Giả thiết khoa học Nếu việc xây dựng Modul đào tạo chuẩn môn Vẽ kĩ thuật tại các trường Cao đẳng thành công và được thực thi, chương trình đào tạo theo Modul – học phần giúp người học c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
CHU ANH TUẤN
XÂY DỰNG MODUL ĐÀO TẠO CHUẨN
MÔN VẼ KĨ THUẬT TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG
CHUYÊN NGÀNH: CHẾ TẠO MÁY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
CHUYÊN SÂU: CÔNG NGHỆ KĨ THUẬT CƠ KHÍ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS TRẦN VĂN ĐỊCH
Hà Nội – Năm 2012
Trang 2CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Trang 3CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐÀO TẠO
MÔN VẼ KĨ THUẬT
2.2 Phương pháp đào tạo môn Vẽ kĩ thuật……… 58
CHƯƠNG III: XÂY DỰNG MODUL ĐÀO TẠO CHUẨN
3.3.3 Modul 3: Vẽ qui ước chi tiết tiêu chuẩn – Các loại bản vẽ 79
Trang 4CHƯƠNG 4: ỨNG DỤNG MODUL ĐÀO TẠO CHUẨN
XÂY DỰNG BÀI GIẢNG BIỂU DIỄN VẬT THỂ - HÌNH CHIẾU TRỤC ĐO 85
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tác giả luôn được sự quan tâm, góp ý của Thầy giáo, Giáo sư – Tiến sĩ Trần Văn Địch Nhân dịp này, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn
sâu sắc tới Thầy giáo – GS TS Trần Văn Địch đã trực tiếp hướng dẫn và dành nhiều
thời gian công sức giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này
sau đại học – Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, đã tạo mọi điều kiện cho tác giả học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn đúng thời hạn
và Sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội đã giúp đỡ tác giả trong quá trình tác giả thu thập thông tin để hoàn thiện luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song trong quá trình xây dựng luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý
kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp, của các bọn đọc quan tâm
Xin trân trọng cảm ơn !
Hà nội, tháng 3 năm 2012
Tác giả
Chu Anh Tuấn
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
hiểu, nghiên cứu của bản thân, cùng với sự hướng dẫn tận tình của GS TS Trần Văn
Địch Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác nếu có đều được
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Mối quan hệ của các mục tiêu
Hình 1.2 Mối liên hệ giữa lĩnh vực hoạt động, lĩnh vực học và tình huống học tập Hình 1.3 Kiểu chương trình đào tạo theo cấu trúc môn học
Hình 1.4 Kiểu chương trình đào tạo theo Modul kĩ năng hành nghề
Hình 1.5 Kiểu cấu trúc chương trình đào tạo kết hợp
Hình 1.6 Mô hình phát triển chương trình
Hình 1.7 Cấu trúc Modul đào tạo
Hình 1.8 Mô hình cấu trúc Modul đào tạo
Hình 1.9 Mối quan hệ giữa các thành phần của CTM
Hình 1.10 Các giai đoạn xây dựng chương trình đào tạo
Hình 2.1 Bản chất của công nghệ dạy học hiện đại
Hình 2.2 Sơ đồ cấu trúc tư duy kĩ thuật
Hình 2.3 Sơ đồ cấu trúc phương pháp mô phỏng trong dạy học
Hình 2.4 Sơ đồ quy trình soạn giáo án môn Vẽ kĩ thuật theo phương pháp mô phỏng Hình 2.5 Sơ đồ biên soạn bài giảng theo phương pháp mô phòn
Hình 2.6 Mô phỏng phép chiếu xuyên tâm
Hình 2.7 Mô phỏng phép chiếu song song
Hình 2.8 Mô hình công nghệ dạy học
Hình 2.9 Sơ đồ các bước thiết kế Bài giảng điện tử
Hình 2.10 Giao diện chương trình PowerPoint
Hình 2.11 Giao diện chương trình Frontpage
Hình 2.12 Giao diện chương trình AutoCad
Hình 2.13 Giao diện chương trình SolidWorks
Trang 8Hình 2.14 Giao diện ban đầu của bài giảng E -Learning
Hình 2.15 Hướng dẫn sử dụng E - Learning
Hình 2.16 Website trường Đại học Sư phạm Hà nội
Hình 4.1 Tính chất của phép chiếu song song
Hình 4.2 Tính chất của phép chiếu vuông góc
Hình 4.3 Tiêu chuẩn kích thước các khổ giấy
Hình 4.4 Khung tên bản vẽ chi tiết trên khổ giấy A4
Hình 4.5 Ví dụ về tiêu chuẩn các đường nét cơ bản
Hình 4.6 Ví dụ về tiêu chuẩn chữ viết
Hình 4.7 Ví dụ tiêu chuẩn ghi kích thước
Hình 4.8 Hình chiếu vuông góc của vật thể
Hình 4.9 Qui ước bố trí 6 hình chiếu cơ bản
Hình 4.10 Gối đỡ và ba hình chiếu cơ bản của nó
Trang 9Hình 4.31 Kí hiệu và qui ước hình trích
Hình 4.32 Nội dung hình chiếu trục đo
Hình 4.33 Góc độ của hình chiếu trục đo vuông góc đều
Hình 4.34 Vẽ hình chiếu trục đo của đường tròn
Hình 4.35 Vẽ hình chiếu trục đo xiên góc cân
Hình 4.36 Vẽ hình chiếu trục đo của vật thể
Hình 4.37 Ứng dụng phần mềm SolidWorks để vẽ hình chiếu trục đo của vật thể
Trang 10Với yêu cầu ngày càng cao về số lượng cũng như chất lượng người lao động, đáp ứng dòng chảy tiên tiến của khoa học kĩ thuật, các trường đào tạo nghề đang tưng bừng đổi mới, điều chỉnh quá trình mềm dẻo, linh hoạt tạo điều kiện cho người học từng bước nâng cao trình độ (Hình thức Liên thông, bồi dưỡng nghiệp vụ) có thể học suốt đời Qua hơn 20 năm (Từ năm 1986 – 2008) nghiên cứu, thử nghiệm, kiểm tra và đánh giá Tổng cục Dạy nghề đã thấy rõ được những ưu việt của đào tạo theo Modul mang lại hiệu quả cao trong giáo dục: Cách tổ chức mang tính hiện đại, linh hoạt, đào tạo theo kiểu tích lũy dần kiến thúc Các kiến thức được bố trí thành các giai đoạn có tính cơ bản và phân tích thành các Modul có thể lắp ghép được với nhau Học đến đâu người học có thể sử dụng ngay tới đó (dựa trên chuẩn đánh giá kĩ năng hành nghề), tạo điều kiện cho người học từng bước nâng cao trình độ (hình thức liên thông, bồi dưỡng nghiệp vụ) có thể học suốt đời Do vậy, xây dựng Modul đào tạo chuẩn cho môn học là hướng đi đúng đắn, là những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, đưa đào tạo nghề nước ta bắt kịp với quá trình tổ chức tiên tiến trên thế giới
