1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Dien dong co KIA2 (basic)

44 132 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 2,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu hay về điện ô tô xe KIA

Trang 1

Hệ thống điều khiển

động cơ

ECU

Trang 2

Mục lục

Trang 3

Các bước phát triển của hệ thống điều khiển động cơ

Công suất cao

Mức tiêu hao nhiên liệu thấp Độ tin cậy cao Nhỏ gọnGiá thấp

Mức ô nhiễm môi trường thấp

Độ ồn &

rung động thấp Khả năng lái

Độ bền cao

Các yêu cầu về an toàn, thuận tiện, kinh tế, và bảo vệ môi trường đang liên tục tăng lên, đòi hỏi

một sự cải tiến công nghệ liên quan Hệ thống điều khiển động cơ vào thời kỳ ban đầu, việc kiểm

soát được thực hiện bằng phương tiện cơ khí, chẳng hạn như bộ chế hòa khí và bộ chia điện cơ

khí Với các hệ thống này rất khó khăn để thu được hiệu quả tối ưu động cơ đồng thời đáp ứng

các quy định kiểm soát khí xả Các giai đoạn phát triển tiếp theo là hệ thống phun nhiên liệu cơ khí

được gọi là K-Jetronic do Bosch phát triển, tiếp theo là các hệ thống điều khiển điện tử đầu tiên

như L-Jetronic cũng do Bosch phát triển Một số hệ thống áp dụng chỉ cho một kim phun trung tâm,

nhưng hệ thống điều khiển động cơ (EMS) mới nhất áp dụng cho các kim phun độc lập, chúng có

thể được điều khiển riêng biệt Các hệ thống duy trì các điều kiện tối ưu cho tỷ lệ nhiên liệu và khí

nạp cũng như thời gian đánh lửa để đồng thời cung cấp công suất và mô-men xoắn yêu cầu, và

giữ cho lượng khí thải thấp Các hệ thống EMS ngày nay bao gồm các cảm biến ghi nhận các điều

kiện hoạt động của động cơ, các bộ chấp hành được sử dụng để tác động đến điều kiện hoạt

động cho phù hợp, cả hai quá trình đều xử lý bằng một thiết bị điện tử, bộ điều khiển Bộ điều

khiển xử lý các dữ liệu được phản hồi từ các cảm biến để xác định điều kiện hoạt động tốt nhất và

sau đó điều khiển hoạt động các bộ chấp hành cho phù hợp Hãy bắt đầu với những hoạt động cơ

bản của động cơ để hiểu được các yêu cầu kiểm soát chính xác

Trang 4

Khái niệm cơ bản về quá trình đốt cháy

Động cơ xăng là một động cơ đốt trong với nguồn đánh lửa ngoài Nó thường có một hệ thống

trộn hỗn hợp được đặt bên ngoài buồng đốt để tạo ra một hỗn hợp không khí-nhiên liệu Các kim

phun được đặt trong ống góp khí nạp và phun nhiên liệu ở phía trước của xu páp nạp (phun điểm),

tại đó nhiên liệu được trộn lẫn với không khí Khi pít tông di chuyển xuống dưới, hỗn hợp được hút

vào buồng đốt Sau đó, nó được nén khi pít tông di chuyển lên trên Tiếp theo đó là bắt lửa từ tia

lửa bugi để bắt đầu quá trình đốt cháy Nhiệt phát sinh trong quá trình đốt cháy làm tăng áp suất

bên trong xi lanh, đẩy pít tông di chuyển xuống, qua đó cung cấp năng lượng động cơ Khi pít tông

di chuyển lên một lần nữa các khí cháy được đẩy ra và lặp lại chu trình Nhìn kỹ hơn trong kỳ đốt

cháy của chu trình: với một quá trình đốt cháy hoàn hảo, hydrocacbon (HC) trong xăng phản ứng

với oxy có trong hỗn hợp khí nhiên liệu tạo ra hơi nước (H2O) và carbon dioxide (CO2) Thật

không may là quá trình đốt cháy trong động cơ không phải là hoàn hảo, làm khí xả có chứa các

thành phần có hại ví dụ như HC và CO Hơn nữa: trong một số điều kiện hoạt động nhất định của

động cơ, nitơ có trong không khí cũng phản ứng với oxy sinh ra các oxit nitơ (NOX), là chất rất

độc hại (dạng khí) Do đó hàm lượng NOX và các thành phần gây hại khác chứa trong khí xả phải

được giảm thiểu bằng các biện pháp thích hợp Để đạt được việc giảm thiểu này, nhiều biện pháp

đã được thực hiện và một trong những bộ phận quan trọng nhất là bộ xúc tác 3 thành phần,

nhưng cũng có những biện pháp khác bạn sẽ được biết trong thời gian tới của khóa học

Trang 5

Ảnh hưởng của thành phần hỗn hợp nhiên liệu

λ = 1 tỷ lệ trộn thực = tỷ lệ hỗn hợp cân bằng

λ < 1 hỗn hợp giàu nhiên liệu (tỷ lệ trộn thực < tỷ lệ hỗn hợp cân bằng)

λ > 1 hỗn hợp nghèo nhiên liệu (tỷ lệ trộn thực > tỷ lệ hỗn hợp cân bằng)

10,000 lít Không khí

Bộ xúc tác 3 thành phần

Theo kinh nghiệm: hoạt động của động cơ xăng cần có ôxy và nhiên liệu Ôxy được cung cấp bởi

không khí, trong đó có khoảng 21% ôxy (O2) và 78% nitơ (N2) Phần còn lại bao gồm nhiều loại

khí khác Nhiên liệu được lưu trữ trong các thùng chứa của xe và có hydrocacbon (HC) là thành

phần chính Hydrocacbon bao gồm các nguyên tử hydro được liên kết hóa học với các nguyên tử

carbon Năng lượng hóa học lưu trữ trong nhiên liệu được biến đổi thành năng lượng cơ học qua

quá trình đốt cháy Tỷ lệ lý tưởng lý thuyết cho một quá trình đốt cháy hoàn toàn của nhiên liệu

xăng và không khí là 14,7:1, được gọi là tỷ lệ hỗn hợp cân bằng Khi mức tiêu hao nhiên liệu của

động cơ có đánh lửa phần lớn phụ thuộc vào tỷ lệ nhiên liệu-không khí (A/F), một lượng không khí

lớn hơn (hỗn hợp nghèo) là cần thiết để đạt được mức tiêu hao nhiên liệu tối thiểu Trong thực tế

đây là hạn chế cho tính dễ cháy hỗn hợp và thời gian của quá trình đốt cháy Trên các mẫu xe hơi

hiện đại, mức tiêu hao nhiên liệu tối thiểu đạt được khi tỷ lệ A/F là 15-18:1, 15-18 kg không khí cho

mỗi 1 kg nhiên liệu, có nghĩa là khoảng 10,000 lít không khí được sử dụng để đốt một lít nhiên liệu

Để có hiệu suất tốt hơn khi chạy không tải và khi mở hết bướm ga, một hỗn hợp "giàu" là bắt buộc

Hệ thống trộn hỗn hợp phải có khả năng đáp ứng các nhu cầu khác nhau của động cơ Các yếu tố

không khí-dư (lambda) cho biết tỷ lệ A/F thực tế khác với tỷ lệ tối ưu lý thuyết 14,7:1 như thế nào

Số hạng lambda 1, đã được áp dụng cho hỗn hợp cụ thể này Bộ xúc tác 3 thành phần được đặt

vào trong hệ thống ống xả để biến đổi các thành phần có hại trong khí thải thành các thành phần

vô hại Để đảm bảo hoạt động bộ xúc tác 3 thành phần đúng, điều quan trọng là phải duy trì giá trị

trung bình  = 1

Trang 6

λ = 1 tỷ lệ trộn thực = tỷ lệ hỗn hợp cân bằng

λ < 1 hỗn hợp giàu nhiên liệu (tỷ lệ trộn thực < tỷ lệ hỗn hợp cân bằng)

λ > 1 hỗn hợp nghèo nhiên liệu (tỷ lệ trộn thực > tỷ lệ hỗn hợp cân bằng)

10,000 lít Không khí

Bộ xúc tác 3 thành phần

Để đáp ứng các yêu cầu này, số lượng không khí nạp vào phải được đo chính xác, và nhiên liệu

cũng cần cung cấp chính xác tương ứng cho phù hợp Nhiệt độ cao và áp suất xi lanh có thể gây

ra phản ứng giưa nitơ với ôxy để tạo thành oxit nitơ (NOX) Mặc dù có nhiều hình thức khác nhau

của liên kết nitơ trong khí xả, oxit nitric (NO) chiếm đa số, khoảng 98% của tất cả các chất thải

NOX sản sinh ra từ động cơ Số lượng lớn nhất của NOX được sản sinh trong điều kiện tải trọng

trung bình đến nặng, nhưng một lượng nhỏ cũng có thể được sản sinh trong điều kiện tốc độ thấp

và tải nhẹ Lượng NOX sản sinh ra là rất cao, khi tỷ lệ A/F hơi nghèo hơn phạm vi hỗn hợp lý

tưởng Mặt khác như được chỉ ra trong biểu đồ, mức HC và CO tương đối thấp gần với tỷ lệ

không khí / nhiên liệu lý thuyết lý tưởng 14.7:1 Điều này củng cố thêm nhu cầu duy trì nghiêm

ngặt việc kiểm soát hỗn hợp không khí / nhiên liệu Mối quan hệ nghịch đảo giữa sản sinh ra

HC/CO và sản sinh ra NOX đặt ra một vấn đề khi kiểm soát tổng số lượng khí xả phát ra Do mối

quan hệ này, rất phức tạp để giảm cả ba thành phần khí xả này cùng một lúc Nguyên nhân chính

lượng NOX quá nhiều bao gồm cả lỗi hệ thống EGR, để làm nghèo hỗn hợp không khí / nhiên liệu,

hay nhiệt độ khí nạp cao Nhưng ngay cả các thành phần vô hại của khí thải như CO2, phải được

giảm vì nó gây ra sự nóng lên của trái đất Cách duy nhất để giảm CO2 là giảm mức tiêu hao

nhiên liệu Trong tổng số năng lượng phát sinh của quá trình đốt cháy, khoảng 20% được sử dụng

để lái chiếc xe; 80% còn lại là bị mất do ma sát, bù năng lượng khí động học, hoạt động các phụ

tải hoặc đơn giản chỉ lãng phí như là sinh nhiệt Do đó nhiệm vụ quan trọng khác là nâng cao hiệu

suất động cơ nhằm làm giảm mức tiêu hao nhiên liệu

Trang 7

Kiểm soát hỗn hợp nhiên liệu

Như đã đề cập ở phần trước, giải pháp quan trọng nhất là bộ xúc tác 3 thành phần Tên gọi này

đã được đưa ra do thực tế là nó làm giảm lượng HC, NOX, và CO có trong thành phần khí xả Để

hoạt động có hiệu quả tối ưu, bộ xúc tác đòi hỏi một mối quan hệ đặc biệt giữa lượng của hỗn hợp

không khí và nhiên liệu được đốt Sự liên hệ này là lượng hỗn hợp cần thiết cho một phản ứng

hoàn toàn của các thành phần trong nó và được gọi là hỗn hợp cân bằng Như có thể thấy trong

biểu đồ trên, nếu hỗn hợp nằm ngoài phạm vi, lượng khí xả ô nhiễm sẽ tăng lên Vì vậy, hệ thống

phun nhiên liệu hiện đại áp dụng một chu kỳ kiểm soát, nơi mà điều kiện thực tế được phản hồi trở

lại cho bộ điều khiển, sau đó nó liên tục điều chỉnh tỷ lệ hỗn hợp với mức yêu cầu Loại kiểm soát

được gọi là kiểm soát vòng lặp đóng

Trang 8

Bộ điều khiển

Các cảm biến để ghi

nhận các điều kiện

hoạt động động cơ,

như tốc độ động cơ,

nhiệt độ nước làm

mát

Các bộ chấp hành để

tác động tới các điều kiện hoạt động của động cơ, như tốc độ

động cơ, nhiệt độ nước làm mát

ECM

xử lý tín hiệu phản hồi điều khiển bộ chấp hành

Tất cả các điều khiển này phải được thực hiện bằng ECM Nhằm mục đích tạo ra khả năng điều

khiển này, các điều kiện hoạt động động cơ được phát hiện và ghi nhận bởi các thiết bị đặc biệt,

được gọi là các cảm biến Ví dụ như chúng phát hiện động cơ tốc độ, độ mở bướm ga và nhiều

điều kiện khác Chi tiết về các cảm biến sẽ được trình bày trong phần 2 của chương Hệ thống điều

khiển động cơ ECM xử lý các thông tin đầu vào từ các cảm biến và điều khiển đầu ra là các lệnh

phù hợp Các thiết bị đầu ra được gọi là các thiết bị chấp hành Các thiết bị chấp hành quan trọng

nhất là kim phun và cuộn dây đánh lửa, nhưng có nhiều thiết chấp hành hơn rất nhiều trong hệ

thống điều khiển Các tín hiệu đầu vào được mô tả chi tiết trong các phần sau Chức năng xử lý tín

hiệu và điều khiển đầu ra có thể được chia thành sáu lĩnh vực: Kiểm soát phun nhiên liệu, Điều

khiển đánh lửa, Điều khiển tốc độ không tải, Kiểm soát động cơ và khí xả, Kiểm soát khi hư hỏng

xảy ra (chức năng fail-safe và back-up), Tự chẩn đoán ECM sử dụng chức năng lưu trữ và

chương trình để xử lý tín hiệu đầu vào được truyền tới bởi các cảm biến Các tín hiệu này là căn

cứ để tính toán tín hiệu điều khiển tới các thiết bị chấp hành (ví dụ như cuộn dây đánh lửa, kim

phun)

Trang 9

Các bộ phận khác của hệ thống điều khiển động cơ

Hệ thống nạp khí

Một hệ thống phun nhiên liệu điện tử hiện đại có thể được chia thành bốn hệ thống nhỏ hơn cơ

bản (hoặc thậm chí là năm hệ thống nhỏ, nếu hệ thống kiểm soát khí xả được xem là hệ thống độc

lập) Chúng ta sẽ xem xét hệ thống cơ bản bao gồm bốn phần, là các thiết bị liên quan tới kiểm

soát khí xả liên kết hoặc tích hợp vào một trong những hệ thống đó là: hệ thống phân phối nhiên

liệu, hệ thống nạp khí, hệ thống điều khiển điện tử và cuối cùng là hệ thống đánh lửa Trước khi

chúng ta nghiên cứu các hệ thống này, trước tiên quay trở lại lịch sử phát triển và xem qua các

giai đoạn phát triển về hệ thống phun nhiên liệu

Trang 10

Tổng quan hệ thống phân phối nhiên liệu

Thùng xăng

Phao xăng Bơm xăng

Van chống tràn

Giắc bơm xăng

Bộ điều khiển

Van điều hòa áp suất Ống phân phối

Kim phun

Bộ lọc than

hoạt tính

Lọc xăng

Nhìn tổng quan về các yêu cầu chính xác của kiểm soát động cơ, chúng ta hãy xem qua các hệ

thống đã áp dụng trên xe KIA Hãy bắt đầu với hệ thống phụ đầu tiên, hệ thống phân phối nhiên

liệu bao gồm thùng xăng, bơm xăng, lọc xăng, ống phân phối, kim phun, van điều hòa áp suất và

ống dẫn xăng hồi Xăng được phân phối từ thùng chứa tới kim phun bằng bơm xăng điện, thường

được đặt trong hoặc gần thùng xăng Tạp chất được lọc bởi một bộ lọc xăng dung lượng cao

Trong hầu hết các hệ thống cho đến nay, áp suất nhiên liệu được giữ không đổi có liên quan với

áp suất đường ống nạp qua van điều hòa áp suất, để giữ lượng xăng phun ở mức độ chính xác

dựa trên thời gian mở kim phun Xăng thừa được hồi trả lại thùng chứa Nhưng hệ thống không có

đường xăng hồi cũng được sử dụng những năm gần đây Cả hai loại này sẽ được mô tả chi tiết

trong các phần sau Các thiết bị bổ sung như là lọc than hoạt tính được lắp thêm để làm giảm phát

thải của nhiên liệu bay hơi thoát vào không khí Hệ thống này cũng sẽ được mô tả chi tiết trong

khóa học

Trang 11

Bơm xăng

Lọc xăng (yêu cầu thay thế định kỳ)

Qua nhiều năm, KIA đã sử dụng hai loại máy bơm xăng điện trong các hệ thống EFI Hệ thống đầu

tiên sử dụng một bơm xăng lắp trên ống dẫn bên ngoài thùng chứa (loại trục lăn), trong đó kết hợp

với một đệm xung áp lực / giảm ồn để làm giảm các xung áp lực và làm bơm hoạt động êm hơn

Nó có tốc độ bơm khoảng 1,5 ~ 2,5 l / phút và tạo ra một áp lực bơm 3,0 ~ 6.0kg / cm2 Ngày nay,

loại bơm xăng nằm bên trong được sử dụng, chúng được đặt nằm bên trong các thùng chứa (loại

WESCO) Loại này có các ưu điểm sau: tiếng ồn hoạt động thấp, rung động bơm nhiên liệu nhỏ,

loại mô tơ có vòng quay cao và mô men xoắn thấp cho phép thiết kế gọn và nhẹ Nó có đặc điểm

tuyệt vời để ngăn rò rỉ nhiên liệu và chặn bay hơi Loại mới nhất được tích hợp với phao xăng

Mặc dù cả hai loại bơm có sự khác biệt nhưng cũng có nhiều tính năng giống nhau Chúng được

gọi là bơm ướt vì các mô tơ điện nằm chìm trong nhiên liệu xăng Xăng chạy qua hỗ trợ làm mát

và bôi trơn mô tơ bơm Một van an toàn được tích hợp cho trường hợp đường ống cấp bị tắc Van

sẽ mở ra, nếu áp suất xăng vượt quá một giá trị quy định, để dẫn xăng có áp suất cao trở lại phía

đầu vào của bơm Một van một chiều được cài đặt để đóng cửa ra bơm xăng khi không hoạt động

Điều này duy trì áp suất trong đường ống xăng, ngăn ngừa xăng bay hơi Điều này đảm bảo tốt

hơn khả năng khởi động trong lần khởi động tiếp theo Một lọc xăng được đặt trong đường ống

cấp xăng để ngăn chặn bụi bẩn xâm nhập và làm hư hỏng hoặc làm tắc các kim phun Nếu lọc

xăng tắc làm hạn chế dòng chảy, động cơ sẽ bị rốc, mất công suất và có vấn đề khó khởi động

Mặc dù hiếm khi vấn đề bộ lọc bị tắc hoàn toàn, nó có thể xảy ra ví dụ do chất lượng nhiên liệu

xấu, trong trường hợp này động cơ không thể hoạt động được nữa Do đó thực sự cần thiết phải

kiểm tra, thay thế định kỳ lọc xăng

Trang 12

Lọc xăng (yêu cầu thay thế định kỳ)

Khi thay thế lọc xăng, cần chu ý hướng lắp đặt chính xác của lọc, do hầu hết các loại lọc đều có

một hướng dòng chảy cụ thể Thay thế lọc xăng và kiểm tra bơm xăng, tham khảo các phần hoạt

động của xe, làm dịch vụ và bảo dưỡng

Cảnh báo

Khi tháo mở một đường ống xăng áp suất cao, nó có nguy cơ cháy nổ Vì vậy quan trọng là phải

giảm áp suất hệ thống nhiên liệu trước khi tháo mở đường ống ra khỏ lọc Cũng rất quan trọng là

phải ngắt kết nối cáp âm ắc quy trước khi tháo mở các đường ống xăng do một số lọc đặt gần vị

trí chân + B của máy đề Sử dụng sách hướng dẫn sửa chữa và tuân theo chính xác các biện

pháp phòng ngừa an toàn và quy trình thay thế

Trang 13

Điều khiển bơm xăng

Công tắc khởi động

Rơ le điều khiển bơm xăng

IG/SW (ON) IG/SW (ST)

Rơ le điều khiển MFI

Giắc kiểm tra bơm xăng Thiết bị ngắt cấp xăng tự động (khi xe gặp tai nạn)

Việc điều khiển bơm xăng hơi khác nhau, tùy thuộc vào mỗi nhà sản xuất hệ thống điều khiển

thực tế, nhưng nhìn chung bơm xăng được bật ON bởi một tín hiệu của bộ điều khiển Tín hiệu

này được đưa ra sau khi ECM nhận được tín hiệu CKP Để tạo điều kiện việc kiểm tra và cho phép

bơm hoạt động độc lập với điều khiển của ECM, một giắc kiểm tra bơm xăng được sử dụng, tại đó

có thể cấp trực tiếp dòng điện đến bơm xăng Một phương pháp khác kích hoạt bơm hoạt động là

sử dụng chức năng kiểm tra bộ chấp hành của máy chẩn đoán (HI-SCAN PRO) Một số mẫu xe

được trang bị hệ thống tự động ngắt cấp xăng Đây là thiết bị an toàn để ngăn ngừa cháy nổ khi

chiếc xe bị tai nạn, nó cắt dòng điện cấp tới bơm xăng nếu cảm biến phát hiện ra va chạm Nếu

chiếc xe bị tai nạn, một viên bi thép được đẩy lên để đẩy "tiếp điểm di chuyển" làm tắt công tắc

bơm Trên mức một va chạm phía trước với tốc độ 15 dặm/giờ, chắc chắn bơm xăng được tắt

điện, dưới mức tốc độ 8 dặm/giờ, nó không bị tắt Khoảng 9-14 dặm/giờ là vùng không xác định,

hoặc có thể bật hoặc tắt, tùy thuộc vào điều kiện va chạm và dung sai sản xuất Cảm biến được

lắp ở trên dầm dọc bên trái khoang động cơ Cần cài đặt lại các cảm biến bằng cách nhấn nút

xuống để khởi động lại động cơ sau khi xảy ra va chạm

Trang 14

Ống phân phối và van điều hòa áp suất

Tới thùng xăng

Vít điều chỉnh Lò xo hồi Gioăng

Đường hồi Cửa

vào

Thân van Màng ngăn Lò xo điều khiển

2.5 - 2.9 bar

Tại 0 độ chân không

Áp suất nhiên liệu Áp suất khí

quyển Áp suất đường ống nạp 2.5 - 2.9 bar

Bơm xăng Lọc xăng

Ống xăng

Van điều hòa áp suất

Kim phun

Cần phải kiểm tra rò rỉ bằng mắt hệ thống cấp

nhiên liệu khi bảo dưỡng

Cần kiểm tra đường ống chân không tới van điều

hòa áp suất khi kiểm tra / xe có sự cố

Chân không

Đến nay hầu hết các hệ thống phân phối nhiên liệu thuộc về hệ thống được gọi là hệ thống phân

phối nhiên liệu loại có đường hồi Trong các hệ thống này áp suất nhiên liệu được điều tiết bằng

van điều hòa áp suất thông qua áp suất đường ống nạp Xăng thừa sẽ được hooif trả lại thùng

chứa Nhiên liệu có áp lực được bơm xăng phân phối từ lọc đến ống phân phối (đường ống phân

phối nhiên liệu) Ống phân phối hoạt động như một bình chứa Van điều hòa áp suất được gắn lên

thân ống phân phối Van điều hòa áp suất đặt ở cuối ống phân phối giữ áp suất trong ống duy trì

tại một giá trị nhất định cao hơn áp suất đường ống nạp để có một áp lực phun thường xuyên có

hiệu quả Về cơ bản lưu lượng phụ phụ thuộc vào áp suất, thời gian phun và kích thước của lỗ

phun Kích thước lỗ phun là cố định và áp suất được giữ không đổi so với áp suất đường ống nạp,

lượng xăng phun có thể được ECM kiểm soát chính xác bằng cách thay đổi thời gian mở của kim

phun Nhiên liệu thừa được hồi trả lại thùng chứa qua đường xăng hồi Cài đặt ban đầu của van

điều hòa áp suất được thực hiện dựa trên áp suất khí quyển, nơi mà áp lực được giữ ở 3,35 bar

Điều này có thể đạt được bằng cách đóng đường xăng hồi về thùng chứa với một van áp lực lò so,

van chỉ mở đường hồi nếu áp lực trên 3,35 bar Lực lò so đóng kín van thông qua một màng, là

một phần của một buồng chân không Buồng chân không này được kết nối với đường ống nạp

bằng một cách mà các áp suất bên trong của buồng giống như áp suất trong đường ống nạp Nếu

chân không có trong đường ống nạp, màng được kéo về chống lại lực lò so, do đó làm giảm lực

đóng của lò so Lực đóng van giảm làm giảm áp suất nhiên liệu trong ống phân phối Bằng cách

này, áp suất nhiên liệu luôn được đặt ở mức cao hơn áp suất trong đường ống nạp

Trang 15

Tới thùng xăng

Vít điều chỉnh Lò xo hồi Gioăng

Đường hồi Cửa

vào

Thân van Màng ngăn Lò xo điều khiển

2.5 - 2.9 bar

Tại 0 độ chân không

Áp suất nhiên liệu Áp suất khí

quyển Áp suất đường ống nạp 2.5 - 2.9 bar

Bơm xăng Lọc xăng

Ống xăng

Van điều hòa áp suất

Kim phun

Cần phải kiểm tra rò rỉ bằng mắt hệ thống cấp

nhiên liệu khi bảo dưỡng

Cần kiểm tra đường ống chân không tới van điều

hòa áp suất khi kiểm tra / xe có sự cố

Chân không

Khi áp suất tăng sẽ làm tăng lực đóng van, hệ thống này có thể cũng được sử dụng cho động cơ

trang bị turbo tăng áp

Kiểm tra van điều hòa áp suất

Để kiểm tra van điều hòa áp suất, tham khảo các phần Hoạt động của xe, làm dịch vụ và bảo

dưỡng Sử dụng sách hướng dẫn sửa chữa và tuân theo chặt chẽ các biện pháp phòng ngừa an

toàn và quy trình sửa chữa

Trang 16

Hệ thống không có đường xăng hồi

Ống xăng bằng thép không gỉ

Ống xăng bằng thép không gỉ

Ống phân phối nhiên liệu bằng nhựa

Ống phân phối nhiên liệu bằng nhựa

Giá đỡ

Các mô hình mới nhất của hệ thống phun nhiên liệu là các hệ thống không hồi nhiên liệu (RLFS),

không có đường hồi nhiên liệu trở về thùng chứa Lý do của hệ thống này là để giảm bớt nhiên

liệu không chỉ bay hơi thoát khỏi đường ống hồi, mà còn để giảm khả năng bốc hơi cao hơn do

thực tế khi nhiên liệu trở về từ van điều hòa đã làm tăng nhiệt độ của nhiên liệu trong thùng và do

đó lượng bay hơi cũng tăng Hệ thống được phát triển do tăng cường các quy định bay hơi nhiên

liệu Van điều hòa áp suất hiện đang lắp tại các cụm bơm nhiên liệu và được cài đặt ở một giá trị

cố định (3.8bar) Do đó áp suất phun hiệu quả hiện nay điều chỉnh thay đổi theo áp suất đường

ống nạp Việc điều chỉnh cần thiết theo áp suất đường ống nạp hiện nay được thực hiện bằng yếu

tố bù của thời gian phun Để dập tắt xung động, các van dập tắt dao động áp lực được lắp đặt tại

phần cuối của ống phân phối Giai đoạn gần đây nhất, là loại ống phân phối bằng nhựa với van

dập tắt dao động áp lực tích hợp Van dập tắt dao động áp lực được cài đặt bên trong của đường

ống và gồm một ống thép biến dạng

Trang 17

Không được cấp điện ắc quy trực tiếp vào kim phun có điện trở thấp Nó sẽ làm kim phun hư hỏng do quá

nhiệt cuộn điện trở từ.

Chùm mũi bút chì

Hình vành nón

Vành nón (4H)

2-dòng Đa điểm

Một kim phun là một van đo có thể được điều khiển bằng ECM Chúng bao gồm phần lớn là thân

kim phun, vòi phun và cuộn dây điện từ Vòi phun được mở ra hoặc đóng lại thông qua cuộn dây

điện từ, được kích hoạt, không kích hoạt bằng ECM Một chân cực của cuộn dây điện từ được cấp

nguồn khi đánh lửa được bật ON Được thực hiện hoặc trực tiếp hoặc thông qua cuộc rơ le MFI

chính Chân cực thứ hai của cuộn dây được nối mát qua ECM Khi các mạch điều khiển ECM bật

ON, dòng điện qua cuộn dây điện từ kim phun được nối mát Từ trường cuộn dây làm vòi phun

mở ra chống lại lực lò so Khi các mạch điều khiển ECM tắt, lực lò so đóng vòi phun Có hai loại

mạch điều khiển thông thường hiện đang sử dụng trên xe KIA Cả hai loại mạch điều khiển làm

việc trên nguyên tắc kiểm soát nối mát, nhưng một loại sử dụng một điện trở bên ngoài cuộn dây

điện từ và kim phun có điện trở thấp (0,6 -3 Ohm), loại khác sử dụng một kim phun có điên trở cao

(12 -17 Ohm) mà không có điện trở riêng biệt Kim phun đáp ứng các tiêu chuẩn sau: tỷ lệ chính

xác lưu lượng nhiên liệu, độ tuyến tính tốt, phạm vi hoạt động rộng, đặc điểm phun tốt, không có

rò rỉ, tiếng ồn thấp và độ bền cao Có rất nhiều loại kim phun khác nhau đáp ứng với những nhu

cầu khác nhau của các loại động cơ khác nhau Điển hình cho điều này là số lượng khác nhau của

các lỗ phun, sự khác nhau hình dạng của các kiểu phun Khi lắp kim phun luôn luôn sử dụng

gioăng chữ O mới để tránh rò rỉ và chắc chắn rằng chúng được lắp đặt chính xác trên đường ống

nạp

Trang 18

Tổng quan hệ thống nạp khí

Lọc gió

Buồng khí nạp

Xu páp nạp

Hệ thống nạp khí đo và điều khiển lượng không khí cần thiết cho quá trình đốt cháy Nó chủ yếu

bao gồm lọc gió, thiết bị đo lượng khí nạp (cảm biến lưu lượng gió như trong biểu đồ ví dụ trên),

bướm ga kết hợp trong thân bướm ga, buồng khí nạp (ống góp nạp) và cuối cùng là xu páp nạp

Khi bướm ga mở ra, không khí hút vào bằng hành trình đi xuống pít tông qua lọc gió, cảm biến lưu

lựng gió, đi qua bướm ga, ống góp nạp và cuối cùng tới xi lanh qua xu páp nạp Vận tốc dòng khí

tăng lên do các ống góp dài, hẹp, dẫn đến hiệu quả cải tiến tích khí nạp của động cơ Lượng khí

nạp cấp cho động cơ phụ thuộc vào góc mở bướm ga và tốc độ của động cơ Nếu bướm ga mở

thêm, nhiều khí nạp hơn được hút vào các xi lanh động cơ Vị trí của bướm ga được phát hiện bởi

cảm biến vị trí bướm ga TPS KIA sử dụng ba phương pháp khác nhau để đo khối lượng khí nạp:

Cảm biến áp suất khí nạp tuyệt đối (MAP), và hai loại khác nhau của cảm biến lưu lượng khí: Cảm

biến lưu lượng gió loại cánh gạt và Cảm biến khối lượng gió loại màng Điều khiển tốc độ không

tải ISC được lắp đặt để kiểm soát tốc độ không tải một cách chính xác và cung cấp đủ khí nạp qua

đường khí phụ khi bướm ga đóng để cung cấp không tải nhanh khi khởi động lạnh có nhiệt độ

động cơ dưới một mức nhiệt độ nhất định

Trang 19

Buồng khí nạp và ống góp nạp

Buồng khí nạp

Ống góp nạp

Ống góp nạp

Buồng khí nạp

Loại tích hợp

Cảm biến vị trí

bướm ga

(có thể điều chỉnh khi có

vấn đề tốc độ không tải)

Các cổng chân không

Nước làm mát

Loại tách rời

Thân bướm ga cần làm vệ sinh khi có vấn đề về tốc độ không tải

Thân bướm ga bao gồm bướm ga, mạch khí phụ không tải, cảm biến vị trí bướm ga và cũng chứa

các cổng cho các nguồn chân không khác nhau để hoạt động, ví dụ để cho các thiết bị giảm khí

thải như van EGR Việc điều chỉnh ban đầu của bướm ga và van ISC được thực hiện tại nhà máy,

do đó, không không cần điều chỉnh không tải ban đầu Hiệu suất động cơ và giảm khí thải có thể

được tối ưu hóa thông qua việc thiết kế các buồng khí nạp và ống góp nạp Việc tối ưu hóa cải

thiện hiệu quả thể tích của động cơ qua đó cải thiện mô-men xoắn và công suất của động cơ Hai

loại đường ống nạp khác nhau được sử dụng trên xe KIA: loại tích hợp và loại tách rời nhau

Trong cả hai loại, việc phun nhiên liệu được thực hiện ở phần cuối của đường ống nạp gần xu páp

nạp Những hệ thống cổng cấp nhiên liệu phun này có lợi thế là nhiên liệu không di chuyển qua

hết chiều dài đường ống nạp Điều này dẫn tới giảm lượng khí thải và cải thiện tiêu hao nhiên liệu

Gần đây, cơ cấu thay đổi chiều dài đường ống nạp (VIS) được áp dụng để nâng cao hơn nữa hiệu

quả thể tích cho hoạt động khác nhau Bướm ga và / hoặc vị trí bướm ga có thể cần phải được

kiểm tra / điều chỉnh trong trường hợp xuất hiện các vấn đề tốc độ không tải Làm sạch thân bướm

ga có thể cần được thực hiện khi bảo dưỡng xe Hãy tham khảo các phần Hoạt động xe, làm dịch

vụ và bảo dưỡng

Sử dụng sách hướng dẫn sửa chữa và chặt chẽ tuân theo các biện pháp phòng ngừa và quy trình

sửa chữa

Trang 20

Cơ cấu ISC

Cần điều chỉnh về vị trí ban đầu khi

có vấn đề về tốc độ không tải

Tốc độ không tải được điều khiển bởi ECM qua Van Kiểm soát Tốc độ không tải Cơ cấu kiểm soát

tốc độ không tải quy định về tốc độ không tải bằng cách điều chỉnh lượng khí nạp được phép qua

đường khí phụ khi bướm ga đóng lại Tốc độ không tải được điều khiển bởi cơ cấu này cho tất cả

các điều kiện như khởi động lạnh, khởi động nóng, phụ tải A/C, phụ tải thiết bị điện, vị trí tay số N /

D (R) Việc điều chỉnh ban đầu của cơ cấu tốc độ không tải có thể cần được thực hiện trong

trường hợp có vấn đề tốc độ không tải Hãy tham khảo các phần Hoạt động xe, làm dịch vụ và bảo

dưỡng Sử dụng sách hướng dẫn sửa chữa và chặt chẽ tuân theo các biện pháp phòng ngừa an

toàn và quy trình sửa chữa

Trang 21

Bướm ga - ETC

Thân bướm ga Bánh răng

Mô tơ điều khiển TPS1,2

Lò xo hồi

Trục Cánh bướm ga

Bằng cách kiểm soát lượng khí nạp và mức độ chính xác của RPM động cơ, ETC được sử dụng

cho việc thiết lập tối ưu hóa sự tiện lợi khi lái xe Hơn nữa ETC được sử dụng để dễ dàng kiểm

soát hơn các chức năng ESP / TCS, kiểm soát không tải, Ngoài ra, tỷ lệ xảy ra hư hỏng giảm

xuống và độ tin cậy sẽ được tăng lên do mạch điện đơn giản và giảm kết nối Trong trường hợp

một hệ thống hư hỏng, chế độ hoạt động cầm chừng được đảm bảo bởi một góc mở bướm ga 5

độ (thực hiện bởi lực lò so của một lò so bên trong bướm ga) Ngoài ra cũng rất dễ dàng trang bị

một hệ thống kiểm soát tốc độ thấp hoặc để kiểm soát lực kéo có sẵn, mà trong quá khứ có thể

được yêu cầu thực hiện hoặc chỉ thông qua thời gian đánh lửa hoặc cơ cấu phụ tại bướm ga

Trang 22

Sơ đồ khối ETC

TPS1 TPS2 APS 1, 2

ABS ECM

Mô tơ bướm ga

Cánh bướm ga Bướm ga

ECM

Đông cơ

(Điều khiển TCS) Đường truyền

CAN

Bánh răng dẫn động

Với một bướm ga điện không có liên kết cơ khí tới bàn đạp ga, vị trí của bàn đạp ga được phát

hiện bởi các cảm biến vị trí bàn đạp ga Các tín hiệu từ APS được gửi đến ECM, lần lượt sẽ được

gửi như một tín hiệu đầu ra tới mô tơ bướm ga Mô tơ bướm ga hoặc đóng hoặc mở bướm ga

dựa trên các tín hiệu này Để điều khiển chính xác và bảo đảm an toàn, vị trí của bướm ga được

phát hiện bởi các TPS và phản hồi lại ECM Điều này cho phép hoạt động điều khiển chính xác và

bảo đảm độ tin cậy Do hệ thống này giảm mô-men xoắn bướm ga, tín hiệu yêu cầu từ hệ thống

khác có thể dễ dàng thực hiện Cũng không cần thiết có thêm thiết bị bổ sung để kiểm soát không

tải

Ngày đăng: 22/07/2017, 23:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w