1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trên đất nương rẫy tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang (LV thạc sĩ)

105 196 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 3,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trên đất nương rẫy tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang (LV thạc sĩ)Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trên đất nương rẫy tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang (LV thạc sĩ)Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trên đất nương rẫy tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang (LV thạc sĩ)Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trên đất nương rẫy tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang (LV thạc sĩ)Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trên đất nương rẫy tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang (LV thạc sĩ)Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trên đất nương rẫy tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang (LV thạc sĩ)Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trên đất nương rẫy tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang (LV thạc sĩ)Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trên đất nương rẫy tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang (LV thạc sĩ)Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trên đất nương rẫy tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang (LV thạc sĩ)Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trên đất nương rẫy tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang (LV thạc sĩ)

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRẦN QUANG BẰNG

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG TRÊN ĐẤT NƯƠNG RẪY TẠI HUYỆN HOÀNG SU PHÌ, TỈNH HÀ GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRẦN QUANG BẰNG

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG TRÊN ĐẤT NƯƠNG RẪY TẠI HUYỆN HOÀNG SU PHÌ, TỈNH HÀ GIANG

Chuyên ngành: Khoa học cây trồng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Mọi trích dẫn trong luận án đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Trần Quang Bằng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và cơ quan nghiên cứu Trước hết, tác giả xin trân trọng cảm ơn

TS Dương Trung Dũng, với cương vị người Thầy hướng dẫn khoa học, đã

có nhiều đóng góp trong nghiên cứu và hoàn thành luận văn Tác giả trân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo Thường trực Huyện uỷ, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân huyện Hoàng Su Phì Cám ơn Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Huyện, Chi Cục Thống kê, Trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn huyện Hoàng Su Phì, Uỷ ban nhân dân xã Chiến Phố trong việc cung cấp tài liệu và thông tin liên quan đến đề tài, bố trí thí nghiệm đồng ruộng và hợp tác triển khai xây dựng mô hình trồng đậu tương có sự tham gia của nông dân Trong quá trình hoàn thành luận án được sự giúp đỡ của các Thầy giáo, Cô giáo khoa Nông học, Viện khoa học sự sống, Phòng quản lý đào tạo sau đại học trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Nhân dịp này, tác giả xin trân thành cảm ơn các cơ quan trên

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 10 năm 2016

Tác giả

Trần Quang Bằng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 3

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất đậu tương trên thế giới 7

1.2.1 Tình hình nghiên cứu đậu tương trên thế giới 7

1.2.2 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và các châu lục 10

1.3 Tình hình nghiên cứu và sản xuất đậu tương ở Việt Nam 15

1.3.1 Tình hình nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam 15

1.3.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam 21

1.3.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương ở Hà Giang 24

1.3.4 Tình hình sản xuất và nghiên cứu cây đậu tương huyện Hoàng Su Phì 26

Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 29

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 29

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 29

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 29

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 29

Trang 6

2.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 29

2.3.1 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của 8 giống đậu tương tham gia thí nghiệm 29

2.3.2 Xây dựng mô hình trình diễn một số giống đậu tương có triển vọng tại huyện Hoàng Su Phì 30

2.4 Phương pháp nghiên cứu 30

2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 30

2.4.2 Quy trình kỹ thuật 30

2.4.3 Phương pháp theo dõi 32

2.4.4 Xây dựng mô hình trình diễn giống ưu tú 35

2.4.5 Xác định một số chỉ tiêu hóa sinh để đánh giá chất lượng 36

2.4.6 Phương pháp xử lý số liệu 36

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37

3.1 Kết quả nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển các giống thí nghiệm vụ Hè Thu năm 2015 và vụ Xuân năm 2016 tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang 37

3.1.1 Thời gian sinh trưởng của các giống 37

3.1.2 Một số đặc điểm hình thái của các giống đậu tương thí nghiệm 41

3.2 Một số chỉ tiêu sinh lý của các giống đậu tương tham gia thí nghiệm 45

3.2.1 Chỉ số diện tích lá (CSDTL) 45

3.2.2 Sự hình thành nốt sần của các giống đậu tương thí nghiệm 46

3.3 Tình hình nhiễm sâu hại của các giống đậu tương thí nghiệm 49

3.4 Khả năng chống đổ, chống tách vỏ quả của các giống đậu tương thí nghiệm 51

3.4.1 Khả năng chống đổ 51

3.4.2 Khả năng chống tách vỏ quả 52

3.5 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống đậu tương thí nghiệm 53

Trang 7

3.6 Kết quả so sánh và xếp hạng năng suất thực thu của các giống đậu

tương thí nghiệm 57

3.7 Kết quả xây dựng mô hình trình diễn vụ Hè Thu năm 2016 58

3.7.1 Địa điểm, thời vụ, quy mô gieo trồng và biện pháp kỹ thuật 58

3.7.2 Kết quả xây dựng mô hình 59

3.7.3 Đánh giá của người dân đối với các giống đậu tương tham gia mô hình trình diễn vụ Hè Thu năm 2016 60

3.8 Kết quả đánh giá Protein, Lipit của 3 giống đậu tương có triển vọng 61

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 8

nghiệp vùng Đông Nam Á INTSOY và ISVES : Chương trình đậu nành quốc tế

PPCCMAC : Chương trình hợp tác nghiên cứu thực

phẩm ở các nước Trung Mỹ SEARCA : Trung tâm đào tạo và nghiên cứu nông

nghiệp cho vùng Đông Nam châu Á

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới trong các năm gần

đây (2005 - 2014) 11 Bảng 1.2 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của một số nước

trên thế giới 12 Bảng 1.3 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam trong những năm

gần đây (2005 - 2014) 22 Bảng 1.4 Diện tích năng suất, sản lượng đậu tương từ năm 2005 -

2014 của toàn tỉnh Hà Giang 25 Bảng 1.5 Diện tích năng suất, sản lượng đậu tương từ năm 2005 -

2015 huyện Hoàng Su Phì 27 Bảng 3.1 Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các giống thí

nghiệm vụ Hè Thu năm 2015 và vụ Xuân năm 2016 38 Bảng 3.2 Đặc điểm hình thái của các giống thí nghiệm vụ Hè Thu

năm 2015 và vụ Xuân năm 2016 42 Bảng 3.3 Chỉ số diện tích lá của các giống đậu tương thí nghiệm vụ

Hè Thu năm 2015 và vụ Xuân năm 2016 45 Bảng 3.4 Số lượng nốt sần hữu hiệu của các giống đậu tương 47 Bảng 3.5 Một số sâu hại chính của các giống đậu tương thí nghiệm 50 Bảng 3.6 Tỷ lệ đổ của các giống đậu tương thí nghiệm vụ Hè Thu

năm 2015 và vụ Xuân năm 2016 52 Bảng 3.7 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống

đậu tương tham gia thí nghiệm vụ Hè Thu năm 2015, vụ Xuân năm 2016 53 Bảng 3.8 So sánh và xếp hạng năng suất thực thu của các giống đậu

tương thí nghiệm 57 Bảng 3.9 Kết quả trình diễn mô hình giống đậu tương mới vụ Hè Thu

năm 2016 59 Bảng 3.10 Kết quả cho điểm về chọn giống phục vụ sản xuất 60 Bảng 3.11 Một số chỉ tiêu hóa sinh của các giống đậu tương 61

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Biểu đồ NSLT vụ hè thu năm 2015 so với NSLT vụ xuân

năm 2016 55 Hình 3.2 Biểu đồ NSTT vụ hè thu năm 2015 so với NSTT vụ xuân

năm 2016 56

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây đậu tương (Glycine max (L) Merrill) là cây công nghiệp ngắn ngày

có tác dụng rất nhiều mặt và là cây có giá trị kinh tế cao Hạt đậu tương dùng làm thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị Ngoài ra, đậu tương là cây trồng ngắn ngày rất thích hợp trong thực hiện công thức luân canh, xen canh, gối vụ với nhiều loại cây trồng khác và là cây cải tạo đất rất tốt

Hạt đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao: hàm lượng protein trung bình khoảng từ 35,5 - 40 %, lipit từ 15 - 20% gồm cả 2 loại axit béo no và không no, hidratcacbon 15 - 16% và nhiều loại sinh tố và muối khoáng quan trọng cho sự sống

Trong hạt đậu tương có chứa đầy đủ và cân đối các loại axit amin, đặc biệt là các axit amin không thể thay thế cần thiết cho cơ thể con người như: triptophan, leuxin, valin, lizin, methiomin Ngoài ra còn có các muối khoáng như: Ca, Fe, Mg, Na, P, K… các vitamin B1, B2, D, K, E…

Từ hạt đậu tương có thể chế biến được trên 600 loại thực phẩm khác nhau, làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến sơn, cao su nhân tạo, mực in,

xà phòng, chất dẻo, tơ nhân tạo, dầu bôi trơn trong ngành hàng không Trong

y học, đậu tương được dùng làm vị thuốc chữa bệnh giúp tránh hiện tượng suy dinh dưỡng ở trẻ em, người già và có tác dụng hạn chế bệnh loãng xương

ở phụ nữ, bệnh đái tháo đường, thấp khớp

Cây đậu tương là cây có khả năng cải tạo và bồi dưỡng đất rất tốt do có

sự cộng sinh giữa rễ với vi khuẩn nốt sần có khả năng cố định đạm trong không khí làm giàu đạm cho đất Sau mỗi vụ trồng, đậu tương có thể cố định

và bổ sung vào đất từ 60-80 kg N/ha

Cùng với đó, cây đậu tương với ưu thế là cây ngắn ngày, dễ trồng nên rất thuận tiện để bố trí trong các công thức luân canh, có thể trồng như một cây trồng chính, ở vùng đất cao thường bị hạn trồng lúa thì thiếu nước, cũng như ở

Trang 12

các vùng đất đồi thấp, ít dốc có mưa đều quanh năm, đậu tương có thể trồng từ

1 đến 3 vụ trong năm, đem lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất nông nghiệp Đậu tương được gieo trồng phổ biến trên cả 7 vùng sinh thái trong cả nước Trong đó, vùng Trung du miền núi phía Bắc là nơi có diện tích gieo trồng đậu tương nhiều nhất (73.400 ha) chiếm trên 38 % tổng diện tích đậu tương của cả nước và cũng là nơi có năng suất thấp nhất chỉ đạt 10,3 tạ/ha Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến năng suất đậu tương như: chưa có bộ giống tốt phù hợp, mức đầu tư thấp, các biện pháp kỹ thuật canh tác chưa hợp lý Trong các yếu tố hạn chế trên thì giống là yếu tố cản trở chính đến năng suất đậu tương

