Trong thời kỳ đổi mới đất nước, Việt Nam đã có những bước phát triển rất nhanh về mọi mặt của đời sống chính trị văn hóa kinh tế. Năm 2007 đánh dấu một bước phát triển và là bước ngoặt mới của Việt Nam khi trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại quốc tế (WTO), cộng với các thỏa thuận đạt được với các nước khác, nước ta đang chuyển biến mạnh mẽ, đặc biệt là về mặt kinh tế. Thuận lợi có nhiều nhưng thách thức đặt ra không nhỏ khi mà các doanh nghiệp trong nước có quy mô không lớn, tiềm lực tài chính còn yếu, khả năng cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài với tiềm lực tài chính mạnh hơn là rất khó khăn. Để trong tình hình mới mà kinh tế Nhà nước vẫn nắm được vai trò chủ đạo thì đòi hỏi các doanh nghiệp Nhà nước phải có những thay đổi trong tư duy kinh tế cũng như cách thức tổ chức sản xuất kinh doanh. Kế toán là công cụ quản lý hiệu quả đối với hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và xây dựng cơ bản nói riêng, trong đó kế toán chi phí sản xuất và giá thành chiếm vị trí rất quan trọng, nó ảnh hưởng tới chi phí lợi nhuận và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Như vậy, trong tình hình mới hiện nay, đi đôi với đổi mới tư duy và cách thức tổ chức sản xuất kinh doanh thì đổi mới và hoàn thiện công tác kế toán tại mỗi doanh nghiệp không riêng gì doanh nghiệp Nhà nước là một yêu cầu cần thiết phải đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp, trong đó công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm chiếm vai trò quan trọng, là trọng tâm của công tác kế toán để quản lý tốt hơn chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động của mỗi doanh nghiệp và đem lại lợi nhuận ngày càng tăng cho doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh bắt đầu từ sự quản lý tốt chi phí đầu vào, có quản lý tốt chi phí đầu vào thì mới đạt kết quả tốt trong hoạt động là vì vậy.Công ty Cổ phần tư vấn đầu tư, thiết kế và khảo sát xây dựng Bạch Đà trực thuộc Tổng công ty xây dựng Bạch Đà là một doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hoá chưa lâu. Được kế thừa những thành tựu trước đây của Công ty tư vấn xây dựng, cộng với lỗ lực lao động của đội ngũ cán bộ công nhân viên trong công ty, công ty đã và đang trong giai đoạn phát triển mới của mình, góp sức cùng cả nước thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới.
Trang 1tổ chức sản xuất kinh doanh Kế toán là công cụ quản lý hiệu quả đốivới hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và xây dựng cơ bản nóiriêng, trong đó kế toán chi phí sản xuất và giá thành chiếm vị trí rấtquan trọng, nó ảnh hưởng tới chi phí lợi nhuận và khả năng cạnh tranhcủa doanh nghiệp trên thị trường Như vậy, trong tình hình mới hiệnnay, đi đôi với đổi mới tư duy và cách thức tổ chức sản xuất kinhdoanh thì đổi mới và hoàn thiện công tác kế toán tại mỗi doanhnghiệp- không riêng gì doanh nghiệp Nhà nước- là một yêu cầu cầnthiết phải đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp, trong đó công tác kế toánchi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm chiếm vai trò quan trọng,
là trọng tâm của công tác kế toán để quản lý tốt hơn chi phí, nâng caohiệu quả hoạt động của mỗi doanh nghiệp và đem lại lợi nhuận ngàycàng tăng cho doanh nghiệp Hiệu quả kinh doanh bắt đầu từ sự quản
lý tốt chi phí đầu vào, có quản lý tốt chi phí đầu vào thì mới đạt kếtquả tốt trong hoạt động là vì vậy
Trang 2Công ty Cổ phần tư vấn đầu tư, thiết kế và khảo sát xây dựngBạch Đà - trực thuộc Tổng công ty xây dựng Bạch Đà - là một doanhnghiệp Nhà nước được cổ phần hoá chưa lâu Được kế thừa nhữngthành tựu trước đây của Công ty tư vấn xây dựng, cộng với lỗ lực laođộng của đội ngũ cán bộ công nhân viên trong công ty, công ty đã vàđang trong giai đoạn phát triển mới của mình, góp sức cùng cả nướcthực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới
Được sự giới thiệu của Trường Học viện Tài Chính và được sựđồng ý của lãnh đạo Công ty Cổ phần tư vấn đầu tư, thiết kế và khảosát xây dựng Bạch Đà em đã đến công ty thực tập kể từ ngày29/01/2007 tại phòng Tài chính- kế toán của công ty Trong quá trìnhthực tập tại công ty, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các côchú và các chị trong phòng Tài chính- kế toán của công ty, giúp emtiếp cận thực tế với công tác kế toán tại công ty, đặc biệt là công tác kếtoán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Cùng với sựhướng dẫn tận tình của thầy giáo hướng dẫn, em đã có thêm đượcnhững hiểu biết nhất định về công ty và công tác kế toán tại công ty Ýthức được tầm quan trọng của công tác kế toán tập hợp chi phí sảnxuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty, nên sau quá trình thực tậptại công ty em quyết định chọn đề tài nghiên cứu để viết luận văn cuối
khoá của mình là: “Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần tư vấn đầu tư, thiết kế và khảo sát xây dựng Bạch Đà ” Trong bài luận, phương pháp nghiên
cứu chủ yếu là vận dụng phương pháp nghiên cứu khoa học của chủnghĩa duy vật biện chứng, phương pháp thống kê, và các phương phápkhoa học của kế toán Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu do trình
độ và thời gian nghiên cứu có hạn nên em chủ yếu tập trung vào mảng
kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm của hoạt động khảosát địa chất và địa hình thông qua một số hợp đồng kinh tế
Trang 3Kết cấu luận văn cuối khóa của em bao gồm các phần cơ bảnsau:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán tập hợp chiphí và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong doanh nghiệp xây lắp
- Chương 2: Thực trạng công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm ở công ty Cổ phần tư vấn, đầu tư, thiết kế
và khảo sát xây dựng Bạch Đà
- Chương 3: Một số ý kiến đề xuất nhằm làm hoàn thiện kế toánchi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công ty cổ phần tư vấnđầu tư, thiết kế và khảo sát xây dựng Bạch Đà
LỜI CAM ĐOAN
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng rôiCác số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực xuất phát
từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập
Tác giả chuyên đề luận văn
Sinh viên: Hoàng Thị Băng
MỤC LỤC
Lời nói đầu 3Lời cam đoan 5
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán tập hợp chi phí
và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong doanh nghiệp xây lắp.
Trang 51.1 Đặc điểm, yêu cầu quản lý, ý nghĩa và nhiệm vụ của kế toán
tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
1.1.1 Đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản, sản phẩm xây lắp và ảnh hưởng của nó đến kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp
1.1.2 Yêu cầu của công tác quản lý đầu tư và xây lắp
1.1.3 Vai trò của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp…
1.1.4 Nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
1.2 Nội dung cơ bản về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
1.2.1 Bản chất và phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp
1.2.1.1 Bản chất chi phí trong doanh nghiệp xây lắp
1.2.1.2 Phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp
1.2.1.2.1 Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích công dụng của chi phí (theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm)
1.2.1.2.2 Phân loại chi phí theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí (yếu tố chi phí)
1.2.1.2.3 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với khối lượng sản phẩm hoàn thành
1.2.1.2.4 Phân loại chi phí theo phương pháp quy nạp chi phí vào đối tượng kế toán chi phí
1.2.2 Giá thành sản phẩm xây lắp và các loại giá thành
1.2.2.1 Giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp
1.2.2.2 Các loại giá thành sản phẩm xây lắp
1.2.3 Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp
Trang 61.3 Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp
1.3.1 Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp
1.3.1.1 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp
1.3.1.2 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên
1.3.1.2.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
1.3.1.2.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
1.3.1.2.3 Kế toán chi phí sử dụng máy thi công
1.3.1.2.4 Kế toán chi phí sản xuất chung
1.3.2 Đánh giá sản phẩm làm dở trong doanh nghiệp xây lắp
1.3.3 Đối tượng tính giá thành và phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp
1.3.3.1 Đối tượng tính giá thành trong doanh nghiệp xây lắp
1.3.3.2.1 Phương pháp tính giá thành giản đơn ( phương pháp tính giá thành trực tiếp)
1.3.3.2.2 Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng
1.3.4 Tổ chức hệ thống sổ kế toán và báo cáo kế toán
1.3.4.1 Tổ chức hệ thống chứng từ và hạch toán ban đầu đối với chi phí sản xuất
1.3.4.2 Tổ chức hệ thống sổ kế toán để ghi chép, tập hợp chi phí sản xuất
1.3.5 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong điều kiện áp dụng kế toán máy
1.3.5.1 Nguyên tắc tổ chức kế toán trong điều kiện kế toán máy
Trang 71.3.5.2 Nhiệm vụ kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm trong
điều kiện áp dụng kế toán trên máy
1.3.5.3 Nguyên tắc và các bước tiến hành kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong điều kiện sử dụng phần mềm kế toán
Chương 2 Thực trạng công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở công ty Cổ phần tư vấn, đầu tư, thiết kế và khảo sát xây dựng Bạch Đà 2.1 Đặc điểm chung của công ty Cổ phần tư vấn, đầu tư, thiết kế và khảo sát xây dựng Bạch Đà
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
2.1.2 Đặc điểm sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh ở công ty Cổ phần tư vấn, đầu tư, thiết kế và khảo sát xây dựng Bạch Đà
2.1.3 Tổ chức công tác kế toán trong Công ty Cổ phần tư vấn, đầu tư, thiết kế và khảo sát xây dựng Bạch Đà
2.1.3.1 Chính sách kế toán áp dụng tại công ty
2.1.3.2 Tổ chức bộ máy kế toán tại công ty
2.1.3.3 Ứng dụng kế toán máy vào công tác kế toán tại công ty
2.2 Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở công ty Cổ phần tư vấn đầu tư, thiết kế và khảo sát xây dựng Bạch Đà
2.2.1 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất tại công ty Cổ phần tư vấn đầu tư, thiết kế và khảo sát xây dựng Bạch Đà
2.2.1.1 Đối tượng kế toán tập hợp chi phí, và nội dung chi phí sản xuất trong giá thành sản phẩm của công ty
2.2.1.2 Tổ chức hạch toán chi phí sản xuất tại công ty
2.2.1.2.1 Kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
2.2.1.2.2 Kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp
Trang 82.2.1.2.3 Kế toán chi phí sử dụng máy thi công
2.2.1.2.4 Chi phí sản xuất chung
2.2.2 Đánh giá sản phẩm làm dở của công ty cổ phần tư vấn đầu tư, thiết kế và khảo sát xây dựng Bạch Đà
2.2.3 Tính giá thành thực tế của các công trình tại Công ty CP tư vấn đầu tư, thiết kế và khảo sát xây dựng Bạch Đà
Chương 3 MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM LÀM HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Ở CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN ĐẦU TƯ, THIẾT KẾ VÀ KHẢO SÁT XÂY DỰNG BẠCH ĐÀ 3.1 Những ưu điểm và những mặt còn tồn tại trong công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công ty cổ phần tư vấn đầu tư, thiết kế và khảo sát xây dựng Bạch Đà 3.2 Một số ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công ty cổ phần tư vấn đầu tư, thiết kế và khảo sát xây dựng Bạch Đà
3.2.1 Yêu cầu của việc hoàn thiện
3.2.2 Nội dung hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm ở Công ty cổ phần tư vấn đầu tư, thiết kế và khảo sát xây dựng Bạch Đà
Kết luận
Nhận xét của đơn vị thực tập
Nhận xét của giáo viên hướng dẫn
Nhận xét của giáo viên phản biện
Tài liệu tham khảo
Trang 9Chương 1
Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán tập hợp chi phí và tính giá
thành sản phẩm xây lắp trong doanh nghiệp xây lắp.
1.1 Đặc điểm, yêu cầu quản lý, ý nghĩa và nhiệm vụ của kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp.
1.1.1 Đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản, sản phẩm xây lắp và ảnh hưởng của nó đến kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp.
Trang 10Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất mang tính côngnghiệp với chức năng tạo ta và trang bị tài sản cố định cho tất cả cácngành kinh tế quốc dân, góp phần tăng thu nhập quốc dân, thay đổi cơcấu kinh tế của đất nước góp phần giải quyết công ăn việc làm cho xãhội, tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài Các họat động xâydựng kết cấu hạ tầng bao giờ cũng đi trước so với các ngành khác, đây
là khu vực tập trung phần lớn tích lũy và vốn đầu tư từ các nguồn tàitrợ bên ngoài
Sản phẩm xây lắp là các công trình, hạng mục công trình có đủđiều kiện đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng So với các ngànhkhác, xây dựng cơ bản có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật riêng thểhiện ở sản phẩm xây lắp và quá trình tạo ra sản phẩm của ngành Cụthể:
- Sản phẩm xây lắp có giá trị lớn, kết cấu phức tạp, mang tínhchất đơn chiếc, thời gian xây dựng để hoàn thành sản phẩm có giá trị
sử dụng thường dài
- Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiệncần thiết cho quá trình sản xuất như các loại xe, máy móc thiết bị,nhân công … phải di chuyển theo địa điểm đặt công trình Mặt khác,việc xây dựng còn chịu tác động của điạ chất địa hình nơi thi côngcông trình và điều kiện thời tiết, khí hậu địa phương…nên quá trìnhthi công thường chia làm nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạnbao gồm nhiều phần việc khác nhau; công tác quản lý và sử dụng vật
tư tài sản cho công trình rất phức tạp
- Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏathuận với chủ đầu tư (giá đấu thầu), do đó tính chất hàng hóa của sảnphẩm xây lắp không thể hiện rõ
- Sản phẩm xây lắp từ khi khởi công đến khi hoàn thành thườngkéo dài, thời gian hoàn thành phụ thuộc vào quy mô, tính phức tạp về
Trang 11kỹ thuật của từng công trình và cả cách thức tổ chức của doanh nghiệptrong sản xuất sản phẩm Quá trình hoàn thiện sản phẩm thường chialàm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn lại chia thành nhiều công đoạnkhác nhau Đặc điểm này đòi hỏi công tác tổ chứa quản lý, giám sátchặt chẽ sao cho đảm bảo chất lượng công trình đúng thiết kế dự toán.
- Các công trình được thi công theo đơn đặt hàng và hợp đồng
cụ thể của bên giao thầu xây lắp nên phụ thuộc nhiều vào nhu cầukhách hàng Sản phẩm xây lắp phải đảm bảo đúng tiến độ, đúng kỹthuật và chất lượng theo thiết kế đã được duyệt
Những đặc điểm trên đã ảnh hưởng rất lớn đến kế toán chi phísản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp.Công tác kế toán vừa phải đáp ứng yêu cầu chung về chức năng,nhiệm vụ kế toán của một doanh nghiệp sản xuất vừa phải đảm bảophù hợp với đặc thù của loại hình doanh nghiệp xây lắp
1.1.2 Yêu cầu của công tác quản lý đầu tư và xây lắp.
Do đặc điểm của sản xuất và sản phẩm xây dựng đã làm cho việcquản lý về đầu tư xây dựng cơ bản khó khăn, phức tạp hơn các ngànhsản xuất vật chất khác Vì vậy đòi hỏi trong quá trình quản lý đầu tưxây dựng cơ bản phải đáp ứng được yêu cầu:
- Công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản phải đảm bảo tạo rađược nhưng sản phẩm được xã hội và thị trường chấp nhận cả về gía
cả và chất lượng
- Xây dựng cơ bản phải theo quy hoạch được duyệt, thiết kế hợp
lý, thẩm mỹ, công nghệ xây dựng hiện đại, đúng tiến độ và đạt chấtlượng cao
- Quá trình thi công công trình xây dựng đòi hỏi phải có sự quản
lý chặt chẽ vât tư, tài sản… đảm bảo sử dụng chi phí tiết kiệm, hiệuquả cao Điều đó đòi hỏi việc tổ chức quản lý sản xuất và hạch toánsản phẩm xây lắp phải lập dự toán ( cả dự toán trong thiết kế và dự
Trang 12toán trong thi công) Quá trình sản xuất xây lắp phải so sánh với dựtoán, lấy dự toán làm thước đo, đồng thời giảm bớt rủi ro phải muabảo hiểm cho công trình xây lắp.
