Có hai hê ̣ thống túi lấy máu là Top & Top đỉnh - đỉnh hay Top & Bottom đỉnh - đáy được áp dụng để điều chế các thành phần máu phù hợp theo phương pháp tách l ớp bạch cầu - tiểu cầu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Trần Thị Thủy
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CHẾ PHẨM MÁU ĐIỀU CHẾ BẰNG PHƯƠNG PHÁP BUFFY COAT TRÊN HỆ THỐNG MÁY TÁCH MÁU TỰ ĐỘNG TẠI VIỆN HUYẾT HỌC - TRUYỀN MÁU TW
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
HÀ NỘI - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Trần Thị Thủy
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CHẾ PHẨM MÁU
ĐIỀU CHẾ BẰNG PHƯƠNG PHÁP BUFFY COAT
TRÊN HỆ THỐNG MÁY TÁCH MÁU TỰ ĐỘNG
TẠI VIỆN HUYẾT HỌC - TRUYỀN MÁU TW
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60420114
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Lê Xuân Hải
PGS.TS Hoàng Thị Mỹ Nhung
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với sự kính trọng và chân thành, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- TS Lê Xuân Hải, PGS TS Hoàng Thị Mỹ Nhung - những người thầy, cô đã tận tình giúp đỡ và chỉ dẫn cho tôi trong suốt thời gian hoàn thành luận văn thạc sĩ này
- GS TS AHLĐ Nguyễn Anh Trí, Viện trưởng; BSCKII Phạm Tuấn Dương, Phó Viện trưởng, Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương, là những người thầy tận tâm đã định hướng, tạo mọi điều kiện thuận lợi, truyền thụ kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong quá trình làm việc và thực hiện đề tài nghiên cứu
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn đến các tập thể và cá nhân:
- Ban giám hiệu và Phòng Sau đại học, Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự Nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đã dạy tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian tôi học tập tại trường và cung cấp những tài liệu cần thiết giúp tôi hoàn thành luận văn
- Ban Quản lý chất lượng, Phòng Vật tư -Thiết bị Y tế, Khoa Hiến máu và các thành phần máu, Khoa Tế bào -Tổ chức học, Viện Huyết học - Truyền máu Trung Ương đã cung cấp vật tư thực hiện được trên thiết bị tự động, phối hợp tiếp nhận đơn vị máu từ người hiến máu đạt tiêu chuẩn và xét nghiệm kiểm tra chất lượng các chế phẩm máu
- Đặc biệt, ThS Võ Thị Diễm Hà, CN Đỗ Thị Hiền, KTV Mẫn Thị Anh Kim, KTV Nguyễn Thị Hồng và các bạn đồng nghiệp tại Khoa Điều chế các thành phần máu, nơi tôi làm việc
và thực hiện các nghiên cứu, đã hỗ trợ nhiệt tình để hoàn thiện quy trình nghiên cứu và ứng dụng trong công việc hàng ngày
Xin cảm ơn bố mẹ, gia đình, chồng và hai con trai - những người đã luôn ở bên cạnh động viên giúp tôi vững bước trong cuộc sống và phấn đấu trong học tập Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè và đồng nghiệp đã luôn quan tâm, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và làm luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 12 tháng 08 năm 2016 Học viên
Trần Thị Thủy
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 MÁU VÀ CÁC THÀNH PHẦN CỦA MÁU 3
1.1.1 Máu 3
1.1.2 Các thành phần của máu 3
1.2 CHẾ PHẨM MÁU VÀ ĐIỀU KIỆN BẢO QUẢN 5
1.2.1 Khối hồng cầu 6
1.2.2 Khối tiểu cầu 8
1.2.3 Khối bạch cầu hạt trung tính 9
1.2.4 Huyết tương tươi đông lạnh 9
1.2.5 Tủa lạnh giàu yếu tố VIII 10
1.3 Tình hình điều chế các thành phần máu tại Việt Nam 10
1.4 Tự động hóa trong truyền máu 12
1.5 Thiết bị ép tách chế phẩm máu tự động từ túi máu toàn phần 14
1.6 Nguyên lý điều chế chế phẩm máu bằng phương pháp buffy coat (tách lớp bạch cầu - tiểu cầu) 19
1.7 Hệ thống túi lấy máu đỉnh - đỉnh (hay còn gọi là hệ thống túi TOP & TOP) 21
1.8 Hệ thống túi lấy máu đỉnh - đáy (hay còn gọi là hệ thống túi TOP - BOTTOM) 24
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: 27
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 27
2.1.2 Chọn lựa mẫu nghiên cứu: 27
2.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU: 27
2.3 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU: 28
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 28
Trang 52.4.1 Thiết kế nghiên cứu: 28
2.4.2 Thống kê, xử lý số liệu: 28
2.4.3 Thiết bị, máy móc: 28
2.4.4 Sơ đồ nghiên cứu, lấy mẫu để kiểm tra các chỉ tiêu: 27
2.4.5 Phương pháp điều chế, lấy mẫu: 28
2.4.6 Kiểm tra chất lượng 29
2.4.6.1 Thể tích của túi máu 29
2.4.6.2 Kiểm tra các chỉ số huyết học 29
2.4.6.3 Đánh giá kết quả 30
2.4.6.4 Thực hiện so sánh: 32
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU CHẾ KHỐI HỒNG CẦU BẰNG MÁY TÁCH TỰ ĐỘNG 33
3.1.1 Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng MTP trước khi điều chế 33
3.1.2 Hiệu suất điều chế khối hồng cầu và tỷ lệ loại bỏ bạch cầu trong quá trình điều chế 35
3.1.3 Đánh giá một số thông số đo của đơn vị máu khi thực hiện điều chế trên máy ép máu tự động 40
3.2 ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHẤT LƯỢNG CỦA CHẾ PHẨM MÁU SAU KHI ĐIỀU CHẾ BẰNG HỆ THỐNG TÚI ĐỈNH - ĐÁY TRÊN MÁY TÁCH TỰ ĐỘNG 43
3.2.1 Chất lượng chế phẩm máu được điều chế từ MTP thể tích 350 ml 43
3.2.2 Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng chế phẩm máu sau khi điều chế của túi máu thể tích 450 ml 46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
KẾT LUẬN 50
KIẾN NGHỊ 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Các chế phẩm máu được tách ra từ máu toàn phần 5
Hình 1.2 Tổng số lượng máu toàn phần tiếp nhận và chế phẩm máu
điều chế từ năm 2004 - 2015 11