Xuất phát từ nhu cầu và tình hình thực tế, việc nghiên cứu đề tài “Xây dựng
Modul đào tạo chuẩn môn Vẽ kĩ thuật trong các trường Cao đẳng” là rất cần thiết,
giúp các trường có thể chủ động trong việc tổ chức đào tạo nghề theo Modul môn Vẽ
kĩ thuật, làm tiền đề triển khai đào tạo theo Modul cho các môn học khác trong chương
Trang 11trình đào tạo của các trường, từng bước đáp ứng nhu cầu của người học và của xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển của phương thức đào tạo nghề theo Modul cho toàn bộ
hệ thống giáo dục nghề nghiệp ở nước ta
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
chuẩn môn Vẽ kĩ thuật trong các trường Cao đẳng nói chung và Trường Đại học Công nghiệp Hà nội nói riêng
4 Giả thiết khoa học
Nếu việc xây dựng Modul đào tạo chuẩn môn Vẽ kĩ thuật tại các trường Cao đẳng thành công và được thực thi, chương trình đào tạo theo Modul – học phần giúp người học cá nhân hóa học tập, có kế hoạch lâu dài trong quá trình học cũng như tạo được động cơ, hứng thú học tập Đồng thời giúp các giáo viên đổi mới và nâng cao phương pháp giảng dạy, từ đó chất lượng dạy học được nâng lên
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Nội dung chương trình đào tạo môn Vẽ kĩ thuật trong các trường Cao Đẳng
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu việc chuyển đổi chương trình dạy học từ niên chế sang học theo Modul – Học phần
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận việc xây dựng chương trình đào tạo theo Modul
- Nghiên cứu tổng quan các phương pháp đào tạo môn Vẽ kĩ thuật
Trang 127 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
đó để phân tích, đánh giá, tổng hợp, khái quát các cơ sở lí luận và thừa kế các kết quả
có liên quan để có các dẫn chứng giải quyết vấn đề lí luận của đề tài đặt ra
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
- Phương pháp chuyên gia: Tổ chức khảo sát, trao đổi lấy ý kiến của những người có kinh nghiệm trong thực tiễn đào tạo, sản xuất, ý kiến của các chuyên gia có kinh nghiệm trong việc xây dựng chương trình
- Điều tra, khảo sát bằng phiếu thăm dò
8 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn xây dựng Modul đào tạo
Chương 2: Nghiên cứu tổng quan về các phương pháp dạy học môn Vẽ kĩ thuật Chương 3: Xây dựng Modul đào tạo chuẩn môn Vẽ kĩ thuật
Chương 4: Ứng dụng xây dựng Modul đào tạo chuẩn, xây dựng bài giảng Biểu diễn vật thể - Hình chiếu trục đo
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG MODUL ĐÀO TẠO
1.1 Định hướng cơ bản về đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo
1.1.1 Đổi mới mục tiêu đào tạo
Trong dạy học, mục tiêu đào tạo là cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cho người học có khả năng thực hiện hoàn chỉnh một công việc nhất định theo yêu cầu thực hiện và được kiểm tra dựa trên tiêu chuẩn ngành nghề đào tạo
Việc đổi mới cơ cấu đào tạo hay cơ cấu trình độ đào tạo cần đào tạo trên diện rộng, vừa đào tọa mũi nhọn đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao phục
vụ cho sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng như nền kinh tế Việt Nam toàn cầu hóa và hội nhập quốc
tế
Bất luận ở cấp trình độ nào, ở ngành nghề nào, chúng ta cũng đều đặc biệt nhấn mạnh những giá trị và thái độ ưu tiên cần có ở người lao động, chúng phải được thể hiện rõ trong mục tiêu đào tạo Đó là giá trị và thái độ, lương tâm nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, tinh thần hợp tác, làm việc theo nhóm, ý thức pháp luật, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe đáp ứng nhu cầu lao động sản xuất góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc
1.1.2 Đổi mới nội dung chương trình đào tạo
Với phương châm lấy người học làm trung tâm “tự lựa chọn” nội dung đào tạo
là lý tưởng mới mẻ:
Trang 14- Thay vì làm cho người học thích nghi với chương trình, cần làm cho chính chương trình thích hợp với người học Mặt khác, chương trình đào tạo cần chú ý tới liên thông trong hệ thống và đáp ứng được nhu cầu học tập suốt đời của người học
- Cần lưu ý và khuyến khích kinh nghiệm sẵn có của người học thông qua việc kiểm tra suốt quá trình học đạt hiệu quả
- Với sự giúp đỡ của các phương tiện và các nhà tư vấn, người học cần tìm được các “thực đơn” phù hợp với mình, hay chương trình đào tạo phải tính tới trình độ người học
Xuất phát từ những lý luận trên, việc đổi mới nội dung chương trình đạo tạo ở nước ta (trong đó có đào tạo nghề) đảm bảo các yêu cầu sau:
- Nội dung chương trình phải phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động với ngành nghề, cấp độ khác nhau cũng như nhu cầu và khả năng của người học
độ đào tạo đảm bảo tính mềm dẻo, linh hoạt, tạo điều kiện cho người lao động có thể học tập suốt đời, không ngừng nâng cao năng lực nghề nghiệp
và dựa vào tiêu chuẩn về kỹ năng thái độ của các hoạt động lao động nghề nghiệp được xác định rõ ràng đảm bảo chất lượng đào tạo toàn diện và khả năng hành nghề của người học sau khi tốt nghiệp
Như vậy, định hướng xây dựng nội dung chương trình đào tạo nghề theo Modul trong tiếp cận “năng lực thực hiện” là định hướng đứng đắn và phù hợp với xu hướng phát triển chương trình đào tạo nghề nghiệp ở hầu hết các nước trên thế giới
1.2 Đào tạo dựa trên năng lực thực hiện
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của đào tạo dựa trên năng lực thực hiện
1.2.1.1 Khái niệm
Trang 15- Năng lực thực hiện (NLTH) là thuật ngữ khoa học xã hội, dịch từ tiếng Anh dùng trong các tài liệu của nhiều tác giả trình bày về quan điểm “Giáo dục – Đào tạo dựa trên NLTH”
+ NLTH liên quan đến nhiều thành tố cơ bản tạo nên nhân cách con người, nó thể hiện sự phù hợp ở mức độ nhất định của những thuộc tính tâm sinh lý cá nhân, với một hay một số hoạt động nào đó Nhờ có sự phù hợp như vậy mà con người thực hiện
có kết quả các hoạt động ấy Chỉ thông qua sự thực hiện có hiệu quả, mọi người khác mới có thể công nhận người đó có năng lực về hoạt động ấy
+ Trong kết quả nghiên cứu của đề tài “Tiếp cận đào tạo nghề dựa trên năng lực thực hiện và việc xây dựng tiêu chuẩn nghề” tập thể các nhà khoa học giáo dục do PGS.TS Nguyễn Đức Trí là chủ nhiệm đề tài, đã đưa ra định nghĩa ngắn gọn về NLTH: “ Năng lực thực hiện là khả năng thực hiện được các hoạt động (nhiệm vụ, công việc) trong nghề theo tiêu chuẩn đã đặt ra đối với từng công việc đó
+ Trong thực tiễn hoạt động nghề nghiệp Năng lực thực hiện tích hợp kiến thức, kỹ năng và thái độ
- Đào tạo dựa trên năng lực thực hiện chủ yếu vào những tiêu chuẩn quy định cho một nghề và đào tạo theo các tiêu chuẩn đó chứ không dựa vào thời gian
+ Bốn kỹ năng chủ yếu trong năng lực thực hiện:
- Kỹ năng thực hiện công việc cụ thể, riêng biệt;
- Kỹ năng quản lý các công việc;
- Kỹ năng quản lý sự cố;
- Kỹ năng hoạt động trong môi trường làm việc;
+ Mặt khác, các kỹ năng cốt lõi mà bất cứ người lao động nào cũng phải có trong năng lực thực hiện của mình: Kỹ năng thông tin, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng lập
kế hoạch và tổ chức triển khai các hoạt động, kỹ năng hợp tác, kỹ năng sử dụng toán học, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng sử dụng công nghệ [15, tr.15]
Trang 161.2.1.2 Đặc điểm của đào tạo dựa trên năng lực thực hiện
- Định hướng đầu ra: Đặc điểm cơ bản và có ý nghĩa trung tâm của đào tạo dựa
trên năng lực thực hiện là định hướng và chú trọng vào kết quả, vào đầu ra của quá trình đào tạo Như vậy, người học có thể làm được cái gì trong một tình huống lao động nhất định theo tiêu chuẩn đề ra.[9][15]
+ Có khả năng làm được việc gì đó (điều này liên quan tới nội dung đào tạo) + Có thể làm tốt như mong đợi (điều này liên quan tới việc đánh giá kết quả học tập của người học theo tiêu chuẩn ngành nghề)
Như vậy, mỗi người sẽ nắm vững và là được cái gì đó sau một thời gian học dài hay ngắn là tùy thuộc vào khả năng và nhịp độ học tập của người đó Người học thực
sự được coi là trung tâm, do đó họ có cơ hội để phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của mình
- Mối quan hệ của các mục tiêu: Giữa khu vực lao động và khu vực đào tạo
nhân lực cho lao động có sự phân biệt về mục đích và các mục tiêu Tuy nhiên, mục tiêu của hai khu vực đó lại có quan hệ chặt chẽ với nhau Để đạt được mục tiêu đó, việc phát triển đào tạo dựa trên năng lực thực hiện đã tiếp cận từ hai phía với các mục tiêu
của các hoạt động hay thành phần tương ứng nhau ở hai khu vực (Hình 1.1)
Trang 17Khu vực lao động Khu vực đào tạo cho lao động
Hình 1.1 Mối quan hệ của các mục tiêu
Ở đâu
Khi nào
Tiêu chuẩn Tốc độ
Sự chính xác
Chất lượng
Các mục tiêu về hành vi, về
sự thực hiện
Mục đích của đào tạo nghề
Nhằm cung cấp cơ hội học tập cho người học hình thành những kỹ năng kiến thức thái độ để bắt đầu làm việc hoặc trước khi làm việc
Mục tiêu dạy học chung
Kỹ năng
Thái
độ
Kiến thức
Các mục tiêu tiền đề
Mục tiêu thực hiện cuối cùng
Hoạt động
Tiêu chuẩn
Điều kiện
Đánh giá (Dựa vào các mục tiêu)
Trang 18Năng lực thực hiện thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa các lĩnh vực hoạt động trong nghề nghiệp, trong cuộc sống, trong xã hội với mục tiêu và nội dung đào tạo
(Hình 1.2)
Hình 1.2 Mối liên hệ giữa lĩnh vực hoạt động, lĩnh vực học tập và tình huống học tập
1.2.2 Chương trình dạy học theo năng lực thực hiện
1.2.2.1 Các thành phần của hệ thống dạy học dựa trên năng lực thực hiện
- Dạy và học các năng lực thực hiện: Một chương trình đào tạo nghề được xem
là dựa trên năng lực thực hiện khi nó thỏa mãn hoàn toàn các đặc điểm và yêu cầu sau đây:
+ Các năng lực thực hiện được xác định từ việc phân tích ngành học một cách chính xác đầy đủ Phương pháp có hiệu quả và được chú ý hơn cả là phương pháp DACUM (Develop A Curriculum) do một Tiểu ban hay Hội đồng gồm những người đang dạy thành thạo trong thực tế và những người quản lý trực tiếp của họ tiến hành
Lĩnh vực hoạt động: là những nhiệm vụ phức hợp thống nhất với
những tình huống có ý nghĩa về mặt nghề nghiệp cũng như về mặt
cuộc sống và xã hội (nghề nghiệp, công việc)
Lĩnh vực học tập: là lĩnh vực hoạt động được
gia công sư phạm, diễn ra thông qua các tình huống học tập theo định hướng hoạt động bằng các giờ học cụ thể (Học phần, các Modul)
Tình huống học tập: là cụ thể hóa của lĩnh vực học tập Có thể coi đây là
những nội dung đào tạo cụ thể (Đơn nguyên học tập)
Trang 19+ Các năng lực thực hiện được trình bày dưới dạng các công việc thực hành mà những người dạy thực tế phải làm hoặc dưới dạng các hành vi về mặt nhận thức thái
độ, tình cảm có liên quan tới ngành học
+ Các năng lực thực hiện được công bố cho người học biết trước khi học
+ Các tài liệu dạy học thích hợp với các năng lực thực hiện Kiến thức lý thuyết được dạy ở mức độ cần thiết đủ hỗ trợ cho sự hình thành và phát triễn các năng lực thực hiện
+ Mỗi người học phải liên tục có được các thông tin phản hồi cụ thể về sự phát triển năng lực thực hiện của mình
+ Người học phải đủ điều kiện cần thiết, đặc biệt là điều kiện thực hành
+ Người học có thể học hết chương trình ở các mức độ, kết quả khác nhau
- Đánh giá, xác nhận các năng lực thực hiện: Sự nắm vững các năng lực thực hiện được đánh giá theo các quan điểm:
+ Người học phải thực hành các công việc giống như yêu cầu của người thầy + Đánh giá riêng rẽ từng người học khi hoàn thành công việc và nắm vững một hay một nhóm các năng lực thực hiện
+ Kiến thức liên quan và thái độ cần có đều là những bộ phận cấu thành trong việc đánh giá năng lực thực hiện
+ Các tiêu chuẩn dùng trong đánh giá là những tiêu chuẩn ở mức độ tối thiểu đảm bảo sau khi học xong thì người học có thể bước vào làm việc được chứ không phải
là đem so sánh với người học khác
+ Các chỉ tiêu dùng trong đánh giá được công bố cho người học biết trước khi kiểm tra, thi cử
1.2.2.2 Chương trình dạy học theo năng lực thực hiện
Trong dạy học theo năng lực thực hiện, việc xây dựng chương trình đào tạo cần chú ý tới một số vấn đề về mặt tổ chức và quản lý Cụ thể như sau:
Trang 20- Hồ sơ học tập của từng người được ghi chép, lưu trữ và chúng phản ánh kết quả, thành tích của họ ở một thời điểm ấn định nào đó Người học được phép chuyển tiếp hoặc ra khỏi chương trình không cần học lại những năng lực thực hiện đã nắm vững nhờ có hệ thống các tín chỉ đã được cấp
- Sự phân loại người học phản ánh mức độ đạt, nắm vững năng lực thực hiện
Để phát huy những ưu điểm của chương trình đào tạo theo năng lực thực hiện thì chương trình đào tạo được định hướng chương trình đào tạo theo Modul
1.3 Xây dựng chương trình đào tạo theo Modul
1.3.1 Một số thuật ngữ về chương trình đào tạo (CTĐT)
1.3.1.1 Chương trình đào tạo
Chương trình đào tạo bao gồm:
- Mục tiêu đào tạo (trình độ đào tạo cần hướng tới)
- Nội dung đào tạo (đối tượng lĩnh hội mà mục tiêu đề ra)
- Tổ chức đào tạo (kế hoạch thực hiện)
- Đánh giá (kiểm tra kết quả dạy và học)
1.3.1.2 Chương trình giáo dục
Theo nghị định số 43/CP thì “Chương trình giáo dục là văn bản cụ thể hóa mục tiêu giáo dục; quy định phạm vi mức độ và cấu trúc nội dung giáo dục phương pháp, hình thức hoạt động giáo dục, chuẩn mực và cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và toàn bộ một bậc học, trình độ đào tạo.”
1.3.1.3 Chương trình dạy nghề
Trang 21Theo quy định nguyên tắc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình dạy nghề thì “Chương trình dạy nghề quy định mục tiêu, kế hoạch, nội dung các hoạt động dạy nghề.”
Chương trình dạy nghề bao gồm:
- Mục tiêu đào tạo theo từng trình độ đào tạo
- Kế hoạch đào tạo
- Chương trình môn học hoặc mô đun đào tạo
- Kế hoạch hoạt động, giáo dục hoạt động ngoại khóa
1.3.1.4 Chương trình giảng dạy (CTGD)
Theo cách hiểu truyền thống thì chương trình giảng dạy như CTĐT, những ngày nay khoa học giáo dục hiện đại không dùng cụm từ “chương trình giảng dạy” thay thế cho CTĐT bởi vì cụm từ này với hàm ý chỉ dành cho người dạy mà không chú ý đến người học, cho nên CTGD hiểu theo đúng nghĩa là một phần của CTĐT
1.3.1.5 Kế hoạch đào tạo
- Kế hoạch giảng dạy: Là một bảng danh mục phân phối thời gian toàn bộ khóa học, các môn học và quy định việc kiểm tra nội dung học Nó là một phần của CTĐT, dành cho người dạy
- Kế hoạc học tập: Là bảng phân phối thời gian, tiến độ thực hiện, quy định giáo viên giảng, giáo viên hướng dẫn, địa điểm học tập cho các môn học của từng học kỳ, dành cho người học
Trang 22Chương trình đào tạo là toàn bộ việc kế hoạch hóa quá trình đào tạo, từ việc xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, cho đến kiến thức kiểm tra, đánh
giá kết quả đào tạo
1.3.2 Các kiểu cấu trúc chương trình đào tạo
1.3.2.1 Kiểu chương trình đào tạo theo môn học
Đây là kiểu chương trình đào tạo truyền thống, theo thời gian, lớp bài, khóa học Chương trình thường được xây dựng theo các môn học, chương, mục,… ít bám sát với nghề Giáo viên tập trung vào bao quát tài liệu giảng dạy Người học hiếm khi biết chính xác họ sẽ học gì trong mỗi phần của chương trình và ít có cơ hội để kiểm tra quá trình và không gian giờ học, vì vậy chương trình thiếu linh hoạt, mềm dẻo Cuối mỗi học kỳ một số học viên hoàn thành tốt chương trình, còn một số khác thì không hoàn thành tốt kế hoạch, yêu cầu đã đặt ra
Trong kiểu chương trình theo môn học, các môn học được tạo thành bởi các “lát cắt” ngang Các môn chung, văn hóa phổ thông, phần thực hành nghề được cấu trúc
riêng biệt, chúng liên kết với nhau một cách tương đối độc lập (Hình 1.3)
“ Lát cắt ngang”
Hình 1.3 Kiểu chương trình đào tạo theo cấu trúc môn học
Chương trình kiểu này thường có hạn chế:
- Kỹ năng hành nghề chỉ được hình thành sau một thời gian học tập trung tương đối dài
ở trường (thường là sau khóa học)
Thực hành nghề Các môn học lý thuyết Các môn kĩ thuật cơ sở Các môn chung
Trang 231.3.2.2 Kiểu chương trình đào tạo theo Modul kỹ năng hành nghề
Đây là một phương thức đào tạo nhằm cung cấp cho người học có kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, hành vi thái độ tương ứng với nghề nghiệp nào đó trong xã hội ở các trình độ khác nhau
Mỗi Modul có sự tích hợp của nhiều lĩnh vực khoa học, ở nhiều mức độ khác nhau và hướng tới một mục tiêu rõ rệt, thường đó là thao tác nghề nghiệp để làm được một công việc nhỏ nào đó Nội dung của các Modul được soạn thảo đảm bảo tính lắp lẫn (để có thể dùng chung cho nhiều nghề) và tính xếp chồng (theo các trình độ khác nhau)
Trong chương trình đào tạo theo Modul kỹ năng nghề, khái niệm môn học bị phá vỡ Toàn bộ nội dung kiến thức khoa học đã tích hợp lý thuyết và thực hành, giúp người học nhanh chóng hình thành được các năng lực hoạt động nghề nghiệp Chương trình được xây dựng trên các vấn đề trọn vẹn của Modul Trong trường hợp này, ranh giới các lĩnh vực kiến thức và kỹ năng không còn nữa Tiêu chí đánh giá của nó chính
là kỹ năng nghề hay cũng chính là các năng lực thực hiện của người học [4,tr.13]
Hình 1.4 Kiểu chương trình đào tạo theo Modul kỹ năng hành nghề
Thực hành nghề Các môn học lý thuyết Các môn kĩ thuật cơ sở Các môn chung
Modul 1
Modul 2
Trang 24Ưu điểu của cấu trúc này:
- Mục tiêu đào tạo và cấu trúc nội dung đa dạng, thời gian đào tạo ngắn, phù hợp với nhu cầu của người học, cũng như người sử dụng lao động
- Đào tạo ban đầu và nâng cao là một quy trình được thực hiện thường xuyên, tạo điều kiện cho người học có thể nhanh chóng đi vào nghề nghiệp cũng như có thể nâng cao trình độ tay nghề tới đỉnh cao khi có điều kiện
- Nội dung đào tạo được tích hợp giữa lý thuyết và thực hành nghề, thực hiện tốt nguyên lý “học đi đôi với hành”, nâng cao chất lượng và hiệu quả
- Nhanh chóng kịp thời bổ sung được những kiến thức và kỹ năng nghề phù hợp với sự biến đổi nhanh chóng của tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, có điều kiện bám sát với yêu cầu sản xuất Vì đây là hệ thống mở, có thể bổ sung hoặc thay đổi các đơn nguyên học tập một cách dễ dàng
- Nâng cao tính mềm dẻo, linh hoạt của quá trình đào tạo nghề, tạo điều kiện liên thông giữa một nghề, đặc biệt đối với những nghề cùng một lĩnh vực kỹ thuật nhờ vào việc sử dụng chung một số Modul đơn vị
- Hiệu quả kinh tế cao, các kiến thức và kỹ năng đều có thể sử dụng ngay để hành nghề sau khi học xong mỗi Modul kỹ năng hành nghề
- Người học có thể tự học, tự đánh giá nhờ vào các hướng dẫn, các bài tập kiểm tra, trắc nghiệm sau khi học xong mỗi đơn nguyên, mỗi Modul
- Tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên, trong quá trình dạy học nhờ vào những quy định và hướng dẫn cụ thể
- Có điều kiện thực hiện “cá nhân hóa cao” trong đào tạo, nhờ việc đánh giá khả năng, trình độ từng học viên trước khi học và việc hướng dẫn lựa chọn các Modul thích hợp để đạt yêu cầu học tập của họ cũng như mục tiêu đào tạo
Hạn chế của kểu cấu trúc này:
- Thiếu tính hệ thống chặt chẽ của từng bộ môn khoa học, kỹ thuật
- Cấu trúc nội dung đào tạo hoàn chỉnh cho toàn khóa của một nghề kém logic
Trang 25- Việc trang bị kiến thức kỹ thuật cơ bản cho một nghề diện rộng để tạo khả năng phát triển lâu dài bị hạn chế bởi thời gian đào tạo và cấu trúc logic của quá trình đào tạo Kiến thức lý thuyết ở mức thấp, người học khó có thể đạt trình độ phân tích, đánh giá các vấn đề
- Đào tạo theo cấu trúc này có thể kém hiệu quả đối với những Modul kỹ năng nghề mà phần thực hành chiếm quá ít, hoặc khi chuẩn đánh giá không được quy định
1.3.2.3 Kiểu chương trình đào tạo kết hợp
Thực chất kiểu chương trình này là kết hợp giữa chương trình đào tạo theo môn
học (kiểu truyền thống) và chương trình theo Modul kỹ năng nghề (Hình 1.5)
Hình 1.5 Kiểu cấu trúc chương trình đào tạo kết hợp
Thực hành nghề Các môn học lý thuyết Các môn kĩ thuật cơ sở Các môn chung
Modul 1
Modul 2
Modul
n - 1
Modul
n
Trang 26Theo kiểu chương trình này, khối kiến thức các môn chung, các môn kỹ thuật cơ
sở là thành phần của chương trình đào tạo theo Modul và được Modul hóa thành các học phần Lý thuyết chuyên môn và thực hành nghề được tích hợp thành các Modul (Modul kỹ năng)
Chương trình đào tạo kết hợp giữa môn học và Modul gọi là chương trình đào tạo theo Mudul (CTM), có nhiều ưu điểm, do kết hợp được hai chương trình đào tạo trên Với chương trình đào tạo kiểu này, nó sẽ có khả năng tốt để tổ chức quá trình đào tạo nghề một cách linh hoạt, năng động, giảm tối đa sự trùng lặp nội dung do có sự tích hợp giữa lý thuyết chuyên môn và thực hành nghề, đặc biệt là nâng cao năng lực thực hiện của người học