Hoàng Su Phì là huyện vùng cao, núi đất nằm ở phía Tây tỉnh Hà Giang

có tổng diện tích đất tự nhiên 63.261,82 ha, trong đó: đất nông lâm nghiệp 46.562,31 ha, chiếm 73,6%; đất phi nông nghiệp 1.727,97 ha, chiếm 2,73%; đất chưa sử dụng 14.971,54 ha, chiếm 23,67%

Tính đến thời điểm hiện nay (năm 2015) diện tích đậu tương cả năm của huyện hơn 5.400 ha, chủ yếu là gieo trồng trên diện tích đất nương rẫy

(chiếm trên 70%), trong đó vụ xuân khoảng 2.600 ha, vụ hè thu khoảng 2.800

ha Cơ cấu giống chủ yếu là giống DT 84 và giống địa phương chiếm khoảng 15% chủ yếu là giống đậu tương hạt vàng và hạt xanh Năng suất đậu tương của huyện bình quân đạt 15,2 tạ/ha, sản lượng hàng năm đạt trên 8.000 tấn Theo số liệu thống kê hàng năm thì thu nhập từ cây đậu tương chiếm từ 16 - 18% trong tổng thu nhập kinh tế hộ gia đình

Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân về sản xuất nhất là việc đầu tư thâm canh, áp dụng khoa học kỹ thuật chưa hợp lý, công tác giống chưa được trú trọng, số hộ sử dụng giống địa phương đã bị thoái hoá còn chiếm tỷ lệ lớn Việc quản lý và cung cấp giống còn nhiều bất cập dẫn đến chất lượng giống bị pha tạp, vì vậy chất lượng thương phẩm kém, năng suất bình quân thấp Mặc dù là huyện có diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương lớn nhất toàn tỉnh và cây đậu tương đã được Cấp ủy - Chính quyền huyện xác định là cây trồng phù hợp, có thế mạnh nhưng trong thời gian qua vẫn chưa thực sự trở thành cây trồng chủ lực giúp người nông dân phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo và làm giàu

Trang 13

Từ thực tế đó chúng tôi thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trên đất nương rẫy tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang”

2 Mục tiêu của đề tài

Lựa chọn được giống đậu tương có khả năng sinh trưởng phát triển tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái giới thiệu cho sản xuất

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghi ̃a khoa học

- Đề tài là công trình nghiên cứu tuyển chọn một số giống đậu tương phù hợp với điều kiện sản xuất tại huyện Hoàng Su Phì, kết quả nghiên cứu góp phần

bổ sung cơ sở lý luận cho việc phát triển đậu tương tại huyện Hoàng Su Phì

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu khoa học để các nhà nghiên cứu về nông nghiệp, giáo viên và sinh viên các trường nông nghiệp tham khảo

3.2 Ý nghi ̃a thực tiễn

- Đề tài đã xác định được các yếu tố hạn chế và triển vọng phát triển sản xuất đậu tương tại huyện Hoàng Su Phì

- Giới thiệu giống đậu tương mới năng suất cao đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn, tăng thu nhập, kích thích phát triển sản xuất đậu tương, giúp người nông dân phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo tại huyện Hoàng Su Phì

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Đậu tương được trồng từ vĩ độ 550 Bắc đến 550 Nam, từ những vùng thấp hơn mặt nước biển cho đến những vùng cao trên 2.000 m so với mặt nước biển

Những yếu tố về môi trường có thể bao gồm: Ảnh hưởng của đất, không khí, sinh vật Những điều kiện trong đất ảnh hưởng đến sinh trưởng cây là: nước, không khí, cấu trúc đất, nhiệt độ đất, pH, chất độc, muối, chất khoáng Những yếu tố không khí gồm: ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm không khí, gió, nồng độ CO2 và khí gây ô nhiễm Những yếu tố sống gồm: cạnh tranh với

cỏ và những cây trồng cùng giống, loài khác, sâu bệnh và tuyến trùng Tất cả những yếu tố ngoại cảnh này làm giảm năng suất thông qua việc gây ra những rối loạn sinh lý trong cây Trong hạn chế đề tài này chỉ đề cập ảnh hưởng do nhiệt độ, nước, ánh sáng

* Yêu cầu nhiệt độ

Trong quá trình sinh trưởng của đậu tương, nếu nhiệt độ biến động trên hoặc dưới mức thích hợp quá nhiều, có thể gây thiệt hại đối với cây trồng Khả năng bị thiệt hại do nhiệt độ tuỳ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng của cây

Nhiệt độ thấp ảnh hưởng đến nảy mầm và sinh trưởng của cây con, sương mù xuất hiện ảnh hưởng phát triển quả, trong đó nhiệt độ cao cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình sinh lý cây Nhiệt độ cao thường kèm với khô hạn và bốc hơi nhiều

Khi nghiên cứu sự nẩy mầm của hạt đậu tương thấy rằng biên độ nhiệt

độ để có thể nẩy mầm là 50C - 400C, nhiệt độ tối ưu cho hạt nẩy mầm là

300C Giống đậu tương ngắn ngày có tổng tích ôn 1.700 - 2.2000C, trong khi đối với những giống dài ngày là 3.200 - 3.8800C tương đương 140 - 160 ngày, đậu tương có khả năng chịu đựng được nhiệt độ từ 35 - 37 0C, mặc dầu vậy thì nhiệt độ tối thích để cây đậu tương phát triển tốt trong mọi pha sinh trưởng là 20 - 250C

Trang 15

Theo Bùi Huy Đáp, (1961)[7], ở pha đầu (thời kỳ cây con) nhiệt độ có ảnh hưởng đáng kể đến nhóm đậu tương chín sớm, ít mẫn cảm với quang chu

kỳ nhưng ít ảnh hưởng đến nhóm chín muộn Chiều cao của cây đậu tương tăng trưởng thuận lợi ở nhiệt độ 17 - 230C, nhưng sự phát triển của rễ thuận lợi ở nhiệt độ 27,2 - 32,20C

Nhìn chung người ta chú ý ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự ra hoa, làm quả, phát triển hạt hơn so với ảnh hưởng của quang chu kỳ Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy tầm quang trọng của sự tương tác giữa hai yếu tố tới quá trình ra hoa và làm quả Thí nghiệm trên giống Ransom, trồng ở nhiệt độ ngày/đêm là 16/220C và 22/180C cho hoa và quả nhiều hơn ở nhiệt độ 30/260C và 18/140C Ở nhiệt độ 18/140C và 30/260C quả hình thành ít mặc dầu hoa ra rất nhiều, chứng tỏ nhiệt độ cao và thấp đã đẫn đến hoa rụng nhiều,

ở nhiệt độ trung bình, cây có nhiều đốt, hoa và số quả trên đốt Tương tự, giống cảm quang ra hoa chậm cũng sinh nhiều đốt, cành, tăng số quả và năng suất (Ngô Thế Dân và cộng sự 1999)[5]

* Yêu cầu độ ẩm

Nước có vai trò quan trọng đối với cây đậu tương, nếu thừa nước sẽ gây tổn thương bộ rễ do thiếu không khí, thiếu nước cây bị héo hoặc năng suất giảm Nước ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây, bao gồm cả về mặt sinh

lý, sinh hoá, hình thái và giải phẫu của cây dẫn đến làm giảm năng suất

Tổng lượng mưa cần cho một vụ đậu tương khoảng 370 - 450 mm trong điều kiện không tưới, còn nếu được tưới đầy đủ thì lượng nước tiêu thụ của đậu tương lên đến 670 - 720 mm (Judy W.H và Jackobs J.A, 1979) [33]

Văn Tất Tuyên và cộng sự (1995) [22], theo dõi tương quan giữa năng suất đậu tương vụ Đông ở đồng bằng Bắc bộ với lượng mưa/vụ đã nhận xét: Lượng mưa là yếu tố khí hậu có tương quan rất chặt chẽ đến năng suất đậu tương vụ Đông (r = 0,72)

Trang 16

* Yêu cầu về ánh sáng:

Toàn bộ năng lượng đi vào cây trồng phụ thuộc một phần vào cường độ quang hợp tối đa trên đơn vị diện tích lá và một phần vào sự hấp thụ bức xạ hoạt tính quang hợp (PAR - Photosynthe - tically active radiation) của toàn bộ diện tích lá Cường độ quang hợp tối đa phụ thuộc vào tuổi và hàm lượng Nitơ ở lá, trạng thái nước, nhiệt độ và nồng độ CO2. Sự hấp thụ bức xạ hoạt tính quang hợp (PAR) bị ảnh hưởng bởi mật độ bức xạ trên tán cây và sự phân bổ của nó trong tán cây Ở điều kiện ngoài đồng ruộng, hầu hết bức xạ được tiếp nhận bởi những lá nằm ở bề mặt ngoài của tán cây (Ngô Thế Dân

và cộng sự, 1999) [5]

Đậu tương là cây ngày ngắn điển hình, có phản ứng chặt chẽ với độ dài ngày, cây sẽ ra hoa khi độ dài ngày ngắn hơn trị số giới hạn của giống Các giống khác nhau phản ứng với độ dài ngày khác nhau, giống chín muộn phản ứng chặt chẽ với độ dài chiếu sáng hơn giống chín sớm

Khi nghiên cứu phản ứng quang chu kỳ của cây đậu tương biểu hiện trong thời gian sinh trưởng sinh dưỡng, nếu đậu tương gặp điều kiện ngày ngắn thì sẽ rút ngắn thời gian từ mọc đến ra hoa và thời gian phân hoá mầm hoa, dẫn tới làm giảm tích luỹ chất khô và giảm số lượng hoa Sau khi ra hoa, nếu đậu tương gặp điều kiện ngày ngắn thời gian sinh trưởng không bị ảnh hưởng nhưng khối lượng chất khô toàn cây giảm (Nguyễn Văn Luật, 1979)[17]

