Công dụng và bộ phận dùng: Về công dụng và bộ phận dùng ghi nhận theo các tài liệu về cây thuốc Việt Nam và kinh nghiệm của nhân dân địa phương đã thu thập được trong quá trình điều tra
Trang 123
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA NGUỒN CÂY THUỐC VÀ PHÂN TÍCH TÍNH ĐA DẠNG NGUỒN TÀI NGUYÊN NÀY Ở HUYỆN XÍN MẦN TỈNH HÀ GIANG
3.1.1 Kêt quả điều tra nguồn cây thuốc
Như đã trình bày ở phần Phương pháp và Địa điểm điều tra, việc điều tra nghiên cứu về nguồn cây thuốc ở huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang được tiến hành trên tổng số 12 xã và thị trấn trong vòng 2 năm (2014 và 2015) Do công tác điều tra thu thập thực hiện vào các xã là cuối mùa xuân và đầu mùa hè, nên hầu hết các loài cây thuốc đang vào mùa sinh trưởng phát triển mạnh, nhiều loài đang có hoa quả nên thuận lợi trong việc nhận dạng các loài
Sau khi tiến hành kiểm tra, xác định tên khoa học các loài cây thuốc đã thu thập, kết quả cho thấy, đã ghi nhận được ở huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang có 209 loài cây thuốc, thuộc 183 chi, 114 họ của 5 ngành thực vật cụ thể ở bảng sau:
Bảng 3.1 Kết quả điều tra về thành phần loài cây thuốc ở huyện Xín Mần
Trang 2*Xây dựng danh lục cây thuốc huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang
Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của công tác điều tra cây thuốc ở địa phương hay trên vùng lãnh thổ của một Quốc gia là phải phát hiện, thống kê được các loài thực vật có công dụng làm thuốc ở phạm vi nghiên cứu đó Kết quả cuối cùng của nhiệm vụ này là xây dựng được tập Danh lục cây thuốc ở vùng nghiên cứu - ở đây chính là tập Danh lục cây thuốc huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang
Như chúng ta đã biết, để xây dựng được tập Danh lục cây thuốc cần phải đáp ứng được đầy đủ các thông tin về:
- Tất cả các cây thuốc cần phải xác định được chính xác tên Khoa học đến loài, thứ (nếu có) Để bảo đảm tính khoa học cho tập Danh lục, nhìn chung các loài đều có tiêu bản thực vật kèm theo (ngoại trừ một số loài cây thuốc phổ thông như:
Cỏ gấu, Cỏ màn trầu, Cỏ cứt lợn, Cỏ tranh, Rau má, Đơn kim, … do có sự phân bố gần như ở nhiều nơi tại miền Bắc Việt Nam, nên không nhất thiết phải thu thập tiêu bản kèm theo)
- Từng loài cây thuốc cần có đủ một số thông tin khác, như tên gọi thông dụng, tên theo tiếng địa phương (nếu có), bộ phận dùng, cách sử dụng và công dụng chữa bệnh, phòng bệnh hay để bồi bổ sức khỏe
Sau khi kết thúc các đợt điều tra ngoại nghiệp, việc xác định tên khoa học và
hệ thống lại các thông tin của các loài cây thuốc cũng đã hoàn tất Tất cả những thông tin này là nguồn dẫn liệu ban đầu để xây dựng Danh lục cây thuốc
Trang 325
Như ở kết quả nghiên cứu (3.1) đã đề cập, qua điều tra ở huyện Xín Mân, tỉnh Hà Giang đã phát hiện và ghi nhận được 209 loài cây thuốc thuộc 183 chi của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch Tập Danh lục cây thuốc huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang cũng sẽ gồm tổng số 209 loài Các loài cây thuốc trong danh lục được biên soạn lần lượt theo vần ABC tên phổ thông Thông tin đối với mỗi loài cây thuốc ở
Phụ lục 1 gồm:
Tên cây thuốc:
+ Tên thông dụng, tên theo tiếng địa phương (nếu có),
+Tên khoa học (đã điều chỉnh hợp Danh pháp)
+ Họ thực vật
Công dụng và bộ phận dùng: Về công dụng và bộ phận dùng ghi nhận theo
các tài liệu về cây thuốc Việt Nam và kinh nghiệm của nhân dân địa phương đã thu thập được trong quá trình điều tra nghiên cứu ở huyện Xín Mần
Dạng cây: Ở đây không nghiên cứu Dạng sống mà đơn giản chỉ ghi nhận về
Dạng cây: Là cây gỗ, cây bụi, cây thảo cỏ/thân thảo (gồm cả dạng cây 1 năm và nhiều năm), dây leo (dây leo thảo và dây leo gỗ)
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của tập danh lục
- Tập Danh lục là kết quả khoa học quan trọng nhất của đề tài điều tra, nghiên cứu, thu thập về cây thuốc ở huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang Thông qua tập Danh lục, trước hết cho biết về tính đa dạng và phong phú của nguồn tài nguyên cây thuốc của huyện Xín Mần Đó là sự đa dạng và phong phú về số lượng loài, về thành phần chủng loại (các nhóm cây, sự phong phú về các bậc taxon ), về dạng sống, về các bộ phận dùng và nhất là về giá trị làm thuốc của chúng Hầu hết các cây thuốc được sử dụng theo kinh nghiệm, để chữa trị nhiều loại chứng bệnh thông thường mắc phải Một số loài là nguyên liệu chiết xuất hoạt chất, trong công nghiệp dược (Bình vôi, Cỏ cứt lợn, Hy thiêm .) Vài loài khác có giá trị xuất khẩu cao (Bình vôi, Đậu khấu, Thiên niên kiện, Cẩu tích ) Tập Danh lục là tài liệu có thể
sử dụng để giảng dạy, nghiên cứu và tham khảo về tài nguyên cây thuốc huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang, cũng như ở Việt Nam
Trang 426
Ý nghĩa thực tiễn:
Tập Danh lục này khác với loại Danh sách cây thuốc (List of medicinal
