Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài: Việc xác định các thành phần lực và mô men khí động tác động lên cánh, lên máy bay và các vật trong dòng chảy một cách chính xác là một nhu cầu
Trang 1Học viên: Nguyễn Hải Dương
GVHD: GS.TS Nguyễn Thế Mịch
1
Kính gửi: Viện cơ khí Động Lực
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
1 Họ và tên học viên: Nguyễn Hải Dương SHHV: CB090025
2 Chuyên ngành: Kỹ thuật hàng không Lớp cao học: KT Máy và TB thuỷ khí
3 Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thế Mịch
4 Đơn vị công tác: Bộ môn Máy và Tự động thuỷ khí
5 Tên đề tài tiếng việt: Nghiên cứu, tính toán, thiết kế cân khí động 3 thành phần dùng cho ống khí động dưới âm
6 Tên tiếng Anh: Study,calcul, design balance aerodynamics 3 components used for
tunel subsonics
7 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài:
Việc xác định các thành phần lực và mô men khí động tác động lên cánh, lên máy bay
và các vật trong dòng chảy một cách chính xác là một nhu cầu hết sức cần thiết trong quá trình nghiên cứu khí động học Việc nghiên cứu tính toán thiết kế nhằm chế tạo được cân khí động là một việc làm đầu tiên để có thể xác định bằng thực nghiệm các thành phần khí động
Nó đòi hỏi chúng ta phải nắm được phản ứng của một cánh (một vật thể) khi được đặt trong dòng chảy là hết sức cần thiết làm cơ sở để tính toán thiết kế cân khí động
8 Mục đích của đề tài (các kết quả cần đạt được):
Xác định được giá trị các lực và mô men thành phần xác định lên các cảm biến xác định lực và cảm biến đo mô men trên cơ sở sơ đồ nguyên lý đo và kết cấu của cân khí động đã thiết kế
9 Nội dung của đề tài, các vấn đề cần giải quyết:
a Xác định sơ đồ nguyên lý làm việc của ống khí động có lắp đặt các đối tượng cần
xác định các thành phần khí động
b Xác định các lực khí động theo thời gian, các giá trị lớn nhất của các thành phần cần
đo, xác định tần số lấy mẫu của thành phần cần đo
c Tính toán thiết kế cân khí động trên cơ sở kết quả của phần tính toán trên làm cơ sở
lựa chọn sensor cho ba thành phần cần đo
10 Dự kiến kế hoạch thực hiện:
Từ 1/2010 đến 28/2/2010 hoàn thành mục a
Từ 3/2010 đến 30/4/2010 hoàn thành mục b
Từ 5/2010 đến 31/8/2010 hoàn thành mục c
Từ 9/2010 đến 12/2010 viết luận văn hoàn chỉnh báo cáo tốt nghiệp
Hà nội, ngày 24 tháng 11 năm 2009 Giáo viên hướng dẫn Học viên
PGS.TS Nguyễn Thế Mịch Nguyễn Hải Dương
Ý kiến của lãnh đạo viện
Trang 2Học viên: Nguyễn Hải Dương
GVHD: GS.TS Nguyễn Thế Mịch
2
1.2 Định nghĩa 11
1.3 Phân loại cân khí động 13
PHẦN 2 22
XÁC ĐỊNH SƠ ĐỒ NGUYÊN LÝ LÀM VIỆC CỦA ỐNG KHÍ ĐỘNG 22
2.1.Xác định các thành phần của ống khí động: 22
2.2 Một số phương án bố trí và thiết kế của ống khí động 24
PHẦN 3 30
XÁC ĐỊNH NGUYÊN LÝ LÀM VIỆC CỦA CÂN KHÍ ĐỘNG 30
3.1.Sơ đồ nguyên lý chung: 30
3.2 Phương trình quan hệ động học, hình học của cánh và các đại lượng đo 32
3.3 Phương trình của các đại lượng đo theo thời gian 35
PHẦN 4 37
TÍNH TOÁN THIẾT KẾ CÂN KHÍ ĐỘNG, LỰA CHỌN SENSOR CHO BA THÀNH PHẦN CẦN ĐO 37
4.1 Các giá trị lớn nhất của các thành phần cần đo 37
4.2 Lựa chọn kết cấu 44
4.3.Tính toán đường kính cánh tay đòn 45
Trang 3Học viên: Nguyễn Hải Dương
GVHD: GS.TS Nguyễn Thế Mịch
3
4.4 Lựa chọn kích thước bao của cân: 50
PHẦN 5 53
CHẾ TẠO, ĐO ĐẠC VÀ KIỂM NGHIỆM KẾT QUẢ CÂN KHÍ ĐỘNG 53
5.1 Quy trình công nghệ chế tạo 53
5.2 Quy trình lắp ráp chi tiết 57
5.3 Lắp đặt cân khí động vào ống khí động 66
5.4 Lắp đặt cánh khí động vào cân khí động và ống khí động 67
5.5 Hướng dẫn điều chỉnh các điểm đo đạc 69
5.6 Quy trình đo đạc trên cân khí động và lưu trữ số liệu 74
5.7 Bảng số liệu kết quả đo 76
PHẦN 6 83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Phụ lục 1 : Ảnh chụp cân khí động sau chế tạo và tiến hành đo đạc tại phòng thí nghiệm bộ môn hàng không 85
Phụ lục 2: Chương trình xử lý số liệu cho vi điều khiển 88
Phụ lục 3 : Kết quả đo đạc và xử lý số liệu 108
Phụ lục 4: Bảng giá trị lực tính toán 109
Phụ lục 5: Bản lẽ chi tiết thiết kế cân khí động 116
Trang 4Học viên: Nguyễn Hải Dương
GVHD: GS.TS Nguyễn Thế Mịch
4
So với thế giới, thực nghiệm tại Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn do điều kiện trang thiết bị tại các phòng thí nghiệm tại Việt Nam còn hạn chế Với uy thế là trung tâm nghiên cứu của cả nước - Viện cơ khí động lực – Trường ĐHBK HN một phòng thí nghiệm khí động đã được xây dựng Tuy nhiên, hầu hết trang thiết bị được nhập từ nước ngoài rất tốn kém Vì vậy,Viện đã nghiên cứu chế tạo các thiết bị thí nghiệm này, thực
tế Viện đã chế tạo thành công 1 chiếc ống khí động dưới âm và 1 cân khí động 3D (đo 3 thành phần : lực nâng, lực cản và momen lắc dọc) đang trong quá trình hoàn thiện để chế tạo
Nhằm giúp các sinh viên của ngành hiểu rõ về nguyên lý hoạt động cũng như cấu tạo, cách thức thực hiện thí nghiệm của thiết bị cân khí động Viện đã đưa đề tài này vào luận văn tốt nghiệp cao học Trong quá trình hoàn thành nội dung luận văn của mình, em đã nhận được sự chỉ bảo, giúp
đỡ tận tình của các thầy cô trong viện, đặc biệt là thầy hướng dẫn GS.TS Nguyễn Thế Mịch Vì vậy em xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến
các thầy cô giáo đã hướng dẫn em trong thời gian qua
Hà Nội, Ngày 03 tháng 05 năm 2012
Nguyễn Hải Dương
Trang 5Học viên: Nguyễn Hải Dương
Hình 2.3: Cấu tạo chính cân khí động
Hình 2.4: Cơ cấu cơ bản cân khí động
Hình 2.5: Một số kiểu ống khí động
Hình 2.6: Một loại ống khí động của NACA sử dụng
Hình 2.7: Sơ đồ ống khí động khép kín
Trang 6Học viên: Nguyễn Hải Dương
GVHD: GS.TS Nguyễn Thế Mịch
6
Hình 3.5: sự phụ thuộc của lực vào vào góc tấn
Hình 3.6: Sự phụ thuộc của lực vào thời gian
Hình 4.5 : Quan hệ hệ số lực nâng CLtheoC d
Hình 4.6: Mô hình cân cho tính mômen với các kích thước lựa chọn sơ bộ Hình 4.7 : Quan hệ hệ số mômen C và m
Hình 4.8: Mô hình cân BE3 của Italy
Hình 4.9: Nguyên lý truyền lực cân khí động mô hình BE3
Hình 4.10: Kích thước cánh tay đòn chính
Hình 5.1: Sơ đồ lắp đặt cân khí động vào ống khí động
Trang 7Học viên: Nguyễn Hải Dương
GVHD: GS.TS Nguyễn Thế Mịch
7
Hình 5.2: Cửa để đưa cánh thử thí nghiệm vào ống khí động
Hình 5.3: Quy trình điều lắp đặt cánh khí động và điều chỉnh cánh
Hình 5.4: Cánh sau khi được lắp đặt và điều chỉnh chuẩn bị cho đo đạc thí nghiệm
Hình 5.5: Các núm chỉnh Reset đồng hồ đo
Hình 5.6: Quy trình điều chỉnh góc đặt cánh
Hình 5.7: Quy trình điểu chỉnh vận tốc dòng khí cho ống khí động
Hình 5.8: Đồng hồ hiển thị kết qảu lực lúc đo đạc thí nghiệm và ghi nhận kết quả đo
Hình 5.9: Hướng dẫn lắp đặt cánh vào cân khí động
Hình 5.10: Hướng dẫn điều chỉnh góc đặt cánh
Hình 5.11: Ví dụ đọc giá trị các số liệu đo lực nâng
Hình 5.12: Hình ảnh đo đạc và xác định vận tốc của ống khí động
Trang 8Học viên: Nguyễn Hải Dương
GVHD: GS.TS Nguyễn Thế Mịch
8
Trang 9Học viên: Nguyễn Hải Dương
GVHD: GS.TS Nguyễn Thế Mịch
9
Danh mục các ký hiệu viết tắt
ĐHBK Hà Nội Đại học Bách Khoa Hà Nội
CKĐ 3D Cân khí động 3 thành phần
ÔKĐDÂ Ống khí động dưới âm
Trang 10Học viên: Nguyễn Hải Dương
GVHD: GS.TS Nguyễn Thế Mịch
10
Hình 1.1: Hình ảnh “máy tay quay”
Sau đó Sir George Cayley (1773-1857) – cha đẻ của khí động học cũng đã sử dụng loại máy này để đo lực nâng và lực cản của nhiều dạng cánh khác nhau Cánh tay quay của ông dài 5 feet và có tốc độ đạt tới 10 – 20 ft/s Từ những dữ liệu thí nghiệm đó, ông đã chế tạo 1 dạng tàu lượn nhỏ Đây chính là thành công đầu tiên về phương tiện bay có trọng lượng lớn hơn không khí mà có thể mang được con người trong lịch sử Tuy nhiên với loại thiết bị này vẫn gặp phải nhiều nhược điểm để đưa ra kết quả thí nghiệm chính xác Đặc biệt với dòng chảy rối, những kinh nghiệm thực tế không thể xác định một cách đúng đắn sự ảnh hưởng của vận tốc không khí đối với mô hình thí nghiệm Thêm nữa, rất khó khăn để lắp đặt dụng cụ thí nghiệm, và đo những lực nhỏ (nhiễu nhỏ) sinh ra trên mô
Trang 11Học viên: Nguyễn Hải Dương
, với 1 máy quạt gió dẫn động bằng 1 động cơ hơi nước, để đưa dòng khí vào trong ống và tạo dòng chảy trên mô hình Ông đã gắn rất nhiều mô hình với nhiều hình dạng khác nhau để đo lực nâng và lực cản do dòng khí chuyển động quanh vật thể tạo ra Kết quả thí nghiệm của ông đã để lại một ý nghĩa vô cùng quan trọng Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành hàng không, sự ra đời của ống khí động và ứng dụng khoa học tiên tiến, cân khí động ra đời với nhiều chủng loại và ứng dụng đa dạng
1.2 Định nghĩa
Cân khí động là dụng cụ đo lực và momen tác dụng lên cánh thử, khi
cánh được đặt trong buồng thử của ống khí động có dòng khí chuyển động trong ống
Mục đích chính của hệ thống đo lường trong ống khí động là đo các thành phần lực và mô men Trong đó hơn 70% các thí nghiệm trong ống khí động là để đo lực,trước đây dụng cụ đo đơn thuần là cơ khí và cơ chế của cân cũng tương tự như các cân đo bình thường Ngày nay những cân này thường dựa vào những bộ chuyển đổi hay thông qua một thanh dẫn kim loại từ đó tác động lên cảm biến Tất cả những cân này đều có một cảm biến nhỏ cho mỗi thành phần được đo
Nguyên lý hoạt động chung của cân khí động : Các lực và mô men tác dụng lên cánh truyền qua các thanh truyền tới các cảm biến Tại đây,
Trang 12Học viên: Nguyễn Hải Dương
Nhiệm vụ của ống khí động là tạo ra dòng khí chuyển động thẳng đều, muốn vậy thì hình dạng ống và các bộ phận trong ống phải được lắp đặt phù hợp Sau khi tạo được dòng khí thẳng đều, vật mẫu thí nghiệm được đặt bên trong ống sẽ chịu tác dụng của dòng khí thổi qua và sẽ sinh
ra các lực nâng, lực cản tương ứng Khi đó, cân khí động sẽ chịu trách
Trang 13Học viên: Nguyễn Hải Dương
GVHD: GS.TS Nguyễn Thế Mịch
13
nhiệm đo đạc các lực tác dụng đó, tùy vào các điều kiện khác nhau của dòng khí Với nhiệm vụ đó, ống khí động đã được ứng dụng trong nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực khác nhau
Đối với các nhà nghiên cứu về lĩnh vực hàng không, không gian, mục đích chính của họ khi sử dụng ống khí động là để thiết kế, chế tạo ra nhiều loại máy bay, tên lửa, tàu vũ trụ, tàu con thoi… đảm bảo hoạt động được trong các yêu cầu khác nhau: tốc độ bay dưới âm, trên âm, siêu âm; giảm tối đa lực cản của không khí, nâng cao đặc tính khí động cho các thiết bị đó Dần dần họ cải tiến các thế hệ máy bay sao cho thế hệ sau có
nhiều tính năng ưu việt hơn thế hệ trước
Đối với các nhà kiến trúc, khi họ có dự án xây dựng một tòa nhà hay một khu nhà cao tầng, họ cần chế tạo các mô hình có kích thước thu nhỏ và đưa các mô hình đó vào trong ống khí động Sau đó họ đánh giá ảnh hưởng của không khí, gió mưa, các điều kiện thiên nhiên lên mô hình thông qua các thí nghiệm trong ống khí động, để từ đó đánh giá được kết cấu thực tế của tòa nhà, khu nhà sao cho phù hợp Đặc biệt khi họ xây nhà trong những khu vực thường xuyên xảy ra các hiện tượng địa hình, thời tiết khắc nghiệt Các công trình xây dựng phải được bố trí, thiết kế sao cho kiến trúc của chúng có đặc tính khí động phù hợp với điều kiện tự nhiên, thời tiết xung quanh Từ đó nhà thiết kế sẽ đưa ra những phương
án thiết kế thích hợp và hiệu quả
1.3 Phân loại cân khí động
Cân khí động có thể được phân biệt bởi số những thành phần lực,
mô men nào được đo đồng thời; với cách này thì cân khí động chia làm sáu loạ1 Hoặc sự định vị (vị trí) tại mà chúng được đặt Nếu chúng được đặt ở trong mô hình khảo sát gọi là Cân khí động trong (Internal balance)
Trang 14Học viên: Nguyễn Hải Dương
Trang 15Học viên: Nguyễn Hải Dương
GVHD: GS.TS Nguyễn Thế Mịch
15
Hình 1.4: Cân khí ngoài các đầu đo gắn với các thành phần đo lực
Cân khí động trong (Internal balance):
Với loại cân này cần có không gian hạn chế bên trong bản thân mô hình, vì vậy loại cân này tương đối nhỏ khi so sánh tới những cân khí động ngoà1
Hình 1.5: Cân khí động trong
Có hai nhóm cân khí động trong Đầu tiên là nhóm gồm có cái gọi
là sự cân bằng hộp, nó có thể được cấu tạo từ một mảnh kim loại cứng hoặc tập hợp từ một vài thành phần Chúng thường có dạng hình lập phương, sao cho tải tác dụng được chuyền từ đỉnh đến chân của cân; Nhóm thứ hai của cân khí động trong là cân bằng cần( sting balances) Chúng có dạng hình trụ, sao cho tải tác dụng được chuyền từ đầu này đến một đầu khác theo chiều dọc hình trụ
Cân dạng cần
Trang 16Học viên: Nguyễn Hải Dương
GVHD: GS.TS Nguyễn Thế Mịch
16
nhóm Khoảnh khắc- kiểu cân bằng và bắt buộc- những sự cân bằng kiểu
có một đặc tính chính chung, là sự thiếu (của) một trực tiếp gửi ra thành phần của tỷ lệ tới thang máy/ hắc ín và lực/ trượt cạnh những tín hiệu mà cân đối đối với tất cả chúng tải phải rồi được tính toán bởi tổng hay trừ tín hiệu từ việc lẫn nhau, trước đây được nuôi vào trong dữ liệu quá trình thử Lợi thế là associ kia- sự nối dây tập trung được ăn trên mỗi mục(khu vực) (thì) nhiều ít hơn có cảm giác đối với những hiệu ứng nhiệt độ
Trang 17Học viên: Nguyễn Hải Dương
GVHD: GS.TS Nguyễn Thế Mịch
17
Hình 1.6: Cân khí động trong 3 thành phần
Loại cân mô men
Loại cân này có một mômen uốn đang đo mục(khu vực) trong mặt trước tốt như trong ở đuôi tàu là những vùng (của) sự cân bằng
Phép đo hai thành phần mô men uốn (S1 và S2) được dùng để tìm ra tín hiệu mà tỉ với lực trong phép đo thứ hai nữa là tỉ lệ với mô men quanh trục thẳng góc tới phép đo
mômen nghiêng mục(khu vực)
phải được áp dụng với cảm biến
Trang 18Học viên: Nguyễn Hải Dương
Cân dạng hộp
Sự khác nhau chính giữa những sự cân bằng hộp và những sự cân bằng cần là mô hình và vùng phiếu đính kèm ngò1 Chuyển đổi tải trong những sự cân bằng như vậy đến từ đỉnh tới đáy dọc theo trục Z thẳng đứng
Trang 19Học viên: Nguyễn Hải Dương
Hình 1.10: Cân dạng hộp loại nhỏ đo các thành phần lực nhỏ
Trang 20Học viên: Nguyễn Hải Dương
Trang 21Học viên: Nguyễn Hải Dương
GVHD: GS.TS Nguyễn Thế Mịch
21
Cân ba thành phần(3D): Đo lực cản lực(drag force), nâng(lift
force) và mô men lắc dọc trục ( pitching moment )
Hình 1.13:Cân khí động 3 thành phần lực nâng, lực cản và mômen dọc
Trang 22Học viên: Nguyễn Hải Dương
Hình 2.2: Ống khí động
Trang 23Học viên: Nguyễn Hải Dương
GVHD: GS.TS Nguyễn Thế Mịch
23
+ Để dẫn dòng khí hiệu quả, ống khí động có dạng đầu vào hình trụ
tròn với bán kính thiết diện lớn,
+ Sau đó hình thuôn nón để gây nén khí và tăng cường vận tốc
+ Dòng khí được dẫn tới vùng kiểm tra Vùng ống này có dạng thiết
diện đều để đảm bảo sự ổn định của dòng khí tác dụng lên thiết bị cần
kiểm tra đặc tính khí động
+ Vùng ống còn lại có dạng hình nón với bán kính mở rộng ra, Diều
này cho phép giảm áp dòng khí và giảm tốc độ của khí khi ra khỏi thiết
bị Không gây áp lực đột ngột lên môi trường xung quanh
Việc dẫn dòng khí sẽ được thiết kế cơ cấu quạt hút gió
+ Để cho dòng khí đi vào là ổn định ta thiết kế quạt ở phía đầu ra
của ống khí động và cho phép hút khí thay vì thổi khí thiếu ổn định bằng
(Motor)
+ Để đảm bảo hơn nữa dòng khí vào là ổn định không xoáy người ta
bố trí thêm tại đầu vào ống cơ cấu tấm lỗ tổ ong Cơ cấu này cũng góp
phần ngăn chặn các vật tạp có hại có thể bị hút vào ống khí, va đập vào
cơ cấu cần kiểm tra đặc tính khí động cũng như quạt hút (Hình 17)
Hình 2.3: Cấu tạo chính cân khí động
Trang 24Học viên: Nguyễn Hải Dương
- Cơ cấu thu thập dứ liệu tính toán và hệ thống điều khiển
- Đầu vào ống khí dạng hình chop
- Tấm chắn vào hình tổ ong
2.2 Một số phương án bố trí và thiết kế của ống khí động
Với sự phát triển của công nghệ hiện đại, có rất nhiều phương án cải tiến và bố trí ống khí động đảm bảo kết quả đo được chính xác bằng cách hướng tác động cho việc ổn định dòng khí với những cách khác nhau
Trang 25Học viên: Nguyễn Hải Dương
Trang 26Học viên: Nguyễn Hải Dương
GVHD: GS.TS Nguyễn Thế Mịch
26
Hình 2.6: Một loại ống khí động của NACA sử dụng
Trang 27Học viên: Nguyễn Hải Dương
Trang 28Học viên: Nguyễn Hải Dương
GVHD: GS.TS Nguyễn Thế Mịch
28
Hình 2.8:Mô hình ống khí động cỡ lớn của NACA
Với phòng thí nghiệm của bộ môn ống thí nghiệm cùng với cân khí động:
Trang 29Học viên: Nguyễn Hải Dương
GVHD: GS.TS Nguyễn Thế Mịch
29
Hình 2.9: Ống khí động PN20D và cân khí động 3 thành phần
Trang 30Học viên: Nguyễn Hải Dương
Hình 3.3: Sơ đồ xác định lực cản
Hình 3.2: Sơ đồ xác định lực cản
Trang 31Học viên: Nguyễn Hải Dương
GVHD: GS.TS Nguyễn Thế Mịch
31
khí động L thông qua sự biết trước khoảng cách a,b (hình 3.2)
Sơ đồ xác định lực cản:
Tương tự lực nâng, qua tác dụng của dòng khí tới với vận tốc v, tạo
ra lực cản khí động đặt lên cánh D, và tương tác lực vị trí tại d Và tại d ta đặt một đồng hồ đo lực ta hoàn toàn xác định được lực khí động D thông qua sự biết trước khoảng cách a,b (hình 3.3)
lực Fm lên điểm đặt tại Fm, tại
đây nếu ta đặt một đồng hồ đo
Trang 32Học viên: Nguyễn Hải Dương
3.2 Phương trình quan hệ động học, hình học của cánh và các đại lượng đo
Trước hết, ta sẽ tìm hiểu về sự hình thànhvà sự xác định ba lực khí động lực học
Chúng ta chú ý đầu tiên đó là góc tấn được định nghĩa là góc giữa vận tốc khí và dây cung c của profin cánh Tóm lại, do nguyên lý thuận nghịch, các lực khí động được hình thành khi profin chuyển động trong dòng khí ngược chiều vận tốc với độ lớn v
Trang 33Học viên: Nguyễn Hải Dương
GVHD: GS.TS Nguyễn Thế Mịch
33
Khi góc tấn thay đổi, phân bố vận tốc dòng chảy trên lưng và bụng cánh thay đổi dẫn đến sự chênh lệch áp suất giữa lưng và bụng cánh (theo định luật bernulli : 1 2
2
) Sự chênh lệch áp suất đó làm xuất hiện lực cản và lực nâng Khi thay đổi các giá trị này cũng thay đổi theo
Hình 3.5 minh họa về sự phụ thuộc của lực nâng vào góc tấn : Thực nghiệm và lý thuyết đã chứng minh rằng: lực nâng tỉ lệ với khối lượng riêng của dòng khí công tác, bình phương vận tốc, góc tấn
và các thông số hình học của cánh
Lực nâng được tính theo công thức:
2 L
2 D
Mô men tác dụng lên cánh ở đây do hai thành
phần gây ra: Thứ nhất do dòng khí động gây ra và
được tính theo công thức :
2 M
Trang 34Học viên: Nguyễn Hải Dương
Các phương trình (1), (2), (3) chính là các phương trình phụ thuộc
vào thông số động học và hình học của cánh của các thành phần đo
Trang 35Học viên: Nguyễn Hải Dương
3.3 Phương trình của các đại lượng đo theo thời gian
Theo các kết quả nghiên cứu thì vận tốc tại một điểm nhất định trên profin cánh trong những thời điểm khác nhau là khác nhau Nghĩa là, vận tốc phụ thuộc vào thời gian Do đó, các đại lượng đo cũng phụ thuộc vào thời gian :
i
v t V
t
Trong đó vi là vận tốc tức thời tại thời điểm ti
Các phương trình (7), (8), (9) gọi là các phương trình theo thời gian của các đại lượng đo
Hình minh họa sự phụ thuộc của lực vào thời gian
Trang 36Học viên: Nguyễn Hải Dương
GVHD: GS.TS Nguyễn Thế Mịch
36
Hình 3.6: Sự phụ thuộc của lực vào thời gian
Trang 37Học viên: Nguyễn Hải Dương
GVHD: GS.TS Nguyễn Thế Mịch
37
PHẦN 4 TÍNH TOÁN THIẾT KẾ CÂN KHÍ ĐỘNG, LỰA CHỌN
SENSOR CHO BA THÀNH PHẦN CẦN ĐO
4.1 Các giá trị lớn nhất của các thành phần cần đo
Trong thiết kế ta chọn mô hình thiết kế cân theo mẫu mô hình cân BE3 với các kích thước lựa chọn như hình mô hình tính toán
M – Bảng điều khiển cân khí động
N - Máy đo Mnogotrubochny
+ Mô hình cân cho tính lực nâng với các kích thước chọn sơ bộ:
197
L
l
Trang 38Học viên: Nguyễn Hải Dương
GVHD: GS.TS Nguyễn Thế Mịch
38
Hình 4.2 : Mô hình cân cho tính lực nâng với các kích thước chọn sơ bộ
+ Phương trình cân bằng mômen tại O ta có :
là khối lượng riêng của không khí 1,225kg / m3
V là vận tốc dòng không khí thổi vào Vmax 38 m / s
CL- hệ số lực nâng của cánh
Với cánh sử dụng là NACA4412 ta có biếu đồ mối quan hệ CLtheo
sau : (tài liệu Theory of Wing section)
Trang 39Học viên: Nguyễn Hải Dương
GVHD: GS.TS Nguyễn Thế Mịch
39
Hình 4.3 : Quan hệ hệ số lực nâng CLtheo
Biểu đồ trên là biểu đồ lực nâng với 3 giải reynold 3.10 , 6.10 , 9.10 6 6 6
Ta tính số
VL
Re
Trong đó :
Trang 40Học viên: Nguyễn Hải Dương
GVHD: GS.TS Nguyễn Thế Mịch
40
Bảng 1 : Bảng đặc tính không khí theo nhiệt độ
Qua bảng chọn được 15,11.10 m / s6 2 ứng với nhiệt độ 20o