Theo Đoàn Thị Thanh Nhàn và cộng sự (1996) [18], các giống đậu tương ở Việt Nam được chia làm 3 nhóm chính: Nhóm chín sớm, nhóm chín trung bình và nhóm chín muộn, nhóm chín sớm ít phản ứng với độ dài ngày nên ra hoa và chín gần như nhau ở cả 3 thời vụ xuân, hè và vụ đông Sự chênh lệch về thời gian ra hoa và chín của các giống chín muộn rất rõ rệt giữa các vùng trồng, do đó nó phản ứng khá chặt với độ dài chiếu sáng

Trang 17

1.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất đậu tương trên thế giới

1.2.1 Tình hình nghiên cứu đậu tương trên thế giới

Hiện nay nguồn gen đậu tương trên thế giới được lưu giữ chủ yếu ở các nước Australia, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Mỹ, Cannada

với tổng số 45.038 mẫu giống (Trần Đình Long và cộng sự (1995) [14]

Châu Á được coi là khu vực sản xuất đậu tương quan trọng trên thế giới, ở đây có các khu thí nghiệm chọn tạo giống hiện đại với sự tài trợ của nhiều cơ quan và tổ chức Quốc tế, như: Viện Nông nghiệp nhiệt đới quốc tế (IITA), Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu châu Á (AVRDC), Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI), Trung tâm đào tạo và nghiên cứu nông nghiệp vùng Đông Nam Á, Chương trình đậu tương Quốc tế (INSOY và ISVES), các

cơ quan này, tổ chức này có những bộ giống tốt và tập hợp, phân phối các bộ giống đậu tương tiến bộ cho các điểm tham gia thí nghiệm nhằm xác định và phổ biến các giống có khả năng thích ứng rộng rãi với các điều kiện các nước trong khu vực (Hartwig E E và Ewards C.J (1970) [31]

Trung tâm phát triển rau màu Châu Á (AVRDC) đã thiết lập hệ thống đánh giá (Soybean - Evaluation trial - Aste) Giai đoạn 1 đã phân bố được trên 20.000 giống của 164 nước Nhiệt Đới và Á Nhiệt Đới Đặc biệt từ năm 1970 đến nay, Trung tâm rau màu Châu Á đã thành công trong việc tạo ra giống đậu tương G2120 bán hữu hạn, đánh dấu một bước mới trong việc tạo giống

có tiềm năng năng năng suất cao (70 tạ /ha) Giống đậu tương có năng suất cao nhất thế giới thập kỷ 70 là giống Miyakishrome với năng suất tiềm năng

là 78 tạ/ha Mỹ và Canlada là những nước chú ý đến việc chọn tạo giống đậu tương, có khoảng 10.000 mẫu giống đưa vào sản xuất trên 100 dòng có khả

năng chống chịu tốt với bệnh Phytophthora và thích ứng rộng như Amsory

71, Lec 36 Hướng chủ yếu trong công tác nghiên cứu là sử dụng các tổ hợp lai phức tạp, cũng như nhập nội thuần hóa trở thành giống thích nghi với vùng sinh thái, đặc biệt nhập nội để bổ sung vào quỹ gen Đồng thời công tác chọn

Trang 18

giống ở Mỹ là hướng mục tiêu vào việc chọn ra những giống có khả năng thâm canh cao, phản ứng yếu với quang chu kỳ, chống chịu tốt với các điều kiện bất lợi, hàm lượng Protein cao, dễ bảo quản và chế biến (Johnson H W And Bernard, R.L 1976) [32]

Brazin, từ năm 1976 đến nay, tuyển chọn được 1.500 dòng đậu tương Tạo ra các giống Doko, Numbaira, IAC - 8, Cristalina là những giống thích hợp cho vùng đất thấp ở trung tâm Brazin năng suất cao nhất là giống Cristalina đạt 3,8 tấn/ha Hướng nghiên cứu trong thời gian tới từ trồng đến ra hoa là 40 - 50 ngày, đến chín là 107 - 120 ngày, có năng suất cao, chất lượng hạt tốt và kháng sâu bệnh như BR79 - 1098, BR - 10 (Deloyche J C (1983) [29]

Ở châu Á, Trung Quốc là quốc gia có nhiều thành tựu trong việc chọn

tạo giống và sản xuất đậu tương Những năm gần đây, Trung Quốc đã thu

nhập được từ nhiều quốc gia, các vùng sinh thái khác nhau về nguồn vật liệu

di truyền, đồng thời không ngừng ứng dụng các công nghệ, các tiến bộ khoa học kỹ thuật để cải tiến các giống cũ Do đó đã chọn tạo ra các giống mới có năng suất, chất lượng, chống chịu tốt dịch hại, thích hợp với điều kiện sinh thái Các giống điền hình là CN001, CN002, đều cho năng suất trung bình

34 - 43 tạ/ha trên nhiều vùng sản xuất

Ấn Độ, từ năm 1963 đã bắt đầu khảo nghiệm các giống đậu tương và nhập nội, tại trường Đại học Tổng hợp Pathaga Năm 1967, Ấn Độ thành lập tổ

chức AICRPS (The all India Convidinated Resarch Project on Soybean) và NRCS (National Research Centre for Soybean), tập trung nghiên cứu về

genotype và phát hiện ra 50 tính trạng phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới, đồng thời phát triển giống mới có triển vọng như Birsasoil, ĐS74 - 24 - 2 Năm

1985, hai tác giả là Gingh và Chaudhary đã xác định được 6 giống trong 32 giống đậu tương triển vọng có năng suất cao và ổn định như HM93, PK73 - 92

Trung tâm phát triển rau màu Châu Á (AVRDC - Đài Loan) bằng phương pháp lai hữu tính và gây đột biến, từ năm 1961 đã bắt đầu chương trình chọn tạo giống và đưa vào sản xuất các giống Kaohsiung 3, Tainung

Trang 19

3, Tainung 4, các có năng suất cao và quả không bị nứt Các giống này đã được dùng làm nguồn gen kháng bệnh trong các chương trình lai tạo ở các

Indonesia, với các công trình nghiên cứu về cây đậu tương nhiều năm gần đây, mục đích tập chung cải tiến, hoàn chỉnh bộ giống có năng suất cao, ổn định trong nhiều năm, có khả năng trồng trên những chân ruộng sau thu hoạch lúa, thời gian sinh trưởng 70 - 80 ngày chống chịu được bệnh rỉ sắt Nhiều giống tốt đã được đưa vào sản xuất trên diện rộng, nhiều vùng sinh thái, trong

đó phải kể đến giống Willi, Kerinci và Rinjani có nhiều ưu điểm mong muốn, năng suất phổ biến ở các vùng sinh thái dao động 25,2 - 38,4 tạ/ha Đặc biệt, giống Lomphatang trồng trên đất ướt 2 vụ lúa năng suất đạt 24,7 - 26,8 tạ/ha và chỉ đầu tư ở mức tối thiểu

Hiện nay công tác nghiên cứu về giống đậu tương trên thế giới đã được tiến hành quy mô lớn Nhiều tập đoàn giống đậu tương đã được tổ chức quốc tế khảo nghiệm ở nhiều vùng sinh thái khác nhau nhằm thực hiện nội dung chính sau:

Thử nghiệm thích nghi của giống ở từng điều kiện môi trường khác nhau, so sánh giống địa phương với giống nhập nội, đánh giá phản ứng của các giống trong điều kiện môi trường khác nhau Đã có nhiều thành công trong việc xác định các dòng, giống tốt có tính ổn định và khả năng thích ứng khác nhau với điều kiện môi trường khác nhau

- Thu thập các vật liệu di truyền sau đó tiến hành lai tạo, chon lọc, tuyển chọn các giống phù hợp với các tiêu chuẩn của một giống tốt

Trang 20

- Tạo biến dị bằng lai hữu tính và các tác nhân gây đột biến tạo ra giống mới có nhiều đặc tính quý

- Xác định các biện pháp kỹ thuật tiên tiến thâm canh đậu tương đạt năng suất cao, chất lượng tốt

- Khảo nghiệm các giống đậu tương ở các vùng sinh thái khác nhau để tìm khả năng thích ứng cao cho mỗi vùng sinh thái

- Xác định vùng sinh thái địa lý và thời vụ trồng đậu tương thích hợp để đạt năng suất cao

1.2.2 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và các châu lục

Đậu tương là cây lấy hạt, cây có dầu quan trọng bậc nhất của thế giới, đứng hàng thứ 4 sau cây lúa mì, lúa nước và ngô Mặc dù cây đậu tương có nguồn gốc từ Viễn Đông nhưng do khả năng thích ứng khá rộng nên nó đã được trồng ở khắp các châu lục trên thế giới nhưng tập trung nhiều nhất là châu Mỹ 73,03%; tiếp đến là châu Á 23,15% Hàng năm trên thế giới trồng khoảng 54 -

56 triệu ha đậu tương (thời gian 1990 - 1992) với sản lượng khoảng 103 - 114 triệu tấn (FAO 1992) Các nước trồng diện tích nhiều là Mỹ 23,6 triệu ha, với sản lượng 59,8 triệu tấn Braxin có 9,4 triệu ha với sản lượng 19,2 triệu tấn Trung Quốc có 7,2 triệu ha với sản lượng là 9,7 triệu tấn Achentina 4,9 triệu ha với sản lượng là 11,3 triệu tấn Thời kỳ từ năm 1990 - 1992 so với thời kỳ năm

1979 - 1981 sản lượng đậu tương đã tăng lên 26,1% còn diện tích chỉ tăng 8,8% Năng suất đậu tương thế giới bình quân trong những năm 1990 - 1992 là 1.974 kg/ha, tăng so với thời kỳ 1979 - 1981 là 15,9% Những nước có năng suất đậu tương bình quân cao là Italia 3.585 kg/ha, Mỹ 2.530 kg/ha, Achentina 2.322 kg/ha và Braxin là 2.034 kg/ha

Hiện nay có trên 70 nước trên thế giới trồng đậu tương, sản lượng đậu tương không ngừng tăng qua các năm Năm 2014 diện tích đậu tương thế giới đạt 117,72 triệu ha, năng suất bình quân đạt 26,20 tạ/ha, tổng sản lượng thu được 308,44 triệu tấn Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới những năm gần đây được thể hiện qua bảng 1.1

Trang 21

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới

trong các năm gần đây (2005 - 2014) Chỉ tiêu

Năm

Diện tích (triệu ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Qua bảng số liệu ta thấy:

- Diện tích: Trong những năm gần đây diện tích trồng đậu tương trên thế giới có xu hướng tăng lên Giai đoạn 2005 - 2014, trong vòng 10 năm diện tích trồng đậu tương tăng 25,3 triệu ha, tăng 27,2% so với năm 2005 Năm

2014 diện tích trồng đậu tương của Thế giới đạt cao nhất là 117,72 triệu ha

- Năng suất: Năng suất đậu tương trên Thế giới những năm gần đây tương đối ổn định dao động từ 23,18 tạ/ha đến 26,20 tạ/ha Năm 2014, năng suất đậu tương đạt cao nhất là 26,20 tạ/ha

- Sản lượng: Sản lượng trồng đậu tương trong những năm gần đây tương đối phát triển ổn định có sự biến động theo hướng tăng dần Trong vòng 10 năm từ năm 2005 - 2014 sản lượng đậu tương tăng 94,14 triệu tấn, tương đương với 43% Năm 2014, sản lượng đậu tương đạt lớn nhất 308,44 triệu tấn Sở dĩ trong những năm gần đây sản lượng trồng đậu tương tăng nhanh đến như vậy là do diện tích trồng đậu tương trong những năm gần đây cũng tăng lên và do người trồng đậu tương đã ứng dụng các tiến bộ khoa học

kĩ thuật tiên tiến để phục vụ sản xuất

Trang 22

Bảng 1.2 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương

của một số nước trên thế giới

Tên nước

Diện tích (triệu ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Diện tích (triệu ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Mỹ là nước có diện tích trồng đậu tương lớn nhất thế giới với diện tích

là 32,13 triệu ha, sản lượng là 108,01 triệu tấn năm 2014, năng suất bình quân 32,13 tạ/ha Theo nhà kinh tế Keith Collins thì các chủ trang trại ở Mỹ

dự tính mở rộng diện tích trồng đậu tương và giảm diện tích trồng ngô mặc

dù ở Mỹ cây đậu tương đứng thứ 3 về diện tích sau lúa mì và ngô, đứng thứ

2 về lợi nhuận kinh tế, còn nhu cầu sử dụng về ngô và đậu tương đều bão hòa Với nước Mỹ, đậu tương được coi là mặt hàng chiến lược trong xuất khẩu và thu ngoại tệ

Brazil đứng vị trí thứ hai trong các nước sản xuất nhiều đậu tương Diện tích trồng đậu tương của Brazil đến năm 2014 là 30,27 triệu ha, năng suất 28,66 tạ/ha, sản lượng 86,76 triệu tấn Có được kết quả trên là do Brazil

đã sử dụng những giống chống chịu sâu bệnh, giống chuyển gen, ứng dụng thành tựu khoa học của thế giới

Nước đứng thứ 3 thế giới về sản xuất và xuất khẩu đậu tương là Achentina và đứng thứ 4 là Trung Quốc Trước đây Trung Quốc xếp vị trí thứ 3 sau Mỹ và Brazil nhưng từ năm 2000 trở lại đây Achentina đã vượt

Trang 23

Trung Quốc cả về diện tích, năng suất cũng như sản lượng Năm 2014 diện tích đậu tương của Achentina là 19,25 triệu ha, trong khi đó Trung Quốc là 6,73 triệu ha Năng suất đậu tương của Achentina đạt 27,74 tạ/ha cao hơn Trung Quốc 9,61 tạ/ha

Trong sản xuất nông nghiệp, giống luôn giữ một vai trò quan trọng, chọn tạo giống đậu tương có năng suất cao, ổn định, thích hợp với các vùng sinh thái và mùa vụ khác nhau là một trong những hướng chính trong chương trình chọn tạo giống đậu tương Trên thế giới công tác chọn giống đang tập trung vào một số vấn đề sau:

- Nhập nội giống sau đó bồi dưỡng cho thích nghi với từng vùng sinh thái

- Thu thập nguồn vật liệu, sau đó lai tạo, chọn lọc ra những giống tốt phục vụ cho sản xuất

- Khảo nghiệm các giống ở các vùng sinh thái khác nhau để tìm ra khả năng thích ứng của các giống với từng vùng sinh thái

- Dùng các tác nhân vật lý, hoá học gây đột biến, tạo ra các giống mới

có nhiều đặc tính tốt

Năm 1982 thí nghiệm quốc tế đánh giá giống đậu tương tiến hành gồm

108 bộ giống được chia làm 3 nhóm Căn cứ vào thời gian sinh trưởng: giống chín muộn, thời gian sinh trưởng dài, được bố trí ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Giống có thời gian sinh trưởng ngắn được bố trí ở vùng ôn đới Kết quả thu được là:

Nhóm A: Gồm các giống trồng ở vùng nhiệt đới Siata, đạt năng suất bình quân cao nhất ở các điểm thí nghiệm, năng suất đạt 20,4 tạ/ha Giống ICAL - 124 đạt 19,76 tạ/ha Giống VFV đạt 19,74 tạ/ha

Nhóm B: Gồm các giống trồng ở vùng á nhiệt Giống Davis đạt năng suất bình quân cao nhất 18,45 tạ/ha Giống ĐK - 94 đạt 18,27 tạ/ha

Nhóm C: Gồm các giống trồng ở vùng ôn đới như ASSEX đạt năng suất bình quân cao nhất 31,60 tạ/ha Giống AMOR đạt 26,48 tạ/ha, giống KENT đạt 26,42 tạ/ha

Trang 24

Ở Trung Quốc có nhiều thành công nghiên cứu khoa học về đậu tương Một trong số thành tựu đó là tạo ra được giống Tiefeng 18 do xử lý bằng tia gama, chống chịu sâu bệnh cao, không bị đổ, phẩm chất tốt Ngoài ra còn có giống Heioun N06, Heioun N016, sau khi xử lý bằng tia gama đã cho

hệ rễ tốt, lóng thân ngắn, cành nhiều, chịu hạn, khả năng thích ứng rộng, cho năng suất cao Năm 2006 diện tích của Trung Quốc là 9.500.135 ha với năng suất là 17,790 tạ/ha, sản lượng là 16.900.300 tấn (theo thống kê của FAOSTAT Database năm 2007) đã đưa Trung Quốc vươn lên vị trí thứ 4 sau Mỹ, Brazil và Argentina

Theo đánh giá của hội nghị đậu tương quốc tế (tháng 8 năm 1975) thì Brazil là nước mới đứng vào hàng ngũ sản xuất đậu tương nhưng là nước có triển vọng Brazil trở thành nước sản xuất và xuất khẩu đậu tương lớn trên thế giới chỉ đứng hàng thứ 2 sau Mỹ (Theo thống kê của FAOSTAT Database, 2007) Để có được kết quả như vậy là do Brazil đã biết vận dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế giới và nghiên cứu kết hợp giữa trong và ngoài nước Mặt khác Brazil đã có những chính sách hỗ trợ phát triển cây đậu tương bằng cách cho vay vốn với lãi suất thấp trong việc đầu tư mua máy móc, phân bón Ngoài ra Brazil phát triển mạnh lúa mì và ngô luân canh với đậu tương

Mục đích của công tác chọn giống ở Indonexia là phát triển những giống có triển vọng, tức là tạo ra giống có thể sản xuất tốt trên đất thấp sau khi trồng lúa Không phải làm đất, thời gian sinh trưởng ngắn (70 - 80 ngày), chống bệnh rỉ sắt, hạt có sức sống tốt như Willis Tổng diện tích đất ướt ở Inđonexia là 8 triệu ha, trong đó đậu tương chiếm 7,3 triệu ha

Chương trình chọn tạo giống đậu tương ở Châu á trú trọng hai hướng là: đậu tương ăn hạt và làm rau (quả xanh đóng hộp) Năm 1992, AVRDC đã khảo nghiệm 328 mẫu giống đậu tương ăn hạt ở 23 nước và 477 mẫu giống đậu tương làm rau ở 20 nước Giống AGS 129 đã được đánh giá cao ở II AT trong

cả 2 vụ Hè và Thu (AVRDC 1993) (Phạm Văn Biên và cộng sự, 1995).[2]

Trang 25

1.3 Tình hình nghiên cứu và sản xuất đậu tương ở Việt Nam

1.3.1 Tình hình nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam

Ở Việt Nam, theo Trung tâm nghiên cứu và thực nghiệm đậu đỗ (Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam) thì cây đậu tương được trồng ở hầu khắp các tỉnh trong cả nước với diện tích hàng năm là từ 150 - 200 ngàn ha, năng suất trung bình là 13-14 tạ/ha Có 3 vùng trồng đậu tương lớn nhất là miền núi và Trung du Bắc bộ, Đồng bằng Sông Hồng và vùng Đông Nam bộ, chiếm 72,2% tổng diện tích trồng cả nước Các tỉnh trồng nhiều đậu tương như: Cao Bằng, Sơn La, Đồng Nai, Đồng Tháp Nhu cầu về sản phẩm đậu tương của các ngành thương mại, chăn nuôi, công nghiệp thực phẩm ngày càng phát triển nên cây đậu tương ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng trong ngành nông nghiệp nước ta Xuất phát từ vấn đề trên trong những năm gần đây, cây đậu tương đã được các Viện, trường Đại học đầu tư nghiên cứu và tuyển chọn ra nhiều giống cho năng suất cao, chất lượng tốt, thích ứng được nhiều vụ trong năm (Vũ Danh Ca, 2004)[3]

Giống đậu tương M-103 do Viện sĩ Trần Đình Long và tiến sĩ Đoàn Thị Thanh Nhàn chọn tạo bằng phương pháp xử lý đột biến Elthylenimin (EL) nồng độ 0,1% từ giống V70, giống M103 là giống có khả năng sinh trưởng tốt, thích ứng rộng cho năng suất cao, ổn định trong điều kiện sinh thái, khí hậu khác nhau (Trần Đình Long, Đoàn Thị Thanh Nhàn và các cs (1995)[14]

Giống AK05 được chọn tạo từ dạng hình phân ly của G2261 nhập từ AVRDC là giống chịu rét khá, thích hợp cho vụ Đông và Xuân Giống DT90 đột biến bằng tia gamma từ đời lai F2 có nhiều tính trạng tốt, cho năng suất cao

Những kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống đậu tương đã chỉ ra: Vùng nhiệt đới hoàn toàn có thể có những giống đậu tương đạt năng suất cao (Trần Đình Long và các cộng sự 2001)[13]

Năm 1985, bằng phương pháp xử lý đột biến cáctia , Co60 - 118kr, Mai Quang Vinh và các cộng sự đã tạo ra giống đậu tương DT84 từ dòng 33-

Trang 26

3 (ĐT 80 x ĐH4) là giống có nhiều ưu điểm: Thời gian sinh trưởng trung bình

80 - 90 ngày, có thể gieo trồng cả 3 vụ trong năm, đặc biệt là vụ hè; có tiềm năng năng suất cao; chống chịu điều kiện ngoại cảnh bất thuận và dịch hại khá Hiện nay giống DT84 trồng tương đối phổ biến ở nhiều vùng trong nước (Mai Quang Vinh, Ngô Phương Thịnh và các cs (1996)[26]

Viện Di truyền nông nghiệp đã đạt được những thành tựu nhất định trong việc chọn tạo giống đậu tương, đã cho ra đời bộ giống đậu tương 3 vụ gồm 10 giống đó là DT84, ĐT 90, ĐT 96, ĐT 15, AK06, ĐT 99, ĐT 2001, đậu tương rau ĐT 02 và hàng chục giống có triển vọng là ĐT 2002, ĐT01, ĐT2006, ĐT 2007 Trong đó giống đậu tương cao sản ĐT 2006 có thời gian sinh trưởng 80 - 90 ngày, cho năng suất cao nhất ở vụ hè thu, thâm canh tốt có thể đạt 6 tấn/ha (Mai Quang Vinh (2007)[25]

Những yếu tố hạn chế năng suất đậu tương ở nhóm ngắn ngày là diện tích lá thấp Quan hệ giữa năng suất và diện tích lá là tương quan thuận khá chặt (r = 0,89) Yếu tố hạn chế khác đến năng suất hạt là số quả /cây và trọng lượng hạt/cây

Mười năm gần đây, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đã công nhận và áp dụng rộng rãi trong sản xuất nhiều giống đậu tương quốc gia, hàng chục giống được phép khu vực hóa và hàng chục giống khác có triển vọng trong khảo nghiệm quốc gia Các giống này có thời gian sinh trưởng dưới 100 ngày, cho năng suất cao, chất lượng tốt, protein có thể đạt tới 47%, hạt to tròn, đạt tiêu chuẩn quốc tế Viện di truyền nông nghiệp hàng năm áp dụng phương pháp di truyền học hiện đại, kết hợp giữa phương pháp lai hữu tính và đột biến thực nghiệm đã chọn tạo nhiều giống đậu tương mới theo tiêu chuẩn và thích ứng rộng cho năng suất cao có thể trồng cả vụ nóng và vụ lạnh một cách ổn định, chất lượng hạt tốt (Dương Văn Dũng và cs 2007)[6]

Trần Tú Ngà (1994)[18] khi nghiên cứu ứng dụng đột biến thực nghiệm trong chọn giống đậu tương đã chọn ra được một số dòng có triển vọng Phần

Trang 27

lớn các dòng có thời gian sinh trưởng ngắn và năng suất cá thể tăng từ 100 - 165% so với đối chứng

Khi nghiên cứu tập đoàn đậu tương, tiến sỹ Vũ Đình Chính (1995) [4]

đã phân lập các chỉ tiêu theo 3 nhóm, theo mức độ quan hệ của chúng với năng suất

Nhóm I gồm 18 chỉ tiêu không tương quan chặt chẽ với năng suất như: thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, số đốt/thân

Nhóm thứ II gồm 15 chỉ tiêu có tương quan chặt chẽ với năng suất như:

số quả/cây, tỷ lệ quả chắc, số đốt mang quả, số nốt sần, diện tích lá, khối lượng vật chất khô tích luỹ

Nhóm thứ III là nhóm các chỉ tiêu có tương quan nghịch với năng suất gồm 5 chỉ tiêu đó là: tỷ lệ quả 1 hạt, tỷ lệ quả lép, tỷ lệ bệnh virut, tỷ lệ bệnh đốm vi khuẩn và tỷ lệ sâu đục quả Trên cơ sở đó tác giả đã đưa ra mô hình cây đậu tương có năng suất cao là: Có số quả/cây nhiều, tỷ lệ quả chắc cao, khối lượng 1000 hạt lớn, tỷ lệ quả 2 - 3 hạt cao, diện tích lá ở thời kỳ quả mẩy lớn, trọng lượng tương và khô ở thời kỳ hoa rộ, quả mẩy cao, nốt sần/cây nhiều

Dương Văn Dũng và cộng sự (2007)[6] từ tổ hợp lai ĐT 99/VN20- 5 đã tạo chọn được giống đậu tương ĐVN9 có thời gian sinh trưởng ngắn từ 75 -

90 ngày tùy vào vụ và cho năng suất 18,6 tạ /ha

Theo tác giả Nguyễn Văn Lâm và Nguyễn Tấn Hinh (2003) [12] nghiên cứu hệ số biến động và hệ số tương quan của một số đặc trưng đặc tính nông học với năng suất của tập đoàn đậu tương cho thấy: một số tính trạng có hệ số biến động lớn như số quả 3 hạt (58%), số cành cấp 1 (36,2%), số quả 1 hạt (23,2%) và các tính trạng có hệ số biến động thấp là thời gian từ gieo đến ra hoa (5,8%), thời gian sinh trưởng (6,9%), số hạt/quả (8,3%) và số đốt/thân (9,2%) Tác giả cũng cho biết năng suất hạt có hệ số tương quan thuận chặt với thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, số đốt/thân, số quả/cây, số hạt/quả

Trang 28

và khối lượng 1000 hạt Nguyễn Tấn Hinh (2003) [10] nghiên cứu sự khác biệt di truyền của 50 giống đậu tương có nguồn gốc và đặc điểm khác nhau cho thấy thời gian sinh trưởng và P1000 hạt được xác định là những yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự khác biệt di truyền ở đậu tương, sau đó là đến số quả chắc/cây còn năng suất hạt có tỷ lệ ảnh hưởng thấp nhất

Thay hạt giống có phẩm chất cao cho hạt giống bình thường cũng tăng được 15- 20% sản lượng (Nguyễn Văn Hiển, 2000)[9]

Nguyễn Tấn Hinh (2003) [10] cũng công bố kết quả khi nghiên cứu tương quan giữa các tính trạng và năng suất hạt đậu tương cho biết năng suất hạt có mối tương quan thuận chắc chắn với thời gian sinh trưởng và rất chắc chắn với số quả chắc/cây, số đốt mang quả, số đốt/thân chính, chiều cao cây,

số cành cấp 1 và số hạt/quả Vũ Thúy Hằng và cs (2007) [8] cũng khẳng định năng suất cá thể cây đậu tương có tương quan thuận và chặt với các yếu

tố cấu thành năng suất như số quả/cây, số quả 3 hạt/cây và số hạt/cây nhưng tương quan nghịch với số cành/cây và chiều cao cây

Về xu hướng chọn giống, Ngô Thế Dân và cs (1999)[5] cho rằng, hiện tại và trong tương lai Việt Nam trong công tác chọn giống nên tập trung vào một số vấn đề sau:

- Chọn tạo giống đậu tương chín sớm, thời gian sinh trưởng ngắn (70 -

75 ngày), phục vụ cho tăng vụ, mở rộng diện tích trên chân ruộng 2 vụ lúa

- Chọn tạo giống đậu tương thích hợp cho vụ đông đối với các tỉnh phía bắc, có thời gian sinh trưởng từ 80 - 90 ngày

- Chọn tạo giống đậu tương thích hợp cho vụ xuân ở chân đất bãi ven sông và vùng thâm canh cây đậu tương ở các tỉnh miền Bắc có năng suất cao (20 - 25 tạ/ha) và chống chịu tốt với bệnh rỉ sắt

- Chọn tạo giống đậu tương thích hợp cho vụ hè có thời gian sinh trưởng 80 - 95 ngày, chịu hạn, ít bị nhiễm virus, thích hợp cho miền núi vùng đất cát ven biển, năng suất đạt từ 20 - 25 tạ/ha

Trang 29

- Chọn tạo giống đậu tương thích hợp cho vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam Bộ và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long có tiềm năng năng suất

- Chọn tạo giống bằng phương pháp nhập nội

Theo Trần Đình Long và các cs (2005) [15] trong giai đoạn 2001- 2005 các cơ quan nghiên cứu của Việt Nam đã nhập nội 540 mẫu giống đậu tương

từ các nước Mỹ, Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan, Úc bổ sung vào tập đoàn giống

Giai đoạn 2002- 2005 Trần Đình Long và cs (2005) [15] đã khảo nghiệm một số các giống đậu tương có nguồn gốc từ nhiều nước khác nhau Kết quả cho một số mẫu dòng có triển vọng, thời gian sinh trưởng và năng suất ổn định trong nhiều vụ như dòng 95389 cho năng suất 1,4-2,6 tấn/ha, thời gian sinh trưởng 90-96 ngày, thích hợp với vùng chuyên canh đậu tương miền Bắc trong vụ đông xuân và xuân, như CM60 đạt 13-29 tạ/ha, MSBR20 đạt 23,87 tạ/ha

Năm 2001-2002, PGS.TS Đoàn Thị Thanh Nhàn (2001) [20] đã so sánh một số dòng, giống đậu tương nhập nội từ Australia trong vụ hè và vụ Xuân tại Gia Lâm - Hà Nội Kết quả ở cả 3 vụ các giống 96031411 năng suất 29,2- 34,67 tạ/ha (vụ đông, vụ xuân 2001-2002), năng suất 18,1 tạ/ha trong vụ hè Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu về đậu tương ở Việt Nam trong thời gian qua đã thu được nhiều thành tựu to lớn, đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần làm phong phú thêm bộ giống đậu tương

Trang 30

Nguyễn Thị Út (2006) [27] nghiên cứu tập đoàn quỹ gen đậu tương gồm 330 mẫu giống đậu tương thu thập tại Việt Nam và nhập nội, căn cứ vào thời gian sinh trưởng đã phân lập chúng thành 5 nhóm giống Tác giả đã xác định được một số giống có các đặc tính quý làm vật liệu cho công tác chọn giống

Tổng hợp các nguồn tài liệu của Trần Đình Long và các cs, (2005) [15], Trần Đình Long và Nguyễn Thị Chinh (2006) [16] cho biết: Trong giai đoạn 2001- 2005 các nhà chọn tạo giống đậu tương của Việt Nam đã tiến hành khảo sát được 9482 lượt mẫu giống đậu tương và đã xác định được 83 mẫu giống có các đặc tính quý là 4 giống có TGST cực sớm dưới 72 ngày; 6 giống có năng suất cá thể cao; 30 dòng kháng bệnh phấn trắng; 25 dòng kháng bệnh gỉ sắt Theo tác giả giai đoạn này các nhà chọn tạo giống đậu tương của Việt Nam đã thực hiện được 430 tổ hợp lai và xử lý đột biến với 9 giống đậu tương Kết quả đã phân lập được 1425 dòng đậu tương làm vật liệu phục vụ công tác chọn tạo giống

Theo Trần Đình Long và các cs (2005) [15], Bộ NN và PTNT (2001) [1] trong vòng 20 năm (1985- 2005), đã chọn tạo thành công 28 giống mới, trong

đó có 8 giống được công nhận giống tiến bộ kỹ thuật thông qua việc tuyển chọn từ tập đoàn giống nhập nội

Theo Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs (1996)[19], các giống đậu tương ở Việt Nam được chia thành 3 nhóm chính: Nhóm chín sớm; Nhóm chín trung bình và nhóm chín muộn Nhóm chín sớm ít phản ánh với độ dài ngày nên ra hoa và chín gần như nhau ở cả 3 thời vụ xuân, hè, đông Sự chênh lệnh về thời gian ra hoa và chín của các giống chín muộn rất rõ rệt giữa các vùng trồng, do đó nó phản ứng khá chặt với độ dài chiếu sáng

Trang 31

1.3.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam

Hiện nay, ở Việt Nam cây đậu tương có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt ở những vùng nông thôn nghèo Ngoài việc cung cấp nguyên liệu chế biến làm thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho xuất khẩu, cây đậu tương còn là nguồn cung cấp thức ăn cho chăn nuôi rất tốt

Cây đậu tương có khả năng thích ứng rộng và được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau Trong đó vùng đồng bằng sông Hồng có diện tích trồng đậu tương lớn nhất cả nước, với 73.400 ha chiếm 49,7% diện tích toàn miền Bắc và 38% diện tích cả nước Tiếp đến là các vùng: Đông Bắc (24,9%), Tây Nguyên (12,7%), Tây Bắc(10,7%), đồng bằng sông Cửu Long(8,4%)

Theo Lê Quốc Hưng (2007) [11], nước ta có một tiềm năng rất lớn để

mở rộng diện tích trồng đậu tương cả 3 vụ xuân, hè và đông và diện tích có thể đạt 1,5 triệu ha, trong đó phân bố ở các vùng như sau: vùng Đồng bằng Sông Hồng có thể mở rộng diện tích tới 600 nghìn ha đậu tương vụ đông trên đất 2 lúa, miền núi phía Bắc 400 nghìn ha trên các loại đất dốc, Bắc trung bộ

300 nghìn ha và Tây Nguyên là 100 nghìn ha Quỹ đất đang có này là một lợi thế để nước ta phát triển sản xuất đậu tương đảm bảo nhu cầu trong nước

Mặc dù có lịch sử lâu đời, nhưng trải qua một thời gian dài cây đậu tương vẫn chiếm một vị trí rất khiêm tốn trong nền sản xuất nông nghiệp nước ta

Hiện nay, Chính phủ rất quan tâm đến phát triển cây đậu tương, được

thể hiện ở văn kiện Đại hội V của Đảng, tập 2 trang 37 đã ghi: “ Đậu tương

cần được phát triển mạnh mẽ để tăng nguồn đạm cho người, cho gia súc, cho đất đai và trở thành một loại hàng xuất khẩu chủ lực ngày càng quan trọng”

Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương cả nước trong những năm gần đây được thể hiện qua bảng 1.3

Trang 32

Bảng 1.3 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam

trong những năm gần đây (2005 - 2014) Chỉ tiêu

Năm

Diện tích (nghìn ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

Qua bảng số liệu ta thấy:

- Diện tích đậu tương giảm dần qua các năm từ năm 2005 - 2014 Diện tích giảm từ 204,10 nghìn ha (năm 2005) giảm còn 109,35 nghìn ha (năm 2014) Trong vòng 10 năm diện tích đậu tương của nước ta giảm 47,6 %, năm

2007 diện tích đậu tương đạt lớn nhất (280 nghìn ha) Trong vòng 10 năm diện tích trồng đậu tương luôn có sự biến động, tăng giảm không ổn định Giai đoạn năm 2005- 2007, diện tích đậu tương tăng mạnh từ 204,1 nghìn ha (năm 2005) lên đến 280 nghìn ha (năm 2007), tuy diện tích có giảm nhẹ năm

2006 nhưng sau đó diện tích lại tiếp tục tăng mạnh lên đến 280 nghìn ha (năm 2007) Trong vòng 7 năm từ năm 2007-2014 diện tích đậu tương liên tục giảm mạnh, từ năm 2007 đến năm 2014 diện tích đậu tương giảm 160,65 nghìn ha, năm 2014 diện tích đậu tương thấp nhất (109,35 nghìn ha)

Trang 33

- Năng suất: Năng suất đậu tương nước ta vẫn còn ở mức thấp, so với bình quân thế giới, thấp hơn 11,88 tạ/ha Năng suất đậu tương cao nhất năm

2010 là 15,01 tạ/ha, thấp nhất năm 2006 đạt 13,89 tạ/ha Như vậy, mức tăng năng suất hàng năm không đáng kể

Nguyên nhân chính dẫn đến năng suất đậu tương thấp là: Do trình độ canh tác của người dân còn hạn chế; Do người dân quen làm với cách làm cũ, khó tiếp thu kỹ thuật mới; Do người dân còn thiếu thông tin; Do thiếu sự quan tâm của nhà nước trong hoạch định chính sách; Do thói quen trồng giống địa phương của người dân; Chưa quy hoạch được vùng sản xuất đậu tương hàng hóa và chưa xác định được giống phù hợp cho từng vùng sinh thái; Diện tích đất trồng đậu tương tập trung chủ yếu ở miền núi, điều kiện thời tiết khắc nghiệt, cơ sở vật chất còn nghèo nàn

Nhìn chung sản xuất đậu tương ở Việt Nam chưa có sự cân đối giữa các khu vực, nhưng xét trên trung bình cả nước thì đã và đang đạt được những bước tiến đáng kể Vì vậy cần nhận được sự quan tâm, chú trọng hơn nữa để biến cây đậu tương thành cây trồng chủ lực trong hệ thống nông nghiệp

* Một số yếu tố hạn chế sản xuất đậu tương ở Việt Nam

Cũng như các nước sản xuất đậu tương trên thế giới, các yếu tố hạn chế đến sản xuất đậu tương ở Việt nam bao gồm 3 nhóm yếu tố là: Nhóm yếu tố kinh tế - xã hội, nhóm yếu tố sinh học và nhóm yếu tố phi sinh học

Giá bán sản phẩm không ổn định Hệ thống cung ứng giống còn bất cập Vấn đề thuỷ lợi trong sản xuất đậu đỗ chưa được đáp ứng, do vậy tình trạng thiếu nước vào thời điểm gieo trồng nhưng lại thừa nước vào thời kỳ thu hoạch đã làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm

Do quan niệm của nông dân chưa thực sự coi đậu tương là cây trồng chính nên ở nhiều nơi nhiều vùng không chú ý đến việc lựa chọn đất trồng và không đầu tư đúng mức Do vậy chưa khai thác hết tiềm năng sẵn có của giống

Trang 34

Một số cơ quan nghiên cứu gần đây giới thiệu một số giống đậu tương mới đề nghị đưa ra sản xuất nhưng thực tế số giống được nông dân chấp nhận đưa vào sản xuất còn ít, chủ yếu người dân vẫn sử dụng giống cũ là chính

Đậu tương là cây trồng bị nhiều loài sâu bệnh hại Tại Việt Nam qua nghiên cứu đã phát hiện ra trên 70 loại sâu hại thuộc 34 họ, 8 bộ và 17 loại bệnh Trong đó 12 -13 loại sâu và 4 -5 loại bệnh hại phổ biến ở nhiều vùng Theo Nguyễn Văn Viết và các cs (2002)[23]: Đối với đậu tương, các loài sâu hại nguy hiểm nhất là giòi đục thân, sâu xanh, sâu đục quả, bọ xít, bọ nhảy, bọ trĩ, nhện

Nhóm các yếu tố phi sinh học ảnh hưởng đến sản xuất đậu tương ở nước ta chủ yếu là đất đai và điều kiện khí hậu bất thuận (Nguyễn Văn Viết

và các cs (2002)[24] Theo Văn Tất Tuyên và Nguyễn Thế Côn (1995)[23] cho biết: Đối với đậu tương vụ Đông, nhiệt độ thấp ở giai đoạn sinh trưởng cuối đã kéo dài thời gian chín, làm giảm khối lượng hạt, thậm chí làm đậu tương không chín được

1.3.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương ở Hà Giang

Cây đậu tương là cây trồng có phạm vi thích ứng tương đối rộng, sản phẩm dễ tiêu thụ, thị trường thu mua ổn định Người dân sản xuất cây đậu tương từ bao đời nay và nó đã trở thành một trong những cây trồng chính trong cơ cấu cây trồng của tỉnh Hà Giang

Đây là cây trồng phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu ở nhiều vùng trong tỉnh Sản phẩm làm ra có nhiều công dụng: Cung cấp thực phẩm cho con người; làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến; làm thức ăn cho gia súc; có chức năng cải tạo đất tốt; thị trường tiêu thụ lớn, ổn định Từ những đặc điểm trên, cây đậu tương được người dân trong tỉnh đưa vào trồng từ nhiều năm nay Đặc biệt, từ năm 1995 đến nay, Hà Giang đã có những chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển diện tích đậu tương cũng như ứng dụng các loại giống mới vào gieo trồng Do đó, diện tích, năng suất đậu tương tăng dần theo từng năm và trở thành một trong những loại cây trồng chính Đến nay, diện tích

Trang 35

đậu tương toàn tỉnh đạt trên 23.757,8 ha, tập trung chính ở 7 huyện là: Hoàng

Su Phì; Xín Mần; Yên Minh; Đồng Văn; Quản Bạ; Bắc Mê; Mèo Vạc Năng suất bình quân năm 2014 đạt 12,83 tạ/ha, sản lượng đạt 30.482 tấn

Bảng 1.4 Diện tích năng suất, sản lượng đậu tương từ năm 2005 - 2014

của toàn tỉnh Hà Giang

TT Năm Diện tích (ha) Năng xuất

(Tạ/ha)

Sản lượng (Tấn)

(Theo số liệu của Cục thống kê tỉnh Hà Giang năm 2015)

- Về diện tích từ năm 2005 đến 2014 (trong 10 năm) diện tích đậu tương toàn tỉnh tăng 8.046 ha Năm 2005 diện tích là 15.711,6 ha đến năm

2014 diện tích đạt 23.757,8 ha

- Năng suất đậu tương ở Hà giang tăng chậm và năng suất bình quân toàn tỉnh còn thấp hơn năng suất bình quân khu vực và thấp hơn nhiều so với tiềm năng năng suất của giống Năm 2005 năng suất bình quân toàn tỉnh là 9,4 tạ/ha đến năm 2014 đạt 12,83 tạ/ha

Trang 36

- Sản lượng: Tuy diện tích đậu tương tăng nhanh, nhưng Sản lượng đậu

tương tăng chậm do năng suất thấp và hàng năm tăng không đáng kể Năm

2005 sản lượng đậu tương toàn tỉnh là là 14.693,8 tấn, đến năm 2014 đạt 30.482,2 tấn, tăng 15.788,4 tấn

Theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI đề ra là: Phấn đấu đến năm 2020, toàn tỉnh có 24.350 ha đậu tương, năng suất bình quân đạt 15 tạ/ha, sản lượng đạt 36.600 tấn, đồng thời đưa ra mục tiêu như sau:

- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng gắn với sản xuất hàng hoá nâng cao giá trị/ha đất canh tác tạo thêm việc làm, tăng thu nhập nâng cao đời sống cho nhân dân

- Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm đạt năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt gắn kết chặt chẽ giữa trồng với bảo quản, chế biến và thị trường tiêu thụ Hình thành và phát triển các vùng sản xuất đậu tương hàng hoá tập trung

1.3.4 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương huyện Hoàng Su Phì

Trước những năm 1993 diện tích đậu tương được trồng ổn định, thường là 800 ha và sản lượng đạt khoảng 400 tấn, từ năm 1993 trở lại đây cây đậu tương huyện Hoàng Su Phì được chú ý khuyến khích phát triển, năm 1993 huyện đã đưa giống đậu tương AK03 vào làm điểm và năng suất khá so với giống đậu tương địa phương Năm 1995 được sự giúp đỡ của Viện di truyền nông nghiệp Việt Nam, đã đưa vào thử nghiệm 7 giống đậu tương mới kết quả là giống đậu tương DT84 và ĐT95 là 2 giống cho năng suất cao và phù hợp với điều kiện của huyện đã được phát triển đại trà cho 25/25 xã, thị trấn trong toàn huyện

Trong những năm gần đây huyện đã có nhiều biện pháp tổ chức rất

cụ thể trong công tác chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật, có sự phối hợp với Sở Khoa học - Công nghệ, Sở nông nghiệp & PTNT, thực hiện các

đề tài khảo nghiệm đậu tương trên địa bàn huyện, đã đưa vào nghiên cứu khảo nghiệm một số đậu tương giống mới Qua nghiên cứu khảo nghiệm

Trang 37

các loại giống mới đã đạt được hiệu quả cao, nổi bật về năng xuất, hạt to, thời gian sinh trưởng ngắn, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, gắn với việc phát triển cây đậu tương

Bảng 1.5 Diện tích năng suất, sản lượng đậu tương

từ năm 2005 - 2015 huyện Hoàng Su Phì Chỉ tiêu

Năng suất (Tạ/ha)

Sản lượng (Tấn)

(Theo số liệu thống kê huyện Hoàng Su Phì năm 2015)

Qua số liệu ở bảng cho thấy diện tích trồng đậu tương ở huyện Hoàng

Su Phì có xu hướng tăng dần từ 3.483,6 ha (năm 2005) đến 5.454,4 ha (năm 2014), đến năm 2015 diện tích đậu tương lại giảm còn 5.445,7 ha (giảm 8,7 ha) nguyên nhân là do thời tiết hạn hán, không tiến hành gieo trồng được Năng suất đậu tương của huyện còn thấp, trong những năm gần đây đã tăng từ 12,71 tạ/ha (2005) và đạt cao nhất 15,23 tạ/ha (2015), sản lượng từ 4.428,18 tấn (2005) lên 8.293,9 tấn (2015) Có được như vậy là nhờ sự quan tâm định hướng của Cấp ủy huyện, sự quyết tâm chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân huyện,

sự vào cuộc trực tiếp của các phòng ban chuyên môn (phòng Nông nghiệp,

Trang 38

trạm Khuyến nông, trạm Bảo vệ thực vật) phối hợp cùng UBND các xã, thị trấn đã tuyên truyền vận động, hướng dẫn nông dân sản xuất đúng thời vụ, chủ động giống, vật tư phân bón

* Một số hạn chế trong sản xuất đậu tương tại huyện Hoàng Su Phì

- Mặc dù đậu tương có giá trị kinh tế cao, nguồn tiêu thụ lớn, song hiện nay vẫn chưa được thâm canh đầy đủ, do đó chưa phát huy được hết tiềm năng năng suất của cây đậu tương

- Công tác giống chưa được chú trọng, số hộ sử dụng giống địa phương

đã bị thoái hoá còn chiếm tỷ lệ lớn Việc quản lý và cung cấp giống còn nhiều bất cập dẫn đến chất lượng giống bị pha tạp, vì vậy chất lượng thương phẩm kém, năng suất bình quân thấp

- Công tác quy hoạch vùng sản xuất tập trung để làm hàng hóa chưa thực hiện tốt

- Đầu tư thâm canh chưa đảm bảo đầy đủ theo quy trình, do đó chưa phát huy được hết tiềm năng năng suất của cây đậu tương

- Việc thực hiện các mô hình giống mới, năng suất cao, phù hợp với điều kiện điạ phương, nhưng khi nhân rộng còn gặp khó khăn

Do đó, để cây đậu tương trở thành cây trồng tương xứng với tiềm năng của nó trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp hiện nay của cả huyện, cần giải quyết vấn đề một cách toàn diện cả về áp dụng khoa học kỹ thuật cũng như chủ chương và chính sách phát triển sản xuất nông nghiệp của Uỷ ban nhân dân huyện Đối với cây đậu tương muốn đẩy mạnh sản xuất cần phải nghiên cứu, xác định được bộ giống phù hợp, hệ thống canh tác và cơ cấu mùa vụ thích hợp bằng các công thức luân canh cây trồng, tăng vụ, trồng xen canh, gối vụ cho từng vùng sinh thái; chọn các giống đậu tương có năng suất cao, phẩm chất tốt, khả năng chống chịu sâu bệnh trong điều kiện canh tác và với mùa vụ khác nhau; xây dựng các biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất với các giống đậu tương thích hợp nhằm khắc phục những hạn chế do điều kiện thời tiết, khí hậu cũng như những hạn chế về cơ sở vật chất, kỹ thuật

Trang 39

Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tiến hành nghiên cứu với 8 giống đậu tương: ĐT22, ĐT31,

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu

Tại xã Chiến Phố của huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang

2.2.2 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 6 năm 2015 đến hết tháng 9 năm 2016

2.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi

2.3.1 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của 8 giống đậu tương tham gia thí nghiệm

- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của 8 giống đậu tương tham gia thí nghiệm trong vụ Hè Thu năm 2015 và vụ Xuân năm 2016 tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang

- Đánh giá tình hình nhiễm sâu hại và khả năng chống đổ của 8 giống đậu tương tham gia thí nghiệm trong vụ Hè Thu năm 2015 và vụ Xuân năm

2016 tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang

- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của 8 giống đậu tương tham gia thí nghiệm

Trang 40

2.3.2 Xây dựng mô hình trình diễn một số giống đậu tương có triển vọng tại huyện Hoàng Su Phì

- Địa điểm thực hiện và biện pháp kỹ thuật

- Kết quả xây dựng mô hình

- Đánh giá của người dân đối với các giống đậu tương tham gia mô hình trình diễn vụ Hè Thu năm 2016

2.4 Phương pháp nghiên cứu

Các thí nghiệm khảo nghiệm cơ bản, xây dựng mô hình đều thực hiện theo Quy chuẩn kỹ thuật Quố c gia về khảo nghiệm giá tri ̣ canh tác và sử du ̣ng

củ a giống đậu tương QCVN 01-58 : 2011/BNNPTNT [21]