plants) chỉ liệt kê tên các loài cây thuốc Mặc dù tập Danh lục được xây dựng dưới
dạng bảng, song mỗi loài lại đề cập được các thông tin cơ bản về cây thuốc
(Catalogue) Bởi vậy, đây là tài liệu giúp cho các thầy thuốc y học cổ truyền (bao
gồm cả các Ông lang Bà mế), nhận biết thêm các cây thuốc sẵn có tại địa phương để
sử dụng Nhiều loài có cách dùng đơn giản, an toàn nên có thể biên soạn lại, để
hướng dẫn rộng rãi trong nhân dân
3.1.2 Tính đa dạng của nguồn tài nguyên cây thuốc ở huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang
* Đa dạng về các bậc taxona
- Ở bậc Ngành (Phyta)
Trong số 209 loài cây thuốc đã ghi nhận được thuộc hầu như tất cả các ngành
thực vật bậc cao có mạch đã biết ở Việt Nam Trong đó có nhiều loài nhất là ở
ngành Ngọc lan (Magnoliophyta): 195 loài (≈ 93,30 % so với tổng số loài cây thuốc
đã biết), thuộc 171 chi, 105 họ; các ngành còn lại chiếm tỷ lệ rất thấp: ngành Dương
xỉ (Polypodiophyta): 6 loài (≈ 2,87 % so với tổng số loài cây thuốc đã biết), thuộc 6
chi, 5 họ; ngành Thông (Pinophyta) 4 loài (1,91%), thuộc 3 chi và 2 họ; ngành
Thông đất (Lycopodiophyta): 2 loài (0,96%), thuộc 2 chi, 1 họ Các ngành Mộc tặc
(Equisetophyta) ghi nhận được 2 loài (0,96%) thuộc 1 chi và 1 họ
Trong số 195 loài cây thuốc trong ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) cho
thấy, lớp Ngọc lan / lớp Hai lá mầm (Magnoliopsida /Dicotyledon) chiếm ưu thế
với 147 loài (≈ 75,39 % so với tổng số loài cây thuốc đã biết), thuộc 137 chi, 90 họ;
lớp Hành/lớp Một lá mầm (Liliopsida/Monocotyledon) có 48 loài (24,61% so với
tổng số loài cây thuốc đã biết), thuộc 34 chi và 15 họ Cây thuốc là thực vật Hai lá
mầm ở huyện Xín Mần có số lượng loài nhiều hơn ở lớp Một lá mầm, cũng như đối
với tất cả các Ngành có các loài làm thuốc kể trên
Trang 5Loài Fallopia multiflora
Haraldson thuộc lớp Hai
Trang 628
- Ở bậc Họ (Family):
Trong số 209 loài thực vật làm thuốc đã ghi nhận được thuộc 183 chi và 114
họ, đã thống kê được 12 họ giàu loài có từ 4 đến 10 loài (Bảng 3.2):
Bảng 3.2 Các họ thực vật có nhiều cây thuốc
tuyến tím (Anoectochilus roxburghii (Wall.) Lindl.), Lan kim tuyến xanh (Anoectochilus setaceus Blume)… Họ Gừng (Zingiberaceae) đứng thứ hai (9 loài)
với đa phần là các loài cây thảo và cây bụi làm thuốc phổ biến như: các loài Thảo
đậu khấu nam (Alpinia spp.), Sa nhân (Amomum spp.), Nghệ (Curcuma spp.)
Trang 729
Một số họ giàu loài có các cây thuốc vừa có giá trị khai thác, sử dụng lại vừa
có giá trị về mặt bảo tồn như họ Nhân sâm với 5 loài thì có 2 loài quý hiếm là Sâm
vũ diệp (Panax bipinnatifidum Seem.) và Tam thất hoang (Panax stipuleanatus Tsai
& Feng) Họ Ráy với 7 loài trong đó có 1 loài có khả năng khai thác là: Thiên niên
kiện (Homalomena occulta (Lour.) Schott)
Số còn lại 102 họ, mỗi họ mới chỉ ghi nhận được từ 1 đến 3 loài cây thuốc Trong số này, một số họ mặc dù chỉ có vài loài, nhưng lại là những cây thuốc được
sử dụng phổ biến trong Y học cổ truyền Ví dụ: họ Cẩu tích (Dicksoniaceae): 1 loài
là Cẩu tích (Dicksonia barometz); họ Bách bộ (Stemonaceae): 1 loài là cây Bách bộ (Stemona tuberosa); họ Mã đề (Plantaginaceae): 2 loài Mã đề (Plantago major) và
Mã đề á (Plantago asiatica); họ Bầu bí (Cucurbitaceae): có loài Dền toòng / Giảo
cổ lam (Gynostemma pentaphyllum) … Đây là những cây thuốc có giá trị sử dụng
và kinh tế cao ở tỉnh Hà Giang
Nam, nhưng các loài đã biết ở Hà Giang đều có ý nghĩa về mặt đa dạng sinh học và
giá trị sử dụng, như: họ Taccaceae chỉ có 1 chi Tacca với 2 loài Hồi đầu thảo (T
Trang 830
plantaginea) và Phá lủa (Tacca subflabellata); họ Costaceae chỉ có 1 chi Costus với một loài Mía dò hoa gốc (C.tonkinensis) Một số chi chỉ có 2-3 loài nhưng đều là những cây thuốc có khả năng khai thác hoặc thuộc diện bảo tồn: Chi Gynostemma (Cucurbitaceae) có loài Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum) thuộc diện bảo tồn; Chi Hedera chỉ có một loài Dây thường (Hedera sinensis) nhưng có tiềm năng khai thác để làm thuốc trị ho Chi Panax với 2 loài cây thuốc quý: Tam thất hoang (Panax stipuleanatus) và Sâm vũ diệp (Panax bipinnatifidum) đều là những cây
khác ở Việt Nam nhưng ở độ cao lớn hơn như Bách xanh (Calocedrus macrolepis), Hồi núi (Illicium henryi), Lan kim tuyến (Anoectochilus roxburghii)
Theo cách phân chia các huyện của tỉnh Hà Giang, thì huyện Xín Mần là huyện vùng cao núi đất (là chủ yếu) của tỉnh Hà Giang Tuy nhiên, trong quá trình điều tra nghiên cứu chúng tôi thấy ở phần lớn các khối núi, từ độ cao 1000m trở lên nhất là ở các đỉnh núi thường đỉnh là núi đất pha cát xen đá với tầng đất khá mỏng ở
Trang 931
dưới thường là tầng đá trắng Vì thế sự phân chia các loại thảm thực vật rừng chủ yếu ở đây cũng có những nét đặc trưng nhất định theo đai cao này Về sự phân bố của cây thuốc ở đây, tạm thời cũng chỉ nêu lên một số đại diện điển hình ở khoảng đai cao này cụ thể như sau
