Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học Việt Nam (xuất bản năm 2006) định nghĩa: Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử Trong Hán Việt từ điển: Di là sót lại, rơi lại, để lại; Tích là tàn tích, dấu vết Di tích là những bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng, minh chứng về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Di tích giúp cho con người biết được cội nguồn của dân tộc mình, hiểu về truyền thống lịch sử, đặc trưng văn hoá của đất nước và do đó có tác động ngược trở lại tới việc hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại.
Trang 1ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử
Trong Hán Việt từ điển: Di là sót lại, rơi lại, để lại; Tích là tàn tích, dấu vết
Di tích là những bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng, minh chứng về lịch sửđấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Di tích giúp cho con người biết được cộinguồn của dân tộc mình, hiểu về truyền thống lịch sử, đặc trưng văn hoá của đất nước và
do đó có tác động ngược trở lại tới việc hình thành nhân cách con người Việt Nam hiệnđại
Di tích chứa đựng những giá trị kinh tế to lớn (trị giá nhiều ngàn tỷ đồng) nếu bịmất đi không đơn thuần là mất tài sản vật chất, mà là mất đi những giá trị tinh thần lớnlao không gì bù đắp nổi Đồng thời, di tích còn mang ý nghĩa là nguồn lực cho phát triểnkinh tế, một nguồn lực rất lớn, sẵn có nếu được khai thác, sử dụng tốt sẽ góp phần khôngnhỏ cho việc phát triển kinh tế đất nước và nó càng có ý nghĩa to lớn khi đất nước đangrất cần phát huy tối đa nguồn nội lực để phát triển
Hệ thống di tích Việt Nam được phân thành 4 loại hình cơ bản là di tích lịch sử, ditích kiến trúc - nghệ thuật, di tích khảo cổ và danh lam thắng cảnh
- Di tích lịch sử văn hóa
Di tích lịch sử - văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảovật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học Di tíchlịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:
+ Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trìnhdựng nước và giữ nước Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như đền Hùng, Cổ Loa, Cố
đô Hoa Lư,
Trang 2+ Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dântộc, danh nhân của đất nước Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như Khu di tích lịch sửKim Liên Đền Kiếp Bạc
+ Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời
kỳ cách mạng, kháng chiến Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như Khu di tích chiếnthắng Điện Biên Phủ, Địa đạo Củ Chi, Khu di tích lịch sử cách mạng Pắc Bó, Khu rừngTrần Hưng Đạo
Pháp lệnh di tích lịch sư năm 1984 lần đầu tiên đã đưa ra khai niệm ve di tích lích
sư, văn hóa và danh lam thắng canh Theo đó, di tích lịch sử, văn hóa được hiểu như sau:
Di tích lịch sử, văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu vàtác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học nghệ thuật, giá trị văn hóa hoặc có liên quan đếnnhững sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội; Như vậy, pháp luật quan niệm
di tích lịch sử là những di tích có giá trị về mặt lịch sử, văn hoá, khoa học, nghệ thuật vàliên quan đến quá trình phát triển văn hoá, xã hội của đất nước
Tiếp đó, khái niệm di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh được Luật disản văn hóa năm 2002 tiêp cận dươi khía cạnh là một thành tô của phạm trù di sản vănhóa và được hiểu như sau: Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm
có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm
mỹ, khoa học (Điều 4) So sánh với khái niệm về di tích lịch sử, văn hoá và danh lamthắng cảnh được đề cập trong Pháp lệnh di tích lịch sứ năm 1984 thì khái niệm di tíchlịch sử, văn hoá dược xác định trong Luật di sản văn hoá mang tính bao quát, đầy đủ hơn.Điều này được thể hiện ở những khía cạnh sau:
+Thứ nhất, khái niệm di tích lịch sử, văn hoá được quy định khái quát và đầy đủhơn trong Luật di sản văn hoá Di tích lịch sử, văn hoá không chỉ là những công trình xâydựng, địa điểm mà còn bao gồm các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia của công trình, địađiểm đó
+ Thứ hai, khái niệm danh lam thắng cảnh được Luật di sản văn hoá xác định trênhai phương diện: “định tính” (có giá trị về mặt thẩm mỹ) và “định lượng” (có giá trị lịch
Sử khoa học) Như vậy, lần đầu tiên Luật di sản văn hoá tiếp cận khái niệm danh lam
Trang 3thắng cảnh trong mối quan hệ hài hòa giữa cảnh quan thiên nhiên và công trình kiến trúc
- sải phẩm sáng tạo của con người
Tóm lại, khái niệm di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh được Luật disản văn hóa đề cập phù hợp với các huy định về di sản văn hóa của Tổ chức giáo dục,khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) và phù hợp với đòi hỏi của công tácquản lý nhà nước về bảo vệ di sán văn hóa trong thời kỳ "công nghiệp hóa, hiện đại hóa"đất nước hiện nay
Trong các cuốn Đại từ điển tiếng Việt, di tích lịch sử văn hóa được hiểu là tổng thểnhững công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị vănhóa được lưu lại Luật di sản văn hóa được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 18 tháng 5 năm 2009 nêu rõ: Di tíchlịch sử - văn hóa là:
+Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốcgia hoặc của địa phương; thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhânvật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phươngtrong các thời kỳ lịch sử
+Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu
+Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị vàđịa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệthuật
- Quản lý
Thuật ngữ quản lý được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trên cơ sở nhữngcách tiếp cận khác nhau
Từ điển tiếng Việt (2005): Đặt quản lý trong vai trò một động từ và định nghĩa:
“Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định: là tổ chức và điều khiểncác hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [4, 800]
G.KH.PôPôp cho rằng quản lý là chiếc đòn bẩy để xã hội loài người phát triển.Ông nói: “quản lý là một yếu tố không thể thiếu của đời sống chúng ta Loài người khôngthê phát triển, nếu không giảm bớt tốc độ bất định, không nâng cao tính tổ chức, không
Trang 4dùng chiếc đòn bây là quản lý”.
Các nhà khoa học quản lý khẳng định “ hạt nhân của quản lý là con người và quản
lý con người thực chất là xác định vị trí của mỗi con người trong xã hội, quy định cácchức năng, quyền hạn, nghĩa vụ cùng vai trò xã hội của họ” [28]
Quản lý là một hoạt động tất yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhânnhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của các nhà quản lý là nhằm hình thànhmột môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thờigian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất “ [24] Quản lý là một quá trình tácđộng gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêuchung” [3]
Quản lý là tổng thẻ những hoạt động (thao tác) do con người, chủ thế của quản lýthực hiện đối với khách thể, nhằm cải tạo khách thể, đảm bảo cho nó vận động đi tới mộtmục tiêu đã định” [53]
“Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tố chức, hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lựccủa các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt đượcnhững mục tiêu cụ thể” “Quản lý một cách khoa học bao giờ cũng là sự tác động có mụcđích tới một hệ thống thê chế xã hội cụ thể, dù đó là xã hội CNXH nói chung, của nềnkinh tế hay của những ngành kinh tế, từng tập thể lao động ”.[3]
Henri Fayol (1841-1925), người Pháp, người đặt nền móng cho lý luận tổ chức cổđiển cho rằng: “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”.Khái niệm này xuất phát từ sự khái quát về các chức năng của quản lý
Quản lý là tổng thẻ những hoạt động (thao tác) do con người, chủ thế của quán lýthực hiện đối với khách thể, nhằm cải tạo khách thể, đảm bảo cho nó vận động đi tới mộtmục tiêu đã định”[9]
Quản lý là một tập hợp các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tracác quá trình tự nhiên, xã hội, khoa học, kỹ thuật và công nghệ để chúng phát triển hợpquy luật, các nguồn lực (hiện hữu và tiềm năng) vật chất và tinh thần, hệ thống tổ chức vàcác thành viên thuộc hệ thống, các hoạt động để đạt được các mục đích đã định (PhanVăn Kha, 2007 ” Gíao trình Quản lý nhà nước về giáo dục” nhà xuất bản Đại học Quốc
Trang 5gia Hà Nội) Các nhà khoa học quản lý khẳng định “ hạt nhân của quản lý là con người vàquản lý con người thực chất là xác định vị trí của mỗi con người trong xã hội, quy địnhcác chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ cùng vai trò xã hội của họ”.[8]
Nguyễn Ngọc Quang cho rằng quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch củathể quản lý dẫn đến tập thể những người lao động nhằm thực hiện những mục tiêu dựkiến Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của cácthành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt đượccác mục đích đã định.[14] Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng “Quản lý là sự tácđộng liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằinduy trì tính trồi của hệ thống, sử dụng một cách tốt nhất các tiềm năng, các cơ hội của
hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện môitrường luôn biến động”.[20]
Dựa trên sự phân tích các đặc trưng của quản lý, tác giả Hà Sỹ Hồ cho rằng:
“Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động
có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho
sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định”[33]
Ngày nay, mặc dù thuật ngữ quản lý đã trở lên phổ biến nhưng chưa có một địnhnghĩa nào thống nhất Tuy nhiên với tư cách là một họat động, có thể định nghĩa: Quản lý
là sự tác động vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật vào hệ thống con người,nhằm đạt các mục tiêu kinh tế- xã hội Quản lý là một quá trình tác động có định hướng,
có tổ chức dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho
sự vận hành của đối tượng được ổn định và phát triển tới mục tiêu đã định[9] Hiểu mộtcách ngắn gọn thì quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lýđến khách thể quản lý (tập thể những người lao động) nhằm thực hiện mục tiêu đề ra.Quản lý có 4 chức năng cơ bản: Lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra Trong bốnchức năng trên thì lập kế hoạch là nền tảng của quản lý; chức năng tổ chức là công cụ;chức năng lãnh đạo là quá trình tác động điều hành; phấn đấu đạt được các mục tiêu của
tổ chức; chức năng kiểm tra là đánh giá kết quả của việc thực hiện các mục tiêu của tổ
Trang 6chức nhằm tìm ra những mặt ưu điểm, hạn chế để điều chỉnh việc lập kế hoạch, tổ chức
và lãnh đạo
H.1.1: Sơ đồ thể hiện khái niệm về quản lý
- Quản lý trong lĩnh vực di tích lịch sử,văn hóa
Quản lý trong lĩnh vực di tích lịch sử, văn hóa là mối tương tác giữa chủ thể quản
lý trong lĩnh vực văn hóa lên đối tượng quản lý của lĩnh vực văn hóa nhằm thực hiện mộtđịnh hướng nào đó của văn hóa
Các góc độ và tầm của cơ chế quản lý nhà nước về lĩnh vực di tích lịch sử, vănhóa Góc và tầm của cơ chế quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa là phạm vi ảnh hưởngcủa hệ thống tác động mà chủ thể quản lý tạo nên để điều khiển đối tượng quản lý Vớiquan niệm như vậy về tầm và góc độ của quản lý trong lĩnh vực văn hóa có thể thấ các cơchế sau đây:
+ Cơ chế vĩ mô: Đó là sự tác động đồng thời của nhiều nguyên tắc quản lý Chẳnghạn trong quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa, có nhiều nguyên tắc cần phải tuân thủđồng thời Nguyên tắc kết hợp quản lý nhà nước theo ngành, theo lãnh thổ tạo ra haituyến quản lý, mỗi tuyến giải quyết được một vấn đề quan trọng nhất định, đồng thời nảysinh ra những vấn đề khác cần giải quyết khiến tuyến kia cần thực hiện giải quyết vấn đề
+ Cơ chế trung mô: Đó là sự tác động đồng thời của nhiều phương thức quản lý Ví
dụ, trong quản lý nhà nước về văn hóa thường áp dụng đồng thời các phương thức cưỡng
Khách thểquản lý
Trang 7chế, khuyến khích, động viện, thuyết phục Mỗi phương thức trên chỉ có thể giải quyếtđược một khía cạnh của vấn đề cần giải quyết, chỉ áp dụng được trong một số trườnghợp Vì vậy, trong quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa phải đồng thời áp dụng tất cảnhững phương thức trên.