Ngày đăng: 25/07/2017, 15:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Phạm Văn Biên, Nguyễn Văn Tú, Lương Thị Bích Hảo (1995), “Một số kết quả nghiên cứu về sâu hại đậu nành”, Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp, số (4) tr. 22-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả nghiên cứu về sâu hại đậu nành”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp
Tác giả: Phạm Văn Biên, Nguyễn Văn Tú, Lương Thị Bích Hảo
Năm: 1995
3. Vũ Danh Ca, Cao Thanh Huyền (2004), Khảo nghiệm một số giống đậu tương có triển vọng trong hai vụ hè thu và thu Đông năm 2003 tại Hải Phòng, Báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học, trung tâm khuyến nông Hải Phòng, Tr3-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo nghiệm một số giống đậu tương có triển vọng trong hai vụ hè thu và thu Đông năm 2003 tại Hải Phòng
Tác giả: Vũ Danh Ca, Cao Thanh Huyền
Năm: 2004
4. Vũ Đình Chính (1995), Nghiên cứu tập đoàn giống để chọn giống đậu tương thích hợp cho vụ hè vùng đồng bằng trung du Bắc bộ, Luận án tiến sỹ Khoa học Nông nghiệp, trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội, tr. 55- 71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tập đoàn giống để chọn giống đậu tương thích hợp cho vụ hè vùng đồng bằng trung du Bắc bộ
Tác giả: Vũ Đình Chính
Năm: 1995
5. Ngô Thế Dân, Trần Đình Long, Trần Văn Lài, Đỗ Thị Dung, Phạm Thị Đào (1999), Cây đậu tương - Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, tr. 234- 239 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây đậu tương
Tác giả: Ngô Thế Dân, Trần Đình Long, Trần Văn Lài, Đỗ Thị Dung, Phạm Thị Đào
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1999
6. Dương Văn Dũng, Đào Quang Vinh, Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Kim Lệ, Đỗ Ngọc Giao, Bùi Thị Bộ (2007), “Giống đậu tương ngắn ngày năng suất cao ĐVN-9”, Tạp chí NN & PTNT số (9), tr.35-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giống đậu tương ngắn ngày năng suất cao ĐVN-9”, "Tạp chí NN & PTNT
Tác giả: Dương Văn Dũng, Đào Quang Vinh, Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Kim Lệ, Đỗ Ngọc Giao, Bùi Thị Bộ
Năm: 2007
7. Bùi Huy Đáp (1961), “Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sinh trưởng và phát triển của một số thực vật hàng năm”, Tạp chí sinh vật học, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sinh trưởng và phát triển của một số thực vật hàng năm”, "Tạp chí sinh vật học
Tác giả: Bùi Huy Đáp
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1961
8. Vũ Thúy Hằng, Lê Thị Hạnh, Vũ Đình Hòa (2007), “Ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến một số tính trạng và tương quan giữa chúng tới năng suất cá thể đậu tương”, Tạp chí NN & PTNT, (12+13), 47-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến một số tính trạng và tương quan giữa chúng tới năng suất cá thể đậu tương”, "Tạp chí NN & PTNT
Tác giả: Vũ Thúy Hằng, Lê Thị Hạnh, Vũ Đình Hòa
Năm: 2007
10. Nguyễn Tấn Hinh (2003), Nghiên cứu sự khác biệt di truyền đậu tương, Thông tin Khoa học Nông nghiệp, Viện cây Lương thực và Thực phẩm, Nhà xuất bản nông nghiệp, Tr 64-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự khác biệt di truyền đậu tương
Tác giả: Nguyễn Tấn Hinh
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 2003
12. Nguyễn Văn Lâm, Nguyễn Tấn Hinh (2003), "Nghiên cứu hệ số biến động, hệ số tương quan và hệ số đường đi của tập đoàn đậu tương", Tạp chí NN&PTNT (9), 1128-1129 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hệ số biến động, hệ số tương quan và hệ số đường đi của tập đoàn đậu tương
Tác giả: Nguyễn Văn Lâm, Nguyễn Tấn Hinh
Năm: 2003
13. Trần Đình Long, Andrew James và Quách Ngọc Truyền (2001), Nghiên cứu ảnh hưởng của giống và thời vụ gieo trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất đậu tương miền núi, Hội thảo Đậu tương quốc gia ngày 22-23/2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của giống và thời vụ gieo trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất đậu tương miền núi
Tác giả: Trần Đình Long, Andrew James và Quách Ngọc Truyền
Năm: 2001
14. Trần Đình Long, Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs (1995), Kết quả nghiên cứu đậu tương M103 và kết quả nghiên cứu mới về chọn tạo giống đậu đỗ, Tiến bộ về trồng lạc và đậu đỗ ở Việt Nam, NXBNN 1991 - 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu đậu tương M103 và kết quả nghiên cứu mới về chọn tạo giống đậu đỗ, Tiến bộ về trồng lạc và đậu đỗ ở Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Long, Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs
Nhà XB: NXBNN 1991 - 1995
Năm: 1995
15. Trần Đình Long, Nguyễn Thị Chinh, Hoàng Minh Tâm, Nguyễn Văn Thắng, Lê Khả Tường, Trần Thị Trương (2005), “Kết quả chọn tạo và phát triển các giống đậu đỗ 1985-2005 và định hướng phát triển 2006- 2010”, Khoa học công nghệ và phát triển nông nghiệp 20 năm đổi mới, Tập 1: Trồng trọt và bảo vệ thực vật, Tr.102-113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả chọn tạo và phát triển các giống đậu đỗ 1985-2005 và định hướng phát triển 2006- 2010
Tác giả: Trần Đình Long, Nguyễn Thị Chinh, Hoàng Minh Tâm, Nguyễn Văn Thắng, Lê Khả Tường, Trần Thị Trương
Năm: 2005
16. Trần Đình Long, Nguyễn Thị Chinh (2006), “Kết quả nghiên cứu phát triển đạu đỗ giai đoạn 2002- 2005”, Kỷ yếu hội nghị KHCN, Nxb Nông nghiệp, Tr.268-277 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu phát triển đạu đỗ giai đoạn 2002- 2005
Tác giả: Trần Đình Long, Nguyễn Thị Chinh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
17. Nguyễn Văn Luật (1979), “Tính mẫn cảm với chu kỳ sáng và công tác chọn giống đậu tương”, Tạp chí NN & PTNT, số (2), tr.12 - 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính mẫn cảm với chu kỳ sáng và công tác chọn giống đậu tương”, "Tạp chí NN & PTNT
Tác giả: Nguyễn Văn Luật
Năm: 1979
18. Trần Tú Ngà (1994), Kết quả ứng dụng đột biến thực nghiệm trong công tác chọn tạo giống đậu tương, Kết quả nghiên cứu khoa học năm 1986- 1991, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả ứng dụng đột biến thực nghiệm trong công tác chọn tạo giống đậu tương
Tác giả: Trần Tú Ngà
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1994
19. Đoàn Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Văn Bình, Vũ Đình Chính, Nguyễn Thế Côn, Lê Song Dự (1996), Giáo trình Cây Công nghiệp, Nxb Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Cây Công nghiệp
Tác giả: Đoàn Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Văn Bình, Vũ Đình Chính, Nguyễn Thế Côn, Lê Song Dự
Nhà XB: Nxb Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 1996
23. Văn Tất Tuyên, Nguyễn Thế Côn (1995), Quan hệ năng suất đậu tương Đông với các yếu tố khí tượng, Kết quả nghiên cứu khoa học, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ năng suất đậu tương Đông với các yếu tố khí tượng
Tác giả: Văn Tất Tuyên, Nguyễn Thế Côn
Năm: 1995
25. Mai Quang Vinh (2007), Thành tựu và định hướng nghiên cứu, phát triển đậu tương trong giai đoạn hội nhập, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội 26. Mai Quang Vinh, Ngô Phương Thịnh (1996), Giống đậu tương cao sảnthích ứng rộng DT84, Kết quả nghiên cứu khoa học Nông nghiệp 1986- 1991, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giống đậu tương cao sản "thích ứng rộng DT84," Kết quả nghiên cứu khoa học Nông nghiệp" 1986- 1991
Tác giả: Mai Quang Vinh (2007), Thành tựu và định hướng nghiên cứu, phát triển đậu tương trong giai đoạn hội nhập, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội 26. Mai Quang Vinh, Ngô Phương Thịnh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
31. Hartwig E. E and Ewards C. J. (1970), "Effect of morfological characteristics upon seed yield in Soybean", Agronomic Journal 62, pp. 64 - 65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of morfological characteristics upon seed yield in Soybean
Tác giả: Hartwig E. E and Ewards C. J
Năm: 1970
1. Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (2001), 575 giống cây trồng mới, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr.213-233 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trên đất nương rẫy tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang (LV thạc sĩ)
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới (Trang 21)
Bảng 1.2. Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trên đất nương rẫy tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang (LV thạc sĩ)
Bảng 1.2. Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương (Trang 22)
Bảng 1.3. Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trên đất nương rẫy tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang (LV thạc sĩ)
Bảng 1.3. Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam (Trang 32)
Bảng 1.4. Diện tích năng suất, sản lượng đậu tương từ năm 2005 - 2014 - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trên đất nương rẫy tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang (LV thạc sĩ)
Bảng 1.4. Diện tích năng suất, sản lượng đậu tương từ năm 2005 - 2014 (Trang 35)
Bảng 1.5. Diện tích năng suất, sản lượng đậu tương - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trên đất nương rẫy tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang (LV thạc sĩ)
Bảng 1.5. Diện tích năng suất, sản lượng đậu tương (Trang 37)
Sơ đồ thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trên đất nương rẫy tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang (LV thạc sĩ)
Sơ đồ th í nghiệm (Trang 40)
Bảng 3.2. Đặc điểm hình thái của các giống thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trên đất nương rẫy tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang (LV thạc sĩ)
Bảng 3.2. Đặc điểm hình thái của các giống thí nghiệm (Trang 52)
Bảng 3.3. Chỉ số diện tích lá của các giống đậu tương thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trên đất nương rẫy tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang (LV thạc sĩ)
Bảng 3.3. Chỉ số diện tích lá của các giống đậu tương thí nghiệm (Trang 55)
Bảng 3.6. Tỷ lệ đổ của các giống đậu tương thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trên đất nương rẫy tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang (LV thạc sĩ)
Bảng 3.6. Tỷ lệ đổ của các giống đậu tương thí nghiệm (Trang 62)
Hình 3.1. Biểu đồ NSLT vụ hè thu năm 2015 so với NSLT vụ xuân năm 2016 - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trên đất nương rẫy tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang (LV thạc sĩ)
Hình 3.1. Biểu đồ NSLT vụ hè thu năm 2015 so với NSLT vụ xuân năm 2016 (Trang 65)
Hình 3.2. Biểu đồ NSTT vụ hè thu năm 2015 so với NSTT - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trên đất nương rẫy tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang (LV thạc sĩ)
Hình 3.2. Biểu đồ NSTT vụ hè thu năm 2015 so với NSTT (Trang 66)
Bảng 3.8. So sánh và xếp hạng năng suất thực thu - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trên đất nương rẫy tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang (LV thạc sĩ)
Bảng 3.8. So sánh và xếp hạng năng suất thực thu (Trang 67)
Bảng 3.9. Kết quả trình diễn mô hình giống đậu tương mới - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trên đất nương rẫy tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang (LV thạc sĩ)
Bảng 3.9. Kết quả trình diễn mô hình giống đậu tương mới (Trang 69)
Bảng 3.10. Kết quả cho điểm về chọn giống phục vụ sản xuất - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trên đất nương rẫy tại huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang (LV thạc sĩ)
Bảng 3.10. Kết quả cho điểm về chọn giống phục vụ sản xuất (Trang 70)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w