- Ở độ cao từ 1.000m trở lên đến 2400m: Với nhiều kiểu rừng khác nhau:
Rừng kín hỗn giao cây lá rộng và lá kim, Rừng kín thường xanh cây lá rộng, Rừng thứ sinh hỗn giao tre nứa, trảng cây bụi và trảng cỏ, rừng trồng…bắt gặp nhiều loài
cây thuốc của một số họ đặc trưng như: Họ Ngũ gia bì (Araliaceae): Thông thảo (Tetrapanax papyriferus), Đu đủ rừng (Trevesia palmata), Dây thường xuân (Hedera sinensis), Sâm vũ diệp (Panax bipinnatifidum), Tam thất hoang (Panax stipuleanatus)…; Họ Hoàng liên gai (Berberidaceae): Hoàng liên ô rô (Mabonia nepalensis); Họ Bách hợp (Liliaceae): Bách hợp (Lilium brownii) ; Họ Đỗ quyên (Ericaceae): Đèn lồng (Lyonia ovalifolia var rubrovenia); Họ Lan (Orchidaceae): Lan kim tuyến (Anoectochilus roxburghii), Kim tuyến đá vôi (Anoectochilus calcareus); Họ hồi (Illiciaceae): Hồi núi (Illicium henryi); Họ trách bách diệp (Cupressaceae): Bách xanh (Calocedrus macrolepis), …
Đặc biệt trong quần hệ rừng trên núi cao Nấm Chanh, Nấm Dân, Thu Tà có 2
loài Sâm vũ diệp (Panax bipinnatifidum) và Tam thất hoang (Panax stipuleanatus)có phân bố rất hẹp, giá trị kinh tế cao và nằm trong diện cây thuốc có
nguy cơ tuyệt chủng mới phát hiện tại địa phương Thậm chí có thể coi là những loài cây thuốc quí hiếm, cần bảo vệ và phát triển thêm ở Việt Nam Đây là điểm phân bố mới ghi nhận của 2 loài này ở Việt Nam
Các loài cây thuốc được đề cập trên đây, ở vành đai độ cao từ 1000m trở lên, nhìn chung đều là những cây thuốc diện quý hiếm, nằm trong Danh sách các loài bảo tồn ở nước ta hiện nay
- Ở độ cao từ 700m đến 1000m: Ở vành đai thấp hơn tập trung nhiều cây
thuốc á nhiệt đới và nhiệt đới với các kiểu rừng: Rừng thứ sinh cây lá rộng, rừng kín thường xanh cây lá rộng, Trảng cây bụi thứ sinh, Rừng thứ sinh cây lá rộng hỗn giao tre nứa, rừng trồng và nương rẫy, trảng cỏ thứ sinh Trong số này, những loài
có thể tiếp tục khai thác như: Chè dây (Ampelopsis cantoniensis); Hạ khô thảo (Prunella vulgaris); Bách bộ (Stemona tuberosa), Ngũ gia bì chân chim (Schefflera
Trang 1032
spp.); Nga truật (Curcuma spp.); Ngải cứu dại (Artemisia indica), Thảo đậu khấu
nam(Alpinia spp.), Giảo cổ lam (Gynostemma spp.)
- Ở độ cao dưới 700m : có nhiều loại rừng như: Rừng thứ sinh cây lá rộng,
rừng kín thường xanh cây lá rộng, Trảng cây bụi thứ sinh, Rừng thứ sinh cây lá rộng hỗn giao tre nứa, rừng trồng và nương rẫy, trảng cỏ thứ sinh …bắt gặp nhiều
loài cây thuốc phổ biến có khả năng khai thác như Hy thiêm (Sigesbeckia orientalis), Thảo quyết minh (Senna tora), Cỏ cứt lợn (Ageratum conyzoides), Câu đằng (Uncaria spp.), Nhân trần (Adenosma caeruleum)…
Với tổng số 209 loài thực vật làm thuốc mọc tự nhiên đã ghi nhận được, chắc chắn chưa hoàn toàn đầy đủ nhưng đây là những ghi nhận đầu tiên về nguồn tài nguyên cây thuốc tại huyện Xín Mần
* Đa dạng về dạng cây thuốc
Về dạng cây: Trong tổng số 209 loài cây thuốc thu thập và ghi nhận tại
huyện Xín Mần, tỉnh Giang thuộc 4 dạng cây: Thân cỏ / thảo (T), Cây bụi và cây bụi trườn (B), Thân leo (thảo và gỗ) (L), Thân gỗ (G) Số lượng thuộc mỗi dạng thể hiện ở Bảng 3.4 và Biểu đồ dưới đây:
Bảng 3.4 Sự đa dạng về dạng cây thuốc
Trang 1133
Hình 3 4 Biểu đồ sự đa dạng về số dạng cây thuốc ở huyện Xín Mần
Như vậy, các cây thuốc ghi nhận được ở huyện Xín Mần chủ yếu là cây thân
cỏ (45,93 %); tiếp theo là nhóm cây bụi (22,97 %) và nhóm cây thân gỗ (17,23%) Cây thuốc là dây leo chiếm tỷ lệ thấp nhất (13,87%) Qua bảng trên ta thấy, nguồn cây thuốc huyện Xín Mần phong phú về các dạng cây tự nhiên
Trang 1234
Hình 3 5 Một số dạng cây ghi nhận đƣợc ở huyện Xín Mần (1-Cây gỗ; 2,6- Cây bụi; 3,4-Cây thảo; 5-Cây leo)
* Đa dạng về bộ phận sử dụng
Như chúng ta đã biết, các giữa các bộ phận sử dụng khác nhau của cây
thường có sự khác nhau về thành phần hóa học Bởi vậy, mỗi bộ phận lại được sử
dụng vào các mục đích chữa bệnh khác nhau Giữa các cây thuốc lại có sự khác
nhau về số bộ phận được sử dụng làm thuốc Có loài cây chỉ có một bộ phận được
sử dụng (lá, thân, rễ, …) nhưng có loài lại có 2 hay nhiều hơn, thậm chí cả cây
Từ những thông tin đã thu nhận được về bộ phận sử dụng của 209 loài và
thứ cây thuốc (được thể hiện ở bảng dưới đây), có thể nhận thấy sự đa dạng các bộ
Trang 1335
phận của cây được người dân sử dụng làm thuốc từ thân, lá, hoa, quả, rễ cho đến củ, hạt Trên một loài lại có nhiều bộ phận được sử dụng, ví dụ như Tế tân (Rễ, Hoa, Lá), Màng tang (Lá, Rễ, Quả) có 3 bộ phận được sử dụng làm thuốc Chúng tôi đã thống kê như sau:
Có 60 loài sử dụng cả cây chiếm 28,71% tổng số loài
Có 13 loài sử dụng 3 bộ phận chiếm 6,22% tổng số loài
Có 38 loài sử dụng 2 bộ phận chiếm 18,18% tổng số loài
Có 98 loài sử dụng 1 bộ phận chiếm 46,89 % tổng số loài
Như trên cho thấy, mặc dù số loài cây sử dụng 1 bộ phận là lớn nhất chiếm 46,89% Tuy nhiên, số loài được sử dụng từ 2 bộ phận trở lên cũng chiếm tỷ lệ không nhỏ (số loài được sử dụng 2 bộ phận chiếm 18,18 %, số loài được sử dụng 3