+ Cơ chế vi mô: Là sự tác động đồng thời của nhiều biện pháp quản lý Chẳng hạn:trong quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa có sử dụng nhiều biện pháp, công cụ quản lýnhư chính sách, quy định, hỗ trợ…Sự tác động đồng thời các biện pháp sẽ tạo điều kiệnthuận lợi, hỗ trợ giải quyết vấn đề đạt kết quả cao
Quản lý nhà nước về văn hoá là hoạt động của bộ máy nhà nước trong lĩnh vựchành pháp nhằm giữ gìn, xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam (1) Hay nói cáchkhác, quản lý nhà nước về văn hoá là quản lý các hoạt động văn hoá bằng chính sách vàpháp luật (2)
Hoạt động quản lý nhà nước về văn hoá bao gồm các mảng cơ bản sau:
+ Quản lý nhà nước đối với văn hoá nghệ thuật;
+ Quản lý nhà nước đối với văn hoá - xã hội;
+ Quản lý nhà nước đối với di sản văn hoá
1.1.2 Nội dung chủ yếu công tác quản lý di tích
Hoạt động quản lý nhà nước về văn hoá bao gồm những nội dung sau:
+ Hoạt động xây dựng, ban hành các chính sách và văn bản pháp luật về văn hoáChính sách văn hoá được hiểu là tổng thể những nguyên tắc thể hiện tư tưởng chủđạo của Nhà nước về đường lối, phương hướng xây dựng và phát triển nền văn hoá.Chính sách văn hoá đặt ra các nguyên tắc chung của sự nghiệp phát triển văn hoá phù hợpvới mục tiêu phát triển văn hoá chung của đất nước
Các chính sách về quản lý và phát triển văn hoá hiện nay có thể kể đến: sáng tạocác giá trị văn hoá; bảo tồn, phát huy tài sản văn hoá; phát triển văn hoá cơ sở; giao lưuvăn hoá quốc tế; hiện đại hoá kỹ thuật và phương thức sản xuất, phân phối sản phẩm vănhoá; đào tạo, phát triển đội ngũ trí thức, văn nghệ sỹ; đảm bảo ngân sách, điều kiện pháp
lý cho phát triển văn hoá; nâng cao tính tự quản và phân cấp quản lý văn hoá
Trang 8Chính sách văn hoá có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về vănhoá song chính sách văn hoá không thể thay thế pháp luật Nhà nước ban hành các vănbản pháp luật về văn hoá nhằm phát huy tác dụng của văn hoá tới sự hình thành nhâncách, nâng cao chất hượng cuộc sống tinh thần của con người.
Chẳng hạn: Trong quản lý nhà nước về văn hoá nghệ thuật, nhà nước ban hành cácchính sách phát triển văn hoá sâu rộng trong quần chúng nhân dân, phát huy khả năngsáng tạo Hay, nhà nước còn thực hiện chính sách bảo trợ vật chất ở mức độ khác nhaucho những loại hình văn hoá nghệ thuật không tự tồn tại và phát triển trong quan hệ kinh
tế thị trường như sân khấu tuồng cổ, nghệ thuật chèo… Tuy nhiên, để tạo điều kiện chomọi công dân có quyền bình đẳng trong nghiên cứu khoa học kỹ thuật và sáng tạo nghệthuật thì phải được quy định rõ trong luật Cụ thể, Điều 60 Hiến pháp 1992 quy định:
“Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cảitiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật… Nhà nước bảo
hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp”…; Trong quản lý nhà nước về văn hoá – xãhội, nhà nước ban hành các chính sách nhằm ổn định trật tự xã hội, giữ gìn những nét đẹpcủa văn hoá truyền thống, xây dựng nếp sống văn hoá mới… Bên cạnh đó cũng ban hànhnhiểu văn bản pháp luật quy định những khuôn mẫu ứng xử trong xã hội như Nghị định
số 87/2001/NĐ-CP ngày 21/11/2001 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hônnhân gia đình; hay Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễhội do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 25/11/2005…; Trong quản lý nhà nước về disản văn hoá: nhà nước ban hành các chính sách và pháp luật để phát triển sự nghiệp bảo
vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá Luật Di sản văn hoá năm 2001 là một văn bản pháp
Trang 9Hoạt động này bao gồm các công việc như đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; xây dựng vàchỉ đạo quy hoạch, kế hoạch; ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp quy; hướngdẫn, tuyên truyền; thẩm định; cấp giấy phép, giấy chứng nhận… Đây là những hoạt độngtrên thực tế để thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về văn hoá theo mục đích vànhiệm vụ đã đặt ra.
Ngoài ra, hoạt động đầu tư tài chính cho văn hoá cũng đóng vai trò đặc biệt quantrọng Trong đầu tư tài chính cho văn hoá, xuất phát từ vấn đề quan tâm đến phát triểnnguồn nhân lực nên nhà nước chú trọng đầu tư ngân sách cho giáo dục Đẩu tư cho hoạtđộng văn hoá với tư cách là đầu tư cho hoạt động sản xuất cần được tính toán đến hiệuquả, cần xem văn hoá cũng làm ra lợi nhuận cho nhà nước, cho nhân dân, đồng thời cũngcần tận dụng cơ chế thị trường cho sự phát triển văn hoá đúng hướng
+Hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực văn hoá
Đây là một hoạt động có vai trò quan trọng của công tác quản lý nhà nước về vănhoá, sự tác động trực tiếp của cơ quan kiểm duyệt và thanh tra có vai trò đặc biệt quantrọng Bởi vì văn hoá có mối quan hệ trực tiếp với chính trị, nó có tác động trực tiếp đến
sự hình thành và phát triển nhân cách con người
Trong xu hướng xã hội hoá văn hoá hiện nay, các tác động tiêu cực nảy sinh ngàycàng nhiều, vì vậy, hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý cần phải được quan tâm thựchiện một cách nghiêm túc, có kế hoạch phối hợp tổ chức hoạt động một cách chặt chẽ vớicác bộ, ngành khác Như vậy mới có khả năng thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ màcông tác quản lý nhà nước về văn hoá đã đề ra
Di tích lịch sử văn hóa là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa dân tộc, vì vậy
có thể hiểu: Quản lý di tích lịch sử văn hóa chính là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức,điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các di tích, làm cho các giá trị của di tích được phát huytheo chiều hướng tích cực Việc quản lý di tích được thực hiện bởi các chủ thể quản lý(cơ quan quản lý, cộng đồng có di tích…) tác động bằng nhiều cách thức khác nhau đếnđối tượng quản lý (các di tích) nhằm gìn giữ, bảo vệ và khai thác các giá trị của di tíchphục vụ sự phát triển xã hội, đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần cho cộng đồng
Trang 10Sự cần thiết phải đổi mới công tác quản lý lĩnh vực văn hóa: Do đối tượng quản lýcủa nhà nước đã thay đổi trên nhiều phương diện khác nhau của lĩnh vực văn hóa, cụ thể
là công tác hỗ trợ, tu bổ, tôn tạo di tích Mặt khác, do môi trường quản lý nhà nước vềlĩnh vực này đã có nhiều thay đổi, ví dụ như thời đại môi trường hội nhập văn hóa, xã hộihóa văn hóa, tác động, ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước… Những thay đổi trên khiến nhà nước phải thay đổi cách bố trí các yếu tốcấu thành các hệ thống tác động vào đối tượng
Bên cạnh đó, những tồn tại, hạn chế trong cơ chế quản lý tôn tại, tu bổ, bảo tồn ditích hiện nay ở Việt Nam còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập Những chính sách, hành langpháp lý quản lý liên quan tới lĩnh vực này còn chồng chéo, bộc lộ nhiều khó khăn trongquá trình thực hiện trên thực tế Điều này làm ảnh hưởng không nhỏ tới cảnh quan, giátrị, …của di tích lịch sử văn hóa
Công tác tu bổ, tôn tạo di tích hiện phải tuân thủ các quy định về di sản văn hóa,xây dựng, đầu tư công và nhiều nghị định, thông tư chuyên ngành Không thể phủ nhận
là, sau khi hệ thống quy phạm pháp luật từng bước hoàn thiện, di tích được bảo tồn, pháthuy giá trị tốt hơn, “phong trào” làm mới di tích giảm hẳn Chỉ tiếc rằng, một số quy địnhkhông phù hợp với tình hình thực tế, lại chồng chéo, vênh nhau, khiến cho công tác tu bổ,tôn tạo di tích vẫn chồng chất bất cập
Ngoài các luật, việc tiến hành các dự án tu bổ, tôn tạo di tích được quy định rõnhất tại Nghị định số 70/2012/NĐ-CP, ngày 18-9-2012 của Chính phủ về thẩm quyền,trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử -văn hóa, danh lam thắng cảnh (Nghị định 70) và Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL,ngày 28-12-2012 của Bộ VH-TT&DL (Thông tư 18) hướng dẫn thực hiện Nghị định 70.Điểm nổi bật của các quy định chuyên ngành này là hồ sơ dự án tu bổ di tích cần thựchiện qua 3 bước: Thỏa thuận, phê duyệt chủ trương; thẩm định, phê duyệt hồ sơ dự án vàthỏa thuận, phê duyệt hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công thay vì chỉ có báo cáo kinh tế - kỹthuật như trước đây Trước khi thi công, chủ đầu tư các dự án phải xin ý kiến cộng đồng,chỉ khi nào cộng đồng ủng hộ thì dự án mới được triển khai Đặc biệt, người đảm nhận vịtrí chủ chốt trong quá trình thi công, tu bổ di tích bắt buộc phải có chứng chỉ hành nghề
Trang 11do các đơn vị chuyên môn đào tạo, chứng nhận Việc thắt chặt các quy định đã góp phầnnâng cao chất lượng của hoạt động tu bổ di tích, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệmcủa cộng đồng về di tích, ngăn chặn nguy cơ làm sai lệch di tích…
Bên cạnh những điểm hợp lý, sau hơn 3 năm đi vào cuộc sống, Nghị định 70 vàThông tư 18 bộc lộ không ít hạn chế Cụ thể, quy định chi tiết về hồ sơ đề nghị thỏa thuậnchủ trương lập dự án, báo cáo kinh tế - kỹ thuật tu bổ di tích chưa có; thời hạn thỏa thuận,phê duyệt các dự án kéo dài, gây ra khó khăn không đáng có đối với các dự án tu bổ, tôntạo di tích, nhất là các di tích cần tu bổ cấp bách Đáng nói hơn, một số nội dung liênquan đến công tác tu bổ, tôn tạo di tích của Nghị định số 59/NĐ-CP, ngày 18-6-2015 vềquản lý dự án đầu tư xây dựng (Nghị định 59), ra đời sau Nghị định 70 gần 3 năm, lạimâu thuẫn với Nghị định 70 Theo Nghị định 70, các dự án gia cố, sửa chữa nhỏ hoặcxây dựng các công trình mới phục vụ việc phát huy giá trị di tích có tổng mức đầu tư hơn
15 tỷ đồng mà không làm ảnh hưởng đến yếu tố gốc cấu thành di tích thì chủ đầu tư chỉphải lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật; nhưng theo Nghị định 59, chủ đầu tư phải thực hiệnrất nhiều quy trình Đáng nói hơn, dự án tu bổ di tích tại địa bàn có di tích quốc gia đặcbiệt, được xem là các dự án quan trọng (nhóm A), thuộc quyền thẩm định của các cơquan chuyên môn thuộc Bộ Xây dựng đã tạo ra “rào cản” cho các địa phương trong quátrình quản lý, tu bổ di tích… Thiết nghĩ, đề nghị các cơ quan chức năng cần làm rõ kháiniệm di tích quốc gia đặc biệt, tạo điều kiện cho di tích được tu bổ kịp thời, đúng hướng.Căn cứ các quy định hiện hành, việc sửa chữa, tu bổ một công trình nhà cổ cũng phảithực hiện đầy đủ thủ tục của một dự án quan trọng Thử hỏi, mấy người dân đủ hiểu biết
và kiên nhẫn để tuân thủ đầy đủ các quy định khi chỉ sửa chữa một hạng mục nhỏ nào đótrong ngôi nhà của mình? Trong trường hợp hồ sơ dự án tu bổ di tích nhà cổ gửi về BộVH-TT&DL và Bộ Xây dựng mà hai Bộ có ý kiến khác nhau thì địa phương biết xử lýthế nào cho đúng?
