Đề án môn học Luật dân sự Bản thân tôi thấy rằng cần nghiên cứu một cách nghiêm túc vấn đề thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu để từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này. Việc xây dựng các quy định pháp lý về thời hiệu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu hoàn chỉnh, phù hợp với thực tiễn không những là yêu cầu chính đáng của người dân để họ bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình mà còn là điều kiện để cơ quan nhà nước hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ mà Nhà nước giao. Hiện nay, vấn đề về giao dịch dân sự vô hiệu, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vẫn còn nhiều vướng mắc, gây nhiều tranh cãi, những quy định không rõ ràng của pháp luật đã tạo cho họ rất nhiều khó khăn, lúng túng trong công tác xét xử có liên quan tới thời hiệu yều cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu. Nhận thức được ý nghĩa to lớn trên cả phương diện lý luận và thực tiễn như vậy nên tôi chọn đề tài nghiên cứu “Thời hiệu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu” để làm Đề án môn Luật Dân sự của mình.
Trang 11 Lý do chọn đề tài
Bản thân tôi thấy rằng cần nghiên cứu một cách nghiêm túc vấn đề thời hiệu yêucầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu để từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm hoànthiện các quy định pháp luật về vấn đề này Việc xây dựng các quy định pháp lý vềthời hiệu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu hoàn chỉnh, phù hợp với thực tiễn khôngnhững là yêu cầu chính đáng của người dân để họ bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp củamình mà còn là điều kiện để cơ quan nhà nước hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ màNhà nước giao Hiện nay, vấn đề về giao dịch dân sự vô hiệu, thời hiệu yêu cầu Tòa ántuyên bố giao dịch dân sự vẫn còn nhiều vướng mắc, gây nhiều tranh cãi, những quyđịnh không rõ ràng của pháp luật đã tạo cho họ rất nhiều khó khăn, lúng túng trongcông tác xét xử có liên quan tới thời hiệu yều cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vôhiệu Nhận thức được ý nghĩa to lớn trên cả phương diện lý luận và thực tiễn như vậy
nên tôi chọn đề tài nghiên cứu “Thời hiệu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu” để làm
Đề án môn Luật Dân sự của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Chế định giao dịch dân sự vô hiệu đã được nhiều nhà khoa học pháp lý quan tâmtrong các thời kỳ dưới những góc độ khác nhau Đã có nhiều công trình nghiên cứu vềgiao dịch dân sự vô hiệu, trong đó có đề cập đến thời hiệu tuyên bố giao dịch dân sự
vô hiệu như:
+ Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Tập I, Nxb.
CAND, Hà Nội, 2009
+ Lê Đình Nghị (chủ biên), Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Tập 1, Nxb Giáo
dục Hà Nội, 2009
+ Bộ Luật Dân sự 2015 của Nhà xuất bản chính trị quốc gia do TS Hoàng Phong
Hà, TS Vũ Trọng Lâm chịu trách nhiệm xuất bản và nội dung
+ Bộ Luật Dân sự 2005 của Nhà xuất bản Thống kê do Cát Văn Thành chịu tráchnhiệm xuất bản
+ Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2004 của Nhà xuất bản chính trị quốc gia do TS.Nguyễn Duy Hùng và Phạm Việt chịu trách nhiệm xuất bản và nội dung
+ Một số công trình nghiên cứu cụ thể hơn như luận văn Thạc sỹ Luật học năm
2014 của tác giả Vũ Thị Khánh về “Giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối theo pháp luật Việt Nam” - ở tác phẩm này tác giả đã nghiên cứu một cách hoàn chỉnh về giao
dịch dân sự vô hiệu do lừa dối, làm rõ các căn cứ pháp lý xác định giao dịch dân sự vôhiệu do lừa dối, phân tích thực tiễn giải quyết hậu quả pháp lý khi giao dịch dân sự vôhiệu và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật; luận văn Thạc sỹ
Luật học năm 2014 của tác giả Trần Việt Đức về “Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự trong pháp luật Việt Nam hiện hành”- ở tác phẩm này tác giả đã nghiên cứu một cách
hoàn chỉnh các vấn đề về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, cơ sở của việc xây dựng
Trang 2quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự; thực trạng pháp luật hiện hành về khởikiện vụ án dân sự; thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện
vụ án dân sự
+ Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005, Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, PGS.TS Hoàng Thế Liên làm chủ biên
+ Các bài giảng trong giáo trình luật dân sự của Trường Đại học Luật thành phố
Hồ Chí Minh do Tiến sĩ Phạm Kim Anh, Th.s Chế Mỹ Phương Đài làm chủ biên.+ Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phánTòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ ándân sự, hôn nhân và gia đình
+ Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ Luật Dân sự 2015 do PGS.TS ĐỗVăn Đại, giảng viên trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh làm chủ biên
3 Mục đích nghiên cứu
- Cung cấp những luận cứ khoa học về thời hiệu, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên
bố giao dịch dân sự vô hiệu; các trường hợp áp dụng thời hiệu yêu cầu tuyên bố giaodịch dân sự vô hiệu và cách tính thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu
- Tìm hiểu những điểm mới của Bộ Luật Dân sự 2015 về thời hiệu yêu cầu tuyên
bố giao dịch dân sự vô hiệu
4 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề liên quan đến thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự
vô hiệu theo các quy định của Bộ Luật Dân Sự và thực trạng áp dụng Bộ luật dân sựViệt Nam vào cuộc sống và tìm ra những điểm mới về thời hiệu yêu cầu tuyên bố giaodịch dân sự vô hiệu của BLDS 2015 so với Bộ Luật Dân sự 2005
5 Phạm vi nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giaodịch dân sự vô hiệu Vấn đề này được tiếp cận theo chiều sâu và toàn diện trong hệthống pháp luật dân sự Việt Nam và đặc biệt là quy định của BLDS 2005, Bộ LuậtDân sự 2015
6 Phương pháp nghiên cứu
Đánh giá các vấn đề trong luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tưtưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Tác giả còn kết hợp các phương phápnghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, so sánh, nghiên cứu lý thuyết, khảo sátthực tiễn, kết hợp giữa lý luận với thực tiễn
7 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung của bàikhóa luận bao gồm 2 chương chính:
Trang 3Chương 2: Những điểm mới về thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu của Bộ Luật Dân sự 2015.
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỜI HIỆU, THỜI HIỆU
YÊU CẦU TUYÊN BỐ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU
1.1 KHÁI NIỆM THỜI HIỆU, THỜI HIỆU YÊU CẦU YÊU CẦU GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ, THỜI HIỆU YÊU CẦU TUYÊN BỐ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU
1.1.1 Khái niệm thời hiệu
Theo Khoản 1 Điều 149 BLDS năm 2015 thì thời hiệu là thời hạn do luật quyđịnh mà khi kết thúc thời hạn đó phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điểukiện do luật quy định Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này, luậtkhác có liên quan Cùng với thời hạn, thời hiệu là một chế định pháp lý quan trọngtrong việc xác lập quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ dân sự Trước hếtthời hiệu là căn cứ pháp lý để làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ dân sự.Thời hiệu giúp cho việc ổn định các quan hệ dân sự trong việc xác lập quyền hợp phápcho các chủ thể trong các trường hợp nhất định Bên cạnh đó, thời hiệu tạo điều kiệngiảm bớt khó khăn cho Tòa án trong việc phải thụ lí các vụ án dân sự mà khó có thểtìm được chứng cứ chứng minh bởi nó đã xảy ra quá lâu và chính các chủ thể cũngkhông có ý thức bảo vệ quyền lợi của mình
