protein và các loại amin acid như lysin, arginin, leucin, prolin, glutamic acid Đường trong hemicellulose nhiều nhất

là xylose (0,77g/g), ngoài ra còn có arabinose (0,17g/g), galactose (0,66g/g)

và mannose (0,01g/g) Bắp ngô còn chứ một số loại khoáng chất và kim loại như: Na, K, Mg, Ca, Fe, P, S cà Cl (G Ajon, 1939) Có thể khẳng định Ngô là nguyên liệu lý tưởng để chế biến thức ăn cho gia súc, 70% chất tinh trong thức ăn tổng hợp là từ ngô Ở các nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Bồ Đào Nhà, Trung Quốc ….phần lớn sản lượng ngô được dung cho chăn nuôi (Ngô Hữu Tình, 2003 [26])

Trang 16

Ngoài việc làm lương thực cho con người, thức ăn trong chăn nuôi sản phẩm từ ngô còn có nhiều tác dụng trong đông y Mỗi bộ phận trên cây ngô đều có tác dụng chữa các bệnh khác nhau Râu ngô và ruột cây ngô có vị ngọt, tính bình, có tác dụng lợi tiểu, tiêu thũng, thông mật, cầm máu Cây ngô còn được sử dụng chữa bệnh huyết áp cao bằng cách uống nước luộc bắp hàng ngày, mỗi ngày 2 - 3 lần, uống liền hai, ba tháng Chữa đái đường bằng cách uống mỗi ngày 20 - 30g bột mầm bắp ngô khô trong nước sắc đọt khoai lang đỏ, hay hàng ngày ăn chè bắp sữa nấu với củ mài, đồng thời ăn rau lang

đỏ nấu canh, chữa phù thũng, viêm thận cấp, đái đỏ hay viêm gan tắc mật, đái vàng và da vàng theo tỷ lệ 40g râu bắp hay 150g ruột cây bắp sắc uống (Viện dược liệu, 1990 [30])

1.3 Tình hình sản xuất, nghiên cứu về mật độ, khoảng cách và phân bón cho ngô trên thế giới và ở Việt Nam

1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.3.1.1 Tình hình nghiên cứu về mật độ và khoảng cách trồng ngô trên thế giới

Một trong những yếu tố để tăng năng suất ngô là yếu tố mật độ, giống tốt, phân bón đầy đủ nhưng mật độ không đảm bảo sẽ ảnh hưởng đến năng suất Chính vì vậy, việc tạo giống chịu mật độ cao là một trong những mục tiêu quan trọng của các nhà tạo giống ngô Bằng nhiều phương pháp người ta

đã không ngừng cải thiện được mật độ trồng ngô trên thế giới

Năng suất ngô của Mỹ trong hơn 40 năm qua tăng thêm 58% là nhờ đóng góp của giống ngô lai đơn, 21% là nhờ tăng mật độ và 5% nhờ thu hẹp khoảng cách hàng (Minh Tang Chang and Peter L K., 2005 [39])

Mật độ trồng và khoảng cách giữa các hàng ngô là những vấn đề được nghiên cứu nhiều và sâu nhất trong các biện pháp canh tác cây ngô Rất

Trang 17

nhiều thí nghiệm liên quan đến mật độ và khoảng cách ở vành đai ngô nước

Mỹ và nhiều khu vực trên thế giới đã được nghiên cứu thử nghiệm Trước năm 1988, mật độ và khoảng cách trồng ngô đã được đánh giá khá hệ thống

trong cuốn sách do các nhà khoa học nổi tiếng thế giới biên tập “Corn and

Corn Improvement” (Sprague và Dudley, 1988 [42]) Người ta đã nghiên

cứu với khoảng cách giữa các hàng từ hơn 30 cm đến hơn 200 cm và mật độ

từ 0,5 đến 24 vạn cây/ha Giai đoạn trước 1940, khoảng cách giữa các hàng chủ yếu phụ thuộc vào kích thước của ngô (vốn được dùng chủ yếu trong canh tác ngô ở Mỹ thời đó), và khoảng cách thuận lợi cho việc canh tác là

100 - 112 cm

Tác giả Barbieri và cs (2000) [34] ở Argentina đã công bố kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách hàng gieo 35 cm và 70 cm với cùng mật độ 7,6 vạn cây/ha ở 2 giống ngô lai DK636 và DK639 trong 2 năm 1996

và 1997 cho thấy: Trong điều kiện gieo hàng hẹp (35 cm) năng suất cao hơn hẳn so với khoảng cách truyền thống

Tác giả William và cs (2002) [47] đã làm thí nghiệm với 4 giống ngô khác nhau về thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, kiểu bắp và góc lá tại 6 địa điểm ở vành đai ngô nước Mỹ, vào năm 1998 - 1999, với 5 mật độ từ 56.000 - 90.000 cây/ha và khoảng cách hàng là 38 cm, 56 cm và 76 cm đã rút ra các kết luận: với mật độ cao thì năng suất ngô tăng lên, tuy nhiên năng suất ngô đạt cao nhất ở mật độ trong khoảng từ 6 - 7 vạn cây/ha

Theo tác giả Neradic và Slovic (1999) [40], đã thí nghiệm trên giống ngô lai ZPSP 704 với mật độ 40.016 - 90.416 cây/ha và được bón 100 - 125 N/ha Kết quả cho thấy năng suất ngô tăng khi mật độ tăng và đã đạt năng suất cao nhất 12,2 tấn/ha ở mật độ 80.256 cây/ha

Mật độ gieo trồng có quan hệ mật thiết với năng suất ngô Tại vùng Simnic, Rumani tác giả Borleanu Ioana Claudia (2010) [35] đã nghiên cứu về

Trang 18

mật độ trong 2 năm 2009 - 2010 với các giống ngô lai Fundulea 475, Kamelias, Danubian, KWS 2376, Rapsodia và Kitty Trong cả hai năm ngô được gieo vào ngày 15/4 với 3 mật độ thí nghiệm: 40.000 cây/ha, 50.000 cây/ha và 60.000 cây/ha Kết quả cho thấy mật độ gieo trồng 60.000 cây/ha cho năng suất cao nhất 8.190 kg/ha, tiếp theo là mật độ 50.000 cây/ha năng suất đạt 7.570 kg/ha và cuối cùng là mật độ 40.000 cây/ha năng suất đạt 7.430 kg/ha

Từ những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới cho thấy, khi tăng mật độ thì năng suất ngô tăng, tuy nhiên đi cùng với mật độ tăng cần có chế độ phân bón và các biện pháp kĩ thuật phù hợp trên từng loại đất khác nhau là rất quan trọng Có nghĩa không phải cứ tăng mật độ thì năng suất ngô sẽ tăng mà cần có biện pháp kĩ thuật phù hợp thì năng suất mới tăng

và không phải là vô hạn

1.3.1.2 Tình hình nghiên cứu phân bón cho ngô trên thế giới

Để đạt năng suất cao và ổn định, ngô cần được bón phân cân đối, đặc biệt là giữa các yếu tố NPK Điều này được chứng minh rất rõ qua các thí nghiệm về phân bón cho ngô trong suốt 28 vụ của Viện Kali quốc tế cho thấy chỉ có bón cân bằng NPK năng suất ngô mới cao và ổn định

Theo tác giả Shan Ney Huang (1994) [41], mức bón phân được khuyến cáo cho ngô ở Đài Loan là 175 kg N + 95 kg P2O5 + 70 kg K2O/ha

Đạm là yếu tố cần thiết cho sự sinh trưởng của cây và là thành phần của tất cả các Protein Đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất để tăng năng suất ngô Khi thiếu N chồi lá mầm sẽ không phát triển đầy đủ, sự phân chia tế bào ở đỉnh sinh trưởng bị kìm hãm và kết quả là giảm diện tích lá, kích thước của cây và năng suất giảm Phân đạm có thể tạo ra sự tăng diện tích lá hiệu quả ngay từ đầu vụ và duy trì một diện tích lá xanh lớn vào cuối vụ để quá trình đồng hóa quang hợp đạt cực đại (Wolfe và cs, 1988 [48])

Trang 19

Theo tác giả Debreczeni (2000) [36] các giống ngô lai khác nhau yêu cầu

về đạm ở các giai đoạn sinh trưởng phát triển là khác nhau và nhận thấy rằng 13

- 36 kg N/ha đã bị rửa trôi bên dưới vùng rễ ngô trong thời kỳ sinh trưởng

Khi cây ngô thiếu đạm làm chậm sinh trưởng của hai giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực, giảm tốc độ ra lá, hạn chế đến sự phát triển diện tích lá Thiếu đạm hạn chế đến hiệu quả sử dụng bức xạ, nhất

là thời kỳ ra hoa, ảnh hưởng đến năng suất bắp tổng số (Uhart và Andrade,

1995 [46])

Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng vai trò của phân đạm và S đến sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng của giống ngô lai Cargill 707, tác giả Hussain

và cs (1999) [37], cho rằng sự cung cấp phân bón ở các mức 150 kg N + 30

kg S và 150 kgN + 20 kg S làm tăng một cách tương ứng khối lượng chất khô/cây, số hạt/ bắp và khối lượng hạt/ bắp so với các xử lý khác Năng suất ngô đạt cao nhất (5,59 tấn/ ha) ở công thức bón 150N + 30S (kg/ha)

Ngoài nguyên tố đạm, kali có vai trò cũng rất quan trọng đến cây ngô, kali tham gia vào quá trình tạo ra hợp chất cao năng ATP liên quan đến sự tổng hợp tinh bột cũng như protein (Tisdale và cs 1985 [45]) Sự thiếu hụt kali là kết quả của việc cây trồng lấy đi một lượng lớn kali, tỷ lệ cung cấp kali thấp, tình trạng thiếu kali trong một số loại đất cũng như sự rửa trôi kali ở những vùng mưa nhiều

Theo tác giả Thomas Dieroff và cs (2001) [44], lượng dinh dưỡng mà ngô hút như sau:

- Ngô lai năng suất 4,5 tấn/ha tổng lượng hút 115 kg N; 20 kg P2O5; 75

kg K2O; 9 kg Ca; 16 kg Mg; 12 kg S/ha

- Ngô địa phương năng suất 2,5 tấn/ha tổng lượng hút 65 kg N; 11 kg P2O5; 42 kg K2O; 5 kg Ca; 16 kg Mg; 12 kg S/ha

Trang 20

Ở tỉnh Jinlin - Trung Quốc, bón 150 - 169 kg K2O tăng năng suất ngô

từ 1,2 - 1,6 tấn/ha (tăng từ 12 - 21%) Ở tỉnh Liaoning, trên nền NP bón 112,5

kg K2O/ha tăng năng suất ngô từ 17,3 - 23,2%, bón 225 K2O/ha tăng năng suất ngô từ 20,1 - 26,2 % (Lei và cs, 2000 [38])

Lân là một trong 3 nguyên tố dinh dưỡng chính của cây trồng nói chung và cây ngô nói riêng, lân tham gia vào quá trình tổng hợp các vật chất hữu cơ và được vận chuyển về bộ phận dự trữ là hạt Vì vậy, lân có vai trò quan trọng đến năng suất ngô, theo các nhà khoa học trên thế giới thì nguyên

tố lân cần cho ngô dao động từ 70kg P2O5 đến 120 kg P2O5 tùy từng loại đất

và giống ngô khác nhau

1.3.1.3 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới

Năm 2012 đến năm 2014 diện tích, năng suất, sản lượng ngô trên thế giới có sự thay đổi đáng kể, được biểu hiện cụ thể tại bảng 1.1

Bảng 1.1 Diện tích, năng suất sản lượng ngô trên thế giới năm 2012-2014

(triệu ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (Triệu tấn)

2015, tổng diện tích ngô thế giới đạt 183,32 triệu ha, tăng 4,77 triệu tấn, năng suất đạt trung bình 55,73 tạ/ha, tăng 6,85 tạ/ha, sản lượng đạt 1.021,61 triệu tấn, tăng 148,82 triệu tấn so với năm 2012 Qua đó thấy rằng diện tích, năng

Trang 21

suất và sản lượng ngô trên thế giới không ngừng tăng lên cả số lượng và tổng sản lượng

Tuy nhiên, diện tích, năng suất và sản lượng ngô trên thế giới giữa các châu lục không có sự đồng đều, được biểu hiện ở bảng 1.2

Bảng 1.2 Diện tích, năng suất, sản lượng ngôở các châu lục năm 2014

Khu vực Diện tích

(triệu ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (Triệu tấn)

Sản lượng ngô cao nhất là châu Mỹ với 526,45 triệu tấn, cao hơn châu Phi là 448,81 triệu ha Châu Âu sản lượng đạt 112,74 triệu tấn, châu Á sản lượng đứng thứ 2 thế giới với 304,14 triệu ha, nhờ vào diện tích lớn, mặc dù năng suấtchỉ đứng thứ 2 so với các châu lục khác

1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

1.3.2.1 Tình hình nghiên cứu về mật độ và khoảng cách trồng ngô ở Việt Nam

Những năm 1984-1986, Trung tâm Nghiên cứu ngô Sông Bôi đã trồng giống ngô MSB49 ở các mật độ 9,52 vạn cây/ha (70 x 15 cm), 7,14 vạn cây/ha (70 x 20 cm) và 5,7 vạn cây/ha (70 x 25 cm), với 3 mức phân bón khác nhau Kết quả cho thấy ở mật độ 9,52 vạn cây/ha với mức phân bón 120 N: 80

Trang 22

P205: 40 K20 kg/ha cho năng suất cao nhất (55,30 tạ/ha) và ở mật độ 5,7 vạn

cây/ha cho năng suất thấp nhất Tuy nhiên, sự sai khác về năng suất giữa các công thức không đáng kể (Ngô Hữu Tình, 1987 [25])

Đến năm 2005, Bộ Nông nghiệp đã ban hành Hướng dẫn quy trình kỹ

thuật thâm canh ngô lai đạt năng suất trên 7 tấn/ha ở các tỉnh miền Bắc (Cục

Trồng trọt, 2006 [8]) Trong đó khuyến cáo, với các giống dài ngày nên trồng với mật độ từ 5,5 - 5,7 vạn cây/ha, các giống ngắn và trung ngày trồng 6,0 - 7,0 vạn cây/ha với khoảng cách giữa các hàng là 60 - 70 cm Tuy vậy, nhiều nơi bà con nông dân chưa trồng đạt mật độ khuyến cáo, có nơi chỉ đạt khoảng

3 vạn cây/ha (một sào Bắc Bộ chỉ đạt 1.200 - 1.300 cây) Đây là nguyên nhân chính dẫn đến năng suất ngô trong sản xuất của nước ta chỉ mới đạt 30 - 40%

so với tiềm năng trong thí nghiệm (Phan Xuân Hào, 2007 [13])

Kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Ngô - Việt Nam từ 2006 -

2008 đã xác định được mật độ cho năng suất cao nhất đối với phần lớn các giống thí nghiệm là 8 vạn cây/ha và giống LVN10 là 7 vạn cây/ha, với khoảng cách hàng là 50 cm (hoặc 40 cm) Ở mật độ và khoảng cách này, năng suất các giống cao hơn so với mật độ và khoảng cách đã được khuyến cáo lâu nay (5,7 vạn cây/ha, khoảng cách hàng 70 cm) trung bình trên 30%

Đề tài đã xác định được ưu thế của việc thu hẹp khoảng cách hàng, ở mật độ tương đối cao thì ưu thế về tăng năng suất càng rõ; ở mật độ 5 vạn cây/ha, năng suất ở khoảng cách hàng 50 cm vượt khoảng cách hàng 70 cm và 90

cm tương ứng là 6,0 và 11,9%, còn ở 8 vạn cây/ha là 17,8 và 25,4% (Viện Nghiên cứu Ngô, 2009 [31])

Tác giả Lê Văn Hải (2011) [12] khi nghiên cứu ảnh hưởng của mật

độ và khoảng cách hàng gieo đến năng suất của giống ngô lai LVN66 tại vùng Đông Nam Bộ cho thấy ở mật độ 7,1 vạn cây/ha với khoảng cách 50

cm x 28 cm, vượt năng suất so với mật độ 5,7 vạn cây/ha với khoảng cách

Trang 23

70 cm x 25 cm từ 46,1 - 57,6% Với cùng khoảng cách hàng (50 cm hoặc

70 cm) năng suất giống LVN66 đạt cao nhất ở mật độ 7,1 vạn cây/ha Khi thu hẹp khoảng cách hàng từ 70 cm xuống 50 cm, năng suất giống LVN66 tăng từ 9,3 - 18,6%

Tác giả Dương Thị Nguyên và cs (2011) [21] khi nghiên cứu vụ xuân

và thu năm 2010 trên tổ hợp lai IL3 x IL6 tại Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Sơn Dương - Tuyên Quang, Chợ Mới - Bắc Kạn cho thấy mật độ 7,1 vạn cây/ha với khoảng cách hàng 50 cm và cây cách cây 28 cm thích hợp cho tổ hợp lai IL3 x IL6 năng suất thực thu đạt cao nhất (dao động từ 82,34 - 86,23 tạ/ha), vượt đối chứng từ 16,8 - 18,9%

1.3.2.2 Tình hình nghiên cứu phân bón cho ngô ở Việt Nam

Tác giả Tạ Văn Sơn (1995) [23] khi nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng cây ngô ở vùng Đồng bằng sông Hồng, thu được kết quả như sau:

- Để tạo ra 1 tấn hạt, ngô lấy đi từ đất trung bình một lượng đạm, lân, kali là: N = 22,3 kg; P2O5 = 8,2 kg; K2O = 12,2 kg

- Lượng NPK tiêu tốn để sản xuất ra 1 tấn ngô hạt là: N = 33,9 kg; P2O5 = 14,5 kg; K2O = 17,2 kg

- Tỉ lệ nhu cầu dinh dưỡng NPK là: 1: 0,35: 0,45

- Tỉ lệ N: P: K thay đổi trong quá trình sinh trưởng phát triển như sau:

Bảng 1.3 Nhu cầu dinh dưỡng của cây ngô trong các giai đoạn sinh trưởng

Trang 24

Theo tác giả Đường Hồng Dật (2003) [9] trung bình với năng suất 60 tạ/ha ngô hạt, cây ngô lấy từ đất 155 kg N, 60 kg P2O5, 115 kg K2O (tương đương 337 kg urê, 360 kg supe lân, 192 kg clorua kali) Cũng theo tác giả Ngô Hữu Tình (1995) [24], trên đất phù sa sông Hồng tỷ lệ nhu cầu dinh dưỡng của N, P, K cho cây ngô đạt năng suất cao là 1: 0,35 : 0,45 và liều lượng bón phân cho năng suất cao là: 180N - 60P2O5 - 120K2O; ở Duyên hải miền Trung: 120N - 90P2O5 - 60K2O; miền Đông Nam bộ: 90N - 90P2O5 - 30K2O; Đồng bằng sông Cửu Long: 150N - 50P2O5 - 0K2O

Theo Phạm Kim Môn (1991) [18], với ngô Đông trên đất phù sa sông Hồng liều lượng phân bón thích hợp là: 150 - 180 kg N; 90 kg P2O5; 50 - 60

kg K2O/ha Tác giả Trần Hữu Miện (1987) [19] cho rằng trên đất phù sa sông Hồng lượng phân bón phù hợp là: 120N - 90P2O5 - 60K2O cho năng suất 40 -

50 tạ/ha; 150N - 90P2O5 - 100K2O cho năng suất 50 - 55 tạ/ha; 180N - 90P2O5

- 100K2O cho năng suất 65 - 75 tạ/ha

Tác giả Nguyễn Văn Bộ (2007) [5], khuyến cáo lượng phân bón cho ngô phải tuỳ thuộc vào đất, giống ngô và thời vụ Giống có thời gian sinh trưởng dài hơn, có năng suất cao hơn cần phải bón lượng phân cao hơn Đất chua phải bón nhiều lân hơn, đất nhẹ và vụ gieo trồng có nhiệt độ thấp cần bón nhiều kali hơn Liều lượng khuyến cáo chung cho ngô là:

+ Đối với giống chín sớm:

- Trên đất phù sa: 8 - 10 tấn phân chuồng; 120 - 150 kg N; 70 - 90 kg P2O5 ; 60 - 90 kg K2O/ha

- Trên đất bạc màu: 8 - 10 tấn phân chuồng; 120 - 150 kg N; 70 - 90 kg P2O5; 100 - 120 kg K2O/ha

+ Đối với giống chín trung bình và chín muộn:

- Trên đất phù sa: 8 - 10 tấn phân chuồng; 150 - 180 kg N; 70 - 90 kg P2O5 ; 80 - 100 kg K2O/ha

Trang 25

- Trên đất bạc màu: 8 - 10 tấn phân chuồng; 150 - 180 kg N; 70 - 90 kg P2O5 ; 120 - 150 kg K2O/ha

Theo Nguyễn Văn Bào (1996) [1], liều lượng phân bón thích hợp cho ngô ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Hà Giang là 120 kg N - 60 kg P2O5 - 50

kg K2O/ha cho các giống thụ phấn tự do và 150 kg N - 60 kg P2O5 - 50 kg K2O/ha cho các giống lai

Tác giả Đỗ Trung Bình (2000) - Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam, liều lượng phân bón cho 1 ha ngô ở vùng Đông Nam bộ và Tây Nguyên là: 120 kg N - 90 kg P2O5 - 60 kg K2O cho vụ Hè Thu, còn vụ Thu Đông (vụ 2) có thể tăng lượng K2O lên 90 kg

Tác giả Bùi Đình Dinh (1988, 1994) cho rằng để đảm bảo cho cây trồng có năng suất cao, ổn định, bón phân hữu cơ chiếm 25% tổng số dinh dưỡng, còn 75% phân hoá học Hiệu quả của phân bón chỉ có thể phát huy đầy đủ khi có chế độ phân bón hợp lý, bón cân đối giữa các nguyên tố Bón phân cho ngô để đạt hiệu quả kinh tế cao phải căn cứ vào đặc tính của loại giống ngô, yêu cầu sinh lý của cây ngô qua các thời kỳ sinh trưởng, tình trạng của cây trên đồng ruộng, tính chất đất, đặc điểm loại phân bón, kỹ thuật trồng

trọt và điều kiện khí hậu thời tiết

Bón cân đối đạm - lân - kali cho ngô có hiệu lực cao hơn nhiều so với lúa Bội thu do bón cân đối (trung bình của nhiều liều lượng đạm) có thể đạt 33 tạ/ha trên đất phù sa sông Hồng; 37,7 tạ/ha trên đất bạc màu; 11,7 tạ/ha trên đất xám và 3,9 tạ/ha trên đất đỏ vàng Xét về hiệu quả kinh tế thì bón phân cân đối cho ngô trên đất bạc màu, đất xám có lãi hơn nhiều so với đất phù sa và đất đỏ vàng (Nguyễn Văn Bộ, 2007 [5], Trần Trung Kiên, 2010 [17])

Theo tác giả Bùi Huy Hiền (2002) [14], từ năm 1985 đến nay tình hình sử dụng phân đạm ở nước ta tăng trung bình là 7,2%/năm, phân lân là 13,9%/năm, phân kali là 23,9%/năm Tổng lượng N + P2O5 + K2O trong 15

Trang 26

năm qua tăng trung bình 9,0%/năm Tỷ lệ N : P2O5 : K2O trong 10 năm qua

đã cân đối hơn với tỷ lệ tương ứng qua các năm 1990, 1995 và 2000 là 1 : 0,12 : 0,05; 1 : 0,46 : 0,12 và 1 : 0,44 : 0,37 Lượng phân bón/ha cũng đã tăng lên qua các năm 1990, 1995, 2000 với tổng lượng N : P2O5 : K2O tương ứng là 58,7; 117,7 và 170,8 kg/ha, tỷ lệ này còn thấp so với các nước phát triển như Mỹ, Hàn Quốc, Pháp, Nhật với tổng lượng N : P2O5 : K2O khoảng 240 - 400 kg/ha

Ảnh hưởng của đạm đến năng suất ngô trong nghiên cứu của mình tác giả Vũ Hữu Yêm (1995) [32] cho rằng: Không bón năng suất đạt 40 tạ/ha; bón 40 kg N năng suất đạt 56,5 tạ/ha; bón 80 kg N năng suất đạt 70,8 tạ/ha; bón 120 kg N năng suất đạt 76,2 tạ/ha; bón 160 kg N năng suất đạt 79,9 tạ/ha

Khi nghiên cứu về phân bón cho ngô trên đất bạc mầu, tác giả Nguyễn Thế Hùng (1996) [15], đã chỉ ra rằng phân N có tác dụng rất rõ đối với ngô trên đất bạc mầu, song lượng bón tối đa là 225 kg/ha, ngưỡng bón đạm kinh tế

là 150 kg N/ha trên nền cân đối P - K

Tác giả Trần Hữu Miện (1987) [19] để tạo ra 1 tấn ngô hạt trong vụ ngô Đông miền Bắc cần 25 - 28 kg N, vụ Xuân 28 - 32 kg N, vụ Hè Thu 32 - 35

kg N, Thu Đông 30 - 32 kg N Kết quả nghiên cứu của Lê Quý Kha (2001) [16] đã chỉ ra rằng mặc dầu trong điều kiện ít có khả năng đầu tư đạm và thiếu nước, ví dụ như nhờ nước trời, tốt hơn hết vẫn phải chia nhỏ lượng đạm làm nhiều lần để bón thì hiệu quả sử dụng đạm của cây ngô mới cao

Lân hữu cơ rất đa dạng, đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất, hút chất dinh dưỡng và vận chuyển các chất đó trong cây Tác dụng chủ yếu của lân thể hiện trên một số mặt sau đây: Phân chia tế bào, tạo thành chất béo và protein; thúc đẩy việc ra hoa, hình thành quả và quyết định phẩm chất hạt giống; hạn chế tác hại của việc bón thừa đạm; thúc đẩy việc ra rễ đặc biệt

là rễ bên và lông hút; làm cho thân cây ngũ vững chắc, đỡ đổ; cải thiện chất lượng sản phẩm (Nguyễn Ngọc Nông, 1999 [20])

Trang 27

Tác giả Trần Văn Minh (1995), bón lân có khả năng rút ngắn thời gian sinh trưởng của ngô, làm tăng năng suất một cách rõ rệt Lân Supe có hiệu lực trên hầu hết các loại đất, lân nung chảy có hiệu quả cao hơn trên đất đồi núi Liều lượng bón lân thích hợp cho ngô trên đất phù sa cổ và đất bãi ven sông miền Trung là 90 kg P2O5/ha

Theo kết quả của Nguyễn Văn Bộ và Nguyễn Trọng Thi (1999) [4], trên đất bạc màu, trồng ngô bón kali đạt hiệu lực rất cao Hiệu quả sử dụng kali đạt trung bình 15 - 20 kg ngô hạt/kg K2O Liều lượng bón kali cho ngô trên đất phù sa sông Hồng từ 60 - 90; trên đất bạc màu 90 - 120 kg K2O/ha Bón kali liều lượng 30 - 210 kg K2O/ha không làm gia tăng năng suất ngô vùng Tây sông Hậu Hiệu lực của phân kali trên đất phù sa sông Hồng đạt 5,2

kg ngô hạt/kg K2O Trung bình với năng suất 6 tấn/ha cây ngô hút 155 kg N;

60 kg P2O5; 115 kg K2O; 15,7 kg Cu; 35,5 kg MgO và 16 kg S

Trên đất phù sa Sông Hồng hiệu suất kali vụ đông cao hơn vụ xuân, không nên bón cho ngô quá 90 kg K2O/ha vì từ 120 kg K2O/ha hiệu suất kali bón giảm nhanh Trên đất bạc màu ngô rất cần bón kali, bón đến 150 kg/ha hiệu suất vẫn còn cao Trên đất vàn hai vụ lúa, một vụ ngô đông nếu bón quá nhiều kali năng suất ngô sẽ giảm, chỉ cần bón ở mức 60 kg K2O /ha sẽ cho hiệu suất phân kali rất cao Trên đất mặn và đất phèn nhẹ cây ngô phản ứng yếu với kali, không nên bón quá 60 kg K2O /ha, nhiều trường hợp ngô phản ứng không rõ với kali (Vũ Hữu Yêm và cs, 1999) [33]

Căn cứ để xác định số lượng và tỷ lệ bón các loại phân NPK, phân chuồng, độ phì nhiêu của đất, nhu cầu dinh dưỡng của giống và trạng thái cây trên đồng ruộng, thời tiết, khí hậu, mùa vụ, chế độ luân canh và mật độ trồng

Theo hướng dẫn của Cục Trồng trọt (2006) [8], để đạt năng suất ngô trên 7 tấn/ha ở các tỉnh miền Bắc, thì lượng phân bón như sau:

- Đối với loại đất tốt: 10 - 15 tấn phân chuồng; 150 - 180 kg N; 100 -

120 kg P2O5; 80 - 100 kg K2O/ha

Trang 28

- Đối với đất trung bình: 10 - 15 tấn phân chuồng; 180 - 200 kg N; 120

- 140 kg P2O5; 100 - 120 kg K2O/ha

1.3.2.3 Tình hình sản xuất ngô tại Việt Nam

Việt Nam là nước có nền nông nghiệp từ lâu đời, cây ngô luôn gắn với đời sống của người dân từ xa sưa, hầu như địa phương nào trên cả nước cũng

có cây ngô Hiện nay, cây ngô là cây trồng chủ lực của nhiều địa phương như Yên Bái, Sơn La, lào Cai….Diện tích, năng suất và sản lượng ngô của Việt Nam có những biến động nhất định, cụ thể được biểu hiện ở bảng 1.4

Bảng 1.4 Diện tích, năng suất, sản lượng ngôở Việt Nam từ 2013-2015

Khu vực

DT (Nghìn ha)

NS (Tạ/ha)

SL (Nghìn tấn)

DT (Nghìn ha)

NS (Tạ/

ha)

SL (Nghìn tấn)

DT (Nghìn ha)

NS (Tạ/ha)

SL (Nghìn tấn)

Cả nước 1.170,4 44,4 5191,2 1.179,0 44,1 5202,3 1.179,3 44,8 5281,0 ĐBSH 88,3 46,1 407,1 88,1 47,1 415,1 91,3 48,0 438,1 TDVMNPB 504,5 37,6 1899,1 515,3 36,7 1.890,8 519,3 36,8 1.909,7 BTB và

DHMT 206,0 43,3 891,8 208,0 41,5 862,3 210,4 44,0 925,2 Tây Nguyên 251,7 51,8 1.302,9 249,6 53,1 1.326,5 240,9 53,7 1.293,9 Đông Nam

Bộ 79,8 58,0 462,6 80,0 59,8 478,2 79,3 61,7 488,9 ĐBSCL 40,1 56,8 227,7 38,0 60,4 229,4 38,1 59,1 225,2

(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2016 [28])

Bảng 1.4 cho thấy: Diện tích và năng suất ngô của Việt Nam giai đoạn

2013 - 2015 khá ổn định Năm 2013 cả nước trồng được 1.170,4 nghìn ha, đến năm 2015 là 1179,3 nghìn ha, tăng 8,9 nghìn ha so với năm 2014 Năng suất ngô bình quân của cả nước năm 2013 đạt 44,4 tạ/ha, năm 2015 đạt 44,8

Trang 29

tạ/ha, tăng 0,04 tạ/ha so với năm 2013 Do diện tích và năng suất ngô ổn định nên sản lượng biến động không đáng kể Năm 2013 cả nước sản xuất được 5191,2 nghìn tấn, năm 2015 đạt 5.281 nghìn tấn

1.3.3 Tình hình sản xuất ngô tại tỉnh Yên Bái và huyện Mù Cang Chải

1.3.3.1 Tình hình sản xuất ngô tại tỉnh Yên Bái

Yên Bái là tỉnh miền núi phía Bắc Vị trí của Yên Bái là một lợi thế rất lớn cho khả năng giao lưu và phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, vẫn là tỉnh nông nghiệp, nền kinh tế của tỉnh chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp với nhiều loại cây trồng chủ đạo như lúa, ngô, cây ăn quả, cây lâm nghiệp…

Cây ngô tại Yên Bái là cây trồng có diện tích và vị trí hết sức quan trọng đến đời sống của người dân nói chung và người dân ở vùng cao nói riêng, không chỉ cung cấp lương thực cho người dân mà còn phục vụ chăn nuôi, đem lại nguồn lợi kinh tế đáng kể cho người dân vùng cao Trong những năm qua, diện tích, năng suất và sản lượng ngô không ngừng tăng lên và được thể hiện ở bảng 1.5

Qua bảng 1.5 thấy rằng, diện tích, năng suất và sản lượng ngô tại tỉnh Yên Bái không ngừng tăng lên theo từng năm Năm 2013 tổng diện tích đạt 26.713 ha, năng suất đạt trung bình 31,62 tạ/ha và sản lượng đạt 84.462 tấn Trong đó nhiều nhất phải kể đến là huyện Văn Chấn với 5.655 ha, Văn Yên với 5.335 ha, Lục Yên là 5.181 ha, huyện Mù Cang Chải đạt 3.447 ha, Trạm Tấu đạt 3.463 ha, thấp nhất là thành phố Yên Bái với 241 ha

Đến năm 2014 diện tích ngô đã tăng lên 28.471 ha, năng suất tăng lên

và đạt 29,37 tạ/ha giảm so với năm 2013, tổng sản lượng giảm còn đạt 83.612 tấn Địa phương có nhiều diện tích nhất là huyện Lục Yên với 6.072 ha, sau

đó đến huyện Văn Chấn với 5.951 ha, và huyện Văn Yên với 6.538 ha

Trang 30

Bảng 1.5 Diện tích, năng suất, sản lượng ngô tỉnh Yên Bái năm 2013-2015

Địa điểm

DT (ha)

NS (Tạ/ha)

SL (tấn)

DT (ha)

NS (Tạ/ha)

SL (tấn)

DT (ha)

NS (Tạ/ha)

SL (tấn)

(Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Yên Bái năm, 2016 [7])

Năm 2015 tổng diện tích ngô trên địa bàn tỉnh đạt 28.235 ha, giảm so với năm 2014, năng suất đạt trung bình là 32,93 tạ/ha, sản lượng đạt 92.970 tấn, địa phương có diện tích ngô lớn nhất là Văn Chấn với 6.067 ha, Lục Yên 5.368 ha, Văn Yên là 5.518 ha, địa phương có diện tích thấp nhất là thành phố Yên Bái với 262,0 ha Năng suất cao nhất là huyện Lục Yên đạt 36,52 tạ/ha, thấp nhất là thị xã Nghĩa Lộ với 23,62 tạ/ha, huyện Mù Cang Chải năng suất đạt trung bình là 33,08 tạ/ha thuộc loại trung bình so với các địa phương khác trên địa bàn tỉnh

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến năng suất ngô tại một số huyện chưa cao, trong đó có nguyên nhân diện tích canh tác ngô của một số huyện vùng cao chủ yếu trên đất dốc nên khó canh tác, kĩ thuật canh tác của người dân còn những hạn chế đặc biệt về mật độ và lượng phân bón Vì vậy, muốn nâng

Trang 31

cao năng suất ngô toàn tỉnh thì năng suất ngô nói chung của các huyện vùng cao cần được cải thiện và nâng lên Do vậy, cần có các nghiên cứu về mật độ, lượng phân bón thích hợp trên các giống ngô lai đang được trồng rộng rãi tại các địa phương này trong thời gian tới

1.3.3.2 Tình hình sản xuất ngô của huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái

Huyện Mù Cang Chải là huyện vùng cao của tỉnh Yên Bái và cũng là huyện xa nhất của tỉnh Yên Bái Đây là huyện thuần nông, sản xuất nông lâm nghiệp giữa vai trò quan trọng trong sự ổn định về an ninh, quốc phòng và an ninh lương thực Chính vì vậy, việc phát triển mạnh và bền vững các loại cây trồng như ngô, lúa là hết sức quan trọng trong đó việc tăng năng suất cây trồng có ý nghĩa to lớn để nâng cao thu nhập cho người dân Trong những năm qua, các cấp chính quyền tại huyện đã tổ chức triển khai nhiều chương trình hỗ trợ cho người dân về giống mới, kĩ thuật mới áp dụng trê nhiều loại cây trồng Bước đầu đã có những chuyển biến tích cực từ người dân

Qua bảng 1.6 cho thấy, 14/14 xã, thị trấn tại huyện Mù Cang Chải đều trồng ngô, tổng diện tích ngô năm 2015 trên địa bàn huyện đạt 4.296

ha, trong đó nhiều nhất là xã Lao Chải với 964 ha, sau đó đến Nậm Có, Khao Mang, Hồ Bốn, địa phương có diện tích ngô ít nhất là trị trấn Mù Cang Chải với 21,0 ha

Năng suất trung bình ngô toàn huyện năm 2015 đạt 33,08 tạ/ha cao hơn năng suất ngô năm 2014, trong đó các xã có năng suất đạt cao phải kể đến xã Khao Mang, Lao Chải, Hồ Bốn, thị trấn Mù Cang Chải đều đạt trên 30 tạ/ha, các xã có năng suất thấp là các xã Dế Xu Phình, Nậm Khắt, Púng Luống đạt dưới 30 tạ/ha

Trang 32

Bảng 1.6 Diện tích, năng suất và sản lượng ngô

của huyện Mù Cang Chải năm 2015

Đơn vị (xã)

Chỉ tiêu Diện tích

(Nguồn: Chi cục Thống kê huyệnMù Cang Chải, 2016 [6])

Hiện nay, trên địa bàn huyện chủ yếu sử dụng các giống ngô lai như NK

66, NK 4.300….và ngô địa phương Diện tích chủ yếu tập trung vào vụ Xuân muộn với diện tích nhiều hơn so với vụ thu đông, đây là vụ chính của các huyện vùng cao tỉnh Yên Bái nói chung và huyện Mù Cang Chải nói riêng

Trang 33

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Giống ngô lai NK66:

+ Giống ngô lai NK 66 là giống ngô lai đơn có nguồn gốc Thái Lan do Công ty Syngenta Việt Nam nghiên cứu nhập nội và chuyển giao Giống được tạo từ tổ hợp lai giữa 2 dòng ngô có nguồn gốc nhiệt đới NP5024/NP5063 Giống được khảo nghiệm từ năm 2002-2005, được Bộ Nông nghiệp &PTNT công nhận giống quốc gia năm 2005

+ Một số đặc điểm, đặc tính của giống: Là giống có thời gian sinh trưởng trung bình 95-105 ngày Chiều cao cây trung bình 200-225 cm, cao đóng bắp 110-120 cm Dạng hình cây gọn, sinh trưởng phát triển rất khoẻ, bộ

lá xanh lâu tàn, cứng cây và ít đổ ngã; Giống nhiễm nhẹ bệnh cháy lá, nhiễm bệnh khô vằn từ nhẹ đến trung bình

- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón và mật độ cho giống ngô lai NK 66 trong vụ Xuân muộn năm 2016 trên đất dốc tại huyện

Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái

- Các loại phân bón được dùng trong thí nghiệm:

+ Đạm ure được sản xuất tại công ty TNHH một thành viên phân Đạm

và hóa chất Hà Bắc Phân có hàm lượng Nitơ: 46% N, hàm lượng Biuret: 1,0%, độ ẩm: 0,35%

+ Kaliclorrua được nhập khẩu, có hàm lượng nguyên chất 55% K2O + Supe lân được sản xuất tại nhà máy Supe và hóa chất chất Lâm Thao,

có hàm lượng nguyên chất 16% P2O5

Trang 34

2.1.2 Phạm vi và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: Hộ ông Giàng A Lềnh, bản Lao Chải, xã Lao Chải, huyện

Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái

- Phạm vi: Đề tài dừng lại trong việc nghiên cứu 3 mức mật độ, 3 mức phân bón trên đất dốc tại xã Lao Chải, huyện Mù Cang Chải cho giống ngô lai

N 66 trong vụ Xuân muộn năm 2016

- Thời gian: Vụ Xuân muộn năm 2016

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu về ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến sinh trưởng của giống ngô lai NK 66;

- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến một số đặc điểm hình thái của giống ngô lai NK 66;

- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến khả năng chống

đổ và tình hình sâu bệnh hại của giống ngô lai NK 66;

- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống ngô lai NK 66

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Bố trí thí nghiệm đồng ruộng và theo dõi các chỉ tiêu khoa học

* Bố trí thí nghiệm:

+ Thí nghiệm được bố trí gồm 3 công thức về tổ hợp phân bón, 3 công thức về mật độ, 3 lần nhắc lại, tổng số 27 ô thí nghiệm, diện tích mỗi ô thí nghiệm là 14 m2 (5 x 2,8 m) được bố trí trên đất có độ dốc <10%, khoảng cách giữa các lần nhắc lại là 1m Tổng diện tích thí nghiệm 378 m2 chưa tính dải bảo vệ

+ Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ô lớn - ô nhỏ (Split-plot design), đồng nhất về đất thí nghiệm Tổng diện tích toàn thí nghiệm là 500 m2

Trang 35

- M1: mật độ 31.200 cây/ha (80 x 40cm): Đối chứng (theo nông dân)

- M2: mật độ 57.100 cây/ha (70 x 25cm): Mức chuẩn (nhà sản xuất giống)

- M3: mật độ 47.600 cây/ha (70 x 30cm): Mức nghiên cứu

Căn cứ vào hàm lượng chất dinh dưỡng trên đất dốc tại huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái qua kết quả nghiên cứu đề tài cấp tỉnh của Viện Nông hóa Thổ Nhưỡng thực hiện năm 2006 -2007 Chúng tôi xây dựng các công thức phân bón với mục tiêu nghiên cứu chủ yếu về liều lượng đạm như sau:

Trang 36

+ Về phân bón, bố trí tổ hợp phân bón khác nhau:

- P1: Lượng phân bón với liều lượng: 120 Kg N + 80 Kg P2O5 + 30 Kg K2O: Đối chứng (theo nông dân)

- P2: Lượng phân bón với liều lượng: 140 Kg N + 80 Kg P2O5 + 70 Kg K2O (đ/c): Mức chuẩn (khuyến cáo của tác giả sản xuất giống)

- P3: Lượng phân bón với liều lượng: 160 Kg N + 100 Kg P2O5 + 90

Kg K2O: Mức Nghiên cứu

* Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi: Căn cứ theo quy chuẩn kỹ thuật

Quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống ngô QCVN 01-56: 2011/BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và PTNT [3] và QCVN-01-38:2010/BNNPTNT [2]

Các chỉ tiêu theo dõi được tiến hành theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia

về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống ngô QCVN 01- 56: 2011/BNNPTNT của Bộ NN&PTNT [3]

* Các chỉ tiêu về sinh trưởng

- Ngày gieo: Ngày bắt đầu gieo hạt

- Ngày mọc: Ngày có  50% số cây có bao lá mầm lên khỏi mặt đất (mũi chông), quan sát toàn bộ số cây/ô

- Ngày trỗ cờ: Ngày có  50% số cây trên ô xuất hiện nhánh cuối cùng của bông cờ (cây có ngô nở được ở 1/3 trục chính), quan sát và đếm 10 cây ở

2 hàng giữa của mỗi ô

- Ngày tung phấn: Là ngày có > 50% số cây trên ô có ngô đực nở được

1/3 trục chính

- Ngày phun râu: : Ngày có  50% số cây trong ô phun râu (bắp có râu dài 2 - 3 cm ngoài lá bi), quan sát và đếm 10 cây ở 2 hàng giữa của mỗi ô

Trang 37

- Ngày chín sinh lý: Ngày có  75% cây có lá bi khô hoặc chân hạt có chấm đen, quan sát và đếm 10 cây ở 2 hàng giữa của mỗi ô Phân nhóm giống theo thời gian sinh trưởng như sau:

* Chỉ tiêu hình thái

Đo các chỉ tiêu sau trên 10 cây mẫu:

- Chiều cao cây (cm): Đo từ gốc (sát mặt đất) đến đốt phân nhánh cờ

đầu tiên (đo vào giai đoạn chín sữa)

- Chiều cao đóng bắp (cm): Đo từ gốc (sát mặt đất) đến đốt đóng bắp

trên cùng (đo vào giai đoạn chín sữa)

* Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

- Đếm tổng số cây thu hoạch/ô

- Tổng số bắp thu hoạch/ô

- Khối lượng bắp của 2 hàng thu hoạch (kg/ô)

- Lấy ngẫu nhiên 10 bắp thứ nhất để đo đếm các chỉ tiêu sau:

+ Khối lượng 10 bắp (kg)

+ Khối lượng hạt của 10 bắp (kg)

+ Chiều dài bắp (cm): Đo từ đầu bắp đến mút bắp của 10 bắp mẫu

+ Đường kính bắp (cm): Đo ở giữa của 10 bắp mẫu

+ Số hàng/bắp: Một hàng được tính khi có >50% số hạt so với hàng dài nhất

+ Số hạt/hàng: Đếm số hạt có chiều dài trung bình trên bắp của 10 bắp mẫu

- Xác định khối lượng 1000 hạt: Sau thu hoạch, tách hạt, phơi khô và đếm 2 mẫu, mỗi mẫu 500 hạt sau đó cân 2 mẫu được khối lượng M1, M2

Trang 38

Hiệu số của 2 lần cân (mẫu nặng - mẫu nhẹ) chênh lệch nhau ≤ 5% so với khối lượng trung bình 2 mẫu là chấp nhận được, kết quả: M 1000 hạt = M1 + M2

- Năng suất

+ Thu và cân toàn bộ số bắp còn lại ở 2 hàng giữa (thứ 2 và thứ 3) của mỗi ô, sau đó cộng thêm khối lượng bắp tươi của 10 cây mẫu ở trên để tính khối lượng bắp tươi/ô

+ Tính năng suất: Gộp chung và cân khối lượng bắp tươi của 3 lần nhắc (30 cây) vào 1 túi, tách hạt và phơi khô đến độ ẩm 14% Cân khối lượng hạt khô của 30 cây mẫu và tính năng suất hạt khô theo công thức:

P1 P2

NS (tạ/ha)= - x - x 103 m2

S0 P3

P1: Khối lượng bắp tươi của hàng thứ 2 và hàng thứ 3 ở mỗi ô

S0: Diện tích hàng ngô thứ 2 và hàng thứ 3 thu hoạch (7m2)

P2: Khối lượng hạt khô của 30 cây mẫu ở độ ẩm 14%

P3: Khối lượng bắp tươi của 30 cây mẫu

+ Tính năng suất theo phương pháp tính nhanh (tạ/ha):

P1 P2 (100-A0)

NS(tạ/ha) = - x - x - x 103m2

S0 P3 (100-14)

P1: Khối lượng bắp tươi của hàng thứ 2 và hàng thứ 3 của mỗi ô

A0: ẩm độ hạt khi cân khối lượng hạt mẫu

S0: Diên tích hàng ngô thứ 2 và hàng thứ 3 thu hoạch (6 m2)

P2: Khối lượng hạt của mẫu (cân lúc đo độ ẩm hạt "AO")

P3: Khối lượng bắp tươi của mẫu

Trang 39

(100 - A0)

Hệ số qui đổi NS ở độ ẩm 14% = -

(100 - 14)

* Mức độ nhiễm sâu, bệnh hại

Mức độ nhiễm sâu bệnh hại chính được đánh giá hoặc đếm các cây bị

sâu bệnh/ô vào giai đoạn chín sáp

- Sâu đục thân Chilo partellus : Đánh giá toàn bộ số cây ở 2 hàng giữa

của ô trên 3 lần lặp lại (1: < 5% số cây bị sâu; 2: 5-<15% số cây bị sâu; 3:

15-<25% số cây bị sâu; 4: 25-<35% số cây bị sâu; 5: 35-<50% số cây bị sâu)

- Bệnh khô vằn Rhizoctonia solani f sp Sasakii (%): Tỷ lệ cây bị bệnh

(%) = (Số cây bị bệnh/tổng số cây điều tra) x 100, Đánh giá toàn bộ số cây ở

2 hàng giữa của ô ở 3 lần lặp lại

* Khả năng chống chống đổ: Quan sát và đánh giá toàn bộ cây ở 2 hàng giữa trên ô Khả năng chống đổ:

- Đổ rễ (%): Đếm các cây bị nghiêng một góc bằng hoặc lớn hơn 30 độ

so với chiều thẳng đứng của cây

- Đổ gẫy thân: Đếm các cây bị gẫy ở đoạn thân phía dưới bắp khi thu hoạch (1: Tốt: <5 % cây gẫy; 2: Khá: 5-15% cây gẫy; 3: TB: 15-30% cây gẫy; 4: Kém: 30-50% cây gẫy; 5: Rất kém: >50% cây gẫy)

2.3.2 Một số biện pháp kỹ thuật áp dụng cho thí nghiệm:

- Thời vụ:

Theo khung thời vụ tốt nhất tại địa phương nơi thực hiện các thí

nghiệm (tháng 3-4/2016)

- Yêu cầu về đất trồng: Đất làm thí nghiệm phải đại diện cho vùng sinh

thái, có độ dốc <10%, sạch cỏ dại, đảm bảo độ ẩm đất lúc gieo khoảng 75 - 80% độ ẩm tối đa đồng ruộng

Trang 40

- Kỹ thuật gieo, khoảng cách và mật độ:

+ Gieo thẳng: Mỗi hốc gieo 2 hạt, sâu từ 3 đến 4 cm Khi ngô 3 - 4 lá tiến hành tỉa lần 1, đến 5 - 6 lá tỉa lần 2, chỉ để lại mỗi hốc 1 cây

+ Mật độ: Gieo theo các loại mật độ như đã trình bày ở mục 2.3.2.1

+ Bón lót: Toàn bộ phân hữu cơ và phân lân

+ Bón thúc lần 1: Khi ngô 4 - 5 lá: 1/2 lượng đạm + 1/2 lượng kali + Bón thúc lần 2: Khi ngô 8 - 9 lá: 1/2 lượng đạm + 1/2 lượng kali

- Chăm sóc: từ 4 đến 5 lá: Xới vun, bón thúc lần 1 và vun nhẹ quanh gốc

+ Khi ngô từ 8 đến 9 lá: Xới vun, bón thúc lần 2 và vun cao chống đổ

- Phòng trừ sâu bệnh:

Phòng trừ sâu bệnh và sử dụng thuốc hoá học theo hướng dẫn của ngành bảo vệ thực vật

- Thu hoạch: Khi ngô chín (chân hạt có vết đen hoặc khoảng 75% số

cây có lá bi khô) chọn ngày nắng ráo để thu hoạch

2.3.3 Phương pháp lấy mẫu phân tích đất

Trước khi bố trí thí nghiệm nghiên cứu, tiến hành lấy mẫu đất Lấy mẫu theo 5 đường chéo góc, ở tầng canh tác tù 0-30 cm, sau đó trộn đều lấy mẫu với số lượng 1,0kg mang đi phân tích các chỉ tiêu về đất: Đạm tổng số, đạm

dễ tiêu, lân tổng số, lân dễ tiêu, kali tổng số, kali dễ tiêu, pHklc, hàm lượng mùn (OC) theo phương pháp hiện hành

Ngày đăng: 26/07/2017, 09:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Bào (1996), Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật góp phần tăng năng suất ngô ở Hà Giang, Luận án PTS Khoa học Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật góp phần tăng năng suất ngô ở Hà Giang
Tác giả: Nguyễn Văn Bào
Năm: 1996
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2010), “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng”, QCVN 01-38: 2010/BNNPTNT, ban hành theo Thông tư số 71/2010/TT- BNNPTNT ngày 10/12/2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng”", QCVN 01-38: 2010/BNNPTNT
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2010
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2011), “Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống ngô”, QCVN 01-56: 2011/BNNPTNT, Ban hành theo thông tư số 48/2011- BNNPTNT ngày 05 tháng 7 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống ngô”, "QCVN 01-56: 2011/BNNPTNT
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2011
4. Nguyễn Văn Bộ, Nguyễn Trọng Thi (1999), “Một số kết quả nghiên cứu về phân bón cân đối cho cây trồng ở Việt Nam”, Kết quả Nghiên cứu khoa học, Quyển 3, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả nghiên cứu về phân bón cân đối cho cây trồng ở Việt Nam”, "Kết quả Nghiên cứu khoa học, Quyển 3
Tác giả: Nguyễn Văn Bộ, Nguyễn Trọng Thi
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1999
5. Nguyễn Văn Bộ (2007), Bón phân cân đối và hợp lý cho cây trồng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bón phân cân đối và hợp lý cho cây trồng
Tác giả: Nguyễn Văn Bộ
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2007
6. Chi cục Thống kê huyện Mù Cang Chải (2016), Báo cáo chính thức diện tích, năng suất, sản lượng cây trồng hàng năm năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chi cục Thống kê huyện Mù Cang Chải (2016)
Tác giả: Chi cục Thống kê huyện Mù Cang Chải
Năm: 2016
7. Cục Thống kê tỉnh Yên Bái (2016), Niêm giám thống kê năm 2015, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niêm giám thống kê năm 2015
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Yên Bái
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2016
8. Cục Trồng trọt - Bộ NN&amp;PTNT (2006), Hướng dẫn quy trình kỹ thuật thâm canh một số giống cây trồng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn quy trình kỹ thuật thâm canh một số giống cây trồng
Tác giả: Cục Trồng trọt - Bộ NN&amp;PTNT
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2006
9. Đường Hồng Dật (2003), Sổ tay hướng dẫn sử dụng phân bón, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫn sử dụng phân bón
Tác giả: Đường Hồng Dật
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2003
10. Phạm Tiến Dũng (2008), Thiết kế thí nghiệm và xử lý kết quả bằng phần mềm thống kê IRRISTAT, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế thí nghiệm và xử lý kết quả bằng phần mềm thống kê IRRISTAT
Tác giả: Phạm Tiến Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2008
12. Lê Văn Hải (2011), “Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của các tổ hợp lai triển vọng và một số biện pháp kỹ thuật phục vụ sản xuất ngô vùng Đông Nam Bộ”, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của các tổ hợp lai triển vọng và một số biện pháp kỹ thuật phục vụ sản xuất ngô vùng Đông Nam Bộ”," Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp
Tác giả: Lê Văn Hải
Năm: 2011
13. Phan Xuân Hào (2007), "Vấn đề mật độ và khoảng cách trồng ngô", Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, (12), tr. 39 - 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề mật độ và khoảng cách trồng ngô
Tác giả: Phan Xuân Hào
Năm: 2007
14. Bùi Huy Hiền (2002), "Tình hình sử dụng phân bón ở Việt Nam và vai trò của phân hỗn hợp NPK khi bón đầy đủ và cân đối để thâm canh cây trồng và bảo vệ môi trường", Hội thảo sản xuất và sử dụng phân bón Lâm Thao, Hà Nội, Tr. 1-2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình sử dụng phân bón ở Việt Nam và vai trò của phân hỗn hợp NPK khi bón đầy đủ và cân đối để thâm canh cây trồng và bảo vệ môi trường
Tác giả: Bùi Huy Hiền
Năm: 2002
17. Trần Trung Kiên (2010), “Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm, lân, kali đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của giống ngô chất lượng protein cao có triển vọng tại Thái Nguyên”, Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm, lân, kali đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của giống ngô chất lượng protein cao có triển vọng tại Thái Nguyên”", Luận án tiến sĩ Nông nghiệp
Tác giả: Trần Trung Kiên
Năm: 2010
18. Phạm Kim Môn (1991), “Dinh dưỡng khoáng và hiệu lực phân bón đối với ngô đông sau 2 lúa trên đất phù sa sông Hồng”, Nông nghiệp và Quản lý kinh tế, số 6/1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng khoáng và hiệu lực phân bón đối với ngô đông sau 2 lúa trên đất phù sa sông Hồng”", Nông nghiệp và Quản lý kinh tế
Tác giả: Phạm Kim Môn
Năm: 1991
21. Dương Thị Nguyên, Luân Thị Đẹp, Mai Xuân Triệu (2011), “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và khoảng cách gieo trồng tổ hợp ngô lai IL3 x IL6 trong vụ Xuân và vụ Thu năm 2010 tại một số tỉnh vùng Đông Bắc”, Tạp chí KH &amp; CN - Đại học Thái Nguyên, số 9/(1), tr. 105 - 109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và khoảng cách gieo trồng tổ hợp ngô lai IL3 x IL6 trong vụ Xuân và vụ Thu năm 2010 tại một số tỉnh vùng Đông Bắc”, "Tạp chí KH & CN - Đại học Thái Nguyên
Tác giả: Dương Thị Nguyên, Luân Thị Đẹp, Mai Xuân Triệu
Năm: 2011
22. Đỗ Thị Ngọc Oanh, Hoàng Văn Phụ (2012), Giáo trình phương pháp thí nghiệm đồng ruộng, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp thí nghiệm đồng ruộng
Tác giả: Đỗ Thị Ngọc Oanh, Hoàng Văn Phụ
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2012
23. Tạ Văn Sơn (1995), “Kỹ thuật sử dụng phân bón thâm canh ngô”, Nghiên cứu cơ cấu luân canh tăng vụ, các biện pháp kỹ thuật canh tác ngô, xây dựng mô hình trồng ngô lai vùng thâm canh giai đoạn 1991 - 1995, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, Tr. 51-66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật sử dụng phân bón thâm canh ngô”, "Nghiên cứu cơ cấu luân canh tăng vụ, các biện pháp kỹ thuật canh tác ngô, xây dựng mô hình trồng ngô lai vùng thâm canh giai đoạn 1991 - 1995
Tác giả: Tạ Văn Sơn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
24. Ngô Hữu Tình (1995), Nghiên cứu cơ cấu luân canh tăng vụ, các biện pháp kỹ thuật canh tác ngô, xây dựng mô hình trồng ngô lai vùng thâm canh canh giai đoạn 1991 - 1995, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội, Tr. 5-38 25. Ngô Hữu Tình (1987), Báo cáo kết quả tạo giống ngô MSB49, Trung tâmNghiên cứu Ngô Sông Bôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ cấu luân canh tăng vụ, các biện pháp kỹ thuật canh tác ngô, xây dựng mô hình trồng ngô lai vùng thâm canh canh giai đoạn 1991 - 1995", NXB Nông Nghiệp, Hà Nội, Tr. 5-38 25. Ngô Hữu Tình (1987), "Báo cáo kết quả tạo giống ngô MSB49
Tác giả: Ngô Hữu Tình (1995), Nghiên cứu cơ cấu luân canh tăng vụ, các biện pháp kỹ thuật canh tác ngô, xây dựng mô hình trồng ngô lai vùng thâm canh canh giai đoạn 1991 - 1995, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội, Tr. 5-38 25. Ngô Hữu Tình
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1987
27. Đinh Khắc Tiến (2013), “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác cho giống ngô lai DK 8868 tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái”, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Nông nghiệp, Đại học Nông lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác cho giống ngô lai DK 8868 tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái”, "Luận văn Thạc sĩ Khoa học Nông nghiệp
Tác giả: Đinh Khắc Tiến
Năm: 2013

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w