bộ phận chiếm 6,22%) Điều này thể hiện kinh nghiệm phong phú của công đồng các dân tộc tại huyện Xín Mần trong việc sử dụng các bộ phận của cây làm thuốc Ngoài ra, số loài sử dụng cả cây chiếm tỷ lệ khá lớn, tới 28,71 % tổng số loài
Trang 1436
Hình 3 6 Biểu đồ đa dạng các bộ phận làm thuốc
Qua bảng trên cho thấy, cây được sử dụng toàn cây làm thuốc (chiếm 28,71% tổng số loài) chúng đa phần là nhóm cây thảo, dây leo hoặc cây bụi
nhỏ như: Nhân trần (Adenosma caeruleum), Cỏ roi ngựa (Verbena officinalis), Viễn chí hoa vàng (Polygala arillata), phân bố rải rác ven rừng, hoặc dưới tán cây
Đây là đa phần là những cây nhỏ dễ thu hái, có vòng đời ngắn, một số cây trong đây
có giá trị kinh tế cao và có ý nghĩa trong thảm thực vật hoặc là những cây thuốc
thuộc diện quý hiếm như: Lan kim tuyến (Anoectochilus roxburghii), Thạch hộc (Dendrobium nobile), Hạ khô thảo (Prunella vulgaris) … Tiếp đó là cây 2 bộ phận
làm thuốc (18,18%) Trong nhóm loài có một bộ phận được sử dụng làm thuốc, nhóm loài dùng lá để chữa bệnh có tỷ lệ cao nhất (10,05%), tiếp theo là nhóm loài
Trang 1537
* Đa dạng về nhóm công dụng làm thuốc
Căn cứ theo cách phân chia các nhóm bệnh thường sắp theo tại thông tư số: 40/2013/TT-BYT về việc ban hành danh mục thuốc thiết yếu thuốc đông y và thuốc
từ dược liệu lần VI của Bộ Y tế Tổng số 209 loài cây thuốc đã thu thập được phân chia theo 16 nhóm bệnh thường gặp như sau:
Bảng 3 6 Sự đa dạng các nhóm công dụng làm thuốc
3 Bệnh về đường hô hấp (viêm phổi, phế quản, hen,
4 Bệnh về xương khớp (thấp khớp, viêm khớp, đau
5 Bệnh ngoài da (nhiễm trùng, vết thương, ghẻ lở, mọn
6 Bệnh về thận và đường tiết niệu (sỏi thận, viêm thận,
phù do thận, yếu thận, viêm đường tiết niệu,…) 16 6,13
7 Bệnh về phụ nữ (hậu sản, kinh nguyệt, viêm
8 Bệnh về tim mạch, máu, huyết áp (huyết áp cao, suy
10 Bệnh về thần kinh, não (an thần, mất ngủ, động kinh,
11 Bệnh của trẻ con (cam, đan, ý, khóc đêm…) 9 3,45
12 Bệnh về gan (viêm gan (A, B,…), xơ gan, ung thư
Trang 16chiếm tỷ lệ cao so với các nhóm bệnh khác như tim mạch hay sinh dục nam
Đồng thời, đối chiếu phụ lục 1 cho thấy, đa số các loài cây thuốc đều thuộc nhóm đa công dụng, nghĩa là mỗi cây có thể sử dụng để chữa từ 2 nhóm bệnh trở lên, đặc biệt có những cây chữa được khá nhiều nhóm bệnh như: Ngải cứu dại, Cốt khí củ, Cúc chỉ thiên, Sói rừng, Me rừng, Ba chạc, Cỏ roi ngựa, Nghệ
Hình 3 7 Biểu đồ sự đa dạng về nhóm công dụng (Nhóm bệnh)
Trang 1739
Hình 3 8 Một số cây thuốc thu thập tại Xín Mần
(1 Viễn chí (Polygala wattersii Hance), 2 Ngấy hương (Rubus pentagonus Wall ex
Focke), 3 Đài hái (Hodgsonia macrocarpa (Blume) Cogn.), 4 Dâu đất (Duchesnea indica
(Andrews) Focke); 5 Hoàng liên gai (Berberis sp.); 6 Phá lủa (Tacca subflabellata P.P
Ling & C.T Ting ))
Trang 1840
3.2 KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH DANH LỤC CÁC LOÀI CÂY THUỐC CÓ TIỀM NĂNG KHAI THÁC, CÂY THUỐC CẦN BẢO TỒN Ở HUYỆN XÍN MẦN, TỈNH HÀ GIANG VÀ XÂY DỰNG BẢN ĐỒ PHÂN BỐ ĐIỂM
3.2.1 Danh sách loài cần bảo vệ ở Việt Nam đã phát hiện tại huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang
Qua điều tra thực địa và thu thập thông tin từ các hộ dân khai thác, thu mua
và buôn bán và sử dụng dược liệu, đại diện Chi cục Kiểm lâm, Chi cục PT Lâm nghiệp đã ghi nhận 21 loài cây thuốc cần bảo vệ ở huyện Xín Mần: Đài mác, Sâm
vũ diệp, Tam thất hoang, Chùa dù, Đảng sâm, Giải thùy tím, Hoàng tinh cách, Hoa tiên, Lan kim tuyến, Hà thủ ô đỏ, Tế tân vũ linh, chủ yếu phân bố rải rác tại các khu rừng thuộc xã Nấm Dẩn (Đèo gió, Nấm Chanh), xã Thu Tà (Đỉnh Chiêu Lầu Thi), Quảng Nguyên, Chí Cà,
Một số loài thuộc nhóm rất nguy cấp và có phân bố hẹp cũng phát hiện tại địa phương như: Sâm vũ diệp, Tam thất hoang, Đài mác
Mỗi loài gồm các thông tin: tên gọi (phổ thông, tên khác, latinh, họ thực vật); các mức độ được ghi nhận trong (Sách đỏ Việt Nam, Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam, Nghị định 32/2006/NĐ-CP )
Trang 19006
NĐ 160/2
013
1 Đài mác Sắc đài hoa, đài móc Chroesthes lanceolata
(T Anders.) B Hansen Acanthaceae Nấm Dẩn
lá xẻ, Tam thất hoang, Sâm hai lần chẻ, Hoàng liên thất
Panax bipinnatifidus
Nấm Dẩn, Thu Tà
CR A1a,c,d, B1+2b,c,
Panax stipuleanatus
Tsai & Feng Araliaceae
Nấm Dẩn, Thu Tà
CR A1 c,d, B1 +2b,c,e
EN.B2a,b (ii,iii,v)
Trang 2042
5 Hoa tiên Tế hoa petelot Asarum petelotii
O.C.Schmidt Aristolochiaceae
Nấm Dẩn, Quảng Nguyên
EN.A2c,d.B2(ii,iii,iv,v) II A
Mahonia nepalensis
Chí Cà, Xín Mần
Codonopsis javanica
(Blume) Hook.f Campanulaceae Nấm Dẩn
VU A1a,c,d+
Hoàng tinh lá mọc so le,
Co hán han, Khinh lài, Voòng trinh, Néng lài, Viằng trang
Disporopsis longifolia
Quảng Nguyên, Thu Tà
VU A1c,d VU A1c,d II A
Trang 2143
11 Giảo cổ
lam
Dần toòng, Thư tràng năm lá, nhân sâm phương nam
Gynostemma pentaphyllum (Thunb.)
