Tuy nhiên do tính chất phức tạp của vấn đề nên phần lớn các tác giả đều phải sử dụng các giả thiết để đơn giản hoá mô hình như: Chỉ nghiên cứu mô hình phẳng, hệ dao động thực tế được chu
Trang 1Trường đại học bách khoa hà nội
***************************
NGUYỄN ANH NGỌC
NGHIấN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC THễNG
SỐ KẾT CẤU ĐẾN DAO ĐỘNG ễ Tễ MINIBUS
ĐểNG TẠI VIỆT NAM
Chuyờn ngành: ễ tụ
Mó số :
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Hà nội 2008
Trang 2lêi nãi §Çu
Ô tô là phương tiện vận tải có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế
quốc dân, vì nó có những ưu điểm đặc hẳn các loại phương tiện vận tải khác như:
thông dụng, đơn giản, dễ sử dụng và có tính cơ động cao được ứng dụng rộng rãi
trong tất cả các lĩnh vực dân sự cũng như quốc phòng Cùng với sự phát triển mạnh
mẽ của khoa học công nghệ, nền công nghiệp ô tô trên thế giới phát triển ngày càng
cao, đã cho ra đời nhiều loại ô tô hiện đại phục vụ cho nhu cầu và mục đích sử dụng
của con người Việc thiết kế các hệ thống, các cụm chi tiết trên ôtô, cũng như đánh
giá chất lượng làm việc của chúng ngày càng được quan tâm nghiên cứu nhằm nâng
cao chất lượng của ôtô
Dao động của ô tô là một vấn đề hiện đang rất cần được quan tâm nghiên cứu
để nâng cao chất lượng khai thác ô tô Hiện nay các phương pháp mô phỏng số đang
được sử dụng rộng rãi để nghiên cứu các cơ hệ, đặc biệt quá trình mô phỏng đã thể
hiện được tính ưu việt cao và nó có thể miêu tả được cả các hệ phi tuyến khi áp
dụng vào mô phỏng hệ dao động của ô tô
Trong thời gian vừa qua đã có rất nhiều tác giả đề cập tới vấn đề nghiên cứu
dao động của ô tô Tuy nhiên do tính chất phức tạp của vấn đề nên phần lớn các tác
giả đều phải sử dụng các giả thiết để đơn giản hoá mô hình như: Chỉ nghiên cứu mô
hình phẳng, hệ dao động thực tế được chuyển thành hệ tuyến tính hoặc phi tuyến
yếu… dẫn tới các kết quả nghiên cứu còn rất nhiều hạn chế Bên cạnh đó, các xe
đóng tại Việt nam đặc biệt là xe chở khách chưa được nghiên cứu sâu về dao động
Xuất phát từ những yêu cầu trên, tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu ảnh
hưởng của các thông số kết cấu đến dao động của ô tô minibus đóng tại Việt
nam” Đề tài đã tập trung vào nghiên cứu mô phỏng hệ dao động của ô tô có xét
đến các yếu tố phi tuyến từ đó làm cơ sở cho việc chọn các thông số kết cấu hợp lý
đảm bảo độ êm dịu chuyển động cho xe Đây là những công việc hữu ích và vô
cùng quan trọng cho việc nghiên cứu dao động của ô tô ở những quá trình thử
nghiệm ban đầu nhằm tiết kiệm thời gian, khối lượng tính toán và giảm chi phí cho
các thí nghiệm đo đạc trên các sản phẩm thử nghiệm trong thực tế
Trong quá trình thực hiện luận văn , tôi đã được PGS_TS.Lưu Văn Tuấn
cùng tập thể cán bộ giảng dạy của bộ môn Ôtô Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội
và các bạn đồng nghiệp tận tình giúp đỡ và chỉ bảo Tôi xin được bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc đối với PGS_TS.Lưu Văn Tuấn và các thày giáo của bộ môn Ôtô và Xe
chuyên dụng Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để
tôi hoàn thành đề tài này
Trang 3Mặc dù đề tài đã đạt được một số kết quả nhất định, tuy nhiên do khả năng
và kinh nghiệm còn hạn chế nên luận văn đã không tránh khỏi những sai sót Rất
mong được sự đóng góp ý kiến chân thành của các Thày giáo, các nhà khoa học,
đồng nghiệp và bạn bè để đề tài được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà nội ngày 10 tháng 11 năm 2008
Học viên
Nguyễn Anh Ngọc
Trang 4CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC THÔNG SỐ KỸ THUẬT CỦA XE
Fqt1T,
Fqt1P N Lực quán tính của khối lượng không được treo trước trái, phải
Ftl1T, Ftl1P N Trọng lực của khối lượng không được treo trước trái, phải
FC1T, FC1P N Lực đàn hồi của hệ thống treo trước trái, phải
Trang 5FK1T, FK1P N Lực cản giảm chấn của hệ thống treo trước trái, phải
Lực cản giảm chấn của bánh xe trước trái, phải
FK2T, FK2P N Lực cản giảm chấn của hệ thống treo sau trái, phải
FCL2T,
FCL2P N Lực đàn hồi của bánh xe sau trái, phải
FKL2T,
FKL2P N Lực cản giảm chấn của bánh xe sau trái, phải
FL1T, FL1P N Lực truyền từ lốp lên cầu trước trái, phải
phải
FL2T, FL2P N Lực truyền từ lốp lên hệ thống treo sau trái, phải
Jx 578 Nms2 Mô men quán tính khối lượng được treo theo trục quay x
Jy 1915 Nms2 Mô men quán tính khối lượng được treo theo trục quay y
theo trục quay x
K1tn 1297,5 Ns/m Hệ số cản của giảm chấn trước khi trả nhẹ
Trang 6K2nm 210 Ns/m Hệ số cản của giảm chấn sau khi nén mạnh
thống treo trước, sau
M1T, M1P Nm Mô men tác truyền từ hệ thống treo trước trái, phải
M2T, M2P Nm Mô men tác truyền từ hệ thống treo sau trái, phải
MT, MP Nm Mô men tác dụng lên thân xe được truyền từ hệ thống treo phía trái, phải
q1T, q1P m Kích động của mặt đường tác động lên lốp trước trái, phải
q2T, q2P m Kích động của mặt đường tác động lên lốp sau trái, phải
Trang 7t s Thời gian dao động
Z m Toạ độ suy rộng của trọng tâm thân xe theo phương thẳng đứng
Z1T, Z1P m Toạ độ điểm treo trước trái, phải với khung xe
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Sự phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt nam
1.1.1 Tình hình phát triển, quan điểm phát triển trong tương lai
Từ khi thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa nền kinh tế Việt nam đã có sự
tăng trưởng mạnh mẽ của các ngành kinh tế, đời sống của nhân dân được nâng cao
Trong xu thế phát triển chung đó ngành công nghiệp ôtô Việt nam cũng không
ngừng phát triển trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn Trong thực tế
ngành công nghiệp ôtô Việt nam đã có từ khá lâu nhưng thực sự mới phát triển
trong vòng 20 năm trở lại đây và phát triển trên cơ sở nội lực liên doanh liên kết
Hiện nay, nền công nghiệp ôtô Việt nam cơ bản gồm có 3 thành phần:
+ Các công ty liên doanh ôtô: Bao gồm các liên doanh của các công ty ôtô
nổi tiếng thế giới như: Liên doanh Toyota Việt nam, Ford Việt nam, Vidamco,
Nissan tính đến năm 2000 có 11 công ty liên doanh Đầu năm 2005 ra đời liên
doanh thứ 12 của hãng Honda xuất hiện với dòng xe CIVIC đã được ưa chuộng trên
thế giới
+ Các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ôtô phát triển trên cơ sở các công ty cơ
khí quốc doanh: Công ty ôtô Hoà Bình, công ty ôtô 1-5, công ty ôtô 3-2
+ Các doanh nghiệp tư nhân: Doanh nghiệp tư nhân Xuân Kiên, Công ty ôtô
Trường Hải, công ty TNHH ôtô Chiến Thắng, MêKông ô tô…
Trong đó có gần 20 cơ sở lắp ráp ôtô, gần 20 cơ sở sản xuất thân xe, rơmooc và hơn
60 cơ sở sản xuất phụ tùng xe
Trong những năm gần đây nền công nghiệp ôtô Việt nam có những chuyển
biến tích cực đó là việc tham gia ngày càng nhiều của các công ty tư doanh, họ cũng
rất mạnh dạn trong việc đầu tư không chỉ trong lĩnh vực lắp ráp mà còn đầu tư trong
việc mua dây chuyền công nghệ của các nước khác như Nhật Bản, Trung Quốc,
Hàn Quốc, như công ty Xuân Kiên, công ty ôtô Chiến Thắng Đồng thời có sự tăng
trưởng mạnh mẽ các nhà máy sản xuất phụ tùng ôtô cung cấp cho các nhà máy lắp
ráp ôtô trong nước và tiến tới xuất khẩu ra thị trường trong khu vực
Mặc dù đã có sự phát triển nhưng cho đến nay thực tế sự phát triển của nền
công nghiệp ôtô Việt nam vẫn là trong lĩnh vực lắp ráp thuần tuý Trong khi đó thì
chất lượng ôtô lại chỉ ở mức trung bình, tỷ lệ nội địa hoá chưa đạt, công nghệ vẫn
còn rất hạn chế Ngoài ra, do nền kinh tế của đất nước đang trên đà phát triển, cơ sở
hạ tầng giao thông ngày càng được cải thiện đáng kể, đời sống của nhân dân càng
ngày càng được nâng cao thì nhu cầu sử dụng ôtô của thị trường trong nước ngày
càng tăng Số lượng xe ôtô đưa vào sử dụng trong những năm qua ngày càng tăng
mạnh tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường trong nước
Trang 9Sau nhiều năm Chính Phủ đã định hình được ở Việt nam có 4 tổng công ty
đầu mối về sản xuất ôtô đó là: VINAMOTOR, VEAM, VINACOAL và
SAIGONMOTOR bao quát tất cả những loại xe cần thiết Để định hướng cho nền
công nghiệp ôtô Việt nam phát triển trong những năm tới Chính Phủ và đặc biệt là
Bộ Công Thương và một số ngành có liên quan đã đưa ra những chính sách, giải
pháp để phấn đấu đến năm 2020 công nghiệp ô tô Việt nam sẽ trở thành một ngành
công nghiệp quan trọng của đất nước có khả năng đáp ứng ở mức cao nhất nhu cầu
của thị trường trong nước, tham gia vào thị trường khu vực và thế giới
1.1.2 Chính sánh nội địa hoá và phát triển công nghiệp ô tô trong nước
a Quan điểm cơ bản về phát triển ngành công nghiệp ôtô:
- Công nghiệp ôtô là ngành công nghiệp quan trọng, cần được ưu tiên phát
triển để phục vụ có hiệu quả trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và củng
cố an ninh quốc phòng của đất nước
- Phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt nam nhằm đáp ứng nhu cầu trong
nước đồng thời tạo động lực cho các ngành công nghiệp hỗ trợ khác phát triển, từng
bước nâng cao khả năng xuất khẩu phụ tùng ôtô sang các nước trong khu vực và thế
giới
- Phát triển ngành công nghiệp ôtô trên cơ sở đẩy mạnh quá trình liên doanh,
liên kết trong nước và phân công hợp tác quốc tế Tổ chức sản xuất theo hướng
chuyên môn hóa cao trên cơ sở hình thành các khu công nghiệp phụ trợ làm vệ tinh
cho các doanh nghiệp lớn sản xuất và lắp ráp ôtô
- Phát triển ngành công nghiệp ôtô với phương châm đi tắt đón đầu trên cơ
sở tiếp thu công nghệ tiên tiến của thế giới kết hợp với việc đẩy mạnh hoạt động
nghiên cứu phát triển trong nước và tận dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết
bị sẵn có nhằm nhanh chóng đáp ứng nhu cầu trong nước
- Phát triển ngành công nghiệp ôtô phải phù hợp với chính sách tiêu dùng của
đất nước và phải đồng bộ với việc phát triển hệ thống hạ tầng giao thông, các yêu
cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường
Để đẩy nhanh quá trình phát triển nền công nghiệp ôtô Việt nam, đồng thời tạo
động lực cho các ngành công nghiệp hỗ trợ khác phát triển thì Bộ Công Nghiệp đã
có những định hướng phát triển cụ thể trong giai đoạn từ nay đến năm 2010 như:
- Tập trung sản xuất các loại ôtô thông dụng và ôtô chuyên dùng hiện đại
đang có nhu cầu lớn trong nước
- Ưu tiên đầu tư vào lĩnh vực sản xuất phụ tùng ôtô, khuyến khích phát triển
những ngành công nghiệp hỗ trợ nhằm phục vụ hiệu quả nhu cầu trong nước và
xuất khẩu phụ tùng ôtô ra nước ngoài
Trang 10- Các dự án sản xuất động cơ ôtô thuộc chương trình cơ khí trọng điểm sẽ
được giao cho các doanh nghiệp nhà nước để đảm bảo tập trung nguồn lực, tránh
phân tán, tạo thuận lợi cho khả năng cung cấp cho thị trường
- Kết hợp phương thức sản xuất lắp ráp ban đầu với việc từng bước nâng cao
khả năng chế tạo trong công nghiệp ôtô Việt nam Khuyến khích tăng tỷ lệ nội địa
hóa trong công nghiệp phụ tùng ôtô
- Trước mắt không phát triển thêm các doanh nghiệp sản xuất ôtô cao cấp
Các doanh nghiệp trong nước sản xuất và lắp ráp ôtô khi xây dựng các dự án đầu tư
mới đều phải thực hiện đầy đủ các nguyên tắc lựa chọn các dự án đầu tư đã được
xác lập trong Quy hoạch phát triển công nghiệp ôtô 2005, tầm nhìn 2010
- Coi trọng đầu tư vào khâu tư vấn thiết kế và chuyển giao công nghệ trong
công nghiệp ôtô nhằm nâng cao năng lực cho ngành, đẩy mạnh công tác xúc tiến
thương mại để hỗ trợ và khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu phụ tùng ôtô
b Mục tiêu phát triển:
Phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt nam trên cơ sở tiếp thu và ứng dụng
công nghệ tiên tiến của thế giới kết hợp khai thác và từng bước nâng cao công nghệ
và thiết bị hiện có, đáp ứng phần lớn nhu cầu thị trường về phụ tùng và ôtô trong
nước, hướng tới xuất khẩu phụ tùng và ôtô
- Về các loại xe thông dụng (xe tải nhỏ, xe khách, xe con…): Đạt tỷ lệ nội
địa hoá 60% và đáp ứng trên 80% nhu cầu trong nước về số lượng vào năm 2010
(riêng phần động cơ phấn đấu đạt tỷ lệ nội địa hoá 50% và hộp số đạt 90%)
- Về các loại xe chuyên dùng: Đạt tỷ lệ 60% tỷ lệ nội địa hoá và đáp ứng
khoảng 60% nhu cầu trong nước về số lượng
- Các loại xe du lịch do liên doanh hoặc doanh nghiệp trong nước sản xuất
đạt tỷ lệ nội địa hoá là 40-45% vào năm 2010
- Các loại xe xe tải, xe khách cao cấp đạt tỷ lệ nội địa hoá 35-40% và đáp
ứng 80% nhu cầu thị trường trong nước vào năm 2010
- Đồng thời phấn đấu xuất khẩu phụ tùng ôtô đạt 5-10% giá trị tổng sản
lượng của ngành vào năm 2010 và nâng dần giá trị kim ngạch xuất khẩu cho đến
giai đoạn tiếp theo
Ngoài những yêu cầu đạt ra cho ngành công nghiệp sản xuất ôtô Việt nam thì Chính
Phủ có những giải pháp và chính sách hỗ trợ sau:
+ Các chính sách về thuế đối với ôtô, linh kiện phụ tùng ôtô
+ Các chính sách và giải pháp về thị trường
+ Bảo vệ thị trường
Trang 11+ Tạo lập thị trường
+ Các chịnh sách và giải pháp về đầu tư
+ Chính sách và giải pháp về khoa học và công nghệ
+ Chính sách và giải pháp về nguồn nhân lực
+ Các chính sách và giải pháp về huy động vốn
+ Các chính sách và giải pháp về quản lý ngành
+ Tổ chức thực hiện
c Đặc điểm thị trường ôtô Việt nam:
Thị trường ôtô Việt nam có thể chia làm 2 loại cơ bản như sau:
- Với thị trường xe du lịch: Đây là thị trường có yêu cầu rất cao đòi hỏi xe
phải có chất lượng cao kiểu dáng đẹp, tiện nghi hiện đại vì xe phục vụ cho du lịch
và mục đích trang trí vui chơi Thị trường này dành cho giới thượng lưu và các cơ
quan doanh nghiệp chuyên chỉ phục vụ cho công việc đi lại của lãnh đạo nên nhu
cầu ngày càng phát triển mạnh khi nền kinh tế phát triển Nhưng trong điều kiện
hiện nay thì khi công nghệ của các nhà máy ôtô Việt nam chưa thể đáp ứng được
yêu cầu thì thị phần này chủ yếu dành cho các công ty liên doanh với nước ngoài có
công nghệ tiên tiến và xe nhập khẩu
- Với thị trường xe thương mại: Xe phục vụ cho mục đích kinh doanh vận tải
như: xe bus, xe vận tải hàng hoá, xe chuyên dùng Đây được đánh giá là thị trường
nhiều tiềm năng và rộng lớn, đồng thời có thể coi là vừa sức với các nhà máy ôtô
Việt nam trong giai đoạn hiện nay Trong xu thế dịch vụ vận tải hành khách công
cộng và dịch vụ vận tải hàng hoá ngày càng cao, đặc biệt là loại hình xe bus và xe
vận tải cỡ nhỏ phù hợp cho các vùng đô thị và nông thôn vận tải cung đường ngắn,
số lượng ít Hàng năm có hàng nghìn xe hết niên hạn sử dụng theo nghị định
23/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ và lộ trình xe quá “đát” Từ 1/1/2005 sẽ
loại bỏ 16.600 xe tải và hơn 6.600 xe khách, con số này tiếp tục tăng nên trong
những năm tới, đặc biệt là chủ trương loại bỏ hoàn toàn xe công nông, bông sen trên
toàn quốc vào năm 2007 của Chính phủ đòi hỏi một lượng không nhỏ xe tải nhỏ, xe
khách để thay thế Đây là một thị trường đầy sức hấp dẫn để công nghiệp ôtô Việt
nam đầu tư phát triển chiếm lĩnh thị trường đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước và
doanh nghiệp tư nhân
Theo dự báo của Bộ công nghiệp đến năm 2010, nhu cầu ôtô của Việt nam sẽ
vào khoảng 100000 xe/năm Để thực hiện mục tiêu này, Bộ công nghiệp đang soạn
thảo kế hoạch phát triển ngành ôtô Việt nam Theo đó, Bộ sẽ kiến nghị với Chính
phủ cho vay ưu đãi đối với các doanh nghiệp đầu tư sản xuất ôtô giá rẻ, giảm thuế
nhập khẩu đối với các linh kiện mà trong nước chưa sản xuất được
Tóm lại thị trường ôtô Việt nam là thị trường mở, đầy tiềm năng có tác động
tích cực thúc đẩy ngành sản xuất ôtô Việt nam đầu tư phát triển, đặc biệt là đầu tư
Trang 12phát triển các nhà máy sản xuất, lắp ráp xe Minibus và xe tải nhỏ đáp ứng nhu cầu
thị trường trong nước và tiến tới xuất khẩu sang khu vực và thế giới
1.2 Tổng quan về nghiên cứu dao động ô tô
1.2.1 Các nghiên cứu về dao động của ô tô trong nước
Ngành công nghiệp ô tô Việt nam đang trong quá trình hình thành và phát
triển dần trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn hàng đầu của đất nước Những
năm vừa qua Ô tô Việt nam không ngừng vươn lên đạt được những thành tựu mới
để có thể hội nhập với khu vực và thế giới Chủ trương hiện nay của chính phủ đưa
ra là tăng tỷ lệ nội địa hóa trong các sản phẩm đã và đang chế tạo dần tiến tới chế
tạo được các sản phẩm mang thương hiệu Việt nam, đây là xu thế mà các nhà
nghiên cứu và sản xuất ô tô Việt nam cần quan tâm Theo bản đồ quy hoạch và phát
triển ngành công nghiệp ôtô Việt nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020 thì Việt nam
phải phấn đấu đến năm 2020 đạt tỷ lệ nội địa hoá trên 50% đối với hầu hết các
chủng loại, sản phẩm ô tô và phấn đấu xuất khẩu ô tô, phụ tùng đạt mức 5-10% giá
trị tổng sản lượng của ngành Tuy nhiên để đạt được mục tiêu đó thì trước mắt có
quá nhiều việc để làm (hiện tại tỉ lệ nội địa hoá chưa đạt được 20%), một trong
những việc đó là nghiên cứu sâu hơn về hệ thống dao động của ô tô, độ êm dịu cũng
như chất lượng động học và động lực học của xe nhằm thu được thuộc tính tối ưu
Từ những thực tế đó, đã có các đề tài thuộc chuyên ngành ô tô đề cập đến
vấn đề dao động của ô tô như: Luận văn tiến sỹ của tác giả Lưu Văn Tuấn [4] đã đề
ra mục tiêu nâng cao độ êm dịu cho xe khách Ba Đình đóng trên cơ sở IFA Trong
luận văn này tác giả đã chú ý mô tả thuộc tính đàn hồi giữa khung và vỏ là kết cấu
đặc trưng của xe ca: xe ca có kết cấu khung - vỏ chịu lực
Luận văn tiến sỹ của tác giả Võ Văn Hường [5] “Nghiên cứu hoàn thiện
mô hình khảo sát dao động ôtô tải nhiều cầu” Tác giả đã nghiên cứu sâu về lập
mô hình dao động không gian cho xe tải có yếu tố dao động ngang, khung xoắn
chịu lực, thanh ổn định, hệ thống treo có đặc tính phi tuyến, hàm kích động riêng rẽ
và tổng hợp Mô hình có thể nghiên cứu các dao động ở vùng cận biên như tách
bánh xe, quá trình va chạm vấu hạn chế hành trình, trượt và lật
Luận văn của tác giả Nguyễn Phúc Hiểu [6] “Nghiên cứu ảnh hưởng của
dao động lên khung xương ôtô khi chuyển động trên đường” Tác giả chú trọng
nghiên cứu ảnh hưởng của đường và xác định các hàm ngoại lực cho bài toán tính
khung - xương
Tác giả Trịnh Minh Hoàng [7] trong luận văn cao học đã trình bày một mô
hình dao động xe tải hai cầu (không gian) và mô phỏng bằng MatLab Simulink 5.3
Phần mô hình và tính toán khá hoàn chỉnh, đã trình bày một phần dao động dưới
kích động ngẫu nhiên của mặt đường
Tác giả Nguyễn Văn Lộc [8] “Nghiên cứu ảnh hưởng của các đặc tính phi
tuyến của hệ thống treo đến dao động của ô tô” trong luận văn của mình tác giả đã
đưa vào rất nhiều các đặc tính phi tuyến của hệ thống treo, các giả thiết xây dựng
mô hình dao động của tác giả tương đối sát với thực tế
Trang 13Luận văn Thạc sỹ của tác giả Đặng Việt Hà [10] “Nghiên cứu ảnh hưởng
của các thông số kết cấu đến điều kiện làm việc của ô tô và độ êm dịu chuyển
động” cũng đã chú ý đến sự ảnh hưởng của các thông số kết cấu đến dao động của
xe khách đóng trên nền xe tải
Nhìn chung các đề tài đã tập trung vào việc khảo sát dao động xe theo quan
điểm độ êm dịu và an toàn chuyển động, thực hiện bài toán tính toán kiểm nghiệm
Các kết quả thu được làm cơ sở để lựa chọn lựa và cải tiến hệ thống treo cho phù
hợp với điều kiện Việt nam
1.2.2 Nghiên cứu về dao động của ô tô trên thế giới
Việc nghiên cứu dao động ôtô bắt đầu rất sớm, ngay cả khi ôtô còn rất đơn
giản Một số tác giả kinh điển có thể kể đến là Trudakôp, Rotenbeg, Iachenko,
Mitschke, Schiehlen Lần đầu tiên vào năm 1970 Mitschke đã tập trung vào tác
phẩm nổi tiếng "Dynamik der Kraftfahrzeuge" tập hợp tất cả các công trình nghiên
cứu trước đó, bao gồm 200 trích dẫn Nội dung chính là dao động xe con, mô hình
là mô hình 1/4 và được xem xét ở các yếu tố kết cấu có ảnh hưởng đến dao động và
tối ưu hệ treo Sau đó, tác giả đề cập chỉ tiêu đánh giá dao động ôtô, cách tiếp cận
mang tính cổ điển Những năm sau này, đến năm 1980 Schiehlen trình bày phương
pháp hệ nhiều vật Ngoài ra, máy tính cũng phát triển và các thuộc tính của cụm như
hệ treo, bánh xe cũng được nghiên cứu sâu hơn tuy nhiên các nghiên cứu đó vẫn tập
trung chủ yếu vào xe con
Ngày nay trên thế giới các nghiên cứu về dao động của ô tô đã đạt được
nhiều thành tựu đáng kể Dao động ô tô được nghiên cứu trong tổng thể hệ thống
“Đường - Xe - Người” Để nghiên cứu riêng biệt và tổng thể mối quan hệ vừa nêu,
các hãng sản xuất ô tô và các cơ quan chuyên môn hàng đầu trên thế giới đã thiết
lập các phòng thí nghiệm, xây dựng các bãi thử để nghiên cứu dao động của ô tô,
trong đó có kể đến biên dạng thực tế của mặt đường và khả năng của con người chịu
tác động của dao động
Hướng chung của nghiên cứu hệ thống tổng thể “Đường - Xe - Người” được chia
thành 3 hướng:
- Nghiên cứu về biên dạng mặt đường (nguồn gây ra dao động)
- Nghiên cứu hệ dao động ô tô (hệ thống treo )
- Nghiên cứu cảm giác của con người và sự an toàn hàng hoá chuyên chở
a Nghiên cứu biên dạng mặt đường:
Thường được tiến hành bằng thực nghiệm kết hợp với xử lý bằng lý thuyết,
các tác giả đã đưa ra đặc tính thống kê của biên dạng mặt đường đồng thời đưa ra
các giải pháp và công thức tính toán phân tích dao động của xe bằng phương pháp
xác định và phân tích phổ cho các loại đường khác nhau
Trang 14b Nghiên cứu dao động của ô tô:
Là cần thiết với mục đích hoàn thiện kết cấu hệ thống treo, nhằm mục đích
cải thiện độ êm dịu chuyển động, chất lượng kéo, tính kinh tế, tính dẫn hướng và độ
ổn định chuyển động, độ bền và độ tin cậy của ô tô đặc biệt đối với xe hiện đại là
một việc không thể thiếu được Vì vậy nghiên cứu dao động của ô tô là xác lập mối
quan hệ dao động của ô tô với chỉ tiêu chất lượng khai thác ở trên
Nghiên cứu dao động của ô tô được tiến hành bằng nhiều phương pháp khác
nhau được trình bày cụ thể trong các công trình khoa học của tác giả nổi tiếng của
Nga: H.H.Iachenko theo những mục đích và khía cạnh khác nhau Nhưng đều chung
một bài toán cơ bản là khi nghiên cứu dao động của ô tô là làm rõ ảnh hưởng của sự
thay đổi các thông số của hệ phương trình vi phân mô tả chuyển động của cơ hệ dao
động Trên cơ sở như vậy kết hợp với số liệu thử nghiệm và các số liệu sử dụng tiến
hành chuyển bài toán phân tích sang bài toán tối ưu các thông số của hệ ô tô dao
động đang khảo sát
Tóm lại, khi nghiên cứu dao động của ô tô các tác giả đã tập trung xác định
các thông số hợp lý của hệ thống, tạo cơ sở cho việc thiết kế hoàn thiện các phần tử
của hệ thống treo bao gồm các bộ phận chính là:
- Bộ phận dẫn hướng
- Bộ phận đàn hồi
- Bộ phận giản chấn
Từ việc không ngừng cải tiến các phần tử và bộ phận của hệ thống treo, hiện
nay trên các xe hiện đại đã có những hệ thống treo được tối ưu hoá cả về mặt thông
số và kết cấu, từ treo thụ động đến treo tích cực, treo có điều khiển đến hệ thống
treo bán tích cực
c Nghiên cứu cảm giác con người:
Trong ô tô là việc khó khăn hơn việc xác định an toàn cho hàng hoá chuyên
chở Trong một số sách tham khảo, nhiều tác giả đã đề cập đến vấn đề khi đi ô tô
con người sẽ cảm thấy mệt mỏi nhất là thần kinh Vì vậy cần thiết nghiên cứu sự
mệt mỏi về thể xác, các chỉ tiêu đánh giá cho từng nhóm người theo từng độ tuỏi
khác nhau Ngoài ra còn phải nghiên cứu sự phản ứng của các cơ quan, bộ phận trên
cơ thể con người liên quan đến việc điều khiển xe, từ đó tạo cơ sở cho công việc
tuyển chọn lái xe ô tô
Hiện nay người ta tập trung vào hai hướng nghiên cứu con người: Lái xe
điều khiển ô tô trên đường và hành khách chịu dao động Cả hai hướng này ngày
càng được quan tâm nghiên cứu và hoàn thiện hơn
Trang 151.3 Nhiệm vụ và phương hướng nghiên cứu của luận án
Vấn đề nghiên cứu dao động ô tô là vô cùng quan trọng và hết sức phức tạp,
đề cập đến nhiều lĩnh vực Trong khuân khổ của một luận án thạc sỹ khoa học
chúng tôi tập trung nghiên cứu các vấn đề cư bản sau đây
1.3.1 Nghiên cứu các chỉ tiêu đánh độ êm dịu chuyển động
Trên cơ sở các chỉ tiêu đánh giá độ êm dịu chuyển động của các tác giả nước
ngoài và kết quả của các công trình nghiên cứu trong nước về ảnh hưởng của dao
động đến sức khoẻ của con người Việt nam, đề ra các chỉ tiêu hợp lý để đánh giá độ
êm dịu chuyển động của xe minibus đóng tại Việt nam Các chỉ tiêu này phải thoả
mãn các yêu cầu sau:
- Phù hợp với sức khoẻ và thể trạng của người Việt nam
- Phải thuận tiện trong việc tính toán thiết kế cũng như kiểm nghiệm đánh
giá
- Phải phù hợp với điều kiện của nước ta nhưng không được lạc hậu quá so
với thế giới
1.3.2 Xây dựng mô hình và thiết lập hệ phương trình vi phân mô tả dao động
Được sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn chúng tôi chỉ xây dựng mô hình
dao động cho xe minibus 8 chỗ ngồi MEFA5-LAVI-304N sản xuất, lắp ráp tại Việt
nam Khung vỏ xe là một khối liền trên đó có bắt các cụm được treo, hệ thống treo
trước là hệ thống treo độc lập kiểu treo McPherson và hệ thống treo sau là phụ
thuộc Mô hình dao động chúng tôi chọn là mô hình không gian bao gồm các khối
lượng liên kết với nhau bằng các phản lực liên kết
Trên cơ sở mô hình dao động tương đương chúng tôi áp dụng nguyên lý
D’Alambe để tiến hành lập hệ phương trình vi phân biểu diễn dao động Hệ bao
gồm 7 phương trình vi phân mô tả dao động
1.3.3 Mô phỏng dao động
Sử dụng phần mềm Matlab-Simulink 7.0 để mô phỏng biểu diễn dao động
của xe với kích động từ mặt đường được đo từ thực tế đoạn đường Hà nội - Lạng
sơn Trong quá trình mô phỏng, đề tài đã đưa vào các yếu tố phi tuyến để đưa mô
hình sát gần với thực tiễn Phần mềm Matlab-Simulink là một phần mềm rất mạnh
trong việc tính toán số học và mô phỏng, do đó kết quả trả ra là hết sức tin cậy và
nhanh chóng Bên cạnh đó, phần mềm còn cho phép dễ dàng can thiệp vào bên
trong để có thể thay đổi các thông số sau đó xem xét ảnh hưởng của nó đến các kết
quả
Khi có kết quả là các thông số dao động, chúng tôi tiến hành thay đổi các
thông số đầu vào để xác định ảnh hưởng của các thông số kết cấu và điều kiện làm
việc đến độ êm dịu chuyển động
Trang 16CHƯƠNG 2 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ ĐỘ ÊM DỊU CHUYỂN ĐỘNG
2.1 Ảnh hưởng của dao động tới cơ thể con người và xe cộ
Khi ô tô chuyển động trên đường dao động xuất hiện trong toàn bộ hệ thống
của xe dưới tác động kích thích của các mấp mô biên dạng đường Dao động của ô
tô ảnh hưởng đến bản thân người lái và hành khách, hàng hoá chuyên chở trên xe,
độ bền, tuổi thọ của các kết cấu ô tô Do đó, khi thiết kế hay lựa chọn các kết cấu
của hệ thống treo cần quan tâm đặc biệt đến các chỉ tiêu đánh giá độ êm dịu chuyển
động cho xe khi chạy trên đường
2.1.1 Những ảnh hưởng của dao động lên cơ thể con người
Khi ngồi trên ô tô, cơ thể người tiếp xúc với nguồn rung động sẽ thực hiện các
dao động riêng tắt dần và dao động cưỡng bức Những dao động này có tác dụng
sinh học phức tạp gây biến đổi về tâm, sinh lý trong cơ thể, nếu kéo dài sẽ gây nên
các tổn thương thậm chí bệnh tật cho cơ thể Tuỳ thuộc vào một số yếu tố như: Thời
gian tiếp xúc với nguồn rung, vị trí tác động, tính chất của nguồn rung (có qui luật
hay ngẫu nhiên, gián đoạn hay liên tục, ), giá trị các đại lượng đặc trưng cho rung
động (tần số, biên độ, vận tốc ) mà ảnh hưởng của rung động đối với cơ thể con
người là rất khác nhau Nói chung, ảnh hưởng của rung động đối với cơ thể con
người được chia làm hai loại chính: Ảnh hưởng của rung toàn thân và ảnh hưởng
của rung cục bộ
a Ảnh hưởng của rung toàn thân:
Ảnh hưởng của rung toàn thân có nghĩa là rung động tác động lên cơ thể người
làm cho toàn bộ cơ thể bị rung động (đối với người ngồi hoặc đứng trên xe) Các kết
quả từ các nghiên cứu của các nhà y học vệ sinh lao động cho thấy rằng khi toàn
thân dao động với tần số 1 Hz thì các cơ quan nội tạng gần như không xê dịch tương
đối với nhau, cả cơ thể cùng dao động như một khối thống nhất Còn nếu tần số dao
động nằm trong khoảng từ 2 – 20 Hz thì hiện tượng cộng hưởng công suất xuất hiện,
gây tác động mạnh lên cơ thể người ngay cả khi tần số không cao Cụ thể với các
dao động theo phương thẳng đứng như sau:
- Với tần số từ 3-5 Hz gây ra các phản ứng ở các cơ quan tiền đình, gây ra các
rối loạn có liên quan đến sự lưu thông máu, gây chóng mặt, tăng huyết áp,
- Với tần số từ 5-11 Hz gây ra rối loạn ở đường tai trong làm giảm thính giác,
ảnh hưởng đến dạ dày, gan, cơ quan tiêu hoá
- Dao động với tần số cao hơn còn làm giảm thị lực, gây chóng mặt, buồn
nôn
Tuy nhiên giới hạn của các tác động này đối với từng người là khác nhau và thay
đổi trong một khoảng rộng
Trang 17Mặc dù dao động của ô tô rất phức tạp nhưng có thể chia thành dao động và
rung động Dao động có thể cảm nhận được và trực tiếp gây ra khó chịu cho con
người trong một khoảng thời gian ngắn Còn rung động có thể gây tác hại đến sức
khoẻ trong thời gian dài Nhìn chung các dao động và rung động tác dụng lên hệ
thống sinh lý của con người không đồng nhất
Mặt khác, người ngồi trên ô tô khi dao động sẽ chịu những tác động truyền
thẳng lên xương sống hầu như không qua các chi dưới Trong tư thế đứng thì tác
động của các dao động sẽ bị yếu đi bởi các khớp xương chi dưới Chúng ta biết rằng
xương sống bao gồm 24 đốt sống, chúng được nối với nhau bằng các đĩa đệm làm
xương trở lên đàn hồi và có hệ số tắt chấn lớn Các dao động mà con người chịu
trong tư thế ngồi bắt buộc sẽ làm thương tổn cột sống mà chủ yếu là các đĩa đệm,
đặc biệt là đĩa đệm ở đốt sống cuối Các đĩa đệm sẽ bị lệch hoặc bị mỏng đi làm
chèn ép các bó dây thần kinh và gây đau dây thần kinh hông to (dây thần kinh toạ)
Ngoài ra tác động của dao động sẽ làm các gai ở đốt sống dài ra và hậu quả cũng
gây chèn ép các bó dây thần kinh Những chuyên gia về bảo hộ lao động cũng cho
rằng liên hệ xương cơ của cơ thể con người có tính đàn hồi và tắt dần không tuyến
tính Hơn thế nữa đặc tính này thay đổi trong quá trình dao động có nghĩa là cơ thể
là một hệ dao động không ngừng Con người có đặc tính tự điều chỉnh trong một
phạm vi nhất định, có nghĩa là có khả năng làm thay đổi các thông số của mình để
làm các tác động của dao động giảm đi theo thời gian Điều này có thể đạt được
bằng cách thay đổi các tư thế ngồi, co duỗi các cơ, khớp
b Ảnh hưởng của rung cục bộ:
Ảnh hưởng của rung cục bộ là những tác động của rung động gây ra và chỉ làm
cho từng bộ phận của cơ thể bị rung động Nói chung ảnh hưởng này không tác
động nhiều đến hành khách ngồi trên xe mà chỉ co ảnh hưởng tới người lái xe do
dao động của vô lăng tác động trực tiếp đến tay Mặt khác dao động của ghế ngồi và
của vô lăng là có khác nhau nên lái xe là đối tượng nghiên cứu trong trường hợp
chịu ảnh hưởng của rung cục bộ Nhiều công trình nghiên cứu đã nghiên cứu tới các
vấn đề là thiết kế ghế lái và bao tay cho những công nhân lái máy kéo, xe chuyên
dùng để làm giảm thiểu tác động của rung cục bộ
2.1.2 Ảnh hưởng của dao động đến độ bền và độ an toàn chuyển động
Dao động không chỉ ảnh hưởng đến sức khoẻ con người mà còn ảnh hưởng
đến các yếu tố như: Chất lượng hàng hoá chuyên chở, độ bền của các chi tiết trên
xe, độ an toàn khi chuyển động (phanh, lái),
Đối với chất lượng hàng hoá chuyên chở, ảnh hưởng của dao động là rất rõ rệt
Tuy nhiên do số chủng loại hàng hoá được chuyên chở bằng ô tô là rất lớn, do vậy
không thể thiết kế một xe có độ êm dịu thoả mãn đảm bảo chất lượng cho tất cả các
loại hàng hoá Do vậy khi chuyên chở thì người vận chuyển phải căn cứ vào tính
chất dao động của xe, đặc tính của hàng hoá mà có sự gia cố hàng hoá cũng như
chọn tốc độ chuyển động của xe thích hợp sao cho chất lượng hàng hoá được đảm
bảo trong quá trình vận chuyển
Trang 18Đối với độ bền các chi tiết của ô tô, ảnh hưởng rõ rệt nhất là đối với khung vỏ
Khi dao động, gia tốc dao động sẽ tạo ra các lực quán tính tác dụng lên các chi tiết
Ngoài ra đối với vỏ ô tô khi rung động với tần số cao nhiều phần của vỏ ô tô sẽ bị
cộng hưởng, hiện tượng này làm hư hỏng vỏ như nứt, thậm chí có thể xé rách vỏ
Khi ô tô chuyển động, độ êm dịu chủ yếu phụ thuộc vào các thông số kết cấu
của hệ thống treo như độ cứng của lò xo, hệ số cản của giảm chấn bên cạnh đó bản
thân hệ thống treo khi làm việc cũng phải tuân theo những điều kiện nhất định Do
vậy rất có thể khi lựa chọn các thông số của hệ thống treo thoả mãn tối đa độ êm dịu
thì lại không đảm bảo sự làm việc của hệ thống treo Ví dụ như để cho xe chuyển
động êm dịu thì cần phải chọn độ cứng của hệ thống treo nhỏ, dẫn đến khi làm việc
độ võng động của hệ thống treo quá lớn gây va đập lên khung xe Sự va đập này
không chỉ làm ảnh hưởng đến độ bền của hệ thống treo mà còn làm giảm độ êm dịu
chuyển động
Trong quá trình chuyển động, do dao động có thể xảy ra trường hợp bánh xe bị
nhấc khỏi mặt đường (tách bánh) Khi đó độ an toàn chuyển động của xe lúc này
giảm xuống (do độ bám giảm gây ảnh hưởng tới hệ thống phanh và hệ thống lái),
thậm chí có thể gây ra tai nạn giao thông Đối với bánh xe chủ động khi bị nhấc khỏi
mặt đường làm ảnh hưởng rất lớn đến hệ thống truyền lực, gây mòn lốp, tiêu hao
nhiên liệu tăng lên
2.2 Các chỉ tiêu đánh giá độ êm dịu chuyển động của ô tô
Lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá độ êm dịu chuyển động đóng vai trò hết sức
quan trọng trong việc nghiên cứu dao động của ô tô Do đó, khi thiết kế ô tô, lựa
chọn hay tính toán các thông số liên quan đến dao động đều phải xuất phát từ chỉ
tiêu đánh giá độ êm dịu chuyển động của ô tô Tuy nhiên việc lựa chọn các chỉ tiêu
đánh giá độ êm dịu chuyển động lại không phải dễ dàng Về mặt nguyên tắc, trước
hết phải dựa vào những đặc tính nhân chủng học, các đặc điểm tâm sinh lý của con
người Việt nam (thể hiện bằng các thông số thống kê, đo đạc và thực nghiệm) Tiếp
đó, nó phải phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế, khoa học kỹ thuật bởi vì
chúng liên quan đến các dụng cụ đo, trình độ thí nghiệm, trình độ sản xuất Ở các
nước trên thế giới cũng vậy, các nước có trình độ phát triển khác nhau thì lựa chọn
các chỉ tiêu đánh giá không hoàn toàn giống nhau
Các tính chất dao động của ô tô trong nước cũng như trên thế giới thường
được đánh giá theo 2 quan điểm:
- Đánh giá theo quan điểm về độ êm dịu chuyển động mà thông số gia tốc
dao động có tính chất quyết định vì nó tác dụng lên người lái và hành khách
- Theo quan điểm về độ an toàn chuyển động và tải trọng tác dụng xuống nền
thì giá trị tải trọng động giữa bánh xe và nền đường là thông số mang tính chất
quyết định
Vì vậy khi nói đến dao động của ô tô theo quan điểm êm dịu chuyển động thì
độ êm dịu chuyển động của ô tô có thể hiểu là tập hợp các tính chất đảm bảo hạn
Trang 19chế các tác động của dao động có ảnh hưởng xấu tới con người, hàng hoá và các kết
cấu của ô tô
Theo quan điểm về an toàn chuyển động thì dao động của ô tô gây ra sự thay
đổi giá trị phản lực pháp tuyến giữa bề mặt tiếp xúc của bánh xe với mặt đường
Nếu giá trị phản lực pháp tuyến giảm so với trường hợp tải trọng tĩnh thì sẽ làm
giảm khả năng tiếp nhận các lực dọc, ngang (lực kéo, lực phanh, lực bám ngang),
dẫn đến hiện tượng tách bánh khỏi đường gây mất an toàn khi xe chuyển động,
phanh và quay vòng còn khi giá trị phản lực này tăng thì sẽ làm tăng tải trọng
động tác dụng xuống nền đường và các kết cấu của xe
Quá trình nghiên cứu dao động của ô tô là quá trình xác định các thông số của
hệ thống treo, tạo cơ sở cho việc thiết kế các phần tử của chúng: phần tử đàn hồi,
phần tử giảm chấn và bộ phận dẫn hướng Có như vậy mới tạo ra một hệ dao động
có chất lượng tốt, các kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao trình độ công nghệ
thiết kế, cải tiến ô tô, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng và năng suất vận chuyển
của ô tô trong nền kinh tế quốc dân
Để đánh giá độ êm dịu chuyển động của ô tô, các nước có nền công nghiệp ô
tô phát triển hàng đầu trên thế giới đã đưa đưa ra các chỉ tiêu đánh giá độ êm dịu
khác nhau Dựa vào các công trình nghiên cứu của nước ngoài và các tài liệu của
viện khoa học kĩ thuật bảo hộ lao động Việt nam, đưa ra một số chỉ tiêu đặc trưng
cho độ êm dịu chuyển động của ô tô như sau:
2.2.1 Chỉ tiêu về tần số dao động
Con người khi tham gia vào giao thông cũng là một hệ dao động, đi lại là hoạt
động thường xuyên của con người đã trở thành một thói quen Khi con người đi lại
tương đương với hệ thực hiện dao động, tuỳ thuộc vào hình dáng, trọng lượng riêng,
thói quen từng người mà số lần bước trong một phút thường trong khoảng 60-90
bước, tương ứng với tần số dao động khoảng 1-1,5Hz Vậy nên từ thói quen đó con
người chịu dao động hợp lý trong khoảng tần số vừa nêu trên Khi đánh giá độ êm
dịu chuyển động của ô tô với các điều kiện mặt đường cũng như kết cấu cụ thể thì
tần số dao động của ô tô phải nằm trong giới hạn 1-1,5 Hz, thường lấy chuẩn để
đánh giá dao động của ô tô như sau:
- Đối với xe con (du lịch): n = 60 - 90 (dao động/phút)
- Đối với xe vận tải: n = 85 - 120 (dao động/phút)
2.2.2 Chỉ tiêu về sự dịch chuyển tương đối của sàn xe
Khi xe chuyển động trên đường thì sàn xe luôn có sự dịch chuyển theo
phương thẳng đứng, biên độ dịch chuyển sẽ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như độ
cứng của hệ thống treo, mức tải, biên dạng mấp mô của đường Do đó khi đánh giá
về chỉ tiêu này người ta đưa ra giá trị cho phép của độ lệch quân phương sàn xe
[DZ] trong điều kiện đường xá Việt nam đối với loại xe minibus:
[DZ]≤ 2.10-2 (m)
Trang 20Khi giá trị này tăng, sẽ làm tăng khả năng va chạm của sàn xe và làm giảm
độ êm dịu của chuyển động gây ảnh hưởng lớn đến hành khách và hàng hóa trên xe
cũng như độ bền của các chi tiết trên xe
Độ lệch quân phương của dịch chuyển sàn xe nói riêng và của các thông số
khác như gia tốc dịch chuyển, góc lắc thân xe, dịch chuyển của khối lượng không
được treo được xác định như sau:
- Phương sai của thông số đo theo “Xác suất thống kê và quy hoạch thực
nghiệm” [3] được xác định như sau:
fi_ Tần suất của thông số có giá trị xi
xi_ Giá trị của thông số thứ i
1
1 n
i i
Trang 212.2.3 Chỉ tiêu về gia tốc dao động
Chỉ tiêu này được xác định dựa trên cơ sở trị số bình phương trung bình của
gia tốc theo các phương X, Y, Z là: X& , & ,Y&Z&
Các giá trị này được tính tương tự như trong phần 2.2.2 đã giới thiệu, giá trị
cho phép của chúng nằm trong khoảng:
X&& < 1 , 0 (m / s2)
Y&& < 0 , 7 (m / s2)
Z&<2,5 (m / s2)
Các số liệu trên có thể xem là gần đúng để đánh giá độ êm dịu chuyển động
của ô tô, bởi vì nó dựa trên cơ sở số liệu thống kê Mặt khác, điều quan trọng hơn là
dao động ô tô truyền cho con người thực chất là tác động ngẫu nhiên với dải tần số
rộng và phức tạp cả theo hướng tác dụng Ngoài ra theo một số tài liệu tham khảo
các tác giả còn đưa ra một số chỉ tiêu khác đánh giá độ êm dịu chuyển động của ô
tô
Ngoài ra người ta còn đưa ra số lần va đập do độ mấp mô của mặt đường gây
ra trong 1 km đường chạy để đánh giá độ êm dịu chuyển động của xe khi đi trên
đường thực tế Khi số lần va đập này quá lớn sẽ mất êm dịu chuyển động đồng thời
ảnh hưởng tới tuổi thọ và độ bền của các chi tiết trong hệ thống treo
2.2.4 Chỉ tiêu về an toàn chuyển động và tải trọng tác dụng xuống nền đường
Theo quan điểm về an toàn chuyển động (xét theo khía cạnh về tính điều
khiển) và tải trọng tác dụng xuống nền đường thì trị số lực tác dụng thẳng đứng
giữa bánh xe với đường cũng là thông số quan trọng để đánh giá Lực động F d (t)
xác định phức tạp hơn vì nó phụ thuộc vào tính chất dao động của ô tô, vận tốc
chuyển động và độ mấp mô biên dạng đường
Theo quan điểm về tải trọng tác dụng xuống nền đường thì sẽ dựa vào trị số
lớn nhất của tải trọng bánh xe, nghĩa là tương ứng với giá trị dương của F d (t) để
đánh giá, nếu F d (t) càng lớn thì sự ảnh hưởng do lực tác động tới lốp xe và các bộ
phận chi tiết của xe và nền đường càng bị tác động xấu nhiều hơn Mặt khác để
giảm sự ảnh hưởng của F d (t) thì trong trường hợp giảm tải trọng bánh xe so với giá
trị tải trọng tĩnh, nghĩa là làm giảm khả năng tiếp nhận lực tiếp tuyến (nhất là khi
phanh) và lực ngang (quan trọng khi quay vòng) Trong trường hợp đặc biệt bánh xe
bị nảy khỏi mặt đường khi đó lực tác dụng từ đường lên bánh xe sẽ bằng 0 và ô tô
sẽ mất tính điều khiển Để đánh giá tính chất dao động của ô tô theo quan điểm về
an toàn chuyển động cần xác định tỉ số giữa lực động F d (t) và tải trọng tĩnh của
bánh xe là R t K:
K t
d
R F
Trang 22Khảo sát dao động của ô tô người ta quan tâm đến sự bám của lốp với mặt
đường, nhằm đảm bảo dao động của ô tô thoả mãn các chỉ tiêu về độ êm dịu nhưng
bánh xe vẫn phải bám đường, nếu không đạt 2 chỉ tiêu đó sẽ dẫn đến làm mất tính
ổn định khi điều khiển xe, làm tăng tiêu hao nhiên liệu
Giá trị gần đúng của lực tác dụng xuống nền đường có thể xác định như sau:
ξ _ Chuyển dịch của bánh xe theo phương thẳng đứng
q _ Chiều cao mấp mô biên dạng đường
Có thể xác định giá trị ξtdmax- là giá trị cực đại của chuyển dịch tương đối của
bánh xe với đường theo biểu thức:
) (
Trang 23CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG MÔ HÌNH VÀ THIẾT LẬP HỆ PHƯƠNG TRÌNH
VI PHÂN MÔ TẢ DAO ĐỘNG
3.1 Xây dựng mô hình dao động ô tô
Trong các lĩnh vực về kỹ thuật, bất kì ở đâu cũng có các phương trình dao động
cơ học Các kết cấu hoặc những trang thiết bị khác nhau như: ô tô, động cơ đốt trong,
xe tăng, tàu thuỷ đều chịu các dao động cơ học Mặc dù kết cấu rất đa dạng và phức
tạp, các dao động trong chúng cũng khác nhau nhưng đều có thể mô tả nhờ công cụ
toán học, bằng các phương trình vi phân thường nếu khối lượng của chúng được xem
là tập trung hoặc bằng các phương trình vi phân với các đạo hàm riêng nếu khối
lượng của chúng được xem là phân bố Thiết lập mô hình toán hệ dao động cơ học cố
gắng chọn mô hình động học sao cho gần với mô hình thực tế nhưng phải thuận tiện
cho tính toán
3.1.1 Mô hình dao động
Ôtô thuộc hệ cơ học nhiều vật, dao động với dải tần số thấp Việc lập và chọn
mô hình dao động phải theo 3 tiêu chí sau:
- Mục tiêu nghiên cứu
- Cấu trúc riêng của đối tượng nghiên cứu
- Khả năng tính toán và phương tiện tính toán
Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kĩ thuật khả năng tính toán hầu như
không bị hạn chế (có nhiều phần mềm rất mạnh hỗ trợ tính toán) nên chủ yếu khi
chọn và lập mô hình thường căn cứ vào mục tiêu và đặc điểm kết cấu của đối tượng
Vì mục tiêu nghiên cứu có thể bao hàm các vấn đề sau:
- Nghiên cứu tối ưu hệ treo, kể cả hệ treo tích cực Đối với mục tiêu này chỉ
nghiên cứu mô hình 1/4 là đủ
- Nghiên cứu về dao động liên kết, thường dùng mô hình phẳng, mô hình phẳng
cũng còn dùng để nghiên cứu ảnh hưởng của đường
- Nghiên cứu sự trượt và lật dưới tác động của ngoại lực như đường mấp mô,
gió bên nên thưòng sử dụng mô hình 1/2
Sau đây là một số mô hình cơ bản được trình bày trong nhiều tài liệu của các tác
giả nổi tiếng
Trang 24a Mô hình 1/4
Mô hình 1/4 bao gồm hai khối lượng được treo M (thay thế cho khối lượng thân
xe) và không được treo m (thay thế cho khối lượng bánh xe, cầu xe và các thành phần
liên kết) Phần treo và không được treo liên kết với nhau thông qua các phần tử đàn
hồi của treo và giảm chấn, có độ cứng là C, hệ số cản giảm chấn K, hình vẽ (3.1)
m
M
ξ
LK
C K
1Tq
CLΖ
Hình 3.1 - Mô hình ¼
Để có thể chuyển mô hình vật lý thành mô hình động lực học hệ dao động ô tô,
cần phải có một số giả thiết nhằm đơn giản cho việc tính toán nhưng vẫn đảm bảo
tính đúng đắn của kết quả Quá trình nghiên cứu trong mô hình 1/4 chỉ xét dao động
của một trong bốn bánh xe, dao động của hệ là nhỏ, tuyến tính, xung quanh vị trí cân
bằng tĩnh, bánh xe lăn không trượt và luôn tiếp xúc với đường
Mô hình 1/4 có thể dùng để chọn tối ưu các thông số như độ cứng lốp, khối
lượng không được treo m, độ cứng C và hệ số cản giảm chấn K theo các hàm mục
tiêu vừa nêu trên
Trong quá trình nghiên cứu các hệ số C và K có thể được mô tả phi tuyến:
Trang 25b Mô hình dao động liên kết
Mô hình động lực học này biểu thị dao động liên kết ô tô 2 cầu ở dạng mô hình
phẳng, có nghĩa là ô tô được giả thiết đối xứng qua trục dọc của xe và xem độ mấp
mô của biên dạng đường ở dưới bánh xe trái và phải là như nhau Khối lượng treo
được qui dẫn về trọng tâm phần treo biểu thị qua giá trị khối lượng M (đại diện cho
khối lượng được treo là thân xe) và m1, m2 (đại diện cho khối lượng không được treo
là cầu xe) với 4 bậc tự do là Z, ϕ, ξ1,ξ2
Hình 3.2 - Mô hình phẳng dao động ô tô 2 cầu
Mô hình này hiệu quả với bài toán bố trí chung, và là mô hình đơn giản khi
nghiên cứu về đường và phân bổ tải khi phanh
Trang 26Mô hình 1/2 được một số tác giả phương tây như Dorling đề cập với mục tiêu
nghiên cứu thanh ổn định Mô hình 1/2 có hai khối lượng được treo và không được
treo với các thông số vật lý là (M, JX) và (m, J2X), liên kết qua hệ treo với thông số
vật lý là (C, K) Lốp là phần tử đàn hồi theo cả 2 phương Z và Y Ngoại lực tác dụng
lên thân xe là FY theo phương ngang và FZ theo phương Z
d Mô hình không gian xe con
Mô hình không gian xe con được Kortum- Lugner đưa ra tương đối chính xác
và tỉ mỉ Xe con có khối lượng nhỏ, nhưng lại có yếu tố phi tuyến hình học và vật lý
lớn nên không thể bỏ qua các yếu tố này khi lập mô hình Đặc điểm kết cấu là vỏ
chịu lực, treo trước độc lập có yếu tố phi tuyến hình học cao
Hình 3.4 - Mô hình không gian
3.1.2 Xây dựng mô hình dao động
Vì xe nghiên cứu là loại xe minibus có trọng tải nhỏ, chở người nên mô hình
dao động cần phải chính xác, sát với thực tế nhất để tiện lợi cho việc nghiên cứu, cải
thiện tính chất dao động tránh gây mệt mỏi cho hành khách và người lái Do đó,
chúng tôi đã lựa chọn xây dựng mô hình dao động là mô hình không gian, có nghiên
cứu đến các đặc tính phi tuyến
Để có thể khảo sát dao động của xe trong mô hình không gian thì cần những giả
thiết sau:
- Mô hình động lực biểu thị dao động ô tô hai cầu ở dạng không gian
- Thân xe được giả thiết đối xứng qua trục dọc của xe
- Phần được treo (là thân xe) có thể coi là một vật có khối lượng M đặt tại
trọng tâm xe Chuyển động của phần được treo là hợp của 3 chuyển động: chuyển
động tịnh tiến theo phương Z với toạ độ suy rộng là Z, chuyển động quay xung quanh
trục ngang Y (trục đi qua trọng tâm và vuông góc với mặt phẳng dọc) ứng với toạ độ
suy rộng là ϕ, chuyển động quay quanh xung quanh trục X (trục đi qua trọng tâm và
vuông góc với mặt phẳng ngang thân xe) ứng với toạ độ suy rộng là θ Momen quán
tính của khối lượng phần treo với trục ngang và trục dọc đi qua trọng tâm phần treo
Trang 27tương ứng là JY và JX Phần được treo và phần không được treo liên kết với nhau qua
các bộ phận đàn hồi, giảm chấn và thanh xoắn của hệ thống treo đặc trưng bởi các hệ
số đàn hồi C1T,C1P,C2T,C2P và các hệ số cản giảm chấn là K1T,K1P,K2T,K2P
Trong đó các chỉ số:
1_ Đại diện cho phía trước
2_ Đại diện cho phía sau
T_ Đại diện cho bên trái
P_ Đại diện cho bên phải
- Phần không được treo trước chia thành 2 khối lượng m1T và m1P Mỗi khối
lượng không được treo trước liên kết với đường thông qua các lò xo có độ cứng là
CL1T và CL1P, các giảm chấn có hệ số cản KL1T và KL1P Các thông số này đặc trưng
cho độ đàn hồi của lốp và dập tắt dao động của lốp trước
- Phần không được treo sau là khối lượng m2 Hai đầu cảu khối lượng không
được treo sau liên kết với đường thông qua các lò xo có độ cứng là CL2T và CL2P, các
giảm chấn có hệ số cản KL2T và KL2P Các thông số này đặc trưng cho độ đàn hồi của
lốp và dập tắt dao động của lốp sau
- Cầu trước có thể coi như những thanh phẳng nhưng do đây là hệ thống treo
độc lập nên chỉ có chuyển động tịnh tiến của cầu theo phương Z mà không có chuyển
quay quanh trục X
- Cầu sau là hệ thống treo phụ thuộc nên có cả chuyển động tịnh tiến của cầu
theo phương Z và chuyển quay quanh trục X
- Ô tô chuyển động đều
3.1.3 Hàm kích động
Chuyển động của ô tô trên mặt đường không bằng phẳng sẽ sinh ra các dao
động của khối lượng phần không được treo và khối lượng phần được treo của ô tô
Độ mấp mô của mặt đường là nguồn kích thích chính cho ô tô dao động Khi nghiên
cứu mô hình dao động của ô tô cần thiết phải mô tả toán học biên dạng của mặt
đường, vì chiều cao mấp mô của biên dạng đường tại vị trí tiếp xúc của bánh xe với
đường sẽ tham gia vào phương trình vi phân mô tả chuyển động của hệ Hàm kích
động là một yếu tố thuộc mô hình dao động, mô tả những yếu tố gây dao động, và
thường được mô tả dưới dạng các hàm biên dạng sau:
0
j k
f
Trang 28- Hàm dao động ngẫu nhiên: h=f( )t ≈(mf,Rf( )τ ) (3.4)
Với:
mf_ Giá trị trung bình
Rf_ Hàm quan hệ
τ_ Thời gian tương quan
Việc chọn loại kích động nào thì phụ thuộc cụ thể vào từng mục tiêu nghiên
cứu Nếu nghiên cứu về ảnh hưởng của đường thì buộc phải dùng hàm kích động
ngẫu nhiên Còn nếu tối ưu hệ treo thì dùng hàm sin và xung là đủ
Theo quan niệm bây giờ, ngoài mấp mô của đường là yếu tố gây dao động, còn
có các yếu tố gây dao động khác mà ta có thể kể ra như sau:
- Gió, nhất là gió ngang;
- Gió dọc;
- Góc quay vô lăng, đặc trưng qua gia tốc ngang với ngoại lực là lực quán tính
li tâm mv2ρ
Như vậy có tất cả 4 yếu tố gây ảnh hưởng đến dao động ôtô mà trong khi
nghiên cứu cùng phải đề cập, hoặc là riêng về từng yếu tố một, hoặc đồng thời một số
yếu tố kết hợp
3.2 Thiết lập hệ phương trình vi phân mô tả dao động
Để có thể xác định được các thông số dao động của xe ta cần phải từ mô hình
cơ học thiết lập được các phương trình vi phân mô tả chuyển động dao động của hệ
Có rất nhiều phương pháp để có thể thiết lập phương trình vi phân chuyển động của
cơ hệ như: phương trình Lagrange loại II hoặc theo nguyên lý D’Alambe Hiện nay
người ta sử dụng nhiều cơ sở lý thuyết hệ nhiều vật để thiết lập hệ phương trình vi
phân mô tả động lực của cơ hệ Đầu tiên là thiết lập hệ phương trình cân bằng cho
từng vật của cơ hệ sau đó liên kết chúng lại với nhau bằng quan hệ lực và mômen
Theo nguyên lý D’Alambe:
0
= +F qt
Trang 29Ở đây chúng tôi xây dựng mô hình là một cơ hệ gồm năm vật: thân xe, khối
lượng không được treo trước trái (phải), khối lượng không được treo sau và mặt
đường Sau đó ta thiết lập hệ phương trình vi phân dao động cho từng vật của cơ hệ
và nối chúng lại với nhau
Mô hình xây dựng:
- Vật 1: Thân xe (phần khối lượng được treo) coi như 1 vật có khối lượng M đặt
tại trọng tâm T và các mômen quán tính J , y J x Chuyển động của thân xe là hợp của
ba chuyển động:
+ Chuyển động tịnh tiến theo phương Z ứng với toạ độ suy rộng Z
+ Chuyển động quay quanh trục Y tương ứng toạ độ suy rộng ϕ
+ Chuyển động quay quanh trục X tương ứng toạ độ suy rộng θ
ϕθ
Z
m1T
1P m 1T
q
q 1P
2P q
2 m
KL1T
1P C
K1P
L1P K
2P C
L2P K
a
b L
q 2T
Trang 30+ Khối lượng không được treo trước coi như là hai vật có khối lượng bên trái
và bên phải là m1T và m1P chuyển động tịnh tiến theo phương Z tương ứng toạ độ suy
rộng ξ1T,ξ1P
L1TC
q1T
1T
1T
KL1T
1T
ξ
1TZ
1T
Z1P
ξ1P
L1PK
1PC K
1P
1Pq
CL1P
Hình 3.6 - Khối lượng không được treo trước
+ Khối lượng không được treo sau coi như là vật có khối lượng m2 chuyển
động tịnh tiến theo phương Z tương ứng toạ độ suy rộng ξ2 và chuyển động quay
quanh trục X tương ứng với toạ độ suy rộng θ2
2T
L2T
L2P L2P
K K
L2T
2PC C
2T 2T
2P
B2
2gB
Hình 3.7 - Khối lượng không được treo sau
Trang 31- Vật 5: Mặt đường là nguồn kích thích ô tô dao động và là một tập hợp các mấp
mô ngẫu nhiên trên toàn bộ chiều dài của nó Kích động mặt đường có thể ở dạng
tuyến tính hoặc hàm ngẫu nhiên, tuy nhiên trong luận văn đã đưa được đường thực tế
(đoạn đường Hà nội- Lạng sơn) vào để nghiên cứu
Sau khi đã phân tích xe thành các vật riêng biệt với đầy đủ các đại lượng cần
thiết sẽ lập phương trình vi phân mô tả dao động của cơ hệ theo nguyên lý
D’Alambe
3.2.1 Hệ thống treo trước
Hệ thống treo trước của xe là hệ thống treo độc lập, chia làm 2 phần riêng biệt
bên trái và bên phải Sau đây ta đi xây dựng mối quan hệ giữa các lực tác dụng lên
từng vật:
a Khối lượng không được treo trước bên trái:
Chuyển vị ξ1T của cầu trước bên trái được chọn theo phương như hình vẽ (3.8)
Hình 3.8 - Cầu trước trái
- Lực từ đường tác dụng lên cầu xe qua lốp:
+ Lực đàn hồi của bánh xe:
Trang 32- Lực truyền từ thân xe xuống cầu qua hệ thống treo:
+ Lực đàn hồi của hệ thống treo:
b Khối lượng không được treo trước bên phải:
Chuyển vị ξ1P của cầu trước bên trái được chọn theo phương như hình vẽ (3.8) Các
Trang 33- Lực từ đường tác dụng lên cầu xe qua lốp:
+ Lực đàn hồi của bánh xe:
- Lực truyền từ thân xe xuống cầu qua hệ thống treo:
+ Lực đàn hồi của hệ thống treo:
Hệ thống treo sau của xe là hệ thống treo phụ thuộc thông qua 1 dầm cầu có
khối lượng m2 và mô men quán tính J2X Chuyển vị ξ2 của trọng tâm cầu sau được
chọn theo phương như hình vẽ (3.7) Các lực tác dụng là:
Trang 34F M
c Lực từ đường tác dụng lên cầu xe qua lốp trái và phải:
- Lực đàn hồi của bánh xe:
Trang 35d Lực truyền từ thân xe xuống cầu qua hệ thống treo trái:
- Lực đàn hồi của hệ thống treo:
Trong đó mối quan hệ giữa Z2T với các toạ độ suy rộng theo phương trình:
2g 2T
e Lực truyền từ thân xe xuống cầu qua hệ thống treo phải:
- Lực đàn hồi của hệ thống treo:
Trong đó mối quan hệ giữa Z2P với các toạ độ suy rộng theo phương trình:
2g 2P
Trang 36f Phương trình cân bằng lực tác dụng lên cầu sau theo phương thẳng đứng Z:
FC2P
2P
KF
FC2T
2T
KF
Trang 37b Phương trình cân bằng mômen theo toạ độ suy rộng ϕ:
- Mô men quán tính:
- Mô men quán tính:
- Mô men truyền từ hệ thống treo trái:
2g 1
BB
- Mô men truyền từ hệ thống treo phải:
2g 1
BB
-J - F - F - F - F = 0
3.2.4 Hệ phương trình vi phân
Sau khi tách mô hình dao động của xe ra thành cơ hệ gồm nhiều vật, thiết lập
các phương trình cân bằng theo các toạ độ suy rộng đối với từng vật theo nguyên lý
D’Alambe ta thiết lập được hệ phương trình vi phân dao động của xe (5.53):
Trang 38-M.g - M.Z- F - F - F - F = 0-J - a F + F + b F + F = 0
B-J - F - F
2
θ
φ θ
trình vi phân trên để mô phỏng dao động của thân xe
Trang 39CHƯƠNG 4
MÔ PHỎNG DAO ĐỘNG
4.1 Thư viện tiện ích Simulink
Dựa trên hệ phương trình vi phân (3.53) gồm 7 phương trình vi phân mô tả dao
động của cơ hệ, ứng dụng các thư viện tiện ích sẵn có trong Simulink của Matlab để
mô phỏng mô hình dao động không gian của ô tô hai cầu
Các khối chức năng trong thư viện Simulink:
Khối nhân Thực hiện phép nhân với hằng số Y= a.X
Khối nhân Thực hiện phép nhân các tín hiệu Y= X1.X2
Khối cộng Thực hiện phép cộng, trừ các tín hiệu Y= X1 + X2
Khối In-Out Gửi và nhận các tín hiệu
ra vào các Subsystem
Khối From – Goto
Gửi và nhận các tín hiệu
đi và đến trong cùng một
Subsystem
Trang 40Khối Subsystem Là khối chức năng con
Khối Lookup-
Khối Switch So sánh với tín hiệu ngưỡng S
Khối Scope Vẽ đồ thị của tín hiệu X
theo thời gian t
Khối tích phân Lấy tích phân tín hiệu vào Y=∫Xdt
Khối đạo hàm Lấy đạo hàm tín hiệu vào Y = dX/dt
Khối Mux Khối trộn các tín hiệu
Khối Demux Khối rã các tín hiệu