CÔNG NGHỆ XANH NĂNG LƯỢNG XANH 1. Năng lượng sạch được hiểu như thế nào? Phân tích vai trò của năng lượng sạch trong phát triển kinh tế và bối cảnh thích ứng với biến đổi khí hậu? Những dạng năng lượng sạch nào đang được ưu tiên phát triển ở Việt Nam hiện nay? Vì sao? • Năng lượng sạch: Là loại năng lương khi sử dụng ít gây ô nhiễm và tốt hơn cho môi trường. Năng lượng sạch không gây ô nhiễm không khí hay sản phẩm phụ nhiễm độc trong tiến trình phát điện. VD các dạng NLS: NL hạt nhân, khí ga thiên nhiên, than sạch, NL mặt trời, gió…… • Vai trò của NLS trong phát triển kinh tế và bối cảnh thích ứng với BĐKH: Lợi ích của việc sử dụng năng lượng sạch với môi trường: + Không (ít) phát sinh khí CO2, thủy ngân, NOx, SOx, …vào MT → giảm BĐKH, nhiễm độc thủy ngân, mưa axit, sương khói quang hóa.. + Không cần khai thác triệt để các nguồn nguyên liệu hóa thạch → Giảm tác động xấu đến môi trường đất, bảo tồn cho thế hệ tương lai. + Các nguồn NL tái tạo gần như là vô tận và vô hại với MT. Lợi ích của việc sử dụng năng lượng sạch với kinh tế: + Giá không phụ thuộc vào giá của các nguồn năng lượng truyền thống + Công nghệ xanh ngày càng hiện đại và chi phí vừa phải. + Tạo việc làm mới trong lĩnh vực công nghiệp NL xanh + Đảm bảo an ninh năng lượng + Phát triển tại các vùng ngoại ô. Bối cảnh thích ứng với BĐKH: Hiện tại việc sử dụng các nguồn NL truyền thống như năng lượng hóa thạch đang gây ra nhiều vấn đề về ô nhiễm môi trường, khí hậu cực đoan, hiệu ứng nhà kính và đặc biệt là BĐKH đang gia tăng trên thế giới. Việc phát triển các ngành công nghiệp, sử dụng nguồn NL hóa thạch, phát thải ô nhiễm do hoạt động sống của con người đang càng gia tăng điều này đang góp một phần lớn đến việc tăng cường của BĐKH toàn cầu. Vì vậy con người đang đưa ra các giải pháp giảm BĐKH và các tác hại của nó đến đời sống của con người hiện nay, đặc biệt là tác động đến các đối tượng “dễ bị tổn thương” do BĐKH, trong đó giải pháp về nguồn NL sạch là một giải pháp tích cực, tốt nhất hiện nay vì nó đảm bảo được nguồn NL cho sử dụng sản xuất mà lại ít gây ô nhiễm môi trường. vừa đảm bảo giữa phát triển kinh tế và giảm tác động môi trường, bảo vệ môi trường. • Các dạng NL sạch được ưu tiên phát triển ở VN: Thủy điện nhỏ: Là dạng Năng lượng tái tạo khả thi nhất về mặt kinh tế tài chính tại VN. Hiện nay nước ta có trên 1.000 địa điểm đã được xác định có tiềm năng phát triển thủy điện nhỏ, qui mô từ 100kW tới 30MW với tổng công suất đặt trên 7.000MW, các vị trí này tập trung chủ yếu ở vùng núi phía Bắc, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Năng lượng gió: Nằm trong khu vực cận nhiệt đới gió mùa với bờ biển dài, Việt Nam có một thuận lợi cơ bản để phát triển năng lượng gió. So sánh tốc độ gió trung bình trong vùng biển Đông Việt Nam và các vùng biển lân cận cho thấy gió tại biển Đông khá mạnh và thay đổi nhiều theo mùa.Trong chương trình đánh giá về năng lượng cho châu Á, Ngân hàng Thế giới đã có một khảo sát chi tiết về năng lượng gió khu vực Đông Nam Á, trong đó Việt Nam có tiềm năng gió lớn nhất với tổng tiềm năng điện gió của Việt Nam ước đạt 513.360 MW tức là bằng hơn 200 lần công suất của thủy điện Sơn La, và hơn 10 lần tổng công suất dự báo của ngành điện vào năm 2020. Theo các báo cáo thì tiềm năng năng lượng gió của Việt Nam tập trung nhiều nhất tại vùng duyên hải miền Trung, miền Nam, Tây Nguyên và các đảo. Năng lượng sinh khối: Là một nước nông nghiệp, Việt Nam có tiềm năng rất lớn về nguồn năng lượng sinh khối. Các loại sinh khối chính là: gỗ năng lượng, phế thải phụ phẩm từ cây trồng, chất thải chăn nuôi, rác thải ở đô thị và các chất thải hữu cơ khác. Khả năng khai thác bền vững nguồn sinh khối cho sản xuất năng lượng ở Việt Nam đạt khoảng 150 triệu tấn mỗi năm. Một số dạng sinh khối có thể khai thác được ngay về mặt kỹ thuật cho sản xuất điện hoặc áp dụng công nghệ đồng phát năng lượng (sản xuất cả điện và nhiệt) đó là: Trấu ở Đồng bằng Sông Cửu long, Bã mía dư thừa ở các nhà máy đường, rác thải sinh hoạt ở các đô thị lớn, chất thải chăn nuôi từ các trang trại gia súc, hộ gia đình và chất thải hữu cơ khác từ chế biến nônglâmhải sản. Năng lượng mặt trời: Việt Nam được xem là một quốc gia có tiềm năng rất lớn về năng lượng mặt trời, đặc biệt ở các vùng miền trung và miền nam của đất nước, với cường độ bức xạ mặt trời trung bình khoảng 5 kWhm2. Với tổng số giờ nắng cao lên đến trên 2.500 giờnăm, tổng lượng bức xạ trung bình hàng năm vào khoảng 230250 kcalcm2 theo hướng tăng dần về phía Nam là cơ sở tốt cho phát triển các công nghệ năng lượng mặt trời. Năng lượng địa nhiệt: Mặc dù nguồn địa nhiệt chưa được điều tra và tính toán kỹ. Tuy nhiên, với số liệu điều tra và đánh giá gần đây nhất cho thấy tiềm năng điện địa nhiệt ở Việt Nam có thể khai thác đến trên 300MW. Khu vực có khả năng khai thác hiệu quả là miền Trung.Hiện tại, sử dụng năng lương tái tạo ở Việt Nam mới chủ yếu là năng lượng sinh khối ở dạng thô cho đun nấu hộ gia đình. Năm 2010, mức tiêu thụ đạt khoảng gần 13 triệu tấn quy dầu.Ngoài việc sử dụng năng lượng sinh khối cho nhu cầu nhiệt, thì còn có một lượng Năng lượng tái tạo khác đang được khai thác cho sản xuất điện năng. Theo số liệu mới nhất đến năm 2010, tổng điện năng sản xuất từ các dạng Năng lượng tái tạo đã cung cấp lên lưới điện quốc gia đạt gần 2.000 triệu kWh, chiếm khoảng 2% tổng sản lượng điện phát lên lưới toàn hệ thống.
Trang 1CÔNG NGHỆ XANH NĂNG LƯỢNG XANH
1 Năng lượng sạch được hiểu như thế nào? Phân tích vai trò của năng lượng sạch trong phát triển kinh tế và bối cảnh thích ứng với biến đổi khí hậu? Những dạng năng lượng sạch nào đang được ưu tiên phát triển ở Việt Nam hiện nay? Vì sao?
• Năng lượng sạch: Là loại năng lương khi sử dụng ít gây ô nhiễm và tốt hơn cho môitrường
- Năng lượng sạch không gây ô nhiễm không khí hay sản phẩm phụ nhiễm độc trong tiếntrình phát điện
VD các dạng NLS: NL hạt nhân, khí ga thiên nhiên, than sạch, NL mặt trời, gió……
• Vai trò của NLS trong phát triển kinh tế và bối cảnh thích ứng với BĐKH:
- Lợi ích của việc sử dụng năng lượng sạch với môi trường:
+ Không (ít) phát sinh khí CO2, thủy ngân, NOx, SOx, …vào MT → giảm BĐKH, nhiễmđộc thủy ngân, mưa axit, sương khói quang hóa
+ Không cần khai thác triệt để các nguồn nguyên liệu hóa thạch → Giảm tác động xấu đếnmôi trường đất, bảo tồn cho thế hệ tương lai
+ Các nguồn NL tái tạo gần như là vô tận và vô hại với MT
- Lợi ích của việc sử dụng năng lượng sạch với kinh tế:
+ Giá không phụ thuộc vào giá của các nguồn năng lượng truyền thống
+ Công nghệ xanh ngày càng hiện đại và chi phí vừa phải
+ Tạo việc làm mới trong lĩnh vực công nghiệp NL xanh
+ Đảm bảo an ninh năng lượng
+ Phát triển tại các vùng ngoại ô
- Bối cảnh thích ứng với BĐKH:
Hiện tại việc sử dụng các nguồn NL truyền thống như năng lượng hóa thạch đang gây ranhiều vấn đề về ô nhiễm môi trường, khí hậu cực đoan, hiệu ứng nhà kính và đặc biệt làBĐKH đang gia tăng trên thế giới Việc phát triển các ngành công nghiệp, sử dụng nguồn
NL hóa thạch, phát thải ô nhiễm do hoạt động sống của con người đang càng gia tăng điềunày đang góp một phần lớn đến việc tăng cường của BĐKH toàn cầu Vì vậy con ngườiđang đưa ra các giải pháp giảm BĐKH và các tác hại của nó đến đời sống của con ngườihiện nay, đặc biệt là tác động đến các đối tượng “dễ bị tổn thương” do BĐKH, trong đó giảipháp về nguồn NL sạch là một giải pháp tích cực, tốt nhất hiện nay vì nó đảm bảo được
Trang 2nguồn NL cho sử dụng sản xuất mà lại ít gây ô nhiễm môi trường vừa đảm bảo giữa pháttriển kinh tế và giảm tác động môi trường, bảo vệ môi trường.
• Các dạng NL sạch được ưu tiên phát triển ở VN:
- Thủy điện nhỏ: Là dạng Năng lượng tái tạo khả thi nhất về mặt kinh tế - tài chính tại VN.Hiện nay nước ta có trên 1.000 địa điểm đã được xác định có tiềm năng phát triển thủy điệnnhỏ, qui mô từ 100kW tới 30MW với tổng công suất đặt trên 7.000MW, các vị trí này tậptrung chủ yếu ở vùng núi phía Bắc, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên
- Năng lượng gió: Nằm trong khu vực cận nhiệt đới gió mùa với bờ biển dài, Việt Nam cómột thuận lợi cơ bản để phát triển năng lượng gió So sánh tốc độ gió trung bình trong vùngbiển Đông Việt Nam và các vùng biển lân cận cho thấy gió tại biển Đông khá mạnh và thayđổi nhiều theo mùa.Trong chương trình đánh giá về năng lượng cho châu Á, Ngân hàng Thếgiới đã có một khảo sát chi tiết về năng lượng gió khu vực Đông Nam Á, trong đó Việt Nam
có tiềm năng gió lớn nhất với tổng tiềm năng điện gió của Việt Nam ước đạt 513.360 MWtức là bằng hơn 200 lần công suất của thủy điện Sơn La, và hơn 10 lần tổng công suất dựbáo của ngành điện vào năm 2020 Theo các báo cáo thì tiềm năng năng lượng gió của ViệtNam tập trung nhiều nhất tại vùng duyên hải miền Trung, miền Nam, Tây Nguyên và cácđảo
- Năng lượng sinh khối: Là một nước nông nghiệp, Việt Nam có tiềm năng rất lớn về nguồnnăng lượng sinh khối Các loại sinh khối chính là: gỗ năng lượng, phế thải - phụ phẩm từcây trồng, chất thải chăn nuôi, rác thải ở đô thị và các chất thải hữu cơ khác Khả năng khaithác bền vững nguồn sinh khối cho sản xuất năng lượng ở Việt Nam đạt khoảng 150 triệutấn mỗi năm Một số dạng sinh khối có thể khai thác được ngay về mặt kỹ thuật cho sảnxuất điện hoặc áp dụng công nghệ đồng phát năng lượng (sản xuất cả điện và nhiệt) đó là:Trấu ở Đồng bằng Sông Cửu long, Bã mía dư thừa ở các nhà máy đường, rác thải sinh hoạt
ở các đô thị lớn, chất thải chăn nuôi từ các trang trại gia súc, hộ gia đình và chất thải hữu cơkhác từ chế biến nông-lâm-hải sản
- Năng lượng mặt trời: Việt Nam được xem là một quốc gia có tiềm năng rất lớn về nănglượng mặt trời, đặc biệt ở các vùng miền trung và miền nam của đất nước, với cường độ bức
xạ mặt trời trung bình khoảng 5 kWh/m2 Với tổng số giờ nắng cao lên đến trên 2.500giờ/năm, tổng lượng bức xạ trung bình hàng năm vào khoảng 230-250 kcal/cm2 theohướng tăng dần về phía Nam là cơ sở tốt cho phát triển các công nghệ năng lượng mặt trời
- Năng lượng địa nhiệt: Mặc dù nguồn địa nhiệt chưa được điều tra và tính toán kỹ Tuynhiên, với số liệu điều tra và đánh giá gần đây nhất cho thấy tiềm năng điện địa nhiệt ở ViệtNam có thể khai thác đến trên 300MW Khu vực có khả năng khai thác hiệu quả là miềnTrung.Hiện tại, sử dụng năng lương tái tạo ở Việt Nam mới chủ yếu là năng lượng sinh khối
ở dạng thô cho đun nấu hộ gia đình Năm 2010, mức tiêu thụ đạt khoảng gần 13 triệu tấnquy dầu.Ngoài việc sử dụng năng lượng sinh khối cho nhu cầu nhiệt, thì còn có một lượngNăng lượng tái tạo khác đang được khai thác cho sản xuất điện năng Theo số liệu mới nhấtđến năm 2010, tổng điện năng sản xuất từ các dạng Năng lượng tái tạo đã cung cấp lên lướiđiện quốc gia đạt gần 2.000 triệu kWh, chiếm khoảng 2% tổng sản lượng điện phát lên lướitoàn hệ thống
Trang 32 Năng lượng sạch gồm các dạng nào? Phân tích những khó khăn, thách thức trong
áp dụng năng lượng sạch trong điều kiện Việt Nam Đề xuất một số giải pháp khả thi
để có thể nghiên cứu, ứng dụng năng lượng sạch ở Việt Nam
Năng lượng sạch gồm các dạng nào
1/ Thuỷ điện
Là nguồn điện có được từ năng lượng nước Đa số năng lượng thuỷ điện có được từthế năng của nước được tích tại các đập nước làm quay một tuốc bin nước và máy phát điệnThủy điện
2/ Năng lượng gió
Năng lượng gió là động năng của không khí di chuyển trong bầu khí quyển Trái Đất.Năng lượng gió là một hình thức gián tiếp của năng lượng mặt trời Là nguồn năng lượngthân thiện với môi trường xung quanh, tua bin gió chiếm ít không gian hơn nên vùng đấtxung quanh sẽ được sử dụng cho nhiều mục đích - ví dụ cho nông nghiệp Nó là một nguồntài nguyên tuyệt vời để tạo ra năng lượng tại các địa điểm từ xa như các vùng miền núi,nông thôn và hải đảo Khi kết hợp với năng lượng mặt trời, nguồn năng lượng này sẽ tạođược một lượng điện ổn định và đáng tin cậy Tuy nhiên, yếu tố gió không đáng tin cậy,lượng điện sản xuất ra rất thấp, hoạt động của nó gây ra tiếng ồn, chi phí đầu tư lớn
3/ Năng lượng sinh khối
Năng lượng sinh khối là vật liệu sinh học được lấy từ cơ thể sinh vật hay vừa tồn tạitrong cơ thể sinh vật (chất thải)
Là một nguồn năng lượng được tạo ra từ các nguồn như gỗ, các sản phẩm nông nghiệp
và rác thải động thực vật, các phế phẩm từ nông nghiệp (rơm rạ, bã mía, vỏ, xơ bắp v v ),phế phẩm lâm nghiệp (lá khô, vụn gỗ v.v…), giấy vụn, mêtan từ các bãi chôn lấp, trạm xử lýnước thải, phân từ các trại chăn nuôi gia súc và gia cầm…
4/ Năng lượng mặt trời
Là ánh sáng và bức xạ nhiệt từ mặt trời, bao gồm năng lượng của dòng bức xạ điện từ,xuất phát từ mặt trời cộng với một phần nhỏ năng lượng của các hạt hạ nguyên tử khácphóng ra từ mặt trời
Nguồn năng lượng sạch và gần như vô tận này sẽ tiếp tục phát ra cho đến khi phản ứnghạt nhân trên Mặt Trời hết nhiên liệu, vào khoảng 5 tỷ năm nữa
5/ Năng lượng địa nhiệt
Là năng lượng được tách ra từ nhiệt trong lòng Trái Đất Năng lượng này có nguồngốc từ sự hình thành ban đầu của hành tinh, từ hoạt động phân hủy phóng xạ của các khoángvật, và từ năng lượng mặt trời được hấp thụ tại bề mặt Trái Đất
Trang 46/ Năng lượng thủy triều và sóng biển:
Năng lượng thủy triều: Là lượng điện thu được từ năng lượng chứa trong khối nướcchuyển động do thủy triều
Năng lượng sóng biển được xem như một dạng gián tiếp của năng lượng Mặt trời.Giống như các dòng nước chảy khác, năng lượng sóng có khả năng làm quay tua bin phátđiện
Những khó khăn, thách thức trong áp dụng năng lượng sạch trong điều kiện Việt Nam:
- Khó khăn đầu tiên và lớn nhất trong việc tìm kiếm và phát triển các nguồn năng lượngmới, năng lượng tái tạo, là hiện nay, vẫn chưa có nghiên cứu hay cơ sở dữ liệu nào xác địnhđược tiềm năng chính xác của các loại tài nguyên thiên nhiên như năng lượng gió, mặt trời,địa nhiệt…, chủ yếu là những ước tính trên lý thuyết, chứ chưa có những nghiên cứu, tínhtoán cụ thể về tiềm năng kỹ thuật để có thể triển khai đầu tư một cách hiệu quả, bền vững.Thực trạng, các nguồn năng lượng tái tạo biến đổi theo không gian và thời gian Khi biếnđổi khí hậu thì những thông số liên quan đến khí tượng, đến năng lượng gió hay mặt trờiđều có những thay đổi nhất định Do vậy, để đầu tư có hiệu quả vào lĩnh vực này phải tiếnhành đo đạc thường xuyên, định kỳ; xác định được cả tiềm năng kinh tế cũng như nhữngảnh hưởng từ biến đổi khí hậu đến các nguồn năng lượng này
- Khó khăn thứ hai là chi phí đầu tư cho 1 kWh điện từ các nguồn năng lượng mới và tái tạođang ở mức khá cao so với việc đầu tư các nguồn năng lượng truyền thống việc sử dụngnăng lượng gió để phục vụ cho phát triển kinh tế và bổ sung cho lưới điện không chỉ là nhucầu của ngành năng lượng Việt Nam mà cũng là đòi hỏi bức xúc của việc bảo vệ môi trườngbền vững Điện gió có đặc điểm là sạch, tiết kiệm chi phí về lâu dài (ban đầu chi phí điệngió có thể rất lớn) và không gây tác động xấu đối với biến đổi khí hậu toàn cầu hay môitrường…
- Khó thứ ba là đến nay vẫn chưa có cơ chế những thông số liên quan đến khí tượng, đếnnăng lượng gió hay mặt trời đều có những thay đổi nhất định Do vậy, để đầu tư có hiệu quảvào lĩnh vực này phải tiến hành đo đạc thường xuyên, định kỳ; xác định được cả tiềm năngkinh tế cũng như những ảnh hưởng từ biến đổi khí hậu đến các nguồn năng lượng này
Một số giải pháp khả thi để có thể nghiên cứu, ứng dụng năng lượng sạch ở Việt Nam
Đặc thù của NLTT là sự phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên (nước, nắng, gió, vịtrí địa lý…), công nghệ và giá thành sản xuất Do đó để thúc đẩy phát triển NLTT, Việt Namcần có các chính sách hỗ trợ như cơ chế hạn ngạch, cơ chế giá cố định, cơ chế đấu thầu và
cơ chế cấp chứng chỉ
Cơ chế hạn ngạch (định mức chỉ tiêu): Chính phủ qui định bắt buộc các đơn vị sản
xuất (hoặc tiêu thụ) phải đảm bảo một phần lượng điện sản xuất/tiêu thụ từ nguồn NLTT,nếu không sẽ phải chịu phạt theo định mức đặt ra theo tỷ lệ Cơ chế này có ưu điểm là sẽ tạo
ra một thị trường cạnh tranh giữa các công nghệ NLTT, nhờ đó làm giảm giá thành sản xuấtNLTT
Cơ chế giá cố định: Chính phủ định mức giá cho mỗi kWh sản xuất ra từ NLTT, định
mức giá có thể khác nhau cho từng công nghệ NLTT khác nhau Thông thường là định mứcgiá này cao hơn giá điện sản xuất từ các dạng NL hoá thạch, do đó sẽ khuyến khích và đảmbảo lợi ích kinh tế cho NLTT Chính phủ tài trợ cho cơ chế giá cố định từ nguồn vốn nhànước hoặc buộc các đơn vị sản xuất, truyền tải phải mua hết điện từ nguồn NLTT
Trang 5Cơ chế đấu thầu: Chính phủ sẽ đề ra các tiêu chí đấu thầu cạnh tranh, có thể riêng cho
từng loại công nghệ NLTT Danh sách các dự án NLTT sẽ được lựa chọn từ thấp đến caocho đến khi thoả mãn mục tiêu phát triển đặt ra cho từng loại NLTT và được công bố Sau
đó Chính phủ, hoặc cơ quan quản lý được uỷ quyền sẽ buộc các đơn vị sản xuất điện baotiêu sản lượng từ các dự án trúng thầu (có hỗ trợ bù giá)
Cơ chế cấp chứng chỉ: Với cơ chế này có thể là chứng chỉ sản xuất, hoặc chứng chỉ
đầu tư, hoạt động theo nguyên tắc cho phép các đơn vị đầu tư vào NLTT được miễn thuế sảnxuất cho mỗi kWh, hoặc khấu trừ vào các dự án đầu tư khác
Ngoài ra, 1 số giải pháp khác:
- Sớm xây dựng Luật Năng lượng tái tạo Việt Nam để tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở pháp lý
- Tăng cường đào tạo nguồn nhân lưc khoa học công nghệ về NLTT
- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo và khoa học công nghệ NLTT
- Tích cực tham gia các chương trình, hiệp định về hệ thống năng lượng mặt trời, hệthống năng lượng gió, hệ thống năng lượng đại dương của Ủy ban năng lượng quốc tế IEA
- Báo cáo quốc gia hàng năm về các hoạt động NLTT trong các lĩnh vực nghiên cứu,triển khai, ứng dụng, đầu tư, môi trường, thuận lợi, khó khăn…
- Thành lập Ủy ban quốc gia NLTT gồm Bộ Tài nguyên & Môi trường, Bộ CôngThương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để điều phối, đánh giá, theo dõi và báocáo hàng năm về biến động NLTT sơ cấp và thứ cấp tại Việt Nam
3 Phân tích tiềm năng phát triển năng lượng sạch tại Việt Nam? Vì sao hiện nay Việt Nam vẫn chưa thành công trong việc phổ biến sử dụng năng lượng sạch mặt dù rất dồi dào? Hãy đề xuất một số kiến nghị nhằm tăng cường sử dụng năng lượng sạch trong phát triển kinh tế?
Trang 6• Phân tích tiềm năng phát triển năng lượng sạch tại Việt Nam
Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên năng lượng tái tạo sạch khá dồi dào, nhưngchưa được chú trọng khai thác Nguồn năng lượng tái tạo của Việt Nam được phân bố trênkhắp cả nước So với tiềm năng thì khai thác năng lượng tái tạo vẫn còn ở mức khiêm tốn.Các dạng năng lượng sạch được khai thác tại Việt Nam: thuỷ điện nhỏ, năng lượng mặttrời; năng lượng gió, năng lượng sinh học Đối với năng lượng tái tạo từ địa nhiệt, thuỷtriều, rác thải sinh hoạt, hay nhiên liệu sinh học như xăng sinh học, diezel sinh học thì hầunhư chưa khai thác được nhiều…
- Năng lượng mặt trời:
Việt Nam là một trong số các quốc gia có tiềm năng khá đáng kể về nănglượng mặt trời Các địa phương ở phía Bắc bình quân có khoảng từ 1800 đến 2100 giờ nắngtrong một năm, còn các tỉnh ở phía Nam (từ Đà Nẵng trở vào) bình quân có khoảng
từ 2000 đến 2600 giờ nắng trong một năm Bức xạ mặt trời trung bình nhận đượctại mặt đất dao động trong khoảng từ 3,54 đến 5,15 kWh/m2/ngày, tiềm năng lý thuyếtđược đánh giá khoảng 43,9 tỷ TOE/năm
Tuy nhiên tỷ trọng của năng lượng mặt trời trong cán cân năng lượng chung củatoàn đất nước vẫn còn rất nhỏ Cho đến nay, tổng công suất điện mặt trời đã đượclắp đặt trên phạm vi toàn quốc chỉ vào khoảng 3,5MW Các hoạt động nghiên cứu
và sử dụng năng lượng mặt trời ở Việt Nam hiện nay thường tập trung vào các lĩnhvực như: Cung cấp nước nóng dùng trong sinh hoạt và phát điện ở qui mô nhỏ; sấy, nấu
ăn, chưng cất nước ở qui mô thử nghiệm nhỏ, chưa đáng kể
- Năng lượng gió
Việt Nam nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, mỗi năm có 2 mùagió chính Vùng có tiềm năng gió tốt chỉ chiếm 2% diện tích lãnh thổ, chủ yếu là cácvùng bờ biển hoặc vùng cao nguyên Trên mặt đất, tiềm năng năng lượng gió củaViệt Nam cả năm không vượt quá 200kWh/m2
Tiềm năng năng lượng gió tăng nhanh theo độ cao: so với độ cao 10m, tiềm năngnăng lượng gió ở độ cao 20m tại phần lớn các vùng trên lãnh thổ cao gấp 2-2,5 lần; ở độcao 40m là 2-5 lần; ở độ cao 60m là 2-6,6 lần
Theo kết quả khảo sát của chương trình đánh giá về năng lượng cho Châu Á củaNgân hàng Thế giới (WB), Việt Nam có tiềm năng gió lớn nhất khu vực Đông Nam Á,với tổng tiềm năng điện gió ước đạt 513.360MW, lớn gấp 200 lần công suất của nhàmáy thuỷ điện Sơn La và hơn 10 lần tổng công suất dự báo của ngành điện Việt Namnăm 2020
Vùng có nguồn năng lượng gió được đánh giá dồi dào tại Việt Nam
+ Gió tốt (7-8m/s): ĐBSCL, Nam trung bộ, Tây Nguyên, Huế, Hải Phòng Công suất tiềmnăng 102716 MW
+ Gió rất tốt (8-9m/s): Đảo Côn Sơn, Quy Nhơn, Tuy Hòa, Biên giới V-T, Vinh, dãy trườngSơn Công suất tiềm năng 8948 MW
+ Gió cực tốt (>9m/s): Phan Rang, dãy trường Sơn Công suất tiềm năng 452MW
- Năng lượng thủy điện
Trang 7Theo ước lượng, tổng tiềm năng thuye điện của Việt Nam trên Lý thuyết có thể đatsản lượng đến 300TWh/năm, tương đương 34.700MW Hơn 50% sản lượng ước tính nàyđến từ 3 hệ thống sông chính: sông Hồng ở Bắc Bộ (41%), Sông đồng nai ở Nam Bộ (9%)
và sông se san ở cao nguyên Trung Bộ (5%) Xét về tính kỹ thuật, tềm năng thủy điện ở VN
là vào khoảng 80-100TWh/năm (khoảng 17.700 MW), trong đó bắc bộ vẫn chiếm phần lớnhơn cả (51TWh/năm) sau đó đến trung bộ (19 TWh/năm) và nă bộ (10.5 TWh/năm)
Nguồn thủy điện nhỏ tập trung khu vực Bắc Bộ, Trung bộ, gần biên giới với Lào vàCampuchia Tiềm năng thủy điện nhỏ (công suất dưới 10MW) của nước ta được ước đoánvào khoảng 800-1400MW, trong đó bao gồm:
+ 400-600MW hệ thống thủy điện mini hòa mạng
+ 300-600MW hẹ thống thủy điện micro cá nhân
+ 90-10 MW hệ thống thủy điện pico
Tính đến năm 2010, toàn quốc đã xây dựng và đưa vào khai thác trên 500 trạmthuỷ điện nhỏ có quy mô công suất từ 5-10.000kW/trạm, sản lượng điện hàng nămvào khoảng 120-150 triệu kWh/năm
Các trạm thuỷ điện nhỏ, có công suất từ 100 KW đến dưới 10.000 kW, có 117trạm nhưng chỉ còn có 55/117 trạm đang hoạt động (chiếm 47%) Ngoài ra, các trạm và tổmáy thuỷ điện cực nhỏ, với công suất từ 0,2- 5kW do các gia đình tự quản lý đang đượckhai thác tại những vùng chưa có lưới điện quốc gia (khoảng 100.000 -150.000 trạm)vẫn hoạt động tốt, cung cấp điện cho sinh hoạt, sản xuất góp phần nâng cao đờisống cho đồng bào vùng sâu, vùng xa đang còn nhiều khó khăn
- Năng lượng sinh học:
Năng lượng sinh học là loại năng lượng có nguồn gốc từ các sinh vật, baogồm năng lượng sinh khối (biomass energy), nhiên liệu sinh học (biofuel) và khí sinh học(biogas) Ở Việt nam, tiềm năng để phát triển năng lượng sinh học là khá cao, do công nghệchưa đáp ứng được nên hiện nay năng lượng sinh khối mới phát triển ở quy mô nhỏ
Tiềm năng của năng lượng sinh khối trong mối tương quan với dạng nguyên liệu gỗ
ở việt nam, lượng NL gỗ tổng cộng khoảng 75-80 triệu tấn/năm tương đương với 26-28triệu tấn dầu/năm Năng lượng sinh khối từ rơm, rạ, trấu, cỏ, lá, mùn cưa và các chất thảinông nghiệp khác khỏang 30 triệu tấn/năm tương đương với 10 triệu tấn dầu/năm
Nếu chỉ tính riêng từ phụ phẩm nông nghiệp và chất thải chăn nuôi thì hàngnăm nước ta có thể sản xuất 4.844 triệu m3 khí sinh học, tương đương với hơn 2 triệutấn dầu; khí sinh học mới chỉ được sử dụng làm nhiên liệu đun nấu cho dân cư nông thôn,phần còn lại thải ra môi trường
Việt Nam là nước thuộc vùng nhiệt đới ẩm, có sự đa dạng về điều kiện khíhậu và đất đai cho các loại cây trồng cung cấp nguyên liệu cho sản xuất cồn nhiên liệunhư lúa, ngô, sắn, khoai lang, mía Về nguyên liệu chế biến dầu sinh học, Việt Nam có thểtrồng được các loại cây như: đậu tương, lạc, cây trẩu, cây sở, cây dầu mè(Jatropha), dừa và mỡ cá basa, cá tra có hàm lượng dầu, chất béo cao
- Năng lượng địa nhiệt
Trang 8Việt Nam đang bỏ trống nguồn tài nguyên năng lượng xanh, sạch, vĩnh cửu cònrất nhiều tiềm năng là địa nhiệt với hơn 300 nguồn nước khoáng nóng có nhiệt độ bềmặt từ 30oC đến 105oC, tập trung nhiều tại Tây Bắc, Trung Bộ
Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy, tổng công suất những nhà máy địanhiệt nếu được xây dựng ở Việt Nam có thể lên tới khoảng trên 400 MW Riêng vùngĐồng bằng sông Hồng, nơi vốn bị hạn chế về nguồn năng lượng gió và năng lượng Mặttrời bởi yếu tố khí hậu thì nghiên cứu cho thấy năng lượng địa nhiệt lại tương đối ấntượng, các dấu hiệu địa nhiệt khá phong phú, gồm bồn địa nhiệt vùng Đông Nam-TâyBắc với nhiệt độ đạt tới 160oC tại độ sâu 4km, đới địa nhiệt đứt gãy Sông Lô-Vĩnh Ninh
có nhiệt độ trung bình khoảng 114oC, các nguồn nước địa nhiệt 40-50oC ở các điểm Hưng
Hà, Phù Cừ, Hải Dương, Ba Vì (Hà Nội)…
Theo tính toán của các nhà khoa học, chỉ riêng sử dụng bơm địa nhiệt dùng chođiều hòa không khí ở Hà Nội cũng sẽ tiết kiệm được khoảng 800 tỉ đồng/năm về mặtkinh tế và hơn thế nữa là giảm mức phát thải CO2 ở mức tương đương với 252.000 tấn
do sử dụng khí thiên nhiên Bên cạnh đó, việc khai thác và sử dụng nước nóng ở vùngđồng bằng sông Hồng với nhiệt độ 40-50oC là hoàn toàn khả thi trong các qui hoạch xâydựng đô thị mới, công viên du lịch và khu vui chơi, nghỉ dưỡng
- Năng lượng thủy triều và sóng biển:
Về điện năng thuỷ triều, trữ lượng của Việt Nam chỉ vào khoảng 1,6 tỷKWh/năm và tập trung chủ yếu ở vùng bờ biển tỉnh Quảng Ninh (~1,3 tỷ KWh/năm)
có thủy triều lên 4m, ngoài ra còn vào khoảng ~ 0,2 tỷ KWh/năm có thể được khaithác với công suất nhỏ trong vùng hạ lưu của hệ thống sông Cửu Long có thủy triều 3m.Tuy nhiên, mực thủy triều 3-4m nước tthif không thể tự tạo dòng điện được mà cần nhữngyếu tố khác NL thủy triều ở VN nên được khai thác dưới dạng cục bộ, chưa sớm khai thác ởquy mô công nghiệp do thời gian và kinh phí có hạn, NLTT mới chỉ là đối tượng nghiên cứu
và thí nghiệm trên quy mô nhỏ
Cũng như NLTT, nước ta có tiềm năng năng lượng biển rất lớn nên cũng có tiềmnăng về năng lượng sóng biển Sóng biển tạo nguồn năng lượng vô tận Các tính toán chothấy năng lượng sóng biển dọc theo bờ biển nước ta rất phong phú Dòng NL trung bình yếunhất đạt 15kW/m, mạnh nhất 30kW/m Cụ thể vịnh Hạ Long, quảng ninh, cam ranh, bà rịa-vũng tàu hội tụ đủ điều kiện để xây dựng nhà máy thủy điện thủy triều Tuy nhiên kinh phí
có hạn nên mới chỉ là đối tượng nghiên cứu và thí nghiệm trên quy mô nhỏ
• Vì sao hiện nay Việt Nam vẫn chưa thành công trong việc phổ biến sử dụng năng lượng sạch mặt dù rất dồi dào
Với điều kiện thiên nhiên ưu đãi, Việt Nam là một quốc gia có khả năng tiềm tàngcho năng lượng tái tạo Tuy nhiên, đến nay việc phát triển năng lượng tái tạo vẫnrất khiêm tốn Việc khai thác còn mang nặng tính tự phát, thiếu quy hoạch tổng thể vàchưa tương xứng với tiềm năng Nguyên nhân của tình hình này là do Việt Nam:
- Chưa có những công nghệ phù hợp, tiên tiến để sản xuất hiệu quả năng lượng táitạo Chưa có một cơ sở đào tạo chuyên ngành; các cơ sở nghiên cứu phát triển công nghệcũng như các cơ sở sản xuất, chế tạo thiết bị NLTT với qui mô đủ lớn và trình độ đủ cao.Điều này dẫn đến thiếu nhân lực chuyên sâu và trình độ khoa học công nghệ về NLTT cònthấp; phát triển một số dự án NLTT còn chưa phù hợp, hiệu quả không cao
Trang 9- Cơ chế chính sách chưa đủ mạnh để hỗ trợ phát triển, chưa có các cơ chế, các chính sách cụthể nhằm khuyến khích, hỗ trợ các nhà đầu tư phát triển NLTT Nói riêng, ngoài cơ chế giá
ưu đãi đối với điện gió (7,8UScents/kWh; nhưng giá này vẫn còn thấp so với thực tế), vẫnchưa có các cơ chế hỗ trợ đối với các nguồn khác như NL mặt trời, sinh khối, địa nhiệt…
- Các giải pháp thực hiện vừa yếu, vừa thiếu, lại chưa đồng bộ nên chưa hấp dẫn đượccác nhà đầu tư
- Chưa có một nguồn tài chính riêng đủ mạnh để hỗ trợ cho các dự án, chương trình và cáchoạt động về NLTT nói chung và về kinh doanh, thương mại các công nghệ NLTT nói riêng
• Hãy đề xuất một số kiến nghị nhằm tăng cường sử dụng năng lượng sạch trong phát triển kinh tế
- Chính phủ cần khẩn trương xây dựng và ban hành Chiến lược và Chính sách NLTT quốcgia, tạo cơ cở và các điều kiện pháp lý để thống nhất chỉ đạo cũng như tạo ra sự phối hợp cótrách nhiệm giữa Trung ương và địa phương, giữa các bộ, các ban ngành về phát triểnNLTT
- Xây dựng các Qui hoạch trung hạn và dài hạn về phát triển NLTT với các mục tiêu, chỉ tiêu
cụ thể đối với từng giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội
- Xác định các nhiệm vụ nghiên cứu triển khai ưu tiên về NLTT và xem nó như là các nhiệm
vụ khoa học công nghệ trọng điểm Từ đó cần có sự đầu tư đúng mức để giải quyết ngay cácvấn đề có tính quan trọng đối với phát triển NLTT (ví dụ như điều tra, đánh giá tiềm năng;lựa chọn công nghệ phù hợp; đề xuất các cơ chế khuyến khích, hỗ trợ cụ thể…)
- Xây dựng một số cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học công nghệ chuyên sâu về NLTT
- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế để học hỏi trao đổi kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ, tranhthủ các nguồn tài trợ… nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển NLTT ở Việt Nam
Trang 104 Nêu ý nghĩa của cụm từ “zero emission – phát thải bằng 0” và Phân tích vai trò của
sử dụng năng lượng sạch trong tiến trình hướng đến phát triển bền vững, cho ví dụ cụ thể
• Ý nghĩa của cụm từ “zero emission – phát thải bằng 0”
Cụm từ “zero emission – phát thải bằng 0” có nghĩa là không tồn tại dòng thải có khả nănggây ra ô nhiễm môi trường do:
- Nồng độ và tải lượng thải của một chất trong dòng thải thấp hơn những biến động tựnhiên trong dòng vật chất thì coi như không có tác động lên môi trường hoặc
- Mức sử dụng tài nguyên có thể tái tạo phải nhỏ hơn mức bổ sung hoặc
- Nếu phải sử dụng tài nguyên không tái tạo, việc khai thác hàng năm phải thấp hơnlượng mà các thế hệ tương lai có quyền khai thác
Phát thải bằng 0 là một khái niệm hợp nhất những công nghệ hiện hữu tốt nhất và mang tínhnổi bật hướng tới loại trừ chất thải Không phát thải trên nguyên lý tái thiết kế hệ thốngcông nghiệp, nông nghiệp một chiều hiện tại thành hệ thống khép kín mô phỏng theo nhữngchu trình tự nhiên hoàn hảo nhằm giúp cộng đồng đạt được một nền kinh tế phát triển ổnđịnh và cung cấp phương cách tự cung ứng đầy đủ
Phát thải bằng 0 hướng tới mục tiêu không tạo ra chất thải bằng phương châm tăng cườngtối đa tái chế, giảm thiểu chất thải, hạn chế tiêu thụ và bảo đảm khả năng tái sử dụng, sửachữa hay quay vòng trở lại vào tự nhiên hay thị trường của sản phẩm thiết kế
• Vai trò của sử dụng năng lượng sạch trong tiến trình hướng đến PTBV
- Chương trình cộng đồng có thể được thiết kế nhằm xem xét tất cả các cách thức sử dụngnguyên vật liệu và năng lượng trong vận hành và dịch vụ Chú trọng vào mục tiêu khôngchất thải rắn ở các bãi chôn lấp và không lãng phí năng lượng có thể giúp giải quyết vấn đềthất nghiệp (nhu cầu nhân lực cho các ngành công nghiệp tái chế) và nguồn cung cấpnguyên liệu để sản xuất sản phẩm mới từ chất thải tái sinh
- Chương trình thương mại có thể được thiết kế cho việc sử dụng năng lượng và vật liệu trongsản phẩm, quy trình và dịch vụ Những chương trình này thường chú trọng vào việc tăngcường hiệu suất sử dụng năng lượng thông qua các phương thức loại trừ chất thải rắn, chấtthải nguy hại, chất thải từ các quy trình sản xuất, chất thải từ quá trình vận hành và các nỗlực giảm tiêu thụ
- Chương trình công nghiệp quy mô lớn có thể rất hiệu quả nếu các thành viên của ngànhcông nghiệp sẵn lòng cộng tác với nhau Trong trường hợp đó sẽ đạt được hiệu quả tối đatrong việc giảm tiêu thụ năng lượng và vật liệu đồng thời đạt được những cải thiện về khíacạnh môi trường
- Chương trình trong trường học khi được áp dụng vào mọi hoạt động của nhà trường cũngnhư vào việc dạy học trong lớp có thể tiết kiệm chi phí trong khi vẫn duy trì chất lượng giáo
Trang 11dục tốt PTBK có thể được áp dụng không chỉ đối với việc sử dụng năng lượng và vật liệu
mà còn trong những nhà máy, văn phòng, phòng học và ngay cả những quán cà phê
- Chương trình trong hộ gia đình có thể được phát triển bao gồm tiết kiệm năng lượng, thayđổi trong thói quen mua sắm, giảm mức độc hại trong những hoá chất tẩy rửa, sử dụng phânbón và thuốc diệt côn trùng thích hợp hơn
• Ví dụ
- Máy tính, ti vi, điện thoại… Khi bị hư hỏng, chỉ cần thay các linh kiện bị cháy,hư… không phải thải bỏ cả sản phẩm
- Thay thế và sử dụng những sản phẩm được thiết kế gọn, nhẹ hơn,hoặc tăng hiệu quả
sử dụng vật liệu như: thay thế máy TV thành TV màn hình tinh thể lỏng LCD, điệnthoại bàn thành điện thoại di động v.v…
- Các tiểu vương quốc Arab thống nhất đã bắt đầu xây dựng thành phố chỉ dành chongười đi bộ, sử dụng hoàn toàn năng lượng có thể tái sinh
- Các nhà máy năng lượng mặt trời và năng lượng gió sẽ cung cấp năng lượng chotoàn thành phố Xây xong, đây có thể là thành phố không carbon, không chất thải đầutiên trên thế giới
câu 5: Khái niệm cách hiểu công nghệ xanh?
Trang 12CNX là một trong những giải pháp hàng đầu trong công cuộc chống biến đổi khí hậu,đồng thời cũng là một lĩnh vực tràn đầy triển vọng phát triển trong tương lai Bởi vậy, cácquốc gia theo đuổi CNX nghĩa là không chỉ hướng tới mục tiêu môi trường mà còn nhắm tớimột lĩnh vực có khả năng tạo sinh khí mới cho nền kinh tế.
- Xét về mặt ngôn ngữ, danh từ “công nghệ” (technology) được dùng để chỉ việc áp dụng cáckiến thức khoa học vào những mục tiêu thực tiễn trong cuộc sống Từ đó, “công nghệ xanh”(Green technology) được dùng để chỉ những công nghệ thân thiện với môi trường, bao gồmnhững phương pháp và vật liệu được cải tiến không ngừng nhằm tạo ra năng lượng vànhững sản phẩm sạch, không độc hại Đây chính là lý do CNX còn được gọi là “công nghệmôi trường” hay “công nghệ sạch”
- Ngoài ra, còn có những định nghĩa về CNX như sau: “Công nghệ xanh” là sự ứng dụngkhoa học môi trường, hóa học xanh, quan trắc môi trường và các thiết bị điện tử để theo dõi,
mô hình hóa và bảo tồn môi trường tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên nhằm hạn chế nhữngtác động tiêu cực do ảnh hưởng của con người
- Hay “Công nghệ sạch là quy trình công nghệ hoặc giải pháp kỹ thuật không gây ô nhiễmmôi trường, thải hoặc phát ra ở mức thấp nhất chất gây ô nhiễm môi trường”
- Từ những định nghĩa trên, ta có thể hiểu “công nghệ xanh” hay “công nghệ môi trường”,
“công nghệ sạch” là những công nghệ thân thiện với môi trường, được phát minh để hạn chếtối đa những tác động tiêu cực của con người đến đến môi trường Công nghệ xanh bao gồmhai nội dung chính là giảm thiểu lượng phát thải khí nhà kính và giảm thiểu chất gây ônhiễm môi trường
câu 6: Công nghệ xanh được áp dụng cho ngành nào? xu hướng chung?
Công nghệ xanh được áp dụng trong nhiều ngành như công nghiệp sản xuất, xây dựng ,năng lượng, công nghệ thông tin Nông nghiệp… Tùy theo thế mạnh của từng quốc gia Xuhướng chung hiện nay cho công nghệ xanh là nghiên cứu phát triển cho công nghệ xanhnăng lượng và các phương tiện không sử dụng năng lượng hóa thạch, thiết kế xây dựngxanh và sản xuất vật liệu mới thân thiện với môi trường ( sản xuất điện năng lượng mặt trời,gió, pin , giảm hao phí năng lượng, oto điện , xe đạp điện, túi có khả năng phân hủy nhanh ,nhà thông minh …
câu 7: Các trở ngại, giải pháp đẩy mạnh áp dụng công nghệ xanh
• Trở ngại :
- Không có vốn để đầu tư công nghệ xanh
- Vốn vay từ hỗ trợ ngân sách nhà nước còn khó
- Nhận thức của doanh nghiệp chưa cao
- Nhân lực chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng của công nghệ