1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Sự phát triển kỹ thuật ô tô con của một số hãng trong thời gian 2001 đến 2005

78 198 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG NGHIỆP Ô TÔ THEO SỐ LƯỢNG TRÊN THẾ GIỚI TỪ 2001 - 2005 Sự phát triển của công nghiệp ô tô được quan tâm thông qua các thống kê về sản lượng

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGÀNH: CƠ KHÍ ĐỘNG LỰC

TÌM HIỂU

SỰ PHÁT TRIỂN KỸ THUẬT Ô TÔ CON CỦA MỘT SỐ

HÃNG TRONG THỜI GIAN 2001 ĐẾN 2005

NGUYỄN QUANG HUY

Hà Nội, 11/2009

Trang 2

Trang phụ bìa………

Lời cam đoan ………

Mục lục ………

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt ………

Danh mục các bảng………

Danh mục các hình vẽ, đồ thị………

LỜI NÓI ĐẦU……… 1

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG NGHIỆP Ô TÔ THEO SỐ LƯỢNG TRÊN THẾ GIỚI TỪ 2001 – 2005 3

1.1- Tổng sản lượng ô tô của thế giới 3

1.2 - Sản lượng ô tô ở các quốc gia có công nghiệp ô tô phát triển 6

1.3 - Sản lượng của các nhà sản xuất 8

1.4 - Sản lượng của các nước Châu Á 10

1.5 - Tiêu chí phát triển 14

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ SỐ LIỆU VỀ SỰ PHÁT TRIỂN KHKT CỦA CÔNG NGHIỆP Ô TÔ THẾ GIỚI 16

2.1 - Yêu cầu của thống kê 16

2.2 - Lựa chọn và xây dựng đồ thị 24

2.3 - Lựa chọn các số lượng kết quả trong thống kê 28

Chương 3 KẾT QUẢ THỐNG KÊ SỐ LIỆU 35

3.1- Kết quả thống kê với hãng ô tô BMW 35

3.2 - Đối với xe MERCEDES-BENZ 38

Trang 3

3.7- Nhận xét kết quả thống kê giữa các nhà sản xuất 47

3.6 - Đối với xe HYUNDAI 49

Chương 4 MỘT SỐ TIẾN BỘ VỀ KHOA HỌC KỸ THUẬT TRONG GIAI ĐOẠN GẦN ĐÂY 51

4.1 - Các giải pháp kết cấu hoàn thiện chất lượng làm việc của động cơ 53

4.1.1- Một số vấn đề hoàn thiện hệ thống nhiên liệu 53

4.1.2- Hoàn thiện chất lượng một số bộ phận cố định của kết cấu động cơ 57

4.1.3 - Một số vấn đề hoàn thiện của cơ cấu phối khí 57

4.1.4 - Một số các giải pháp tổng quát hoàn thiện nguồn động lực của ô tô 59

4.2 - Một số giải pháp hoàn thiện của Hệ thống truyền lực 59

4.2.1 – Một số tiến bộ kỹ thuật trên hộp số trong hệ thống truyền lực 60

4.2.2 – Một số tiến bộ kỹ thuật trên cầu xe trong hệ thống truyền lực 61

4.3 – Một số giải pháp giảm trọng lượng bản thân ô tô 63

4.4 Vấn đề tạo dáng khí động cho vỏ ô tô con 64

4.5 – Một số hoàn thiện kết cấu ô tô khác trong giai đoạn 2001-2005 65

4.5.1 – Hoàn thiện kết cấu với mục đích tăng tính thân thiện với môi trường 66

4.5.2 – Một số các giải pháp hoàn thiện chất lượng điều khiển 67

KẾT LUẬN 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Ô tô là một phương tiện giao thông đường bộ quan trọng trong mạng lưới giao thông của các quốc gia Nhu cầu giao thông vận tải không ngừng gia tăng, với khả năng vận chuyển hàng hoá và con người một cách linh hoạt đa dạng, do

đó đòi hỏi mọi quốc gia phải quan tâm thích đáng

Hơn một thế kỷ hình thành và phát triển công nghiệp ô tô, các kết cấu dần dần được hoàn thiện theo các giai đoạn, cho tới nay nhiều tiến bộ kỹ thuật của nhiều lĩnh vực công nghệ đã nhanh chóng được áp dụng trên ô tô, song những yêu cầu của cộng đồng cũng đặt ra các quy định chặt chẽ hơn, cụ thể hơn, nhằm đáp ứng ở mức cao hơn nhu cầu vận tải và đảm bảo an toàn cộng đồng Các quy định đưa ra, cùng các tiến bộ được áp dụng đã hoàn thiện không ngừng chất lượng của ô tô

Tuy nhiên sự phát triển của các hãng các nhà sản xuất đều dẫn tới các tiêu chí chung nhằm vào giải quyết những vấn đề bức xúc của kinh tế và đời sống cộng đồng Sự phát triển công nghiệp ô tô của thế giới để lại cho các nền công nghiệp ô tô của các nước chưa phát triển, trong đó có Việt Nam, những kinh nghiệm và những định hướng quý báu Vấn đề tổng kết và rút ra những bài học

là một nhiệm vụ cần thiết

Đối với Việt Nam chưa có một nền công nghiệp ô tô hoàn chỉnh, sự phát triển vẫn là ở công nghệ lắp ráp và khai thác Nhưng theo xu hướng phát triển của quốc gia có 86 triệu dân đòi hỏi phải có chiến lược để phát triển công nghiệp

ô tô hoàn chỉnh Việt Nam là quốc gia đi sau về công nghiệp ô tô do đó muốn tiếp cận thì cần thiết phải đi tìm hiểu sự phát triển kỹ thuật của ô tô trên thế giới đặc biệt của các nước gần với địa lý chúng ta

Trang 5

Đề tài thực hiện thống kê, phân tích tìm hiểu sự phát triển của ô tô con trên thế giới nhằm phục vụ nâng cao các hiểu biết phục vụ xây dựng phương hướng phát triển công nghiệp ô tô ở Việt Nam

Một số tài liệu đã tổng kết sự phát triển của kỹ thuật ô tô trên thế đến năm

2000, nhưng những số liệu mới hơn chưa được cập nhật Xuất phát từ thực tế

trên, tác giả chọn đề tài: “Tìm hiểu sự phát triển kỹ thuật ô tô con của một số hãng trong thời gian 2001 đến 2005”

Đề tài thực hiện được chia làm:

Chương 1: Tổng quan về sự phát triển của công nghiệp ô tô trên thế giới

từ 2000 đến 2005

Chương 2: Cơ sở thống kê số liệu về sự phát triển khoa học kỹ thuật của công nghiệp ô tô thế giới

Chương 3: Kết quả thống kê số liệu

Chương 4: Một số tiến bộ khoa học kỹ thuật trong giai đoạn gần đây

Đề tài được thực hiện tại Bộ môn ô tô dưới sự giúp đỡ của: Viện đào tạo sau đại học, các Thầy trong bộ môn ô tô và xe máy chuyên dụng trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, đặc biệt là dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Khắc Trai đã tạo điều kiện hoàn thành luận văn thạc sĩ này

Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn và mong muốn sự đóng góp ý kiến của các Thầy và các bạn đồng nghiệp để đề tài được tiếp tục phát triển đóng góp một phần nhỏ bé vào nền công nghiệp ô tô Việt Nam

Hà nội, Ngày 10 tháng 11 năm 2009

Tác giả

Trang 6

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG NGHIỆP Ô TÔ THEO SỐ LƯỢNG TRÊN THẾ GIỚI TỪ 2001 - 2005

Sự phát triển của công nghiệp ô tô được quan tâm thông qua các thống kê

về sản lượng chung của quốc tế, sản lượng của các quốc gia, sản lượng của các nhà sản xuất hàng đầu và sự phát triển của các cụm kết cấu cụ thể Trong chương

1 trình bày:

- Tổng sản lượng ô tô của thế giới,

- Sản lượng của các quốc gia phát triển,

- Sản lượng của các nhà sản xuất

1.1- Tổng sản lượng ô tô của thế giới

Tổng sản lượng của ô tô trên thế giới từ năm 1997 đến năm 2008 cụ thể như sau:

Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 Sản

Trang 7

Hình 1.1 - Sản lượng ô tô thế giới từ năm 1997 – 2009

Nếu theo dõi từ 1997 – 2000 tổng sản lượng của ô tô thế giới gia tăng trung bình 3 - 4% năm và đạt được khoảng 50 triệu xe Sau những năm 2000 đến năm 2008 tổng sản lượng này tiếp tục gia tăng với mức độ trung bình khoảng 3,2% năm Trong thời gian gần đây do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế tổng sản lượng bị suy giảm và có thể trở về khoảng 60 trệu xe/năm

SẢN LƯỢNG Ô TÔ HÀNG NĂM

Trang 8

Một số chuyên gia về kinh tế cho rằng tổng sản lượng ô tô của thế giới từ năm 1997 đến năm 2003 đang ở mức bão hoà Một số khác lại cho rằng cùng với

sự phát triển của nền kinh tế các nước, đặc biệt ở các nước đang phát triển nhu cầu giao thông vận tải có sự gia tăng đáng kể Điều này dẫn tới tổng sản lượng ô

tô của thế giới vẫn còn có thể gia tăng nữa

Năm 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008

% -2.23 8.33 3.76 -3.54 4.77 2.82 6.31 3.07 4.12 5.60 -3.52

Bảng 1.2 - Tỷ lệ % gia tăng số lượng giữa các năm từ 1998-2008

Nếu tính theo tỷ lệ % gia tăng số lượng giữa các năm, có thể mô tả thông qua đồ thị sau:

- Trục tung biểu thị tỷ lệ % gia tăng,

- Trục hoành biểu thị các năm

Hình 1.2 - Đồ thị tăng giảm sản lượng ô tô từng năm trên thế giới tính

theo %

Trang 9

Nhìn trên đồ thị sự gia tăng trung bình hàng năm xấp xỉ 3% riêng năm

2008 xuất hiện khủng hoảng kinh tế tổng sản lượng bị suy giảm khoảng 4%

1.2 - Sản lượng ô tô ở các quốc gia có công nghiệp ô tô phát triển

Trong số 50 nước tham gia chế tạo ô tô mức độ phát triển công nghiệp của các quốc gia tùy thuộc vào sự phát triển của tổng thể nền kinh tế, vào mức độ phát triển khoa học kỹ thuật, do vậy sản lượng của các quốc gia cũng hình thành với các mức độ khác nhau Về sản lượng 5 quốc gia có sản lượng lớn trong nhiều năm lại đây là:

Năm

Quốc

gia 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008

Mỹ 18,26 17,66 13,02 12,80 11,42 12,28 12,11 11,98 11,94 11,26 10,78 8,70 Nhật 10,97 10,05 9,89 10,14 9,77 10,25 10,28 10,51 10,79 11,48 11,59 11,56 Đức 5,02 5,72 5,68 5,52 5,69 5,47 5,50 5,56 5,75 5,81 6,21 6,04 Hàn

Quốc 2,81 1,95 2,84 3,11 2,94 3,14 3,17 3,47 3,67 3,84 4,08 3,80 Trung

Quốc 1,58 1,62 1,82 2,06 2,33 3,28 4,44 5,23 5,70 7,18 8,8 9,34

Bảng 1.3 -Tổng sản lượng của các quốc gia (± triệu xe)

Từ những số thống kê ở trên có thể thiết lập đồ thị tổng sản lượng xe của các quốc gia theo năm:

Trên trục tung là tổng sản lượng tính theo triệu xe/năm, theo các năm trên trục hoành

Qua thống kê nhận thấy:

Trang 10

- Trong đó; Nhật Bản, Mỹ, Đức, Trung Quốc là quốc gia có truyền thống

về công nghiệp ô tô Các quốc gia này có các hãng lớn và có đủ thiết bị để phát triển kỹ thuật

Hình 1.3 - Sản lượng ô tô của 5 quốc gia từ năm 1997 – 2009

Với kinh nghiệm và khả năng kỹ thuật các quốc gia này là những nơi thử nghiệm, chế tạo đưa ra thị trường nhiều kết cấu phát triển và tỏ rõ thế mạnh của

Đức Hàn Quốc

Trang 11

một phần xuất khẩu cho thị trường các quốc gia khác Họ đã đem lại một nguồn thu rất lớn nhằm phát triển kinh tế cho quốc gia của họ

- Trung Quốc là một quốc gia đang phát triển trong giai đoạn từ 2000-

2005 Trung Quốc là nơi chế tạo nhiều loại xe Sự phát triển về mặt số lượng chưa thể vượt qua 3 nước trên song với một thị trường nội địa rộng rãi, tổng sản lượng ô tô tăng nhanh chóng và đến cuối năm 2005 đã xấp xỉ bằng Đức tức là đứng hàng thứ 3 và thứ 4 trên thế giới Sự gia tăng tổng sản lượng của những năm sau 2005 và những năm sau này đã vượt qua Đức - Mỹ - Nhật và theo những thông tin mới nhất, tổng sản lượng của năm 2009 đã vươn lên đứng đầu Tuy nhiên Trung Quốc đã có rất nhiều cố gắng thừa kế sự phát triển kỹ thuật của các quốc gia tiên tiến, nhưng chưa thể hiện được sự phát triển về mặt kỹ thuật ở vai trò hàng đầu

- Sự phát triển đáng kể của Trung Quốc nhằm vào loạt xe có giá thành trung bình và thấp chủ yếu phục vụ thị trường nội địa Sau những năm 2006 sản lượng của Trung Quốc gia tăng đáng kể và dành lại thị phần của các nước phát triển khác Đặc biệt trong giai đoạn gần đây Trung Quốc đã ứng dụng các công nghệ tiên tiến sản xuất những loại xe cao cấp phục vụ nội địa và đồng thời xuất khẩu

1.3 - Sản lượng của các nhà sản xuất

Mỗi quốc gia đều có một số các nhà sản xuất uy tín do vậy số lượng xe tập trung vào một số hãng Các nhà sản xuất có tên tuổi được thống kê trong bảng, với số lượng được ghi trong năm 2007 Đặc biệt là các hãng Toyota, Ford, (các hãng lớn) luôn chiếm số lượng hàng đầu

Các nhà sản xuất này đã áp dụng nhiều tiến bộ khoa học mới và được người tiêu dùng tín nhiệm Điều đó chứng tỏ các nhà sản xuất đã đưa ra các tiêu

Trang 12

chí phát triển hợp lý, phù hợp với cộng đồng Một số các nhà sản xuất lớn có sản

lượng trong năm 2007 được thống kê trong bảng dưới đây

Trong năm 2007 hãng Toyota đã sản xuất một số lượng lớn và chiếm 15%

các tiến bộ khoa học kỹ thuật được ứng dụng hầu hết các cụm của ô tô, với các

model khác nhau phù hợp với sự phát triển chung của nhu cầu thế giới

Trang 13

1.4 - Sản lượng của các nước Châu Á

Các nước thuộc Châu Á có truyền tống công nghiệp ô tô không lâu như Đức, Mỹ, Pháp tuy nhiên sau chiến tranh thế giới lần thứ II sự phát triển của một

số quốc gia như (Nhật, Hàn Quốc) rất nhanh chóng Sau những năm 90 của thế

kỷ trước cùng với sự công nghiệp hoá của Trung Quốc ngành công nghiệp ô tô đóng góp một vai trò hết sức quan trọng Sản lượng hàng năm của quốc gia này

đã dần đạt tới bằng Mỹ, Nhật

Các quốc gia khác ở Châu Á bắt đầu hình thành nền công nghiệp ô tô gồm: Ấn Độ, Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia, , các quốc gia này nhanh chóng thừa kế các thành quả khoa học kỹ thuật của các nước phát triển và đóng góp một phần nhỏ của mình vào trong sự phát triển của công nghiệp ô tô

Dưới đây là bảng thống kê số lượng ô tô của các nước Châu Á từ năm

1999 đến năm 2008:

Năm Quốc

gia 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008

Nhật 8,100 8,359 8,117 8,618 8,478 8,720 9,016 9,756 9,944 11,596

Trung

Quốc 565 604 703 1,101 2,018 2,480 3,078 5,233 6,381 888 Hàn

Trang 14

Từ những số liệu thống kê ở trên có thể lập được đồ thị về sản lượng ô tô của các nước Châu Á từ năm 1999 đến năm 2008

Trên trục tung là tổng sản lượng xe/năm theo trục hoành

Hình 1.4 – Sản lượng ô tô của các nước Châu Á từ năm 1999 -2008

Các nước Châu Á có địa lý gần gũi với Việt Nam Nhưng về mặt phát triển chúng ta có thể kể đến: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan

- Sản lượng ô tô của Trung Quốc như đã nói ở trên đứng thứ hai sau Nhật

- Hàn Quốc đã tiếp cận nhanh hơn với kỹ thuật ô tô nhưng sản lượng hàng năm chỉ đạt xấp xỉ 1,5 triệu xe

Sản lượng ô tô của các nước Châu Á từ năm 1999 - 2008

0 2,000,000

Ấn Độ Thailand Indonesia Malaysia Đài Loan

Trang 15

- Ấn độ là nước đông dân thứ hai có sản lượng gần bằng với Hàn Quốc Trong thời gian gần đây Ấn Độ cũng đang phát triển cả về số lượng và chất lượng tuy nhiên do tính chất phân hoá kinh tế trong nhiều giai tầng nên Ấn Độ vẫn nằm trong tình trạng nhập siêu ô tô

- Các nước Thái Lan, Inđônesia, Malaysia, có nền kinh tế thị trường cũng đang bước vào giai đoạn phát triển song trong bản đồ về tổng sản lượng vẫn đứng ở mức thấp

Có thể nói rằng cùng với sự phát triển của ô tô trên thế giới như Nhật Bản,

Mỹ, Đức, Pháp, , hiện nay quy mô sản xuất ô tô của thị trường Châu Á ngày càng được mở rộng Tính tới nay, châu Á đã chở thành một trung tâm sản xuất

và tiêu thụ ô tô có quy mô toàn cầu

Châu Á đã tăng cường sự hiện diện của mình trong ngành công nghiệp ô

tô thế giới nhờ sự gia tăng sản xuất mặt hàng này Sản lượng ô tô của khu vực châu Á – Thái Bình Dương ( không tính Nhật Bản ) dự đoán có thể đạt 22,3 triệu chiếc và 32,3 triệu chiếc nếu tính cả nước này, chiếm 40% sản lượng ô tô của thế giới Công suất sản xuất ô tô của châu Á nhờ đó có khả năng vượt qua châu Âu

và Châu Mỹ

Ngành công nghiệp ô tô Trung Quốc được dự đoán sẽ phát triển mạnh nhất so với các thị trường châu Á khác trong vòng 5 năm tới Sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), số lượng các mẫu xe ô tô sản xuất ở Trung Quốc nhanh chóng tăng lên nhờ việc nới lỏng các qui định nhập khẩu và cấp phép sản xuất, tạo ra động lực kích thích thị trường ô tô nước này Năm 2005, sản lượng ô tô của Trung Quốc đạt 5,71 triệu chiếc, tăng mạnh so với 2,35 triệu chiếc năm 2001

Trang 16

Trên thực tế và qua những kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, ngành công nghiệp ô tô là một ngành có mức độ tương quan cao, nguồn vốn tập trung, dây chuyền công nghiệp liên tục, thích hợp với mô hình phát triển cụm công nghiệp Ưu thế của mô hình này có lợi cho việc chia sẻ nguồn lực, xây dựng thương hiệu và sự đổi mới công nghệ

Ngành công nghiệp ô tô Trung Quốc không chỉ trở thành bộ phận quan trọng về vốn và công nghệ trên toàn cầu mà còn trở thành thị trường ô tô năng động và tiếm lực phát triển nhất của thế giới

Qua theo dõi và thống kê, năm 2005, tiêu thụ ô tô tại thị trường nội địa của Việt Nam đạt 35.264 chiếc, giảm so với mức 42.566 chiếc năm 2003 Nguyên nhân quan trọng khiến tiêu thụ ô tô của Việt Nam năm 2005 giảm là do tâm lý tiếp tục đợi giá mặt hàng này giảm xuống của khách hàng khi lệnh cấm nhập khẩu ô tô cũ được dỡ bỏ vào tháng 5/2006

Dù có hơn 10 hãng ô tô đã liên doanh sản xuất tại thị trường trong nước kể

từ năm 1992, tiêu thụ ô tô nội địa của Việt Nam năm vừa qua vẫn chưa thể đạt mức 40.000 chiếc Trong hơn 70 mẫu xe được lắp ráp trong nước, chỉ có 4 mẫu

xe vượt qua mức sản lượng 2.000 chiếc trong năm 2005 là Matiz của GM Daewoo (2.069 chiếc), Carry của Suzuki (2.415 chiếc), Zace của Toyota (5.634 chiếc) và Vios (2.192 chiếc) Điều này minh chứng rằng ngành công nghiệp lắp ráp ô tô của Việt Nam vẫn chưa thực sự phát triển mạnh Mặc dù vậy, hãng Hyundai của Hàn Quốc vẫn tiến hành triển khai hoạt động một nhà máy lắp ráp ô

tô mới trong tháng 3 năm 2006 Honda cũng đang triển khai dự án xây dựng một nhà máy lắp ráp ô tô dân dụng tại Việt Nam Các hãng này đều tin vào triển vọng phát triển của thị trường ô tô Việt Nam trong tương lai Bên cạnh đó, Toyota

Trang 17

cũng đang tích cực thực hiện chiến lược cạnh tranh về giá cả và hình ảnh thương hiệu nhằm củng cố vị trí ưu thế trước các nhà sản xuất khác tại Việt Nam

1.5 - Tiêu chí phát triển

Ngày nay công nghiệp ô tô đứng trước sức ép của cộng đồng thông qua các tiêu chuẩn quốc tế, sự tiêu thụ nhiên liệu từ dầu mỏ đã đem lại những hậu quả nghiệm trọng về:

- Cạn kiệt tài nguyên của trái đất Dự tính lượng dầu mỏ với lượng ô tô đang sử dụng (xấp xỉ 800 triệu chiếc) sẽ làm cạn kiệt nguồn dầu mỏ đến năm

2050

Do sự cạn kiệt dầu mỏ dẫn tới giá dầu mỏ luôn leo thang và đẩy nền kinh

tế toàn cầu đứng trước những khó khăn to lớn

- Sự tiêu thụ dầu mỏ gây nên ô nhiễm toàn cầu, biến đổi khi hậu và tổn hại đến môi trường sống của cộng đồng Điều này dẫn tới sự cần thiết phải giảm lượng tiêu thụ nhiên liệu bằng các giải pháp khác nhau

Việc gia tăng số lượng cùng với việc gia tăng tốc độ đã làm gia tăng các tai nạn giao thông Theo thống kê hàng năm, mỗi ngày có khoảng 3000 người chết vì tai nạn giao thông Để thoả mãn nhu cầu về tiện ích giao thông bằng ô tô cần thiết phải thực hiện các tiêu chuẩn về an toàn ở mức độ cao

Để gia tăng số lượng ô tô một số quốc gia đã đi theo hướng sản xuất các

xe có giá thành thấp, các loại xe này một phần đáp ứng nhu cầu tiện nghi sử dụng cho những người có mức thu nhập trung bình và thấp bởi vậy các quốc gia đang phát triển có xu hướng sản xuất các loại xe có giá thành giẻ nhằm đảm bảo quyền lợi hưởng thụ của số đông người

Trang 18

Ô tô là một phương tiện đòi hỏi tímh tiện nghi cao lại hoạt động trong cộng đồng do vậy một xu hướng trong kỹ thuật được các nhà sản xuất quan tâm

là đảm bảo khả năng điều khiển tốt và tính tiện nghi cao

Do vậy tiêu chí phát triển công nghiệp ô tô của thế kỷ 21 được khẳng định với 5 ý chính

1 Thân thiện với môi trường

2 Tiết kiệm năng lượng

3 An toàn, tiện nghi cao

4 Giá thành thấp

5 Dễ dàng điều khiển

Hiển nhiên là 5 tiêu chí này không độc lập thoả mãn và có sự mâu thuẫn với nhau Các chuyên gia buộc phải tối ưu hoá thông qua các kết cấu cụ thể được lắp trên xe

Tuỳ theo sự phát triển và khả năng kinh tế của các nhà sản xuất các tiêu chí này được ưu tiên khác nhau Sự phát triển của các quốc gia và quốc tế thông qua các tiêu chuẩn cũng thể hiện rõ nét những đòi hỏi của cộng đồng đối với các nhà sản xuất

Từ những thống kê về số lượng ở trên sự phát triển của công nghiệp ô tô thế giới vẫn là một nhu cầu cấp thiết

Ở các chương sau đề tài tiến hành thống kê và tìm hiểu sự phát triển của khoa học kỹ thuật thông qua các số liệu có thể thu thập được

Trang 19

sự phát triển công nghiệp ô tô trên thế giới

Để thực hiện điều này cần thiết tìm hiểu sự liên quan giữa thông số thống

kê với các tiêu chí phát triển khoa học kỹ thuật Đề tài thông qua thống kê tìm hiểu mối liên quan kết cấu giữa các cụm và các tiêu chí, từ đó chỉ rõ một số thành tựu khoa học nhất định trong giai đoạn phát triển của ngành công nghiệp ô

tô thế giới

2.1 - Yêu cầu của thống kê

Sự phát triển kỹ thuật của ô tô đã trải qua nhiều giai đoạn, cho tới nay nhiều tiến bộ kỹ thuật của nhiều lĩnh vực công nghệ đã nhanh chóng được áp dụng trên ô tô, song những yêu cầu của con người cũng đặt ra các quy định chặt chẽ hơn, cụ thể hơn, nhằm đáp ứng ở mức cao hơn nhu cầu vận tải và đảm bảo

an toàn giao thông Các quy định đưa ra cùng các tiến bộ kỹ thuật được áp dụng

đã hoàn thiện không ngừng chất lượng của ô tô Do vậy các kiến thức về ô tô luôn luôn đòi hỏi cần thiết phải bổ sung

Mặt khác khu vực công nghiệp ô tô là một trong các khu vực trọng điểm thể hiện sự phát triển ở các quốc gia có ngành công nghiệp ô tô phát triển mạnh trên thế giới hiện nay, tiêu biểu là Đức - Nhật - Mỹ - Pháp… Các quốc gia này

Trang 20

phát triển mạnh về công nghiệp ô tô là do ở đó họ sở hữu một số lượng lớn về trí tuệ và khoa học kỹ thuật và đây cũng là các quốc gia cường thịnh về kinh tế Chính vì vậy cần coi công nghiệp chế tạo ô tô là một ngành công nghiệp mũi nhọn, và sản phẩm chế tạo của nó cũng phải đáp ứng các yêu cầu hết sức chặt chẽ của cộng đồng quốc tế Trong điều kiện hiện nay phương tiện ô tô đã mang tính chất toàn cầu, cấu trúc ô tô đã thực hiện theo hướng tiêu chuẩn hoá, nhưng rất đa dạng

Hiện nay gần với điều kiện công nghiệp ở Việt Nam chúng ta đó là Trung Quốc Trung quốc đang nổi lên như một cường quốc về sản xuất ô tô và có khả năng sẽ dành được vị trí thứ nhất của các nước trên thế giới có sản lượng ô tô lớn trong thời gian gần đây Trung Quốc đang áp dụng các công nghệ chế tạo sản xuất ô tô của các quốc gia lớn về công nghệ ô tô đó là Đức – Nhật – Mỹ cho nên việc lựa chọn số liệu thống kê theo các nước tiên tiến

Hàn Quốc một quốc gia nằm trong khu vực Châu Á có số lượng sản xuất lớn cho nên trong công tác thống kê cần quan tâm để từ đó có thể rút ra những kinh nghiệm phát triển công nghiệp ô tô Hiện nay số lượng xe của Hàn Quốc đã

và đang tràn ngập trên thị trường Việt Nam

Như vậy trong luận văn này các số liệu thống kê được lấy từ: Đức, Mỹ, Pháp, Nhật, Hàn Quốc

Trong mỗi quốc gia đều hình thành nhiều nhà sản xuất khác nhau Điều kiện thu thập dữ liệu để mô tả sự phát triển khoa học kỹ thuật cần có một số lượng lớn hàng năm Đề tài lựa chọn các nhà sản xuất có uy tín, có số lượng model lớn để thuận lợi cho việc xác định các giá trị trung bình

Trang 21

Qua theo dõi thống kê các quốc gia có nhà sản xuất ô tô lớn và tiêu biểu từ năm 2001 đến năm 2005 đó là BMW của Đức, Ford của Mỹ, Toyota của Nhật, Citroen của Pháp và gần với Việt Nam là Hyundai của Hàn Quốc

Hiện nay, 5 tiêu chí phát triển công nghiệp ô tô của thế kỷ 21 được lựa chọn:

* Thân thiện với môi trường: Đối với ô tô, an toàn môi trường được đặt ra với các mặt chính sau; khí xả, độ ồn, nhiệt, bụi chất thải sau sử dụng Các quy định ngày nay tập trung giảm thiểu ô nhiễm do khí xả, độ ồn, chất thải sau và trong sử dụng Các tiêu chuẩn này một phần nằm trong tiêu chuẩn quốc tế trong chế tạo ô tô, một số khác lại nằm trong tiêu chuẩn quốc tế về bảo vệ sức khoẻ của cộng đồng Hiện nay trên thế giới sử dụng một số lượng đáng kể các loại phương tiện vận tải có động cơ đốt trong, trong đó có khoảng 800 triệu xe trong

đó ô tô con chiếm khoảng trên 2/3 Với số lượng xe con lớn như vậy lượng khí thải phát ra môi trường lại tập chung ở thành phố do vậy theo dõi sự phát triển khoa học kỹ thuật theo tiêu chí này cần thiết quan tâm đến sự phát triển trên ô tô con

- Ô tô con chủ yếu tập trung ở các vùng đông dân cư Lượng khí thải phát

ra môi trường sinh sống của cộng đồng đang là mối đe doạ đến sự ô nhiễm bầu khí quyển của toàn bộ trái đất Xét tổng thể, trên toàn cầu vấn đề giảm thiểu lượng ô nhiễm môi trường do khí thải phát ra là rất cấp thiết, đặc biệt là các thành phố lớn và khu vực đông dân cư

Do đó các quy định về lượng phát thải của khí xả ngày càng chặt chẽ hơn, đặc biệt là đối với các chất phát thải có ảnh hưởng xấu trực tiếp đến môi trường

Vấn đề thân thiện với môi trường liên quan tới nhiều khía cạnh, trong đề tài quan tới các thông số sau đây:

Trang 22

- Lượng khí thải phát ra môi trường

- Trọng lượng của ô tô

- Công suất của nguồn động lực

Các yếu tố này liên quan đến lượng tiêu thụ nhiên liệu, vì khi lượng tiêu thụ nhiên liệu nhỏ, công suất động cơ không thay đổi, có thể dẫn tới lượng phát thải của khí xả sẽ nhỏ

Cùng với việc nâng cao chất lượng đốt cháy nhiên liệu, kiểm soát lượng khí độc hại trong khí xả sẽ đảm bảo khả năng giảm lượng chất độc hại thoát ra môi trường

Như vậy qua thống kê các thông số về lượng tiêu thụ nhiên liệu, trọng lượng xe, công suất động cơ có thể một phần nào đó đánh giá được khả năng thân thiện môi trường

Vấn đề thân thiện môi trường còn được quan tâm bởi:

- Độ ồn, rung của ô tô,

- Lượng amiăng và các chất độc hại từ vật liệu ma sát,

- Lượng khí của chất làm lạnh sử dụng trong các bộ điều hoà không khí

-

Tuy nhiên những vấn đề như thế này không được các nhà sản xuất công

bố nên tài liệu không có điều kiện đề cập

* Tiết kiệm năng lượng: Xu hướng của thế giới là tiết kiệm nguồn năng lượng dự trữ của trái đất và đòi hỏi công nghiệp ô tô phải tiết kiệm nhiên liệu Mặt khác khi giảm được lượng tiêu thụ nhiên liệu, cũng đồng thời có khả năng hạn chế sự ô nhiễm môi trường do khí xả của động cơ gây nên Lượng tiêu thụ nhiên liệu phụ thuộc vào các nguyên nhân khác nhau; điều kiện ngoại cảnh, người sử dụng, chất lượng kỹ thuật của xe

Trang 23

Lượng tiêu thụ nhiên liệu được quyết định bởi:

- Chất lượng cháy trong động cơ, khả năng hoàn thiện kết cấu động cơ, các thông số của hệ thống truyền lực, vấn đề sử dụng hợp lý công suất và thu hồi công suất

Lượng tiêu thụ nhiên liệu được các nhà sản xuất công bố là lượng tiêu thụ nhiên liệu đo trên các bệ thử chuyên dùng, theo những quy trình chặt chẽ của các tiêu chuẩn quốc tế, do vậy cho phép đánh giá tổng quan một cách tin cậy về sự phát triển khoa học kỹ thuật

Để hạn chế được lượng tiêu thụ nhiên liệu khi nhu cầu sử dụng không thay đổi, các kết cấu ngày nay được hoàn thiện theo hướng:

- Tăng hiệu suất của động cơ đốt trong bằng các biện pháp hoàn thiện kết cấu,

- Giảm trọng lượng bản thân của kết cấu ô tô

- Tạo dáng khí động tốt (hoàn thiện dạng vỏ khí động của ô tô),

- Giảm nhỏ lực cản lăn,

- Tối ưu hoá tỷ số truyền và phù hợp với đặc tính làm việc của động cơ,

- Tăng cường chất lượng bôi trơn,

- Tiêu chuẩn hoá nhiên liệu sử dụng theo các tiêu chuẩn quốc tế,

- Sử dụng hệ thống điều khiển điện tử dùng cho việc chuyển số truyền

Trang 24

Trong luận văn này các thông số được thu thập bao gồm:

- Lượng tiêu thụ nhiên liệu,

- Trọng lượng của ô tô,

- Công suất của nguồn động lực

* Tính an toàn và tiện nghi: Các giải pháp kết cấu của ô tô tạo điều kiện đảm bảo an toàn trong vận tải thuộc vào yêu cầu cơ bản và cũng là chỉ tiêu quan trọng trong vận tải Tổn thất kinh tế xuất hiện do tai nạn giao thông, đặc biệt khi chướng ngại vật trên đường nhiều, sẽ rất lớn

Chính vì thế nên nhiệm vụ quan trọng của kết cấu là cho phép ô tô có các đặc tính sao cho hỗ trợ người lái tránh được các tình huống sự cố và bảo vệ tối

đa con người và hàng hoá trước tai nạn xảy ra

Các thành phần cơ bản của tính an toàn vận tải ô tô bao gồm;

- An toàn chủ động,

- An toàn thụ động,

- An toàn môi trường

Để nâng cao tính an toàn chủ động cần thiết phải đảm bảo khả năng điều khiển đúng ô tô, chánh các hư hỏng đột suất có thể xảy ra Những yếu tố này liên quan đến việc vận hành phương tiện Về mặt kết cấu đây là một mảng vấn đề được chú ý thông qua kết cấu của động cơ, Hệ thống truyền lực, Hệ thống phanh,

Hệ thống lái, Hệ thống treo và các hệ thống tín hiệu khác Nhìn chung vấn đề an toàn chủ động được quan tâm hết sức sâu sắc, tuy nhiên muốn nâng cao tính an toàn chủ động cần thiết phải hoàn thiện kết cấu và điều này dẫn tới tăng giá thành sản xuất xe và tăng trọng lượng ô tô

Tuy nhiên các vấn đề này rất khó thống kê vì tính đa dạng của kết cấu Trong luận văn này chỉ quan tâm đến một số thông số gián tiếp như:

Trang 25

- Khả năng tăng tốc ô tô Khả năng tăng tốc ô tô được các nhà sản xuất thống kê và đánh giá thông qua thời gian tăng tốc từ 0-100 km/h

- Trọng lượng ô tô

- Công suất động cơ

Các thông số này cũng cho phép đánh giá một phần về tính an toàn chủ động của ô tô

Các vấn đề liên quan đến vấn đề an toàn bị động liên quan tới kết cấu khung vỏ, đặc biệt đối với xe con là khung chịu tải và phần vỏ của khoang chứa người, để giảm tổn thất trong tai nạn giao thông kết cấu cần thiết phải đủ độ cứng vững khi bị va đập hoặc lật đổ Do vậy có xu hướng nâng cao trọng lượng của xe, các nhà sản xuất phải tối ưu hoá các thông số này

* Giá thành thấp:

Yếu tố giá thành thấp ngày nay được quan tâm bởi khả năng gia tăng số lượng sản phẩm phục vụ những người có thu nhập trung bình do vậy cho nên ảnh hưởng tới kết cấu của ô tô Khi giá thành ô tô thấp có thể dẫn tới không trang bị được những kết cấu không hoàn thiện và mâu thuẫn với các tiêu chí khác

Chính vì điều này yếu tố giá thành thấp trong đề tài không đề cập

Xuất phát từ các thống kê tìm hiểu của thị trường ô tô bao gồm nhu cầu của các vùng lãnh thổ trong quốc gia, quốc tế đặc biệt các quốc gia có dự định xuất khẩu các loại ô tô (TYP) yêu cầu, các đặc tính kỹ thuật yêu cầu … và trong chế tạo người thiết kế mong muốn có sản phẩm chất lượng cao nhưng giá thành phải thấp Hợp lý hoá hai mặt này phải xuất phát từ tình hình thực tế của nền công nghiệp Ngày nay sự cạnh tranh quốc tế diễn ra rất gay gắt, để thoả mãn nhu cầu xã hội về ô tô nhất thiết phải xem xét khả năng nhập ngoại và sản xuất

Trang 26

linh kiện trong nước Nền kinh tế của mỗi quốc gia luôn phải tính đến khả năng cân bằng giữa nhập và xuất

* Dễ dàng điều khiển;

Tính điều khiển chuyển động của ô tô là tổng hợp các đặc tính chuyển động của ô tô dưới tác động điều khiển với độ chính xác cho trước khi dùng năng lượng cơ bắp và hoạt động trí tuệ nhỏ nhất của người lái xe Quan trọng nhất của tính điều khiển là hướng chuyển động, khả năng điều khiển

So sánh với 5 tiêu chí đề ra thì các số liệu thống kê chỉ đáp ứng được một phần những tiêu chí này để thể hiện được sự phát triển khoa học kỹ thuật Do đó nếu đi thống kê tất cả đòi hỏi phải có đủ các tài liệu và thông số mới có thể thống

kê được Tuy nhiên còn nhiều thông số khác nữa nhưng các nhà sản xuất khác nhau nên khó có khả năng thống kê hoàn thiện

Trong tài liệu xuất phát từ những thông số có thể thống kê được:

- Kiểu xe, mác xe,

- Công suất động cơ,

- Trọng lượng ô tô,

- Thời gian tăng tốc,

- Lượng tiêu thụ nhiên liệu

Sau khi sử lý cho ra những kết quả vẽ ra các đồ thị theo từng năm với từng nhà sản xuất của các quốc gia khác nhau, từ đó so sánh đánh giá và tìm hiểu sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong các cụm kết cấu của ô tô

Trang 27

Dạng đồ thị được cho ở dưới dạng sau đây:

Hình 2.1 - Đồ thị quan hệ Q phụ thuộc vào trọng lượng toàn bộ G tb (ECE)

Trang 28

Đồ thị này được lấy trực tiếp không cần qua sử lý tuy nhiên để thống nhất với những đề tài đã được công bố trọng lượng ô tô được tính ở trọng lượng thường xuyên sử dụng mà không phải lấy ở giá trị lớn nhất

Đồ thị thời gian tăng tốc biểu diễn thời gian tăng tốc của ô tô từ 0-100 km/h để tiện so sánh và đánh giá sử dụng trị số trọng lượng đơn vị

Trọng lượng đơn vị là trọng lượng của ô tô trên 1kW Như vậy nếu chỉ số này càng nhỏ thì thời gian tăng tốc càng ngắn và ngược lại

Nếu động cơ có công suất cao đặt trên ô tô, khả năng tăng tốc cũng sẽ tăng theo nhằm phục vụ khả năng cơ động nhưng lại gây nên khả năng tiêu hao lượng thụ nhiên liệu cao, khả năng gây ô nhiễm môi trường lớn Mặt khác trọng lượng động cơ có thể lớn và ảnh hưởng đến lượng tiêu thụ nhiên liệu

Các thông số về trọng lượng đơn vị được rút ra từ các thống kê về công suất trọng lượng ô tô

Hình 2.2 - Đồ thị quan hệ của thời gian tăng tốc với trọng lượng đơn vị g 0

t(s) 0-100

Trang 29

Nhờ các đồ thị này có thể cho phép so sánh với các số liệu đã được công

bố trước đây trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2000

Hình 2.3 - Quan hệ Q phụ thuộc vào trọng lượng toàn bộ G tb (ECE)

Các số liệu trong này cho trong một khoảng khá rộng, để có thể so sánh được tài liệu chấp nhận được lấy giá trị trung bình để so sánh

Đường trung bình

Trang 30

Hình 2.4- Quan hệ của thời gian tăng tốc với trọng lượng đơn vị g 0

Các kết quả này sẽ được dùng để so sánh với các kết quả thống kê được Cho thấy sự phụ thuộc của thời gian tăng tốc từ 0 – 100 km/h với việc thay đổi các tay số truyền phụ thuộc vào trọng lượng đơn vị g0 của ô tô với các sản

phẩm ngày nay

Tốc độ ổn định trên ô tô con hiện đại cần đạt được khi sử dụng trên đường

xa lộ Tốc độ này biểu thị khả năng của ô tô thực hiện vớ tốc độ theo tính vận tải kinh tế

Lượng tiêu thụ nhiên liệu Q (l/100km) ở tốc độ làm việc ổn định của ô tô phụ thuộc vào lực cản chuyển động (lực cản gió, lực cản lăn, ), vào trọng lượng toàn bộ Gtb của ô tô

Đường trung bình

Trang 31

Qua so sánh và khảo sát về lượng tiêu thụ nhiên liệu của những năm 1990 đến năm 2000, lượng tiêu thụ nhiên liệu của động cơ xăng giảm tới 50% Ngày nay có thể giảm tới mức chỉ có từ 2 đến 6 lít cho 100 km xe chạy, tuỳ thuộc vào dung tích buồng đốt động cơ Số liệu này sẽ là hiện thực trong tương lai gần

2.3 - Lựa chọn các số lượng kết quả trong thống kê

Việc lựa chon số liệu của các mác xe cần phải đảm bảo tính thống nhất trong quá trình thống kê, đảm bảo các số liệu phân bố tập chung Do vậy đề tài chọn từ hơn 5000 bộ số liệu thống kê, sau đó lựa chọn các số liệu của các loại ô

tô con từ 5 đến 9 chỗ ngồi và rút ra các bộ số liệu thống kê

Để không rơi vào những tình trạng đặc biệt ( những xe đặc dụng thiếu tính chất phổ thông, những xe thử nghiệm, những xe thể thao thương mại) sẽ không được thống kê để tìm hiểu về quy luật phát triển khoa học kỹ thuật

Sau khi thu thập các dữ liệu và đồng bộ các bộ dữ liệu giữa các xe, đề tài

đã chọn được với các bộ số liệu sau đây

Dưới đây là kết quả thống kê với các hãng xe điển hình:

Đối với hãng xe ô tô BMW của Đức số lượng thống kê được;

Bảng 2.1 – Thống kê số lượng xe BMW từ 2001 - 2005

Trang 32

Đối với hãng xe ô tô CITROEN của PHÁP số lượng thống kê được;

Bảng 2.2 – Thống kê số lượng xe CITROEN từ 2001 – 2005

Đối với hãng xe ô tô FORD của MỸ số lượng thống kê được;

Bảng 2.3 – Thống kê số lượng xe FORD từ 2001 – 2005

Đối với hãng xe ô tô MERCEDES-BENZ số lượng thống kê được;

Trang 33

Đối với hãng xe ô tô TOYOTA của NHẬT BẢN số lượng thống kê được;

Tổng số xe 167 xe

Bảng 2.5– Thống kê số lượng xe TOYOTA từ 2001 – 2005

Đối với hãng xe ô tô HYUNDAI của HÀN QUỐC số lượng thống kê được;

Năm 2001 2002 2003 2004 2005

Số lượng

Bảng 2.6– Thống kê số lượng xe HYUNDAI từ 2001 – 2005

Qua thống kê 6 hãng xe ở các nước phát triển về khoa học kỹ thuật về ô tô trong 5 năm là 1351 ô tô con có 5 đến 9 chỗ ngồi ( Một nghìn ba trăm năm mươi mốt xe)

Các số liệu được thu thập đảm bảo khả năng xây dựng các đường cong trung bình

Dưới đây trình bày cách thu thập số liệu và lựa chọn phương pháp xây dựng đường cong trung bình

Trong phần mềm Excel cho phép từ các bộ số liệu dời dạc quy về các đường cong trung bình với các dạng hàm sau đây:

Trang 34

- Đường cong Linear

- Đường cong Logarithmic

- Đường cong Polynomial

- Đường cong Power

- Đường cong Exponential

- Đường cong Moving Average

Sau khi khảo sát, bám sát các giá trị rời rạc hơn cả là đường cong Polynomial với số bậc mũ (2) Đường cong này được lấy ra làm giá trị trung bình cho các tập thông số rời rạc

Một ví dụ cụ thể được trình bày trên hình vẽ bao gồm đồ thị quan hệ của lượng tiêu thụ nhiên liệu với trọng lượng ô tô

Hình 2.7- Lượng tiêu thụ nhiên liệu với trọng lượng ô tô theo trọng lượng

ô tô, với các thông số rời rạc

Quan hÖ cña l−îng tiªu thô nhiªn liÖu Q(l/100km)

2001

Trang 35

Đồ thị quy ra gần đúng của lượng tiêu thụ nhiên liệu với trọng lượng ô tô

Hình 2.8- Lượng tiêu thụ nhiên liệu với trọng lượng ô tô theo trọng lượng

ô tô, với các thông số rời rạc của năm 2001

Quan hÖ cña l−îng tiªu thô nhiªn liÖu Q(l/100km)

MERCEDES

0 2 4 6 8 10

Trang 36

Đồ thị tập hợp các năm từ 2001 đến năm 2005 được biểu diễn trong cùng một đồ thị được mô tả trên hình 2.9

Hình 2.9 - Lượng tiêu thụ nhiên liệu với trọng lượng ô tô theo trọng lượng

ô tô, từ năm 2001 đến năm 2005

Phương pháp này cũng được sử dụng đối với đồ thị thời gian tăng tốc và trọng lượng đơn vị

Quan hÖ cña l−îng tiªu thô nhiªn liÖu Q(l/100km)

MERCEDES

0246810

Trang 37

Hình 2.10 - Quan hệ của thời gian tăng tốc với trọng lượng đơn vị g 0 của

go(daN/kW)

t(s)0-100

2001 2002 2003 2004 2005 2001 2002 2003 2004 2005

Trang 38

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ THỐNG KÊ SỐ LIỆU

Với phương pháp thống kê như đã trình bày trong chương 2 kết quả của đề tài được trình bày theo các nhà sản xuất ô tô cho ô tô con từ 5 đến 9 chỗ ngồi

3.1- Kết quả thống kê với hãng ô tô BMW

a Lượng tiêu thụ nhiên liệu (Q l/100 km) theo trọng lượng ô tô (daN)

Hình 3.1 - Quan hệ của lượng tiêu thụ nhiên liệu Q (l/100 km) của xe

Trang 39

Trên đồ thị hình 3.1 biểu diễn kết quả thống kê về lượng tiêu thụ nhiên liệu Q (l/100 km) của xe ô tô BMW như ta thấy ở đồ thị, từ năm 2001 đến 2005 Với trọng lượng từ 1400 daN đến 1800 daN (1daN ≈ 1kG)

Lượng tiêu thụ nhiên liệu Q (l/100 km) của nhà sản xuất BMW tăng cùng với sự tăng của trọng lượng ô tô Hình dáng đồ thị phù hợp với các thống kê của các năm trước

Nếu so sánh giữa các năm từ 2001 đến 2005, lượng tiêu thụ nhiên liệu được giảm khoảng 14% (lấy với ô tô có trọng lượng 2000 daN) Đây là một lượng tiết kiệm nhiên liệu đáng kể và thể hiện sự tiến bộ về mặt khoa học kỹ thuật trong cấu trúc của ô tô

Với những xe có trọng lượng nhỏ (1400 daN) lượng tiêu thụ nhiên liệu được giảm khoảng 6%

Nhìn chung lượng tiêu thụ nhiên liệu cho 100 km khoảng từ 7,8 đến 8,9 lit/100km như vậy so với những năm 1990 và 2000 theo trên đồ thị ta thấy giảm khoảng từ 2 đến 6 lít cho 100 km xe chạy Nếu so với năm 2001 thì các xe sản xuất năm 2005 giảm khoảng từ 1đến 1,2 lít cho 100 km

b Thời gian tăng tốc (s - giây) với trọng lượng đơn vị (g0- daN/kW)

Trong các thống kê trước đây để thuận lợi cho việc so sánh khi trọng lượng ô tô thay đổi và bố trí động cơ có các công suất khác nhau, sử dụng thông

số trọng lượng đơn vị cho xe con:

G0 = daN/kW

Do vậy các số liệu lấy trong các tài liệu đều xuất phát từ trọng lượng ô tô khi đầy tải và công suất động cơ lớn nhất Sử dụng các thông số đó đề tài tính toán trọng lượng đơn vị g0

Ngày đăng: 24/07/2017, 23:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w