1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tình trang dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ 3 4 tuổi taiij trường mầm non ngọc linh và trường mầm non hua la thành phố sơn la

62 491 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 653,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở TRẺ 3- 4 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON NGỌC LINH VÀ TRƯỜNG

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

Ở TRẺ 3- 4 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON NGỌC LINH VÀ TRƯỜNG MẦM NON HUA LA - THÀNH PHỐ SƠN LA

Thuộc nhóm ngành: Khoa học - Giáo dục

Sơn La, tháng 05 năm 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

Ở TRẺ 3 - 4 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON NGỌC LINH VÀ TRƯỜNG MẦM NON HUA LA - THÀNH PHỐ SƠN LA

Thuộc nhóm ngành: Khoa học - Giáo dục

Sinh viên thực hiện: Bùi Thị Lịnh Nam, Nữ: NữDân tộc: Mường

Nguyễn Thị Ngọc Nam, Nữ: NữDân tộc: Kinh

Lớp: K55 ĐHGD Mầm non A Khoa: Tiểu học – Mầm non

Năm thứ : 3/ Số năm đào tạo: 4

Ngành học: Giáo dục Mầm non

Sinh viên chịu trách nhiệm chính: Bùi Thị Lịnh

Người hướng dẫn: ThS Khúc Thị Hiền

Trang 3

Sơn La, tháng 5năm 2017

Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, các cô giáo, cùng các trẻ em trường mầm non Ngọc Linh và trường mầm non Hua La – thành phố Sơn La đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ chúng em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Sơn La, tháng 5 năm 2017

Sinh viên thực hiện:

Bùi Thị Lịnh Nguyễn Thị Ngọc Đinh Thị Giang

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 2

6 Đóng góp của đề tài 3

7 Cấu trúc của đề tài 3

NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 4

1.1 Đặc điểm sinh lý của trẻ em mầm non 4

1.2 Tình trạng dinh dưỡng 5

1.2.1 Khái niệm về tình trạng dinh dưỡng 5

1.2.2 Phân loại tình trạng dinh dưỡng của trẻ em 6

1.2.3 Suy dinh dưỡng 9

1.2.4 Thừa cân - béo phì 16

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Địa điểm và đối tượng nghiên cứu 25

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 25

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 26

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 26

2.2 Phương pháp nghiên cứu 26

2.2.1 Chọn mẫu 26

2.2.2 Thu thập số liệu 27

2.2.3 Các bước tiến hành 31

2.3 Xử lý số liệu 31

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 32

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 32

3.1.1 Đặc điểm cơ bản hộ gia đình của đối tượng điều tra 32

3.1.2 Thông tin về trẻ 34

3.2 Tình trạng dinh dưỡng 35

Trang 5

3.2.1 Tình trạng dinh dưỡng chung 35

3.2.2 Tỉ lệ suy dinh dưỡng 36

3.2.3 Tỉ lệ thừa cân – béo phì 39

3.3 Khẩu phần dinh dưỡng 39

3.4 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng 41

3.4.1 Mối liên quan giữa một số yếu tố với tình trạng dinh dưỡng CN/T của trẻ em 41

3.4.2 Mối liên quan giữa một số yếu tố với tình trạng dinh dưỡng CC/T của trẻ em 42

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45

1 KẾT LUẬN 45

2 KIẾN NGHỊ 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

Trang 6

DANH MỤC VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Thông tin chung về đặc điểm cơ bản hộ gia đình của đối tượng tham gia nghiên

cứu 32

Bảng 3.2 Đặc điểm giới tính của đối tượng nghiên cứu 34

Bảng 3.3 Đặc điểm nhân trắc của trẻ em trong nghiên cứu 34

Bảng 3.4 Tình trạng dinh dưỡng chung 35

Bảng 3.5 Tỉ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em theo trường 36

Bảng 3.6 Tỉ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em theo giới tính 38

Bảng 3.6 Tỉ lệ thừa cân – béo phì của trẻ em nghiên cứu 39

Bảng 3.7 Giá trị dinh dưỡng khẩu phần của đối tượng nghiên cứu 39

Bảng 3.8 Mối liên quan giữa một số yếu tố với tình trạng dinh dưỡng CN/T của trẻ em 41

Bảng 3.9 Mối liên quan giữa một số yếu tố với tình trạng dinh dưỡng CC/T của trẻ em 42

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1 Diễn biến SDD trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn quốc (2008-2015) 15 Biểu đồ 3.1 Tình trạng dinh dưỡng chung của trẻ em nghiên cứu 35 Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em theo trường 36

Trang 9

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

Khoa Tiểu học – Mầm non

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ 3- 4 tuổi

tại trường mầm non Ngọc Linh và trường mầm non Hua La – thành phố Sơn La

- Sinh viên thực hiện:

- Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng d inh dưỡng của trẻ em 3 –

4 tuổi tại hai khu vực tại thành phố Sơn La Từ đó giúp các nhà quản lý, các giáo viên mầm non và cha mẹ trẻ nơi đây xây dựng được biện pháp phù hợp nhằm khắc phục tình trạng suy dinh dưỡng và béo phì của trẻ

4 Kết quả nghiên cứu:

- Xác định được tình trạng dinh dưỡng của trẻ em 3 - 4 tuổi tại trường mầm non Ngọc Linh và trường mầm non Hua La – thành phố Sơn La

- Tìm hiểu được một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ em 3

- 4 tuổi tại trường mầm non Ngọc Linh và trường mầm non Hua La – thành phố

Trang 10

5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài:

- Làm tài liệu tham khảo cho sinh viên ngành Giáo dục mầm non, khoa Tiểu

học – mầm non, trường Đại học Tây Bắc

- Làm tài liệu tham khảo cho giáo viên trường mầm non Ngọc Linh và trường mầm non Hua La – thành phố Sơn La

6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ

tên tạp chí nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả

nghiên cứu (nếu có):

Ngày tháng năm 2017 Sinh viên chịu trách nhiệm chính (Ký và ghi rõ họ, tên) Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):

Ngày tháng năm 2017

Xác nhận của Khoa Người hướng dẫn (Ký và ghi rõ họ, tên)

Trang 11

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

Khoa: Tiểu học – Mầm non

THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN

Họ và tên: Bùi Thị Lịnh

Sinh ngày: 29 tháng 7 năm 1995

Nơi sinh: Liên Vũ – Lạc Sơn – Hòa Bình

Lớp: K55 Đại học Giáo dục mầm non A Khóa học: 2014 – 2018

Khoa: Tiểu học – mầm non

Địa chỉ liên hệ: Bản dửn – Chiềng ngần – tp Sơn La

* Năm thứ 2:

Ngành học: Giáo dục mầm non Khoa: Tiểu học – mầm non

Kết quả xếp loại học tập: Giỏi

Sơ lược thành tích:

Tham gia cuộc thi “TBU got talent” và đạt giải khuyến khích, đạt giải nhất môn Điền kinh, tham gia Tiếng hát sinh viên cấp khoa và được công nhận, tham gia vào đội văn nghệ của khoa, đội văn nghệ của trường và đạt nhiều giải cao

Ảnh 4x6

Trang 12

* Năm thứ 3:

Ngành học: Giáo dục mầm non Khoa: Tiểu học – mầm non

Kết quả xếp loại học tập: Giỏi

Sơ lược thành tích:

Đạt giải nhất thi giảng mầm non, đạt giải ba Tiếng hát sinh viên cấp khoa, đạt giải khuyến khích cuộc thi “Gala Tiếng hát Học sinh - Sinh viên” cấp trường, tham gia cuộc thi nghiệp vụ sư phậm cấp trường và đạt giải nhì, tham gia cuộc thi “Sinh viên yêu thích nghệ thuật” và đạt giải nhất, tham gia vào đội văn nghệ của khoa, đội văn nghệ của trường và đạt nhiều giải cao

Sơn La, Ngày tháng 5 năm 2017

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu ở tất cả các nước trên thế giới Đầu tư cho dinh dưỡng chính là đầu tư cho nguồn phát triển nhân lực có chất lượng Như chúng ta đã biết, Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống Giáo dục quốc dân và mục đích chung của Giáo dục mầm non là phát triển tất cả các khả năng của trẻ, hình thành những cơ sở ban đầu của nhân cách con người, tạo điệu kiện cho trẻ em có nhiều cơ may thắng lợi trên con đường học hành cũng như trên cuộc sống Hơn nữa, trẻ em còn là một tài sản quý giá, là nguồn nhân lực mới cho tương lai của đất nước, là những con người sẽ tiếp bước kế tục sự nghiệp của cha ông Chính vì thế mà mọi quốc gia, mọi xã hội đều dành cho trẻ những điều kiện tốt nhất để phát triển Một quốc gia cường thịnh, văn minh chỉ khi có những con người khỏe mạnh, trí tuệ cao Vì vậy, chăm sóc – Giáo dục trẻ càng mang một ý nghĩa nhân văn cụ thể và trở thành một đạo lý của thế giới văn minh

Ngày nay, khoa học phát triển đã chứng minh được vai trò quan trọng của dinh dưỡng trên cơ thể con người Con người muốn sinh trưởng và phát triển tốt thì nhất thiết phải được cung cấp một chế độ Dinh dưỡng phù hợp Dinh dưỡng không hợp lí sẽ gây ra những hậu quả xấu về mặt thể lực, ảnh hưởng đến khả năng học tập và làm việc của con người, đặc biệt là đối với trẻ em Như ta thấy: thời kì quan trọng nhất của cuộc đời trẻ chính là thời kì trẻ mầm non, bởi vì lúc này não bộ của trẻ đang ở giai đoạn phát triển mạnh nhất và các tế bào thần kinh cũng được vận dụng tối đa để trẻ có thể tự

có những suy nghĩ và hành động riêng của mình Đây là giai đoạn phát triển nền tảng,

có ý nghĩa quan trọng trong các giai đoạn tiếp theo

Sơn La là một tỉnh nghèo miền núi phía Bắc, giao thông không thuận lợi, kinh tế dựa chủ yếu vào hoạt động sản xuất nông nghiệp lạc hậu, trình độ dân trí còn thấp Dân cư chủ yếu là dân tộc Thái, còn nhiều phong tục tập quán lạc hậu Chính vì thế, việc chăm sóc - giáo dục trẻ còn chưa được chú trọng nên tỉ lệ SDD của trẻ em nơi đây còn rất cao Bên cạnh đó, hiện tượng thừa cân – béo phì bắt đầu có xu hướng gia tăng Chính vì những lí do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ 3- 4 tuổi tại trường mầm non Ngọc Linh

và trường mầm non Hua La - thành phố Sơn La”

Trang 14

2 Mục đích nghiên cứu

- Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em trường mầm non Ngọc Linh và trường mầm non Hua La – thành phố Sơn La dựa trên các chỉ số thể lực (chiều cao và cân nặng)

- Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ em trường mầm non Ngọc Linh và trường mầm non Hua La – thành phố Sơn La

3 Đối tượng nghiên cứu

Tình trạng dinh dưỡng của 3 - 4 tuổi tại trường mầm non Ngọc Linh và trường mầm non Hua La – thành phố Sơn La

Các trẻ được lựa chọn để nghiên cứu có sức khỏe bình thường, không có dị tật bẩm sinh hoặc bệnh truyền nhiễm, trạng thái tâm - sinh lý bình thường

Trường mầm non Ngọc Linh - thành phố Sơn La và trường mầm non Hua La - thành phố Sơn La

Khách thể điều tra gồm: 300 trẻ 3-4 tuổi, thuộc 3 lớp của trường mầm non Ngọc Linh và trường mầm non Hua La – thành phố Sơn La

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định tình trạng thể lực (chiều cao và cân nặng) của trẻ em trường mầm non Ngọc Linh và trường mầm non Hua La – thành phố Sơn La

- Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em trường mầm non Ngọc Linh và trường mầm non Hua La – thành phố Sơn La dựa trên phần mềm Anthro

- Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ em trường mầm non Ngọc Linh và trường mầm non Hua La – thành phố Sơn La

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí luận:

Nghiên cứu sách tài liệu có liên quan đến đề tài, đọc và hệ thống hóa các tài liệu

có liên quan đến cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu và các tài liệu liên quan đến dinh dưỡng của trẻ mầm non

- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn bố, mẹ trẻ

Trước khi đi vào phỏng vấn, người phỏng vấn phải giải thích rõ mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của cuộc điều tra với đối tượng được điều tra để họ hiểu và cùng hợp tác

Trang 15

Người điều tra phỏng vấn bố, mẹ của trẻ về những thực phẩm mà gia đình đã cho trẻ ăn trong một tuần qua Hỏi riêng từng bữa: bữa sáng, bữa giữa bữa sáng và bữa trưa, bữa trưa, bữa giữa bữa trưa và bữa tối, bữa tối, bữa giữa bữa tối cho đến trước khi thức dậy của ngày hôm sau Người phỏng vấn hỏi thông tin từ bữa gần nhất là bữa sáng hôm phỏng vấn, rồi tiếp tục bữa ngày hôm qua trẻ ăn cho đến bữa cuối cùng của ngày cuối tuần trước Rồi ghi nhanh vào phiếu điều tra phỏng vấn

- Phương pháp quan sát:

Quan sát tự nhiên và dài hạn để theo dõi sự thay đổi về mặt tâm sinh lí và cơ thể của trẻ

- Phương pháp nhân trắc:

Đo chiều cao và cân nặng của trẻ mầm non

- Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học:

Các số liệu thu thập được sẽ được nhập vào máy tính và xử lí trên phần mềm Microsoft Excel, phần mềm WHO Anthro

6 Đóng góp của đề tài

Thống kê số liệu về chiều cao, cân nặng để qua đó đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ trường mầm non Ngọc Linh và trường mầm non Hua La – thành phố Sơn La bằng phần mềm WHO Anthro và WHO Anthroplus Đây sẽ là tư liệu để tham khảo, thông qua đó các nhà quản lí giáo dục, các giáo viên mầm non, các sinh viên ngành Giáo dục mầm non có cơ sở thực tế để từ đó xây dựng được các biện pháp phù hợp nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Trang 16

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Đặc điểm sinh lý của trẻ em mầm non

Trẻ em là cơ thể đang lớn và phát triển Quá trình sinh trưởng và phát triển của trẻ em là quá trình liên tục Quá trình lớn và phát triển của trẻ em cũng tuân theo quy luật chung của sự tiến hóa sinh vật: đi từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp Quá trình tiến hóa này không phải là một quá trình tuần tiến mà có những bước nhảy vọt,

có sự khác nhau về chất chứ không đơn thuần về mặt số lượng

Trẻ 3 – 4 tuổi được xếp vào giai đoạn răng sữa Giai đoạn này, sự phát triển của cơ thể trẻ diễn ra chậm hơn so với thời kì bú mẹ nhưng lại có sự thay đổi rõ rệt

Hệ thần kinh tương đối phát triển, hệ thần kinh trung ương và ngoại biên đã biến hóa, chức năng phân tích, tổng hợp của vỏ não đã hoàn thiện, số lượng các phản xạ có điều kiện ngày càng nhiều, tốc độ hình thành phả xạ có điều kiện tốt, trí tuệ phát triển nhanh Khả năng hoạt động của các tế bào thần kinh tăng lên, quá trình cảm ứng ở vỏ não phát triển nên trẻ có thể tiến hành hoạt động trong thời gian lâu hơn

Hệ tiêu hóa ngày càng hoàn thiện,các men tiêu hóa được tăng cường, bộ răng sữa đã

có đầy đủ, sự tiêu hóa và hấp thu thức ăn ngày càng tăng lên

Cơ quan phát âm cũng phát triển và hoàn thiện dần Ở giai đoạn này, ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc điều khiển hành vi của trẻ

Khả năng miễn dịch của trẻ giai đoạn này còn yếu, do khả năng tạo miễn dịch chủ động kém Chính vì vậy, thời điểm này, trẻ vẫn hay mắc bệnh Các bệnh thường gặp là các bệnh nhiễm khuẩn, bệnh truyền nhiễm, các bệnh dị ứng (hen, thấp, mề đay ) và đặc biệt trẻ hay mắc các bệnh về dinh dưỡng và chuyển hóa: suy dinh dưỡng, thiếu máu do thiếu sắt, thiếu I ốt…

Trang 17

Tốc độ phát triển chiều cao và cân nặng của trẻ trên 3 tuổi chậm hơn so với giai đoạn trước đó, nhưng tính trong cả đời người thì đây vẫn nằm trong giai đoạn phát triển với tốc độ cao

Ở tuổi lên 3, bé cao 90 - 93 cm là tốt Sau đó, mỗi tháng bé cao thêm 0,5 - 1 cm Lúc 4 tuổi, bé cao 1m là đúng tiêu chuẩn Cân nặng lúc 3 tuổi của trẻ khoảng 14 -14,5

kg Lúc này, trẻ tăng cân chậm, khoảng 100 - 200g mỗi tháng Nếu trẻ tăng cân nhanh trên 500g mỗi tháng và trong nhiều tháng liên tiếp, cần xem chừng nguy cơ béo phì Sau 1 năm đến khi tròn 4 tuổi, trẻ tăng thêm 2 kg, tức là nặng khoảng 16 - 16,5 kg Chiều cao và cân nặng của trẻ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như di truyền, dinh dưỡng trong quá trình nuôi hoặc yếu tố bệnh tật

Để tạo điều kiện cho các cơ quan trong cơ thể có thể hoàn thiện vào cuối giai đoạn này trong điều kiện hệ thần kinh chưa hoàn thiện, cần tổ chức chế độ sinh hoạt hợp lý, thực hiện chế độ dinh dưỡng cân đối và tăng cường các biện pháp rèn luyện cơ thể cho trẻ

1.2 Tình trạng dinh dƣỡng

1.2.1 Khái niệm về tình trạng dinh dưỡng

Từ lâu người ta đã biết có mối liên quan chặt chẽ giữa dinh dưỡng và tình trạng sức khoẻ Tình trạng dinh dưỡng có thể được định nghĩa là tập hợp các đặc điểm cấu trúc, các chỉ tiêu hoá sinh và đặc điểm các chức phận của cơ thể phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng Khi mới hình thành khoa học dinh dưỡng, để đánh giá tình trạng dinh dưỡng, người ta chỉ dựa vào các nhận xét đơn giản như gầy, béo; tiếp đó là một số chỉ tiêu nhân trắc như Brock, Quetelet, Pignet Nhờ phát hiện về vai trò các chất dinh dưỡng và các tiến bộ kỹ thuật, phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng ngày càng hoàn thiện và ngày nay trở thành một chuyên khoa của dinh dưỡng học Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các nhu cầu dinh dưỡng của con người khác nhau tùy theo tuổi, giới, tình trạng sinh lý (ví dụ: thời kỳ có thai, cho con bú ) và mức độ hoạt động thể lực và trí lực Cơ thể sử dụng các chất dinh dưỡng có trong thực phẩm không những phải trải qua quá trình tiêu hoá, hấp thu, phụ thuộc vào các yếu tố khác như sinh hoá và sinh lý trong quá trình chuyển hoá Việc sử dụng thực phẩm chủ yếu phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của cá thể Ví dụ: tiêu chảy ảnh hưởng tức thì đến tiêu hoá hấp thu thức ăn Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ảnh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khoẻ, khi cơ thể có tình

Trang 18

trạng dinh dưỡng không tốt, (thiếu hoặc thừa dinh dưỡng) là thể hiện có vấn đề về sức khoẻ hoặc dinh dưỡng hoặc cả hai

Tình trạng dinh dưỡng của một quần thể dân cư được thể hiện bằng tỷ lệ của các

cá thể bị tác động bởi các vấn đề dinh dưỡng Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em từ 0 đến 5 tuổi thường được coi là đại diện cho tình hình dinh dưỡng và thực phẩm của toàn bộ cộng đồng Đôi khi người ta cũng lấy tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ tuổi sinh đẻ làm đại diện Các tỷ lệ trên phản ánh tình trạng dinh dưỡng của toàn bộ quần thể dân cư ở cộng đồng đó, ta có thể sử dụng để so sánh với số liệu quốc gia hoặc cộng đồng khác

1.2.2 Phân loại tình trạng dinh dưỡng của trẻ em

Các cách phân loại tình trạng dinh dưỡng:

- Trong điều kiện thực tế, người ta chủ yếu dựa trên chỉ số cân nặng theo tuổi quy ra phần trăm của cân nặng chuẩn (quần thể tham khảo Harvard)

% cân nặng/tuổi so

với chuẩn Phân loại dinh dƣỡng Độ suy dinh dƣỡng

60 – 75% Suy dinh dưỡng trung bình Suy dinh dưỡng độ II

Cách phân loại này không phân biệt giữa Marasmus và Kwashiorkor cũng như suy dinh dưỡng cấp hay mãn bởi vì cách phân loại này không để ý tới chiều cao

- Hiện nay, người ta nhận định tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em chủ yếu dựa vào 3 chỉ tiêu sau:

+ Cân nặng theo tuổi

+ Chiều cao theo tuổi

+ Cân nặng theo chiều cao

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đề nghị lấy điểm ngưỡng ở dưới 2 độ lệch chuẩn 2SD) so với quần thể tham chiếu NCHS (National Center for Health Statistics) để coi

(-là nhẹ cân Từ đó có thể chia thêm các mức độ sau đây:

Từ dưới -2SD đến -3SD : suy dinh dưỡng độ I

Từ dưới -3SD đến -4SD : suy dinh dưỡng độ II

Dưới -4SD : suy dinh dưỡng độ III

Trang 19

+ Cân nặng theo tuổi: Cân nặng theo tuổi phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng nói chung, chỉ tiêu cân nặng theo tuổi phản ánh tốc độ phát triển của đứa trẻ Đây là một chỉ tiêu nhạy, dễ thu thập và xử lý, thường được áp dung trong các nghiên cứu được triển khai tại cộng đồng

+ Chiều cao theo tuổi: Chiều cao theo tuổi thấp phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài hoặc thuộc về quá khứ, làm cho đứa trẻ bị còi (stunting) Thường lấy điểm ngưỡng ở -2SD và -3SD so với quần thể tham chiếu NCHS

+ Cân nặng theo chiều cao: Cân nặng theo chiều cao thấp phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng ở thời kỳ hiện tại, gần đây, làm cho đứa trẻ ngừng lên cân hoặc tụt cân nên bị còm (wasting) Các điểm ngưỡng giống như hai chỉ tiêu trên Khi cả hai chỉ tiêu chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao đều thấp hơn ngưỡng đề nghị, đó là thiếu dinh dưỡng thể phối hợp, đứa trẻ vừa còi vừa còm

Gần đây, tình trạng thừa cân ở trẻ em đang là vấn đề được quan tâm ở nhiều nước Trong các điều tra sàng lọc, "ngưỡng" để coi là thừa cân khi số cân nặng theo chiều cao trên +2SD Để xác định là "béo", cần đo thêm bề dày lớp mỡ dưới da Tuy vậy, trong các điều tra cộng đồng, chỉ tiêu cân nặng theo chiều cao là đủ đánh giá, vì

đa số cá thể có cân nặng cao so với chiều cao đều béo

Cách nhận định kết quả: Muốn nhận định các kết quả về nhân trắc, cần phải chọn một quần thể tham chiếu (reference population) để so sánh Không nên coi quần thể tham chiếu là chuẩn (standard), nghĩa là mục tiêu mong muốn, mà chỉ là cơ sở để đưa

ra các nhận định thuận tiện cho các so sánh trong nước và quốc tế Do nhận thấy ở trẻ

em dưới 5 tuổi, nếu được nuôi dưỡng hợp lý và điều kiện sống hợp vệ sinh thì khả năng lớn không khác nhau theo chủng tộc, Tổ chức Y tế thế giới đã đề nghị lấy quần thể NCHS của Hoa Kỳ làm quần thể tham chiếu và đề nghị này hiện nay đã được ứng dụng rộng rãi, mặc dù cũng còn một số nước áp dụng các quần thể tham chiếu địa phương Người ta sử dụng các giới hạn "ngưỡng" (cut-off-point) các cách như sau: + Theo % so với quần thể tham chiếu như các thang phân loại của Gomez và Jelliffe + Theo phân bố thống kê, thường lấy -2SD của số trung bình làm giới hạn ngưỡng Từ đó người ta tính được tỷ lệ ở dưới hoặc trên các ngưỡng đó

+ Theo độ lệch chuẩn (Z score hay SD score):

Zscore hay SD score = (Kích thước đo được - Số trung bình của quần thể tham chiếu) / Độ lệch chuẩn của quần thể tham chiếu

Trang 20

Cách biểu hiện theo tỷ lệ % dưới giới hạn ngưỡng cho một kết luận tổng quát, nhưng để so sánh hiệu quả các can thiệp thì cách so sánh số trung bình (+SD) hoặc số trung bình của Z score tỏ ra thích hợp hơn Giữa số trung bình Z score và tỷ lệ % dưới -2SD có mối tương quan với nhau

- Theo Xentin (Percentile): Nhiều khi người ta sắp xếp các kích thước nhân trắc theo xentin so với quần thể tham chiếu Ở mốc 3 xentin (nghĩa là có 3% số trẻ dưới mốc này) gần tương đương với -2SD (chính xác là -1,881SD), nên dưới mốc này có thể xếp vào loại thiếu dinh dưỡng Thường các bảng xentin lấy mốc 3 và 97 xentin để phân loại tình trạng dinh dưỡng Khi áp dụng các chỉ tiêu nhân trắc để nhận định tình trạng dinh dưỡng, cần chú ý rằng chỉ tiêu thích hợp nhất để đánh giá tình trạng dinh dưỡng cấp tính là cân nặng theo chiều cao, do đó nên sử dụng trong các đánh giá nhanh sau thiên tai, các can thiệp ngắn hạn Chiều cao theo tuổi lại là chỉ tiêu thích hợp nhất để đánh giá tác động dài hạn, nghĩa là để theo dõi ảnh hưởng của các thay đổi

về điều kiện kinh tế xã hội

Chỉ tiêu cân nặng theo tuổi là một chỉ tiêu chung, không mang giá trị đặc hiệu như hai chỉ tiêu trên Người ta không phủ nhận giá trị tương đối của nó, nhưng trong các cuộc điều tra dinh dưỡng, việc thu thập cả cân nặng, chiều cao và tuổi là cần thiết để tính ra các chỉ tiêu trên Đồng thời, bên cạnh việc tính các tỷ lệ dưới một "Ngưỡng" nào đó, nên tính số trung bình (hoặc trung bình Z score) cùng với độ lệch chuẩn để các nhận định được toàn diện hơn, nhất là khi có ý định so sánh

- Phân loại mức độ thiếu dinh dưỡng ở cộng đồng trẻ em dưới 5 tuổi:

Trang 21

1.2.3 Suy dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng là biểu hiện của sự chậm lớn, chậm tăng trưởng chủ yếu

là yếu tố nuôi dưỡng, bệnh tật hơn là nguyên nhân do di truyền, trẻ em dưới 5 tuổi nếu được nuôi dưỡng đầy đủ, mọi trẻ em có thể phát triển như nhau Suy dinh dưỡng thứ phát nếu thực phẩm cung cấp đủ về số lượng chất lượng nhưng do trẻ không muốn ăn, do rối loạn hấp thu, do tăng chuyển hoá bất thường, do sai lạc chuyển hoá hoặc sự bất thường khiến cho nhu cầu bên trong cơ thể bị thiếu hụt

1.2.3.2 Nguyên nhân suy dinh dưỡng

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến suy dinh dưỡng đó là các nguyên nhân: nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân sâu xa và một số các nguyên nhân khác

a Nguyên nhân trực tiếp phải kể đến là khẩu phần (thiếu ăn về số lượng và mất cân đối về chất lượng) và mắc các bệnh nhiễm khuẩn

* Yếu tố về khẩu phần:

Khẩu phần thiếu về số lượng và chất lượng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới tình trạng dinh dưỡng Chất lượng khẩu phần cần quan tâm đồng thời với số lượng khẩu phần, trong đó vai trò của protein động vật, chất béo, các vi chất, vitamin, các axit amin và axit béo cần thiết là rất quan trọng

Theo Jelliffe, các thể bệnh SDD protein - năng lượng đều có liên quan tới khẩu phần ăn thiếu protein và thiếu năng lượng ở các mức độ khác nhau Trẻ em trước tuổi học đường là đối tượng bị SDD cao, nếu không được ăn đầy đủ số lượng và chất lượng

sẽ có nguy cơ cao bị suy dinh dưỡng

Các nghiên cứu chỉ ra rằng những trẻ em sống ở các vùng có khẩu phần chủ yếu

từ các loại ngũ cốc, khoai củ thường có nguy cơ thiếu protein, thiếu acid amin cần thiết

mà cơ thể không tự tổng hợp

Trang 22

Ba yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến SDD là: không đảm bảo an ninh thực phẩm, thiếu chăm sóc và bệnh tật Các yếu tố này chịu ảnh hưởng lớn của đói nghèo Thực phẩm nguồn gốc động vật có vai trò quan trọng trong chế độ ăn của trẻ, vì đó là nguồn cung cấp protein có giá trị sinh học cao và các vi chất dinh dưỡng Chế độ ăn nghèo thức ăn động vật là một yếu tố nguy cơ quan trọng của SDD thấp còi

Sữa mẹ và thức ăn bổ sung đóng vai trò quan trọng đối với thời gian bị SDD và thể loại SDD Các quan niệm dinh dưỡng sai lầm của người mẹ hoặc gia đình trong vấn đề chăm sóc thai sản, nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung là những nguyên nhân quan trọng, trực tiếp làm cho trẻ dễ bị SDD Trẻ không được bú sữa mẹ, hoặc bú chai nhưng số lượng sữa không đủ, dụng cụ bú sữa không đảm bảo vệ sinh đều có thể dẫn đến SDD Khi cho trẻ ăn bổ sung muộn, như ở một số nước châu Phi, các trường hợp SDD nặng thường xảy ra lúc trẻ được 2 tuổi Cho ăn bổ sung quá sớm, hoặc cho trẻ ăn thức ăn đặc quá, số lượng không đủ, năng lượng, protein trong khẩu phần thấp cũng là những nguyên nhân làm trẻ dễ mắc SDD

Vi chất dinh dưỡng và thấp còi: cho đến nay, các nghiên cứu can thiệp nhằm bổ sung các chất dinh dưỡng riêng rẽ như protein, kẽm, iod và các vitamin A cho các kết quả chưa nhất quán, nhiều khả năng do các quần thể dân cư đó thiếu đồng thời nhiều chất dinh dưỡng Mặt khác, phần lớn các can thiệp có thể chưa tập trung vào lứa tuổi nhỏ nhất và thời kỳ tăng trưởng chiều cao nhiều nhất Nhiều chuyên gia cho rằng các can thiệp về thực phẩm, thông qua đường ăn uống là các can thiệp hiệu quả và bền vững, cần được quan tâm hơn là các can thiệp cải thiện tình trạng dinh dưỡng tập trung vào một số chất dinh dưỡng đơn lẻ (trừ can thiệp cải thiện tình trạng thiếu iốt)

* Yếu tố về bệnh nhiễm trùng:

Vòng xoắn bệnh lý giữa các bệnh nhiễm trùng ở trẻ em và SDD đã được chứng minh Bệnh nhiễm trùng dẫn đến SDD, SDD làm trẻ dễ mắc bệnh nhiễm trùng, làm tăng mức độ trầm trọng của bệnh, vòng xoắn bệnh lý cứ thế tiếp diễn nếu không có can thiệp hoặc xử trí phù hợp Nhiễm trùng, đặc biệt là tiêu chảy ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ em Tiêu chảy dẫn đến các tổn thương đường tiêu hóa do đó làm giảm hấp thu, đặc biệt các vi chất, làm cho kháng nguyên và các vi khuẩn đi qua nhiều hơn và dễ dàng xâm nhập Nhiễm trùng làm tăng sự hao hụt các chất dinh dưỡng, trẻ biếng ăn và ăn với số lượng ít hơn do giảm ngon miệng Các nghiên cứu ước tính rằng nhiễm trùng ảnh hưởng đến 30% sự giảm chiều cao ở trẻ em Những trẻ có HIV

Trang 23

thường bị tiêu chảy và kéo theo là tình trạng SDD Nhiễm khuẩn dễ đưa đến SDD do rối loạn tiêu hoá, và ngược lại SDD dễ dẫn tới nhiễm khuẩn do đề kháng giảm Do đó,

tỷ lệ SDD có thể dao động theo mùa và thường cao trong những mùa có các bệnh nhiễm khuẩn lưu hành ở mức cao (tiêu chảy, viêm hô hấp, sốt rét) Bên cạnh tiêu chảy, các bệnh nhiễm trùng khác cũng ảnh hưởng nhiều tới dinh dưỡng như nhiễm khuẩn đường hô hấp, sởi và các bệnh ký sinh trùng đường ruột

b Nguyên nhân tiềm tàng

Nguyên nhân tiềm tàng của SDD do sự bất cập trong dịch vụ chăm sóc bà mẹ trẻ em, thiếu kiến thức của người chăm sóc trẻ, yếu tố chăm sóc của gia đình, các vấn đề nước sạch, vệ sinh môi trường và tình trạng nhà ở không đảm bảo, mất vệ sinh Yếu tố không kém quan trọng đó là sự chăm sóc của mẹ đối với con Khi đời sống khá hơn, gia đình ít con, trình độ văn hóa người mẹ cao hơn thì thời gian người mẹ dành cho đứa trẻ nhiều hơn và thực hành dinh dưỡng cũng như chăm sóc trẻ tốt hơn và ngược lại

c Nguyên nhân cơ bản (nguyên nhân gốc rễ)

Nguyên nhân cơ bản của SDD là tình trạng đói nghèo, lạc hậu về các mặt phát triển nói chung, bao gồm cả mất bình đẳng về kinh tế Trong quá trình phát triển kinh

tế hiện nay của các nước phát triển, khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng, tác động đến xã hội ngày càng sâu sắc Tổng điều tra dinh dưỡng Việt Nam (2000) đã chỉ

ra yếu tố kinh tế góp phần quan trọng liên quan đến dinh dưỡng Nhìn chung các hộ gia đình phải dành từ 40-60% kinh phí chi tiêu để dùng cho ăn uống, tỷ lệ cao nhất là ở vùng Tây Bắc và các xã nghèo (64%) Chi tiêu cho ăn uống càng nhiều thì các khoản chi tiêu cho chăm sóc y tế, giáo dục và các nhu cầu khác sẽ giảm đi, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng đời sống và việc chăm lo cho con cái

Các nghiên cứu đã chỉ ra có sự tương quan giữa mức độ SDD thấp còi và các chỉ

số về sự mất cân bằng kinh tế trong xã hội (chỉ số mức độ nghèo) Đó là sự tương quan ngược chiều giữa chỉ số tập trung về công bằng kinh tế xã hội ở nhóm nghèo với nhóm người giàu, người nghèo có nguy cơ SDD cao hơn người giàu, tỷ lệ SDD thấp còi cao hơn ở nhóm nghèo và nước nghèo

1.2.3.3 Tác hại của suy dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng trẻ em mà chủ yếu suy dinh dưỡng protein năng lượng đang còn

là vấn đề thời sự ở các nước nghèo và đang phát triển

Trang 24

SDD trẻ em dưới 5 tuổi chiếm 54% trong số 11,6 triệu trẻ tử vong trên toàn cầu trong đó có trẻ em 3-4 tuổi Hàng năm giai đoạn 1980-1995 và là nguyên nhân sâu xa của hơn 2,6 triệu trẻ em tử vong mỗi năm hiện nay Thể nhẹ cân, thấp còi và gầy còm liên quan đến tử vong trẻ em dưới 5 tuổi lần lượt là 19%, 14,5% và 4,4%

Thiếu vi chất dinh dưỡng liên quan với 10% tất cả trường hợp tử vong trẻ em, hay khoảng một phần ba số trẻ em tử vong do SDD

Suy dinh duỡng làm cho trẻ em dễ bị cảm nhiễm với các bệnh nhiễm trùng, nhất

là các bệnh đường hô hấp, đường ruột và khi mắc thì diễn biến xấu hơn, gia tăng tỉ lệ

tử vong

SDD là điều kiện thuận lợi để các bệnh lý này xảy ra và kéo dài, làm cho trẻ em

ăn uống kém, nhu cầu năng lượng gia tăng nên SDD ngày càng trở nên nặng nề hơn SDD làm trẻ em kém phát triển về thể chất Mức độ chậm phát triển tăng song song với thời gian kéo dài của bệnh và nhóm tuổi của trẻ Các bằng chứng khoa học đã cho thấy, giai đoạn đầu tiên của cuộc đời từ trong bụng mẹ đến 2 tuổi, nếu trẻ em bị SDD có thể để lại những hậu quả về thể chất và tinh thần không phục hồi được và kéo sang thế hệ sau Nếu tình trạng SDD kéo dài đến thời gian dậy thì, chiều cao của trẻ

em sẽ càng bị ảnh hưởng trầm trọng hơn

SDD làm trẻ em chậm phát triển tâm thần, nhất là ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của não bộ trong giai đoạn trẻ em dưới 6 tuổi Trí thông minh dễ dàng bị ảnh hưởng nếu trẻ bị SDD bào thai và dưới 12 tháng tuổi Tác hại của SDD càng nặng, nếu bệnh xuất hiện lúc cơ quan chưa trưởng thành

Ngoài ra, SDD tác động tiêu cực về mặt xã hội: tầm vóc của dân tộc sẽ chậm tăng trưởng nếu tình trạng SDD không được cải thiện qua nhiều thế hệ Khả năng lao động về thể lực cũng như về trí lực của những người SDD trong quá khứ hay trong hiện tại đều không thể đạt đến mức tối ưu, là một sự lãng phí vô cùng lớn đối với các nước đang phát triển Nguồn nhân lực trong tương lai cũng sẽ bị ảnh hưởng vì tầm vóc

và thể lực của các lớp thanh thiếu niên liên quan đến sức khỏe sinh sản

Như vậy, SDD vừa ảnh hưởng trước mắt, trực tiếp đến phát triển của trẻ; vừa dẫn đến các hậu quả không khắc phục được như tầm vóc người trưởng thành thấp bé, kết quả học tập kém, giảm khả năng lao động người lớn và ảnh hưởng tới thu nhập quốc dân Mặt khác, điều trị SDD phức tạp, tốn kém, trong khi việc phát hiện sớm và dự phòng SDD có thể thực hiện được nhờ các biện pháp chăm sóc sức khoẻ ban đầu

Trang 25

1.2.3.4 Phân loại suy dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng trong cộng đồng được chia làm 3 thể đó là: thể nhẹ cân (underweight), thấp còi (stunting) và gầy còm (wasting) Các thể này được đánh giá thông qua 2 số đo nhân trắc là cân nặng, chiều cao theo giới và độ tuổi của trẻ dưới ngưỡng âm 2 độ lệch chuẩn (< -2SD: Standard Deviation) so với quần thể tham khảo WHO - 2006 do WHO công bố, áp dụng thống nhất toàn cầu

Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân:

SDD thể nhẹ cân (cân nặng theo tuổi) được chia thành 3 mức độ:

- SDD vừa (độ I): khi cân nặng theo tuổi từ dưới -2SD đến -3SD

- SDD nặng (độ II): khi cân nặng theo tuổi từ dưới -3SD đến -4SD

- SDD rất nặng (độ III): khi cân nặng theo tuổi dưới -4SD

Suy dinh dưỡng thể thấp còi:

SDD thể thấp còi (chiều cao theo tuổi) được chia thành 2 mức độ:

- Thấp còi độ I khi chiều cao theo tuổi từ dưới -2SD đến -3SD

- Thấp còi độ II khi chiều cao theo tuổi từ dưới -3SD

Suy dinh dưỡng thể gầy còm:

SDD thể gầy còm (cân nặng theo chiều cao) khi dưới ngưỡng -2SD

1.2.3.5 Tình hình SDD của trẻ em

a Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em trên thế giới

Suy dinh dưỡng (SDD) trẻ em là tình trạng chậm lớn, chậm phát triển Ở cộng đồng người ta thường gặp những trẻ em SDD thể thấp còi (Chiều cao theo tuổi thấp), SDD thể nhẹ cân (Cân nặng theo tuổi thấp) và SDD thể gầy còm (Cân nặng theo chiều cao thấp) Nguyên nhân SDD rất phức tạp và đa dạng: do chế độ ăn không đầy đủ và hợp lý, tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng thường gặp ở lứa tuổi này

Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, hiện nay có khoảng 800 triệu người bị nghèo đói kéo dài và 150 – 160 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng nhẹ cân,

182 triệu trẻ em còi cọc Suy dinh dưỡng chủ yếu tập trung ở các nước đang phát triển, nhất là các nước châu Á và châu Phi

b Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em ở Việt Nam

Trong những năm qua, nền kinh tế - xã hội nước ta cũng như đời sống của người dân đang ngày càng được cải thiện, các chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em

đã đạt được những kết quả nhất định Mặc dù tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em giảm nhiều

Trang 26

trong những năm gần đây nhưng theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới, Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia có tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi ở mức cao Quảng Bình là tỉnh nằm ở khu vực Bắc miền Trung, địa bàn phức tạp, khí hậu khắc nghiệt, luôn bị thiên tai đe dọa, điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, điều đó ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của cộng đồng nói chung cũng như trẻ em dưới 5 tuổi nói riêng Trong những năm qua, công tác phòng chống SDD trẻ em tỉnh ta đã được chú trọng và đạt những kết quả đáng khích lệ, nhưng tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi của tỉnh vẫn còn rất cao so với khu vực Bắc Trung Bộ kể cả 2 thể nhẹ cân và thấp còi theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới

Viện Dinh dưỡng đã công bố số liệu về tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi năm 2015 trên toàn quốc Theo đó, tình trạng suy dinh dưỡng thể nhẹ cân giảm từ 14,5

% (năm 2014) xuống 14,1% (năm 2015) giảm 0,4% và suy dinh dưỡng thể thấp còi giảm từ 24,9% (năm 2014) xuống còn 24,6% (năm 2015) giảm 0,3%

Theo bác sĩ Nguyễn Văn Tiến, Trung tâm Giáo dục truyền thông dinh dưỡng (Viện Dinh dưỡng quốc gia), tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em có sự khác biệt giữa các vùng sinh thái, các vùng miền

Hiện tình trạng suy dinh dưỡng cao nhất là khu vực Tây Nguyên (suy dinh dưỡng nhẹ cân là 21,6%, suy dinh dưỡng thấp còi là 34,2%)

Tiếp đến là trung du và miền núi phía Bắc (suy dinh dưỡng nhẹ cân là 19,5%, suy dinh dưỡng thấp còi là 30,3%)

Tỷ lệ suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi thể nhẹ cân và thấp còi cao nhất vẫn tập trung ở những nơi có điều kiện kinh tế khó khăn, miền núi, vùng sâu vùng xa

Ở Tây Nguyên tỷ lệ suy dinh trẻ em cao nhất là 2 tỉnh Kon Tum và Gia Lai với suy dinh dưỡng nhẹ cân là 23,7% và 24,1%, suy dinh dưỡng thấp còi là 39,3% và 35,3%

Lai Châu và Hà Giang là hai tỉnh có tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em cao nhất khu vực trung du và miền núi phía Bắc với suy dinh dưỡng nhẹ cân là 23,0% và 22,8%, suy dinh dưỡng thấp còi là 36,4% và 35,1%

Kết quả khảo sát về tình trạng dinh dưỡng trẻ em khu vực Đông Nam Á (SEANUTS) cũng cho kết quả tương tự Trong số 2.880 trẻ tham gia khảo sát, có đến 77% trẻ thành thị thiếu vitamin A, con số này ở nông thôn là 90% 44% trẻ thành thị

và 69% trẻ nông thôn thiếu vitamin B1, 51% trẻ thành thị và 64% trẻ nông thôn thiếu vitamin C Ngoài ra, có hơn 50% trẻ thiếu vitamin D, và nghiêm trọng hơn là có đến 88% trẻ thành thị thiếu sắt, ở nông thôn tỷ lệ này lên đến 94%

Trang 27

Viện Dinh dưỡng nhấn mạnh: Hàng năm, Viện Dinh dưỡng thường đưa ra số liệu

về tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi theo các chỉ số: suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (tính theo cân nặng/tuổi), suy dinh dưỡng thể thấp còi (chiều cao/tuổi) và suy dinh dưỡng thể gầy còm (cân nặng/chiều cao) Đây là những con số quan trọng phản ánh chất lượng chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ Số liệu được thu thập theo một quy trình khoa học, theo nguyên tắc chọn mẫu ngẫu nhiên 30 cụm/tỉnh và toàn bộ 63 tỉnh/ thành phố của Dự

án Cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em Từ số liệu này sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách về phát triển kinh tế - xã hội của các cấp, các ngành và từng địa phương nhằm

đề ra các giải pháp can thiệp kịp thời để giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em Một trong những giải pháp quan trọng và bền vững là cần đầu tư một cách hiệu quả, đúng hướng để tăng cường hoạt động truyền thông dinh dưỡng, mở rộng kiến thức, nâng cao hiểu biết, góp phần từng bước thay đổi thái độ, hành vi chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ nhỏ, cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em và nâng cao tầm vóc con người Việt Nam

Viện Dinh Dưỡng Quốc Gia đưa ra kết quả khảo sát về tình trạng dinh dưỡng của trẻ em Việt Nam trong 8 năm qua (từ 2008 đến năm 2015): tỉ lệ bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm từ 21,2% xuống còn 14,5% Tỉ lệ thấp còi cũng giảm từ 33,9% xuống còn 24,9% Tuy nhiên với tỉ lệ này, Việt Nam vẫn là nước có tỉ

lệ suy dinh dưỡng cao trên thế giới

Biểu đồ 1.1 Diễn biến SDD trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn quốc (2008-2015)

Trang 28

1.2.4 Thừa cân - béo phì

1.2.4.1 Khái niệm thừa cân – béo phì

Thừa cân - béo phì là tình trạng tích lũy mỡ quá mức và không bình thường một cách cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ

1.2.4.2 Nguyên nhân thừa cân – béo phì

a Nguyên nhân đầu tiên phải kể đến là thực phẩm hàng ngày của trẻ

Các thức ăn hàng ngày sử dụng nhiều dầu, mỡ dễ gây béo Các loại thức ăn nhanh (Snack) thường có năng lượng và mỡ cao, mặt khác loại thức ăn này có hương

vị hấp dẫn nên dễ kích thích trẻ ăn nhiều hơn

b Yếu tố gia đình

Một số nghiên cứu đã cho thấy thừa cân, béo phì, có tính gia đình: Càng nhiều cá nhân trong gia đình bị thừa cân thì nguy cơ thừa cân của các thành viên khác trong gia đình càng cao Hiện nay đã có những bằng chứng kết luận rằng béo phì thường do yếu

tố môi trường tác động lên những cá thể có khuynh hướng di truyền

Kết quả nghiên cứu trong nước cho thấy tiền sử gia đình có béo phì là yếu tố nổi bật trong các yếu tố nguy cơ của béo phì trẻ em Nghiên cứu của Luo J và cộng sự trên 210 trẻ béo phì tại Trung Quốc cho thấy: dự trữ mỡ Cân bằng năng lượng Năng lượng ăn vào Năng lượng tiêu hao Chất béo Glucid Protein Hoạt động thể lực Tiêu hoá thức ăn Chuyển hoá cơ bản Tăng cân Cân nặng Giảm cân ổn định 17 những gia đình

có bố hoặc mẹ béo thì khả năng con béo phì cao gấp 3,7 lần so với gia đình không có

bố mẹ béo phì, nếu cả bố và mẹ cùng béo thì nguy cơ này tăng gấp 5 lần so với gia đình mà bố và mẹ không bị béo phì Cả 2 yếu tố gen và môi trường đều góp phần thúc đẩy béo phì, nhiều nghiên cứu cho rằng trẻ em không có cha mẹ béo phì thì ít hơn 10%

cơ hội trở thành béo phì khi lớn

c Yếu tố di truyền

Đáp ứng sinh nhiệt kém có thể do yếu tố di truyền và có vai trò nhất định đối với thừa cân, béo phì Những trẻ béo thường hay có cha mẹ béo, tuy vậy nhìn trên đa số cộng đồng yếu tố này không lớn

d Yếu tố kinh tế xã hội

Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ người béo phì ở tầng lớp nghèo thường thấp (thiếu ăn, lao động chân tay nặng, phương tiện đi lại khó khăn) và béo phì như là một đặc điểm của giàu có (béo tốt) ở các nước đã phát triển khi thiếu ăn không còn

Trang 29

phổ biến nữa thì tỷ lệ béo phì lại thường cao ở tầng lớp nghèo, ít học so với ở các tầng lớp trên

e Các yếu tố khác

Ngủ ít:

Yếu tố này cũng được xem như là một nguy cơ cao ở trẻ thừa cân dưới 5 tuổi nói chung và trẻ 3-4 tuổi nói riêng Nguyên nhân chưa rõ, nhưng một số tác giả cho rằng kiểu sống gia đình thiếu điều độ từ ngủ tới ăn hoặc do thiếu hoạt động thể lực tạo ra những sóng thấp trên điện não khi ngủ cũng có thể do hoạt động tiêu mỡ của cơ thể là tối đa về đêm và sự ngủ ít làm giảm tiêu mỡ nói chung

Suy dinh dưỡng thể thấp còi:

Có mối quan hệ giữa suy dinh dưỡng trước đó với thừa dinh dưỡng về sau và đó

là sự kết hợp đặc biệt nguy hiểm Người ta nhận thấy những trẻ em cân nặng khi sinh

và lúc 1 tuổi thấp thì về sau mỡ có khuynh hướng tập trung ở bụng Một công trình nghiên cứu ở trẻ em 3-6 tuổi và 7-9 tuổi ở 4 nước cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa

giữa tình trạng thấp còi (stunting) và thừa cân (overweight) (Popkin 1996)

1.2.4.3 Tác hại của thừa cân – béo phì

a Ảnh hưởng tới sức khoẻ

Béo phì đang là mối đe dọa nghiêm trọng tới sức khỏe con người Trọng lượng

dư thừa ở bất kỳ lứa tuổi nào đều không tốt cho sức khoẻ Nhiều nghiên cứu cho thấy

có sự tiến triển trực tiếp từ một trẻ béo tới một người lớn béo Người ta nhận thấy 50% phụ nữ trưởng thành mắc béo phì có béo phì ở tuổi thanh thiếu niên, 30% người lớn béo đã béo trong suốt thời kỳ trẻ em, 80% thanh thiếu niên sẽ tiếp tục béo khi trưởng thành và mức độ béo càng nghiêm trọng ở trẻ thì béo càng dai dẳng tới tuổi trưởng thành Do sự gia tăng các nguy cơ bệnh lý cộng với các yếu tố xã hội, người béo phì trung bình sẽ giảm 6 – 10 năm tuổi thọ

b Tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong

Béo phì là một trong những yếu tố nguy cơ chính của các bệnh mạn tính không lây như bệnh mạch vành, tăng huyết áp, viêm xương khớp, sỏi mật, bệnh đái tháo đường týp II không phụ thuộc insulin Béo phì thường kết hợp với tăng tỷ lệ bệnh tật

và tử vong

Béo phì thời thơ ấu có thể dẫn đến mắc bệnh mạn tính không lây như rối loạn dung nạp glucose, kháng insulin, đái tháo đường týp 2, tăng huyết áp, rối 27 loạn lipit

Trang 30

máu, gan nhiễm mỡ, rối loạn tiêu hoá, cơn ngừng thở khi ngủ và buồng trứng đa nang khi trưởng thành Đặc biệt, nếu béo phì lúc còn nhỏ tuổi sẽ có nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường týp 2, bệnh mạch vành khi lớn lên Nghiên cứu cho thấy trẻ mắc béo phì bắt đầu từ khi bé và kéo dài cho đến tuổi trưởng thành, sẽ có nguy cơ cao mắc các rối loạn trong cuộc sống

Cần quan tâm đến các hậu quả nhiều mặt của béo phì ở trẻ em Nguy cơ đầu tiên của béo phì ở trẻ em là khả năng kéo dài béo phì đến tuổi trưởng thành với các hậu quả của nó, đặc biệt là các bệnh tim mạch và tiểu đường Những nghiên cứu gần đây ở Mỹ

về thừa cân ở thanh thiếu niên đã chỉ ra: Trẻ có cân nặng/chiều cao cao, hay BMI cao

có nguy cơ gia tăng đối với một số bệnh mãn tính ở người lớn và nguy cơ tử vong tăng Các nghiên cứu theo chiều dọc cũng cho thấy BMI tăng ở thanh thiếu niên sẽ dự đoán xảy ra sớm những nguy cơ của các bệnh mãn tính, và béo phì khởi phát sớm có ảnh hưởng lớn đến bệnh tim mạch hơn là khởi phát muộn

c Đối với bệnh tim mạch

Béo phì có liên quan chặt chẽ đến bệnh tim mạch, tăng huyết áp, đột quỵ Bệnh tim bao gồm bệnh mạch vành, đột quỵ và các bệnh mạch ngoại vi Béo phì là một yếu

tố dự đoán nguy cơ của bệnh mạch vành, chỉ đứng sau tuổi và rối loạn chuyển hoá Lipit Nguy cơ này mắc cao so với những trẻ béo bụng Hơn thế nữa, tử vong do bệnh mạch vành đã tăng lên khi thừa cân, dù chỉ 10% so với trung bình

d Đối với bệnh đái tháo đường

Có mối liên quan chặt chẽ giữa béo phì và bệnh đái tháo đường không phụ thuộc Insulin Nguy cơ đái tháo đường không phụ thuộc insulin tăng lên liên 28 tục khi BMI tăng và giảm đi khi cân nặng giảm Một nghiên cứu cho thấy cứ tăng từ 5 - 8 kg thì nguy cơ đái tháo đường týp 2 tăng gấp 2 lần người không tăng cân, còn khi tăng 20 kg thì nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường týp 2 tăng gấp 4 lần Các nguy cơ đó tiếp tục tăng lên khi béo phì ở thời kỳ trẻ em và thiếu niên, tăng cân liên tục, hoặc béo bụng Khi cân nặng giảm, khả năng dung nạp glucoza tăng, sự kháng lại insulin giảm

e Đối với tăng huyết áp

Người béo phì có nguy cơ tăng huyết áp cao gấp 2,9 lần so với người không béo Tăng 7,5 mmHg huyết áp tâm trương dẫn tới tăng 29% nguy cơ bệnh mạch vành và 46% nguy cơ đột quỵ Béo phì ở trẻ em có thể gây tăng huyết áp, tăng nguy cơ béo phì

và tăng huyết áp khi trẻ trưởng thành

Trang 31

f Đối với rối loạn lipit máu

Béo phì có liên quan với rối loạn lipit máu bao gồm tăng triglycerid, tăng cholesterol và LDL Khi các acid béo không được sử dụng sẽ tập hợp ở mô mỡ Tại các mô mỡ này, các acid béo kết nối tạo thành triglycerid Khi lượng triglycerid quá nhiều sẽ tràn vào máu gây triglycerid máu cao Khi tập thể dục, các triglycerid phân huỷ thành các acid béo vào máu và đi đến cơ để đốt cháy tạo năng lượng Quá trình đốt cháy này sẽ làm giảm lượng triglycerid ở mô mỡ và trong máu Nhiều nghiên cứu cho thấy các rối loạn lipit máu cũng có thể trở về bình thường sau khi giảm cân

g Đối với hội chứng chuyển hoá

Hội chứng chuyển hoá bao gồm ba hay nhiều hơn các dấu hiệu sau:

- Dung nạp glucose kém

- Tăng huyết áp

- Tăng triglycerid máu và giảm HDL - C

- Kháng insulin

+ Béo trung tâm

Béo phì làm tăng nguy cơ mắc hội chứng chuyển hoá như tăng nguy cơ tăng huyết áp, tăng triglycerid máu đồng thời cũng làm tăng nguy cơ giảm dung nạp glucose Béo phì ở trẻ em làm tăng nguy cơ mắc bệnh béo phì và các bệnh mãn tính không lây dẫn đến hội chứng chuyển hoá ở người trưởng thành

h Biến chứng gan

Các biến chứng gan ở trẻ em béo phì đã được đưa ghi nhận, đặc biệt đặc tính nhiễm mỡ gan và triệu chứng tăng men gan (transaminase huyết thanh)

i Gây nên các hậu quả

- Ảnh hưởng tới kinh tế xã hội: Là những chi phí dành cho việc chữa trị bệnh và các bệnh liên quan

- Mất thoải mái trong cuộc sống và hay quấy khóc: Trẻ nhỏ thường có cảm giác bức bối khó chịu về mùa hè do lớp mỡ dày đã trở thành một hệ thống cách nhiệt Trẻ béo phì cũng thường xuyên cảm thấy mỏi mệt, hay quấy khóc

- Béo phì ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý xã hội: Trẻ béo phì thường bị bạn

bè trêu chọc, dẫn đến tâm lý tự ti, cô độc, thậm chí có những biểu hiện tiêu cực như coi thường bản thân Các tổn thương tâm lý này nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời sẽ kéo dài đến tuổi trưởng thành làm cho trẻ trở nên khó hoà nhập cộng đồng,

Ngày đăng: 25/07/2017, 23:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y tế (2012), Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2010 - 2020, tầm nhìn đến 2030, Ban hành kèm theo Quyết định số 226/QĐ/Ttg, ngày 22/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2010 - 2020, tầm nhìn đến 2030
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2012
2. Nguyễn Thị Cự (2011), Nghiên cứu tác động của bổ sung kẽm đến tình trạng mắc bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp và tiêu chảy của trẻ dưới 5 tuổi bị SDD tại xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế, Tạp chí Y Dược học, số 02/2011, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác động của bổ sung kẽm đến tình trạng mắc bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp và tiêu chảy của trẻ dưới 5 tuổi bị SDD tại xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế
Tác giả: Nguyễn Thị Cự
Năm: 2011
3. Nguyễn Hoàng Linh Chi, (2011), Tình trạng dinh dưỡng, nhiễm giun và một số yếu tố liên quan của trẻ em 12-36 tháng tuổi tại huyện Đakrông tỉnh Quảng Trị, Khóa luận tốt nghiệp bác sĩ khoa, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng, nhiễm giun và một số yếu tố liên quan của trẻ em 12-36 tháng tuổi tại huyện Đakrông tỉnh Quảng Trị
Tác giả: Nguyễn Hoàng Linh Chi
Năm: 2011
4. Đinh Đạo (2014), Nghiên cứu thực trạng và kết quả can thiệp phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc thiểu số tại huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam, Đại học Y Dược – Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng và kết quả can thiệp phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc thiểu số tại huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam
Tác giả: Đinh Đạo
Năm: 2014
5. Nguyễn Thanh Hà (2011), Hiệu quả bổ sung kẽm và sprinkles đa vi chất trên trẻ 6-36 tháng tuổi suy dinh dưỡng thấp còi tại huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, Luận án tiến sĩ dinh dưỡng cộng đồng, Viện Dinh dưỡng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả bổ sung kẽm và sprinkles đa vi chất trên trẻ 6-36 tháng tuổi suy dinh dưỡng thấp còi tại huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Nguyễn Thanh Hà
Năm: 2011
6. Nguyễn Thị Như Hoa (2011), Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của trẻ em dưới 5 tuổi huyện Yên Thủy tỉnh Hòa Bình, Khóa luận tốt nghiệp bác sĩ y khoa, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của trẻ em dưới 5 tuổi huyện Yên Thủy tỉnh Hòa Bình
Tác giả: Nguyễn Thị Như Hoa
Năm: 2011
7. Phạm Văn Hoan, Nguyễn Thanh Hà, Nguyễn Xuân Ninh (2010), Sử dụng Sprinkles trong phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng trẻ em, Tạp chí Dinh dưỡng và thực phẩm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng Sprinkles trong phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng trẻ em
Tác giả: Phạm Văn Hoan, Nguyễn Thanh Hà, Nguyễn Xuân Ninh
Năm: 2010
8. Lê Thị Hợp, Trần Thị Lụa, Hà Huy Tuệ, Đỗ Thị Phương Hà và cộng sự (2011), Hiệu quả của bổ sung sữa giàu năng lượng PediaPlus đến tình trạng dinh dưỡng và vi chất dinh dưỡng của trẻ em 36-72 tháng tuổi vùng nông thôn, Tạp chí Dinh dưỡng và thực phẩm, tập 7, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả của bổ sung sữa giàu năng lượng PediaPlus đến tình trạng dinh dưỡng và vi chất dinh dưỡng của trẻ em 36-72 tháng tuổi vùng nông thôn
Tác giả: Lê Thị Hợp, Trần Thị Lụa, Hà Huy Tuệ, Đỗ Thị Phương Hà và cộng sự
Năm: 2011
9. GS.TS. Lê Thị Hợp, TS. Trương Tuyết Mai, Một vài nét về đề tài cấp nhà nước nghiên cứu thực trạng và các giải pháp can thiệp giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em Việt Nam, Tạp chí Dinh dưỡng và thực phẩm, số 3 – tập 10 – tháng 9 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài nét về đề tài cấp nhà nước nghiên cứu thực trạng và các giải pháp can thiệp giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em Việt Nam
10. Nguyễn Đỗ Huy, Lê Thị Hợp, Lê Danh Tuyên, Nguyễn Đức Vinh (2010), Tình hình cân nặng sơ sinh và một số vấn đề liên quan ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Y học thực hành số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình cân nặng sơ sinh và một số vấn đề liên quan ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Đỗ Huy, Lê Thị Hợp, Lê Danh Tuyên, Nguyễn Đức Vinh
Năm: 2010
11. Vũ Thị Thanh Hương (2010), Đặc điểm tăng trưởng và hiệu quả bổ sung sản phẩm giàu dinh dưỡng trên trẻ từ sơ sinh đến 24 tháng tuổi tại huyện Sóc Sơn, Hà Nội, Tóm tắt luận án tiến sĩ dinh dưỡng cộng đồng, Viện Dinh dưỡng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm tăng trưởng và hiệu quả bổ sung sản phẩm giàu dinh dưỡng trên trẻ từ sơ sinh đến 24 tháng tuổi tại huyện Sóc Sơn, Hà Nội
Tác giả: Vũ Thị Thanh Hương
Năm: 2010
12. Trần Thị Lan (2013), Hiệu quả của bổ sung đa vi chất dinh dưỡng và tẩy giun ở trẻ em 12-36 tháng tuổi suy dinh dưỡng thấp còi người dân tộc Vân Kiều và Pakoh huyện Đakrong, tỉnh Quảng Trị, Luận án tiến sĩ dinh dưỡng cộng đồng, Viện Dinh dưỡng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả của bổ sung đa vi chất dinh dưỡng và tẩy giun ở trẻ em 12-36 tháng tuổi suy dinh dưỡng thấp còi người dân tộc Vân Kiều và Pakoh huyện Đakrong, tỉnh Quảng Trị
Tác giả: Trần Thị Lan
Năm: 2013
13. Hồ Thu Mai, Phạm Thị Thúy Hòa và CS (2010), Hiệu quả của Ferlin lên tình trạng thiếu máu dinh dưỡng ở trẻ 6-23 tháng tại một số xã huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, Tạp chí Y học thực hành, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả của Ferlin lên tình trạng thiếu máu dinh dưỡng ở trẻ 6-23 tháng tại một số xã huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Hồ Thu Mai, Phạm Thị Thúy Hòa và CS
Năm: 2010
14. Dương Công Minh và cộng sự (2010), Hiệu quả của mô hình thử nghiệm can thiệp phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ dưới 5 tuổi tại một xã thuộc thành phố Hồ Chí Minh (từ tháng 9/2008 đến tháng 10/2009), Tạp chí Dinh dưỡng và thực phẩm, tập 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả của mô hình thử nghiệm can thiệp phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ dưới 5 tuổi tại một xã thuộc thành phố Hồ Chí Minh (từ tháng 9/2008 đến tháng 10/2009)
Tác giả: Dương Công Minh và cộng sự
Năm: 2010
15. Nguyễn Xuân Ninh, Nguyễn Thanh Hương, Phạm Thị Ngần, Nguyễn Anh Tuấn, Đặng Trường Duy, Lê Danh Tuyên (2010), Thiếu vitamin A tiền lâm sàng, thiếu máu ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam-năm 2008, Tạp chí Dinh dưỡng và thực phẩm, tập 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiếu vitamin A tiền lâm sàng, thiếu máu ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam-năm 2008
Tác giả: Nguyễn Xuân Ninh, Nguyễn Thanh Hương, Phạm Thị Ngần, Nguyễn Anh Tuấn, Đặng Trường Duy, Lê Danh Tuyên
Năm: 2010
16. Phan Bích Nga (2012), Thiếu vi chất dinh dưỡng ở mẹ và con và hiệu quả bổ sung đa vi chất trên trẻ suy dinh dưỡng bào thai tại bệnh viện Phụ sản Trung ương, Luận án tiến sĩ dinh dưỡng cộng đồng, Viện Dinh dưỡng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiếu vi chất dinh dưỡng ở mẹ và con và hiệu quả bổ sung đa vi chất trên trẻ suy dinh dưỡng bào thai tại bệnh viện Phụ sản Trung ương
Tác giả: Phan Bích Nga
Năm: 2012
17. Trần Thị Xuân Ngọc, Trần Thị Phúc Nguyệt, Nguyễn Văn Hiến, Phạm Duy Tường (2011), Hiệu quả truyền thông giáo dục dinh dưỡng phòng chống thừa cân, béo phì ở trẻ em từ 6 đến 14 tuổi tại một số trường tiểu học và trung học cơ sở ở Hà Nội, Tạp chí dinh dưỡng và thực phẩm, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả truyền thông giáo dục dinh dưỡng phòng chống thừa cân, béo phì ở trẻ em từ 6 đến 14 tuổi tại một số trường tiểu học và trung học cơ sở ở Hà Nội
Tác giả: Trần Thị Xuân Ngọc, Trần Thị Phúc Nguyệt, Nguyễn Văn Hiến, Phạm Duy Tường
Năm: 2011
18. Nhiều tác giả, Tình trạng dinh dưỡng trẻ em 6-59 tháng tuổi ở 4 xã miền núi huyện Bắc Hà, tỉnh Lào cai năm 2013, Tạp chí Dinh dưỡng và thực phẩm, số 3 – tập 10 – tháng 9 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng trẻ em 6-59 tháng tuổi ở 4 xã miền núi huyện Bắc Hà, tỉnh Lào cai năm 2013
19. Nhiều tác giả, Tình trạng dinh dưỡng và phát triển tâm vận động của trẻ dưới 6 tuổi ở 3 khu vực nông thôn, thành thị và miền núi phía bắc năm 2012, Tạp chí Dinh dưỡng và thực phẩm, số 4 – tập 10 – tháng 12 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng và phát triển tâm vận động của trẻ dưới 6 tuổi ở 3 khu vực nông thôn, thành thị và miền núi phía bắc năm 2012
20. Đặng Oanh, Viên Chinh Chiến, Phạm Thọ Dược, Tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi tại một số khu tái định cư vùng di dân lòng hồ thủy điện ở khu vực Tây Nguyên năm 2012, Tạp chí Dinh dưỡng và thực phẩm, số 1 – tập 10 – tháng 4 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi tại một số khu tái định cư vùng di dân lòng hồ thủy điện ở khu vực Tây Nguyên năm 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w