Thu Tà, Xín Mần,
EN A1a,c,d, B1+2b,c
EN.A2a,c,d
A3c,d,B2a,b(i-v).C2a(i)
II A
13 Sâm cau
Cồ nốc lan, Ngải cau, Soọng ca, Thài leéng, Nam sáng ton, Cồ nốc lan
Curculigo orchioides
Nấm Dẩn, Quảng Nguyên
EN A1a,c,d VU.A1a,c,d
14 Chùa dù
Kinh giới rủ, Kinh giới hoa rủ, Dê sua tùa, Ra hoàng dồ
VU.A4c,d.B2a,b(ii,iii,iv,v)
Tà, Chí Cà
IIA
Trang 22Anoectochilus roxburghii (Wall.)
Fallopia multiflora
(Thunb.) Haraldson Polygonaceae Chí Cà
VU A1a,c,d EN.A3a,c,d
20 Thổ cao
ly sâm
Sâm mùng tơi, Sâm thảo, Thổ nhân sâm, Thổ cao ly sâm
Talinum paniculatum
(Jacq.) Gaertn Portulacaceae
Chí Cà, Xín Mần,
VU.A1a,c,d
21 Phá lủa Râu hùm Tacca subflabellata
P.P Ling & C.T Ting Taccaceae
Nấm Dẩn, Thu Tà, Quảng Nguyên
VU A1a,c,d
VU.A1c,d.B2a,b (ii,iii,v)
Trang 23thì có 3 loài được đánh giá Rất nguy cấp (CR) - Đài mác, sâm vũ diệp, Tam thất hoang, 6 loài Nguy cấp (EN) - Bách xanh, Lan kim tuyến, còn lại 5 loài Sẽ nguy cấp
(VU) - chùa dù, hoàng tinh cách ; 17 loài cây thuốc nằm trong Danh lục lục đỏ
cây thuốc 2006 có có 2 loài được đánh giá Rất nguy cấp (CR) – Sâm vũ diệp, Tam thất hoang, 8 loài Nguy cấp (EN) - Thông thảo, Hoa tiên, Lan kim tuyến, còn lại 7 loài Sẽ nguy cấp (VU) - Phá lủa, Thổ Cao ly sâm, Hà thủ ô đỏ,
Trong quá trình điều tra thực tế ghi nhận các loài cây thuốc cần bảo vệ ở huyện Xín Mần có tần suất bắt gặp rất thấp Điển hình như loài: Sâm vũ diệp, tam thất hoang, Lan kim tuyến chỉ gặp một lần Một số loài khác như Tế tân vũ linh, Hoàng liên gai, Chùa dù, Hoàng liên ô rô, Hà thủ ô đỏ chỉ thấy ở khu vực phân bố hẹp tại đỉnh Chiêu Lầu Thi (x.Thu Tà) và khu vực Thác Tiên (Nấm Dẩn) Còn lại các loài khác có khu vực phân bố rộng hơn tuy nhiên số lượng các thể bắt gặp nhỏ
lẻ Duy nhất có loài Tế tân peteloti là gặp mọc thành đám nhỏ ở một số điểm tại xã Nấm Dẩn và Thu Tà
Trang 24Elsholtzia penduliflora W W Smith
Hình 3.9 Một số loài cây thuốc cần bảo vệ ở huyện Xín Mần
Trang 2547
3.3.2 Danh sách loài/nhóm loài có tiềm năng khai thác tại huyện Xín Mần, tỉnh
Hà Giang
Qua điều tra thực địa và thu thập thông tin từ các hộ dân khai thác, thu mua
và buôn bán và sử dụng dược liệu, đại diện Chi cục Kiểm lâm, Chi cục PT Lâm nghiệp đã ghi nhận 14 loài/nhóm loài có khả năng khai thác ở huyện Xín Mần: Câu đằng, Dây thường xuân, Hy thiêm, Muối - Ngũ bội tử, Nga truật, Nghệ vàng, Nhân Trần, Sói rừng, Thảo đậu khấu nam, Thảo quyết minh… với khối lượng khai thác
ước tính từ 5-50 tấn/năm/loài-nhóm loài Riêng loài Muối - Rhus chinensis Muell.,
do bộ phận dùng là mụn lá nên khối lượng khai thác ước tính chỉ khoảng 0,1-0,2 tấn/năm nhưng cũng được xem là đáng kể so với các huyện khác ở tỉnh Hà Giang cũng như các tỉnh khác trên cả nước
Một số loài cho khối lượng khai thác lớn và ổn định qua nhiều năm phần lớn
là những cây thảo có phân bố rộng, khả năng tái sinh và phục hồi sau khai thác tốt như: Cỏ cứt lợn, Hy thiêm, Long nha thảo, Nga truật, Nghệ vàng, Thảo đậu khấu nam, Dây thường xuân
Mỗi loài gồm các thông tin: tên gọi (phổ thông, tên khác, latinh, họ thực vật); phân bố và ước tính trữ lượng
Bách bộ
Stemona tuberosa Lour Adenosma glutinosum (L.) Druce Nhân trần
Trang 2648
Cỏ cứt lợn
Ageratum conyzoides L
Thiên niên kiện
Homalomena occulta (Lour.) Schott
Hình 3 10 Một số loài cây thuốc có tiềm năng khai thác
Trang 27Trữ lƣợng ƣớc tính (Tấn khô)
1 Nhóm loài
Câu đằng
Dây móc câu, dây dang quéo, móc ó, vuốt, co nam kho (Thái), pước cậu, nam lập câu (Tày), ghím tửu (Dao)
Uncaria spp (U homomalla
Miq., U lanosa Wall.) Rubiaceae
Nấm Dẩn, Khuôn Lùng, Thu Tà, Quảng Nguyên
20,0-30,0
2 Cỏ cứt lợn
Co bjooc khi nu, Mìa chuối Sli', Hán phông mia (Dao), Nhá háu (Dáy)
Ageratum conyzoides L Asteraceae Tất cả các xã trong
3 Dây thường
xuân Bách cước ngô công
Hedera sinensis (Tobl.)
4 Hy thiêm Ta cú mía (Dao), Nhả khỉ
cáy (Tày) Sigesbeckia orientalis L Asteraceae
Tất cả các xã trong
5 Long nha thảo Cỏ răng rồng, tiên hạc thảo Agrimonia pilosa Ledeb Rosaceae Nấm Dẩn, Khuôn
Lùng, Quảng Nguyên 10,0-15,0
Trang 28Curcuma zedoaria (Berg.)
Nấm Dẩn, Chí Cà, Xín
8 Ngải cứu dại Quả sú (H' Mông), Nhả
ngài (Tày), Ngỏi (Dao) Artemisia indica Willd Asteraceae
Nấm Dẩn, Khuôn Lùng, Quảng Nguyên 10,0-20,0
9 Nghệ vàng Sung choang hậu (Dao),
Khinh lương (Tày) Curcuma longa L Zingiberaceae
Nấm Dẩn, Khuôn Lùng, Quảng Nguyên, Xín Mần, Chí Cà
10,0-15,0
10 Nhân trần Dám chùa (Dao), Xia đăm
(Dáy) Adenosma caeruleum R Br Scrophulariacea Khuôn Lùng, Nà Chì 5,0-10,0
11 Sói rừng Sói láng, sói nhẵn
Sarcandra glabra (Thunb.)
Makino; Chloranthus spicatus
Chloranthaceae Nấm Dẩn, Thu Tà, Chí
Cà, Chế Là 10,0-20,0
Trang 3052
Trong các loài thuộc Danh sách trên một số loài/nhóm loài có tiềm năng khai
thác và sử dụng mang nguồn lợi kinh tế cho người dân tại huyện Xín Mần:
+ Dây thường xuân (Hedera sinensis (Tobl.) Hand.-Mazz.) đang được
nghiên cứu làm thuốc chữa ho thay thế hàng nhập khẩu Loài cây thuốc này phân bố
ở các khu vực có độ cao lớn thuộc các xã Nấm Dẩn (Nấm Chanh, Đèo gió), Thu Tà (đỉnh Chiêu Lầu Thi), Chế Là, Chí Cà
+ Nhóm loài thảo đậu khấu nam (Alpinia spp.): Chủ yếu được xuất khẩu
sang Trung Quốc (25.000đ/kg) Nếu biết khai thác bền vững sẽ là một nguồn lợi đáng kể cho người dân (Cây chỉ lấy quả) Cây phân bố rộng khắp ở các xã trong huyện, tuy nhiên tập chung nhiều ở xã Khuôn Lùng và Nà Chì
+ Nhóm loài thiên niên kiện (Homalomena spp.): Phân rải rác tại các vùng
rừng kín ẩm thường xanh tại một số xã Nấm Dẩn, Thu Tà, Khuôn Lùng, Nà Chì… Cây thuốc này được người dân thu hai quanh năm với giá từ 5.000-7.000 đ/kg thân tươi Cây sinh trưởng và phát triển khá nhanh, nếu được quản lý và khai thác một cách hợp lý đây có lẽ là nguồn lợi không hề nhỏ cho người dân
3.2.3 Xây dựng bản đồ phân bố các loài cây thuốc quý hiếm và có tiềm năng khai thác huyện Xín Mần
Trong quá trình điều tra ở huyện Xín Mần, chúng tôi thấy cây thuốc được phân bố tập trung ở vùng rừng tại xã Nấm Dẩn, Khuôn Lùng, Nà Chì, Quảng Nguyên, Thu Tà, Chí Cà
- Căn cứ và tọa độ phân bố của các loài cây thuốc có tiềm năng khai thác và cây thuốc cần bảo vệ đã ghi nhận bằng GPS đã xây dựng Bản đồ phân bố điểm của các cây thuốc thuộc diện cần bảo vệ và cây thuốc có khả năng khai thác dựa trên phần mềm Mapinfo 12.0
Trang 3153
Hình 3.11 Bản đồ cây thuốc cần bảo vệ ở huyện Xín Mần
Trang 3254
Hình 3.12 Bản đồ cây thuốc có khả năng khai thác ở huyện Xín Mần
Trang 33Căn cứ vào kết quả điều tra nghiên cứu trên, chúng tôi đề xuất một số giải pháp, góp phần vào công tác bảo tồn, đi đôi với việc khai thác bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc ở tỉnh Cụ thể như sau:
3.3.1 Bảo tồn những cây thuốc bị đe dọa
Cây thuốc bị đe dọa là cách nói chung đối với những loài đã được xác định cần quan tâm bảo tồn Có 2 phương thức bảo tồn cần được triển khai ở huyện Xín Mần, như sau:
3.3.1.1 Bảo tồn tại chỗ (in situ)
Huyện Xín Mần có những vùng rừng đặc dụng giàu tài nguyên như: Nà Chì, Nấm Dấn, Thu Tà, Chế Là Đây là những vùng rừng đặc dụng được bảo vệ khá nghiêm ngặt các loại tài nguyên thực vật trong đó có cây thuốc
Trong thời gian tới cần có sự phối hợp với ngành Lâm nghiệp phúc tra lại, lên kế hoạch quản lý bảo tồn in situ các loài cây thuốc bị đe dọa, cụ thể như sau:
- Khu vực Đèo Gió, Nấm Chanh xã Nấm Dẩn bảo tồn các loài: Tam thất hoang, Sâm vũ diệp, Lan kim tuyến, Phá lủa, Giảo cổ lam, Tế tân vũ linh, Hoa tiên…
- Khu vực đỉnh Chiêu Lầu Thi xã Thu Tà, Chế Là bảo tồn các loài: Hoàng liên gai, Bách xanh, Chùa dù
- Khu vực Nà Chì, Khuôn Lùng: Giảo cổ Lam, Phá lủa, Hoàng tinh cách, Hoàng tinh vòng
3.3.1.2 Bảo tồn chuyển chỗ (ex situ)
Xây dựng và phát triển các vườn cây thuốc bảo tồn hiện có của các ông Lang,
bà Mế phục vụ cho sử dụng làm thuốc chữa bệnh cho người dân tại cộng đồng, xây dựng vườn thuốc bảo tồn gen của tỉnh, tiến hành đưa một số cây thuốc thuộc diện
Trang 3456
quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng về trồng, với mục đích bảo tồn ex situ và phục
vụ nhu cầu giảng dạy, nghiên cứu Căn cứ vào đặc điểm sinh học, cho thấy có thể trồng được hầu hết các loài trong Danh sách 21 loài bị đe dọa kể trên
Theo quy chế bảo tồn ex situ, các loài cần trồng đủ số lượng cá thể, được chăm sóc, kèm theo hồ sơ theo dõi thường xuyên, đảm bảo các loài này được tồn tại lâu dài, trong điều kiện nhân trồng, bên ngoài môi trường sinh thái tự nhiên vốn có của chúng
3.3.2 Phát triển trồng cây thuốc
3.3.2.1 Trồng thêm tại chỗ một số cây thuốc thuộc diện quý hiếm
Song song với 2 hình thức bảo tồn trên, cần xúc tiến nghiên cứu đưa vào trồng thêm tại chỗ một số cây thuốc quý hiếm, hiện có nhu cầu sử dụng và kinh tế cao, như:
- Sâm vũ diệp (Panax bipinnatifidus) và Tam thất hoang (Panax stipuleanatus): Trồng bằng hạt và đầu mầm (nhưng tốt nhất là bằng hạt) Nơi trồng
phù hợp trên các khu rừng còn nhiều rừng và có lượng mùn lớn tại Nấm Dẩn, Thu
Tà
- Đẳng sâm (Codonopsis javanica): Trồng bằng hạt và phần đầu củ Nơi
trồng là đất nương rẫy cũ hay đất rừng mới khai phá, tại Nấm Dẩn, Chí Cà, Khuôn Lùng, Nà Chì
- Hà Thủ ô đỏ (Fallopia multiflora): Trồng bằng hạt và giâm hom Nơi trồng
phù hợp là đất nương rẫy cũ : Chí Cà, Xín Mần
- Dền toòng/Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphylla): Trồng bằng giâm hom,
trên đất nương rẫy tương đối ẩm hay ở hành lang ven rừng núi tại hầu hết các xã thuộc huyện Xín Mần ở độ cao từ 700m trở lên
3.3.2.2 Phát triển trồng một số cây thuốc đang có nhu cầu cao
Hà Giang là một tỉnh nằm trong Quy hoạch phát triển dược liệu vùng Đông Bắc ở nước ta, đã được chính phủ phê duyệt Xín Mần là một huyện nằm trong quy hoạch phát triển dược liệu của tỉnh Việc phát triển trồng các cây thuốc bản địa (trong diện quý hiếm ở trên) và những cây thuốc khác có giá trị kinh tế cao là một
Trang 3557
chủ trương đúng hướng Theo thông tư số 14/2009/TT-BYT của bộ trưởng bộ Y tế, cây thuốc trồng phải áp dụng theo các tiêu chí GACP-WHO, 2003 và theo VietGAP, nhằm tạo ra các sản phẩm dược liệu có chất lượng cao và an toàn cho sức khỏe Phát triển trồng cây thuốc ở huyện Xín Mần, sẽ tạo thêm được việc làm và tăng thêm thu nhập cho người dân, trong cộng đồng các dân tộc ở địa phương
Bên cạnh các cây thuốc quý hiếm trên, ở huyện Xín Mần có thể phát triển
trồng Sa nhân tím (Amomum longiligulare), trên đất lâm nghiệp, để xuất khẩu Các loài Nghệ (Curcuma longa), Thảo quả (Amomum aromaticum) cũng là những cây
thuốc có thị trường tiêu thụ lớn và hoàn toàn thích hợp để sản xuất ở nhiều xã trong huyện
Đặc biệt ở vùng Chí Cà, Xín Mần, Nấm Dẩn có khí hậu ẩm mát quanh năm,
có thể trồng một số cây thuốc bắc nhập nội, như Bạch chỉ, Bạch truật, Đương qui, Huyền sâm, Ngưu tất, Xuyên khung, Tam thất bắc…
Hà thủ ô đỏ
Fallopia multiflora Curcuma longa Nghệ vàng
Hình 3.12 Một số loài có nhu cầu cao có thể phát triển trồng rộng rãi
Trang 3658
3.3.3 Khai thác bền vững nguồn cây thuốc tự nhiên
Đối tượng là những cây thuốc không nằm trong diện bảo tồn ở Vệt Nam và của tỉnh Hà Giang, hiện có tiềm năng khai thác tại huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang
3.3.3.1 Xây dựng Quy trình khai thác bền vững
Theo những quy định hiện hành, việc khai thác cây thuốc mọc tự nhiên ở Việt Nam phải đảm bảo tính bền vững cho nguồn tài nguyên Để thực hiện được yêu cầu này, mỗi loài cây thuốc cần có Quy trình kỹ thuật khai thác sao cho đảm bảo khả năng tái sinh tự nhiên, đồng thời không gây ra biến động lớn đối với quần thể Nội dung Quy trình khai thác bao gồm một số điểm đáng chú ý sau:
- Tên cây thuốc / kèm theo tên khoa học chính xác của loài Loài cây thuốc này không nằm trong diện bảo tồn ở Việt Nam và của địa phương (nếu có)
- Khối lượng dự tính sẽ khai thác và tỷ lệ chừa lại cây gieo giống trong quần thể Chú ý tỷ lệ cây đực/cái được chừa lại, phù hợp đối với cây thuốc có hoa khác gốc
- Chu kỳ khai thác …
Qui trình khai thác cần biên soạn riêng đối với từng loài cây thuốc, in ấn
thành tài liệu, phân phát cho người dân, đồng thời tổ chức tập huấn hướng dẫn cụ thể các Quy trình này cho những người đi khai thác
Song song với Quy trình khai thác, còn có Quy trình chế biến dược liệu tại chỗ đạt chất lượng cao
Trang 3759
Toàn bộ các vấn đề được đề cập trên đây, trên thực tế đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chí GACP - WHO, 2003 cũng như Thông tư số 14/2009/TT-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc áp dụng GACP của WHO ở nước ta