Như vậy, xây dựng chương trình đào tạo nghề sao cho có kế thừa, phát huy mặt mạnh, mặt tích cực và loại trừ, hạn chế bớt những yếu kém, tồn tại của hai kiểu chương trình đã nêu Chính vì vậy trong quá trình xây dựng chương trình, cần phải kết hợp linh hoạt và sáng tạo các kiểu chương trình nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong đào tạo Một kiểu chương trình đào tạo được xây dựng thỏa mãn những yêu cầu cao về đào tạo đó là kiểu chương trình kết hợp môn học và Modul (gọi tắt là chương trình theo Modul) Xây dựng chương trình dạy học theo Modul thể hiện cụ thể như sau:
- Hình thành loại chương trình kết hợp giữa việc dạy học theo năng lực thực hiện với dạy học theo các môn truyền thống
- Khối kiến thức chung, văn hóa bổ trợ hoặc khoa học cơ bản và lý thuyết cơ sở được xây dựng thành các môn học
- Khối kiến thức lý thuyết chuyên môn và kỹ năng thực hành được xây dựng thành các Modul kỹ năng nghề
Dưới đây là sơ đồ Modul môn học ngành “Sửa chữa, bảo trì thiết bị công
nghiệp” dành cho hệ Cao đẳng tại trường Đại học Công nghiệp Hà nội
Trang 27‐ 26 ‐
Trang 281.3.3 Modul đào tạo
1.3.3.1 Khái niệm về Modul
Từ xa xưa, Modul có xuất xứ từ thuật ngữ Latinh “Modulus”, với thuật nghĩa là
“thước đo” chủ yếu dùng trong xây dựng Cho đến đầu thế kỷ 20 Thuật ngữ Modul vẫn được dùng trong xây dựng và để chỉ các bộ phận xây dựng được tiêu chuẩn hóa Cho đến giữa thế kỷ 20, khái niệm Modul mới được truyền tải sang lĩnh vực kỹ thuật
Nó được dùng để chỉ các bộ phận cấu thành của thiết bị kỹ thuật có các chức năng riêng biệt và có mối liên hệ lẫn nhau, không nhất thiết phải hoạt động độc lập Sau này, người ta đã chuyển khái niệm Modul trong kỹ thuật sang Modul trong đào tạo, với việc khai thác các tính chất đặc trưng của nó
Tùy thuộc vào mục đích và cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu giáo dục, đã có quan niệm và định nghĩa khá phong phú về Modul dạy học (hoặc Modul đào tạo)
“Modul là một đơn vị học tập liên kết tất cả các yếu tổ (Aspeets) của các môn học lý thuyết (Academic disciplines), các kỹ năng (Skills) và các kiến thức liên quan (Related knowledge) để tạo ra một năng lực chuyên môn” [15,tr.48]
“Mỗi Modul là một đơn vị chọn vẹn về mặt chuyên môn Vì vậy, nhờ những điều kiện cơ bản của mỗi Modul tương ứng với một khả năng tìm việc Điều đó có nghĩa là việc kết thúc một cách thành công việc học tập Modul này tạo ra những kỹ năng tối thiểu cần thiết cho tìm việc làm Đồng thời, mỗi Modul có thể hình thành một
bộ phận nhỏ của chuyên môn của một thợ lành nghề” [14,tr.19]
Các Modul đào tạo có thể được người học lựa chọn một cách tự do hoặc được định hướng, có thể được nối ghép với nhau theo cách thức tích lũy kiến thức, kỹ năng nhằm đạt được các trình độ khác nhau một cách linh hoạt, phù hợp với các điều kiện cá nhân người học và yêu cầu xã hội
Theo ILO, “Modul là đơn vị học tập liên kết tất cả các yếu tố của các chuyên môn học lý thuyết, các kỹ năng và kiến thức liên quan để tạo ra một năng lực chuyên môn Điều đó có nghĩa là việc kết thúc thành công việc học một Modul sẽ tạo ra
Trang 29Một số quan điểm phổ biến về Modul như sau:
- Quan điểm 1:
Modul được hiểu là những phần trình độ được đào tạo ngắn hạn, khép kín và kiểm tra đánh giá được Trình độ tổng thể được phân ra thành các Modul, học xong mỗi Modul đều được kiểm tra và cấp bằng chứng chỉ Người học, học đến đâu có thể
sử dụng ngay đến đó, không cần phải tổ chức thi tốt nghiệp
Quan điểm này bị phê phán là dễ dẫn đến phát triển con người một cách phiến diện Về phương diện quản lý cần có những quy định chặt chẽ trong việc kiểm tra, đánh giá xác nhận kết quả các Modul tạo thành trình độ
- Quan điểm 2:
các Modul thành phần đó luôn là một bộ phận của trình độ nghề tổng thể Việc kiểm tra, đánh giá kết quả theo Modul đơn lẻ không thay đổi cho kỳ thi tốt nghiệp
Quan điểm này phù hợp ý tưởng đào tạo theo Modul đối với hệ chính quy dài hạn, nhưng không hạn chế áp dụng cho đào tạo ngắn hạn
- Quan điểm 3:
chia nhỏ theo mục tiêu đào tạo, được thực hiện bằng phương pháp dạy học theo dự án
và hình thức đào tạo cuốn chiếu theo môn học
Trang 30học và Cao đẳng ở nước ta Nội dung chương trình đào tạo được Modul hóa các học phần và có thể lắp ghép với nhau để tạo nên một chương trình đào tạo dẫn đến một văn bằng
Modul là những phần trình độ xác định, được kiểm tra đánh giá xác nhận Đào tạo theo Modul mang tính mềm dẻo, linh hoạt Nó cho phép thích ứng liên tục với chương trình nhằm đảm bảo sự phù hợp của nó với nhu cầu “mở” của thị trường lao động Đào tạo theo Modul vừa mang tính độc lập tương đối vừa mang tính liên thông đảm bảo nguyên lý tích lũy trình độ Vì vậy giúp người học hoàn thiện trình độ ở mức tổng thể cao hơn trong suốt quá trình lao động và cũng phù hợp với xu hướng học tập suốt đời Modul có thể ảnh hưởng tới việc tổ chức, kết cấu của quá trình đào tạo Nó thực hiện bởi thứ tự các giờ học dưới hình thức giờ học định hướng vấn đề, giờ học dự án
Ngoài ra, Modul mang tính chất chọn vẹn, đơn lẻ, tích hợp, tự hoàn thiện và có thể lắp ghép phát triển
1.3.3.2 Đặc điểm của Modul
Như đã trình bày ở trên, có rất nhiều khái niệm và quan điểm xung quanh vấn đề Modul đào tạo Tuy nhiên chúng có những điểm chung, thống nhất, đặc biệt là các dấu hiệu của nó Có thể xét ở đây là một số dấu hiệu của Modul
- Tính trọn vẹn:
cấu trúc, nội dung và quy trình thực hiện để đạt được mục tiêu, trong việc hình thành kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp Tính trọn vẹn thể hiện qua các khả năng
“làm được” của người kết thúc Modul đào tạo Vì vậy, có thể áp dụng cách diễn giải của LLO “Modul là nhiệm vụ có sự bắt đầu và kết thúc rõ ràng”
Dấu hiệu trọn vẹn là tính chất cơ bản nhất của Modul đào tạo, nó không những chỉ ra bản chất của Modul mà còn giúp các nhà thiết kế đưa ra được kích thước của
Trang 31Modul đào tạo Kích thước lớn hay nhỏ của Modul phụ thuộc vào nội dung cần thiết nhằm tạo ra một khả năng thực hiện thành công trọn vẹn công việc
- Tính tích hợp:
ngành, bộ môn khoa học, tích hợp giữa lý thuyết và thực hành, tích hợp các phương pháp truyền tải nội dung Nhờ tích hợp mà Modul trở nên trọn vẹn
Dấu hiệu tích hợp nhằm giúp các nhà thiết kế nhận diện được mức độ và cách thức tổ chức thích hợp của Modul đào tạo
- Tính cá nhân hóa người học:
Đặc điểm này còn được thể hiện qua thuật ngữ “theo nhịp độ người học – Self pacing”, thể hiện sự đáp ứng các điều kiện cá nhân của người học về trình độ, lứa tuổi, thời gian Việc cá nhân hóa bao giờ cũng gắn với hoạt động thực tế của người học, đảm bảo để người học đạt được mục đích yêu cầu đặt ra, mặt khác khuyến khích, khai thác được những tiềm năng phát triển ở người học đến mức tối đa Điều này cho phép tạo ra chương trình mềm dẻo, dễ dàng với việc đào tạo theo lớp, nhóm hoặc cá nhân Đồng thời người học có thể xuất từ năng lực hiện có để tiếp thu các Modul đào tạo theo nhịp
độ khác nhau, thời lượng khác nhau
- Đánh giá liên tục và hiệu quả:
Thể hiện phương pháp đánh giá đặc thù của Modul đào tạo Đánh giá liên tục để nhắc nhở chuẩn mực, để giảm sức ép tâm lý, để gia tăng đông cơ học tập “Đánh giá liên tục theo mức độ chuẩn thục nghề”
Đánh giá trong đào tạo theo Modul không nhằm đánh trượt người học, nó theo nhịp độ người học và chủ yếu do người học tự kiểm tra đánh giá mình Việc kiểm tra đánh giá này xây dựng trên nguyên tắc là: Các kết quả đánh giá phải theo những chuẩn thực hiện về kỹ năng và có thể mô tả, đo, đếm, quan sát được [14,tr.22]
- Khả năng lắp ghép phát triển:
Trang 32Thực hiện khả năng lắp ghép và sử dụng nhiều lần của Modul đào tạo trong phát triển chương trình do tính chất trọn vẹn mà các Modul có được Các Modul có thể chủ yếu ghép theo “chiều ngang” nếu như cần trang bị những kiến thức, kỹ năng cơ bản rộng của nhiều lĩnh vực công việc, nghề nghiệp khác nhau Cũng có thể ghép theo
“chiều dọc” (xếp chồng) một số lượng nhất định Modul cùng về chuyên môn, khác nhau về trình độ [6,tr.52]
Như vậy, những đặc điểm Modul đào tạo ở trên được sử dụng trong việc xác định các Modul và trong xây dựng CTM Trong các đặc điểm đã nêu, tính trọn vẹn và tính tích hợp là hai đặc điểm cơ bản và là những đặc điểm phân biệt Modul với môn học “Môn học có thể có hoặc có thể không bao gồm cả lý thuyết và kỹ năng thực hành
và có thể không là một nội dung trọn vẹn…Modul phải đồng thời tích hợp và trọn vẹn”
Chính trọn vẹn và tích hợp là hai đặc điểm thể hiện bản chất của Modul đào tạo Chúng giúp người thiết kế chương trình không những nhận dạng được Modul đào tạo
mà còn giúp phân biệt Modul với môn học, CTM với chương trình truyền thống
mềm dẻo, tích lũy được, mục đích cao…
1.3.3.3 Cấu trúc của một Modul đào tạo
khít giữa thế giới lao động và công việc (đầu vào) và đánh giá, xác nhận kết quả đào tạo đối với người lao động (đầu ra) Những thông tin phản hồi về sự phù hợp của lực lượng lao động (người tốt nghiệp) về sự đáp ứng các mục tiêu kinh tế, xã hội giúp các nhà đào tạo có những điều chỉnh kịp thời trong việc phát triển và thực hiện chương trình đào tạo Sơ đồ hóa về mô hình phát triển chương trình (xem hình 1.6)
Trang 33Hình 1.6 Mô hình phát triển chương trình
Mô hình phát triện chương trình này đã ảnh hưởng mạnh tới mô hình cấu trúc của Modul đào tạo Mỗi một Modul bao gồm nhiều thành phần từ mục tiêu, nội dung, cách thực hiện trong quá trình đào tạo Các thành phần trong cấu trúc có quan hệ chặt chẽ và được điều khiển bằng các thông tin phản hồi Tóm tắt cấu trúc của Modul đào
tạo bằng sơ đồ sau (Xem hình 1.7)
chương trình
Người tốt nghiệp thành thạo
Trang 34Hình 1.7 Cấu trúc của Modul đào tạo
Theo tác giả, mô hình cấu trúc của Modul dùng trong nghiên cứu luận văn này
có thể được thực hiện đơn giản qua sơ đồ Hình 1.8
Hình 1.8 Mô hình cấu trúc Modul đào tạo
Đầu ra
Bế giảng khóa học
Test kết thúc
Định hướng người học
Các hướng
dẫn và khuyến
Quá trình đào tạo
Khoa, Trung tâm đào
Thực hành chuyên nghề
Kỹ năng, kiến thức
Kiểm tra kết thúc
Khoa, Trung tâm đào
Trình độ đầu vào
Trình độ đầu ra
Trang 35Modul giống như những viên gạch xây dựng chương trình, có thể thay đổi để dễ dàng thích ứng với sự phát triển của kỹ thuật Có thể chỉ thay đổi về nội dung trong một Modul mà không bắt buộc đối với các Modul khác, đơn giản là có thể chỉ cải tiến những phần riêng biệt
1.3.4 Những thành phần cơ bản trong cấu trúc chương trình đào tạo theo Modul
Cấu trúc cơ bản của chương trình theo Modul gồm có:
- Đơn nguyên học tập
các phần còn lại và mối quan hệ giữa các phần với nhau
1.3.4.1 Đơn nguyên học tập
Nội dung đào tạo của mỗi Modul được chia thành từng phân tố gọi là đơn nguyên học tập Mỗi đơn nguyên học tập trình bày một vấn đề chuyên biệt về kiến thức
và kỹ năng của một nghề nào đó và có thể dùng cho cả người dạy lẫn người học
Mỗi đơn nguyên học tập được cấu trúc bởi các thành phần sau:
- Mục tiêu cho người học;
- Danh mục các phương tiện, thiết bị, vật tư…cần cho việc học tập;
- Danh mục các nguyên đơn học tập có liên quan
- Tài liệu học tập;
- Các câu hỏi kiểm tra, trắc nghiệm để đánh giá kết quả học tập
1.3.4.2 Môn học
Trang 36học phần, học trình Mỗi đơn vị học trình (ĐVHT) được tính là 15 tiết Trong CTM các môn học ở đây bao gồm các môn học chung và các môn kỹ thuật cơ sở
- Khối kiến thức các môn chung: Do nhà nước quy định, gồm các môn học bắt buộc như Chính trị, Pháp luật, Giáo dục thể chất, Quốc phòng, Ngoại ngữ, Tin học
- Khối kiến thức các môn kỹ thuật cơ sở: Được xây dựng theo nhóm ngành học nhằm cung cấp kiến thức và kỹ năng nền tảng của nhóm ngành học để giúp người học lĩnh hội các kiến thức chuyên môn cũng như hình thành NLTH Đối với ngành cơ khí các môn cơ sở bao gồm: Dung sai-Đo lường, Vật liệu cơ khí, Hình học họa hình, Vẽ kỹ thuật…
Việc sắp xếp thứ tự và các môn học từng cấp học dựa vào các tiêu chuẩn cho các công việc để hình thành năng lực thực hiện ở cấp trình độ nghề đó Tỷ lệ được quy định trong khung trình độ đào tạo thực hành nghề quốc gia [15]
1.3.4.3 Mối quan hệ của các thành phần trong CTM
các vấn đề của người học
Học phần môn học (MH): Những kiến thức môn chung, kiến thức cơ sở góp phần hình thành NLTH cũng như trình độ đào tạo
Thể hiện mối quan hệ chính thức Thể hiện mối quan hệ có thể
Trang 37Hình 1.9 Mối quan hệ giữa các thành phần của CTM
Trong mối quan hệ này, các đường mũi tên nét đứt thể hiện mối quan hệ có thể Mối quan hệ này xảy ra trong các trường hợp khi một học phần môn học có thể tham gia vào việc hình thành nhiều NLTH (Modul) trong cùng trình độ hoặc có thể tham gia vào việc hình thành NLTH ở trình độ cao hơn (dưới dạng các đơn vị học trình) Mối quan hệ này thể hiện tính mềm dẻo trong xây dựng CTM
1.3.5 Quy trình xây dựng chương trình đào tạo kết hợp Modul - Môn học
1.3.5.1 Sơ đồ quy trình xây dựng chương trình đào tạo kết hợp Modul -Môn học
Với quan điểm xây dựng chương trình đào tạo nghề đang phổ biến, người ta chú trọng tới việc phân tích nghề theo phương pháp DACUM (Developing A curriculun) Ngày nay phương pháp này được coi là sự đổi mới trong kỹ thuật phân tích nghề để biên soạn nội dung chương trình đào tạo nhằm đáp ứng những yêu cầu sát thực của ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ xã hội
Bản chất của phương pháp phân tích này là làm rõ các nhiệm vụ, công việc, bước công việc và phần công việc của nghề, với trọng tâm là nêu bật các kỹ năng thực hành nghề Các nhiệm vụ và công việc được miêu tả rõ yêu cầu, cần thiết về kiến thức,
Chương trình đào tạo
Modul
kỹ năng M1
Modul
kỹ năng M2
Modul
kỹ năng
Mn
Học phần môn học
MH 1
Học phần môn học
MH 2
Học phần môn học
MH n
Trang 38kỹ năng thái độ để thực hiện trong hoạt động nghề thực tiễn theo các tiêu chuẩn trình
độ nghề xác định, từ đó hình thành các Modul đào tạo tương ứng với một nhiệm vụ của nghề
Các giai đoạn xây dựng chương trình có thể mô hình hóa bằng hình 1.10
Hình 1.10 Các giai đoạn xây dựng chương trình đào tạo
1.3.5.2 Các bước xây dựng chương trình đào tạo kết hợp Modul - Môn học
- Bước 1: Giai đoạn nghiên cứu
Nội dung: Bao gồm các công việc
1 Nghiên cứu
6 Thử nghiệm chương trình
3 Phân tích công việc
7 Đánh giá chương trình
4 Thiết kế chương trình
5 Biên soạn chương trình
Trang 39Sản phẩm: Báo cáo kết quả nghiên cứu
- Bước 2: Giai đoạn phân tích ngành nghề
Nội dung: Phân tích nghề theo phương pháp DACUM, cần sử dụng thêm
phương pháp chuyên gia
tiên tiến, đã áp dụng thành công ở nhiều nước trên thế giới trong quá trình phát triển chương trình đào tạo
pháp chuyên gia để hoàn chỉnh sơ đồ phân tích ngành nghề và bổ sung những định hướng phát triển của ngành nghề tương lai
Sản phẩm: Danh mục các nhiệm vụ công việc trong ngành nghề
- Bước 3: Giai đoạn phân tích công việc
Nội dung:
nghề trong thực tiễn)
Sản phẩm: Các phiếu phân tích công việc
- Bước 4: Giai đoạn thiết kế chương trình
Nội dung:
+ Mô tả các kết quả đạt được sau đào tạo (xác định mục tiêu đào tạo của chương trình)
Trang 40vào chương trình đào tạo
việc theo trình độ đào tạo và để phát triển trong tương lai
+ Phân tích logic trình tự dạy học theo các môn học, Modul trong chương trình
tiêu đào tạo đề ra
Sản phẩm: Đề cương chương trình
- Bước 5: Giai đoạn biên soạn giáo trình
Nội dung:
mục tiêu thực hiện của các Modul/môn học
+ Biên soạn chương trình đào tạo ngành nghề theo mẫu định dạng quy định
Sản phẩm: Chương trình đào tạo hoàn chỉnh
- Bước 6: Giai đoạn thử nghiệm chương trình
Nội dung: