LER Label Edge Router Bộ định tuyến nhãn biên LMP Link Management Protocol Giao thức quản lý tuyến LSR Label Switching Router Bộ định tuyến chuyển mạch nhãn LWA Link Weight Assignment Mô
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC I
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ IV
DANH MỤC CÁC BẢNG VI
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỨ VIẾT TẮT VII
MỞ ĐẦU X
CHƯƠNG 1: HIỆN TRẠNG MẠNG THẾ HỆ MỚI (NGN) CỦA VNPT 1
1 Đánh giá hiện trạng mạng 1
1.1 Đánh giá hiện trạng mạng PSTN 1
1.2 Đánh giá hiện trạng mạng IP 3
1.2.1 Hiện trạng mạng VoIP 3
1.2.2 Hiện trạng mạng Internet 8
1.2.3 Đánh giá hiện trạng mạng IP 11
2 Các dịch vụ triển khai trên nền mạng NGN 12
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ PHẦN CHUYỂN MẠCH CHO MẠNG NGN 15
1 Số liệu đầu vào và các yêu cầu 15
2 Xác định công nghệ mạng chuyển mạch – công nghệ MPLS 16
2.1 Tổng quan công nghệ MPLS 16
2.2 Khả năng cung cấp dịch vụ 19
2.3 Khả năng triển khai MPLS/GMPLS 23
3 Phương thức định tuyến IP/MPLS 26
3.1 Giao thức CR-LDP 26
3.2 Giao thức RSVP 27
4 Đảm bảo QoS cho mạng 27
5 Cơ chế bảo vệ mạng IP/MPLS 29
6 Xác định cấu trúc mạng 40
Trang 27 Định cỡ mạng 40
8 Cấu hình mạng chuyển mạch IP đến năm 2010 41
8.1 Xác định vấn đề 42
8.2 Mô tả thuật toán 44
8.3 Kết quả cấu hình mạng chuyển mạch IP 50
9 Dung lượng nút và kết nối chuyển mạch/định tuyến 53
9.1 Phương pháp định cỡ mạng chuyển mạch IP 53
9.1.1 Các mô hình tối ưu 56
9.1.2 Heuristic hai pha 62
9.1.3 Định cỡ kết nối kết hợp và .64
9.2 Kết quả định cỡ mạng chuyển mạch IP/NGN 82
9.2.1 Định cỡ kết nối mạng chuyển mạch miền Bắc 83
9.2.2 Định cỡ nút mạng chuyển mạch miền Bắc 83
9.2.3 Định cỡ kết nối mạng chuyển mạch miền Trung 85
9.2.4 Định cỡ nút mạng chuyển mạch miền Trung 85
9.2.5 Định cỡ kết nối mạng chuyển mạch miền Nam 86
9.2.6 Định cỡ nút mạng chuyển mạch miền Nam 86
9.2.7 Định cỡ trục liên kết Hà Nội – Đà Nẵng – TP Hồ Chí Minh 87
9.2.8 Định cỡ các liên kết với quốc tế 87
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ PHẦN TRUYỀN DẪN CHO MẠNG NGN 88
1 Số liệu đầu vào và các yêu cầu 88
2 Xác định công nghệ mạng truyền dẫn - WDM 89
2.1 Nguyên lý cơ bản của hệ thống WDM 89
2.1.1 Định nghĩa 89
2.1.2 Mục đích 89
2.1.3 Hệ thống WDM 89
2.1.4 Chức năng của hệ thống WDM 91
2.1.5 Ưu nhược điểm của công nghệ WDM 92
2.2 Sự phát triển của WDM trong thời gian qua 93
Trang 32.3 Lớp quang 95
2.4 Mạng toàn quang trong suốt (Transparency and All Optical Networks) 98
2.5 Chuyển mạch gói quang (Optical Packet Switching) 100
3 Thực trạng mạng truyền dẫn của VNPT 102
4 Thuật toán tính dung lượng 111
4.1 Định nghĩa một số thuật ngữ như sau 111
4.2 Các tham số cần để tính dung lượng: 112
4.3 Thuật toán 112
4.3.1 Thuật toán tính dung lượng giữa các thùng cấp 1 112
4.3.2 Thuật toán tính dung lượng chưa sử dụng 115
4.4 Kết quả 117
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ II
TÀI LIỆU THAM KHẢO III
Trang 4DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Cấu hình tổng thể mạng NGN hiện tại 7
Hình 1.2 Hiện trạng mạng truy nhập VNN 9
Hình 1.3 Mô hình mạng ISP 10
Hình 1.4 Mô hình mạng VNN IXP 11
Hình 2.1 Mô hình kiến trúc giao thức MPLS/GMPLS 17
Hình 2.2 Ý tưởng về bảo vệ 30
Hình 2.3 Chuỗi các sự kiện để bảo vệ tuyến khi có lỗi xảy ra 30
Hình 2.4 Bảo vệ vòng (p-cycle) 32
Hình 2.5 Bảo vệ khôi phục cục bộ 33
Hình 2.6 Bảo vệ dự phòng động cục bộ 34
Hình 2.7 Tái định tuyến toàn cục 35
Hình 2.8 Bảo vệ tuyến dự phòng đơn 36
Hình 2.9 Bảo vệ tuyến dự phòng đơn và bảo vệ 1+1 37
Hình 2.10 Bảo vệ 1+1 39
Hình 2.11 Ví dụ về thuật toán thu nhỏ 46
Hình 2.12 Ví dụ về thuật toán phân vùng 48
Hình 2.13 Biểu diễn trạng thái ban đầu của thuật toán mở rộng 49
Hình 2.14 Ví dụ về thuật toán mở rộng 50
Hình 2.15 Cấu hình mạng IP miền Bắc 51
Hình 2.16 Cấu hình mạng IP miền Trung 52
Hình 2.17 Cấu hình mạng IP miền Nam 53
Hình 2.18 Đồ thị phân lớp G d 61
Trang 5Hình 3.1 Hệ thống ghép kênh theo bước sóng song hướng và đơn hướng 90
Hình 3.2 Sơ đồ chức năng hệ thống WDM 91
Hình 3.3 Sự phát triển của các hệ thống WDM 94
Hình 3.4 Mạng WDM định tuyến bước sóng 94
Hình 3.5 Cấu trúc phân lớp của mạng tại mỗi phần tử mạng (NE) 95
Hình 3.6 Phân lớp mạng theo mô hình OSI 97
Hình 3.7 Phân lớp của mạng có lớp mạng quang thế hệ thứ hai hỗ trợ mọi lớp khách hàng khác nhau ở phía trên 97
Hình 3.8 Ví dụ về phân cấp của các lớp ghép kênh điển hình 98
Hình 3.9 Mạng quang gồm có nhiều mạng con toàn quang kết nối với nhau bằng các bộ chuyển đổi O/E/O Các bộ chuyển đổi O/E/O được dùng để thích ứng các tín hiệu bên ngoài với mạng để tái tạo và chuyển đổi bước sóng 100
Hình 3.10 Một nút chuyển mạch gói quang Nút đệm các gói đến, đọc phần tiêu đề của gói, định tuyến gói đến cổng ngõ ra thích hợp dựa vào thông tin trong tiêu đề 101
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1-Định cỡ kết nối mạng chuyển mạch miền Bắc 83
Bảng 2-Định cỡ kết nút mạng chuyển mạch miền Bắc 85
Bảng 3-Định cỡ kết nối mạng chuyển mạch miền Trung 85
Bảng 4-Định cỡ kết nút mạng chuyển mạch miền Trung 86
Bảng 5- Định cỡ kết nối mạng chuyển mạch miền Nam 86
Bảng 6-Định cỡ kết nút mạng chuyển mạch miền Nam 87
Bảng 7- Định cỡ trục liên kết HNI-ĐNG-HCM 87
Bảng 8- Định cỡ các liên kết với quốc tế 87
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỨ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt
APS Automatic Protection Switching Chuyển mạch bảo vệ tự động
ATM Asynchronous Transfer Mode
Phương thức truyền tải không đồng
bộ AWG
CR-LDP
Constrain Routing-Label Distribution Protocol
Giao thức phân bố nhãn định tuyến bắt buộc
ECMP Equal Cost Multi Path Đa đường đi chi phí bằng nhau
EDFA Erbium Doped Fiber Amplifier Bộ khuếch đại quang sợi
ESCON Enterprise Serial Connection
FIS Fault Indication Signal Tín hiệu chỉ thị lỗi
G-LSP
Generalized Label Switching Path
Đường chuyển mạch nhãn tổng quát
IETF Internet Engineering Task Force
IS-IS
Intermediate System Intermediate System ISO
International Standards Organization Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ITU-T
International Telecommunication Union-Telecommunication
Tổ chức viễn thông quốc tế-Viễn thông
Trang 8LER Label Edge Router Bộ định tuyến nhãn biên
LMP Link Management Protocol Giao thức quản lý tuyến
LSR Label Switching Router Bộ định tuyến chuyển mạch nhãn
LWA Link Weight Assignment Mô hình gán trọng liên kết
MPLS Multi-Protocol Label Switching Chuyển mạch nhãn đa giao thức
NDP Network Design Problem Vấn đề thiết kế mạng
NGN Next Generation Network Mạng viễn thông thế hệ mới
OADM Optical Add Drop Multiplexer Trạm xen/rẽ trên tuyến quang
OIF Optical Internetworking Forum
OLT Optical Line Terminal Bộ kết cuối đường quang
OSPF Open Shortest Path First Giao thức tìm đường ngắn nhất
OTN Optical Transport Network) Mạng truyền dẫn quang
OXC Optical Cross Connect Bộ nối chéo quang
PIN p-type, intrinsic, n-type diode
PSLSR Path Source Label Switch Router
Bộ định tuyến chuyển mạch nguồn của tuyến
PSTN
Public Switched Telephone
RSVP-TE
Resource ReSerVation Traffic Engineering Giao thức dành trước tài nguyên SAP Service Access Point Điểm truy nhập dịch vụ
Trang 9Protocol-SBPP Single Backup Path Protection Bảo vệ tuyến dự phòng đơn
SCCP
Signaling Connection Control
SDH Synchronous Digital Hierarchy Phân cấp số đồng bộ
STP Signaling Transfer Point Điểm chuyển giao tin báo
VDC VietNam Data Communication Công ty truyền dữ liệu
VLSI Very-Large-Scale Integration Tích hợp mật độ cao
VPN Virtual Private Network Mạng riêng ảo
VTN VietNam Telecom National Công ty viễn thông liên tỉnh
WDM
Wavelength Devision Multiplexing
Ghép kênh phân chia theo bước sóng
Trang 10MỞ ĐẦU
Cuối thể kỷ 20 nhiều nhà khai thác viễn thông trên thế giới đã chứng
kiến những biến động lớn về bản chất lưu lượng truyền tải trên mạng Lưu
lượng phi thoại lấn lướt lưu lượng thoại truyền thống Nguyên nhân sâu xa
của vấn đề này là do tốc độ phát triển phi thường của lưu lượng Internet và
sự gia tăng không ngừng số người sử dụng Internet Các cuộc gọi truyền
thống đã bị thay bằng cuộc gọi số liệu với đặc tính lưu lượng “bùng nổ”, thời
gian cuộc gọi dài và có tính bất đối xứng (dung lượng lưu lượng đường lên
khác với dung lượng lưu lượng đường xuống),… đã tạo nên những thách thức
mới cho nhà khai thác
Kiến trúc mạng IP ngày nay được xây dựng theo ngăn mạng xếp chồng
những công nghệ như ATM, SDH Do có nhiều lớp liên quan nên đặc trưng của
kiến trúc này là dư thừa tính năng; và chi phí liên quan đến vận hành khai thác
cao Hơn nữa, kiến trúc này trước đây sử dụng để cung cấp chỉ tiêu đảm bảo
cho dịch vụ thoại và thuê kênh, không được thiết kế phù hợp cho mạng số liệu
Do đó nó không thật sự thích hợp đối với các ứng dụng hoạt động dựa trên công
nghệ chuyển mạch gói và đặc biệt là những ứng dụng có nguồn gốc IP Một số
nhà cung cấp và tổ chức tiêu chuẩn đang đề xuất những giải pháp mới khai thác
IP trên kiến trúc mạng đơn giản, ở đó lớp WDM là nơi cung cấp băng tần
truyền dẫn vô cùng lớn Những giải pháp này cố gắng giảm tối đa tính năng dư
thừa, giảm mào đầu giao thức, đơn giản hoá công việc quản lý và qua đó
truyền tải IP trên lớp WDM (lớp mạng quang) càng hiệu quả càng tốt
Đối với VNPT, mạng viễn thông đang trong quá trình chuyển đổi công nghệ
và hướng đến mạng NGN sau một thời gian dài hoạt động hiệu quả Vấn đề đối
với các nhà hoạch định bây giờ là phải tìm được giải pháp mạng phù hợp cho
sự phát triển, đáp ứng được những yêu cầu đặt ra trong tương lai và tìm những
bước đi thích hợp đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật và kinh tế Vì vậy, việc
nghiên cứu các giải pháp và bước chuyển đổi mạng truyền tải là một vấn đề cấp
thiết Luận văn “Thiết kế mạng truyền tải cho mạng NGN của VNPT trong giai
Trang 11đoạn 2010-2015” hy vọng là một trong những lời giải hữu ích cho bài toán trên
Nội dung luận văn được trình bày gồm ba chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Hiện trạng mạng thế hệ mới (NGN) của VNPT Hiện trạng
mạng NGN bao gồm cả mạng PSTN, mạng VoIP, mạng Internet và các dịch vụ
đang được triển khai trên mạng NGN
Chương 2: Thiết kế phần chuyển mạch cho mạng NGN Kết quả là dung
lượng kết nối và dung lượng nút của ba miền Bắc, Trung và Nam
Chương 3: Thiết kế phần truyền dẫn cho mạng NGN Dựa trên mạng
truyền dẫn hiện tại tính ra dung lượng mạng đã sử dụng và còn là bao nhiêu, có
đáp ứng đủ cho nhu cầu phần chuyển mạch không Nếu không thì phải mở rộng
theo hướng nào
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ và hướng dẫn nhiệt tình
của Tiến sỹ Nguyễn Viết Nguyên trong quá trình thực hiện luận văn này
Xin cảm ơn các thầy cô trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội đã tận tình
giảng dạy, trang bị cho tôi kiến thức tổng hợp trong lĩnh vực Kỹ thuật Điện tử
Viễn thông
Xin cảm ơn các đồng nghiệp đã đóng góp cho tôi nhiều ý kiến bổ ích
trong quá trình thực hiện đề tài
Bản thân tôi có nhiều cố gắng, nỗ lực trong quá trình nghiên cứu, thực
hiện đề tài, nhưng do khả năng và thời gian có hạn nên không thể tránh khỏi
những sai sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô,
chuyên gia và đồng nghiệp Tôi hy vọng luận văn này sẽ đóng góp một phần nhỏ
vào sự nghiệp phát triển và hiện đại hóa mạng Viễn thông Việt Nam
Hà Nội, tháng 10 năm 2007
Lã Thị Thu Hằng
Trang 12CHƯƠNG I HIỆN TRẠNG MẠNG THẾ HỆ MỚI (NGN) CỦA VNPT
1 Đánh giá hiện trạng mạng
Hiện tại các mạng cố định PSTN, mạng VoIP, mạng di động, mạng Internet
của VNPT đang hoạt động riêng rẽ và được kết nối vào mạng trục theo các kênh
riêng Đồng thời các mạng viễn thông của các nhà khai thác khác như Viettel,
SPT, … cũng được kết nối với mạng trục của VNPT theo phương án thuê kênh
Do đó việc thu thập số liệu và đánh giá hiện trạng mạng được tiến hành riêng rẽ
cho từng loại mạng như mạng thoại cố định PSTN, mạng VoIP, mạng di động,
mạng IP, và mạng của các nhà khai thác khác
1.1 Đánh giá hiện trạng mạng PSTN
Mạng trục PSTN của VNPT hiện nay đang là mạng trục kênh PSTN riêng rẽ,
chỉ phục vụ cho lưu lượng thoại cố định PSTN Do đó việc sử dụng băng tần
truyền dẫn là tương đối lãng phí, do các kênh dành riêng cho mạng PSTN đã
được cố định, đồng thời có thể gặp phải tắc nghẽn trong các giờ cao điểm Mặt
khác, mạng trục PSTN thường có cấu hình dạng hình sao, do đó việc đảm bảo dự
phòng trong trường hợp có sự cố đường truyền trên mạng cũng gặp nhiều khó
khăn Thông thường tại mỗi tỉnh đều có một đường dự phòng, tuy nhiên dung
lượng của đường dự phòng này cũng rất hạn chế Với nhu cầu phát triển dịch vụ
trên mạng PSTN trong những năm tới thì việc qui hoạch lại mạng trục PSTN và
tích hợp chúng với lưu lượng các mạng khác trên mạng trục thống nhất là vô
cùng cấp thiết Việc tích hợp mạng trục sẽ giải quyết được 2 vấn đề lớn, đó là
dung lượng băng thông và chất lượng dịch vụ thoại như độ tin cậy, dự phòng,
Với các đường truyền dẫn trục hiện nay đã được quang hoá trên toàn quốc, việc
tăng dung lượng mạng PSTN trục có thể được thực hiện tương đối dễ dàng
Trang 13Đồng thời lưu lượng thoại PSTN cũng sẽ phải tiến tới xu hướng IP hoá để dễ
dàng tích hợp với các loại dịch vụ khác trên mạng trục chung
Hiện tại mạng nội hạt PSTN thường được quản lý trên mô hình cấp tỉnh Tại
mỗi tỉnh, lưu lượng được tập trung tại tổng đài host của tỉnh rồi được kết nối với
mạng đường trục quốc gia do VTN quản lý
Hệ thống tổng đài TOLL gồm có 7 tổng đài AXE-10, hoạt động ổn định; số
cổng trung kế được trang bị như sau:
• Tại Hà Nội: TOLL1: 808 cổng E1; TOLL2: 684 E1 và 8 STM1
• Tại TP.HCM: TOLL1: 724 E1; TOLL2: 1060 E1 và 12 STM1
• Tại Đà Nẵng: TOLL1: 288 E1; TOLL2: 342 E1 và 4 STM1
• Tổng đài Toll/CTO: 334 E1 và 2 STM1
Cụ thể như sau:
• Hệ thống tổng đài Ericsson gồm 03 tổng đài AXE-10 Local 6 (BYB 202),
năng lực xử lý 600.000 BHCA, dung lượng tối đa 24.000 trung kế và 04 tổng
đài AXE-10 Local 7.2 có năng lực xử lý 1.500.000 BHCA, dung lượng tối
đa 60.000 trung kế
• Dung lượng lắp đặt và sử dụng của các loại tổng đài như sau:
- Tại Hà Nội: dung lượng lắp đặt 1.176 trung kế, dung lượng sử dụng 964
Trang 14Toàn bộ 07 tổng đài AXE-10 đều là các STP quốc gia, có tính năng SCCP sử
dụng kết nối mạng di động cung cấp dịch vụ Roaming, ngoài ra còn có thể cung
cấp dịch vụ ISDN, v.v
Với cơ cấu quản lý hiện nay, mô hình này là hợp lý Tuy nhiên chúng ta cần
phải xem xét lại mạng nội hạt và phương thức kết nối vào mạng trục PSTN với
các lý do sau:
- Nhu cầu các dịch vụ Internet sử dụng đường dây điện thoại để truy nhập
ngày càng phát triển
- Thay đổi cơ cấu tổ chức VNPT thành các tập đoàn
- Nhu cầu về băng thông và yêu cầu về chất lượng thoại ngày càng cao
Cùng với xu hướng tích hợp lưu lượng thoại trên mạng trục, dần dần các tổng
đài host tại các tỉnh sẽ được thay thế bằng các Router/Switch kết nối vào mạng
trục IP
1.2 Đánh giá hiện trạng mạng IP
1.2.1 Hiện trạng mạng VoIP
Mạng VoIP trục hiện nay đang được tích hợp với lưu lượng mạng IP trên
mạng NGN của VNPT Trong những năm gần đây, dịch vụ VoIP ngày càng
được phát triển và mở rộng, chiếm thị phần ngày càng lớn so với thoại cố định,
đồng thời cũng thu hút được nhiều nhà cung cấp và khai thác dịch vụ Tuy nhiên,
dung lượng đường trục của mạng VoIP hiện thời chưa đáp ứng được nhu cầu
phát triển của dịch vụ VoIP cả về băng thông, chủng loại dịch vụ lẫn chất lượng
dịch vụ Dự tính trong những năm tới, VoIP sẽ dần dần thay thế dịch vụ thoại cố
định, do đó mạng trục VoIP sẽ phải tích hợp với mạng IP cả về qui mô phát triển
lẫn chất lượng dịch vụ cung cấp
Trang 15
Hiện tại mạng NGN (VoIP) của Tổng công ty đã và đang xây dựng với mục tiêu:
• Xây dựng cơ sở hạ tầng cho mạng NGN tuân theo định hướng cấu trúc mạng
NGN của Tổng công ty Bưu chính - Viễn thông Việt Nam (VNPT)
• Thiết lập một mạng điện thoại IP rộng khắp, linh hoạt có khả năng mở rộng
cao
• Cung cấp các dịch vụ điện thoại IP đa dạng VoIP trả trước, VoIP thuê bao
trả sau, PC2PC, PC2Phone,… tới mọi đối tượng khách hàng
• Hướng tới cơ sở hạ tầng viễn thông có khả năng cung cấp đa dịch vụ như
xDSL, MLPS VPN, VoATM,…
Mạng VoIP đã được đầu tư theo các giai đoạn như sau:
Quy mô giai đoạn 1
Triển khai mạng lõi IP gồm 03 node (Core IP M160 của Juniper) tại Hà Nội, Tp
Hồ Chí Minh và Đà Nẵng 03 Core IP này kết nối với nhau bằng luồng STM-1
trên cơ sở mạng đường trục quốc gia
Triển khai lắp đặt 13 Egde Router tại:
• (02) Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh (ERX-1410 làm Edge Router, ERX-1410 làm
BRAS trong dự án ADSL pha 1 tại mỗi thành phố)
• (02) Đồng Nai, Bình Dương (ERX-1410 có chức năng Edge Router riêng,
ERX-705 làm BRAS trong dự án ADSL pha 1 tại mỗi tỉnh)
• (09) Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An, Huế, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Vũng
Tàu, Cần Thơ và An Giang (tại mỗi tỉnh lắp đặt 01 thiết bị ERX-1410 thực
hiện cả 2 chức năng Edge Router (dự án VoIP pha 1) và BRAS (dự án
ADSL))
Trang 16Triển khai mạng điện thoại IP tại 11 điểm chính là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng
Ninh, Huế, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Tp Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương,
Vũng Tàu và Cần Thơ, với tổng số 52 E1 về các node MG
Quy mô giai đoạn 2
• Border Gateway: Bổ sung 03 Border Gateway kết nối mạng NGN và các
mạng bên ngoài
• Voice Center: Mở rộng Voice Center Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh
• Multilayer Switch: Mở rộng Multilayer Switch Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh
• Hệ thống quản lý:
- Bổ sung thiết bị quản lý NetM Craft Terminal tại Đà Nẵng để thuận tiện
trong việc quản lý dòng thiết bị SURPASS
- Thiết bị quản lý cho các ERX mới
• Core Router:
- Nâng cấp dung lượng kết nối giữa các Core Router M160 với nhau bằng
1×STM-16
- Nâng cấp truyền dẫn từ các Edge Router ERX-1410 Hà Nội và Tp Hồ
Chí Minh lên Core Router M160 bằng 1× STM-4
- Các Edge Router ERX-1410 tại các node khác kết nối lên Core bằng 1×
STM-1
• Edge Router:
- Đầu tư mới 11 Edge Router tại các tỉnh Hà Tây (1), Phú Thọ (1), Bắc
Ninh (1), Thái Nguyên (1), Hải Dương (1), Nam Định (1), Gia Lai (1),
Lâm Đồng (1), Tiền Giang (1), Vĩnh Long (1), Bạc Liêu (1) (tại mỗi tỉnh
lắp đặt 01 thiết bị ERX-1410 thực hiện cả 2 chức năng Edge Router (dự
án VoIP pha 2) và BRAS (dự án ADSL))
Trang 17- Mở rộng 13 Edge Router tại các tỉnh thành trong pha 1
• Media Gateway:
- Đầu tư mới 22 MG 1000 tại 16 tỉnh, thành phố Hà Nội (HNI (1), VTN-1
(2)), Hà Tây (1), Phú Thọ (1), Bắc Ninh (1), Thái Nguyên (1), Hải Dương
(1), Nam Định (1), Nghệ An (1), Gia Lai (1), Đà Nẵng (VTN-3 (1)), Tp
Hồ Chí Minh (HCM (2), VTN2 (3)), Lâm Đồng (1), Tiền Giang (1), Vĩnh
Long (1), Bạc Liêu (1), An Giang (1)
- Mở rộng MG 1000 tại 9 tỉnh trong pha 1: Hải Phòng, Quảng Ninh, Huế,
Đà Nẵng, Khánh Hòa, Đồng Nai, Bình Dương, Vũng Tàu và Cần Thơ
- Đầu tư mới/ mở rộng tổng cộng 1.404 E1 kết nối PSTN về các MG
Quy mô giai đoạn 3
• Edge Router:
- Mở rộng 11 Edge Router tại các tỉnh thành trong pha 2
• Media Gateway:
- Đầu tư mới 02 MG 1200 tại thành phố Hà Nội (1), Tp Hồ Chí Minh (1)
- Mở rộng MG 1000 tại các tỉnh trong pha 2: Hà Tây, Phú Thọ, Bắc Ninh,
Thái Nguyên, Hải Dương, Nam Định, Nghệ An, Gia Lai, Đà Nẵng, Lâm
Đồng, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bạc Liêu, An Giang
- Đầu tư mới/ mở rộng tổng cộng 1.673E1 kết nối PSTN về các MG
Quy mô giai đoạn 4
• Edge Router:
- Đầu tư mới 13 Edge Router tại các tỉnh Hà Nam, Hưng Yên, Thanh Hóa,
Hòa Bình, Hải Phòng, Khánh Hòa, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Trị,
Đắc Lắc, Kiên Giang, Bình Dương, Bình Thuận (tại mỗi tỉnh lắp đặt 01
thiết bị ERX-1410 thực hiện cả 2 chức năng Edge Router và BRAS
Trang 18• Media Gateway:
- Đầu tư mới MG 1100 tại thành phố Hà Nội (26), Hà Tây (01), Nam Định
(02), Thái Nguyên (01), Nghệ An (03), Thanh Hóa (07), Hà Nam (05),
Phú Thọ (03), Hưng Yên (02), Hòa Bình (02), Bắc Ninh (01), Quảng Ninh
(01), Hải Phòng (01), Khánh Hòa (02), Gia Lai (01), Đà Nẵng (11), Đắc
Lắc (02), Quảng Nam (05), Quảng Trị (03), Tp Hồ Chí Minh (29), Cần
Thơ (01), Bình Dương (01), Tiền Giang (02), Vĩnh Long (01), Kiên Giang
(01), Bình Thuận (01)
- Đầu tư mới/ mở rộng tổng cộng 6.208E1 kết nối PSTN về các MG
Cấu hình tổng thể mạng NGN tính đến thời điểm hiện tại như sau:
Hình 1.1 Cấu hình tổng thể mạng NGN hiện tại
Mạng trục backbone với 02 Softswitch điều khiển, 3 Core M160 tại ba trung tâm
1, 2, 3 kết nối với nhau bởi các luồng 2.5 Gbps Các Media Gateway vùng tại
Trang 19tỉnh, thành phố kết nối với các hướng Mạng NGN đã đưa vào hoạt động từ 01
tháng 07 năm 2004, toàn bộ lưu lượng VoIP 171 và khoảng 30% lưu lượng
PSTN
1.2.2 Hiện trạng mạng Internet
• Dung lượng kênh Internet quốc tế: VDC mới đưa vào khai thác kênh 155
Mbps đi Singapore, nâng tổng dung lượng kênh Internet quốc tế lên
6,2Gbps
• Trung kế Internet BackBone trong nước: HNI-HCM: 2,5Gbps; HNI-ĐNG:
2,5Gbps, HCM-ĐNG: 2,5Gbps
• Trung kế Internet liên tỉnh, không kể mạng phân tải của Hà Nội và TP.HCM,
tổng số kênh trung kế Internet liên tỉnh trên mạng hiện là 327 E1 và 06 E3
(qui đổi tương đương với 429E1)
• Phát triển thuê bao 1260: Tổng số Account đã mở: 237050; số thuê bao đang
khai thác: 221456 (Trong đó Hà Nội: 30972; Đà Nẵng: 15379; Tp Hồ Chí
Minh: 103145; Số thuê bao nghiệp vụ là: 262)
• Tổng số thẻ Internet card VNN1260-P đã sử dụng: 544593 với tổng thời
lượng truy nhập thực tế: 720628312 phút,
• Phát triển thuê bao ADSL: ADSL được triển khai rộng khắp cả nước
Trang 20Hình 1.2 Hiện trạng mạng truy nhập VNN
Trang 21Hình 1.3 Mô hình mạng ISP
Trang 22Hình 1.4 Mô hình mạng VNN IXP
1.2.3 Đánh giá hiện trạng mạng IP
Cùng với sự phát triển mạnh của các dịch vụ IP, mạng trục IP hiện nay đang
trên đà phát triển rất nhanh và cả về dung lượng lẫn chất lượng, phương thức, thủ
Trang 23tục Hiện tại các Router/Switch trục đã có mặt ở một số các tỉnh thành và trung
tâm phát triển, tuy nhiên một số các tỉnh thành khác việc phát triển Internet vẫn
còn nhỏ, qui mô manh mún, tạm thời Mạng trục IP hiện thời cũng chưa đáp ứng
được nhu cầu của người sử dụng, chất lượng và tốc độ vẫn còn hạn chế Do đó
theo nhu cầu phát triển của dịch vụ trong những năm tới chúng ta cần phát triển
đường trục IP rộng khắp tới tất cả các tỉnh thành Với tốc độ phát triển dịch vụ IP
như hiện nay thì vấn đề cần quan tâm đầu tiên sẽ là dung lượng đường truyền
Do đó công tác dự báo cho các dịch vụ IP sẽ vô cùng quan trọng Ngoài ra việc
thiết kế mạng trục IP hợp lý, đảm bảo chất lượng dịch vụ cung cấp sẽ trở thành
một bài toán cần phải giải quyết Vấn đề tiếp theo đối với mạng trục IP là nó sẽ
phải tích hợp lưu lượng của tất cả các loại mạng khác trên nền IP Do đó vấn đề
quản lý, điều khiển dịch vụ, phân chia các loại hình dịch vụ và chất lượng cũng
phải được xem xét
2 Các dịch vụ triển khai trên nền mạng NGN
Tính đến thời điểm hiện này T09/2007, mạng NGN đã và đang cung cấp các
dịch vụ sau:
• Thoại truyền thống PSTN và 171 Lưu lượng thoại từ các host của Bưu điện
Tỉnh được chuyển đổi từ TDM sang IP nhờ thiết bị Media Gateway và
ngược lại
• Điện thoại thẻ trả trước 1719
- Là dịch vụ cho phép người sử dụng thẻ 1719 với các mệnh giá khác nhau
(từ 30000 đến 500000) có thời hạn 02 năm, gọi bất kỳ từ máy điện thoại
cố định nào và có thể lựa chọn cuộc gọi tiết kiệm hoặc cuộc gọi chất
lượng để thực hiện cuộc gọi nội hạt, liên tỉnh, quốc tế và di động Cước
phí sẽ được trừ trực tiếp trên tài khoản của thẻ 1719
Trang 24- Ngoài ra, khách hàng có thể lựa chọn gọi 1719 theo phương thức “Gán tài
khoản trả trước” tức là cung cấp cho khách hàng khả năng sử dụng dịch
vụ từ máy điện thoại cố định mà không cần nhập mã pin code
• Dịch vụ miễn cước người gọi 1800 (Freephone)
- Cho phép người sử dụng thực hiện cuộc gọi miễn phí tới nhiều đích khác
nhau thông qua một số điện thoại duy nhất trên toàn quốc Cước phí của
dịch vụ sẽ tính cho thuê bao đăng ký dịch vụ 1800
- Lợi ích của dịch vụ:
Đối với người sử dụng dịch vụ: Không phải trả cước cuộc gọi Có
thể gọi từ bất kỳ nơi nào mà chỉ cần nhớ một số điện thoại duy nhất
Đối với thuê bao đăng ký sử dụng dịch vụ: Khuyến khích khách
hàng gọi tới trung tâm hỗ trợ và giới thiệu sản phẩm Dễ dàng quảng bá với một số điện thoại duy nhất trên toàn quốc Thuê bao
có thể tổ chức nhiều đích đến khác nhau linh hoạt theo thời gian (ngày trong tuần, giờ trong ngày hoặc theo vị trí xuất phát của cuộc gọi)
• Dịch vụ thông tin giải trí 1900 (Premium Service)
- Là loại dịch vụ đặc biệt cho phép thực hiện cuộc gọi tới nhiều đích khác
nhau thông qua một số truy nhập thống nhất trên toàn quốc
- Người sử dụng dịch vụ gọi đến số điện thoại này để nghe thông tin về thời
tiết, thể thao, tư vấn, thương mại hay tham gia các chương trình bình chọn
văn hóa, thể thao
• Dịch vụ Internet: Lưu lượng Internet từ DSLAM của các Bưu điện Tỉnh
được chuyển đến các Edge Router (ERX1410) qua Core Router (M160) sang
VDC
• Dịch vụ mạng riêng ảo VPN – Virtual Private Network
Trang 25- Là dịch vụ cung cấp kết nối mạng riêng ảo cho khách hàng trên nền mạng
IP/MPLS
- Lợi ích của dịch vụ
Linh hoạt, ổn định theo yêu cầu riêng biệt
Khai thác hiệu quả mềm dẻo Người sử dụng có thể vừa thực hiện
kết nối mạng riêng ảo vừa có thể truy cập Internet
Dễ dàng nâng cấp tốc độ đường truyền, kiểm soát được chất lượng
dịch vụ và mở rộng các site
Dễ dàng cấu hình và quản lý mạng
Kiểm soát được chất lượng dịch vụ
Cung cấp cho người sử dụng các kênh thuê riêng được bảo mật
theo tiêu chuẩn quốc tế
Triển khai nhanh chóng, thuận tiện với chi phí thấp
• Dịch vụ truyền hình hội nghị (Video Conference)
- Là dịch vụ truyền dẫn tín hiệu hình ảnh và âm thanh giữa hai hay nhiều
điểm khác nhau, cho phép nhiều người tham dự tại các địa điểm có thể
trao đổi trực tiếp bằng hình ảnh, âm thanh qua màn hình và loa
- Lợi ích của dịch vụ:
Với việc sử dụng tiết kiệm băng thông, truyền hình hội nghị mang
lại cho khách hàng nhiều loại hình đa dạng với chi phí thấp
Dịch vụ có thể giúp các tổ chức, doanh nghiệp thực hiện hội thảo
giữa các chi nhánh, văn phòng khác nhau thông qua màm hình Tivi
Là công cụ hiệu quả, hữu ích trong việc phục vụ công tác đào tạo,
giảng dạy hoặc trợ giúp y tế từ xa
• Dịch vụ IP Centrex: Là dịch vụ cung cấp các chức năng của tổng đài PBX
(Private Branch Exchange) cho hệ thống điện thoại nôi bộ của khách hàng
dựa trên nền IP mà không cần có thiết bị chuyển mạch PBX
Trang 26CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ PHẦN CHUYỂN MẠCH CHO MẠNG NGN
Mục tiêu qui hoạch mạng chuyển mạch IP đến năm 2015 là xây dựng mạng
chuyển mạch IP bao gồm các phần: xác định cấu trúc mạng, xác định phương
pháp định tuyến, định cỡ các nút chuyển mạch IP, định cỡ các kết nối IP Mục
tiêu của phương pháp tối ưu hoá mạng IP là giảm thiểu giá thành chung đầu tư
cho mạng (bao gồm cả mạng chuyển mạch và truyền dẫn), trong khi vẫn phải
đảm bảo chất lượng dịch vụ (trễ, tổn thất gói), độ tin cậy và dự phòng của mạng
cho tất cả các loại hình dịch vụ và thoả mãn đáp ứng nhu cầu lưu lượng của tất
cả các mạng riêng rẽ (PSTN, VoIP, di động, IP, số lượng thuê kênh từ các nhà
khai thác khác) Do đó để giải bài toán tối ưu hoá thống nhất cho toàn mạng việc
xác định cấu trúc và định cỡ mạng chuyển mạch IP sẽ phải nằm trong một thể
thống nhất với tối ưu hoá mạng truyền dẫn Tôi sẽ trình bày tóm tắt qui trình và
phương pháp thực hiện định xác định cấu trúc, định cỡ mạng chuyển mạch IP
1 Số liệu đầu vào và các yêu cầu
• Số liệu đầu vào cho qui hoạch mạng chuyển mạch IP bao gồm bảng ma
trận lưu lượng dự báo nhu cầu lưu lượng và dịch vụ của mạng tính đến
năm 2015 vị trí các điểm đặt các nút chuyển mạch IP (theo mô hình quản
lý mạng hiện thời và chính sách cơ cấu tổ chức mạng của VNPT), khoảng
cách giữa các nút mạng (theo đường truyền dẫn)
• Bảng lưu lượng dự báo được tính trên giá trị trung bình lưu lượng tại giờ
bận
• Các yêu cầu về chất lượng mạng: Yêu cầu về chất lượng end-to-end các
dịch vụ đầu cuối, chất lượng của mạng trục trên các tham số trễ, tỉ lệ tổn
thất gói tin Ngoài ra còn có các yêu cầu về độ tin cậy, dự phòng
• Các số liệu khác cần có phục vụ cho qui hoạch mạng: số liệu về mẫu lưu
lượng trên mạng trục để phục vụ công tác mô hình hoá lưu lượng, tính
Trang 27băng tần cần thiết đảm bảo các tham số chất lượng dịch vụ mạng Các số
liệu này được lấy từ đo kiểm lưu lượng IP mạng trục của VNPT hoặc
tham khảo từ các nguồn mẫu lưu lượng nước ngoài
• Dự phòng trên lớp IP được thiết kế thống nhất với dự phòng trên lớp
truyền dẫn
2 Xác định công nghệ mạng chuyển mạch – công nghệ MPLS
Cấu trúc mạng IP sẽ gắn liền với việc lựa chọn công nghệ sử dụng và kèm
theo đó là các phương pháp định tuyến cũng như công nghệ truyền dẫn sử dụng
Công nghệ mạng IP lựa chọn sẽ phải nằm trong kế hoạch mạng tổng thể và công
nghệ mạng mục tiêu NGN Tuy nhiên với xu hướng công nghệ mạng thế giới
hiện nay và tình hình, chính sách phát triển mạng của VNPT, tôi đưa ra một vài
kết luận sau về công nghệ mạng IP cũng như truyền dẫn liên quan đến việc qui
hoạch mạng:
• Xu hướng công nghệ sẽ bỏ bớt các lớp thủ tục trung gian giữa lớp
IP-Optical và tiến tới mô hình IP Over IP-Optical
• Các thủ tục truyền tải có định hướng như MPLS, GMPLS đang có ưu thế
trên mạng trục nhờ một loạt các ưu điểm hỗ trợ chất lượng dịch vụ QoS
• Công nghệ truyền dẫn sẽ tập trung chủ yếu vào công nghệ thông tin quang
WDM, DWDM, với khả năng về băng thông lớn và tiết kiệm tài nguyên
sợi quang
• Các phương pháp định tuyến vẫn sẽ tập trung vào các phương pháp định
tuyến sử dụng trên mạng IP hiện thời như OSPF, IS-IS
2.1 Tổng quan công nghệ MPLS
Sự phát triển đa dạng của các ứng dụng dựa trên công nghệ gói điển hình là
giao thức IP đã kéo theo sự bùng nổ lưu lượng và làm thay đổi bản chất lưu
lượng truyền tải trên mạng Định tuyến IP đã phát triển thêm tính năng mới, dưới
Trang 28ảnh hưởng của công nghệ mới, đó là chuyển mạch nhãn đa giao thức (MPLS)
MPLS được hướng thành một mảng điều khiển không chỉ đơn thuần sử dụng cho
bộ định tuyến mà còn với công nghệ cũ như SDH và thiết bị mới như OXC
Những nỗ lực này đã tạo ra mảng điều khiển chung chuẩn hoá, một phần tử thiết
yếu trong sự phát triển mạng mở và tương hợp Trước hết, một mảng điều khiển
chung sẽ làm đơn giản hoá hoạt động khai thác và bảo dưỡng, do đó giảm được
chi phí vận hành mạng Tiếp đến, mảng điều khiển chung cung cấp một loạt giải
pháp phát triển từ mô hình chồng đến mô hình đồng cấp Một số sửa đổi và thêm
tính năng vào giao thức định tuyến và báo hiệu MPLS để thích ứng với mạng
chuyển mạch quang đã được thực hiện bởi IETF GMPLS là tên gọi mới của
giao thức MPLS đã được mở rộng thành mảng điều khiển chung cho mạng
truyền tải thế hệ sau
Hình 2.1 Mô hình kiến trúc giao thức MPLS/GMPLS
Chuyển mạch nhãn đa giao thức (MPLS) là một công nghệ mới xuất hiện
nhưng đã chiếm được lòng tin của người sử dụng, nhờ sự tích hợp mô hình phát
chuyển trao đổi nhãn với định tuyến lớp mạng Những nỗ lực ban đầu của MPLS
tập trung vào IPv4 để hỗ trợ các giao thức định tuyến IP tìm đường kết nối trong
mạng Tuy nhiên, MPLS cũng cung cấp khả năng thiết kế lưu lượng: chuyển
Trang 29luồng lưu lượng từ các tuyến ngắn nhất được xác định theo thuật toán của giao
thức định tuyến đến tuyến có tiềm ẩn nghẽn thấp nhất qua mạng
Nguyên lý hoạt động chủ yếu trong công nghệ MPLS là thực hiện gán nhãn
cho các loại gói tin cần chuyển đi tại các bộ định tuyến nhãn biên LER, sau đó
các gói tin này sẽ được trung chuyển qua các bộ định tuyến chuyển mạch nhãn
LSR Các đường chuyển mạch nhãn LSP được thiết lập bởi người điều quản lý
mạng trên cơ sở đảm bảo một số yêu cầu kỹ thuật nhất định như là mức độ
chiếm dụng đường thông, khả năng tắc nghẽn, chức năng kiến tạo đường
hầm….Như vậy, sự hoạt động chuyển mạch các LSP cho phép MPLS có khả
năng tạo ra các kết nối đầu cuối tới đầu cuối như đối với công nghệ ATM hoặc
Frame Relay và cho phép truyền lưu lượng qua các tiện ích truyền tải khác nhau
mà không cần phải bổ sung thêm các giao thức truyền tải hoặc cơ cấu điều khiển
ở phân lớp 2 Những chức năng chủ yếu của công nghệ MPLS đã được mô tả và
định nghĩa trong các tài liệu của tổ chức IETF (RFC 3031, 3032) Phương pháp
chuyển mạch nhãn ứng dụng trong công nghệ MPLS cho phép các bộ định tuyến
thực hiện định tuyến gói tin nhanh hơn do tính đơn giản của việc xử lý thông tin
định tuyến chứa trong nhãn Một chức năng quan trọng nữa được thực hiện trong
MPLS đó là thực hiện các kỹ thuật lưu lượng, các kỹ thuật này cho phép thiết lập
các đường thông các thông số thực hiện mạng để có thể truyền tải lưu lượng với
các cấp dịch vụ và chất lượng dịch vụ khác nhau (RFC 2702) Một chức năng
quan trọng nữa được cung cấp trong MPLS đó là khả năng kiến tạo các kết nối
đường hầm để cung cấp dịch vụ mạng riêng ảo (VPN) Mạng thực hiện trên cơ
sở công nghệ MPLS cho phép giảm độ phức tạp điều khiển và quản lý mạng do
việc truyền tải lưu lượng xuất phát từ nhiều loại hình giao thức khác nhau Công
nghệ MPLS hiện tại đang được phát triển theo hai hướng: MPλS (Multi Protocol
lamda Switching) và GMPLS (Generalized Multiprotocol Label Switching)
MPλS tập trung vào xây dựng ứng dụng truyền tải IP qua mạng quang, cụ thể là
tìm kiếm các giải pháp chuyển tải luồng lưu lượng IP vào các bước sóng quang
Trong khi đó GMPLS tập trung vào việc xây dựng nền tảng điều khiển cho mạng
Trang 30MPLS nhằm tích hợp chức năng quản lý của các phương thức truyền tải khác
nhau như là IP, SDH, Ethernet … trên một nền tảng quản lý thống nhất
Mặc dù về cơ bản có thể hài lòng về MPLS nhưng các đặc tính tiên tiến như
VPN và thiết kế lưu lượng hiện vẫn đang còn nhiều tranh luận Việc thực thi các
đặc tính này là hoàn toàn đúng đắn tuy nhiên rất có thể sẽ không liên kết hoạt
động với những công nghệ khác
GMPLS chủ yếu tập trung vào mảng điều khiển để thực hiện quản lý kết nối
cho mảng số liệu (lưu lượng số liệu thực tế) cho cả giao diện chuyển mạch kênh
và chuyển mạch gói Mảng điều khiển này đảm nhiệm bốn chức năng cơ bản
sau:
• Điều khiển định tuyến: cung cấp chức năng định tuyến, thiết kế lưu lượng
và tìm kiếm topo
• Tìm kiếm tài nguyên: cung cấp cơ chế lưu vết tài nguyên khả dụng của hệ
thống như băng tần, dung lượng ghép kênh và cổng lưu lượng
• Quản lý kết nối: cung cấp dịch vụ đầu cuối đến đầu cuối cho dịch vụ khác
Chức năng này gồm tạo, thay đổi, chất vấn và xoá kết nối
• Khôi phục kết nối: cung cấp mức độ bảo vệ phụ cho mạng
2.2 Khả năng cung cấp dịch vụ
Một trong những dịch vụ cơ bản là cung cấp kết nối đầu cuối đến đầu cuối
Nhà khai thác chỉ cần mô tả các tham số kết nối và gửi chúng đến nút vào mạng
Nút vào mạng sẽ xác định đường kết nối tương ứng với những tham số người sử
dụng cung cấp và báo hiệu cho những nút liên quan để thiết lập kết nối Toàn bộ
thủ tục này chỉ thực hiện mất vài giây thay vì vài giờ như trước đây
Một dịch vụ quan trọng khác đó là cung cấp băng tần theo yêu cầu Đây là sự
mở rộng tính năng của dịch vụ trên bằng cách cho phép thiết bị lớp cuối (client)
kết nối vào mạng quang để thiết lập kết nối theo thời gian thực như yêu cầu
Trang 31Dịch vụ chính mang lại sự mềm dẻo nhất cho người sử dụng đó là mạng riêng
ảo (VPN) Dịch vụ này cho phép người sử dụng có quyền kiểm soát toàn bộ tài
nguyên của mạng trong phân vùng mạng đã định nghĩa trong mạng truyền tải
Mặc dù có quyền kiểm soát tài nguyên mạng nhưng VPN chỉ là phân vùng mạng
logic và người sử dụng kết cuối không thể truy nhập và có thể thấy mạng của
nhà cung cấp Dịch vụ này tiết kiệm tài nguyên cho nhà cung cấp thông qua việc
trao quyền thiết lập thủ tục và kênh thông tin cho khách hàng
GMPLS được phát triển với mục đích tạo ra một bộ giao thức mà có thể áp
dụng cho tất cả các kiểu giao thức Nó mở rộng kiến trúc của MPLS cho các kiểu
giao tiếp hơn là giao tiếp dựa trên công nghệ gói GMPLS cũng duy trì khả năng
sẵn có của MPLS là tạo thành G-LSP G-LSP sẽ tạo thành cấp phát chuyển: trên
cùng là giao diện chuyển mạch sợi (FSC), kế đến là giao diện chuyển mạch
lamda (LSC), giao diện chuyển mạch TDM và cuối cùng là giao diện chuyển
mạch gói (PSC)
Cung cấp các giao thức báo hiệu
Giao thức báo hiệu là một giao thức quan trọng được sử dụng trong mạng
điều khiển Hiện thời chỉ có hai giao thức được sử dụng rộng rãi đó là: Giao thức
phân bố nhãn định tuyến bắt buộc (CR-LDP) và mở rộng thiết kế lưu lượng -
Giao thức dành trước tài nguyên (RSVP-TE) Bất cứ đối tượng nào được
GMPLS định nghĩa cũng có thể mang trong các bản tin báo hiệu của những giao
thức này Giao thức báo hiệu có trách nhiệm đối với tất cả những hoạt động quản
lý kết nối Nó dùng để thiết lập và gỡ bỏ LSP, thay đổi LSP và truy tìm thông tin
LSP
Cung cấp chức năng định tuyến gắn với kỹ thuật lưu lượng
Như đã trình bày trên, các chức năng của mảng điều khiển bao gồm quản lý
kết nối, chức năng định tuyến, thiết kế lưu lượng và tìm kiếm topo và tài nguyên
Các giao thức báo hiệu và GMPLS chỉ thực hiện những vấn đề liên quan đến
Trang 32quản lý kết nối Do đó phải cần đến một số giao thức khác để đảm nhiệm những
phần còn lại
Định tuyến thiết kế lưu lượng mở rộng giao thức định tuyến truyền thống để
cung cấp toàn bộ những chức năng định tuyến sẵn có và thêm năng lực thiết kế
Sự khác biệt chính giữa hai kiểu giao thức này đó là định tuyến thiết kế lưu
lượng phân bố gói tùy theo chu kỳ qua mạng; những gói này chứa thông tin khả
dụng về tài nguyên và các tham số thiết kế lưu lượng Khi các phần tử mạng
nhận được những gói này thì chúng sẽ sử dụng dữ liệu trong đó để thực hiện tính
toán định tuyến và quyết định luồng phát chuyển đáp ứng yêu cầu thiết kế lưu
lượng của người sử dụng
Do đó giao thức mở rộng định tuyến thiết kế lưu lượng có thể hỗ trợ cho việc
tìm kiếm tài nguyên và topo, thiết kế lưu lượng Tương tự như giao thức báo
hiệu, hiện nay cũng mới chỉ có hai giao thức định tuyến IS-IS và OSPF được sử
dụng rộng rãi
Cung cấp giao thức quản lý tuyến (LMP)
Nhằm đảm bảo thông tin nhãn GMPLS chính xác giữa các phần tử mạng
(NE) cần phải xác định các cổng kết nối giữa chúng LMP hoạt động giữa các hệ
thống lân cận cho việc cung cấp tuyến và cô lập lỗi LMP cũng được sử dụng
cho bất cứ phần tử mạng nào, tuy nhiên nó thường được hướng cho chuyển mạch
quang
Những chức năng như QoS, khôi phục và VPN thường được cung cấp từ lớp
ATM và SDH sẽ được thay thế bằng GMPLS qua lớp IP và WDM Nhu cầu
VPN với QoS xác định được thực hiện qua ATM nay được đảm nhiệm bởi QoS
IP và VPN IP Tương tự như vậy chức năng bảo vệ Ring được thực hiện bởi
SDH cũng được thay thế bằng khôi phục quang và IP Chúng ta sẽ cùng kiểm
chứng những điều này qua việc phân tích tính năng lớp IP và WDM dưới sự hỗ
trợ của công nghệ điều khiển mạng GMPLS
Trang 33Hỗ trợ IP QoS
IP QoS được sử dụng để đảm bảo truyền dẫn chính xác lưu lượng theo những
yêu cầu bắt buộc đã được xác định như trễ hoặc jitter Nó có thể chia thành
những nội dung sau:
• Phân lớp dịch vụ qua phần mô tả lưu lượng để phân loại gói thành nhóm
và tạo khả năng truy nhập cho xử lý QoS trên mạng
• Quản lý nghẽn tạo hàng chờ, phân chia gói vào hàng chờ theo loại gói và
lập kế hoạch truyền dẫn gói trong hàng chờ
• Kỹ thuật tránh nghẽn, giám sát tải lưu lượng mạng để tiên liệu trước và
tránh nghẽn tại những nút cổ chai chung của mạng
• Cả hai cơ chế chính sách và sửa dạng lưu lượng sử dụng phần mô tả lưu
lượng của gói (qui định bởi phân loại gói) để đảm bảo chất lượng dịch vụ
• Báo hiệu QoS là một dạng thông tin của mạng mà đưa ra cách thông tin
của nút mạng với nút lân cận để yêu cầu xử lý đặc biệt cho lưu lượng nào
đó
Kiến tạo VPN IP
VPN IP cung cấp dung lượng dành trước qua mạng với một băng tần đảm
bảo và các bộ định tuyến được phân cách trước Dịch vụ này cung cấp một số
mức độ bảo mật kết hợp với sự đảm bảo về QoS nghiêm ngặt cho thông lượng
đầu ra, độ sẵn sàng, mất gói, trễ và jitter
Khôi phục IP
Có một số lợi ích rõ ràng từ khôi phục lớp IP đó là tính mềm dẻo cao khi
cung cấp luồng khôi phục và biểu thị mức khôi phục Ví dụ, lưu lượng thoại rất
nhạy với trễ và jitter có thể được phân biệt và khôi phục ở một cấp độ cao nhất
Ngược lại, lưu lượng Internet chỉ được khôi phục ở mức thấp nhất vì nó có thể
lưu lại và định tuyến qua mạng dễ dàng
Trang 34Bảo vệ và khôi phục quang
Chức năng khôi phục quang bị giới hạn trong kết nối điểm - điểm hoặc phân
mạng Ring Nguyên tắc chính của bảo vệ quang trong mạng đa bước sóng là
cung cấp kết nối điểm - điểm tin cậy dùng để liên kết các nút lớp dịch vụ (IP)
ITU-T đã định nghĩa lớp mạng quang theo ba phân lớp, và bảo vệ quang cũng
được áp dụng tại ba phân lớp này
• Bảo vệ đường truyền quang: cung cấp khả năng chống lại sự cố tại lớp
đoạn truyền dẫn theo cơ chế bảo vệ 1+1 hoặc 1:1
• Bảo vệ kênh quang: cung cấp bảo vệ 1:1 cho các kênh quang dựa trên cơ
sở kênh này đến kênh kia tại lớp kênh quang
• Bảo vệ đoạn ghép kênh quang: OADM cung cấp khả năng phân bổ kênh
bước sóng động và chuyển mạch bảo vệ để bảo vệ kênh quang chống lại
sai hỏng mạng
2.3 Khả năng triển khai MPLS/GMPLS
MPLS/GMPLS sẽ được triển khai rộng khắp trong vài năm tới Có hai lý do
để tin vào điều này:
• Thứ nhất, chúng ta cùng nhìn lại một số công nghệ trụ cột hiện thời như
ATM hay SDH, chúng cũng phải mất một thời gian (khoảng 5 năm) để có
được chỗ đứng vững chắc trong mạng của nhà khai thác MPLS/GMPLS
cũng sẽ đi theo con đường đó
• Thứ hai, một điều dễ thấy là sẽ không thể liên kết mạng nếu như sản phẩm
được thực thi theo những cách riêng (độc quyền) của từng hãng Do đó,
MPLS/GMPLS trở thành một mảng điều khiển chuẩn là vô cùng quan
trọng Hiện tại nhiều tổ chức công nghiệp như IETF và OIF đã bắt tay với
nhau dưới sự hỗ trợ mạnh mẽ từ các nhà cung cấp dịch vụ truyền tải và
Internet Bởi vậy, trong vài năm tới nhất định MPLS/GMPLS sẽ trở thành
Trang 35đối tượng thu hút nhiều nhà kinh doanh trong lĩnh vực viễn thông, và chỗ
đứng của nó được đảm bảo bằng nguồn tài chính đổ vào trong những năm
tới
Hiện nay đã có nhiều công ty quảng cáo sản phẩm MPLS/GMPLS thương
mại của mình trên mạng Tuy nhiên cũng chưa có đánh giá đầy đủ nào về hiệu
quả của MPLS/GMPLS thực tế trên mạng
MPLS/GMPLS hiện đang được phát triển như một chuẩn mở cho phép nhà
cung cấp dịch vụ phát triển và triển khai dịch vụ mới một cách nhanh chóng Và
cũng nhờ đó tránh được vấn đề không tương hợp thiết bị của các nhà sản xuất
khác nhau trên cùng phân đoạn mạng
MPLS/GMPLS là một giải pháp chuẩn mở mà hợp nhất các mạng khác nhau
làm đơn giản, mở rộng và tăng tốc độ dịch vụ giá trị cao IETF và OIF là hai
nhóm công nghiệp dẫn đầu trong nỗ lực chuẩn hoá GMPLS IETF tập trung vào
xây dựng khung tổng thể và các giao thức cho GMPLS còn OIF phát triển tính
phối hợp cụ thể của từng giao thức
Một vài vấn đề mang tính đặc trưng riêng của mạng quang đã được kết hợp
trong phiên bản tiêu chuẩn nháp GMPLS hiện thời Tuy nhiên hiện vẫn còn rất
nhiều việc cần làm để chuẩn hoá GMPLS
GMPLS sẽ là một phần không thể tách rời khi triển khai mạng số liệu thế hệ
sau Công nghệ này cung cấp cầu nối giữa lớp mạng IP và quang để cho phép
phát triển đồng thời khả năng mở rộng và tương hợp trong hai lớp mạng này
Với GMPLS, khoảng trống giữa hạ tầng truyền thống và lớp IP đang được thu
hẹp, mở đường cho việc triển khai dịch vụ nhanh chóng và hiệu quả
Qua nghiên cứu trên cho thấy MPLS/GMPLS hoàn toàn có thể đảm nhiệm
được chức năng của ATM và SDH thể hiện ở QoS, khôi phục, VPN và bảo vệ
Ring nhờ QoS IP, VPN IP, khôi phục IP và khôi phục lớp quang Nhà cung cấp
Trang 36dịch vụ có thể tích hợp giao thức báo hiệu trong MPLS/GMPLS để thiết lập hạ
tầng truyền tải dung lượng cao, xử lý lượng dung lượng lớn theo cách hiệu quả,
nâng cao tốc độ dịch vụ và giải quyết được ảnh hưởng của nghẽn mạng
Trong vài năm tới, MPLS/GMPLS sẽ là một trong những công nghệ không
thể thiếu trong hạ tầng mạng truyền tải thế hệ sau
Ưu điểm
• MPLS có thể áp dụng phù hợp với hầu hết các cấu trúc tô-pô mạng (mesh
hoặc ring) Bởi vì các tuyến MPLS dựa trên tô pô và sử dụng nhãn để
nhận diện nên tuyến dễ dàng được định tuyến lại
• MPLS cho phép truyền tải đa dịch vụ với hiệu suất truyền tải cao Chức
năng điều khiển quản lý lưu lượng trong MPLS cho phép truyền tải lưu
lượng các loại hình có yêu cầu về QoS
• MPLS cho phép định tuyến gói tin với tốc độ nhanh do giảm thiểu việc xử
lý thông tin định tuyến
• MPLS cho có khả năng kiến tạo kết nối đường hầm Dựa trên khả năng
này nhà cung cấp dịch vụ có thể cung cấp các dịch vụ kết nối ảo (ví dụ
như TLS ở mức 2, VPN ở mức 3) Thêm nữa sử dụng nhãn, lưu lượng
riêng có thể tách ra khỏi mạng công cộng
• MPLS có khả năng phối hợp tốt với IP để cung cấp các dịch vụ mạng
riêng ảo trong môi trường IP và kết hợp với chức năng RSVP để cung cấp
dịch vụ thỏa mãn QoS trong môi trường IP (RSVP-TE LSPs)
Nhược điểm
• Khả năng hồi phục mạng không nhanh khi xảy ra sự cố hư hỏng trên
mạng Cơ chế bảo vệ lớp mạng quang có thể không đủ hiệu quả để bảo vệ
cho luồng MPLS
Trang 37• MPLS chỉ quan tâm đến lưu lượng tổng thể và như vậy thì rất khó hiện
thực các luồng nhỏ Chú ý có thể gán nhãn cho mỗi luồng nhưng sẽ không
thể mở rộng trong mạng lõi do số lượng luồng là rất lớn
• Do MPLS là topo định hướng nên nhãn cần được gán cho mỗi tuyến Đây
lại trở thành điểm yếu của MPLS khi tuyến không sử dụng thì coi như
lãng phí nhãn
• Khi triển khai một công nghệ mới như MPLS đòi hỏi các nhân viên quản
lý và điều hành mạng cần được đào tạo và cập nhật kiến thức về công
nghệ mới, nhất là các kiến thức mới về quản lý và điều khiển lưu lượng
trên toàn mạng
• Giá thành xây dựng mạng dựa trên công nghệ MPLS nói chung còn khá
đắt
Nhận xét: Công nghệ MPLS phù hợp cho việc xây dựng mạng với mục tiêu
truyền tải dịch vụ tích hợp và đạt được hiệu suất truyền tải cao, đảm bảo QoS
của dịch vụ Công nghệ MPLS/IP sẽ là công nghệ chủ đạo trong mạng NGN và
là công nghệ chủ đạo để xây dựng mạng lõi, mạng biên lớn, có quy mô cỡ một
thành phố hay quốc gia Tuy nhiên các dịch vụ sử dụng công nghệ MPLS sẽ phải
triển khai dần dần theo từng giai đoạn
3 Phương thức định tuyến IP/MPLS
3.1 Giao thức CR-LDP
Giao thức CR-LDP được sử dụng để điều khiển cưỡng bức LDP Giao thức
này là phần mở rộng của LDP cho quá trình định tuyến cưỡng bức của LSP
Cũng giống như LDP, nó sử dụng các phiên TCP giữa các LSR đồng cấp để gửi
các bản tin phân phối nhãn
Trang 383.2 Giao thức RSVP
RSVP là giao thức cho phép các ứng dụng thông báo các yêu cầu về QoS với
mạng và mạng sẽ đáp ứng bằng những thông báo thành công hoặc thất bại
RSVP phải mang các thông tin sau:
• Thông tin phân loại, nhờ nó mà các luồng lưu lượng với các yêu cầu QoS cụ
thể có thể được nhận biết trong mạng Thông tin này bao gồm địa chỉ IP phía
gửi và phía nhận
• Chỉ tiêu kỹ thuật của luồng lưu lượng và các yêu cầu QoS, theo khuôn dạng
TSpec và RSpec, bao gồm các dịch vụ yêu cầu (có bảo đảm hoặc tải điều
khiển)
Rõ ràng là RSVP phải mang những thông tin này từ các máy chủ tới tất cả
các tổng đài chuyển mạch và các bộ định tuyến dọc theo đường truyền từ bộ gửi
đến bộ nhận, vì vậy tất cả các thành phần mạng này phải tham gia vào việc đảm
bảo các yêu cầu QoS của ứng dụng
4 Đảm bảo QoS cho mạng
Một trong những vấn đề quan trọng trong công tác qui hoạch là phải định cỡ
các đường định tuyến và các nút mạng sao cho hạ tầng truyền tải có thể đáp ứng
các yêu cầu về chất lượng dịch vụ Các tham số về chất lượng dịch vụ đầu cuối
cho mạng IP được xác định theo Khuyến nghị của ITU-T là độ trễ trung bình, độ
trễ lớn nhất, độ vi sai trễ, tỉ lệ tổn thất gói tin Mỗi một dịch vụ cụ thể (như thoại,
video, dữ liệu Internet, …) sẽ đòi hỏi một cấp chất lượng dịch vụ khác nhau Để
thoả mãn các điều kiện về QoS này, ngoài việc phải xác định và phân bố tài
nguyên của mạng, như băng tần, bộ đệm, … còn phải áp dụng các cơ chế phân
chia và ưu tiên, các thuật toán và thủ tục (như DiffServ) cho các lớp lưu lượng
ứng với các dịch vụ đầu cuối Trong bài toán qui hoạch chúng tôi sẽ giới hạn
việc tính toán qui hoạch mạng chuyển mạch IP dựa trên yêu cầu về trễ gói tin
trung bình và tỉ lệ tổn thất gói tin Để tính được chính xác băng thông yêu cầu
Trang 39cho mạng trục trên mỗi đường kết nối thoả mãn các tham số về QoS như trễ, tỉ lệ
tổn thất gói tin chúng ta phải mô hình hoá lưu lượng Hiện nay các nghiên cứu về
lưu lượng mạng cho thấy lưu lượng IP tập trung trên mạng trục sẽ phải có dạng
Long-Range Dependent (LRD) Do đó các tham số như giá trị trung bình, vi sai,
tham số Hurst sẽ phải được tính đến dựa trên các mẫu về lưu lượng thu được trên
mạng Dựa trên các tham số về lưu lượng, lưu lượng đầu vào của một node sẽ
được mô hình hoá Đồng thời sử dụng kỹ thuật mô phỏng node bằng một hàng
đợi, chúng ta sẽ tính băng thông yêu cầu cho mỗi node đảm bảo độ trễ trung bình
và tỉ lệ tổn thất gói tin cho trước Tuy nhiên với sự thay đổi và không ổn định
của các tham số lưu lượng, nhất là đối với các lưu lượng mạng trong tương lai,
việc xác định các tham số lưu lượng mạng trục gần như không có khả năng Do
đó chúng ta có thể sử dụng các kết quả đã đạt được từ các nghiên cứu sẵn có để
phân bổ tài nguyên cần thiết cho các kết nối và ước tính giá trị băng thông cho
các kết nối cụ thể Băng thông cần thiết để đảm bảo QoS có thể được tính dựa
trên tỉ lệ với lưu lượng trung bình – là tham số đã có được từ bảng dự báo lưu
lượng
Trên mạng trục, lưu lượng của các dịch vụ khác nhau được chia ra thành các lớp,
ứng với các lớp lưu lượng đòi hỏi chất lượng dịch vụ khác nhau theo Khuyến
nghị của ITU-T Trong bài toán qui hoạch này tôi chia lưu lượng mạng thành 3
lớp QoS theo Rem Y 1541:
− Lớp 0 (class 0): Các dịch vụ thời gian thực, thoại VoIP, video
− Lớp 2 (class 2): Lưu lượng điều khiển, báo hiệu
− Lớp 3 (class 3): Lưu lượng dữ liệu
Để đảm bảo độ trễ đầu cuối trung bình, tôi cũng hạn chế số lượng hop trên mỗi
đường định tuyến (path) Thí dụ, với độ trễ đầu cuối cho các dịch vụ thời gian
thực là 100 ms (Rem Y 1541), tạm tính cho độ trễ trên mỗi path không vượt
quá 20 ms trên mạng trục (tham khảo phân bổ trễ đầu cuối trong Rem Y 1541,
Trang 40giải pháp NGN của các hãng như Erisson, …), giá trị trễ trung bình trên mỗi
node thường vào khoảng 2 ms, thì trên mỗi path không được có quá 10 node
5 Cơ chế bảo vệ mạng IP/MPLS
Xác định cấu trúc mạng phụ thuộc vào cơ chế bảo vệ mạng Với mỗi cơ chế
bảo vệ sẽ có một cấu trúc mạng tương ứng đảm bảo cho yêu cầu an toàn mạng
Một trong các cách bảo vệ khi có lỗi xảy ra là sử dụng cơ chế bảo vệ tuyến
Khái niệm bảo vệ tuyến có nghĩa là làm cách nào đó dự phòng đủ băng thông
trên một tuyến khác dành cho trường hợp có một link bị lỗi trong bất kỳ đường
nào của mạng Nếu lỗi xảy ra trên tuyến truyền dữ liệu, mạng sẽ sử dụng tuyến
dự phòng
Ở hình 2.2, dữ liệu được truyền trên tuyến dự phòng khi có lỗi xảy ra nhưng
để sử dụng tuyến này cần phải xác định tuyến này và phải đảm bảo có đủ dung
lượng trên tuyến mới để xử lý luồng dữ liệu Cần có thời gian và nếu ta muốn
chuyển sang tuyến mới mà không làm ngắt quãng kết nối, tuyến dự phòng cần
được xác định trước