Trong những năm tới nhu cầu xây dựng các cơ sở hạ tầng nói chung và nhu cầu xây dựng các công trình giao thông nói riêng tăng nhanh. Thị trường xây dựng sẽ mở rộng và hoạt động sôi nổi. Số lượng doanh nghiệp xây dựng trong nước và ngoài nước tham gia vào thị trường sẽ tăng lên. Do đó tình hình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng sẽ ngày càng gay gắt.Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng chủ yếu thông qua hình thức đấu thầu. Ở các nước phát triển hình thức đấu thầu được áp dụng từ lâu. Ở Việt Nam đấu thầu còn là một hình thức mới, các văn bản pháp lý đang trong quá trình hoàn thiện.Trong điều kiện thị trường xây dựng hiện nay, yêu cầu của các chủ thầu ngày càng khắt khe, mỗi cuộc đấu thầu dự kiến mở là có nhiều chục (thậm chí cả trăm) hồ sơ xin dự thầu. Trước tình hình đó các công trình xây dựng rất chú trọng đến việc nâng cao khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của mình.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài:
Trong những năm tới nhu cầu xây dựng các cơ sở hạ tầng nóichung và nhu cầu xây dựng các công trình giao thông nói riêngtăng nhanh Thị trường xây dựng sẽ mở rộng và hoạt động sôi nổi
Số lượng doanh nghiệp xây dựng trong nước và ngoài nước thamgia vào thị trường sẽ tăng lên Do đó tình hình cạnh tranh giữa cácdoanh nghiệp xây dựng sẽ ngày càng gay gắt
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng chủ yếu thôngqua hình thức đấu thầu Ở các nước phát triển hình thức đấu thầuđược áp dụng từ lâu Ở Việt Nam đấu thầu còn là một hình thứcmới, các văn bản pháp lý đang trong quá trình hoàn thiện
Trong điều kiện thị trường xây dựng hiện nay, yêu cầu củacác chủ thầu ngày càng khắt khe, mỗi cuộc đấu thầu dự kiến mở là
có nhiều chục (thậm chí cả trăm) hồ sơ xin dự thầu Trước tình hình
đó các công trình xây dựng rất chú trọng đến việc nâng cao khảnăng cạnh tranh trong đấu thầu của mình
Trong quá trình nghiên cứu hoạt động của Công ty xây dựng
ABC tôi đã chọn : "Những giải pháp chủ yếu nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty xây dựng ABC trong đấu thầu xây dựng"
2 Mục đích nghiên cứu:
Trang 2Đề xuất các giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của
Công ty xây dựng ABC trong đấu thầu xây dựng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
a Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu công tác đấu thầu và
kinh nghiệm cạnh tranh trong đấu thầu của Công ty xây dựng công trình giao thông 889
b Phạm vi nghiên cứu:
Về mặt thời gian chủ yếu từ 1999 - 2001 - 2002
4 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: quan sát, điều tra, phân tích, thống kê, so sánh, khái quát hóa, hệ thống hóa
5 Những đóng góp của luận văn.
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài, làm rõnhận thức về một số vấn đề
- Luận văn đã phân tích thực trạng cạnh tranh trong đấu thầucủa Công ty, có so sánh với các Công ty khác cùng ngành Từ đóđánh giá tổng quát những điểm yếu, điểm mạnh, cơ hội và nguy cơcủa Công ty 889 cần phải xem xét
- Đề suất một hệ thống giải pháp nhằm nâng cao khả năngcạnh tranh của Công ty 889 trong đấu thầu xây dựng; và các đềnghị hoàn thiện quy chế đấu thầu
6 Kết cấu của luận văn
Trang 3Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu thamkhảo, luận văn có 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề lí luận cơ bản về khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp xây dựng trong đấu thầu
Chương II: Phân tích khả năng cạnh tranh trong đấu thầu
của Công ty xây dựng ABC
Chương III: Những giải pháp chủ yếu nâng cao khả năng
cạnh tranh của Công ty xây dựng ABC trong đấu thầu xây dựng.
Trang 4CHƯƠNG IMỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ KHẢ NĂNG CẠNH
TRANH CỦA CÁC DNXD TRONG ĐẤU THẦU
1.1 CẠNH TRANH VÀ CÁC TIÊU THỨC ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG:
1.1.1 Thực chất của cạnh tranh trên thị trường xây dựng:
Cạnh tranh là một đặc trưng của nền kinh tế thị trường, nhưng
có nhiều cách hiểu khác nhau
Theo Kac-Marx: Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gaygắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợitrong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêungạch
Theo từ điển Bách Khoa (tập 1 - trang 357 xuất bản năm
1995) thì: Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động ganh đua
giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, cácnhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệcung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường
có lợi nhất
Theo cuốn KT học và BA Samuelson thì: cạnh tranh là sự kìnhđịch giữa các Doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành kháchhàng, thị trường
Theo kinh tế vi mô mà R.S Pindyck thì một thị trường cạnhtranh hoàn hảo có rất nhiều người mua, người bán để cho không có
Trang 5một người mua hoặc người bán duy nhất nào có ảnh hưởng, có ýnghĩa đối với giá cả.
Theo các tác giả của cuốn "Các vấn đề pháp lý và thể chế vềchính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh" thì cạnhtranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trongviệc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nângcao vị thế của mình trên thị trường, để đạt được mục tiêu kinhdoanh cụ thể…
Còn có thể dẫn ra nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệmcạnh tranh… Có thể thấy các định nghĩa trên có những nét chungnhư sau:
- Khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua nhằm lấy phầnthắng của nhiều chủ thể cùng tham dự (trong đó có một loại chủ thể
là các doanh nghiệp xây dựng)
- Mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tượng cụ thể nào
đó mà các bên đều muốn giành giật (một cơ hội, một sản phẩm,một công trình, dự án) Một loạt điều kiện có lợi (một thị trường,một khách hàng v.v…) Mục đích cuối cùng là kiếm được lợinhuận cao
- Cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràngbuộc chung mà các bên tham gia phải tuân thủ như: đặc điểm sảnphẩm, thị trường, các điều kiện pháp lí, các thông lệ kinh doanh…
- Cạnh tranh có thể phân loại theo nhiều cách: theo phạm vikinh tế có: cạnh tranh nội bộ ngành; cạnh tranh giữa các ngành;theo chủ thể tham gia thị trường có: cạnh tranh giữa người mua và
Trang 6người bán; cạnh tranh giữa các người mua, cạnh tranh giữa cácngười bán;… căn cứ vào tính chất có: cạnh tranh hoàn hảo, cạnhtranh không hoàn hảo, độc quyền…
- Trong quá trình cạnh tranh các doanh nghiệp có thể sử dụngnhiều công cụ khác nhau: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượngsản phẩm, cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm (chính sách định giáthấp; chính sách định giá cao; chính sách ổn định giá; định giá theothị trường; chính sách giá phân biệt; bán phá giá); cạnh tranh bằngnghệ thuật tiêu thụ sản phẩm (tổ chức các kênh tiêu thụ); cạnhtranh nhờ dịch vụ bán hàng tốt; cạnh tranh thông qua hình thứcthanh toán…
Trên thị trường xây dựng, luôn tồn tại ba quan hệ cạnh tranh:cạnh tranh giữa chủ đầu tư với Nhà thầu, cạnh tranh giữa các Nhàthầu với nhau và cạnh tranh giữa Nhà thầu với Người cung cấp.Cuộc cạnh tranh gay go quyết liệt nhất là cạnh tranh giữanhững Nhà thầu thông qua hình thức đấu thầu do Chủ đầu tư tổchức Đây là cuộc cạnh tranh đặc biệt của các doanh nghiệp xâydựng Các doanh nghiệp xây dựng muốn giành được phần thắngtrong cuộc cạnh tranh phải có năng lực, lợi thế hơn hẳn so với đốithủ nhằm thoả mãn tốt nhất các yêu cầu của Chủ đầu tư
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng trong đấu thầuđược hiểu theo hai nghĩa sau:
- Theo nghĩa hẹp: Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng
trong đầu thầu là quá trình các doanh nghiệp đưa ra những giảipháp về kỹ thuật, tài chính, trang thiết bị máy móc, nguồn nhân
Trang 7lực, tiến độ thi công, giá bỏ thầu nhằm thoả mãn một cách tối ưucác yêu cầu của Chủ đầu tư.
Khái niệm này đưa ra các điều kiện, khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp đối với một công trình, một dự án cụ thể mà khôngchỉ rõ được sự cạnh tranh của doanh nghiệp trong suốt quá trìnhhoạt động sản xuất kinh doanh, tham gia đấu thầu nhiều dự án khácnhau Đồng thời khiến cho doanh nghiệp gặp khó khăn trong việcxây dựng mục tiêu chiến lược cạnh tranh
- Theo nghĩa rộng: Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây
dựng trong đấu thầu là quá trình được bắt đầu từ việc tìm kiếm thuthập thông tin, đưa ra các giải pháp tham gia đấu thầu, ký kết, thựchiện hợp đồng cho tới khi hoàn thành dự án, bàn giao, đưa vào sửdụng và bảo hành công trình theo đúng yêu cầu của Chủ đầu tư.Những công đoạn quá trình cạnh tranh của các doanh nghiệpxây dựng trong đấu thầu được mô phỏng theo sơ đồ sau:
Trang 8Sơ đồ 1 Quá trình cạnh tranh trong đấu thầu của các doanh nghiệp xây
dựng
Tìm kiếm thu thập thông tin
Trượt thầu
Ký kết hợp đồng
Trúng thầu
Bàn giao đưa vào sử dụng
Bảo hành công trình
Tham gia đấu thầu
Chuẩn bị giải pháp
Trang 10Tóm lại, doanh nghiệp muốn có khả năng cạnh tranh phải cóthực lực về con người, tài chính, trang thiết bị công nghệ hiện đại.Song đó mới chỉ là điều kiện cần, điều kiện đủ là doanh nghiệpphải tạo ra ưu thế hơn hẳn so với các đối thủ khác.
1.1.2 Hệ thống những tiêu thức cơ bản đánh giá khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng
Khi đánh giá KNCT của doanh nghiệp xây dựng cần lưu ý cáckhía cạnh sau:
- Phải lấy yêu cầu của khách là chuẩn mực
- Thực lực của doanh nghiệp là yếu tố cơ bản để bảo đảm thoảmãn nhu cầu của khách hàng
- Khi nói KNCT là bao hàm ý so sánh với các đối thủ cạnhtranh của doanh nghiệp Muốn giữ và lôi kéo được khách hàngdoanh nghiệp phải có thực lực được thể hiện thành các lợi thế sovới các đối thủ cạnh tranh
- Ít có doanh nghiệp nào có đầy đủ các lợi thế mà thường thìmạnh mặt này lại yếu mặt khác Vì thế, doanh nghiệp cần đánh giátừng mặt yếu, mặt mạnh mà và có kế hoạch khắc phục mặt yếu,phát huy thế mạnh
Việc đánh giá khả năng cạnh tranh nếu chỉ dừng lại ở địnhtính, thì không tránh được các yếu tố cảm tính, bởi vậy, phải cốgắng lượng hoá Tuy nhiên, khó có được một chỉ tiêu tổng hợp đolường khả năng cạnh tranh Do vậy phải có một hệ thống chỉ tiêu:
* Các chỉ tiêu chung:
• Hệ số doanh lợi bao gồm:
Trang 11=
=
Hệ số này phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Hệ số này càng cao, hiệu quả sản xuất kinh doanh cànglớn
Trang 12Chỉ tiêu này cho biết một cách khái quát tình hình kết quả dựthầu của doanh nghiệp Qua đó có thể đánh giá được chất lượng,hiệu quả của công tác dự thầu trong năm và quy mô của các côngtrình đã trúng thầu Cũng từ đó cho thấy được tiềm lực của doanhnghiệp.
Gdt : Giá trị hợp đồng tham dự thầu
• Thị phần và uy tín của doanh nghiệp:
Đây chỉ là chỉ tiêu đánh giá một cách khái quát khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp Trong đó thị phần biểu hiện thành hai mặt:Phần thị trường tuyệt đối và phần thị trường tương đối
=
Trang 13Hoặc =
Phần thị trường tương đối: Được xác định trên cơ sở của sự sosánh phần thị trường tuyệt đối của doanh nghiệp với phần thịtrường tuyệt đối của một hoặc số đối thủ cạnh tranh mạnh nhất
Uy tín của doanh nghiệp: Chỉ tiêu này liên quan với tất cảnhững chỉ tiêu trên và các yếu tố khác như: chất lượng công trình,
tổ chức doanh nghiệp, tổ chức các dự án thi công, marketing,…
1.1.3 Những phương thức cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng trong đầu thầu xây dựng
Để đánh giá, cho điểm và lựa chọn Nhà thầu trúng thầu, Chủđầu tư căn cứ vào những chỉ tiêu chủ yếu sau:
- Kỹ thuật, chất lượng công trình
- Kinh nghiệm và năng lực của Nhà thầu
- Giá dự thầu
- Khả năng tài chính
- Tiến độ thi công
Trong các chỉ tiêu trên, Chủ đầu tư đặc biệt chú trọng đến bachỉ tiêu hàng đầu mà các doanh nghiệp xây dựng sử dụng nhưnhững phương thức trọng tâm trong quá trình cạnh tranh đấu thầu,
cụ thể:
* Phương thức 1: Cạnh tranh bằng chất lượng công trình
Chất lượng công trình là tổng thể các chỉ tiêu, các đặc trưng vềkinh tế, kỹ thuật đáp ứng nhu cầu trong những điều kiện nhất định
Trang 14mà Chủ đầu tư đặt ra như tính năng, thời gian sử dụng, mức độ antoàn, tính hiệu quả, mỹ thuật công trình…
Theo phương thức này, các doanh nghiệp sử dụng cạnh tranhvới nhau trên cả hai phương diện:
- Cạnh tranh bằng chất lượng của chính công trình đang được
tổ chức đấu thầu xây dựng
- Cạnh tranh bằng chất lượng là công cụ hữu hiệu trong đấuthầu xây dựng
Cạnh tranh thông qua chất lượng là công cụ hữu hiệu trong đấuthầu xây dựng Đây là sự cạnh tranh không giới hạn Vì vậy, việcnâng cao chất lượng, hoàn thiện cải tiến sản phẩm là cơ sở của sựtồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh.Phương thức cạnh tranh này đòi hỏi doanh nghiệp phải cónăng lực thực sự về đội ngũ nhân lực, thiết bị công nghệ, tài chính
và phẩm chất kinh doanh
* Phương thức 2: Cạnh tranh bằng giá dự thầu
Trong cạnh tranh, doanh nghiệp có trúng thầu hay không thôngthường giá dự thầu có tác dụng quyết định Bảng Giá dự thầu hợp
lý vừa làm cho doanh nghiệp sinh lời, vừa tiết kiệm vốn cho Chủđầu tư
Bảng giá dự thầu liên quan đến rất nhiều yếu tố như trình độcủa cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, đội ngũ làm hồ sơ thầu…Đồng thời nó cũng thể hiện tổng hợp các phẩm chất của doanhnghiệp xây dựng như:
- Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp
Trang 15- Kỹ thuật thi công, khả năng ứng dụng công nghệ tiên tiến.
- Phẩm chất kinh doanh của doanh nghiệp
Để giá dự thầu của doanh nghiệp có ưu thế cạnh tranh đòi hỏiphải có chính sách về giá một cách linh hoạt dựa trên cơ sở: nănglực thực sự của doanh nghiệp, mục tiêu tham gia đấu thầu, quy mô,đặc điểm của dự án, vị trí thi công dự án, phong tục tập quán tại địaphương có dự án được thi công…
Thông thường, các Nhà thầu thường căn cứ vào giá dự toánđược lập ban đầu để tiến hành xây dựng giá bỏ thầu Giá bỏ thầuđược phân làm các mức khác nhau liên quan đến các mục tiêutương ứng về lợi nhuận, công ăn việc làm hoặc thâm nhập thịtrường mới
Tóm lại, bảng giá dự thầu phải được xây dựng dựa trên nhiệm
vụ công trình, tiềm lực nguồn lao động, khả năng về vốn, thiết bịmáy móc… của bản thân doanh nghiệp để đưa ra mức giá bỏ thầuhợp lý
* Phương thức 3: Cạnh tranh bằng tiến độ thi công
Tiến độ thi công thể hiện ở việc bố trí tổng thể của doanhnghiệp trong công tác thi công công trình định xây dựng, là sự hứahẹn đối với chất lượng, an toàn và thời hạn hoàn thành công trình.Đồng thời, đó cũng là "ô cửa" để Chủ đầu tư tìm hiểu tình hình vềcác khía cạnh trình độ quản lý, trình độ kỹ thuật thi công và nănglực máy móc thiết bị của Nhà thầu
Trên đây là ba phương thức chủ yếu được các doanh nghiệpxây dựng sử dụng trong cạnh tranh đấu thầu Những phương thức
Trang 16này có thể sử dụng một cách độc lập hoặc kết hợp tuỳ thuộc vàotừng tình huống, tầm quan trọng cũng như ý nghĩa kinh tế của mỗi
Hiện nay, trên thị trường xây dựng hoạt động của các doanhnghiệp xây dựng dựa theo các Nghị định và văn bản hướng dẫn đặcbiệt là các Nghị định:
- Nghị định 52/1999/NĐ-CP ngày 08/07/1999 về việc banhành quy chế quản lý đầu tư và XDCB, Nghị định 12/2000/NĐ-CPngày 05/05/2000 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của quy chếquản lý đầu tư ban hành kèm theo Nghị định 52/1999/NĐ-CP
- Nghị định 88/1999/NĐ-CP ngày 01/09/1999 về việc banhành quy chế đấu thầu, Nghị định 14/2000/NĐ-CP ngày05/05/2000 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của quy chế đấuthầu ban hành kèm theo Nghị định 88/1999/NĐ-CP
Ngoài ra còn có các quy định về khung giá, mức giá, nhữngquy định về thuê mướn, thuế, cho vay, quảng cáo, bảo vệ môitrường… các chế tài bắt buộc doanh nghiệp phải tuân thủ
Trang 17Chính phủ có thể tạo ra cơ hội hoặc làm hạn chế hoạt độngcủa doanh nghiệp Chẳng hạn, điều 10 quy chế đấu thầu ban hànhkèm theo Nghị định 88/199/NĐ-CP ngày 01/09/1999, quy địnhđiều kiện đấu thầu quốc tế và ưu đãi Nhà thầu: "Nhà thầu nướcngoài khi tham dự đấu thầu quốc tế tại Việt Nam hoặc phải liêndoanh với Nhà thầu Việt nam, hoặc phải cam kết sử dụng thầu phụViệt Nam…" nghĩa là quy định này tạo ra ưu đãi cho các Nhà thầuViệt Nam khi tham gia đấu thầu quốc tế.
Nếu chỉ tuân thủ các quy định hiện hành của Nhà nước thìchưa đủ, các doanh nghiệp cần phải tính đến việc phản hồi thôngtin, đề nghị Chính phủ sửa đổi, bổ sung hoặc đưa ra các quy địnhmới phù hợp, tự mình gây ảnh hưởng đối với các quy định có thểđược ban hành
b Những đối thủ cạnh tranh.
Sự hiểu biết về đối cạnh tranh có một ý nghĩa quan trọng đốivới các doanh nghiệp do nhiều nguyên nhân Các đối thủ cạnhtranh quyết định tính chất và mức độ tranh đua hoặc thủ thuậtgiành ưu thế trên thị trường Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào mốitương tác giữa các yếu tố như số lượng doanh nghiệp tham giacạnh tranh, tốc độ tăng trưởng của các ngành, cơ cấu chi phí cốđịnh hoặc chi phí dự trữ chiếm tỷ trọng lớn, đa dạng hoá của cácđối thủ cạnh tranh
Hiện nay, trên thị trường xây dựng có rất nhiều các doanhnghiệp cả trong và ngoài nước cùng tham gia, làm tăng tính chất vàquy mô cạnh tranh trong ngành, làm giảm mức lợi nhuận của
Trang 18doanh nghiệp Nếu trên thị trường có một số doanh nghiệp dẫn đầuthì cạnh tranh gay gắt chỉ diễn ra giữa các doanh nghiệp yếu thếhơn Trong đấu thầu xây dựng, các doanh nghiệp có khả năng cạnhtranh mạnh (các doanh nghiệp ở vị trí dẫn đầu) thường sử dụngphương thức cạnh tranh bằng giá dự thầu, chất lượng công trình,tiến độ thi công để giành được dự án thi công Ngược lại, cácdoanh nghiệp trung bình, sức cạnh tranh sẽ suy yếu đi nếu đối thủdùng phương thức cạnh tranh bằng giá dự thầu.
c Quyền lực của Nhà cung cấp
Trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần phải quan hệvới các tổ chức cung cấp các nguồn hàng khác nhau như vật tư,thiết bị, tài chính, nguồn nhân lực Các tổ chức cung cấp vật tư sẽtận dụng mọi ưu thế để kiếm được lợi nhuận thông qua việc tănggiá, giảm chất lượng sản phẩm hoặc giảm mức độ dịch vụ đi kèm
Giữa các Nhà cung cấp và doanh nghiệp thường diễn ra cáccuộc thương lượng về giá cả, chất lượng và thời hạn giao hàng.Khả năng thương lượng về giá cả của các Nhà cung cầp tùy thuộcvào mức lời gộp và chất lượng hàng hoá (hay dịch vụ) mà họ dựđịnh cung ứng cho doanh nghiệp
Những ưu thế và đặc quyền của các Nhà cung cấp cho phép
họ có những ảnh hưởng nhất định đối với doanh nghiệp Do đó, họ
có thể tạo ra những áp lực đối với doanh nghiệp Họ có rất nhiềucách để tác động vào khả năng thu lợi nhuận của các doanh nghiệp,
họ có thể nâng giá, giảm chất lượng những loại vật tư kỹ thuật mà
họ cung ứng, hoặc không đảm bảo đúng tiến độ cung cấp theo yêu
Trang 19cầu của doanh nghiệp Các Nhà cung cấp có thế lực mạnh khi họ
có những điều kiện sau:
- Độc quyền cung cấp một loại vật tư thiết yếu cho doanhnghiệp
- Doanh nghiệp không phải là khách hàng quan trọng của Nhàcung cấp
- Loại vật tư cung cấp là yếu tố đầu vào quan trọng quyếtđịnh rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,hoặc đến chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp
Trên thị trường xây dựng, danh tiếng của Nhà cung cấp cóảnh hưởng rất lớn đến Chủ đầu tư, do có sự liên quan đến chấtlượng công trình Vì vậy tạo được những mối quan hệ tốt với Nhàcung cấp có danh tiếng sẽ là lợi thế mạnh của doanh nghiệp
d Quyền lực của Chủ đầu tư
Trong giai đoạn hiện nay quy chế đấu thầu còn nhiều vướngmắc và thường xuyên thay đổi nên khả năng thắng thầu của cácdoanh nghiệp còn bị ảnh hưởng rất lớn bởi Chủ đầu tư Chủ đầu tư
là người trực tiếp quyết định và lựa chọn hồ sơ đấu thầu của doanhnghiệp
Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định 88/CP có quyđịnh rõ về điều khoản ưu đãi cho các Nhà thầu Việt Nam Nhưngtrênt hực tế, do nguồn gốc vốn đầu tư nên nhiều khi việc đấu thầu
bị chi phối hoàn toàn từ bên cho vay Trong những trường hợp này,Nhà thầu Việt Nam phải chịu chấp nhận theo ý chủ quan của Chủđầu tư
Trang 20Việc Chủ đầu tư lựa chọn Tư vấn để đánh giá hồ sơ thầu cũng
có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thắng thầu của các doanhnghiệp Do vậy, kinh nghiệm, trình độ của Tư vấn và mối quan hệthân tín với họ sẽ ảnh hưởng rất lớn tới việc cho điểm của hồ sơthầu
1.1.4.2 Nhân tố bên trong
a Năng lực về nguồn lao động.
Con người là nhân tố cơ bản của sản xuất kinh doanh Đánhgiá nguồn nhân lực của doanh nghiệp, Chủ đầu tư đặc biệt chútrọng đến các cấp độ sau:
Lãnh đạo
Trình độ, kinhnghiệm…
Chức năng
Trình độ, kinh nghiệm…
Thực hiện
Trình độ, kinh nghiệm, tay nghề…
* Lãnh đạo - Ban giám đốc doanh nghiệp
Là những cán bộ quản lý ở cấp cao nhất trong doanh nghiệp,quyết định đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trongkinh doanh Khi đánh giá bộ máy lãnh đạo, Chủ đầu tư thườngquan tâm đến các tiêu thức kinh nghiệm lãnh đạo, trình độ, cáchoạt động của doanh nghiệp, phẩm chất kinh doanh của doanhnghiệp và các mối quan hệ Sâu xa hơn nữa là tinh thần đoàn kết
Trang 21đồng lòng của cán bộ công nhân viên cũng như ê kíp lãnh đạo.Điều này vừa tăng sức mạnh của chính doanh nghiệp, vừa tạo ra uytín đối với Chủ đầu tư.
* Chức năng - Cán bộ quản lý cấp doanh nghiệp.
Để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của đội ngũ cán bộ quản
lý, Chủ đầu tư thường tiếp cận trên các khía cạnh:
- Trình độ chuyên môn, kinh nghiệm công tác, tác phong làmviệc, sự am hiểu về kinh doanh và luật pháp của từng thành viêntrong ê kíp quản lý
- Cơ cấu về các chuyên ngành đào tạo phân theo trình độ sẽcho biết khả năng chuyên môn hoá cũng như khả năng đa dạng hoácủa doanh nghiệp Thông thường cơ cấu cán bộ kỹ thuật, cán bộquản lý, công nhân lành nghề có chuyên môn về lĩnh vực chính màdoanh nghiệp đang kinh doanh phải chiếm ít nhất 60% bởi điều nàyliên quan đến kỹ thuật và chất lượng công trình
* Thực hiện - Cán bộ quản lý trung gian, đốc công và công nhân.
Đây là đội ngũ lao động trực tiếp tạo nên sức cạnh tranh tổnghợp của doanh nghiệp trên các khía cạnh như chất lượng công trình(phương thức cạnh tranh 1) và tiến độ thi công công trình (phươngthức cạnh tranh 3) Người phụ trách đơn vị phải có trình độ quản lý(tổ chức điều phối lao động và thiết bị hợp lý, tránh lãng phí nhằm
hạ thấp giá thành, tăng lợi nhuận nhưng phải đảm bảo chất lượng),
am hiểu sâu rộng về công việc mà đơn vị đang thực hiện, biết chăm
lo quyền lợi người lao động…, mới tạo ra được sự ủng hộ, lòng
Trang 22nhiệt thành từ phía người lao động Tuy nhiên, lãnh đạo đơn vị giỏicũng chưa đủ mà còn cần có đội ngũ lao động với trình độ tay nghềchuyên sâu, có khả năng sáng tạo, trung thực trong công việc Bởiđây chính là những người trực tiếp thực hiện những ý tưởng, chiếnlược và chiến thuật kinh doanh của đội ngũ lãnh đạo cấp trên,những người tạo nên chất lượng công trình và sức cạnh tranh củadoanh nghiệp.
b Năng lực tài chính
Năng lực về tài chính được thể hiện ở quy mô nguồn vốn tự
có, khả năng huy động các nguồn vốn khác cho sản xuất kinhdoanh và hiệu quả sử dụng các nguồn vốn Mặt khác, để đánh giákhả năng tài chính của doanh nghiệp cần xem xét cơ cấu giữa vốn
cố định và vốn lưu động với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ xây dựng
Với khả năng tài chính dồi dào, doanh nghiệp có thể tham giađấu thầu nhiều công trình khác nhau, có nhiều cơ hội để đầu tưtrang thiết bị thi công nhằm đáp ứng kịp thời quy trình công nghệhiện đại Đồng thời sẽ tạo được niềm tin đối với các tổ chức tíndụng và các Nhà cung cấp vật tư hàng hoá
Năng lực về tài chính mạnh tác dụng tích cực đến quá trìnhđấu thầu Trước hết, nó giúp cho doanh nghiệp có thể thực hiệnnhiệm vụ kinh doanh trong điều kiện giới hạn về vốn Thứ hai, nótạo niềm tin nơi Chủ đầu tư về khả năng quản lý hiệu quả đồng vốnđược giao Thứ ba, hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là yếu tốquyết định đến khả năng huy động các nguồn vốn từ bên ngoài choquá trình kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 23Thực tế cho thấy trong đấu thầu quốc tế nếu xét trên phươngdiện tài chính, các doanh nghiệp trong nước thường mất ưu thế sovới các doanh nghiệp nước ngoài Nguyên nhân là do bản thân cácdoanh nghiệp trong nước có quy mô không lớn, công tác tổ chứcquản lý kinh tế không hiệu quả, tình trạng nợ chồng chéo phổ biếntạo ra sự mất cân đối về vốn cho doanh nghiệp Hơn nữa, đối vớinhiều công trình sử dụng vốn ngân sách, Nhà nước không đáp ứng
đủ vốn theo đúng tiến độ kế hoạch đã định, chậm thanh toán và chiphí trả chậm bằng không, nhưng doanh nghiệp nợ ngân hàng lạiphải trả lãi suất
c Năng lực máy móc thiết bị, công nghệ thi công.
Thiết bị máy móc là bộ phận quan trọng nhất trong tài sản cốđịnh của doanh nghiệp Nó đại diện cho trình độ kỹ thuật và nănglực sản xuất hiện có giúp doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranhtrên thị trường
Mức độ cơ giới hoá trong xây dựng được Chủ đầu tư đánh giácao bởi nó liên quan rất nhiều đến chất lượng và tiến độ thi công.Khả năng cạnh tranh về máy móc thiết bị và công nghệ thể hiệnthông qua các đặc tính sau:
* Tính hiện đại của thiết bị, công nghệ: Biểu hiện ở các thông
số như hãng sản xuất, năm sản xuất, công suất, giá trị còn lại… củathiết bị
* Tính đồng bộ: Thiết bị hoạt động tốt phải đảm bảo sự phù
hợp giữa thiết bị công nghệ với các điều kiện địa lý, khí hậu, thuỷvăn, phương pháp sản xuất và sự phù hợp giữa chất lượng, độ phức
Trang 24tạp của sản phẩm với giá cả của sản phẩm do công nghệ đó sảnxuất ra.
* Tính hiệu quả: Thể hiện về trình độ sử dụng máy móc thiết
bị của doanh nghiệp, từ đó tác động đến hiẹu quả sản xuất kinhdoanh và khả năng huy động tối đa nguồn lực vật chất sẵn có phục
vụ cho mục đích cạnh tranh
* Tính đổi mới: Là một trong những yếu tố tăng cường khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực máy móc thiết bị và trình độ công nghệ ảnh hưởngrất nhiều đến các mặt hoạt động của doanh nghiệp Yếu tố kỹ thuậtnày quyết định việc lựa chọn tính toán các giải pháp hợp lý trong tổchức thi công, bố trí con người và thiết bị một cách hài hoà, nhằmđạt được tiêu chuẩn về chất lượng, rút ngắn tiến độ thi công tiếtkiệm các chi phí xây dựng, hạ giá thành công trình và tăng lợi thếcạnh tranh
d Hoạt động quảng cáo.
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng khônggiống như các doanh nghiệp khác đưa sản phẩm ra thị trường chokhách hàng chọn mua Ngược lại, họ cần phải dựa vào danh tiếngcủa mình để khiến cho khách hàng tìm đến và yêu cầu sản xuất sảnphẩm cần thiết Do vậy, danh tiếng là nhân tố quyết định đến ưu thếcạnh tranh của từng doanh nghiệp xây dựng
Danh tiếng thành tích của doanh nghiệp có tác dụng rất lớnđến khả năng trúng thầu dự án bởi các Chủ đầu tư xây dựng nhữngcông trình lớn luôn quan tâm tới chất lượng và tiến độ công trình
Trang 25Do vậy, hoạt động quảng cáo sẽ tạo ra hình ảnh tốt đẹp giúp doanhnghiệp mở rộng và khẳng định phạm vi ảnh hưởng của mình đến
sự lựa chọn của các Chủ đầu tư
1.2 Khái quát chung về đấu thầu xây dựng
1.2.1 Thực chất của đấu thầu xây dựng
Trong quá trình xây dựng cơ bản, để thực hiện các công việcChủ đầu tư có thể lựa chọn các phương thức như tự làm, giao thầu,đấu thầu Mỗi phương thức có những đặc trưng và điều kiện ứngdụng riêng
Phương thức đấu thầu được áp dụng phổ biến nhất trong nềnkinh tế thị trường Đứng trên những góc độ khác nhau, quan niệm
về đấu thầu trong xây dựng cơ bản cũng khác nhau:
Đối với Chủ đầu tư: Đấu thầu trong xây dựng cơ bản là
phương thức mà Chủ đầu tư sử dụng để tổ chức sự cạnh tranh giữacác đơn vị xây dựng nhằm lựa chọn đơn vị có khả năng thực hiệntốt các yêu cầu nhiệm vụ của Chủ đầu tư
Đối với các Nhà thầu: Đấu thầu là một hình thức kinh doanh
mà các Nhà thầu phải phát huy hết tiềm năng của mình nhằm tìmkiếm lợi nhuận thông qua việc giành được cơ hội nhận thầu cáccông trình xây dựng
Đối với Nhà nước: Đấu thầu là một trong những phương
thức quản lý thực hiện các dự án đầu tư
Theo khoản 1 điều 3 Nghị định 88/199/NĐ-CP ngày01/09/1999, thuật ngữ đấu thầu được hiểu như sau: Đấu thầu là quátrình lựa chọn Nhà thầu đáp ứng yêu cầu của mỗi bên mời thầu
Trang 26Tham gia đấu thầu có nhiều chủ thể kinh tế khác nhau: Chủđầu tư (bên mời thầu), các doanh nghiệp xây lắp (các Nhà thầu) cókhả năng đáp ứng yêu cầu của Chủ đầu tư Theo phương thức này,Chủ đầu tư yêu cầu nhiều doanh nghiệp xây lắp so sánh về khảnăng và lựa chọn doanh nghiệp có khả năng đáp ứng yêu cầu củamình một cách tốt nhất.
Thực chất của đấu thầu là tổ chức cạnh tranh, bao gồm hailoại cạnh tranh chủ yếu sau:
- Cạnh tranh giữa các Chủ đầu tư (bên mời thầu) với cácdoanh nghiệp xây dựng (bên nhận thầu)
- Cạnh tranh giữa các đơn vị xây dựng với nhau
Những quan hệ cạnh tranh này ra đời gắn liền với sự pháttriển của sản xuất và trao đổi hàng hoá Đấu thầu cũng mang tínhchất của quan hệ mua bán và chịu sự tác động của quy luật cungcầu
Trang 27Sơ đồ 2: Biểu diễn mối quan hệ mua bán giữa các Chủ đầu tư và các doanh nghiệp xây dựng.
Ở đây Chủ đầu tư bán việc nhưng phải trả tiền, đơn vị xâydựng mua việc nhưng nhận được tiền, "người bán" muốn bán
"hàng hóa" với giá rẻ nhất, "người mua" chấp nhận mua "giá" đócũng có nghĩa là chấp nhận mức lợi nhuận không cao
1.2.2 Hình thức, phương thức và nguyên tắc đấu thầu xây dựng.
* Hình thức đấu thầu:
- Đấu thầu rộng rãi: Là hình thức đấu thầu không hạn chế số
lượng Nhà thầu tham gia Bên mời phải thông báo công khai về cácđiều kiện, thời gian dự thầu trên các phương tiện thông tin đại
Người mua: Là
các doanh nghiệp xây dựng.
Giá cả trao đổi:
Là giá thầu.
Hàng hoá: Là các
công việc của quá trình xây dựng cơ bản
Trang 28chúng tối thiểu 10 ngày trước khi phát hành hồ sơ mời thầu Đây làhình thức chủ yếu được áp dụng trong đấu thầu.
- Đấu thầu hạn chế: Là hình thức đấu thầu mà Bên mời thầu
mời một số Nhà thầu (tốt thiểu là 5) có đủ năng lực tham dự Danhsách Nhà thầu tham dự phải được người có thẩm quyền hoặc cấp
có thẩm quyền chấp nhận Được áp dụng khi có một trong các điềukiện sau:
+ Chỉ có một số Nhà thầu có khả năng đáp ứng được yêu cầucủa gói thầu
+ Các nguồn vốn sử dụng yêu cầu phải tiến hành đấu thầuhạn chế
+ Do tình hình cụ thể của gói thầu mà việc đấu thầu hạn chế
có lợi thế
* Phương thức đấu thầu:
- Đấu thầu một túi hồ sơ: Là phương thức mà Nhà thầu nộp
hồ sơ dự thầu trong một túi hồ sơ Áp dụng đối với đấu thầu muasắm hàng hóa và xây lắp
- Đấu thầu hai túi hồ sơ: Là phương thức mà Nhà thầu nộp
đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về giá trong từng túi hồ sơ riêng vàocũng một thời điểm Túi hồ sơ đề xuất kỹ thuật sẽ được xem xéttrước để đánh giá Các Nhà thầu đạt số điểm kỹ thuật từ 70% trởlên sẽ được mở tiếp túi hồ sơ đề xuất về giá để đánh giá Áp dụngđối với đấu thầu tuyển chọn tư vấn
- Đấu thầu hai giai đoạn: Áp dụng cho các trường hợp sau:
Trang 29+ Các gói thầu mua sắm hàng hoá xây lắp có giá từ 500 tỷ đồngtrở lên.
+ Các gói thầu mua sắm hàng hoá có tính chất lựa chọn côngnghệ thiết bị toàn bộ, phức tạp về công nghệ và kỹ thuật hoặc cácgói thầu xây lắp đặc biệt phức tạp
+ Dự án thực hiện theo hợp đồng chìa khoá trao tay
Quá trình thực hiện phương thức đấu thầu hai giai đoạn như sau:
+ Giai đoạn thứ nhất: Các Nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu sơ bộ
đề xuất về kỹ thuật và phương án tài chính để Bên mời thầu xemxét và thảo luận cụ thể với từng Nhà thầu nhằm thống nhất về yêucầu và tiêu chuẩn kỹ thuật để Nhà thầu chuẩn bị và nộp hồ sơ dựthầu chính thức của mình
+ Giai đoạn thứ hai: Bên mời thầu mời các Nhà thầu tham
gia trong giai đoạn thứ nhất, nộp hồ sơ dự thầu chính thức với đềxuất kỹ thuật đã được bổ sung hoàn chính trên cùng một mặt bằng
kỹ thuật và đề xuất chi tiết về tài chính với các nội dung về tiến độthực hiện, điều kiện hợp đồng, giá dự thầu
* Nguyên tắc đấu thầu:
- Công bằng: Mọi Nhà thầu được mời đấu thầu đều có quyền
bình đẳng như nhau về nội dung thông tin được cung cấp từ Chủđầu tư, trình bày một cách khách quan các ý kiến của mình trongquá trình chuẩn bị hồ sơ và trong buổi mở thầu
- Bí mật: Mức giá trần của Chủ đầu tư, các ý kiến trao đổi
của các Nhà thầu với Chủ đầu tư trong quá trình chuẩn bị hồ sơ dự
Trang 30thầu phải được đảm bảo bí mật tuyệt đối Nếu ai vi phạm sẽ bị xử
lý theo pháp luật và chịu trách nhiệm vật chất với sự vi phạm đó
- Công khai: Trừ những công trình đặc biệt thuộc bí mật
quốc gia, nguyên tắc công khai phải được quán triệt trong cả giaiđoạn gọi thầu và giai đoạn mỏ thầu
- Có năng lực: Cả Chủ đầu tư và Nhà thầu phải có năng lực
kinh tế - kỹ thuật để thực hiện những điều đã cam kết
- Pháp lý: Các bên tham gia quá trình đấu thầu phải tuân thủ
nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước về nội dung và trình tựđấu thầu, cũng như những cam kết đã được ghi nhận trong hợpđồng giao thầu Mọi vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật
1.2.3 Vai trò của đấu thầu xây dựng.
So với các phương thức tự làm và giao thầu, phương thức đấuthầu có nhiều ưu điểm hơn, mang lại lợi ích kinh tế cho Chủ đầu
tư, các Nhà thầu và Nhà nước
* Đối với Chủ đầu tư:
- Thực hiện có hiệu quả yêu cầu về xây dựng công trình như:tiết kiệm vốn đầu tư cơ bản, thực hiện đúng tiến độ xây dựng côngtrình, đảm bảo đúng kỹ thuật, mỹ thuật công trình
- Tăng cường quản lý vốn đầu tư, tránh thất thoát lãng phí, sửdụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả
- Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các đơn vị xâydựng
- Bảo đảm quyền chủ động, tránh tình trạng phụ thuộc vàomột Nhà thầu xây dựng công trình
Trang 31- Nâng cao trình độ và năng lực đội ngũ cán bộ kinh tế và kỹthuật của chính các Chủ đầu tư.
* Đối với các Nhà thầu:
- Phát huy tối đa tính chủ động, năng động trong việc tìmkiến các cơ hội tham gia dự đấu thầu
- Đầu tư có trọng điểm nhằm nâng cao năng lực kỹ thuật vàcông nghệ
- Hoàn thiện các mặt quản lý, nâng cao năng lực của đội ngũcán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật trong việc tham gia dự dấu thầu vàthực hiện các công trình đã thắng thầu
- Nâng cao hiệu quả kinh tế để đảm bảo lợi nhuận khi giá bỏthầu thấp
* Đối với Nhà nước:
- Nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về đầu tư vàxây dựng cơ bản, quản lý sử dụng vốn có hiệu quả, hạn chế tìnhtrạng thất thoát, lãng phí vốn nhất là vốn ngân sách, các hiện tượngtiêu cực trong xây dựng cơ bản
- Tạo nên sức cạnh tranh mới và lành mạnh hoá trong lĩnhvực xây dựng cơ bản, đảm bảo công bằng giữa các Nhà thầu, đánhgiá đúng năng lực của họ, thúc đẩy phát triển kinh tế hàng hoátrong ngành và nền kinh tế quốc dân
1.2.4 Trình tự tổ chức đấu thầu xây dựng.
Việc tổ chức đấu thầu được diễn ra cả với Chủ đầu tư và cácdoanh nghiệp xây dựng (thể hiện qua sơ đồ dưới đây) Đối với mỗi
Trang 32chủ thể, quy trình cũng cũng như cách thức tổ chức đấu thầu hoàntoàn khác nhau bởi xuất phát từ những mục đích khác nhau.
Trang 33Sơ đồ 3: Trình tự và trách nhiệm của các bên trong đấu
thầu.
ơChủ đầu tư
quả và thông báo kết
quả sơ tuyển
• Tìm kiếm thông tinmời thầu
• Lập hồ sơ sơ tuyểntheo yêu cầu của chủđầu tư
• Nhận thông báo kếtquả sơ tuyển
• Lập tài liệu mời
• Đánh giá chi tiết
hồ sơ dự thầu trên
• Tham gia dự và mởthầu theo yêu cầu củaChủ đầu tư
• Thuyết mình cácgiải pháp trong hồ sơ
dự thầu
• Giải thích các nộidung chưa rõ và sửa
Sơ tuyển cho các gói thầu
có giá trị
≥ 200 tỷ đồng Tiếp nhận
hồ sơ dự thầu
Mở thầu xem xét
và đánh giá hồ sơ
dự thầu
Ký hợp đồng
Trang 34• Nộp bảo lãnh thựchiện hợp đồng
CHƯƠNG IIPHÂN TÍCH KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU
CỦA CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 889
2.1 GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG
TRÌNH GIAO THÔNG 889
Tên Công ty: Công ty xây dựng ABC
Tên viết tắt: Công ty XDCTGT 889
Tên quốc tế: Civil Engineering Contruction No.889
Địa chỉ trụ sở chính: P Khương Đình - Q Thanh Xuân - TP
Hà Nội
Điện thoại: 04.582393
Trang 35Ngày thành lập: Ngày 27 tháng 5 năm 1993
Quyết định thành lập số: 1034/QĐ/TCCB-LĐ của Bộ GTVT
2.1.1 Quá trình phát triển của Công ty 889
Công ty XDCTGT 889 là một Công ty thành viên của Tổngcông ty XDCTGT 8 có trụ sở chính tại: Tổ 1 Phường Khương Đình
- quận Thanh Xuân thành phố Hà Nội và có chi nhánh phía Nam tạiQuận Thủ Đức - thành phố Hồ Chí Minh
Tiền thân của Công ty XDCTGT 889 là xí nghiệp xây dựng
và dịch vụ tổng hợp với nhiệm vụ là xây dựng các công trình vừa,nhỏ và dịch vụ phục vụ các Công ty trong Tổng công ty
Năm 1993 theo quyết định 338/CP của Thủ tướng chính phủ
về việc sắp xếp lại doanh nghiệp Xí nghiệp xây dựng và dịch vụtổng hợp đổi tên thành Công ty xây dựng công trình giao thông889
- Theo quyết định số: 1034/QĐ/TCCB-LĐ ngày 27-5-1993
- Giấy phép đăng ký kinh doanh xây dựng số CSXD ngày 04-11-1997 Số đăng ký kinh doanh 111346
472/BXD-Ngành nghề kinh doanh là:
+ Xây dựng các công trình giao thông
+ Xây dựng công trình công nghiệp và dân dụng
+ Sản xuất vật liệu xây dựng
Công ty xây dựng ABC là một doanh nghiệp Nhà nước, hạchtoán kinh tế độc lập, có đầy đủ tư cách pháp nhân, có con dấuriêng, có tài khoản tiền gửi đang hoạt động mở tại Ngân hàng côngthương Đống Đa - Hà Nội với số hiệài khoản: 710A-00101
Trang 36Từ khi thành lập tới nay Công ty có những bước phát triểnkhông ngừng Trước đây,chỉ tham gia khâu cung ứng và đảm bảovật tư kỹ thuật cho các đơn vị xây dựng trong Tổng Công tyXDCTGT 8, giờ đây Công ty đã trở thành một doanh nghiệp trựctiếp tham gia xây dựng các công trình lớn (vừa thành hiện hoànthành kế hoạch của Tổng Công ty giao phó vừa khai thác, đấu thầucác công trình mới) Công ty đã tiến hành thi công và bàn giaonhiều công trình xây dựng như: Quốc lộ 18, Quốc lộ 5 Hải Dương,đường cao tốc Láng - Hòa Lạc, đường 203 Cao Bằng, đường quốc
lộ 1A Bắc Giang, đường Bắc Thăng Long - Nội Bài, đường NamThăng Long - Mai Dịch, đang thi công đường Hà Nội - Cầu Giẽ,đường 10 Nam Định, Xuyên Á… Các công trình đều được xâydựng với chất lượng tốt, thi công và bàn giao công trình đúng tiến
độ, đã và đang tạo dựng uy tín, khẳng định vị trí của mình trongnền kinh tế thị trường
Có được sự thành công này là nhờ sự nỗ lực không nhỏ củatập thể ban lãnh đạo Công ty, của đội ngũ cán bộ quản lý, kỹ sư vàcông nhân kỹ thuật lành nghề với sự trợ giúp đắc lực của giàn máymóc thiết bị hiện đại Công ty đã mạnh dạnh đầu tư các trang thiết
bị máy móc đồng bộ và tương đối hiện đại bao gồm: ô tô tự đổ,máy xúc, máy ủi, máy lu rung 462, máy ủi Nigata, máy san tựhành Trạm trộn bê tông để phục vụ cho rải lớp base với công suất40T-60T; Trụ Afan 80-100 T/h
Trong những năm gần đây, Công ty luôn không ngừng mởrộng quy mô sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao
Trang 37động trong Công ty và lao động của địa phương (nơi thi công công
trình), góp phần nâng cao đời sống CBCNV và thực hiện đầy đủ
nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước Điều này có thể thấy được
qua một số chỉ tiêu sau:
Biểu số 1: Một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản của Công ty xây dựng
công trình giao thông 889
- Doanh thu thuần năm 2001 tăng 18% so với năm 1999
- Lợi nhuận năm 2001 tăng 61% so với năm 1999
- Nộp ngân sách năm 2001 tăng 44% so với năm 1999
- Thu nhập bình quân về cơ bản không giảm
Trong nhiều năm tới, nhu cầu xây dựng và hoàn thiện hệ
thống cơ sở hạ tầng, các công trình giao thông, công trình công
Trang 38nghiệp và dân dụng còn rất lớn, đó là những thuận lợi cơ bản chongành xây dựng nói chung và cho Công ty xây dựng ABC nóiriêng Trước những thuận lợi này đòi hỏi các cấp lãnh đạo Công tycũng như toàn thể cán bộ công nhân viên trong Công ty nỗ lực hơnnữa để khắc phục những khó khăn nhằm xây dựng Công ty ngàymột vững mạnh hơn trong lĩnh vực xây dựng công trình giao thông,công trình công nghiệp và dân dụng, tạo thêm nhiều công ăn việclàm, tăng thêm thu nhập cho CBCNV và đóng góp nhiều hơn chongân sách Nhà nước.
2.1.2 Nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động và cơ cấu tổ chức Công ty xây dựng ABC
Các ngành nghề chủ yếu:
- Xây dựng các công trình giao thông
- Xây dựng các công trình dân dụng
- Xây dựng các công trình công nghiệp
- Sản xuất vật liệu xây dựng
Trang 39Sơ đồ 4: Công ty 889 trong Tổng Công ty
Sơ đồ 5: Cơ cấu tổ chức của Công ty:
Các phòng ban nghiệp vụ Trung tâm quan hệ quốc
tế Trung tâm y
tế, TT Đào tạo
Các
Công
ty thành
viên
khác
Công
ty XDCT
PGĐ PT
xe Máy thiết bị
PGĐ PT Phía Nam
Phòng
TCCB-LĐ Phòng TC-kế
toán
Phòng KHKT Phòng XMTB Phòng Hành
n
số 3
Đội
TC nề
n
số 4
Đội
TC nề
n
số 5
Đội
TC nề
n
số 6
Đội
TC nề
n
số 7
Đội
TC nề
n
số 8
Đội
TC nề
n
số 9
Đội
TC nề
n
số 10
Trang 40Cơ cấu tổ chức của Công ty bao gồm:
* Ban giám đốc: Một giám đốc và bốn phó giám đốc
Giám đốc là người điều hành hoạt động kinh doanh của Công
ty theo chế độ một thủ trưởng, là đại diện pháp nhân trong các quan
hệ kinh doanh và chịu trách nhiệm trước pháp luật, cơ quan quản lýcấp trên về hoạt động kinh doanh của Công ty
Phó giám đốc là người giúp việc giám đốc, ở Công ty xâydựng ABC Giám đốc phân công như sau: Một phó giám đốc phụtrách kỹ thuật, một phó giám đốc phụ trách xe máy thiết bị, mộtphó giám đốc phụ trách kinh doanh và cuối cùng là phó giám đốcphụ trách văn phòng của Công ty ở phía Nam
* Các phòng chức năng:
Gồm các phòng ban sau:
Phòng kế hoạch thống kê:
Chức năng: làm một phòng nằm trong hệ thống các phòngban trong Công ty tham mưu cho lãnh đạo Công ty trong các khâuxây dựng kế hoạch hàng năm Kế hoạch đối nội, đối ngoại, lập dựtoán, quản lý dự toán, chủ trì trong việc giao khoán các chỉ tiêukinh tế kỹ thuật cho các dự án cũng như các đội sản xuất trongCông ty Quản lý đầu vào, đầu ra các công trình, quản lý cung ứng
sử dụng các vật tư, nhiên liệu và tham mưu cho giám đốc trong lĩnhvực tiếp thị vật tư với giá phù hợp
Nhiệm vụ của phòng là xây dựng kế hoạch sản xuất kinhdoanh năm, quý, tháng tác nghiệp cho các đội sản xuất và Công ty.Giao kế hoạch tác nghiệp tháng, quý, năm cho đơn vị và điều chỉnh