Trong điều kiện ngày nay, ngành xây dựng cơ bản chủ yếu sửdụng phương pháp đấu thầu, giao nhận thầu giữa các doanh nghiệpvới nhau Vì vậy sự cạnh tranh về gía cả trở nên gay gắt giữa cácdoanh nghiệp xây lắp với nhau, bắt buộc các doanh nghiệp phải quản
lý chặt chẽ hơn nữa chi phí nhằm hạ giá thành sản phẩm Doanhnghiệp xây lắp muốn giành được hợp đồng phải xây dựng được mứcgiá đấu thầu hợp lý dựa trên sự quản lý định hướng của nhà nước, biếnđộng giá cả thị trường và điều kiện thực tế của doanh nghiệp về tổchức quản lý, phấn đấu hạ giá thành
1.1.3 Vai trò của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp.
Tổ chức kế toán chi phí sản xuất chính xác, hợp lý và tính đúng,tính đủ giá thành công trình xây lắp có ý nghĩa rất lớn trong công tácquản lý chi phí, giá thành xây dựng, trong việc kiểm tra tính hợp pháphợp lệ của chi phí phát sinh ở doanh nghiệp nói chung và ở các tổ độixây dựng nói riêng Với chức năng là ghi chép, tính toán, phản ánh vàgiám đốc thường xuyên liên tục sự biến động của vật tư, tài sản, tiềnvốn, kế toán sử dụng thước đo hiện vật và thước đo giá trị để quản lýchi phí Thông qua số liệu do kế toán tập hợp chi phí, tính giá thành,người quản lý doanh nghiệp biết được chi phí và giá thành thực tế củatừng công trình, hạng mục công trình của quá trình sản xuất kinhdoanh Qua đó, nhà quản trị có thể phân tích tình hình thực hiện kếhoạch sản phẩm, tình hình sử dụng lao động, vật tư, vốn là tiết kiệmhay lãng phí để từ đó có biện pháp hạ giá thành, đưa ra những quyếtđịnh phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hạ
Trang 13giá thành sản phẩm mà vẫn đảm bảo chất lượng là điều kiện quantrọng để doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường.
Việc phân tích đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanhchỉ có thể dựa trên giá thành sản phẩm chính xác Về phần giá thànhthì giá thành lại chịu ảnh hưởng của kết quả tổng hợp chi phí sản xuấtxây lắp Do vậy, tổ chức tốt công tác kế toán chi phí sản xuất và tínhgiá thành sản phẩm xây lắp để xác định nội dung, phạm vi chi phí cấuthành trong giá thành cũng như lượng giá trị các yếu tố chi phí đã dịchchuyển vào sản phẩm hoàn thành là yêu cầu cần thiết đối với cácdoanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp xây lắp nói riêng
Tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm là tiền đề để xác định kếtquả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tránh tình trạng lãi giả,
lỗ thật như một số năm trước đây Khi nền kinh tế đang trong thời kỳ
kế hoạch hoá tập trung, các doanh nghiệp hoạt động theo chỉ tiêu pháplệnh, vật tư, tiền vốn do cấp trên cấp, giá thành là giá thành kế hoạchđịnh sẵn Vì vậy, công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thànhsản phẩm chỉ mang tính hình thức Chuyển sang nền kinh tế thịtrường, các doanh nghiệp được chủ động hoạt động kinh doanh theophương hướng riêng và phải tự chịu trách nhiệm về kết quả kinhdoanh của mình Để có thể cạnh tranh được trên thị trường, công tác
kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp là phầnkhông thể thiếu được đối với doanh nghiệp xây lắp khi thực hiện chế
độ kế toán, hơn nữa nó còn có ý nghĩa to lớn và chi phối chất lượngcông tác kế toán trong toàn doanh nghiệp
1.1.4 Nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp.
Do đặc thù của ngành xây dựng cơ bản và của sản phẩm xây lắpnên việc quản lý về đầu tư xây dựng rất khó khăn phức tạp (nhưchúng ta đã biết ở phần trên), trong đó tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ
Trang 14giá thành sản phẩm là một trong những mối quan tâm hàng đầu, lànhiệm vụ hết sức quan trọng của doanh nghiệp Hiện nay, trong lĩnhvực xây dựng cơ bản chủ yếu áp dụng cơ chế đấu thầu, giao nhận thầuxây dựng Vì vậy để trúng thầu, được nhận thầu thi công thì doanhnghiệp phải xây dựng được giá thầu hợp lý, dựa trên cơ sở đã địnhmức đơn giá xây dựng cơ bản do Nhà nước ban hành trên cơ sở giá thịtrường và khả năng của doanh nghiệp Mặt khác, phải đảm bảo kinhdoanh có lãi Để thực hiện được yêu cầu đòi hỏi trên thì cần tăngcường công tác quản lý kinh tế nói chung, quản lý chi phí giá thànhnói riêng, trong đó trọng tâm là công tác kế toán chi phí sản xuất vàtính giá thành sản phẩm đảm bảo phát huy tối đa tác dụng của công cụ
kế toán đối với quản lý sản xuất
Trước yêu cầu đó, nhiệm vụ chủ yếu đặt ra cho kế toán chi phísản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp là:
- Phản ánh đầy đủ, kịp thời toàn bộ chi phí sản xuất thực tếphát sinh
- Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức chi phí vật tư, chiphí nhân công, chi phí sử dụng máy thi công và các chi phí dự toánkhác, phát hiện kịp thời các khoản chênh lệch so với định mức, các chiphí khác ngoài kế hoạch, các khoản thiệt hại, mất mát hư hỏng…trong sản xuất để đề xuất những biện pháp ngăn chặn kịp thời
- Tính toán hợp lý giá thành công tác xây lắp, các sản phẩm lao
vụ hoàn thành của doanh nghiệp
- Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch giá thành của doanh nghiệptheo từng công trình, hạng mục công trình, từng loại sản phẩm lao vụdịch vụ, vạch ra khả năng và các biện pháp hạ giá thành một cách hợp
lý và có hiệu quả
- Xác định đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ởtừng công trình, hạng mục công trình, từng bộ phận thi công tổ đội sản
Trang 15xuất… trong từng thời kỳ nhất định, kịp thời báo cáo về chi phí sảnxuất, tính giá thành công trình xây lắp, cung cấp chính xác kịp thờicác thông tin hữu dụng về chi phí sản xuất và giá thành phục vụ choyêu cầu quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp.
1.2 Nội dung cơ bản về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
1.2.1 Bản chất và phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp.
1.2.1.1 Bản chất chi phí trong doanh nghiệp xây lắp
Sản xuất gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của loàingười Quá trình sản xuất là sự kết hợp của ba yếu tố cơ bản: đốitượng lao động, tư liệu lao động và lao động sống Lao động là hoạtđộng một cách có ý thức của người lao động, tác động một cách cómục đích lên đối tượng lao động và tư liệu lao động, trong quá trìnhbiến đổi sẽ tạo ra sản phẩm lao vụ Đó chính là sự tiêu hao ba yếu tốtrên Trong xã hội tồn tại quan hệ hàng hoá- tiền tệ, hao phí yếu tốnguồn lực cho sản xuất kinh doanh được biểu hiện dưới hình thức giátrị, gọi là chi phí sản xuất kinh doanh
Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền cảu toàn bộhao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp bỏ ratrong một thời kỳ kinh doanh nhất định Chi phí về lao động sống lànhững chi phí về tiền lương (tiền công), thưởng, phụ cấp theo lươngcủa người lao động, đối tượng lao động dưới các hình thái vật chất,phi vật chất, tài chính và phi tài chính
Như vậy, giá trị sản phẩm xây lắp gồm ba bộ phận C, V, m biểuhiện:
G:= C+V+mG: giá trị sản phẩm xây lắp
Trang 16C: toàn bộ tư liệu lao động tiêu hao trong quá trình tạo ra sảnphẩm như khấu hao tài sản cố định, chi phí nguyên vật liệu,…
V: chi phí tiền lương, tiền công…trả cho người lao động
m: giá trị tăng thêm được tạo ra trong quá trình hoạt động xâylắp tạo ra sản phẩm
1.2.1.2 Phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp
1.2.1.2.1 Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích công dụng của chi phí (theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm).
Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm và đểthuận tiện cho việc tính giá thành toàn bộ, chi phí được phân theokhoản mục Cách phân loại này dựa vào công dụng chung của chi phí
và mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng Theo quy định hiện hành,giá thành sản phẩm bao gồm các khoản mục chi phí sau:
• Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm giá trị thực tế củanguyên liệu, vật liệu chính, phụ hoặc các bộ phận rời, vật liệu luânchuyển tham gia cấu thành thực thể sản phẩm xây lắp và giúp cho việcthực hiện và hoàn thành khối lượng xây lắp (không kể vật liệu chomáy móc thi công và hoạt động sản xuất chung)
• Chi phí nhân công trực tiếp: gồm toàn bộ tiền lương, tiền công
và các khoản phụ cấp mang tính chất tiền lương trả cho công nhântrực tiếp xây lắp
• Chi phí sử dụng máy thi công: bao gồm chi phí cho các máy thicông nhằm thực hiện khối lượng xây lắp bằng máy Máy móc thi công
là loại máy trực tiếp phục vụ xây lắp công trình Đó là nhữgn máymóc chuyển động bằng động cơ hơi nước, diezen, xăng, điện,…
Chi phí sử dụng máy thi công gồm chi phí thường xuyên và chi phítạm thời
- Chi phí thường xuyên cho hoạt động của máy thi cônggồm: lương chính, phụ của công nhân điều khiển phục vụ máy thi
Trang 17công Chi phí nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ, chi phí khấu haoTSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài ( sửa chữa nhỏ, điện nước, bảo hiểm
xe, máy…) và các chi phí khác bằng tiền
- Chi phí tạm thời: chi phí sửa chữa lớn máy thi công (đại tu,trung tu ), chi phí công trình tạm thời cho máy thi công (lều, lán, bệ,đường ray chạy máy…) Chi phí tạm thời của máy có thể phát sinhtrước (hạch toán trên TK 142, 242) sau đó phân bổ dần vào TK 623.Hoặc phát sinh sau nhưng phải tính trước vào chi phí sử dụng máy thicông trong kỳ (do liên quan đến việc sử dụng thực tế máy móc ti côngtrong kỳ) Trường hợp này phải tiến hành trích trước chi phí (hạchtoán trên TK 335)
• Chi phí sản xuất chung: phản ánh chi phí sản xuất của đội, côngtrường xây dựng bao gồm: tiền lương trả cho nhân viên quản lý đội,công trường, các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ quyđịnh (hiện nay là 19%) trên tiền lương của công nhân trực tiếp xâylắp, công nhân điều kiển xe, máy thi công và nhân viên quản lý đội,khấu hao tài sản cố định dùng chung cho hoạt động của đội và nhữngchi phí khác liên quan đến hoạt động của đội
Cách phân loại chi phí này làm cơ sở để nhận biết các chi phídoanh nghiệp đã bỏ ra cho theo công dụng của chi phí, từng hoạtđộng của chi phí và làm cơ sở để doanh nghiệp tính giá thành của sảnphẩm theo khoản mục Đồng thời làm cơ sở để doanh nghiệp xác địnhgiá thành kế hoạch
1.2.1.2.2 Phân loại chi phí theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí (yếu tố chi phí).
Để phục vụ cho việc tập hợp và quản lý chi phí theo nội dungkinh tế ban đầu thống nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể,địa điểm phát sinh, chi phí được phân theo yếu tố Cách phân loại nàygiúp cho việc xây dựng và phân tích định mức vốn lưu động cũng như
Trang 18việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán chi phí Theo quy định hiệnhành toàn bộ chi phí được chia thành các yếu tố:
• Chi phí nguyên vật liệu: gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệuchính, vật liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ, nhiên liệu độnglực… sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh
• Chi phí nhân công: gồm tiền lương (tiền công), các khoản phụcấp theo lương phải trả cho công nhân viên chức, chi phí BHXH,BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương và phụcấp trả cho cán bộ công nhân viên
• Chi phí khấu hao TSCĐ: tổng số khấu hao TSCĐ phải tríchtrong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng trong sản xuất kinh doanh
• Chi phí dịch vụ mua ngoài: toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoàidùng cho sản xuất kinh doanh
• Chi phí bằng tiền khác: toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phảnánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh
Theo cách này, doanh nghiệp xác định được kết cấu tỷ trọng củatừng loại chi phí trong tổng chi phí sản xuất để lập thuyết minh báocáo tài chính đồng thời phục vụ cho nhu cầu của công tác quản trịtrong kinh doanh nghiệp, làm cơ sở để lập định mức dự toán cho kỳsau
1.2.1.2.3 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với khối lượng sản phẩm hoàn thành.
Theo cách này, chi phí được phân loại theo cách ứng xử của chi phíhay là xem xét sự biến động của chi phí khi mức độ hoạt động thayđổi Chi phí được phân thành ba loại:
• Biến phí: là những khoản chi phí thay đổi về tổng số khi có sựthay đổi về mức độ hoạt động của doanh nghiệp, nhưng xét trên khốilượng hoạt động thì biến phí thường có thể là hằng số đối với mọi
Trang 19mức hoạt động, thường bao gồm: chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhâncông, chi phí bao bì…
• Định phí: là những khoản chi phí cố định khi khối lượng côngviệc hoàn thành thay đổi, tuy nhiên nếu tính trên một đơn vị sản phẩmthì định phí lại biến đổi Định phí thường bao gồm: chi phí khấu haoTSCĐ sử dụng chung, tiền lương nhân viên, cán bộ quản lý,…
• Chi phí hỗn hợp: là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu
tố biến phí và định phí Ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợpbiểu hiện các đặc điểm của định phí, quá mức đó nó lại thể hiện đặctính của biến phí
Cách phân loại trên giúp doanh nghiệp có cơ sở để lập kế hoạch,kiểm tra chi phí, xác định điểm hoà vốn, phân tích tình hình tiết kiệmchi phí, tìm ra phương hướng nâng cao chất lượng và giá thành sảnphẩm
1.2.1.2.4 Phân loại chi phí theo phương pháp quy nạp chi phí vào đối tượng kế toán chi phí.
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất kinh doanh được chiathành hai loại: chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp:
• Chi phí trực tiếp: là những chi phí liên quan trực tiếp đến từngđối tượng kế toán tập hợp chi phí; chúng có thể được quy nạp trực tiếpcho từng đối tượng chi phí Đây là những chi phí dễ nhận biết và hạchtoán chính xác, hầu hết chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhâncông trực tiếp thuộc loại này
• Chi phí gián tiếp là những chi phí có liên quan đến nhiều đốitượng kế toán tập hợp chi phí khác nhau nên không thể quy nạp trựctiếp cho từng đối tượng tập hợp chi phí được, mà phải tập hợp theotừng nơi phát sinh chi phí khi chúng phát sinh, sau đó quy nạp chotừng đối tượng theo phương pháp phân bổ gián tiếp; khi phân bổ chiphí cho từng đối tượng doanh nghiệp cần lựa chọn tiêu thức phân bổ
Trang 20thích hợp Chi phí sản xuất chung, chi phí sử dụng máy thi côngthường thuộc loại này.
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp nhìn nhận để lựa chọn cácphương pháp tập hợp chi phí phù hợp, lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ chiphí vào từng đối tượng phù hợp để tính toán giá thành hợp lý Mặtkhác, cách phân loại chi phí này còn giúp kế toán có thể tư vấn chonhà quản trị doanh nghiệp đưa ra và thực hiện một cơ cấu tổ chức sảnxuất kinh doanh hợp lý để đa số các khoản chi phí có thể quy nạp trựctiếp cho từng đối tượng tập hợp chi phí, từ đó giúp cho việc kiểm soátchi phí được thuận lợi hơn
Ngoài các cách phân loại trên, chi phí còn được phân loại theonhiều cách khác nhau phụ thuộc vào phương pháp tiếp cận và mụcđích khác nhau
1.2.2 Giá thành sản phẩm xây lắp và các loại giá thành.
1.2.2.1 Giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp
Giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền toàn bộ haophí về lao động sống và lao động vât hoá phát sinh trong quá trình sảnxuất có liên quan đến khối lượng xây lắp đã hoàn thành
Giá thành sản xuất sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hànghoá, phản ánh lượng giá trị của những hao phí lao động sống và laođộng vật hoá đã thực sự chi ra cho sản xuất Những chi phí đưa vàogiá thành sản phẩm phải phản ánh được giá trị của những hao phí laođộng sống và lao động vật hoá đã thực sự chi ra cho sản xuất Nhữngchi phí đưa vào giá thành sản phẩm phải phản ánh được giá trị thựccủa các loại tư liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất và các khoản chitiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản đơn hao phí lao động sống
Chỉ tiêu giá thành nếu được xác định một cách chính xác, trungthực có thể giúp doanh nghiệp cũng như Nhà nước có cơ sở để xem
Trang 21xét, đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó đưa ranhững biện pháp, đường lối thích hợp cho từng giai đoạn cụ thể.
Giá thành có hai chức năng chủ yếu là bù đắp chi phí và thước
đo chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh Số tiền thu được từ việctiêu thụ sản phẩm sẽ bù đắp chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để sảnxuất sản phẩm đó Tuy nhiên, sự bù đắp các yếu tố chi phí đầu vàomới chỉ là đáp ứng yêu cầu của tái sản xuất giản đơn Trong khi đómục đích chính của cơ chế thị trường là tái sản xuất mở rộng, tức làgiá tiêu thụ hàng hóa sau khi bù đắp chi phí đầu vào vẫn đảm bảo cólãi Do đó việc quản lý, hạch toán công tác giá thành sao cho vừa hợp
lý, chính xác vừa bảo đảm vạch ra phương hướng hạ thấp giá thànhsản phẩm có vai trò vô cùng quan trọng
1.2.2.2 Các loại giá thành sản phẩm xây lắp
Có nhiều cách phân loại giá thành sản phẩm Tuỳ theo tiêu chílựa chọn mà giá thành sản phẩm có thể được phân loại thành cáctrường hợp sau:
Phân loại theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính toán giá thành
Theo cách phân loại này thì chi phí được chia thành giá dự toán,giá thành kế hoạch, giá định mức và giá thành thực tế
- Giá thành dự toán là chỉ tiêu giá thành được xây dựng trên cơ
sở thiết kế kỹ thuật đã được duyệt, các định mức kinh tế kỹ thuật doNhà nước quy định, tính theo đơn giá tổng hợp cho từng khu vực thicông và phân tích định mức
- Giá thành kế hoạch: giá thành kế hoạch được xác định trướckhi bước vào kinh doanh trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và cácđịnh mức, các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch Chỉ tiêu này được xáclập trên cơ sở giá thành dự toán gắn liền với điều kiện cụ thể, năng lựcthực tế của từng doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định
Trang 22Giá thành kế hoạch là căn cứ để so sánh, phân tích tình hình thựchiện kế hoạch giá thành, là mục tiêu phấn đấu hạ giá thành của doanhnghiệp.
- Giá thành định mức: cũng như là giá thành kế hoạch, giá thànhđịnh mức cũng được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm.Tuy nhiên, khác với giá thành kế hoạch được xây dựng trên cơ sở cácđịnh mức bình quân tiên tiến và không biến đổi suốt cả kỳ kếhoạch,gía thành định mức được xây dựng trên cơ sở các định mức vềchi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch(thường là ngày đầu kỳ) nên giá thành định mức luôn thay đổi phùhợp với sự thay đổi của các định mức chi phí đạt được trong quá trìnhthực hiện kế hoạch gía thành
- Giá thành thực tế: giá thành thực tế là chỉ tiêu được xác địnhsau khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm dựa trên cơ sở chi phíthực tế phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm
Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sátchi phí, xác định được các nguyên nhân vượt định mức chi phí trong
kỳ hạch toán Từ đó điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức chi phí chophù hợp
Trong doanh nghiệp xây lắp, do đặc điểm của hoạt động sảnxuất, với yêu cầu công tác quản lý chi phí sản xuất và giá thành sảnphẩm, ngoài việc quản lý theo các loại gía thành trên đòi hỏi phảiquản lý giá thành khối lượng xây lắp hoàn thành quy ước
Giá thành
kế hoạch sản phẩm xây lắp
=
Giá thành
dự toán sản phẩm xây lắp
-Mức hạ giá thành
Trang 23Giá thành khối lượng xây lắp hoàn thành quy ước là khối lượngxây lắp hoàn thành đến một giai đoạn nhất định và thoả mãn các điềukiện sau:
- Phải nằm trong thiết kế và đảm bảo chất lượng kỹ thuật
- Phải đạt đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý
- Khối lượng được xác định một cách cụ thể và được chủ đầu
tư nghiệm thu chấp nhận thanh toán
1.2.3 Phân biệt chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp.
Chi phí sản xuất xây lắp và gía thành sản phẩm xây lắp đều làbiểu hiện bằng tiền của lao động sống và lao động vật hoá mà doanhnghiệp bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm Chi phísản xuất là cơ sở để hình thành nên giá thành, tuy nhiên giữa chi phísản xuất và giá thành sản phẩm có sự khác nhau về phạm vi, giới hạn
và nội dung Chi phí sản xuất chỉ tính trong một thời kỳ, còn giá thànhlại liên quan đến chi phí của khối lượng xây lắp của kỳ trước chuyểnsang nhưng lại không bao gồm chi phí thực tế của khối lượng xây lắp
dở dang cuối kỳ Chi phí sản xuất được tập hợp theo từng thời kỳ nhấtđịnh còn giá thành sản phẩm xây lắp là chi phí sản xuất được tính chomột công trình, hạng mục công trình hay khối lượng xây lắp hoànthành
Chi phí sản xuất của công tác xây lắp thống nhất với gía thànhsản phẩm xây lắp về mặt lượng trong trường hợp đối tượng tập hợpchi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành là một công trình, hạngmục công trình được hoàn thành trong kỳ tính giá thành hoặc giá trịkhối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ và đầukỳ bằng nhau Chi phí sảnxuất và giá thành sản phẩm xây lắp có quan hệ mật thiết với nhau, tàiliệu kế toán tập hợp chi phí sản xuất là căn cứ để tính giá thành sảnphẩm Nếu coi tính gía thành sản phẩm là công việc chủ yếu trong
Trang 24công tác kế toán thì kế toán chi phí sản xuất có tính chất quyết địnhđến tính chính xác của việc tính giá thành sản phẩm xây lắp.
1.3 Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp.
1.3.1 Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp.
1.3.1.1 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xâylắp
Đối tượng kế toán chi phí sản xuất là phạm vi và giới hạn để tập hợpchi phí sản xuất theo phạm vi, giới hạn đó Giới hạn nhất định để tậphợp chi phí sản xuất có thể là toàn bộ quy trình công nghệ, từng giaiđoạn sản xuất, từng xí nghiệp, tổ đội, từng công trình, hạng mục côngtrình
Để xác định được đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong doanhnghiệp xây lắp cần phải căn cứ vào:
- Mục đích sử dụng chi phí
- Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, quản lý sản xuất kinhdoanh, quy trình công nghệ sản xuất,loại hình sản xuất sản phẩm
- Khả năng, trình độ và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp
Dựa vào những căn cứ nói trên, đối tượng kế toán tập hợp chiphí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp thường được xác định làtừng công trình, hạng mục công trình, hoặc đơn đặt hàng
1.3.1.2 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kê khaithường xuyên
1.3.1.2.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp xây lắp là những chi phí vậtliệu chính, vật liệu phụ, các cấu kiện, các bộ phận kết cấu công trình,vật liệu luân chuyển tham gia cấu thành thực thể công trình xây lắphoặc giúp cho việc thực hiện và hoàn thành khối lượng xây lắp như:
Trang 25sắt thép, xi măng, gạch, gỗ, cát, đá, sỏi, tấm xi măng đúc sẵn, kèo sắt,cốt pha, đà giáo…Nó không bao gồm vật liệu, nhiên liệu sử dụng máythi công và sử dụng cho quản lý đội thi công công trình Chi phí vậtliệu thường chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm xây lắp.
Nguyên tắc hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
- Vật liệu sử dụng cho việc xây dựng hạng mục công trình nàothì tính trực tiếp cho hạng mục công trình đó trên cơ sở các chứng từgốc có liên quan, theo số lượng thực tế đã sử dụng và theo giá thực tếxuất kho Tuỳ theo doanh nghiệp sử dụng phương pháp nào để tính gíaxuất nguyên vật liệu ( có 4 phương pháp: thực tế đích danh, bình quângia quyền, nhập trước xuất trước và nhập sau xuất trước) mà kế toántính được trị giá thực tế của nguyên vật liệu xuất kho
- Cuối kỳ hạch toán hoặc khi công trình hoàn thành phải tiếnhành kiểm kê số vật liệu chưa sử dụng hết ở các công trường, bộ phậnsản xuất để tính số vật liệu thực tế chưa sử dụng hết cho công trình,đồng thời phải hạch toán đúng đắn số phế liệu thu hồi (nếu có) theotừng đối tượng công trình
- Trường hợp vật liệu sử dụng cho nhiều công trình thì kế toán
áp dụng phương pháp phân bổ để tính chi phí nguyên vật liệu trực tiếpcho từng đối tượng hạng mục công trình theo tiêu thức hợp lý: theođịnh mức tiêu hao, chi phí vật liệu trực tiếp theo dự toán…
- Kế toán phải sử dụng triệt để hệ thống định mức tiêu hao vậtliệu áp dụng trong xây dựng cơ bản và phải tác động tích cực đểkhông ngừng hoàn thiện hệ thống định mức đó
Để phản ánh các chi phí nguyên liệu, vật liệu sử dụng trực tiếpcho hoạt động xây lắp, sản xuất sản phẩm công nghiệp, thực hiện dịch
vụ lao vụ của doanh nghiệp xây lắp, kế toán sử dụng TK 621- Chi phínguyên vật liệu trực tiếp
Trang 26Tài khoản này được mở chi tiết cho từng công trình, hạng mục côngtrình, từng khối lượng xây lắp, các giai đoạn quy ước đạt điểm dừng
kỹ thuật có dự toán riêng Đối với công trình lắp máy, các thiết bị dochủ đầu tư bàn giao đưa vào lắp đặt không phản ánh ở tài khoản này
Phương pháp kế toán một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu đượcminh hoạ trong sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Phương pháp kế toán Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Trang 27(2)Mua nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ để dùng cho công trình,thuế GTGT đầu vào được khấu trừ (nếu có), căn cứ hoá đơnmua hàng, hoá đơn GTGT
(3)Dùng tạm ứng mua nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ cho côngtrình được quyết toán, căn cứ giấy thanh toán tạm ứng và cácchứng từ hoá đơn đi kèm
(4)Nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ không sử dụng hết cuối kỳhoặc khi công trình hoàn thành nhập lại kho, căn cứ phiếu nhậpkho ghi
(5)Nguyên vật liệu,công cụ dụng cụ không sử dụng hết cuối kỳhoặc khi công trình hoàn thành không nhập lại kho, căn cứ phiếubáo vật tư còn lại cuối kỳ ghi giảm chi phí
(6)Cuối kỳ kết chuyển phân bổ chi phí cho các đối tượng có liênquan để tính giá thành
1.3.1.2.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp.
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền lương, tiền công phảitrả cho số ngày công lao động của công nhân trực tiếp thực hiện khốilượng công tác xây lắp, công nhân phục vụ xây lắp kể cả công nhânvận chuyển, bốc dỡ vật liệu trong phạm vi mặt bằng thi công và côngnhân chuẩn bị, kết thúc thu dọn hiện trường thi công, không phân biệtcông nhân trong danh sách hay thuê ngoài
Nguyên tắc hạch toán chi phí nhân công trực tiếp:
- Tiền lương, tiền công phải trả cho công nhân liên quan trựctiếp đến công trình, hạng mục công trình nào thì phải hạch toán trựctiếp cho công trình hạng mục công trình đó trên cơ sở các chứng từgốc về lao động và tiền lương Trong điều kiện sản xuất xây lắp khôngcho phép tính trực tiếp chi phí nhân công cho từng công trình, hạngmục công trình thì kế toán phải phân bổ chi phí nhân công trực tiếpcho các đối tượng theo tiền lương định mức hay gia công định mức
Trang 28- Các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp xây lắp(BHXH, BHYT, KPCĐ) được tính vào chi phí sản xuất chung.
Để phản ánh chi phí nhân công trực tiếp tham gia vào quy trìnhhoạt động xây lắp kế toán sử dụng TK 622- Chi phí nhân công trựctiếp
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ kế toán chi phí nhân công trực tiếp
(1)Căn cứ vào bảng tính lương phải trả cho công nhân xây lắp.(2)Trường hợp tạm ứng để thực hiện giá trị khoán xây lắp nội bộ(đơn vị nhận khoán không tổ chức hạch toán kế toán riêng), khibản quyết toán tạm ứng về giá trị khối lượng xây lắp đã hoànthành bàn giao được duyệt chi phí nhân công
(3)Cuối kỳ kế toán, tính phân bổ và kết chuyển chi phí nhân côngtrực tiếp cho từng công trình, hạng mục công trình theo phươngpháp trực tiếp hoặc phân bổ
1.3.1.2.3 Kế toán chi phí sử dụng máy thi công.
Để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng máy thi công phục vụtrực tiếp cho hoạt động xây lắp, kế toán sử dụng tài khoản 623- Chiphí sử dụng máy thi công Tài khoản này chỉ sử dụng để hạch toán chiphí sử dụng máy thi công đối với trường hợp doanh nghiệp thực hiệnxây lắp công trình theo phương thức thi công hỗn hợp vừa thi công thủ
Trang 29công vừa thi công bằng máy Không hạch toán vào tài khoản này cáckhoản trích theo lương của công nhân sử dụng máy thi công.
Tài khoản 623 có 6 tài khoản cấp 2:
Tài khoản 6231- Chi phí nhân công
Tài khoản 6232- Chi phí vật liệu
Tài khoản 6233- Chi phí dụng cụ
Tài khoản 6234- Chi phí khấu hao máy thi công
Tài khoản 6237- Chi phí dịch vụ mua ngoài
Tài khoản 6238- Chi phí bằng tiền khác
Phương pháp kế toán các nghiệp vụ kinh tế chủ yếu:
+ Trường hợp doanh nghiệp xây lắp không tổ chức đội máy thi công riêng.
Sơ đồ 1.3(a): Sơ đồ kế toán chi phí sử dụng máy thi công
(1)Chi phí tiền lương, nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, khấu haomáy thi công, các chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiềnkhác phát sinh có liên quan đến sử dụng máy thi công
TK 334,152,153,142,111,1
Trang 30(2)Trường hợp tạm ứng chi phí sử dụng máy thi công để thực hiệnkhoán xây lắp nội bộ, khi bản quyết toán tạm ứng về giá trị khốilượng xây lắp hoàn thành đã bàn giao được duyệt.
(3)Cuối kỳ kế toán phân bổ hoặc là kết chuyển chi phí sử dụng máythi công vào từng công trình, hạng muc công trình
+ Trường hợp doanh nghiệp xây lắp có đội thi công riêng biệt.
- Nếu đội máy thi công không tổ chức kế toán riêng biệt, mà coi
là một bộ phận sản xuất phụ thực hiện cung cấp lao vụ máy thi côngcho các đơn vị xây lắp khi có nhu cầu thi công bằng máy:
Sơ đồ 1.3(b): Sơ đồ kế toán chi phí sử dụng máy thi công
- Nếu đội máy thi công tổ chức kế toán riêng biệt:
Kế toán đội máy thi công ghi (1), (2), khi được doanh nghiệp
thanh toán về số ca (giờ) hay khối lượng máy đã hoàn thành, ghi:
Nợ TK 111,112,136(1368)
Có TK 512
Có TK 333(3331)Cuối kỳ, kết chuyển tổng giá thành thực tế về số ca hay khốilượng máy đã cung cấp, ghi:
TK133
TK 154- Chi tiết cho đội thi công
TK 623
(1)
(2)
(3)
Trang 31Kế toán doanh nghiệp ghi:
Khi nhận số ca hay khối lượng máy thi công đã hoàn thành dođội máy thi công bàn giao:
Nợ TK 623
Nợ TK 133 (nếu được khấu trừ thuế GTGT)
Có TK 111,112,336Cuối kỳ kế toán kết chuyển chi phí sử dụng máy thi công vào đốitượng tập hợp chi phí sản xuất xây lắp ghi:
Nợ TK 154
Có TK 623
+ Trường hợp doanh nghiệp thuê ngoài ca máy thi công:
Khi thuê máy thi công, số tiền phải trả cho đơn vị cho thuê theohợp đồng thuê, ghi:
Nợ TK 623
Nợ TK 133 (nếu được khấu trừ thuế GTGT)
Có TK 111,112,331Cuối kỳ kế toán kết chuyển chi phí sử dụng máy thi công vào đốitượng tập hợp chi phí sản xuất xây lắp ghi:
Nợ TK 154
Có TK 623
1.3.1.2.4 Kế toán chi phí sản xuất chung.
Để tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung kế toán sử dụngtài khoản 627- Chi phí sản xuất chung Tài khoản 627 được mở thànhcác tài khoản cấp 2 để phản ánh rõ hơn nội dung các khoản chi phí
TK 6271- Chi phí nhân viên đội sản xuất
TK 6274- Chi phí vật liệu
TK 6273- Chi phí dụng cụ sản xuất
TK 6274- Chi phí khấu hao TSCĐ
TK 6277- Chi phí dịch vụ mua ngoài
Trang 32TK 6278- Chi phí bằng tiền khác.
Phương pháp kế toán các nghiệp vụ kinh tế chủ yếu:
Sơ đồ 1.4: Sơ đồ kế toán chi phí sản xuất chung.
(1)Tập hợp chi phí chung thực tế phát sinh
(2)Cuối kỳ phân bổ, kết chuyển chi phí cho từng công trình, hạng mục công trình
Tổng hợp chi phí sản xuất xây lắp.
Căn cứ vào đối tượng hạch toán chi phí sản xuất đã xác định để
mở sổ chi tiết sản xuất, mỗi đối tượng được mở một sổ Các chi phítrực tiếp liên quan dến đối tượng nào thì ghi sổ chi tiết cho đối tượng
đó theo đúng khoản mục chi phí Các chi phí chung có liên quan nhiềuđối tượng thì ghi vào sổ riêng, cuối kỳ tổn hợp lại để phân bổ cho từngđối tượng theo tiêu thức phù hợp Căn cứ vào bảng phân bổ ghi vào sổchi tiết của từng đối tượng, làm cơ sở để tính giá thành sản phẩm xâylắp
Tài khoản sử dụng 154- Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, tàikhoản này sử dụng để tổng hợp chi phí sản xuất kinh doanh và tính giáthành sản phẩm Tài khoản được mở chi tiết theo từng địa điểm phátsinh chi phí (đội sản xuất, công trường,…), theo từng công trình, hạng
Trang 33mục công trình, các giai đoạn công việc của công trình, hạng mụccông trình, hoặc nhóm hạng mục công trình.
Tài khoản có 4 tài khoản cấp 2:
TK 1541- Xây lắp
TK 1542- Sản phẩm khác
TK 1544- Chi phí bảo hành xây lắp
Trình tự kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
(1) Kết chuyển chi phí sản xuất tâp hợp được sang TK 154tính giá thành
(2) Khối lượng xây lắp do nhà thầu phụ bàn giao xác định làchưa tiêu trong kỳ hoặc nhận được khối lượng xây lắp do đơn vị nhậnkhoán nội bộ bàn bàn giao mà đơn vị có tổ chức công tác kế toánriêng
(3) Các chi phí không thể thu hồi (khách hàng không thể thựcthi nghĩa vụ của họ hay không đủ tính thực thi về mặt pháp luật)
(4) Các thiệt hại trong quá trình thi công xây lắp bắt ngườichịu trách nhiệm bồi thường, hoặc nguyên vật liệu thừa, phế liệu thuhồi nhập kho
(5) Thu vật liệu thừa,phế liệu không nhập kho mà tiêu thụngay, thu về thanh lý máy móc thiết bị thi công chuyên dùng choHĐXD đã trích khấu hao hết vào giá trị hợp đồng, khi kết thúc hợpđồng ghi giảm chi phí
(6) Giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành (bàn giao cho bên
A, chờ tiêu thụ, đơn vị nhận khoán có tổ chức công tác kế toán riêngnhưng chỉ hạch toán đến giá thành xây lắp bàn giao cho nhà thầuchính,xây dựng từ nguồn vốn đầu tư riêng)
Sơ đồ 1.5 Sơ đồ kế toán tập hợp chi phí sản xuất.
Trang 341.3.2 Đánh giá sản phẩm làm dở trong doanh nghiệp xây lắp.
Sản phẩm làm dở trong doanh nghiệp xây lắp là các công trình, hạng mục công trình dở dang, chưa hoàn thành hoặc khối lượng công tác xây lắp trong kỳ chưa được bên chủ đầu tư nghiệm thu chấp nhận thanh toán
Để đánh giá sản phẩm làm dở một cách chính xác, trước hết phải
tổ chức kiểm kê chính xác khối lượng công tác xây lắp dở dang cuối
kỳ đồng thời xác định đúng đắn mức độ hoàn thành theo quy ước ởtừng giai đoạn thi công Chất lượng công tác kiểm kê khối lượng xây
(2)
TK 111,138,334,152
…
TK 133
TK 632,155,336, 241…
(6)
TK 632 (3)
(4)
Tk 3331
TK111,112,331 (5)
Trang 35lắp dở dang có ảnh hưởng đến tính chính xác của việc đánh giá sảnphẩm làm dở và tính giá thành.
Ở các doanh nghiệp xây lắp do đặc điểm của sản phẩm xây dựng
là có kết cấu phức tạp, công tác xác định mức độ hoàn thành rất khókhăn nên khi đánh giá sản phẩm làm dở kế toán cần kết hợp chặt chẽvới bộ phận kỹ thuật và bộ phận tổ chức lao động Việc đánh giá sảnphẩm xây lắp dở dang cuối kỳ tuỳ thuộc vào phương thức thanh toángiữa bên giao thầu với bên nhận thầu và tuỳ thuộc vào đối tượng tínhgiá thành mà doanh nghiệp xây lắp xác định, kế toán có thể xác địnhgiá trị sản phẩm xây lắp dở dang cuối kỳ:
• Nếu quy định thanh toán khi công trình, hạng mục công trìnhhoàn thành toàn bộ và doanh nghiệp xác định đối tượng tính giá thành
là công trình, hạng mục công trình hoàn thành, thì chi phí sản xuấttính cho sản phẩm xây lắp dở dang cuối kỳ là tổng chi phí sản xuấtxây lắp phát sinh lũy kế từ khi khởi công đến cuối kỳ báo cáo mà côngtrình, hạng mục công trình chưa hoàn thành
• Nếu quy định thanh toán khi có khối lượng công việc hay giaiđoạn xây lắp đạt đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý có giá trị dự toánriêng hoàn thành, đồng thời doanh nghiệp xây lắp xác định đối tượngtính giá thành là khối lượng công việc hay giai đoạn xây lắp đạt đếnđiểm dừng kỹ thuật hợp lý có giá trị dự toán riêng hoàn thành Trongtrường hợp này sản phẩm xây lắp dở dang là khối lượng công việc haygiai đoạn xây lắp chưa hoàn thành Do vậy chi phí sản xuất tính chosản phẩm xây lắp dở dang cuối kỳ được tính toán trên cơ sở phân bổchi phí xây lắp thực tế phát sinh cho các khối lượng công việc hay giaiđoạn xây lắp chưa hoàn thành trên cơ sở tiêu thức phân bổ là giá trị dựtoán hay chi phí dự toán Trong đó các công việc hay giai đoạn xây lắp
dở dang có thể được tính theo mức độ hoàn thành
Trang 36Chi phí thực tế của khối lượng hay giai đoạn xây lắp dở dangcuối kỳ được xác định như sau:
C’dt: chi phí (hay giá trị) của khối lượng hay giai đoạn xây lắp
dở dang cuối kỳ theo dự toán tính theo mức độ hoàn thành tươngđương
1.3.3 Đối tượng tính giá thành và phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp.
1.3.3.1 Đối tượng tính giá thành trong doanh nghiệp xây lắp
Đối tượng tính giá thành trong doanh nghiệp xây lắp là các côngtrình, hạng mục công trình đã hoàn thành bàn giao
Xác định đúng đối tượng tính giá thành là công việc đầu tiêntrong toàn bộ công tác tính giá thành Bộ phận kế toán tính giá thànhphải căn cứ vào đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp, các loại sảnphẩm lao vụ mà doanh nghiệp sản xuất tính giá thành sản phẩm chothích hợp
1.3.3.2 Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp
Phương pháp tính giá thành sản phẩm là phương pháp sử dụng
số liệu chi phí sản xuất đã tập hợp được của kế toán để tính ra tổng giá
Dck =
Ddk + C
Cdt +C’dt
x C’dt
Trang 37thành và giá thành đơn vị theo từng khoản mục chi phí đã được quyđịnh cho từng đối tượng tính giá thành.
Kỳ tính giá thành là thời kỳ mà bộ phận kế toán tính giá thànhcần phải tiến hành tính giá thành cho các đối tượng tính giá thành Tùytheo đặc điểm của từng đối tượng tính giá thành và mối quan hệ giữađối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành mà áp dụngphương pháp tính giá thành thích hợp
1.3.3.2.1 Phương pháp tính giá thành giản đơn ( phương pháp tính giá thành trực tiếp).
Phương pháp này áp dụng thích hợp với trường hợp đối tượngtính giá thành trùng với đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, kỳ tính giáthành phù hợp với kỳ báo cáo
Theo phương pháp này, toàn bộ chi phí phát sinh được tập hợp
từ khi khởi công công trình đến khi hoàn thành thì đó chính là giáthành của của công trình
Trường hợp công trình, hạng mục công trình chưa hoàn thành
mà có khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao, giá thành khối lượngxây lắp hoàn thành bàn giao được xác định:
Trường hợp chi phí sản xuất tập hợp theo công trường hoặc côngtrình nhưng giá thành thực tế phải tính riêng cho từng hạng mục côngtrình, kế toán có thể căn cứ vào chi phí sản xuất của cả nhóm và hệ sốkinh tế kỹ thuật đã được quy định cho từng hạng mục công trình đểtính giá thành thực tế cho hạng mục công trình đó
Chi phí
dở dang đầu kỳ
Chi phí
dở dang cuối kỳ
Trang 38
-Nếu hạng mục công trình có thiết kế khác nhau, dự toán khác nhaunhưng cùng thi công trên cùng một địa điểm do một đội công trình sảnxuất đảm nhiệm và không có điều kiện theo dõi quản lý riêng các chiphí khác nhau thì chi phí sản xuất đã tập hợp phân bổ cho từng hạngmục công trình theo những tiêu chuẩn thích hợp với hệ số kinh tế kỹthuật quy định cho từng hạng mục công trình
Phương pháp này cho phép cung cấp kịp thời số liệu tính giá thànhtrong mỗi thời kỳ báo cáo và cách tính dễ dàng, đơn giản Tính chínhxác của cách tính phu thuộc vào cách lựa chọn tiêu thức phân bổ, lập
dự toán chi phí cho từng hạng mục công trình
1.3.3.2.2 Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng.
Phương pháp này áp dụng đối với doanh nghiệp nhận thầu cáccông trình theo đơn đặt hàng Đối tượng tập hợp chi phí và đối tượngtính giá thành là đơn đặt hàng Chu kỳ sản xuất của mỗi đơn đặt hàngthường dài, kỳ tính giá thành phù hợp với chu kỳ sản xuất, chỉ khi nàođơn đặt hàng thực hiện xong mới tính giá thành
=
Giá thành dự toán hạng mục công trình
x
100%
Tổng chi phí thực tế của cả công trình
Tổng giá thành dự toán của tất cả các
Trang 39Kế toán chi phí sản xuất và giá thành mở cho mỗi đơn đặt hàngmột bảng tính giá thành Hàng tháng, căn cứ vào chi phí sản xuất đãtập hợp được theo từng đơn đặt hàng trong sổ chi tiết để ghi sang bảngtính giá thành liên quan Khi nhận được chứng từ xác nhận đơn đặthàng đã hoàn thành, kế toán chỉ cần cộng chi phí sản xuất đã tập hợp ởbảng tính giá thành sẽ tính được giá thành của từng đơn đặt hàng.Trong trường hợp nếu đơn đặt hàng chưa hoàn thành thì toàn bộ chiphí tập hợp được tính đến thời điểm đó của từng đơn đặt hàng sẽ là chiphí của khối lượng xây lắp dở dang.
1.3.4 Tổ chức hệ thống sổ kế toán và báo cáo kế toán
Chế độ sổ kế toán ban hành theo quyết định số 15/QĐ-BTCngày 20/03/2006 của bộ trưởng Bộ tài chính quy định rõ việc mở sổ,ghi chép, quản lý lưu trữ và bảo quản sổ kế toán Việc vận dụng hìnhthức sổ kế toán nào là tùy thuộc vào từng doanh nghiệp Hiện nay,trong các doanh nghiệp thường sử dụng các hình thức kế toán sau:
Mỗi hình thức kế toán đó lại có hệ thống sổ sách kế toán chi tiết,
sổ tổng hợp để phản ánh ghi chép, xử lý và hệ thống hóa số liệu thôngtin cung cấp cho việc lập báo cáo tài chính
1.3.4.1 Tổ chức hệ thống chứng từ và hạch toán ban đầu đối với chiphí sản xuất
Chứng từ gốc liên quan đến các chi phí phát sinh là những chứng
từ thuộc các yếu tố như: Vật tư (phiếu nhập kho, phiếu xuất kho), tiềnlương (bảng tính lương phải trả), khấu hao tài sản cố dịnh (bảng tính
Trang 40hao mòn tài sản cố định), tiền mặt (phiếu chi), tiền gửi ngân hàng(giấy báo nợ)
Trong doanh nghiệp xây lắp, đối tượng tập hợp chi phí là từngcông trình, hạng mục công trình hoặc theo từng đơn đặt hàng Kế toántrưởng tổ chức việc lập chứng từ kế toán cho từng đối tượng tập hợpchi phí (nếu là chi phí trực tiếp) và còn những chi phí chung thì lậpchứng từ kế toán theo khoản mục chi phí chung
1.3.4.2 Tổ chức hệ thống sổ kế toán để ghi chép, tập hợp chi phí sảnxuất
Sổ kế toán để ghi chép, tập hợp chi phí sản xuất có hai hệ thốngsổ:
- Sổ kế toán tổng hợp: Tuỳ theo từng hình thức kế toán màdoanh nghiệp xây dựng áp dụng mà kế toán sẽ tổ chức hệ thống sổ kếtoán tương ứng với từng hình thức để thực hiện kế toán các chỉ tiêutổng hợp về chi phí sản xuất Nhưng ở hình thức nào cũng có chung sổcái tổng hợp, mỗi tài khoản kế toán tổng hợp được mở một sổ cái(TK621, TK622, TK623, TK627, TK154 ) và nó đều phản ánh mộtchỉ tiêu về chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp Nó cung cấp các chỉ tiêuthông tin để lập báo cáo tài chính về chi phí, giá thành
- Sổ kế toán chi tiết: Tuỳ theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp
về chi phí sản xuất và giá thành mà kế toán sẽ mở các sổ chi tiết để kếtoán các chỉ tiêu chi tiết về chi phí sản xuất đáp ứng yêu cầu sử dụngthông tin của các doanh nghiệp Thông thường mở sổ chi tiết chi phísản xuất theo từng đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất
1.3.4.2 Tổ chức hệ thống sổ kế toán để ghi chép, tập hợp chi phí sảnxuất
Tuỳ thuộc vào phương pháp tính giá thành mà có tài liệu cụ thể.Những tài liệu cần thiết cho mọi phương pháp tính giá thành là: