Tương tự như vậy, rủi ro có mối quan hệ nghịc biến đến tỷ lệ nợ dài hạn nhưng đồng biến với tỷ lệ nợ ngắn hạn.. Kết quả của chúng tôi cũng cho thấy lợi nhuận có mối quan hệ nghịch biến v
Trang 1CẤU TRÚC VỐN VÀ ĐẶC ĐIỂM CÔNG TY: BẰNG CHỨNG TỪ MỘT THỊ TRƯỜNG
MỚI NỔI
I M Pandey Professor Indian Institute of Management Ahmedabad Vastrapur, Ahmedabad 380015 India
Tóm tắt
Chúng tôi kiểm tra các nhân tố quyết định cấu trúc vốn của các công ty ở Malaysia với
dữ liệu trong khoảng thời gian từ năm 1984 đến năm 1999 Chúng tôi phân loại dữ liệu thành 4 khoảng thời gian tương ứng với các giai đoạn khác nhau của thị trường vốn Malaysia Nợ được chia thành 3 loại: nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và tổng nợ Giá trị sổ sách
và giá trị thị trường của tỷ số nợ được tính toán Kết quả của phương pháp OLS cho chỉ
ra rằng các biến lợi nhuận, quy mô, tăng trưởng, rủi ro và tài sản cố định ảnh hưởng đáng
kể đến các loại nợ Những kết quả này thường phù hợp với những ước tính cố định với việc lại trừ biến rủi ro đã làm mất ảnh hưởng của nó Không giống như bằng chứng từ các thị trường phát triển, cơ hội đầu tư ( tỷ lệ giá trị thị trường/giá trị sổ sách) là nhân tố không ảnh hưởng đến chính sách nợ ở thị trường mới nổi như Malaysia Kết quả của chúng tôi nhìn chung ổn định trong một khoảng thời gian, tuy nhiên có một số biến thay đổi theo thời gian Biến lợi nhuận có mối quan hệ liên tục và nhất quán với các tỷ số nợ khác nhau trong tất cả các khoảng thời gian và với tất cả các phương pháp ước lượng Điều này khằng định việc lựa chọn cấu trúc vốn theo lý thuyết trật tự phân hạng tại các thị trường mới nổi
Từ khóa: cấu trúc vốn, lý thuyết trật tự phân hạng, lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn.
Trang 2GIỚI THIỆU:
Các nghiên cứu mang tính bước ngoặt của Modigliani và Miller (1958, 1963) về cấu trúc vốn và lợi thế về tấm chắn thuế không còn thích hợp đã mở đường cho sự phát triển của
lý thuyết thay thế và một loạt các nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc vốn Lý thuyết thay thế bao gồm lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn, lý thuyết trật tự phân hạng và lý thuyết chi phí đại diện Tất cả những điều này và nhiều lý thuyết khác đã được dùng để thí nghiệm thực nghiệm mở rộng trong bối cảnh của các nước phát triển, đặc biệt là Hoa Kỳ (Harris
và Reviv, 1991) Một một vài nghiên cứu báo cáo so sánh quốc tế của yếu tố quyết định
cơ cấu vốn (Wald, Năm 1999; Rajan và Zingales, 1995) Nghiên cứu thực nghiệm đã xác định một số yếu tố cách điệu có liên quan đến cơ cấu vốn Có một vài nghiên cứu cung cấp bằng chứng từ các thị trường mới nổi của Đông Nam Á (Pandey và cộng sự, 2000; Annuar và Shamsher năm 1993; Ariff, 1998) Nghiên cứu này nhằm mục đích điều tra yếu tố quyết định cấu trúc vốn trong thị trường mới nổi như Malaysia
Bằng chứng thực nghiệm ở các nước phát triển cho thấy, đặc điểm công ty có tác động khác nhau trên các loại nợ khác nhau Ví dụ, các nhân tố khác nhau tác động khác nhau đến nợ dài hạn và ngắn hạn Tương tự như vậy, rủi ro có mối quan hệ nghịc biến đến tỷ lệ
nợ dài hạn nhưng đồng biến với tỷ lệ nợ ngắn hạn Hơn nữa, các điều kiện kinh tế có thể
có một ảnh hưởng quan trọng trên chính sách nợ của công ty Nghiên cứu của chúng tôi xem xét các ảnh hưởng của sự phát triển, cơ hội đầu tư, lợi nhuận, quy mô, rủi ro và tài sản hữu hình lên các loại khác nhau của tỷ lệ nợ của các công ty Malaysia, sử dụng dữ liệu từ năm 1984 đến năm 1999 để tìm hiểu tác động của các điều kiện kinh tế khác nhau Chúng tôi thấy rằng tất cả các biến, ngoại trừ cơ hội đầu tư, có mối quan hệ đáng kể với
tỷ lệ nợ Kết quả của chúng tôi cũng cho thấy lợi nhuận có mối quan hệ nghịch biến với
tỷ lệ nợ có ảnh hưởng nhiều nhất đến chính sách nợ của các công ty Malaysia
Các phần còn lại của nghiên cứu được bố cục như sau: Mục 2 trình bày tổng quan lý thuyết về cấu trúc vốn Phần 3 mô tả dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Phần 4 báo cáo kết quả phân tích thống kê Phần 5 tóm tắt các kết luận chính của nghiên cứu
Trang 3TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
Đòn bẩy có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Định nghĩa của đòn bẩy phụ thuộc vào mục tiêu của phân tích (Rajan và Zingales, 1995) Ví dụ, đối với những công ty mà vấn đề nghiên cứu liên quan đến cơ cấu nguồn vốn, đòn bẩy có thể
được định nghĩa là tỷ lệ giá trị nợ trên giá trị công ty Hệ số khả năng thanh toán lãi vay
thì phù hợp hơn trong một nghiên cứu về đòn bẩy và khủng hoảng tài chính Định nghĩa khác của đòn bẩy bao gồm nợ phải trả đến tổng số tổng tài sản, tổng nợ trên tổng nợ trên tài sản ròng, tài sản nợ trên net, và nợ trên vốn chủ sợ hữu Hơn nữa, nợ có thể được chia thành các thành phần khác nhau và tử số và mẫu có thể được đo bằng giá trị sổ sách và giá trị thị trường
Nợ trên tài sản (hoặc nợ trên vốn cổ phần) là cách đo lường về đòn bẩy thông thường nhất trong nghiên cứu thực nghiệm Vì biến độc lập có thể có tác dụng khác nhau đối với loại nợ, nên chúng ta có thể sử dụng ba cách đo lường về đòn bẩy: nợ dài hạn trên tổng tài sản, nợ ngắn hạn trên tổng tài sản và tổng nợ trên tổng tài sản Một vài nghiên cứu trước n hư (Titman và Wessels, 1988; Pandey và cộng sự, 2000; Chung, 1993) cũng
sử dụng các biện pháp đo lường đòn bẩy khác nhau Mỗi tỷ lệ nợ được đo bằng giá trị sổ sách và giá trị thị trường Do đó, chúng tôi sử dụng sáu biện pháp tỷ lệ nợ như biến phụ thuộc Khi tỷ lệ nợ được tính theo giá trị thị trường, giá trị thị trường của nợ được xử lý tương tự như giá trị sổ sách và giá trị vốn hóa của thị trường hiện tại vốn chủ sở hữu được
sử dụng như giá trị thị trường của vốn cổ phần
Việc lựa chọn các biến độc lập chủ yếu được theo hướng dẫn từ các kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm trước đó trong bối cảnh của một số nước phát triển và đang phát triển
Tập trung của chúng tôi trong nghiên cứu này là để kiểm tra ảnh hưởng của các biến này lên các chính sách nợ của các công ty Malaysia hơn là để xác định các biến mới Trong một so sánh chéo nghiên cứu quốc gia, Rajan và Zingles (1995) đã tìm thấy bốn biến số quan trọng sau đây:tăng trưởng, hữu hình, lợi nhuận và kích cỡ Nhiều nghiên cứu khác (Titman và Wessels,1988; Pandey et al 2000; Barclay và Smith, 1996;
Trang 4Castanias, 1983; Bradley, Janellvà Kim, 1984) cũng cho thấy nguy cơ (biến động thu nhập) và cơ hội đầu tư(giá trị thị trường-to-book) là yếu tố quyết định quan trọng của chính sách nợ Chúng tôi sử dụng sáu biến trong nghiên cứu này như là các biến độc lập
và thảo luận bên dưới mang tính lý thuyết và thực nghiệm cơ bản mỗi một trong số họ
Tăng trưởng: Các công ty có doanh số phát triển nhanh chóng thường cần mở
rộng tài sản cố định Của họ Do đó các công ty tăng trưởng cao có nhu cầu về các quỹ trong tương lai lớn hơn và cũng giữ lại nhiều thu nhập hơn Theo lý thuyết đánh đổi lợi nhuận giữ lại của những công ty có tốc độ tăng trưởng cao tăng lên và họ phát hành thêm
nợ để duy trì tỷ lệ nợ mục tiêu Như vậy, mối quan hệ đồng biến giữa tỷ lệ nợ và tăng trưởng mong đợi dựa trên lập luận này Theo đó, tăng trưởng làm cho các công ty chuyển tài chính từ nguồn vốn mới đến nợ, như họ cần nhiều vốn hơn để giảm các vấn đề của doanh nghiệp Baskin (1989) báo cáo một mối quan hệ tích cực đáng kể giữa tăng trưởng
và đòn bẩy Mặt khác, Titman và Wessels (1988) không tìm thấy có mối quan hệ giữa 2 đại lượng này
Cơ hội đầu tư: Cơ hội đầu tư đại diện cho giá trị vô hình của công ty mà không có
giá trị tài sản thế chấp Giá trị vô hình có thể bị mất nếu khủng hoảng tài chính diễn ra Rủi ro dưới định giá và sự làm lãng phí nguồn là khá cao đối với các doanh nghiệp có giá trị vô hình cao (Myers, 1977) Những lập luận cho thấy một mối quan hệ nghịch biến giữa tỷ lệ nợ và cơ hội đầu tư Nhưng vấn đề là doanh nghiệp có các khoản nợ ngắn hạn thấp hơn nợ dài hạn (Myers, 1977; Barclay và Smith, 1996 và 1999; Michaeles và cộng
sự 1999)
Bảng cân đối kế không thể hiện được các cơ hội đầu tư trong tương lai hơn là phản ánh giá cổ phần Do đó, tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách - được sử dụng như các cơ hội đầu tư có được Bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa cơ hội đầu tư (thể hiện qua tỷ lệ giá sổ sách/giá thị trường) và cấu trúc vốn Nghiên cứu xác nhận một mối quan hệ nghịch biến giữa đầu tư cơ hội và nợ dài hạn hoặc tổng số tỷ lệ nợ bao gồm Titman và Wessels (1988), Barclay et al (1995) Lasfer (1995), Rajan và Zingales (1995)
và BarclaySmith (1996) Tuy nhiên, báo cáo của Michaelas et al (1999) về mối quan hệ
Trang 5tích cực của cơ hội đầu tư với tỷ lệ nợ dài hạn và tổng tỷ lệ nợ như với tỷ lệ nợ ngắn hạn Stohs và Mauer (1996) và Barclay và Smith (1996) tìm thấy mối quan hệ nghịch biến giữa các cơ hội tăng trưởng và tất cả các loại nợ
Lợi nhuận: Theo giả thuyết lá chắn thuế suất, có nguồn gốc từ Modigliani và Miller
(1963), các công ty có lợi nhuận cao sẽ sử dụng nợ cao để thu được lợi ích từ thuế Ngược lại, theo lý thuyết trật tự phân hạng hoặc Giả thuyết bất đối xứng thông tin của Myers (1984) và Myers và Majluf (1984) mặc nhiên cho rằng các công ty thích tài trợ nội
bộ hơn phát hành vốn cổ phần Các công ty có lợi nhuận cao hơn sẽ ưu tiên sử dụng thu nhập giữ lại hơn là sử dụng nợ Giả thuyết lá chắn thuế có thể cũng không áp dụng cho những công ty mà có các nguồn thu khác như khấu hao, để che chắn thuế của họ (DeAngelo và Masulis, 1980) Hầu hết các Kết quả thực nghiệm khẳng định lý thuyết trậ
tự phân hạng (Kester, 1968; Titman and Wessels, 1988; Rajan and Zingales, 1995; Michaelas at Al, 1999)
Rủi ro: Theo lý thuyết đánh đổi (trade-off theory), rủi ro cao (thu nhập biến động) làm
tăng xác suất khủng hoảng tài chính Do đó, nó dự đoán mối tương quan âm giữa đòn bẩy
và rủi ro Tuy nhiên, nó cho thấy rằng mối tương quan nghịch biến giữa đòn bẩy và rủi
ro, chi phí phá sản khá lớn (Castanias, 1983; Bradley, Janell và Kim, 1984) Hơn nữa, Thies và Klock (1992) lập luận rằng rủi ro có mối tương quan nghịch biến với nợ dài hạn nhưng mối tương quan đồng biến với nợ ngắn hạn vì có sự dịch chuyển vốn (Financing)
từ nợ dài hạn đến nợ ngắn hạn và vốn chủ sở hữu Kết quả thực nghiệm không đưa ra câu trả lời rõ ràng cho mối quan hệ giữa rủi ro và cấu trúc vốn Bradley, Janell và Kim (1984) tìm thấy mối quan hệ nghịch biến giữa sự thay đổi của thu nhập và đòn bẩy Nhưng Titman và Wessels (1984), Auerbatch (1985) và Ferri và Jones (1979) không tìm thấy mối liên hệ giữa sự thay đổi của thu nhập và đòn bẩy
Qui mô: Các doanh nghiệp lớn có thể đa dạng hơn và ít bị phá sản (Rajan và
Zingales, 1995) Họ kỳ vọng chi phí trực tiếp sẽ thấp hơn khi phát hành nợ hoặc vốn cổ phần Vì vậy, các công ty lớn sử dụng nợ cao hơn các công ty nhỏ Nó cũng có ý kiến
Trang 6cho rằng các công ty nhỏ hơn sẽ có ít nợ dài hạn và nợ ngắn hạn hơn bởi vì có sự mâu thuẫn giữa cổ đông và người cho vay (because of shareholders-lenders conflict) (Michaelas và cộng sự, 1999; Titman và Wessels, 1988; Stohs và Mauer, 1996) Các bằng chứng thực nghiệm là hỗn hợp Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối tương quan đồng biến giữa quy mô và tỷ lệ nợ (Lasfer năm 1995; Rajan và Zingales năm 1995; Barclay và Smith, 1996; Berger và cộng sự al., 1997) Kester (1986) và Remmers et al (1974) cho rằng qui mô không ảnh hưởng đáng kể đến cấu trúc vốn Một số nghiên cứu cho thấy mối tương quan đồng biến giữa quy mô và thời gian đáo hạn nợ (Barclay và Smith, 1996; Stohs và Mauer, 1996; Michaelas et al., 1999) Nó cũng đã được chỉ ra rằng mối quan hệ giữa qui mô và cấu trúc vốn rất nhạy cảm với các phương pháp ước lượng (van der Wijst
và Thurik năm 1993; Barclay et al., 1995)
Hữu hình: lý thuyết đánh đổi (trade-off theory), tài sản hữu hình đóng vai trò như
tài sản thế chấp và bảo đảm cho người cho vay trong trường hợp khủng hoảng tài chính Tài sản thế chấp cũng bảo vệ người cho vay từ vấn đề rủi ro đạo đức do xung đột giữa các cổ đông-người cho vay (Jensen và Mekling, 1976) Vì vậy, các công ty với tài sản
hữu hình cao sẽ có mức nợ cao Theo nguyên tắc phù hợp, Giá trị thuần TSCĐ (Net Fixed Assets) được tài trợ lần lượt bằng các khoản nợ ngắn hạn đến nợ dài hạn trong khi
hàng tồn kho được tài trờ từ vốn chủ sở hữu rồi đến nợ ngắn hạn và nợ dài hạn (Thies và Klock, 1992) Theo bằng chứng thực nghiệm, một số nghiên cứu cho thấy mối tương quan đồng biến giữa TS hữu hình và tổng nợ (Titman và Wessels, 1988; Rajan và Zingales, 1995) Có nhiều nghiên cứu khác cho rằng giữa TS hữu hình và nợ dài hạn có mối tương quan đồng biến, nhưng tương quan nghịch biến giữa TS hữu hình và nợ ngắn hạn (van der Wijst và Thurik, 1993; Chittenden và cộng sự, 1996; Stohs và Mauer, 1996)
DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Chúng tôi sử dụng dữ liệu của các công ty KLSE Main Board Thời gian từ 1984-1999 là nhằm thu thập sự khác biệt trong điều kiện kinh tế của Malaysia Công ty
Trang 7tồn tại trong suốt thời gian 16 năm với đầy đủ dữ liệu được đưa vào nghiên cứu Chúng tôi loại trừ lĩnh vực tài chính, chứng khoán các công ty có đặc điểm tài chính và sử dụng đòn bẩy của họ là đáng kể Chúng tôi cũng loại ra các công ty không có doanh số và thu nhập bình quân 4 năm âm Sau khi loại bỏ, kích thước mẫu là 106 công ty Chúng tôi điều chỉnh dữ liệu của các công ty, trong đó thay đổi năm tài chính của họ Kết quả là dữ liệu trong một năm bị mất và dữ liệu năm tiếp theo nhiều hơn 12 tháng Trước tiên chúng
ta annualize dữ liệu năm tiếp theo, và sau đó thay thế dữ liệu bị mất bởi giá trị trung bình Toàn bộ thời gian 1984-1999 được chia thành bốn giai đoạn con, mỗi giai đoạn con gồm bốn năm: 1984-1987, 1988-1991, 1992-1995 và 1996-1999 Do thị trường vốn và điều kiện kinh tế chung tại Malaysia, bốn giai đoạn này, tương ứng, với suy thoái, Xu hướng tăng, ổn định và tăng trưởng và suy thoái Chúng tôi tính giá trị trung bình 4 năm của biến, ngoại trừ cho sự phát triển và biến động thu nhập, để giảm thiểu lỗi đo lường do biến động ngẫu nhiên trong các biến Biến phụ thuộc (tỷ lệ nợ) được hồi quy (regressed
to the lagged) các biến độc lập để tránh đảo ngược quan hệ nhân quả
Trong nghiên cứu này, chúng tôi giả định rằng sự khác biệt trong tỷ lệ nợ có thể là kết quả hoạt động của một doanh nghiệp thông qua các khoảng thời gian khác nhau Vì vậy, chúng tôi đưa ra các dữ liệu cho những khoảng thời gian và kiểm tra ảnh hưởng của các đặc điểm công ty trên chính sách nợ Với các biến độc lập, mẫu gộp của chúng tôi bao gồm 318 quan sát Chúng tôi sử dụng OLS hồi quy để hiểu được mối quan hệ thống kê giữa tỷ lệ nợ và các biến độc lập Chúng tôi cũng báo cáo kết quả hồi quy cắt ngang mà
sử dụng các giá trị trung bình của biến phụ theo từng thời kỳ Cách tiếp cận này đã bỏ qua những thay đổi của thời gian Vì vậy, cách tiếp cận thứ ba của chúng tôi là sử dụng các mô hình hiệu ứng cố định Phương pháp tiếp cận nghiên cứu này tác động của biến độc lập về chính sách nợ trên cơ sở sự thay đổi qua thời gian Chúng tôi cũng ước lượng OLS hồi quy cho từng giai đoạn riêng biệt
Tỷ lệ nợ trung bình của giai đoạn 1988-1991 giảm so với giai đoạn 1984-1987 và như vậy, kết quả là với một số sự khác biệt giữa các phương pháp ước lượngvà khoảng thời gian Phương trình hồi quy như sau:
Trang 8Tỷ lệ nợ (D) là biến phụ thuộc Chúng tôi sử dụng sáu biện pháp đo lường tỷ lệ
nợ -ba giá trị sổ sách và ba giá trị thị trường Mỗi thành phần của nợ dài hạn,ngắn hạn và tổng số nợ được chia cho tổng tài sản (hay vốn)
Tăng trưởng (G) được tính như một cộng với tốc độ tăng trưởng của doanh thu (bốn năm) Như ngụ ý của lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn và các lý thuyết trật tự phân hạng ,chúng tôi đưa ra giả thuyết rằng sự tăng trưởng có mối quan hệ đồng biến đến tỷ lệ nợ
Cơ hội đầu tư (IO) xấp xỉ bởi tỷ lệ giá trị thị truờng trên giá trị sổ sách Khi giá trị thị trường của cổ phiếu dự kiến tăng sẽ phản ánh tiềm năng tương lai của các cơ hội đầu
tư Phù hợp với lý thuyết trật tự phân hạng, chúng tôi đưa ra giả thuyết rằng cơ hội đầu
tư có mối quan hệ nghịch biến với nợ dài hạn, đồng biến với tỷ lệ nợ ngắn hạn
Lợi nhuận (P) được xác định là thu nhập trước thuế và lãi (EBIT) chia tổng tài sản (hay vốn) Theo lý thuyết trật tự phân hạng , chúng tôi đưa ra giả thuyết rằng lợi nhuận có một mối quan hệ nghịch biến với tỷ lệ nợ.Theo lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (hoặc lá chắn thuế) lý thuyết sẽ được xác nhận nếu chúng ta tìm thấy một mối quan hệ đồng biến với tỷ lệ giữa lợi nhuận và nợ
Rủi ro (R) được tính như hệ số biến động trong lợi nhuận trước thuế trong vòng bốn năm Để phù hợp với lý thuyết đánh đổi, chúng tôi đưa ra giả thuyết một mối liên hệ tích cực giữa các nguy cơ (biến động thu nhập) và tỷ lệ nợ
Quy mô (S) được tính bằng cách lấy log của doanh thu Doanh thu được tạo ra từ tài sản vì doanh thu ảnh hưởng đến giá trị hiện tại của nó Theo thuyết đánh đổi cấu trúc vốn, chúng tôi đưa ra giả thuyết rằng quy mô có mối quan hệ đồng biến với tỷ lệ nợ Ngoài ra, theo bằng chứng thực nghiệm, chúng ta có thể đưa ra giả thuyết rằng quy mô có mối quan hệ đồng biến với nợ dài hạn và một mối quan hệ nghịch biến với các khoản nợ ngắn hạn
Hữu hình (T) được xác định bằng cách lấy tài sản cố định chia cho tổng tài sản Theo lý thuyết đánh đổi, chúng tôi đưa ra giả thuyết một mối quan hệ đồng biến giữa hữu hìnhvà tỷ lệ nợ dài hạn Mặt khác, theo nguyên tắc phù hợp, chúng ta nên mong đợi một
Trang 9mối quan hệ đồng biến giữa hữu hình và tỷ lệ nợ dài hạn và một mối quan hệ nghịch biến giữa hữu hình và tỷ lệ nợ ngắn hạn
KẾT QUẢ
Bảng 1 cung cấp phương tiện giá trị sổ sách và tỷ lệ nợ trên giá trị thị trường trong khoảng thời gian 1988-1999 và được chia làm ba giai đoạn nhỏ Trên trung bình, các công ty KLSE sử dụng mức nợ thấp Cho toàn bộ thời gian 12 năm, tổng giá trị tỷ lệ nợ trên giá trị sổ sách là khoảng 15% Có nghĩa là tỷ lệ nợ dài hạn khoảng một nửa tỷ lệ nợ ngắn hạn Các giá trị tối đa là 31%, 37% và 56%, tương ứng, cho dài hạn, ngắn hạn và tổng số nợ Sự phân bố tỷ lệ là nghiêng về phía cuối thấp hơn Trung bình tỷ lệ nợ trên giá trị thị trường thấp hơn so với tỷ lệ nợ trên giá trị sổ sách
Tỷ lệ nợ không cho thấy sự thay đổi đáng kể trong giai đoạn 1988-1991 và
1992-1995, tương ứng với sự ổn định và giai đoạn phát triển của thị truờng Malaysia Trong hai giai đoạn này tỷ lệ nợ trên giá trị thị trường thấp hơn so với tỷ lệ nợ trên giá trị sổ sách Trong giai đoạn thứ ba của 1996-1999, cả giá trị sổ sách và giá trị thị trường của nợ đều gia tăng Tỷ lệ nợ /giá trị thị trường tăng với tốc độ cao hơn nhiều so với tỷ lệ nợ/ giá trị
sổ sách Trong thời gian này, nền kinh tế Malaysia bị suy thoái do khủng hoảng tài chính xảy ra trong tháng 10 năm1997 và giá thị trường của cổ phiếu giảm
Table 1: Summary of Descriptive Statistics
Entire Period: 1988-99
Period 1: 1988-91
Std Dev.
Period 2: 1992-95
Trang 10Minimum 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000
Std Dev.
Period 3: 1996-99
Bảng 2 cung cấp ma trận tương quan cho các mẫu gộp của 318 quan sát
Chúng tôi nhận thấy rằng sự tăng trưởng và lợi nhuận có môi quan hệ đồng biến đối với quy mô doanh nghiệp, trong khi cơ hội đầu tư có một mối quan hệ nghịch biến Điều này cho thấy các doanh nghiệp lớn có xu hướng phát triển nhanh và có lợi nhuận cao hơn, nhưng họ cũng có cơ hội đầu tư nhỏ hơn so với giá trị thị trường của họ Tăng trưởng và lợi nhuận có mối tương quan đồng biến với cơ hội đầu tư Hữu hình (FA / TA tỷ lệ) và biến rủi ro có tương quan đáng kể với biến giải thích khác
Biến tăng trưởng và kích thước có mối quan hệ đồng biến với tất cả các loại tỷ lệ
nợ tính theo giá sổ sách và giá trị thị trường Lợi nhuận có mối quan hệ nghịch biến với tất cả các phương pháp đo lường của tỷ lệ nợ Điều này có nghĩa rằng các công ty sử dụng nhiều nợ khi họ tăng trưởng và phát triển quy mô, nhưng giảm nợ khi lợi nhuận của
họ được cải thiện Cơ hội đầu tư có mối tương quan nghịch biến với tổng nợ và tỷ lệ nợ ngắn hạn và mối tương quan đáng kể với tỷ lệ nợ dài hạn Tài sản cũng có mối quan hệ tương tự với tỷ lệ nợ Rủi ro có mối quan hệ đồng biến với tỷ lệ nợ dài hạn và nghịch biến với tỷ lệ nợ ngắn hạn Nhưng hệ số là không đáng kể Chúng tôi quan sát mối tương quan giữa giá trị sổ sách và giá trị thị trường của tỷ lệ nợ ngắn hạn, tỷ lệ nợ dài hạn và tổng nợ
Page 9:
Table 2: Correlation Matrix Pooled Sample