Hình 1.3 Tỷ lệ số đơn vị chế phẩm máu được điều chế từ một đơn vị
máu toàn phần tiếp nhận từ năm 2004 - 2015 11 Hình 1.4 Mô hình túi máu toàn phần sau khi ly tâm 15 Hình 1.5 Hoạt động của đèn cảm quang bên trong máy ép tách máu
tự động 16 Hình 1.6 Mô tả các bộ phận của máy ép tách máu tự động 18 Hình 1.7 Mô tả điều chế các thành phần máu
bằng phương pháp buffy coat 20 Hình 1.8 Các bước điều chế các chế phẩm máu bằng phương pháp
buffy coat thực hiện bằng tay với hệ thống túi đỉnh - đỉnh 22 Hình 1.9 Các bước điều chế các chế phẩm máu bằng phương pháp
buffy coat thực hiện trên máy tách máu tự động với hệ thống túi đỉnh - đáy 25 Hình 3.10 Hiệu quả điều chế khối hồng cầu trên máy tách máu tự động
với hệ thống túi đỉnh - đáy 39
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Bảng chỉ tiêu chất lượng một số chế phẩm máu 31
Bảng 3.1 Kết quả kiểm tra chất lượng MTP thể tích 350 trước khi điều chế 33
Bảng 3.2 Kết quả kiểm tra chất lượng MTP trước khi điều chế thể tích 450 ml 34
Bảng 3.3 Kết quả hiệu suất điều chế khối hồng cầu với loại túi máu thể tích 350 ml 36
Bảng 3.4 Tỷ lệ loại bỏ bạch cầu trong quá trình điều chế loại túi máu 350 ml 36
Bảng 3.5 Kết quả hiệu suất điều chế khối hồng cầu với loại túi máu thể tích 450 ml 37
Bảng 3.6 Tỷ lệ loại bỏ bạch cầu trong quá trình điều chế loại túi máu 450 ml 38
Bảng 3.7 Kết quả một số thông số đo của đơn vị máu khi thực hiện điều chế bằng hệ thống túi đỉnh - đáy thể tích 350 ml trên máy ép tách máu tự động 40
Bảng 3.8 Kết quả một số thông số đo của đơn vị máu khi thực hiện điều chế bằng hệ thống túi đỉnh - đáy thể tích 450 ml trên máy ép tách máu tự động 41
Bảng 3.9 Kết quả một số chỉ tiêu chất lượng chế phẩm máu sau khi điều chế của túi máu thể tích 350 ml 43
Bảng 3.10 Kết quả so sánh một số chỉ tiêu chất lượng của KHC 350 ml giữa hai hê ̣ thống túi máu 45
Bảng 3.11 Kết quả kiểm tra chất lượng chế phẩm máu sau khi điều chế từ MTP 450 ml 46
Bảng 3.12 Kết quả so sánh một số chỉ tiêu chất lượng của KHC 450 ml giữa hai hệ thống túi máu 47
Bảng 3.13 So sánh một số chỉ tiêu chất lượng của KHC được điều chế với nghiên cứu khác 49
Trang 91
MỞ ĐẦU
Máu và các chế phẩm máu được sử dụng rộng rãi trong việc điều trị, cứu sống người bệnh khi thiếu máu nhiều như chấn thương do tai nạn, do chiến tranh, phụ nữ chửa ngoài dạ con, tai biến khi sinh đẻ, các bệnh gây thiếu máu, phẫu thuật,… Nguyên lý thực hiện điều chế các thành phần máu là dựa vào khả năng lắng, tỷ trọng, kích thước của các thành phần máu, sử dụng phương pháp ly tâm với tốc độ khác nhau để tách được các chế phẩm máu khác nhau [7]
Hiện nay có hai phương pháp điều chế các chế phẩm máu là tách lớp bạch cầu - tiểu cầu (buffy coat) và huyết tương giàu tiểu cầu Tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng máu và khả năng điều chế mà mỗi Trung tâm Truyền máu lựa chọn phương pháp điều chế phù hợp nhằm đảm bảo nguyên tắc trong truyền máu là an toàn, tiết kiệm, hiệu quả và tăng thêm chủng loại chế phẩm máu truyền [12]
Cùng với phương pháp điều chế là hệ thống túi lấy máu kép để điều chế được các chế phẩm máu theo yêu cầu Có hai hê ̣ thống túi lấy máu là Top & Top (đỉnh - đỉnh) hay Top & Bottom (đỉnh - đáy) được áp dụng để điều chế các thành phần máu phù hợp theo phương pháp tách l ớp bạch cầu - tiểu cầu hoặc huyết tương giàu tiểu cầu, có thể sử dụng máy ép tự động hoặc bàn ép thủ công Hệ thống túi đỉnh - đáy được thiết kế để sử dụng riêng cho máy tách máu tự động Từ đầu những năm 2000, ở các quốc gia phát triển trong lĩnh vực truyền máu như Thái Lan, Nhật Bản, Hà Lan, Canada,… đã sử dụng rất phổ biến túi đỉnh - đáy để điều chế các thành phần máu bằng các thiết bị tự động và hệ thống túi máu này chưa được nghiên cứu sử dụng tại Việt Nam
Hệ thống túi máu đỉnh - đáy thường được áp dụng đối với các Trung tâm Truyền máu lớn, số lượng máu điều chế nhiều trong một ngày, đòi hỏi đầu tư lớn về trang thiết bị, máy móc, con người mới có thể thực hiện được với chất lượng, hiệu quả cao nhất
Trang 102
Tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương, đang áp dụng phương
pháp buffy coat và hệ thống túi đỉnh - đỉnh để điều chế các chế phẩm máu,
với phương pháp này loại bỏ trên 70% bạch cầu trong túi máu toàn phần ban
đầu mà không dùng bộ lọc bạch cầu và đến nay đã điều chế được 7 loại chế
phẩm máu chính từ máu toàn phần đạt chất lượng phục vụ cho nhu cầu điều
trị các bệnh về máu, gồm các chế phẩm như khối hồng cầu, khối tiểu cầu,
huyết tương tươi đông lạnh, huyết tương đông lạnh, tủa lạnh giàu yếu tố VIII,
khối bạch cầu, khối hồng cầu rửa, các chế phẩm máu tách thể tích nhỏ [5],…
Các quá trình điều chế chủ yếu do kỹ thuật viên thực hiện Trước tình hình số
lượng máu điều chế hàng năm tăng từ 10 đến 15%/năm cùng với sự phát triển
của công nghệ điều chế và đầu tư của Viện, chúng tôi đã bước đầu nghiên
cứu, thay đổi hệ thống túi lấy máu để có thể điều chế được các chế phẩm máu
bằng thiết bị tự động Nhằm hiệu chuẩn hệ thống máy ép tách máu tự động tại
Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương và hướng tới áp dụng điều chế các
thành phần máu trên thiết bị tự động, thay thế phương pháp thủ công, chúng
tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Đánh giá chất lượng chế phẩm máu điều chế
bằng phương pháp buffy coat trên hệ thống máy tách máu tự động tại Viện
Huyết học - Truyền máu Trung ương” với mục tiêu nghiên cứu như sau:
1 Đánh giá hiệu quả điều chế khối hồng cầu bằng máy tách máu tự động
2 Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng của chế phẩm máu sau khi điều chế
bằng hệ thống túi đỉnh - đáy trên máy tách tự động tại Viện Huyết học -
Truyền máu Trung ương
Trang 11
áp, vận chuyển và trao đổi chất nuôi dưỡng cơ thể, bảo vệ cơ thể chống lại nhiễm trùng nhờ các tế bào miễn dịch, các kháng thể bảo vệ, chống chảy máu nhờ hệ thống đông cầm máu, điều hòa hoạt động cơ thể, duy trì cân bằng nội
mô như duy trì pH máu, duy trì áp lực thẩm thấu giữa trong và ngoài tế bào, duy trì áp lực keo giữa trong và ngoài thành mạch, điều hòa hoạt động của hệ nội tiết [8]
1.1.2 Các thành phần của máu
a Thành phần tế bào
Hồng cầu là tế bào hình đĩa, không có nhân, chứa huyết sắc tố làm nhiệm
vụ gắn O2 ở phổi, vận chuyển O2 tới tổ chức, sau đó phối hợp với huyết tương vận chuyển CO2 đào thải qua phổi Hồng cầu sống khoảng 120 ngày
kể từ khi trưởng thành; chúng bị tiêu hủy ở lách và các tổ chức liên võng khác Màng hồng cầu có vai trò quan trọng trong duy trì cân bằng giữa môi trường và hồng cầu, hoạt động này do bơm natri đảm nhận
Bạch cầu: là các tế bào có nhân lưu hành trong máu ngoại vi có chức năng chủ yếu là bảo vệ cơ thể chống lại các tác nhân lạ xâm nhập như vi khuẩn, virus,… Dựa vào hình thái, bạch cầu được chia làm ba loại: bạch cầu hạt hay còn gọi là bạch cầu đa nhân, nhóm bạch cầu đơn nhân chia thành hai nhóm nhỏ bạch cầu đơn nhân lớn (monocyte) và bạch cầu nhân nhỏ (lymphocyte) Dựa theo chức năng thì bạch cầu được chia làm 2 nhóm: Nhóm miễn dịch gồm lympho, tương bào sản xuất kháng thể và các tế bào
Trang 124
trình diện kháng nguyên như mono, đại thực bào Bạch cầu hạt có đời sống ngắn khoảng 14 ngày, trong đó có 6 -7 ngày sinh sản và biệt hóa, 7 ngày còn lại là thời gian hoàn thiện trưởng thành, ở máu ngoại vi 24 giờ, sau đó vào tổ chức và tiêu hủy sau 24 - 48 giờ Bạch cầu đơn nhân lớn, đại thực bào và bạch cầu lympho sau khi trưởng thành sẽ được đưa vào tủy xương khoảng 4 - 6 ngày, sau đó chúng được đưa ra máu ngoại vi và sẽ tồn tại ở đây khoảng từ 8 - 72 giờ, sau đó chúng được đưa đến các tổ chức, tại tổ chức bạch cầu đơn nhân lớn và bạch cầu lympho có thể sống hàng tháng hoặc dài hơn [7]
Tiểu cầu: là tế bào nhỏ nhất, hình đĩa, không có nhân, đời sống ngắn, khoảng 7 - 10 ngày Tiểu cầu làm nhiệm vụ cầm máu nhờ có chức năng dính, ngưng tập, chế tiết nhiều chất gây hoạt mạch như ADP, serotonin, histamin, fibrinogen, enzyme, heparin, Chức năng cơ bản của tiểu cầu là tham gia quá trình cầm máu, đông máu nhằm bảo vệ cơ thể khỏi sự mất máu khi thành mạch bị tổn thương Khi tế bào nội mô bị tổn thương, ngay tức khắc tiểu cầu dính vào thành mạch, giải phóng thành phần trong các hạt và kích thích các tiểu cầu kết dính vào gây ngưng tập tiểu cầu tạo thành nút tiểu cầu sau cùng là tạo thành khối bít nơi tổn thương thành mạch [10]
b Thành phần huyết tương:
Là phần dịch thể, màu vàng chanh của máu gồm nhiều chất quan trọng cho
sự sống Tỷ trọng của huyết tương 1,051 ± 0,0005, pH 7,3 - 7,4, áp suất thẩm thấu 7,2 - 8,1 atmosphere ở 37oC
Huyết tương có chứa nhiều thành phần quan trọng cho sự sống như nước, chất khí, muối khoáng, vitamin, nội tiết tố, các cytokin, yếu tố đông máu, kháng thể, bổ thể, albumin,…
Huyết tương có các chức năng sau:
+ Cung cấp, vận chuyển các chất cần thiết cho cấu tạo và phát triển cơ thể + Duy trì huyết áp, duy trì hoạt động của hệ tuần hoàn, hệ bài tiết
+ Duy trì áp lực thẩm thấu, áp lực keo
Trang 135
+ Duy trì hệ thống đông máu bao gồm hệ gây đông và hệ kháng đông
+ Trong huyết tương có các thành phần kháng thể giúp bảo vệ cơ thể chống nhiễm trùng [8],[9]
1.2 CHẾ PHẨM MÁU VÀ ĐIỀU KIỆN BẢO QUẢN
Hình 1.1 Các chế phẩm máu được tách ra từ máu toàn phần
99,9% bạch cầu)
- Khối tiểu cầu gạn tách tự động từ một người hiến máu
(Apheresis)
- Huyết tương giàu tiểu cầu
- Khối bạch cầu hạt trung tính
- Khối bạch cầu gạn tách tự động
từ một người
(Apheresis)
- Huyết tương tươi đông lạnh
- Huyết tương đông lạnh
- Tủa lạnh giàu yếu tố VIII
- Yếu tố VIII cô đặc (chế phẩm đông khô)
Trang 146
Máu toàn phần là nguồn nguyên liệu quan trọng để điều chế các thành phần máu phục vụ cho nhu cầu điều trị, đảm bảo nguyên tắc trong truyền máu hiện đại là chỉ sử dụng loại chế phẩm máu mà người bệnh cần Các chế phẩm máu được điều chế bao gồm: Khối hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, huyết tương, huyết tương tươi đông lạnh, albumin, globulin và các yếu tố đông máu Máu toàn phần bảo quản sau khi lấy xuất hiện suy giảm dần chức năng các tế bào
và các thành phần protein huyêt tương, các yếu tố đông máu cũng sẽ giảm
Do vậy để sản xuất các chế phẩm máu có chất lượng, máu toàn phần phải được điều chế trong vòng 8 giờ sau khi sau khi lấy từ người hiến máu vào hệ thống túi dẻo [1], [4], [21]
Máu toàn phần được bảo quản ở nhiệt độ từ 2- 60C, hạn sử dụng máu toàn phần phụ thuộc vào dung dịch bảo quản Nếu dung dịch bảo quản là CPD - A1 (citrate-phosphate-dextrose-adenine) thời gian bảo quản được là 35 ngày [17]
Truyền máu toàn phần là truyền cả thành phần tế bào và huyết tương của máu, thích hợp cho việc bù đắp lại việc mất lượng lớn hồng cầu và thể tích máu như trong chảy máu với số lượng lớn [15]
Truyền máu từng phần là tách các thành phần máu để truyền bao gồm khối hồng cầu, khối tiểu cầu, khối bạch cầu, huyết tương tươi,