Đã đến lúc những mâu thuẫn, bất cập trong các quy định hiện hành về tu bổ, tôntạo di tích cần được sửa đổi, bổ sung, tạo điều kiện cho công tác quản lý và phát huy giátrị di tích một cách hiệu quả
1.2 Cơ sở chính trị, pháp lý
Trang 121.2.1 Cơ sở chính trị
Do tính chất, tầm quan trọng của công tác quản lý về bảo tồn, tu bổ, tôn tạo di tíchlịch sử văn hóa đối với sự phát triển kinh tế cũng như giá trị tinh thần, lịch sử của di tíchLSVH Trong những năm qua, Đảng ta luôn chú trọng đổi mới cơ chế quản lý đối vớilĩnh vực này Thông qua các Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng qua cácnhiệm kỳ, Nghị quyết đại hội Đảng bộ các cấp…thể hiện quan điểm của Đảng, là địnhhướng chính trị cho công tác quản lý, tu bổ, tôn tạo di tích LSVH
- Các Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam khóa
X, XI, XII Các Nghị quyết các ký Đại hội đều nhấn mạnh nội dung đổi mới cơ chế quản
lý nhà nước là nhiệm vụ trọng tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đảng Những nộidung của Nghị quyết Đại hội Đảng là cơ sở chính trị quan trọng cho đường lối đổi mới cơchế quản lý của nhà nước trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có công tác bảo tồn DSVH:
+ Nghị Quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ X: Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ X Đảng Cộng sản Việt Nam kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quânnêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, phát huy truyền thống vẻ vang của toàn Đảng,toàn dân tộc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, năng động và sángtạo, nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đạihội X của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sứcmạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tìnhtrạng kém phát triển, thực hiện "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh"
+ Nghị Quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ XI: Nghị quyết đãQuyết nghị những vấn đề quan trọng Đại hội Trong những nội dung cơ bản về đánh giátình hình 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X (2006 - 2010) và phương hướng, nhiệm
vụ 5 năm 2011 - 2015 nêu trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảngkhoá X trình Đại hội XI: Về đánh giá tình hình 5 năm 2006 – 2010, Trong bối cảnh quốc
tế và trong nước có rất nhiều khó khăn, thách thức, nhất là do ảnh hưởng của cuộc khủnghoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lựcphấn đấu đạt được những thành tựu quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm
Trang 13vụ của Đại hội X Tuy nhiên, cũng còn nhiều hạn chế, khuyết điểm cần quyết tâm khắcphục: Những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, khoa học, côngnghệ, văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường chậm được khắc phục; Sự lãnh đạo, chỉ đạo củaĐảng, quản lý, điều hành của Nhà nước trên một số lĩnh vực và một số vấn đề lớn chưatập trung, kiên quyết, dứt điểm; kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm Tổ chức thực hiện vẫn làkhâu yếu Năng lực, phẩm chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chứcchưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới Mục tiêu, nhiệm vụ phát triểnđất nước 5 năm 2011 - 2015
Mục tiêu tổng quát trong 5 năm tới là: Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sứcchiến đấu của Đảng; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; xây dựng hệ thống chính trịtrong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; pháttriển kinh tế nhanh, bền vững; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giữvững ổn định chính trị - xã hội; tăng cường hoạt động đối ngoại; bảo vệ vững chắc độclập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơbản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
+ Nghị Quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ XII: Nghị quyết nêu rõ:Năm năm qua (2011 - 2015), bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, tình hình thế giới, khuvực có nhiều diễn biến rất phức tạp; kinh tế thế giới phục hồi chậm; khủng hoảng chínhtrị ở nhiều nơi, nhiều nước; cạnh tranh về nhiều mặt ngày càng quyết liệt giữa các nướclớn tại khu vực; diễn biến phức tạp trên Biển Đông, đã tác động bất lợi đến nước ta.Trong bối cảnh đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu thực hiện Nghị
quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng và đạt được những thành quả quan trọng Tuy
nhiên, đổi mới chưa đồng bộ và toàn diện Nhiều hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực
giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá, xã hội, y tế chậm được khắc phục;Mục tiêu tổng quát, các chỉ tiêu quan trọng và nhiệm vụ trọng tâm trong 5 năm 2016 –2020: tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo vàsức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh Phát huy sức mạnh toàndân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới;phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước
Trang 14công nghiệp theo hướng hiện đại Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹnlãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa Giữgìn hoà bình, ổn định, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước; nângcao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc khóa XVI, nhiệm kỳ 2015
-2020 Nghị quyết đã thông qua những vấn đề quan trọng của Đị hội, nhấn mạnh những
thành tựu quan trọng của tỉnh dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúctrong nhiệm kỳ khóa XV Đồng thời chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm cần khắc phục,trong đó nhấn mạnh đến nội dung cơ chế quản lý, chỉ đạo của Đảng bộ Nghị quyết nêu
rõ cần đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ đối với các vấn
đề kinh tế, xã hội, trong đó có sự chỉ đạo về công tác bảo tồn DSVH Đây là cơ sở chínhtrị quan trọng để Đảng bộ và các ban ngành liên quan, đặc biệt là Sở, Ban, Ngành liênquan tới lĩnh vực quản lý di tích lịch sử, văn hóa xây dựng đề án, chương trình quản lýphù hợp với sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh
- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Vĩnh Phúc…
Nghị Quyết nhấn mạnh tầm quan trọng của đổi mới sự quản lý của ngành đối với côngtác văn hóa, thể thao, du lịch Tăng cường sự quản lý, lãnh đạo của Sở đối với lĩnh vựcquản lý Nghị quyết là cơ sở chính trị quan trọng để Sở VHTTDL Vĩnh Phúc xác địnhđường lối, nhiệm vụ trọng tâm trong cơ chế quản lý ngành, đặc biệt là lĩnh vực bảo tồnDSVH trên địa bàn tỉnh
- Nghị quyết của HĐND tỉnh Vĩnh Phúc về “Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 – 2020”: xác định mục tiêu tổng quát: Xây dựng Vĩnh Phúc trở thành một
trong những tỉnh phát triển của cả nước Phát triển kinh tế của tỉnh theo hướng nâng caohiệu quả và sức cạnh tranh, phát triển bền vững và thân thiện với môi trường, dựa trênnền tảng phát triển công nghiệp, dịch vụ; phấn đấu trở thành một trong những trung tâmdịch vụ, du lịch của Vùng và cả nước, hình thành khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng mangtầm quốc tế; ưu tiên phát triển nông nghiệp Nâng cao rõ rệt về đời sống vật chất và tinhthần của nhân dân Khai thác hợp lý tài nguyên; kiểm soát ô nhiễm môi trường Tăng
Trang 15cường quốc phòng, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội Nâng cao năng lực,hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp Để đạt được nhiệm vụtrọng tâm đó, Nghị quyết đề ra một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu, torng đó nhấn
mạnh đến nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách: Xây dựng cơ chế, chính sách thu hút và
khuyến khích đầu tư của tỉnh phù hợp với từng lĩnh vực, từng ngành nghề trong từng giaiđoạn nằm trong khung pháp lý chung của cả nước Điều chỉnh, bổ sung kịp thời các cơ chếchính sách của tỉnh đã ban hành cho phù hợp với tình hình thực tế Nghiên cứu, xâydựng cơ chế chính sách về phân cấp, phân quyền; cơ chế huy động, khai thác và sử dụng
có hiệu quả nguồn lực cho đầu tư phát triển Có chính sách thu hút nhân tài về tỉnh; chínhsách thuê tư vấn, chuyên gia có trình độ cao; đồng thời thời có chính sách ưu tiên đối vớinhững cán bộ của của tỉnh được cử đi đào tạo trong và ngoài nước.Xây dựng các cơ chế,chính sách xã hội hóa trên các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa
- thể thao, thông tin - truyền thông Huy động nguồn lực của nhân dân để tu bỏ tôn tạocác di tích văn hóa lịch sử của địa phương[25]
1.2.2 Cơ sở pháp lý
Ở Việt Nam hoạt động bảo tồn di tích lịch sử văn hóa luôn được Đảng, Nhà nướcquan tâm chỉ đạo thực hiện Nhiều văn bản pháp luật được đề ra dưới dạng Luật, Chỉ thị,Nghị Quyết, Quyết định, Sắc lệnh, Thông tư… thể hiện sự quản lý về mặ nhà nước đốivới hoạt động này Đó là sơ sở cho mọi hoạt động có liên quan đến công tác quản lý các
di tích lịch sử văn hóa
- Sắc lệnh số 65/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 23/11/1945 quy định nhiệm
vụ của Đông Phương bác cổ học viện và đề cập tới việc cấm phá huỷ đình, đền, chùa, đềnmiếu hoặc những nơi thờ tự khác như cung điện, thành quách cùng lăng mộ phải đượcbảo tồn
- Nghị định số 519-TTg do Thủ tướng chính phủ kí ngày 29/10/1957, quy định
Thể lệ bảo tồn cổ tích Đây là một văn bản pháp lý quan trọng có giá trị nền tảng cho hoạtđộng bảo vệ di tích nói riêng và bảo tồn bảo tàng nói chung
- Pháp lệnh số 14-LCT/HĐND về Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và
danh lam, thắng cảnh do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký ban hành ngày 4/4/1984 Đây là
Trang 16căn cứ pháp lý quan trọng để bảo vệ di tích trong thời kỳ đất nước vừa hoàn toàn thốngnhất, là bước tiến lớn của ngành bảo tồn bảo tàng nhằm thống nhất quản lý và chỉ đạomọi hoạt động bảo vệ di tích bằng các điều luật cụ thể.
- Luật Tổ chức Chính quyền địa phương ngày 19/06/2015: Quy định cụ thể những
nguyên tắc hoạt động của cơ quan nhà nước cấp tỉnh, cấp xã Nhiệm vụ, quyền hạn chứcnăng, trách nhiệm của UBND cấp tỉnh, huyện, xã; Nhiệm vụ, chức năng, trách nhiệm củaHĐND cấp tỉnh, xã đối với các lĩnh vực mình quản lý, trong đó có công tác quản lý, tu
bổ, tôn tạo, phục hồi, bảo tồn di tích lịch sử văn hóa Đây là căn cứ để xác định tráchnhiệm của chính quyền cấp tỉnh, cấp xã đối với công tác quản lý hỗ trợ, tu bổ, tôn tạo,phục hồi di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn các tỉnh.[37]
- Luật Di sản văn hóa ngày 29/6/2001, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Di sản văn hóa ngày 18/6/2009 Luật di sản văn hóa ban hành năm 2001và Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm 2009 đã cụ thể hóa đường lối, chínhsách của Đảng và Nhà nước ta, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xã hội hóa các hoạt độngbảo vệ và phát huy giá trị DSVH, mở rộng phạm vi điều chỉnh cả DSVH phi vật thể làmột vấn đề mà đã được nhiều quốc gia đề cập tới Luật tạo cơ sở pháp lý để triển khai cáchoạt động cần thiết trong việc bảo vệ, phát huy giá trị DSVH; xác định rõ quyền hạn,nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân và chủ sở hữu đối với DSVH, chỉ rõ những việc được làm
và không được làm, những hành vi bị nghiêm cấm, cơ chế khen thưởng, tôn vinh nhữngngười có công, xử phạt các hành vi vi phạm di tích; trách nhiệm của các Bộ, ban, ngành
có liên quan ở trung ương và UBND các cấp trong việc bảo tồn DSVH
Trong quá trình đưa Luật áp dụng vào thực tiễn bên cạnh những mặt tích cực,cũng nảy sinh một số hạn chế như chưa xử lý thoả đáng mối quan hệ giữa bảo tồn và pháttriển dẫn đến tình trạng thương mại hoá di tích Vì vậy, năm 2009, Quốc hội đã thôngqua việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa Trong đó nhấn mạnh Sửađổi một số vấn đề liên quan đến công tác tu bổ, tôn tạo di tích như[55]: Điều 34 quy địnhviệc bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải bảo đảm các yêu cầu sau như: Giữ gìn tối đacác yếu tố gốc cấu thành di tích; Lập quy hoạch, dự án trình cơ quan nhà nước có thẩmquyền phê duyệt, trừ trường hợp sửa chữa nhỏ không ảnh hưởng đến yếu tố gốc cấu
Trang 17thành di tích Đối với di tích cấp tỉnh, phải được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan cóthẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch cấp tỉnh; đối với di tích quốc gia và di tíchquốc gia đặc biệt, phải được sự đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thểthao và Du lịch; Công bố công khai quy hoạch, dự án đã được phê duyệt tại địa phươngnơi có di tích; Tổ chức, cá nhân chủ trì lập quy hoạch, dự án hoặc chủ trì tổ chức thicông, giám sát thi công dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích phải có giấy chứng nhận
đủ điều kiện hành nghề đối với tổ chức và chứng chỉ hành nghề đối với cá nhân; Chínhphủ quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu
bổ, phục hồi di tích Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành quy chế bảoquản, tu bổ, phục hồi di tích và quy chế cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề,chứng chỉ hành nghề cho các đối tượng quy định tại khoản 2 Điều này 34 Tại điều 17,Nhà nước bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể thông qua các biện phápnhư: Tổ chức nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, phân loại di sản văn hóa phi vật thể; Tổ chứctruyền dạy, phổ biến, xuất bản, trình diễn và phục dựng các loại hình di sản văn hóa phivật thể; Khuyến khích và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân nghiên cứu, sưu tầm, lưu giữ,truyền dạy và giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể; Hướng dẫn nghiệp vụ bảo vệ và pháthuy giá trị di sản văn hóa phi vật thể theo đề nghị của tổ chức, cá nhân nắm giữ di sảnvăn hóa phi vật thể; Đầu tư kinh phí cho hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản vănhóa phi vật thể, ngăn ngừa nguy cơ làm mai một, thất truyền di sản văn hóa phi vật thể
- Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 Quy định chi tiết thi hành một số
điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản vănhóa Nghị định là cơ sở pháp lý quan trọng để ngành VHTT và truyền thông thực thichính sách có hiệu quả Luật Di sản văn hóa Là cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả quản
lý đổi với lĩnh vực DSVH theo đúng pháp luật
- Luật Ngân sách nhà nước ngày 16/12/2002: Luật quy định Ngân sách nhà nước
là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyềnquyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ của Nhà nước luật là sở quan trọng xác định việc thu chi ngân sách , nguyên tắc chingân sách ở cấp tỉnh, xã, các đối tượng được hỗ trợ ngân sách, trong đó có lĩnh vực bảo
Trang 18tồn di sản VHLS.[36]
- Nghị định 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành Luật Ngân sách Nghị Định đã quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật ngân sách
ở trung ương, địa phương đối với tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, torng đó cócông tác bảo tồn, tu bổ phục hồi di tích Trách nhiệm, nghĩa vụ, mức độ thu chi ngân sáchđối với các lĩnh vực cụ thể, chính quyền trung ương, địa phương, việc chấp hành ngân
sách…đều được quy định cụ thể Điều 21 của Nghị định về nhiệm vụ chi của ngân sách
trung ương tại mục 02 quy định Chi thường xuyên về:Bảo tồn, bảo tàng, thư viện, trùng
tu di tích lịch sử đã được xếp hạng, các hoạt động sáng tạo văn học, nghệ thuật và cáchoạt động văn hóa khác; Điều 24 Nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương tại mục 02.Chi thường xuyên về: Bảo tồn, bảo tàng, thư viện, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động vănhóa khác
- Quy hoạch tổng thể Bảo tồn và Phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và danh
lam thắng cảnh đến năm 2020 đã được Bộ Trưởng Bộ VHTT ký Quyết định phê duyệt số 1706/QĐ-BVHTT, ngày 24/7/2001, kèm theo danh sách 32 di tích ƣu tiên đầu tƣ chống
xuống cấp và tôn tạo đến năm 2020 Dự án này đóng vai trò quan trọng trong việc địnhhướng các dự án cụ thể về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa, danh làmthắng cảnh ở nước ta hiện nay
- Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thihành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Di sản văn hóa
- Nghị định số 70/2012/NĐ-CP ngày 18/9/2012 của Chính phủ quy định thẩmquyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt, quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tíchlịch sử- văn hóa, danh lam thắng cảnh
- Quyết định số 1706/2001/QĐ-BVHTT ngày 24/7/2001 của Bộ trưởng Bộ Vănhóa - Thông tin phê duyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử -văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020
Trang 19- Thông tư số 09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14/7/2011 của Bộ Văn hóa Thể thao
và Du lịch quy định về nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch sử văn hóa vàdanh lam thắng cảnh
- Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL ngày 28/12/2012 của Bộ Văn hóa Thể thao
và Du lịch quy định chi tiết về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích
- Chỉ thị số 73/CT-BVHTTDL ngày 19/5/2009 của Bộ Văn hóa Thể thao và Dulịch về việc tăng cường các biện pháp quản lý di tích và các hoạt động bảo quản, tu bổ vàphục hồi di tích
- Chỉ thị số 16/CT-BVHTTDL ngày 03/02/2010 của Bộ Văn hóa Thể thao và Dulịch về việc tăng cường công tác chỉ đạo quản lý hoạt động văn hóa, tín ngưỡng tại ditích
- Quyết định số: 17/2012/QĐ-UBND ngày 5 tháng 7 năm 2012 của UBND tỉnh
về Ban hành quy định về quản lý di tích, di vật, cổ vật, bảo vật Quốc gia trên địa bàn tỉnhVĩnh Phúc
1.3 Cơ sở thực tiễn
Có thể khẳng định, Đảng, Nhà nước Việt Nam rất coi trọng công tác quản lý bảo tồn,
tu bổ, tôn tạo di tích LSVH Nhiều chính sách pháp luật của Nhà nước, sự chỉ đạo của Đảng
đã được đề ra nhằm tăng cường sự quản lý của nhà nước đối với lĩnh vực này Tuy nhiên, donhiều nguyên nhân khách quan chủ quan khác nhau, trong đó có sự hạn chế nhất định về cơchế quản lý đối với lĩnh vực đặc thù này nên công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản vănhóa, lịch sử vẫn chưa đạt được những kết quả mong đợi
Tỉnh Vĩnh Phúc là địa phương có nhiều di tích lịch sử, trong những năm qua, thựchiện chính sách pháp luật của nhà nước, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, ban, ngành, đoànthể công tác quản lý, tu bổ, tôn tạo di tích LSVH đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.Tuy nhiên, xét về cơ chế quản lý tu bố, tôn tạo di tích LSVH trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhữnghạn chế, nhiều đơn vị cơ sở chưa thực hiện đúng tinh thần chỉ đạo của cấp trên, năng lựcchuyên môn quản lý còn hạn chế…nhiều chính sách chưa phù hợp với sự chuyển biến củanền kinh tế thị trường ảnh hưởng tới công tác tu bổ, tôn tạo di tích Thực trạng đó đã làm hạn
Trang 20chế công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực vày, ảnh hưởng đến các di tích LSVH trênđịa bàn.
Trong thực tế, không phải bao giờ người ta cũng tìm được lời giải đúng đắn chovấn đề bảo tồn và phát triển Nguyên nhân của mọi sự sai lầm đều xuất phát từ nhận thứclệch lạc, trong đại bộ phận các trường hợp là do quá coi trọng việc phát triển kinh tế, đặtmục tiêu lợi nhuận lên trên hết Và do đó, không lưu ý hoặc không xử lý thoả đáng nhucầu bảo tồn di sản văn hóa Hình như các nhà kinh tế chỉ nhận thức giản đơn rằng, di sảnvăn hóa là tài sản riêng của ngành văn hóa, chỉ các cơ quan văn hóa là người được hưởnglợi từ kết quả các dự án do họ chi tiết, Việc không coi trọng đúng mức tầm quan trọngcủa các di sản văn hóa và thái độ thờ ơ của họ có thể sẽ khiến di sản văn hóa bị xoá sổhoàn toàn
2 Nội dung thực hiện của đề án
được tái lập vào năm 1997 Tính đến năm 2014 Vĩnh Phúc có diện tích 1.237,52 km2 với
dân số khoảng 1.029.412 người, mật độ dân số khoảng 832 người/km2
Vĩnh Phúc – một vùng đất của xứ Đoài xưa Xứ Đoài là vùng đất nằm hai bên tả,hữu ngạn sông Hồng, có 2 dãy núi Tam Đảo và Ba Vì bao quanh, là đất của Bộ Văn Langthời sơ sử - các vua Hùng dựng nước qua 18 đời
Vĩnh Phúc thuộc Vùng đồng bằng sông Hồng, Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ vàVùng Thủ đô, phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang, phía Tây giáp Phú Thọ,phía Đông và phía Nam giáp thủ đô Hà Nội Vĩnh Phúc nằm trên Quốc lộ số 2, đường sắt
Hà Nội – Lào Cai và đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai – Vân Nam (Trung Quốc), là cầu
Trang 21nối giữa vùng Trung du miền núi phía Bắc với Thủ đô Hà Nội; liền kề cảng hàng khôngquốc tế Nội Bài, qua đường quốc lộ số 5 thông với cảng Hải Phòng và trục đường 18thông với cảng nước sâu Cái Lân Những lợi thế về vị trí địa lý kinh tế đã đưa tỉnh VĩnhPhúc trở thành một bộ phận cấu thành của vành đai phát triển công nghiệp các tỉnh phíaBắc Việt Nam.
Vĩnh Phúc nằm bán phận ở góc Đông Bắc xứ ấy Về địa lý tự nhiên, Vĩnh Phúcgiáp với 5 tỉnh, thành phố: Phía Đông Bắc và phía Bắc giáp 2 tỉnh Thái Nguyên và TuyênQuang Phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ Phía Nam, phía Đông giáp Thành phố Hà Nội
Tỉnh Vĩnh Phúc có 09 đơn vị hành chính, gồm thành phố Vĩnh Yên, thị xã PhúcYên, các huyện: Bình Xuyên, Lập Thạch, Sông Lô, Tam Dương, Tam Đảo, Vĩnh Tường,Yên Lạc Tỉnh lỵ của Vĩnh Phúc là thành phố Vĩnh Yên, cách trung tâm thủ đô Hà Nội50km và cách sân bay quốc tế Nội Bài 25km
- Đặc điểm địa lý, tự nhiên
Địa hình núi sông đan xen và tương hỗ tạo nên vùng khí hậu thiên nhiên, cảnhquan và môi trường sống khá đa dạng và phong phú, những yếu tố cốt lõi đầu tiên để hìnhthành nên cốt cách văn hoá riêng của con người Vĩnh Phúc và di sản văn hoá Vĩnh Phúc
+ Về núi: Dải Tam Đảo trải dài hơn 30km từ xã Ngọc Thanh (thị xã Phúc Yên) tới
xã Đạo Trù (huyện Lập Thạch), là ranh giới tự nhiên với tỉnh Thái Nguyên - nhiều đỉnhcao trên 1000m là các đỉnh Phù Nghì, Thiên Thị, Thạch Bàn; một vùng rừng nguyên sinhbảo tồn nhiều loài chim thú và thảm thực vật quý hiếm Đặc biệt là vùng khí hậu mát mẻquanh năm cùng bao cảnh trí thiên nhiên, trở thành vùng thắng cảnh hấp dẫn du kháchgần xa như Thác Bạc, thác Vàng, cầu Đái Tuyết, suối Giải Oan, chùa Đồng Cổ, PhùNghì, Tây Thiên Thiền Tự, am Lưỡng Phong Đồng thời, do sự kiến tạo của vỏ trái đất
mà hình thành nên một số khu vực có địa hình núi trẻ: núi Đanh, Thanh Tước và hàngloạt dãy đồi bát úp lô xô trải dần từ Tam Đảo, núi Sáng tiến dần xuống vùng đồng bằng,tạo nên hình thể của vùng đất trung du
+ Thủy văn: Với 2 hệ thống sông Hồng và sông Cà Lồ, có tổng chiều dài hàng
trăm khi đã tạo nên vùng châu thổ đồng bằng màu mở, 4 1à những địa bàn tụ cư của
Trang 22người Nguyên thuỷ với những di chỉ khảo cổ nổi tiếng như Đồng Đậu, Lũng Hoà, GòHội và cũng hình thành những vùng thung lũng, đầm hồ để trở thành những thắng cảnhđẹp như đầm Vạc, đầm Dưng Sông Hồng bắt nguồn từ Vân Nam Trung Quốc chảy vàoViệt Nam qua Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, qua Vĩnh Phúc từ ngã ba Bạch Hạc đến xãTráng Việt (huyện Mê Linh) với chiều dài 41km.
Thời dựng nước, con người thuộc vùng đất Vĩnh Phúc bấy giờ cũng gắn liền vớiNhà nước Văn Lang của các vua Hùng với hàng loạt di tích khảo cổ học thời hình thànhNhà nước sơ khai, theo suốt dải sông Lô rồi sông Hồng là các di chỉ: Gò Hội (xã HảiLựu), gò Đặng, gò Sỏi (xã Đôn Nhân), di chỉ Sơn Đông (xã Sơn Đông), Lũng Hoà (xãLũng Hoà), Đồng Đậu (thị trấn Yên Lạc), …Về sau, các di tích kiến trúc dọc theo sôngHồng phần nhiều cũng là nơi thờ các vị thiên thần liên quan đến Nhà nước Văn Langnhư: Đình Cam Giá (xã An Tường) đình Khách Nhi (xã Vĩnh Thịnh), đền Ngự Dội (xãVĩnh Ninh) với lễ hội rước nước nổi tiếng giữa hai bờ tả hữu sông Hồng của cư dân haimiền Hà Tây - Vĩnh Phúc dịp mùng 6 tháng giêng, hay các ngôi đền Thính, đền Tranh( lưỡng Bắc cung từ của huyện Yên Lạc
Sông Lô cũng từ Vân Nam Trung Quốc chảy vào Việt Nam tới Vĩnh Phúc ở quãng
xã Quang Yên (Sông Lô), vừa là đường phân thuỷ - ranh giới tự nhiên giữa Vĩnh Phúc vàPhú Thọ, vừa là đường giao thông thuận lợi dọc dài đến Ngã ba Hạc để hoà với sôngHồng Với 34km qua địa phận Vĩnh Phúc, sông Lô đã từng lưu dấu bao sự tích bi hùngsuốt chiều dài lịch sử giữ nước của dân tộc Việt Là bãi luyện quân trên bến Đông Hồ (xãSơn Đông) của Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn, nay còn đền thờ Tả tướng quốc - mộtdanh nhân công thần tiết liệt ở thế kỷ XV Về một căn cứ của Lý Bí (Lý Bôn) ở thế kỷ VIchống quân Lương - vùng Hồ Điển Triệt (xã Tứ Yên) hay ngược nữa để lên vùng BạchLưu - Hải Lựu với tích cổ về danh tướng họ Lã - Lã Gia (hay còn gọi là Lữ Gia) đánhgiặc Tây Hán thời Công nguyên và lễ hội chọi trâu nổi tiếng cả một vùng được hìnhthành từ buổi đó mà còn lưu giữ đến tận ngày nay
Từ Bắc Cạn chảy qua Tuyên Quang vào Vĩnh Phúc, với chiều dài 41,5km nội tỉnh,sông Phó Đáy chảy suốt chiều dài phía Đông huyện Lập Thạch, nơi những lô xô, chậptrùng những dải núi trẻ của một vùng trung du điển hình để tạo nên một không gian văn
Trang 23hoá đặc thù Hầu hết các di tích kiến trúc vùng này mang đậm sắc thái của tục thờ thầnrừng, thần núi như U Sơn, Ô Sơn, Giàn Sơn Những ngôi đền được dùng trên núi có độcao trung bình từ 300 - 500m tạo một không gian cảnh quan như muốn tách biệt với trầnthế, ví như đền thờ thân mẫu, thân phụ của 7 anh em họ Lỗ ở Bồ Lý (Lập Thạch) đã cùngquân dân giúp triều đình nhà Trần đánh tan giặc Nguyên Mông ở thế kỷ XIII Rồi dòngsông lại chảy qua một phần huyện Vĩnh Tường ở phía Đông để trở về nguồn, hợp lưu vớisông Hồng cũng ở ngã ba Hạc, để lại hai bên bờ những sắc màu văn hoá dân gian như lễhội bơi chải xã Việt Xuân, xã Yên Lập, huyện Vĩnh Tường ngàn đời lưu dấu không phai.
Sông Cà Lồ là một nhánh của sông Diệp Du - là con sông trọng yếu của đất Giao
Chỉ ở khoảng đầu Công Nguyên, sông Cà Lồ từ phía Bắc huyện Mê Linh chảy qua 2huyện Phong Khê và Vọng Hải đổ vào sông Cầu ở phía Bắc huyện Long Uyên, cùng vớisông Thiếp bắt nguồn từ Nại Tử Châu ( cũng thuộc huyện Mê Linh) chảy qua Cổ Loa, trởthành 2 con sông cổ đã chứng kiến những trận thuỷ chiến oanh liệt của Hai Bà Trưng vàcác nữ tướng đánh giặc Tô Định thời đầu công nguyên, để đến bây giờ trên khắp vùngcòn ghi nhớ công lao của các bậc anh hùng liệt nữ với hơn 100 di tích thờ Hai Bà vàtướng lĩnh trên địa bàn tỉnh Cà Lồ còn có tên gọi là sông Nguyệt Đức, theo sách “ĐạiNam nhất thống chí” thì Nguyệt Đức là chi lưu của sông Bạch Hạc, chảy theo hướngĐông Bắc qua các huyện Yên Lạc, Yên Lãng, qua 65 dặm đến Thịnh Kỷ rồi hợp vàosông Khả Do huyện Đông Anh
Sông Phan cũng là một con sông nội tỉnh, bắt nguồn từ dãy Tam Đảo, từ nguồnbởi các con suối ở các xã Đại Đình, Tam Quan, chảy qua Tam Quan, Hợp Châu (huyệnTam Đảo), Duy Phiên, Hoàng Lâu (huyện Tam Dương), Kim Xá (huyện Bình Xuyên) rồi
đổ vào sông Cà Lồ ở địa phận xã Nam Viêm (thị xã Phúc Yên) Cũng bắt nguồn từ sườnphía Tây núi Tam Đảo còn có sông Cầu Bòn, hợp thành bởi các con suối Làng Hà, XạHương, Bàn Long, chảy qua các xã của huyện Bình Xuyên: Gia Khánh, Hương Sơn, TamHợp đổ vào sông Phan (tức sông Cánh đoạn Hương Canh) Sông Bá Hạ là hợp nguồn củacác con suối từ xã Trung Mỹ (huyện Bình Xuyên) và Ngọc Thanh (Phúc Yên) chảy quacác xã Bá Hiến, Cao Minh, Sơn Lôi hoà vào sông Cánh về sông Cà Lồ Các sông thuộc
hệ thống sông Cà Lồ đều bắt nguồn từ dãy Tam Đảo (riêng sông Cà Lồ thì đầu nguồn do
Trang 24sông Hồng) nhưng về cơ bản lưu lượng nước cũng từ các con sông khác hợp thành (sôngPhan, sông Cầu Bòn, sông Bá Hạ Với hai con sông chủ yếu là sông Cà Lồ, sông Phan,lưu tốc dòng chảy không lớn vì quanh co hầu khắp các huyện trong tỉnh, lưu lượng nướcthấp, nhưng lại có tác dụng rất lớn là đã tạo nên rất nhiều vùng cư trú thuận lợi cho conngười Việt cổ, đây là một yếu tố rất quan trọng để lý giải rằng tại sao ở Vĩnh Phúc lại cónhiều di chỉ khảo cổ học đến vậy? Trong đó phần lớn là các di chỉ thuộc thời đại HùngVương (có thể lấy mốc là từ văn hoá Phùng Nguyên cho đến Đông Sơn) và chuyển tiếpliên tục về sau, kể từ sau Công nguyên là thời kỳ chống phong kiến phương Bắc mà khởiđầu là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.
+ Về địa hình: Với tổng diện tích tự nhiên là 1.370km2, có hàng trăm km các con
sông chảy qua, nhiều đầm hồ lớn: đầm Vạc, đầm Dưng, các hồ Vân Trục, Đại Lải, XạHương, làng Hà, Bò Lạc, suối Sải chiếm tổng diện tích lên tới 1.189 ha mặt nước, vừa lànhững vùng châu thổ rộng lớn, quy tụ các cộng đồng người qua chiều dài lịch sử, đồngthời đó cũng là những con đường giao thông thuỷ, là huyết mạch trọng yếu của đời sống
cư dân nông nghiệp kéo dài suốt từ thời dựng nước cho đến giai đoạn những năm 50 củathế kỷ XX Đây là một câu hỏi để trả lời tại sao hệ thống các di tích vùng ven núi, đầunguồn lại thờ thần núi, thần nước, ví như nhiều di tích thờ Giang Khẩu (cửa Sông) haycác vị sơn thần ở Lập Thạch, Tam Đảo, Bình Xuyên.[30]
+ Khí hậu: Vĩnh Phúc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm Nhiệt
độ trung bình năm 23,20C– 250C, lượng mưa 1.500 – 1.700 ml; độ ẩm trung bình 84 –85%, số giờ nắng trong năm 1.400 – 1.800 giờ Hướng gió thịnh hành là hướng Đông –Nam thổi từ tháng 4 đến tháng 9, gió Đông – Bắc thổi từ tháng 10 tới tháng 3 năm sau,kèm theo sương muối Riêng vùng núi Tam Đảo có kiểu khí hậu quanh năm mát mẻ(nhiệt độ trung bình 18oC) cùng với cảnh rừng núi xanh tươi, phù hợp cho phát triển cáchoạt động du lịch, nghỉ ngơi, giải trí
+ Tài nguyên, khoáng sản: Tài nguyên thiên nhiên của Vĩnh Phúc gồm có: Tàinguyên nước, tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên du lịch
Tài nguyên nước: Gồm nước mặt và nước ngầm Nguồn nước mặt của tỉnh khá
phong phú nhờ hai sông Hồng và Sông Lô cùng hệ thống các sông nhỏ như: sông Phó
Trang 25Đáy, sông Phan, sông Cà Lồ và hàng loạt hồ chứa (Đại Lải, Xạ Hương, Vân Trục, ĐầmVạc ) dự trữ khối lượng nước khổng lồ, đủ để phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt củanhân dân Nguồn nước ngầm có trữ lượng không lớn, đạt khoảng 1 triệu m3/ngày-đêm.
Tài nguyên đất: Trên địa bàn tỉnh có 2 nhóm đất chính là: Đất phù sa và đất đồi
núi Hiện trạng sử dụng đất tính đến năm 2014: Tổng diện tích 123.752,31 ha; Đất nông
nghiệp 86.929,72 ha chiếm 70,24%; Đất phi nông nghiệp 34.651,61 ha chiếm 28%; Đất chưa sử dụng 2.170,98 ha chiếm 1,75%.
Tài nguyên rừng: Tính đến năm 2014 tỉnh Vĩnh Phúc có khoảng 32,4 nghìn ha đất
lâm nghiệp, trong đó rừng sản xuất là 13,2 nghìn ha, rừng phòng hộ là 4,0 nghìn ha vàrừng đặc dụng là 15,1 nghìn ha Tài nguyên rừng đáng kể nhất của tỉnh là Vườn Quốc giaTam Đảo với trên 15 nghìn ha, là nơi bảo tồn nguồn gen động thực vật (có trên 620 loàicây thảo mộc, 165 loài chim thú), trong đó có nhiều loại quý hiếm được ghi vào sách đỏnhư cầy mực, sóc bay, vượn Rừng Vĩnh Phúc ngoài việc bảo tồn nguồn gen động, thựcvật còn có vai trò điều hoà nguồn nước, khí hậu và có thể phục vụ cho phát triển các dịch
vụ thăm quan, du lịch.[30]
Tài nguyên khoáng sản: Nhìn chung, Vĩnh Phúc là tỉnh ở vị trí chuyển tiếp giữa
miền núi và đồng bằng nên rất nghèo về tài nguyên khoáng sản Khoáng sản có giá trịthương mại trên địa bàn chỉ bao gồm một số loại như: đá xây dựng, cao lanh, than bùnsong trữ lượng không lớn và điều kiện khai thác hạn chế
Tài nguyên du lịch: Vĩnh Phúc có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch tự nhiên và
du lịch nhân văn Có Tam Đảo là dãy núi hình cánh cung, độ cao trên 1500m, dài 50 km,rộng 10 km với phong cảnh thiên nhiên đẹp, khí hậu trong lành, mát mẻ Đặc biệt cóVườn Quốc gia Tam Đảo và các vùng phụ cận thuộc loại rừng nguyên sinh có nhiều loàiđộng thực vật được bảo tồn tương đối nguyên vẹn Bên cạnh đó Vĩnh Phúc còn có hệthống sông ngòi, đầm hồ tương đối phong phú, địa thế đẹp có thể vừa phục vụ sản xuấtvừa có giá trị cho phát triển du lịch như: Đại Lải, Dị Nậu, Vân Trục, Đầm Vạc, ĐầmDưng, Thanh Lanh… Tiềm năng tự nhiên cho phát triển du lịch kết hợp với các giá trị(tài nguyên) văn hóa truyền thống phong phú sẽ là nguồn lực quan trọng cho phát triểnkinh tế – xã hội Vĩnh Phúc
Trang 26+ Dân số và nguồn nhân lực
Dân số trung bình năm 2014 khoảng 1.029.412 người, trong đó dân số namkhoảng 508.405 người chiếm 49,39%, dân số nữ 521.007 người chiếm 50,61% Tỷ lệtăng dân số tự nhiên là 11% Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động chiếm 60%, tỷ lệ laođộng đã qua đào tạo chiếm 63%, tỷ lệ dân số làm việc trong khu vực nhà nước chiếm8,2%, làm việc ngoài nhà nước chiếm 86,6%, làm việc trong khu vực có vốn đầu tư nướcngoài chiếm 5,2%
Tính đến năm 2014, toàn tỉnh có 561 trường học và cơ sở giáo dục, đào tạo, trong
đó có 550 trường mầm non, tiểu học, THCS, THPT và trung tâm giáo dục thường xuyên;
13 trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp với trên 270.900 học sinh, sinhviên Trên địa bàn tỉnh có 49 cơ sở dạy nghề (05 trường cao đẳng nghề; 02 trường trungcấp nghề; 09 trường cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp có dạy nghề; 27 trung tâm dạynghề; 06 cơ sở dạy nghề); giai đoạn 2010-2014 đào tạo được hơn 132.983 người, hàngnăm có khoảng 26.000 người tốt nghiệp đào tạo nghề, đáp ứng nhu cầu lao động của mọithành phần kinh tế
Bên cạnh đó, tỉnh đã có nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp đàotạo nghề cung ứng cho các doanh nghiệp; Cùng với tốc độ gia tăng dân số, trong nhữngnăm tới lực lượng lao động sẽ tăng đáng kể do dân số bước vào tuổi lao động ngày càngnhiều Mỗi năm tỉnh có trên 1 vạn người bước vào độ tuổi lao động, đây là nguồn nhânlực dồi dào cho phát triển kinh tế – xã hội
- Điều kiện kinh tế xã hội
Trước đây, nền kinh tế của Vĩnh Phúc chủ yếu là kinh tế nông nghiệp giữ vai tròchủ đạo, là thành phần kinh tế chính trong cơ cấu kinh tế Mức độ tăng trưởng trong kinh
tế nông nghiệp tăng đều qua các năm Sản xuất lương thực, thực phẩm ngày càng đáp ứngnhu cầu của nhân dân Ngành chăn nuôi cũng được chú trọng phát triển, đời sống nhândân cũng dần được cải thiện
Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc ngày càngthay đổi, chuyển dịch cơ cấu theo hướng tích cực, trình độ phát triển kinh tế ngày càng
tăng, thu nhấp bình quan đầu người tăng lên đáng kể: Tốc độ tăng trưởng GRDP: Tốc độ
Trang 27tăng trưởng bình quân 18 năm (1997 2014): 14,8%/năm Quy mô tổng sản phẩm trên địabàn (GRDP): 70-75 nghìn tỷ đồng, tương đương khoảng 3,2 tỷ USD (dự kiến năm 2015).
GRDP bình quân đầu người: 70 triệu đồng/người/năm (dự kiến năm 2015) Cơ cấu kinh
tế (dự kiến năm 2015): Công nghiệp – Xây dựng: 62,1%; Thương mại – Dịchvụ: 28,5% ; Nông lâm thuỷ sản (%): 9,4% Kim ngạch xuất – nhập khẩu (tổng giá trị):Xuất khẩu: 1,5-2 tỷ USD (dự kiến năm 2015) Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI):Năm 2010: Điểm 61,73; xếp hạng 15; nhóm điều hành Tốt; Năm 2011: Điểm 62,57; xếphạng 17; nhóm điều hành Tốt; Năm 2012: Điểm 55,15; xếp hạng 43; nhóm điều hànhKhá; Năm 2013: Điểm 58,86; xếp hạng 26; nhóm điều hành Khá[30.Tr.27] Tốc độ đầu
tư nước ngoài, đầu tư trong nước trên địa bàn tỉnh ngày càng tăng
Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020: Đến năm 2015 xây dựng tỉnhVĩnh Phúc trở thành một tỉnh có đủ các yếu tố cơ bản của một tỉnh công nghiệp Đến năm
2020 Vĩnh Phúc trở thành một tỉnh công nghiệp, là một trong những trung tâm côngnghiệp, dịch vụ, du lịch của khu vực và của cả nước; nâng cao rõ rệt mức sống nhân dân;môi trường được bảo vệ bền vững; bảo đảm vững chắc về quốc phòng, an ninh; hướng tớitrở thành Thành phố Vĩnh Phúc vào những năm 20 của thế kỷ 21.[30 Tr.2]
- Đặc điểm lịch sử, văn hóa:
Với vùng địa văn hoá đặc trưng của xứ Đoài, được dòng sông Hồng (sông Thao hay Nhĩ Hà) chia tách thành Vĩnh Phúc - bên bờ phía Bắc, mang dấu ấn đặc trưng củavùng không gian văn hoá: Bắc: Tam Đảo - Nam: sông Hồng Trong phạm vi sơn chầuthuỷ tụ ấy là nơi phát nguồn của các mạch nguồn văn hoá có yếu tố riêng biệt của miềnđất và con người Vĩnh Phúc Nền văn hoá ấy được manh nha, hình thành từ khi ngườiViệt cổ thời Hậu kỳ đá cũ (cách nay từ 2 đến 3 vạn năm) dần từ miền sơn cước dịchchuyển theo dòng chảy xuống vùng đồng bằng, cùng với các bộ tộc, bộ lạc khác nhau màtạo nên Nhà nước Văn Lang hay thực tế lịch sử được minh chứng qua kết quả khai quật
-và nghiên cứu từ hàng chục di chỉ khảo cổ trên đất Vĩnh Phúc mà tiêu biểu nhất, xác thựcnhất là qua bộ hài cốt người thời Phùng Nguyên với chiếc vòng trang sức đá và hàng vạntiêu bản hiện vật gốc - công cụ lao động, phương tiện sống của con người, đã phát hiện ở
di chỉ Đồng Đậu (huyện Yên Lạc) năm 1999
Trang 28Cũng từ vùng Tam Đảo với nhiều đỉnh cao trên 1000m, thiên tạo qua hàng triệunăm để cho chúng ta một hệ rừng nguyên sinh với nhiều thắng cảnh tuyệt vời, thiên nhiên
kỳ thú mà cả nghìn năm trước con người đã khai thác, đã cùng với tạo hoá để hình thànhnên những danh lam và đại danh lam đã từng đi vào lịch sử như những huyền thoại –thuộc hệ di tích Danh lam thắng cảnh
Từ vùng đất địa linh – nhân hoà, từ truyền thuyết “bọc trăm trứng” của Âu cơ để
có sự hiển linh của Bách thần sông núi, nối dòng lịch sử qua mấy nghìn năm dựng nước
và giữ nước, các bậc anh hùng liệt nữ, các danh nhân qua nhiều thời đại được dân gian tôđiểm thành các hiện tượng siêu nhân, dị thường có đủ đức – nhân – trí – dũng để cùngnhân dân chiến thắng mọi kẻ thù của cuộc nhân sinh: thuỷ - hoả - đạo – tặc và được tônthờ thành thánh, thành thần; để rồi cùng với sự ra đời của các thành phần kiến trúc mà tạonên một phức hệ tín ngưỡng truyền thống riêng biệt: thờ Thần Cùng song hành với sự dunhập và chuyển hoá của Phật giáo từ vùng Nê Pan, Ấn Độ và Tây Thiên – Tam Đảo đểtrở thành hệ thống di tích kiến trúc và nghệ thuật: Đình, đền, chùa, tháp… trải qua hàngngàn năm, dần hội đủ các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể mà trở thành bản sắc vănhoá truyền thống dân tộc nhưng lại có tính riêng biệt của Vĩnh Phúc bởi yếu tố địa vănhoá riêng mà định thành
Vùng cư dân nông nghiệp với yếu tố nước chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trongcuộc sống, lại có mật độ sông ngòi, đầm hồ được phân bố đều khắp, liên hoàn trên phạm
vi toàn tỉnh, cùng với đó là nơi tụ cư của các cộng đồng làng xã, được gắn bó với nhaubởi tình làng, nghĩa nước và cũng chính những dòng sông là sợi dây gắn kết giữa cáccộng đồng và các thành viên của từng cộng đồng độc lập Sông vừa là mạch nguồn của sựthông thương, giao lưu đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống, nhưng đồng thời sôngcũng chính là những đường vận chuyển quân lương của các cuộc kháng chiến giành độclập và bảo vệ nền độc lập của dân tộc Việt qua hàng nghìn năm lịch sử
Miền đất Vĩnh Phúc, người Vĩnh Phúc từ xưa không những đã từng chứng kiến màcòn hơn thế nữa, trong tất cả mọi cuộc chiến tranh, con người nơi đây luôn sẵn lòng vìnghĩa, xả thân vì nước Từ Hát Môn, đã là nơi phát đi lời thề của Hai Bà Trưng đền nợnước, trả thù nhà để suốt một dải sông Hồng từ Mê Linh đến Yên Lạc, ngược Vĩnh
Trang 29Tường, Tam Dương, Lập Thạch nay còn lưu dấu những di tích thờ Hai Bà và các tướnglĩnh của Hai Bà như: ả Là, ả Nương, Triệu Thị Khoan Hoà, Lê Thị Ngọc Chinh , vớidanh sách 104 tướng lĩnh.
Cuộc chiến của Lý Bí đánh giặc Lương thế kỷ VI theo suốt dải Cà Lồ với di tíchthờ Lý Bí và phu nhân ở vùng Tiến Thắng, Đạo Đức rồi theo sông Hồng để rẽ ngượcsông Lô lên vùng đầm hồ Điển Triệt (xã Tứ Yên, huyện Lập Thạch) Thế kỷ X còn ghidấu Nguyễn Khắc Khoan - một trong Thập nhị sứ quân đã thống lĩnh một phần đất xứĐoài bên tả ngạn sông Hồng, quy tụ nhân tâm, đồng lòng khai thác một vùng châu thổsông Hồng suốt vùng Vĩnh Tường, Yên Lạc
Vua tôi nhà Trần cùng toàn dân Đại Việt ba lần đánh đuổi quân Nguyên Mông, thế
kỷ XIII, lừng danh với các trận đánh ở Bình Lệ Nguyên (vùng sông Cánh đoạn từ Thịnh
Kỷ đến cầu Treo và vùng sông cổ từ Hương Canh nối với vùng Thanh Lãng nay) Khuđiền trang thái ấp của Trần Liễu, cùng hàng chục di tích thờ Hưng Đạo vương QuốcCông Tiết Chế ở xã Tiến Thịnh (huyện Mê Linh) và phần mộ Trần Quang Khai ở xãBình Định huyện Yên Lạc, cùng với các di tích thờ Lân Hổ Hầu (đình Vĩnh Sơn, đìnhThổ Tang, huyện Vĩnh Tường) và các di tích ở thị xã Vĩnh Yên thờ Thất Đinh sơn (7 anh
em họ Lỗ) phò giúp triều Trần đánh giặc Nguyên Mông, sau buổi khải hoàn đã hoá thánhtại Đinh sơn (núi Đinh) đều là những dấu ấn khó phai của nền văn hoá Việt
Từ vùng địa linh ấy, từ vùng đất văn hiến đã sản sinh và nuôi dưỡng nên các thế
hệ những con người đã biết sống, biết xây dựng quê hương và biết đấu tranh để gìn giữnhững bản sắc văn hoá của chính mình, của các thế hệ để lưu truyền muôn đời hậu thế
Trang 30học Trong đó, các di tích kiến trúc nghệ thuật chiếm số lượng lớn, tiêu biểu như: ĐìnhThổ Tang, cụm di tích đình – chùa Hương Canh, đình Bích Chu, đền Bắc Cung (đềnThính), đền Trần Nguyên Hãn, đền Phú Đa,… Ngoài ra, một số di tích, danh thắng có giátrị thuộc nhiều loại hình khác như: khu di tích – danh thắng Tây Thiên, di chỉ khảo cổ họcĐồng Đậu, Nghĩa Lập,… Các di tích trên địa bàn tỉnh ta không chỉ chứa đựng phong cáchkiến trúc truyền thống, bề dày lịch sử hay cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ đơn thuần mà cònmang trong mình cả một hệ thống cổ vật, di vật và các giá trị di sản văn hóa phi vật thể
vô cùng quý giá
- Về các loại hình di tích
+ Loại hình di tích danh thắng.
Ở Vĩnh Phúc có dãy núi Tam Đảo là kết quả của quá trình hoạt động núi lửa thuộc
hệ Triat Thống trung cách nay khoảng 160 triệu năm mà thành Núi Tam Đảo kéo dàikhoảng 50km nhưng những thắng cảnh chủ yếu tập trung ở vùng Tam Đảo và Tây Thiên.Theo sách An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng đời Minh (thế kỷ XV) và Kiến VănTiểu Lục của Lê Quý Đôn (1723-1783) thì "Trên núi Tam Đảo có am Vân Tiêu, am SongTuyền, am Lưỡng Phong, thang Bộ Vân và cầu Đái Tuyết, phong cảnh đều kỳ tuyệt "
Về phía Đông (vùng Trung Mỹ, Bình Xuyên) có núi Ngọc Bội, núi Thanh Lanh, có kheNhân Túc và Yểm Nhĩ tạo thành nguồn chảy từng đoạn, từng đoạn gồm 99 khúc; thácđẹp có thác Bạc, thác Vàng, thác Ba Ao, suối Giải Oan
Rừng Tam Đảo có hệ động, thực vật vô cùng phong phú, nhiều giống loài quýhiếm như cá Nóc, rùa Vàng, côn trùng đặc hữu, các loại gỗ: Lát, Lim, Đinh, Hương,những thảm thực vật nguyên sinh là món quà và tài sản vô giá mà thiên nhiên ban tặngcho con người
Từ những thắng cảnh tự nhiên, con người đã biết nương theo cảnh vật mà nhân tạohoá những danh lam tuy nay đã thành cổ tích Trên đỉnh ngọn Thạch Bàn có chùa Đồng
Cổ dựng giữa hai khe suối quanh năm nước chảy từ phía sau, chảy vòng hai bên ôm lấycảnh chùa trên một bãi đất bằng phẳng rộng 400 - 500m2, dịch mé Đông chùa là mộtrừng trúc trên một vùng đất bằng phẳng ước độ 2 mẫu Bắc Bộ Từ những mảnh đồ gốm
sứ còn lại có thể nghĩ rằng chùa được dựng từ thế kỷ XIII - XIV Phía Đông là đỉnh Phù
Trang 31Nghĩa, ở sườn núi có chùa Phù Nghì dựng giữa rừng trúc với thông, nay còn 2 cây Thôngđường kính tới 1,40m Chùa dựng trên 4 cấp nền tổng cộng rộng chừng 2000m2 có suốiGiải Oan chảy từ phía sau vòng qua mé hữu, bên tả là sườn núi thoải dần về phía Tây,chùa được bài trí trong cảnh tả sơn hữu thuỷ Chùa Phù Nghì cũng được xây dựngkhoảng thế kỷ XIII Ngang chếch về phía Tây Nam có Tây Thiên tự được dựng khoảngcuối thế kỷ XII đầu thế kỷ XIII, qua khai quật khảo cổ thấy nền chùa có nhiều hàng chân
đá phiến xếp đều theo kiểu "chạy đàn", rất nhiều mảnh tháp đất nung với văn hoa đẹp vàtinh xảo thuộc thời Lý Trần cùng nhiều di vật chứng tỏ niên đại kéo dài cho đến thế kỷXIX - thời Nguyễn Nơi đây nay đã phục dựng nên một đại danh lam là Thiền Viện TrúcLâm Tây Thiên, một công trình kiến trúc hoành tráng trong phạm vi khuôn viên gần 4ha
ở độ cao hơn 300m
+ Về loại hình di tích khảo cổ
Cho tới nay, ở Vĩnh Phúc đã có hơn 20 địa điểm, di chỉ được phát hiện, thám sát,khai quật và nghiên cứu, thuộc các giai đoạn văn hoá khảo cổ: Hậu kỳ đá cũ, văn hoáPhùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn và nhiều di chỉ, địa điểm, dấu tích ở thời
kỳ sau công nguyên cho đến thế kỷ X Trong đó, phổ biến hơn cả là các di chỉ thuộc giaiđoạn Kim Khí thời kỳ hình thành Nhà nước sơ khai (từ văn hoá Phùng Nguyên đến vănhoá Đông Sơn), tập trung ở các di chỉ lớn, phạm vi phân bố rộng, tầng văn hoá dày, hiệnvật phong phú và có những đặc điểm khá rõ nét dễ nhận biết Đó là: Di chỉ cư trú ở GòHội (xã Hải Lựu, Sông Lô), di chỉ cư trú, mộ táng và khu lò nung gốm Lũng Hoà (huyệnVĩnh Tường) Đặc biệt, điển hình là di chỉ Đồng Đậu với diện tích 6.5ha, phạm vi phân
bố tầng văn hoá khoảng gần 4ha, tầng văn hoá dày 3,5m đến 4,0m, bao gồm 4 giai đoạnvăn hoá khảo cổ Lớp sớm nhất dưới cùng: Giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên, tiếp theo làcác lớp văn hoá Đồng Đậu, Gò Mun và trên cùng thuộc văn hoá Đông Sơn - 4 giai đoạnvăn hoá khảo cổ nối tiếp nhau liên tục không có thời kỳ gián cách Một di cốt tương đốinguyên vẹn của một người đàn ông (lớp thuộc văn hoá Phùng Nguyên, sát tầng sinh thổ)
ở phía Tây Gò đã khẳng định rằng nơi đây là một di chỉ cư trú mộ táng của người Việt Cổ
đã định cư với thời gian dài tới hàng nghìn năm Những dấu tích vật chất là số lượng hiệnvật qua 6 lần khai quật từ khi phát hiện năm 1962 đến năm 1999 với tổng diện tích là
Trang 32758m2 là số lượng khổng lồ Về cơ bản cũng đã cho phép có một cách nhìn tương đốikhái quát về đời sống và quá trình phát triển lịch sử của cư dân Văn Lang ở buổi đầudựng nước Tuy vậy, cũng còn rất nhiều luận điểm còn cần được tiếp tục nghiên cứu, lýgiải và khẳng định thông qua nguồn tư liệu đồ sộ đang còn được bảo quản nguyên vẹntrong phần lớn diện tích của di chỉ Vì vậy Đồng Đậu được xếp vào loại di tích đặc biệtquan trọng của tỉnh, đã được lập quy hoạch tổng thể để có phương án bảo quản, sử dụng,đầu tư và khai thác để phát huy có hiệu quả nhất trong tương lai
+ Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật
Chiếm phần lớn trong hệ thống di tích của tỉnh, đó là những công trình kiến trúc,xây dựng phục vụ mục đích sử dụng làm nơi thờ cúng chung của làng hoặc một cộngđồng dân cư, bao gồm các loại hình: Đình, đền, miếu, phủ, chùa, tháp, nghè, am, lăng,quán, nhà thờ các loại - qua các thời kỳ, giai đoạn lịch sử còn được lưu truyền cho đếnngày nay
Qua các thời kỳ lịch sử, ở các miền, vùng đều có các danh nhân lịch sử, danh nhânvăn hoá như những ngôi sao sáng làm rạng rỡ bầu trời quê hương, khi đươngchức, đương thời, các vị đã góp đức, góp tài làm rạng danh đất nước, dùng nhân, dùngnghĩa để an định muôn dân Những tấm gương trung liệt ấy mãi đi vào lịch sử và lưu dấutích tại quê hương là những đền thờ danh nhân qua các thời đại, do người đời sau lập nên
để mãi khói hương thờ phụng Trong tổng số 120 danh nhân toàn tỉnh, đã có 5 vị đượccác đời Vua phong sắc Thành hoàng Ở huyện Bình Xuyên có nữ tướng Triệu Thị KhoanHoà, bà có 5 người con trai "ngũ vị áp Lang" theo Hai Bà Trưng đánh giặc, bà đượcphong là Thánh Mẫu đương cảnh Thành Hoàng, đền thờ tại xã Thanh Lãng Huyện YênLạc có đền thờ Nguyễn Khắc Khoan (còn gọi là đền Gia Loan) trên một gò cao ở thị trấnYên Lạc, thường gọi là gò Biện (hay Độc Nhĩ Sơn sách Đại Nam Nhất Thống Chí) Lại
có Ả Nương khoan khoáng Đại Vương - nữ tướng thời Lý Bí đánh giặc Lương thế kỷthứ VI, đền thờ Bà ở các xã Đồng Văn, Trung Nguyên,Đồng Cương (huyện Yên Lạc) và
xã Phú Xuân (huyện Bình Xuyên) Ở huyện Vĩnh Tường, thời Hai Bà Trưng có nữ tướng
Lê Thị Ngọc Chinh ở xã Lũng Hoà, thế kỷ XII, đời Vua Lý Cao Tông (1176 -1210) cócông thần võ tướng Nguyễn Văn Nhượng ở xã Tứ Trưng
Trang 33Còn có 10 danh nhân được phong Thần và Phúc Thần để các làng (nguyên là quêgốc) lập đền, miếu hương hoả phụng thờ mãi mãi Năm làng Tích Sơn (Vĩnh Yên) thờ 7anh em họ Lỗ (Thất vị Lỗ Đinh Sơn) thế kỷ XIII Huyên Lập Thạch có nhà giáo Đỗ KhắcChung (thế kỷ XIII), Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn (thế kỷ XV), đều có đền thờ ởlàng Quan Tử xã Sơn Đông Lưỡng quốc Trạng Nguyên Triệu Thái (xã Đồng ích thế kỷ
XV và Nguyễn Thiệu Tri - một danh thần được tôn xưng: "Quan Tiết" cũng ở thế kỷ XVthuộc xã Xuân Lôi Huyện Bình Xuyên có danh thần Đào Sư Tích (thế kỷ XIV), danhnhân Nguyễn Duy Tường (thế kỷ XVI) ở mức Lý Hải xã Phú Xuân, Nguyễn Duy Thì(thế kỷ XVI - XVII) có phủ thờ ở làng Hợp Lễ, Thị trấn Thanh Lãng Huyện Yên Lạc cótrạng nguyên Phạm Công Bình (thế kỷ XII) ở xá Đồng Văn Thị xã Phúc Yên có danh sĩNgô Kính Thần (thế kỷ XV) ở làng Xuân Phương, phương Phúc Thăng
Điểm qua như thế, nên chăng cũng nên gọi nơi đây là vùng đất “nhân kiệt” Vàcòn người nơi đây thì thuỷ chung, có trước, có sau, sự đền ơn đáp nghĩa với các vị Thánh,Thần, các bậc Tiên Liệt, những người có công với làng, giúp ích cho Nước bằng lối ứng
xử rất Việt Nam: Tôn xưng lên thành bậc Thánh, Thần và lập miếu, đền thờ phụng, mãimãi lưu truyền tự tại dân gian, song hành với lịch sử thành văn, kể cả từ khi chưa có văn
tự - một lối hành xử văn hoá thật là dân dã và cũng thật là đẹp đẽ của người Việt Nam
Đó cũng chính là yếu tố để tạo nên tính cách, nhân cách Việt: Nhân hoà là phương châmcốt lõi để ứng xử trước mọi hoàn cảnh Đó là quá trình đối đãi với tự nhiên, hay là quátrình ứng xử với các đồng văn hoá khác để hoà nhuần thành văn hoá Việt? Vì vậy nên,cùng với hệ thống các đình, đền, miếu, phủ là nơi thờ các bậc thánh, thần, các làng ởVĩnh Phúc (cũng như mọi làng Việt cổ thuộc vùng đồng bằng, trung du Bắc Bộ) còn xâydựng ở mỗi làng một ngôi chùa để thờ Phật, một loại hình tôn giáo được du nhập vàoViệt Nam từ khoảng đầu công nguyên, để cho đến bây giờ, mỗi người đều cảm thấy việc
đi chùa lễ Phật, nghe giảng Phật pháp là điều hết sức tự nhiên như là một phần của cuộcsống
Hệ thống các di tích kiến trúc về nghệ thuật được tạo dựng qua nhiều thế kỷ, mangdấu ấn nhiều thời đại, gắn liền với nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau và cũng là sự phảnánh tâm tư, nguyện ước, sắc thái văn hoá vùng, miền để tạo nên một sự đa dạng, đa sắc
Trang 34màu trong bức tranh tổng thể di tích chung của Vĩnh Phúc, trong đó chứa đựng các giá trịvăn hoá vật thể và phi vật thể để tạo nên một giá trị văn hoá tổng thể bao gồm:
Tuỳ theo chức năng sử dụng của từng loại hình di tích; cách tư duy, sáng tạo củacon người từng thời kỳ lịch sử khác nhau mà có cách bố cục kiến trúc khác nhau Thực
tế, hệ thống di tích kiến trúc và nghệ thuật ở Vĩnh Phúc hiện nay, về cơ bản, những ditích có niên đại xây dựng sớm nhất - cơ sở xác định là thông qua kết quả kiểm tra, khảosát khảo cổ học Đó là hệ danh lam ở vùng Tây Thiên, khởi nguồn xây dựng là từ thời LýTrần (thế kỷ XII - XIII): Chùa Đồng Cổ, Phù Nghì, Tây Thiên Thiền tự (như đã nêu trên)nay đã trở thành cổ tích Còn lưu giữ đến nay có tháp Bình Sơn (xã Tam Sơn, Sông Lô)hoặc tấm bia đá thời Lý ở chùa Cấm (phường Trưng Nhị, thị xã Phúc Yên)
+ Loại hình di tích có yếu tố văn hoá phi vật thể(lễ hội)
Cùng với những giá trị về kiến trúc, mỹ thuật xây dựng, mỹ thuật điêu khắc, tạohình được đặt trong một tổng thể cảnh quan, không gian, di tích còn hàm chứa giá trị vănhoá phi vật thể, yếu tố văn hoá được coi là linh hồn của mỗi di tích, đó là những phongtục, tập quán, kỵ hèm có thể thành văn hay không thành văn, mà chủ yếu là được lưutruyền từ đời này qua đời khác để tất cả mọi thành viên trong cộng đồng làng thực hiệnhết sức nghiêm túc và tự giác Đặc biệt, đó là những lễ hội truyền thống gắn liền với sựtích, chiến công, công trạng, hoặc là ôn lại một phần thân thế, hành trạng của vị thầnđược thờ làm thần, thành hoàng của làng, trên cơ sở có sự nhân cách hoá, thần thánh hoá,được đan xen những yếu tố văn hoá riêng của một cộng đồng trong hội làng (hoặc hộivùng) Tựu chung đều nhằm rèn giũa những kỹ năng về sức mạnh, sự bền bỉ, dẻo dai,khéo léo của từng cá nhân, của một tập thể nhằm phát huy tính sáng tạo, cần cù trong laođộng sản xuất, như các lễ hội: Trâu rơm bò rạ (xã Đại Đồng, Vĩnh Tường), Tứ dân chinghiệp (Phường Khai Quang, Vĩnh Yên) Thể hiện sức mạnh và tính chiến đấu ở hội Kéosong (Hương Canh, Bình Xuyên), Cướp phết (Bàn Giản, Lập Thạch) Mang ý nghĩa phồnthực, cầu mong sự sinh sôi nảy nở: Hội Đúc bụt ở Đồng Tĩnh (Tam Dương), cướp câybông ở đền Đuông (Bồ Sao, Vĩnh Tường) với quan niệm nếu ai cướp được những vậtthiêng là cây bông hay chiếu bụt thì sẽ sinh con trai (hay gái); hoặc sự khéo léo đảm đangcủa phụ nữ: Nấu cơm thi ở hội miếu Đậu (Vĩnh Yên); mang màu sắc luyến ái: Hội bắt
Trang 35trạch trong chum (Thị trấn Tứ Trưng, Vĩnh Tường), múa Mo (Phường Khai Quang,Vĩnh Yên); hội hát dân ca: trống quân (xã Đức Bác, Lập Thạch, hội gắn liền với đời sốngnông nghiệp: Hội chọi trâu (Hải Lựu, Sông Lô), với nghề sông nước: Bơi chải (ViệtXuân-Vĩnh Tường), hội xuống đồng của người Cao Lan (Quang Yên, Lập Thạch), Hàngchục lễ hội truyền thống của các làng xã trên địa bàn toàn tỉnh từ miền núi xuống đồngbằng châu thổ, của các vùng miền cư dân, của các dân tộc cùng sinh sống đã dần trởthành lễ hội vùng ( phạm vi ảnh hưởng ) như: chọi trâu (Hải Lựu, Sông Lô) ngày 16tháng 2, hội Cướp phết (Bàn Giản, Lập Thạch) ngày mùng 7 tháng giêng đã từnglàm nên đời sống văn hoá tinh thần mang yếu tố đặc trưng qua suốt chiều dài lịch sử,cho đến nay, dù đã trải qua những bước thăng trầm của lịch sử, tuy có phần nào mai một,nhưng đang dần được phục hưng, được gìn giữ, đã và đang trở thành những nhân tố tíchcực trong đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân Và qua đó ngày càng khẳng định sựtrường tồn tất yếu của nền văn hoá truyền thống Việt Nam.