Ví dụ: Quy trình khai thác bền vững cây Chè dây gồm một số tiêu chí chủ
yếu sau:
- Tên cây thuốc: Chè dây, Khau cha, Pàn ỏng (Tày)
- Tên khoa học (Ampelopsis cantoniensis (Hook et Arn) Planch., họ Nho
(Vitaceae)
- Bộ phận dùng: Cành lá non
- Công dụng: Làm thuốc chữa viêm loét dạ dày và tá tràng …
- Nơi khai thác: Ghi tên cụ thể một số vùng rừng thuộc các xã Nấm Dẩn, Khuôn Lùng, Nà Chì…
- Thời gian khai thác: 15 tháng 3 – 15 tháng 4; 15/7 – 15/8 và 15/10 – 15/11
- Chu kỳ khai thác: 3 lần/năm
- Cách khai thác: Dùng dao hoặc liềm cắt lấy toàn bộ phần cành non có nhiều
lá, chiều dài cánh 35-70 cm
- Khả năng tái sinh chồi và tỷ lệ chừa lại cây gieo giống: Sau khi cắt, tất cả các phần thân và cành còn lại sẽ mọc ra nhiều chồi Các chồi này sau 3,5 – 4,0 tháng sẽ phát triển thành cành non, mang nhiều lá và tiếp tục chu kì thu hái lần sau
Do bị cắt tới 3 lứa 1 năm, nên các cành tái sinh không đủ thời gian để có quả già
Để duy trì tái sinh từ hạt, khi khai thác cần chừa lại một số cây Chè dây mọc leo lên các cây gỗ và cây bụi cao Tỷ lệ chừa lại khoảng 2-4 cây/ha Sau khi khai thác về, Chè dây được đưa vào chế biến ngay khi còn tươi (có Quy trình chế biến dược liệu riêng)
3.3.3.2 Hướng dẫn Quy trình khai thác đến cộng đồng
Tùy theo đối tượng và vùng khai thác, cần tổ chức các buổi tập huấn trong cộng đồng, để cán bộ kỹ thuật hướng dẫn cụ thể kỹ thuật khai thác một số cây thuốc (là đối tượng khai thác ở địa phương) cho người dân Bên cạnh hướng dẫn về lý
Trang 3961
KẾT LUẬN
Từ những kết quả nghiên cứu, chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:
1 Qua điều tra thu thập, chúng tôi đã thống kê ở khu vực nghiên cứu có 209 loài, thuộc 183 chi, 114 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch
- Đã xác định tên khoa học và xây dựng được Danh lục cây thuốc thu thập tại huyện Xín Mần (209 loài)
- Danh sách các loài cây thuốc cần bảo ở ở Việt Nam đã phát hiện tại huyện Xín Mần (21 loài)
- Danh sách loài/nhóm loài có tiềm năng khai thác tại huyện Xín Mần (14 loài/nhóm loài)
- Xây dựng được 02 bản đồ phân bố điểm của các loài cây thuốc cần bảo tồn và loài/nhóm có khả năng khai thác
2 Qua phân tích về đa dạng của 209 loài cây thuốc thu được ở huyện Xín Mần cho thấy:
- Các loài thực vật làm thuốc thuộc 183 chi, 114 họ, 5 ngành Cây thuốc thu được ở đây ngành Ngọc lan chiếm phần lớn với 195/209 loài Trong ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), lớp Ngọc lan/lớp Hai lá mầm (Magnoliopsida/Dicotyledon) chiếm
ưu thế với 147 loài (≈ 75,39 % so với tổng số loài cây thuốc đã biết), thuộc 137 chi, 90 họ; lớp Hành/lớp Một lá mầm (Liliopsida/Monocotyledon) có 48 loài (24,61% so với tổng số loài cây thuốc đã biết), thuộc 33 chi và 15 họ
- Cây thuốc thu thập tại huyện Xín Mần chủ yếu là cây thân cỏ (45,93%); tiếp theo là nhóm cây bụi (24,37 %) và nhóm cây thân gỗ (17,23%) Tổng hợp với các đại diện thuộc ngành Mộc tặc, ngành Thông đất và ngành Dương xỉ cho thấy, nguồn cây thuốc huyện Xín Mần phong phú về các dạng cây
- Bộ phận sử dụng rất đa dạng (thân, lá, hoa, quả, rễ, củ, hạt), trên một số loài nhiều bộ phận được sử dụng Ví dụ như Cứt quạ (Rễ, Thân, Quả), Viễn chí (Rễ, vỏ thân, lá) Nhóm cây có một bộ phận được sử dụng làm thuốc là lớn nhất chiếm 46,89%
Trang 4062
Tuy nhiên, số loài được sử dụng từ 2 bộ phận trở lên cũng chiếm tỷ lệ không nhỏ Ví dụ: số loài được sử dụng 2 bộ phận chiếm 18,18 %, số loài được sử dụng 3 bộ phận chiếm 6,22%
- Về công dụng thì ở đây các loài cây thuốc đa số đều thuộc nhóm đa công dụng (tất cả các cây được nghiên cứu đều có thể chữa được từ 2 nhóm bệnh trở lên đặc biệt
có dâu tằm, ba chạc chữa được 8 nhóm bệnh) Có rất ít loài có một công dụng Trong
đó, số cây chữa nhóm bệnh cảm sốt, cảm cúm, nhức đầu là cao nhất (15,33%) tiếp đến
là các nhóm bệnh đường tiêu hóa và hô hấp 13,79% %; nhóm bệnh về xương khớp 11,49%
4 Đã đề xuất được một số biện pháp nhằm bảo tồn đi đôi với khai thác bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc ở huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang:
- Bảo tồn các loài cây thuốc quý hiếm
- Phát triển trồng thêm tại chỗ một số loài cây thuốc có giá trị kinh tế
- Khai thác bền vững các loài cây thuốc có tiềm năng