Truyền các chế phẩm có nguồn gốc từ huyết tương bao gồm: yếu tố VIII, yếu tố IX, albumin, γ-globulin,…
1.2.1 Khối hồng cầu
Được điều chế từ máu toàn phần đã được loại bỏ huyết tương và có bổ sung dung dịch nuôi dưỡng hồng cầu [1] Khối hồng cầu được chỉ định sử dụng cho các bệnh nhân thiếu máu mạn tính, mất máu số lượng lớn (chấn thương, phẫu thuật),…
a Khối hồng cầu: Có thể được điều chế bằng cách để lắng túi máu toàn
phần hoặc ly tâm để tách phần huyết tương Nếu điều chế trong hệ thống kín,
Trang 157
bảo quản ở nhiệt độ từ 2 - 60C thì hạn sử dụng của khối hồng cầu như là máu toàn phần Nếu bổ sung chất nuôi dưỡng hồng cầu như SAGM hoặc MAP có thể tăng hạn sử dụng của khối hồng cầu lên 42 ngày Nếu khối hồng cầu điều chế trong hệ thống hở thì hạn sử dụng là 24 giờ [1]
b Khối hồng cầu giảm bạch cầu: Là khối hồng cầu đã loại bỏ bạch cầu,
tiểu cầu Mức loại bỏ bạch cầu, tiểu cầu tùy thuộc vào kỹ thuật sử dụng Lọc bạch cầu bằng bộ lọc bạch cầu có hiệu quả cao nhất (loại bỏ 99,9% bạch cầu nguyên thủy trong máu toàn phần) Điều kiện bảo quản và hạn sử dụng phụ thuộc vào kỹ thuật điều chế đang áp dụng ; có thể hạn sử dụng được kéo dài như khối hồng cầu nếu được điều chế trong hệ thống kín và vô trùng, nếu hệ thống hở chỉ được 24 giờ [1], [15], [17] Khối hồng cầu giảm bạch cầu có ưu điểm: 1) Làm giảm tai biến truyền máu dạng sốt, rét run, mẩn ngứa, mề đay, buồn nôn, nôn thường xảy ra trong vòng 8 giờ sau khi truyền máu Số lượng bạch cầu thấp hơn 1,2 × 109 BC/đơn vị khối hồng cầu có thể ngừa được tai biến này 2) Phòng ngừa nguy cơ gây miễn dịch hệ HLA: Các bạch cầu có mang các kháng nguyên hệ HLA trên màng tế bào Vì vậy truyền chế phẩm
có chứa bạch cầu có thể sinh ra kháng thể hệ HLA Để phòng ngừa nguyên nhân gây bất đồng miễn dịch về HLA thì số lượng bạch cầu tồn dư trong KHC phải thấp hơn 1,2 ×109BC/đơn vị Khối hồng cầu giảm bạch cầu cũng
có thể phòng ngừa bệnh ghép chống chủ ở những bệnh nhân ghép cơ quan, tổ chức mà có tình trạng suy giảm miễn dịch Sử dụng Khối hồng cầu giảm bạch cầu cũng có thể phòng ngừa lây nhiễm HIV, HTLV, CMV… do bạch cầu là
tế bào đích của các virus này [7]
c Khối hồng cầu rửa: Là khối hồng cầu được rửa nhiều lần bằng nước
muối đẳng trương nhằm loại bỏ hết huyết tương và sau đó bổ sung dung dịch NaCl 0,9% hoặc dung dịch bảo quản hồng cầu để hòa loãng Điều kiện bảo quản KHC rửa là 40C và hạn sử dụng trong 24 giờ Chỉ định khối hồng cầu rửa cho những bệnh nhân thiếu máu tan máu miễn dịch có hoạt hóa bổ thể,
Trang 168
chỉ định cho thiếu máu tan máu có tiền sử truyền máu dị ứng với các thành phần huyết tương [7], [8]
1.2.2 Khối tiểu cầu
Khối tiểu cầu được điều chế bằng tách ra và pool (trộn các chế phẩm máu cùng loại) chung vào một túi từ 4 đến 6 đơn vị máu toàn phần (tương đương được điều chế từ 1000 - 2000 ml máu toàn phần ), cùng nhóm máu hệ ABO; mỗi đơn vị tiểu cầu tách từ đơn vị máu toàn phần có số lượng tiểu cầu
từ 45 đến 85 × 109 (trung bình 70 × 109) được treo trong 50 - 60 ml huyết tương và thường còn chứa khoảng 0,05 - 1×109 bạch cầu và 0,2 - 1 × 109
hồng cầu [1], [7] Có hai phương pháp điều chế khối tiểu cầu pool này là:
Tách từ huyết tương giàu tiểu cầu: Mỗi đơn vị máu toàn phần được
bảo quản ở nhiệt độ phòng 20 - 240C trong vòng 24 giờ, sau đó đem ly tâm sao cho đảm bảo có số lượng tiểu cầu nhiều nhất trong huyết tương (ly tâm với tốc độ thấp), bạch cầu và hồng cầu lắng xuống ở mức cho phép Đem ép túi máu toàn phần để tách huyết tương giàu tiểu cầu Huyết tương giàu tiểu cầu được đem ly tâm với tốc độ cao rồi tách phần huyết tương chỉ để lại khoảng 50 - 70 ml huyết tương, sau đó KTC pool được để khoảng một giờ đồng hồ tại nhiệt độ phòng rồi bảo quản tiểu cầu ở máy lắc
Phương pháp tách tiểu cầu từ buffy coat: máu toàn phần bảo quản ở
nhiệt độ 20 - 240C trong vòng 24 giờ Đem máu ly tâm đảm bảo cho túi máu phân thành 3 lớp, trên cùng là huyết tương, giữa là lớp buffy coat (gồm tiểu cầu, tế bào một nhân lympho, mono, bạch cầu hạt) lớp dưới cùng là khối hồng cầu Tách lớp huyết tương ra trước, sau đó tách lớp buffy coat và đem ly tâm
nhẹ lúc này tách được tiểu cầu có trong huyết tương [9], [17] Để điều chế
được khối tiểu cầu đủ một liều truyền điều trị có thể tích 150 ml, phải thực hiện pool từ 3 - 4 tiểu cầu đơn tương đương được điều chế từ 1000 ml máu toàn phần có số lượng tiểu cầu tổi thiểu là 1,4 × 1011 / đơn vị với thể tích không quá 150 ml, pH từ 6,4 - 7,4 trong quá trình bảo quản, nhiệt độ bảo quản
Trang 179
là 20 - 240C và có lắc liên tục, thời gian bảo quản từ 3 - 5 ngày, số lượng bạch cầu cho phép là trên 0,2 ×109/ 1 túi đơn đối với phương pháp điều chế từ huyết tương giàu tiểu cầu, còn đối với phương pháp buffy coat phải thấp hơn 0,05 ×109 bạch cầu/1 túi đơn [1], [7], [8]
1.2.3 Khối bạch cầu hạt trung tính
Khối bạch cầu hạt trung tính được tách từ máu toàn phần hoặc được tách
từ một người cho bằng máy tách tế bào tự động Khối bạch cầu hạt trung tính được sử dụng để truyền cho những bệnh nhân bị nhiễm trùng nặng mà có kháng với kháng sinh và số lượng bạch cầu bệnh nhân dưới 0,5 × 109/lít Khối bạch cầu hạt được truyền trong vòng 6 giờ sau khi điều chế [1]
Khối bạch cầu hạt trung tính điều chế từ máu toàn phần có thể tích từ
250 - 300 ml bằng cách pool 12 - 16 túi buffy coat tương đương điều chế từ
4000 ml máu toàn phần có SLBC trung tính ≥ 10 × 109/đơn vị Chế phẩm này
ít được sử dụng do hiện nay đã có thuốc kích bạch cầu hoặc chỉ sử dụng trong một số trường hợp giảm bạch cầu cấp tính, nhiễm trùng nặng Khối bạch cầu hạt được điều chế từ một người cho bằng máy tách tế bào tự động đạt hiệu quả cao hơn nhưng chi phí tốn kém [7]
1.2.4 Huyết tương tươi đông lạnh
Huyết tương được điều chế từ máu toàn phần hoặc từ gạn tách huyết tương bằng máy tách tế bào tự động Huyết tương được tách từ máu toàn phần trong hệ thống túi dẻo (hệ thống kín), máu toàn phần được điều chế huyết tương tốt nhất là trong vòng 6 giờ sau khi lấy máu, nhưng tối đa không vượt quá 18 giờ Huyết tương sau khi tách phải được đông lạnh hoàn toàn trong vòng một giờ ở nhiệt độ dưới -300C [1], [7], [17]
Tiêu chuẩn của huyết tương tươi: Có nồng độ yếu tố VIII đông máu đạt lớn hơn hoặc bằng 0,7 đơn vị quốc tế/1 ml, nồng độ protein toàn phần không dưới 50 g/l Nhiệt độ bảo quản và hạn sử dụng: Nếu bảo quản HTT ở nhiệt độ
từ 2 - 60C thì hạn sử dụng không quá 14 ngày; nếu bảo quản ở nhiệt độ từ
Trang 1810
-18oC đến - 25oC thì hạn sử dụng không quá 12 tháng, nếu bảo quản ở nhiệt
độ từ - 25oC trở xuống thì hạn sử dụng không quá 24 tháng [1], [17]
1.2.5 Tủa lạnh giàu yếu tố VIII
Là chế phẩm được điều chế từ nhiều đơn vị huyết tương tươi đông lạnh
có chứa các thành phần chính sau: Yếu tố đông máu VIII, von Willebrand, fibrinogen, yếu tố XIII, fibronectin, [1], [7], [8]
Có thể điều chế theo hai cách: 1) làm tan đông huyết tương tươi đông lạnh ở nhiệt độ 2 - 6oC qua đêm, khi huyết tương đã tan hết thì đem ly tâm với tốc độ cao ở nhiệt độ 2 - 6oC, tủa lạnh sẽ không tan và sau khi ly tâm tủa lạnh
sẽ lắng xuống đáy túi, sau đó đem ép tách huyết tương thu được tủa lạnh 2) Làm tan nhanh trong bể nước duy trì liên tục nhiệt độ 2 - 6oC, dẫn lưu huyết tương tan chảy ra một túi chuyển khác thì sẽ được tủa lạnh không tan bám dính ở thành túi [1], [7], [8]
Điều kiện bảo quản: Nếu bảo quản nhiệt độ từ - 18oC trở xuống thì hạn
sử dụng không quá 12 tháng Tủa lạnh đã làm tan đông, khi bảo quản ở nhiệt
độ 2 - 6oC phải sử dụng ngay trong vòng 6 giờ [1]
Sử dụng tủa lạnh yếu tố VIII cho bệnh nhân thiếu hụt yếu tố đông máu
bẩm sinh như: Bệnh Hemophilia A, von Willebrand,… [1], [7], [8]
1.3 Tình hình điều chế các thành phần máu tại Việt Nam
Viện Huyết học - Truyền máu TW là Viện chuyên khoa đầu ngành về lĩnh vực huyết học, truyền máu nên nhận được sự đầu tư về con người cũng như thiết bị máy móc, do đó, các hoạt động từ tiếp nhận máu đến điều chế các thành phần máu đều tăng lên đáng kể từ năm 2005 - năm đầu sau khi tách thành Viện độc lập trực thuộc Bộ Y tế Sau hơn 10 năm, số lượng máu toàn phần tiếp nhận tăng gấp 7 lần và số lượng chế phẩm máu được điều chế tăng gấp 10 lần so với năm 2004 Số lượng máu tiếp nhận tăng trung bình hàng năm từ 10 đến 15% theo số lượng [5]
Trang 1911
Hình 1.2 Tổng số lƣợng máu toàn phần tiếp nhận và chế phẩm máu điều chế
từ năm 2004 - 2015
Nguồn: Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương (2015)
Hình 1.3 Tỷ lệ số đơn vị chế phẩm máu đƣợc điều chế từ một đơn vị máu toàn phần
tiếp nhận từ năm 2004 - 2015
Nguồn: Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương (2015)
Tỷ lệ chế phẩm máu từ một đơn vị máu toàn phần trong 10 năm trung bình đạt 1,81 Từ một đơn vị máu toàn phần ban đầu có thể điều chế đƣợc
Trang 2012
trung bình 1,8 đơn vị chế phẩm máu Phụ thuộc vào tình hình sử dụng máu và chế phấm của từng địa phương mà mỗi Trung tâm Truyền máu có kế hoạch tiếp nhận và điều chế các thành phần máu đảm bảo mục tiêu an toàn, tiết kiệm
và hiệu quả Xu hướng sử dụng máu và chế phẩm máu ngày càng tăng theo sự phát triển của trình độ y tế của mỗi quốc gia, các bệnh viện triển khai các kỹ thuật cao trong điều trị bệnh càng phải sử dụng nhiều đến máu để hỗ trợ như phẫu thuật tim mạch, ghép tạng, đại phẫu, ung thư Tại Việt Nam năm 2015, 78,2% máu toàn phần được điều chế thành các chế phẩm máu Ở các quốc gia phát triển, tỷ lệ này chiếm 96% [13] Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), lượng máu tiếp nhận đạt 2% dân số để đáp ứng nhu cầu máu của quốc gia đó [2] Hiện tại, theo thống kê của Ban chỉ đạo Quốc gia vận động hiến máu tình nguyện năm 2015, tỷ lệ hiến máu toàn quốc chiếm 1,26% dân
số, tỷ lệ đơn vị máu toàn phần tiếp nhận năm 2015 (1.101.781 đơn vị) tăng 18,4% so với năm 2014 (930.869 đơn vị) [3] Trước tình hình đó, Viện Huyết
học - Truyền máu Trung ương nói riêng và các Trung tâm Truyền máu khu vực nói chung đã được đầu tư theo hướng tập trung hóa ngân hàng máu với nhiều thiết bị tự động như máy ly tâm túi máu, máy gạn tách tế bào máu tự động, máy ép tách máu tự động,… để tăng cường khả năng điều chế các thành phần máu có chất lượng ổn định, an toàn phục vụ điều trị
1.4 Tự động hóa trong truyền máu
Người ta đang nghiên cứu các hành động nhằm phòng ngừa các nguy
cơ có thể xảy ra trong truyền máu liên quan đến sai sót hành chính thực hiện trong việc ghi chép thông tin hồ sơ, giải quyết thông tin và kết nối thông tin
Có nhiều hoạt động liên quan kể từ khi đơn vị máu toàn phần được lấy từ người hiến máu đến khi truyền chế phẩm máu cho người nhận Mỗi hoạt động này liên quan đến một hoặc nhiều sai sót, và để kiểm soát, phòng ngừa xảy ra các sai sót hoặc chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng bằng cách kiểm tra chéo giữa các bước thực hiện Tại Hoa Kỳ, hai cơ sở dữ liệu phân tích độc lập liên
Trang 2113
quan đến truyền máu được kết luận phần lớn có thể tránh được 90% sự cố do
sơ suất của hành chính Sự tự động hóa dựa trên sử dụng mã vạch (hay các biểu tượng có thể đọc được bằng máy) làm giảm đáng kể các sự cố gây ra do con người khi đọc bằng mắt và ghi chép bằng tay Ngoài ra, các thiết bị tự động hóa có triển vọng của sự giảm chi phí trong khi nâng cao chất lượng dịch vụ truyền máu được cung cấp đến cho các bệnh nhân Điều này làm giảm chi phí lao động cao liên quan đến các hoạt động hành chính, mà thường chiếm khoảng một phần ba trong tổng chi phí của truyền máu [21] Theo tác giả Marisa Jurado (2012 - Tây Ban Nha) [17] đã nghiên cứu thực hiện điều chế các thành phần máu từ 650 đơn vị đến 1000 đơn vị máu trong một ngày trên thiết bị tự động Atreus 3C, giảm 23 bước thực hiện theo quy trình thường quy xuống còn 16 bước, giảm thời gian điều chế trong một lô máu (từ 56,8 phút xuống 45,7 phút), tăng số lượng đơn vị khối tiểu cầu do một người điều chế (76,1 đơn vị tăng lên 94,6 đơn vị), giảm số người làm việc trong một ngày (14 người xuống 8-12 người), giảm thời gian đào tạo (6 tuần xuống 2 tuần), giảm số lượng thiết bị (46 chiếc xuống 21 - 29 chiếc), giảm diện tích không gian làm việc (105 m2 xuống 41 - 50 m2)
Việc sử dụng các thiết bị tự động trong sản xuất, giảm dần các thao tác
do con người thực hiện để nâng cao chất lượng của sản phẩm là xu thế tất yếu của sản xuất công nghiệp Nhiều thiết bị tự động hoàn toàn đã được phát triển
để lựa chọn, thu nhận chế phẩm máu từ một người hiến máu dựa trên kỹ thuật gạn tách tự động (apheresis) hoặc thiết bị được tích hợp thực hiện điều chế thường quy tại trung tâm truyền máu để điều chế huyết tương, khối hồng cầu
và khối tiểu cầu từ đơn vị máu toàn phần Với thiết bị gạn tách tự động có ưu điểm là chế phẩm máu được điều chế từ một người hiến máu, đạt một liều truyền điều trị, giảm các phản ứng không mong muốn trong truyền máu do đã loại bỏ được trên 99% bạch cầu, tuy nhiên giá thành của chế phẩm máu cao, nhiều khi gặp khó khăn trong việc vận động người hiến máu, thời gian gạn
Trang 2214
tách kéo dài từ 50 - 90 phút Với thiết bị ép tách máu tự động từ túi máu toàn phần có ưu điểm là một người có thể vận hành đồng thời nhiều máy để tách các chế phẩm máu, giá thành của chế phẩm máu thấp hơn nhiều so với chế phẩm gạn tách, chủ động được nguồn nguyên liệu khi thực hiện điều chế các thành phần máu Hạn chế của thiết bị này là thực hiện hiệu quả với túi máu đỉnh - đáy, còn đối với túi máu đỉnh - đỉnh khi điều chế trên máy tách máu tự động với phương pháp điều chế buffy coat thì loại bỏ được ít bạch cầu, lượng bạch cầu tồn dư nhiều trong khối hồng cầu, tách lớp buffy coat bị xáo động nên ảnh hưởng đến chất lượng khối tiểu cầu sau khi điều chế [31]
1.5 Thiết bị ép tách chế phẩm máu tự động từ túi máu toàn phần
Máy ép máu tự động điều chế cấc thành phần máu dựa trên nguyên lý kiểm soát áp lực dòng chảy từ bản ép đến túi máu toàn phần đã ly tâm, hệ thống các van cảm biến cùng với đầu hàn, các cảm biến trọng lượng và đèn cảm quang, máy tự động tách chính xác và chuyển các thành phần máu đã tách từ túi máu chính đến các túi chuyển theo chương trình cài đặt [14] Túi máu toàn phần sau khi ly tâm phân chia thành các lớp khác nhau (hình 1.4), được đưa vào khoang chứa túi máu sao cho mặt nhãn quay ra ngoài, mặt bản
ép phía sau túi máu có gắn hệ thống đèn cảm quang Hệ thống đèn cảm quang này gồm 8 đèn đặt thẳng đứng trên mặt bản ép bên trong máy (hình 1.5) và một đèn cảm biến chính đặt bên ngoài máy (hình 1.6) Túi đỉnh - đáy được lắp vào máy, sử dụng chương trình tách hồng cầu và huyết tương đồng thời, việc tách đồng thời sẽ tăng tốc độ nhưng vẫn duy trì được chất lượng của cả quá trình Khi kết thúc một pha trong chương trình, máy sẽ tự động chuyển đến pha tiếp theo, nếu không có pha nào nữa, chương trình sẽ tự động kết thúc [14]
Trang 2315
Hình 1.4 Mô hình túi máu toàn phần sau khi ly tâm
Sau khi ly tâm, túi máu toàn phần phân lớp như sau:
- Màu vàng: là phần huyết tương ở phía trên cùng, chiếm tỷ lệ 50 - 55% của túi máu
- Màu đỏ: là hồng cầu chiếm tỷ lệ 40 - 45% của túi máu
- Màu trắng: là lớp bạch cầu nằm phía trên lớp hồng cầu
- Màu xanh: là lớp tiểu cầu nằm trên lớp bạch cầu
- Khoảng cách giữa hai vạch kẻ: là lớp buffy coat hay lớp giàu bạch cầu - tiểu cầu, có chứa khoảng 10% hồng cầu, trên 70% bạch cầu và 90% tiểu cầu
a Hệ thống đèn cảm quang:
- Đèn cảm quang bên trong máy (hình 1.5) hoạt động bằng cách cài đặt 1 trong 8 đèn, xác định điểm dừng của vùng đệm, được cài đặt riêng cho mỗi loại phân tách thành phần máu, xác định thời điểm bản ép chuyển sang tốc độ khác Lực bàn ép có thể được điều chỉnh theo điểm dừng của
Lớp buffy coat giàu bạch cầu, tiểu cầu
Huyết tương
Hồng cầu
Trang 2416
từng đèn Đèn cảm quang số 1 được đặt đầu tiên tại đỉnh túi máu, đèn cảm quang số 8 được đặt tại điểm cuối cùng tại đáy túi máu Cài đặt điểm dừng của đèn cảm quang (LED BC posit) để khóa và giữ nguyên lớp buffy coat lại trong túi máu ban đầu dựa vào tỷ lệ giữa huyết tương và buffy coat Thể tích túi buffy coat được cài đặt bằng cảm biến trọng lượng và khoảng cách D* (là khoảng cách giữa túi máu và bản ép trong pha cuối của quá trình ép tách đơn vị máu, huyết tương chuyển qua van phía đỉnh túi máu và hồng cầu tách sang túi bảo quản qua van phía đáy túi máu)
- Đèn cảm biến chính bên ngoài máy hoạt động kết hợp hoặc độc lập với đèn cảm quang bên trong máy Chúng có chức năng phát hiện sự thay đổi trạng thái của chất lưu trong túi Đèn cảm biến phát hiện chính xác và khóa van túi khi huyết tương đã chuyển sang túi chuyển và bắt đầu xuất hiện vùng đệm lớp buffy coat
Hình 1.5 Hoạt động của đèn cảm quang bên trong máy ép tách máu tự động
Huyết tương
Hồng cầu
Trang 25b Đầu kẹp hàn
Thiết bị ép máu tự động có 5 đầu kẹp hàn, trong đó đầu số 3 điều khiển
tỷ lệ (tất cả các đầu kẹp hàn khác chỉ có hai trạng thái là đóng hoặc mở) Đầu kẹp hàn có chức năng kép là kẹp và giữ ống dây, mỗi đầu kẹp hàn có hai cảm biến điều khiển ống dây sao cho chính xác vị trí ống dây trong toàn bộ quá trình Điều này giúp kỹ thuật viên tránh đƣợc sai sót khi vận hành do ống dây đặt sai vị trí Kẹp số 3 gắn ngay sau đầu kẹp cảm biến chính là kẹp di chuyển
tỷ lệ Kẹp này rất hữu ích khi thực hiện điều chế các thành phần máu với hệ thống túi đỉnh - đáy Sự điều khiển tỷ lệ cho phép hệ thống kiểm tra chính xác
vị trí của vùng đệm, điều khiển dòng ra phía trên của túi máu
Trang 2618
Hình 1.6 Mô tả các bộ phận của máy ép tách máu tự động
c Cảm biến trọng lượng:
Cảm biến trọng lượng (còn gọi là cân) dùng để xác định khối lượng
thành phần máu Cân được thiết kế để có thể chịu được khối lượng tối đa 2,5
kg Trọng lượng đọc ra bởi cân đứng và cân bên là khối lượng chuẩn của các thành phần máu trong khi khối lượng đọc bởi cân trên bản ép có thể là khối lượng tổng tùy theo trạng thái cụ thể của từng pha tách máu khác nhau
d Bản ép:
Bản ép được điểu khiển bằng điện tử dựa vào sự liên kết các pha với nhau tùy theo chương trình cài đặt Trong mỗi chương trình được thiết lập có các pha vận tốc và khoảng cách bản ép để quản lý 4 thông số cần thiết: 1) vận
Túi chứa Huyết
tương tươi
Túi Khối hồng cầu
Khoang chứa túi máu
Đầu kẹp và hàn dây túi máu
Trang 27Các thành phần máu có thể được tách riêng biệt do chúng có kích thước
và tỷ trọng khác nhau và sẽ lắng ở tốc độ ly tâm khác nhau Khi ly tâm đơn vị máu toàn phần, hồng cầu lắng xuống đáy túi máu do chúng có tỷ trọng cao nhất (có khối lượng lớn hơn các thành phần máu khác), bạch cầu lắng bên trên hồng cầu, tiểu cầu hình thành một lớp bên trên bạch cầu và dịch lỏng (huyết tương cộng chất chống đông) ở trên đầu túi máu Theo nguyên lý này, các Trung tâm Truyền máu áp dụng điều chế theo phương pháp buffy coat (tách lớp bạch cầu - tiểu cầu) lựa chọn tốc độ và thời gian ly tâm tối ưu để nhằm tách riêng từng loại chế phẩm máu yêu cầu Điều chế các thành phần máu bằng phương pháp buffy coat trải qua hai giai đoạn ly tâm (hình 1.7), ly tâm lần một (tốc độ 3700 vòng/8 phút/22o), huyết tương ở phía trên túi máu, tiếp theo lớp ở giữa tập trung phần lớn là bạch cầu - tiểu cầu (lớp buffy coat)
và cuối cùng là hồng cầu Túi máu sau khi ly tâm được đặt lên bàn ép hoặc máy tách máu tự động để tách thành 3 sản phẩm là huyết tương, lớp buffy coat và hồng cầu Hồng cầu được bổ sung thêm dung dịch nuôi dưỡng SAGM/MAP để trở thành khối hồng cầu Lớp buffy coat có thể để đơn hoặc pool 3 đến 4 túi (tương đương được điều chế từ 1000 ml máu toàn phần) và thực hiện giai đoạn ly tâm lần hai (tốc độ 1700 vòng/3 phút/22oC) để tách thành khối tiểu cầu và cặn bạch cầu Giai đoạn hai do tiểu cầu được treo trong huyết tương, kích thước tế bào nhỏ nhất nên ly tâm với tốc độ thấp, thời gian kéo dài sẽ dễ dàng tách được khối tiểu cầu Nếu tế bào tự do có trong huyết tương phải được ly tâm ở tốc độ nhanh hơn trong khoảng thời gian thích hợp thì tế bào sẽ lắng xuống đáy túi huyết tương [9], [26] Phương pháp này có ưu điểm là loại bỏ được trên 70% là bạch cầu trong quá trình điều chế, thời gian
Trang 2820
điều chế ngắn, tiểu cầu không bị vón cục sau khi ly tâm, do đó chúng không
bị hoạt hóa trong quá trình bảo quản [10] Tuy nhiên, với phương pháp này có nhược điểm là mất một lượng hồng cầu từ 10 - 15 % trong quá trình điều chế [17], và lượng hồng cầu này là hồng cầu non, có vai trò rất quan trọng trong quá trình bảo quản hồng cầu dài ngày
Hình 1.7 Mô tả điều chế các thành phần máu bằng phương pháp buffy coat
Ly tâm lần 1 (tốc độ 3700 vòng/8 phút/22oC)
Ép, tách trên máy tự động hoặc bàn ép thủ công
Khối hồng cầu Huyết tương tươi Buffy coat
Máu toàn phần lấy vào hệ thống túi kín bộ bốn
Ly tâm lần 2 (tốc độ 1700 vòng/3 phút/22oC)
Khối tiểu cầu Cặn bạch cầu
Trang 2921
1.7 Hệ thống túi lấy máu đỉnh - đỉnh (hay còn gọi là hệ thống túi TOP
& TOP)
Cấu tạo bộ túi:
(1): Túi đựng máu toàn phần ban đầu
(2): Túi đựng lớp buffy coat (lớp ở giữa giàu bạch cầu - tiểu cầu) tách từ túi máu toàn phần
(3): Túi rỗng, sử dụng làm túi chuyển tách huyết tương tươi từ túi máu toàn phần
(4): Túi chứa sẵn dung dịch bảo quản hồng cầu và sử dụng để bổ sung vào khối hồng cầu sau khi điều chế
1
1 1 - - -
-
2
Trang 3022
Hình 1.8 Các bước điều chế các chế phẩm máu bằng phương pháp buffy coat
thực hiện bằng tay với hệ thống túi đỉnh - đỉnh
A: MTP được lấy vào hệ thống túi dẻo bộ bốn đỉnh - đỉnh, bao gồm một túi chính chứa máu toàn phần và hệ thống túi chuyển đính kèm
B: Đơn vị MTP sau khi ly tâm
C: Túi MTP đặt trên bàn ép thủ công, tách phần huyết tương sang túi chuyển thứ nhất D: Sử dụng kẹp cánh dài để kẹp và tách lớp buffy coat sang túi chuyển thứ hai
E: Bổ sung dung dịch bảo quản hồng cầu vào túi chứa hồng cầu cô đặc để điều chế được khối hồng cầu Sau khi điều chế bộ túi máu có 3 thành phần chính gồm túi khối hồng cầu, túi huyết tương tươi, túi buffy coat và túi chuyển.
E
Trang 3123
Kỹ thuật ép tách các thành phần máu bằng hệ thống túi bộ bốn đỉnh - đỉnh: Đơn vị máu sau khi ly tâm mạnh ở tốc độ 3500 đến 3700 vòng/phút, thời gian từ 7 đến 8 phút/ nhiệt độ 22 oC Túi máu chia thành 3 lớp, trên cùng là huyết tương, giữa là lớp buffy coat (lớp chứa nhiều bạch cầu - tiểu cầu), cuối cùng là hồng cầu Đặt túi máu sau khi ly tâm lên bàn ép thủ công và thực hiện ép tách bởi các kỹ thuật viên Bẻ van túi máu toàn phần, với lực bàn ép tác động đồng đều vào túi máu, phần đầu van phía trên, huyết tương chảy sang túi chuyển rỗng (túi số 3 trên hình vẽ), khi vạch phân cách giữa huyết tương và hồng cầu của túi máu toàn phần cách mép van 2 - 2,5 cm thì khóa túi chuyển, sử dụng kẹp cánh dài kẹp dưới vạch phân cách giữa huyết tương và hồng cầu từ 1 - 1,5 cm để tách lớp buffy coat qua van sang túi chuyển số 2 Bẻ van túi chứa dung dịch bảo quản hồng cầu (túi số 4 trên hình vẽ) chuyển vào túi máu ban đầu để hoàn thiện được khối hồng cầu Tất cả các công đoạn tách chế phẩm máu trên hệ thống túi đỉnh - đỉnh đều thực hiện qua van phía trên đỉnh của túi máu Sau khi ép xong đơn vị máu này, kỹ thuật viên tiếp tục đặt đơn vị máu khác lên để ép tách, thực hiện lần lượt cho đến khi hết số lượng máu cần điều chế Mỗi một lần kỹ thuật viên chỉ ép được một đơn vị máu Thực hiện ly tâm túi buffy coat lần
2 (tốc độ 1500 đến 1700 vòng/phút, thời gian từ 2 đến 3 phút) để tách được khối tiểu cầu đơn Để điều chế được một đơn vị khối tiểu cầu thể tích 150
ml (tương đương được điều chế từ 1000 ml máu toàn phần) phải thực hiện pool (trộn lẫn) từ 3 túi khối tiểu cầu đơn cùng nhóm máu
Trang 3224
1.8 Hệ thống túi lấy máu đỉnh - đáy (hay còn gọi là hệ thống túi TOP -
BOTTOM)
Cấu tạo bộ túi:
(1): Túi đựng máu toàn phần ban đầu
(2): Túi đựng huyết tương tươi tách từ túi máu toàn phần
(3): Túi rỗng, sử dụng làm túi chuyển tách chế phẩm tủa lạnh giàu yếu tố VIII từ túi huyết tương tươi (túi B)
(4): Túi chứa sẵn dung dịch bảo quản hồng cầu và đựng khối hồng cầu sau khi điều chế
4
Trang 33có chứa dung dịch bảo quản hồng cầu qua van phía đáy túi máu
D: Sau khi điều chế bộ túi máu có 3 thành phần chính gồm túi khối hồng cầu, túi huyết tương tươi, túi buffy coat và túi chuyển.
C
D
Trang 3426
Kỹ thuật ép tách các thành phần máu bằng hệ thống túi bộ bốn đỉnh - đáy:
Hệ thống túi đỉnh - đáy được thiết kế để dành riêng cho thiết bị ép tách máu tự động, không thực hiện được bằng bàn ép thủ công Đặt túi máu toàn phần vào máy ép máu tự động, lắp dây túi chuyển vào các đầu cảm biến, thực hiện chọn chương trình tách khối hồng cầu hệ thống túi đỉnh - đáy Bẻ các van túi máu, với lực bàn ép tác động đồng đều vào túi máu, phần đầu van phía trên, huyết tương chảy sang túi chuyển rỗng (túi số 2 trên hình vẽ), đồng thời phần đầu van phía dưới, hồng cầu chảy sang túi chuyển chứa dung dịch bảo quản (túi số 4 trên hình vẽ) Khi huyết tương chảy hết sang túi chuyển, đầu cảm biến nhận biết và khóa van lại Lớp buffy coat được giữ lại trong túi máu toàn phần ban đầu theo trọng lượng
đã được cài đặt Kết thúc chương trình, xử lý hàn rời các túi, từ một đơn vị máu tách được 3 loại sản phẩm gồm: huyết tương tươi, khối hồng cầu và túi buffy coat Từ các túi buffy coat này sẽ được tiếp tục pool từ 3 đến 6 túi cùng nhóm lại để điều chế được khối tiểu cầu Cùng một lúc, một kỹ thuật viên có thể vận hành và giám sát việc tách máu của nhiều đơn vị máu Đơn
vị máu sau khi điều chế, máy sẽ tự động hàn rời các vị trí ống dây theo cách cài đặt của người sử dụng máy Điều này đã giúp giảm thời gian và giảm nhân lực thực hiện điều chế các thành phần máu
Trang 3527
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
145 đơn vị máu toàn phần thể tích 350 ml (45 đơn vị), 450 ml (100 đơn vị) được lấy vào hệ thống túi kín bộ bốn đỉnh - đáy (túi nghiên cứu), của hãng TERUMO, Nhật Bản Thực hiện điều chế các thành phần máu theo phương pháp buffy coat bằng máy ép máu tự động GIOTTO (Italia) Kiểm tra, đánh giá chất lượng máu toàn phần trước khi điều chế và các chế phẩm máu sau khi điều chế
362 đơn vị máu toàn phần thể tích 350 ml (270 đơn vị), 450 ml (92 đơn vị) được lấy vào hệ thống túi kín bộ bốn đỉnh - đỉnh (hiện đang sử dụng) Thực hiện ép tách các chế phẩm máu bằng bàn ép thủ công do kỹ thuật viên thực hiện Kiểm tra, đánh giá chất lượng máu toàn phần trước khi điều chế và khối hồng cầu sau khi điều chế
2.1.2 Chọn lựa mẫu nghiên cứu:
Khám tuyển người hiến máu đạt tiêu chuẩn hiến máu thể tích 350 ml, 450
ml, lấy máu vào túi kín bộ bốn
Lấy mẫu đơn vị máu toàn phần để kiểm tra chất lượng và điều chế các thành phần máu bằng phương pháp buffy coat được thực hiện với bàn ép thủ công và máy ép máu tự động
2.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU:
Đề tài này được tiến hành nghiên cứu tại Khoa Điều chế các thành phần máu, Viện Huyết học - Truyền máu Trung Ương từ tháng 11/2015 đến tháng 3/2016
Thực hiện xét nghiệm tế bào học tại khoa Tế bào - Tổ chức học, Viện Huyết học - Truyền máu Trung Ương