+ Loại hình di tích lịch sử cách mạng kháng chiến
Đã từng là niềm tự hào của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc của tỉnh trong thời
kỳ lịch sử cận hiện đại, gắn liền với quá trình ra đời và lãnh đạo của Đảng qua các cuộckháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Vĩnh Phúc - nơi ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử hàohùng như: Đồn điền Tam Lộng là nơi thành lập chi bộ đảng đầu tiên của tỉnh ở HươngSơn, Bình Xuyên Nhà in báo của Đảng cộng sản Đông Dương năm 1930 - 1931 ở xãTráng Việt, huyện Mê Linh, vùng chiến khu Ngọc Thanh (xã Ngọc Thanh, thị xã PhúcYên), trận đánh thắng tàu chiến Pháp trên sông Lô trên bến Phương Khoan (huyện LậpThạch) trong chiến dịch Thu Đông năm 1947, bắn rơi máy bay Mỹ ở Đạo Trù (huyện LậpThạch) và Thịnh Kỷ (thị xã Phúc Yên) đã trở thành những dấu son không phai mờtrong trang sử oanh liệt của dân tộc Việt Nam, của nhân dân Vĩnh Phúc trong các cuộcchiến tranh giành độc lập, thống nhất Tổ Quốc và trở thành biểu tượng của cuộc chiếntramh nhân dân thành công nhất ở thế kỷ XX
Sau kháng chiến chống Pháp thắng lợi năm 1954, miền Bắc bước vào xây dựngchủ nghĩa xã hội, Vĩnh Phúc với vị trí cửa ngõ thủ đô đã dốc lòng dốc sức xây dựng cuộcsống mới về mọi mặt, với những thành tích nổi bật của các địa phương, được Bác Hồ về
Trang 36thăm và động viên: Phong trào xây dựng hợp tác xã nông nghiệp ở thôn Lai Sơn xã CộngHoà (nay là phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên) năm 1958, phong trào trồng cây ởhợp tác xã Lạc Trung (xã Bình Dương, huyện Vĩnh Tường) năm 1961, công trường xâydựng lại khu nghỉ mát Tam Đảo, Bác về thăm cán bộ và nhân dân toàn tỉnh ngày02/3/1963 tại Vĩnh Yên, thăm hỏi chúc Tết nhân dân thôn Yên Định (xã Tân Phong,huyện Bình Xuyên) nhân dịp tết Nguyên đán năm 1956 hay trên đường công tác, Bácdừng chân nghỉ tại Chùa Hà (Vĩnh Yên) và Người khen "nước giếng Chùa Hà vừa trongvừa mát "
Những lần Bác về, những nơi Bác đến đều là sự thể hiện tấm lòng quan tâm đặcbiệt của lãnh tụ Hồ Chí Minh đối với từng người dân, từng công việc cụ thể Đó vừa làniềm tự hào, vừa là trách nhiệm lớn lao của cán bộ, đảng viên, chiến sỹ và nhân dân toàntỉnh quyết tâm phấn đấu để xây dựng "Vĩnh Phúc thành tỉnh giàu có và phồn thịnh nhất ởmiền Bắc " Và thực sự, Vĩnh Phúc đã và đang thực hiện lời dạy của Bác khi Người vềthăm Những nơi Bác đến thăm đều được nhân dân địa phương trân trọng xây dựng nhàlưu niệm với phương chậm giản dị, gần gũi, mang đậm phong cách Việt Nam và tínhcách đặc biệt giản dị của Bác; vời khuôn viên rộng rãi, thoáng đãng, tạonên một dấu ấnlịch sử sâu đậm, một môi trường văn hoá lành mạnh và trở thành một điểm nhấn trongquá trình phát triển mọi mặt đời sống nhân dân địa phương nói riêng và của chung toàntỉnh
Đến nay, các di tích lưu niệm Bác Hồ ở Vĩnh Phúc đã và đang được các cấp uỷĐảng, chính quyền và nhân dân các địa phương quan tâm gìn giữ, tôn tạo và phát huytác dụng tích cực trong việc giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ tại quê hương, một trungtâm văn hoá, học tập của cộng đồng và sẽ trở thành một trong những điểm đến hấp dẫncủa du khách gần xa bởi từ sự kết tinh truyền thống của con người và quê hương VĩnhPhúc
Loại hình di tích lịch sử cách mạng và kháng chiến là những nơi lưu dấu các sựkiện lịch sử từ khi Đảng ta ra đời, lãnh đạo toàn dân thực hiện các cuộc đấu tranh, từngbước giành chính quyền năm 1945, thành lập nhà nước dân chủ nhân dân và thực hiện sựnghiệp giải phóng, thống nhất và xây dựng nước Việt Nam mới Những sự kiện minh
Trang 37chứng cho quá trình đấu tranh gian khổ, đầy hy sinh nhưng rất vẻ vang của toàn dân tộcViệt Nam, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của cán bộ, nhân dân Vĩnh Phúc qua cácthời kỳ cách mạng Và những di tích lưu niệm nơi Bác Hồ, sinh thời đã từng về thăm, thểhiện lòng biết ơn Người của nhân dân Vĩnh Phúc - nghĩa cả tình sâu - đời đời ơn Bác.Yếu tố nhân văn đó chính là nguồn lực mạnh mẽ để góp phần làm nên những thành tựu tolớn trong công cuộc dựng xây một tỉnh Vĩnh Phúc giàu đẹp bền vững.
Hệ thống di tích lịch sử - văn hoá và danh thắng là một phần quan trọng của khotàng di sản văn hoá Vĩnh Phúc Ở đó kết tinh tất cả các giá trị văn hoá, giá trị nhân văncủa con người và thiên nhiên Vĩnh Phúc, mỗi nơi một vẻ; mỗi di tích cũng có những nétriêng, và là những kết quả của một quá trình sống, quá trình tư duy, sáng tạo, quá trìnhphát triển tất yếu của lịch sử nhưng mang đậm sắc thái riêng biệt của đất và người VĩnhPhúc
+ Do yếu tố khách quan như chiến tranh, môi trường…đã làm cho một số di tíchchỉ còn là phế tích
+ Ngoài ra còn có những di tích đang trong tình trạng bắt đầu có dấu hiệu xuốngcấp; Tuy nhiên cũng có những di tích LSVH còn nguyên vẹn, hiện trạng tốt
Nhìn chung, thực tế cho thấy hiện nay, nhiều di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàntỉnh Vĩnh Phúc đang nằm trong tình trạng xuống cấp, do ảnh hưởng của yếu tố thời gian,môi trường, khí hậu và một phần nào đó bị con người xâm hại Đối với các di tích thuộcloại hình khảo cổ học, cũng xảy ra tình trạng bị xâm lấn về đất đai, tầng văn hóa, bởi các
Trang 38hoạt động của nhân dân địa phương trong quá trình lao động sản xuất, cũng như tốc độ đôthị hóa diễn ra nhanh chóng tác động Mặt khác công tác tu bổ, tôn tạo, quản lý di tíchtrên địa bàn Vĩnh Phúc trong thời gian qua cũng bộc lộ những hạn chế, khuyết điểm, saiquy cách…làm ảnh hưởng đến di tích Theo kiểm kê sơ bộ của ngành VHTT&DL tỉnh,hiện có 200 di tích (chiếm 15% tổng số di tích) là các di tích còn kiến trúc cổ hoặc mộtphần kiến trúc cổ, đây cũng là các di tích chứa nhiều giá trị lịch sử, văn hóa, khoa họcnhất nhưng chủ yếu là chất liệu gỗ nên dễ bị xuống cấp và thường xuyên phải tu bổ, tôntạo Trong tổng số các di tích xếp hạng hiện nay có 42/66 di tích cấp quốc gia đang xuốngcấp, trong đó có 13/66 di tích cấp quốc gia xuống cấp nghiêm trọng; 1 di tích cấp quốcgia đặc biệt là Tháp Bình Sơn chưa được đầu tư; 178/387 di tích cấp tỉnh đang xuống cấp,trong đó có 37/387 di tích cấp tỉnh xuống cấp nghiêm trọng…[55] Đối với các di tíchthuộc loại hình khảo cổ cũng đang bị xâm hại về đất đai, hạ tầng văn hóa, chủ yếu bởi cáchoạt động của con người trong quá trình lao động sản xuất cũng như tốc độ đô thị hóadiễn ra rất nhanh
Thực trạng trên đặt ra nhu cầu bức thiết đó là, cần tăng cường công tác quản lý,bảo vệ nhằm phát huy giá trị bền vững của các di tích trên địa bàn tỉnh
2.1.2.3 Hình thức sở hữu di tích
Hình thức sở hữu di tích Qua khảo sát thực tế cho thấy, các di tích lịch sử văn hóacủa Vĩnh Phúc hiện nay có hai hình thức sở hữu: Sở hữu tập thể/cộng đồng và sở hữu tưnhân
+ Di tích thuộc quyền sở hữu tập thể: chiếm số lượng lớn, đó là những công trìnhcủa làng, xã do tập thể góp công xây dựng như đình, chùa hoặc cũng có thể là một cánhân đứng ra khởi công xây dựng nhưng vẫn có sự đóng góp của cộng đồng làng ở góc
độ này hay góc độ khác Trong cộng đồng ở phạm vi làng cũng chia ra thành sở hữu củacác nhóm nhỏ như cộng đồng dòng họ với nhà thờ họ, văn chỉ, võ chỉ của một dòng họtrong làng
+ Di tích thuộc quyền sở hữu tư nhân: loại di tích này chiếm số lượng khôngnhiều, chủ yếu là kiến trúc nhà ở đang được sử dụng như: nhà cổ dân gian đồng thời là từđường các dòng họ lớn Nhiều di tích nhà thờ họ gắn liền với công trình dân dụng về
Trang 39danh nghĩa thuộc về những dòng họ nhƣng thực chất quyền sở hữu (sổ đỏ sử dụng đất)đang đứng tên các cá nhân như trưởng họ, trưởngg chi Các công trình kiến trúc nhà ởdân gian, các nhà thờ họ đã và đang đƣợc cơ quan quản lý di tích lập hồ sơ xếp hạng vàđưa vào danh mục các công trình kiến trúc dân dụng cần được bảo vệ.
2.2.2 Về bộ máy quản lý hệ thống di tích lịch sử - văn hóa
2.2.2.1 Cấp tỉnh:
* UBND cấp tỉnh
Theo quy định của Luật di sản văn hóa, UBND tỉnh chịu trách nhiệm quản lý nhà nước
về DSVH ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ Tiến hành chỉ đạo các hoạt động
về quản lý DSVH như: xây dựng quy hoạch; lập kế hoạch bảo vệ và phát huy giá trị ditích; kiểm kê, nghiên cứu đối với di tích và toàn bộ cổ vật của di tích; chỉ đạo và cấp phépcho các hoạt động bảo vệ, phát huy giá trị di tích, tiến hành thanh tra, kiểm tra việc chấphành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng và xử lý vi phạm pháp luật về ditích…
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Đây là cơ quan chuyên môn, tham mưu, giúp UBND tỉnh thực hiện chức năngquản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh về di sản văn hóa” Trách nhiệm của Sở Văn hóa, Thểthao và Du lịch trong quản lý di tích lịch sử văn hóa được quy định rõ trong Quy định vềquản lý di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Bộ phân chịutrách nhiệm quản lý di tích chính hiện nay là Ban quản lý di tích tỉnh Vĩnh Phúc Tại các
xã, phường, thị trấn có di tích được xếp hạng đều thành lập Ban quản lý di tích để trựctiếp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị các di tích đó
- Sơ đồ, cơ cấu tổ chức của đơn vị của sở VHTT và du lịch tỉnh Vĩnh Phúc hiệnnay gồm:
+ Lãnh đạo sở: Gồm 01 giám đốc và 04 Phó giám đốc;
+ Các phòng: Gồm 11 phòng
- Vị trí, chức năng của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Vĩnh Phúc đượcUBND tỉnh Vĩnh Phúc quy định tại Quyết định số 37/2008 QĐ – UBND ngày 29 tháng
Trang 407 năm 2008 “về việc quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức
của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Vĩnh Phúc”như sau:
+ Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, cóchức năng tham mưu, giúp UBND tỉnh thực hiện quản lý Nhà nước về: văn hoá, gia đình,thể dục, thể thao, du lịch và quảng cáo (trừ quảng cáo trên báo chí, mạng thông tin máytính và xuất bản phẩm) ở địa phương, các dịch vụ công thuộc lĩnh vực quản lý của Sở vàthực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của UBND tỉnh và theo quy địnhcủa pháp luật
+ Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoảnriêng; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của UBND tỉnh, đồngthời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra về chuyên môn, nghiệp vụ của BộVăn hoá, Thể thao và Du lịch
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch đối với lĩnh vực disản văn hóa:[49]
+ Trình UBND tỉnh: Dự thảo quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 05năm và hàng năm; đề án, dự án, chương trình phát triển văn hoá, di sản, du lịch; chươngtrình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính Nhà nước; phân cấpquản lý và xã hội hoá trong lĩnh vực văn hoá, di sản, du lịch ở địa phương; Dự thảo vănbản quy phạm pháp luật quy định cụ thể tiêu chuẩn chức danh đối với Trưởng, Phó các tổchức, đơn vị trực thuộc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch; Trưởng, Phó phòng Văn hoá vàThông tin thuộc UBND cấp huyện, sau khi phối hợp và thống nhất với Sở Thông tin vàTruyền thông
+ Trình Chủ tịch UBND tỉnh: Dự thảo quyết định, chỉ thị thuộc thẩm quyền banhành của Chủ tịch UBND tỉnh về văn hoá, di sản, du lịch; Dự thảo quyết định thành lập,sáp nhập, giải thể các đơn vị thuộc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch và các Hội đồngchuyên ngành về văn hoá, di sản, du lịch theo quy định của pháp luật
+ Hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật,chính sách, quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án, chương trình sau khi được phê duyệt;