1.1.2 Khái niệm thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự
Tại Điều 150 BLDS 2015 như sau: “Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là thời hạn mà chủ thể được yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền yêu cầu” Việc quan niệm thời hiệu yêu cầu
giải quyết vụ việc dân sự có hai vai trò nêu trên đã bộc lộ những vướng mắc về mặt lýluận và thực tiễn sau: Việc quy định thời hiệu còn mang nặng mục đích tạo căn cứpháp lý cho Tòa án từ chối giải quyết vụ việc dân sự khi có yêu cầu của chủ thể dân
sự, biến thời hiệu yêu cầu thành thời hiệu thụ lý trong thực tiễn tố tụng; Pháp luật mớichỉ dừng lại ở việc thừa nhận quyền yêu cầu của chủ thể dân sự trong thời hạn luậtđịnh mà chưa có quan điểm rõ ràng, thống nhất hậu quả về nội dung quan hệ dân sựkhi hết thời hiệu; Pháp luật đã công nhận quyền của chủ thể dân sự trong việc yêu cầuTòa án công nhận, bảo vệ quyền dân sự, nhưng chưa có quy định hợp lý về tính thờihiệu, thường ấn định một thời điểm xác định mà không linh hoạt hóa cho phù hợp vớicác quan hệ dân sự và chủ thể có tính đặc thù Thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việcdân sự là loại thời hạn do pháp luật quy định không phải là thời hạn do các bên trongquan hệ dân sự thỏa thuận Việc không tuân thủ thời hạn đã được pháp luật quy định
có thể làm phát sinh các hậu quả pháp lý nằm ngoài ý chí của chủ thể Thời hiệu giảiquyết việc dân sự được thực hiện theo các quy định của pháp luật
1.1.3 Khái niệm thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu
Trang 4Tại Điều 149 BLDS 2015 quy định: “Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện
do luật quy định”
Căn cứ theo Điều 150 BLDS 2015 về các loại thời hiệu thì: Thời hiệu hưởng
quyền dân sự là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyềndân sự; Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó thìngười có nghĩa vụ dân sự được miễn thực hiện nghĩa vụ; Thời hiệu khởi kiện là thờihạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyềnkhởi kiện; Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là thời hạn mà chủ thể được yêucầu Tòa án giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân,pháp nhân, lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, nếu thời hạn đó kết thúc thìmất quyền yêu cầu
Căn cứ vào những khái niệm về thời hiệu nêu trên, tác giả xin đưa ra khái niệm
thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu như sau: “Thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là thời hạn mà chủ thể được quyền tuyên bố hoặc yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của cá nhân, pháp nhân, lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng”.
Thời hiệu khởi kiện được áp dụng đối với các giao dịch dân sự sau:
- Trường hợp các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, tranh chấp về đòi lại tài sản
do người khác quản lý, chiếm hữu xuất phát từ giao dịch dân sự (có việc chuyển giaotài sản như mua bán, tặng cho, trao đổi ) mà BLDS đã có quy định về thời hiệu khởikiện đối với những loại tranh chấp đó thì áp dụng quy định của BLDS
- Đối với giao dịch dân sự như hợp đồng gửi, giữ tài sản, thuê tài sản, thuê khoántài sản, hợp đồng gia công, hợp đồng vận chuyển thì việc xác định thời hiệu như sau:Trường hợp đương sự khởi kiện tranh chấp về hợp đồng khi Tòa án áp dụng quy định
khởi hiệu khởi kiện tại Điều 429 BLDS 2015 “Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng” và
các quy định của pháp luật chuyên ngành về thời hiệu để giải quyết; Trong trường hợp
đã hết thời hiệu khởi kiện quy định tại Điều 429 BLDS 2015 và các quy định của phápluật chuyên ngành về thời hiệu khởi kiện mà các bên khởi kiện đòi lại tài sản thì Tòa
- Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã
Trang 5hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừanhận và tôn trọng.
- Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo (Điều 124 Bộ luật dân sự 2015): Khi cácbên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sựkhác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệulực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luậtkhác có liên quan; Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa
vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu
- Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vidân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế nănglực hành vi dân sự xác lập, thực hiện (Điều 125 BLDS 2015): Khi giao dịch dân sự dongười chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trongnhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập,thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch
đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của
họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ những trường hợp sau: Giao dịch dân sự củangười chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầuthiết yếu hàng ngày của người đó; Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉmiễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự,người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ; Giao dịch dân sự đượcngười xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôiphục năng lực hành vi dân sự
- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn (Điều 126 Bộ luật dân sự 2015):Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc cácbên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyềnyêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ trường hợp sau: Giao dịch dân
sự được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập giaodịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sựnhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được
- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép (Điều 127 Bộ luật dân
sự 2015): Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng
ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu; Lừa dối tronggiao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bênkia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân
sự nên đã xác lập giao dịch đó; Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố
ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sựnhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản củamình hoặc của người thân thích của mình
Trang 6- Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ đượchành vi của mình (Điều 128 Bộ luật dân sự 2015): Người có năng lực hành vi dân sựnhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ đượchành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
- Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức (Điều 129BLDS 2015): Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thứcthì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây: Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy địnhphải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc cácbên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của mộtbên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó; Giao dịchdân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về côngchứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụtrong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định côngnhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiệnviệc công chứng, chứng thực
1.3 CÁCH TÍNH THỜI HIỆU YÊU CẦU TUYÊN BỐ GIAO DÂN SỰ VÔ HIỆU
Thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên của thời hiệu và chấm dứttại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu Điều 132 BLDS 2015 quy địnhthời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu Có 2 cách tính thời hiệuyêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, cụ thể:
- Thời hiệu yêu cầu hạn chế: Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân
sự vô hiệu quy định tại các điều 125, 126, 127, 128 và 129 của Bộ luật này là 02 năm,
kể từ ngày: Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vidân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế nănglực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiệngiao dịch; Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do
bị nhầm lẫn, do bị lừa dối; Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đedọa, cưỡng ép; Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lậpgiao dịch; Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự khôngtuân thủ quy định về hình thức
- Trường hợp không hạn chế thời hiệu khởi kiện: Theo quy định tại khoản 3,
Điều 132 Bộ Luật Dân sự 2015 đối với các giao dịch dân sự quy định tại Điều 123 vàĐiều 124 của Bộ Luật Dân sự thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự
vô hiệu không bị hạn chế về thời hiệu khởi kiện Các giao dịch này gồm: Giao dịchdân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội được quy định tạiĐiều 123 BLDS 2005; Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo (Điều 124)
Trang 7CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ THỜI HIỆU YÊU CẦU TUYÊN BỐ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015
2.1 ĐIỂM MỚI VỀ KHÁI NIỆM THỜI HIỆU THEO BLDS 2005 KHÁC
SO VỚI BLDS 2015
Bộ luật dân sự quy định khái niệm thời hiệu và nội dung của điều luật tương tự
nhau Cụ thể theo Điều 154 BLDS năm 2005 quy định: “Thời hiệu là thời hạn do pháp luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự, được miễn trừ nghĩa vụ dân sự hoặc mất quyền khởi kiện vụ án dân sự, quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự” Tại Điều 149, Bộ luật dân sự 2015 giữ nguyên thuật ngữ thời
hiệu là thời hạn nhưng có thay đổi cách diễn đạt và bổ sung khoản 2 Khoản 1 Điều
149 quy định: “Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì
phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo những điều kiện do luật quy định” Tại
khoản 2 Điều 149 quy định: “Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu
áp dụng về thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc…”.
Phụ lục 1: Điểm mới về khái niệm thời hiệu của Bộ luật dân sự 2015
Thời hiệu và việc áp dụng thời hiệu
của Bộ luật dân sự 2005
Điểm mới thời hiệu và việc áp dụng thời hiệu của Bộ luật dân sự 2015 Điều 154 Thời hiệu
Thời hiệu là thời hạn do pháp luật quy
định mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ
thể được hưởng quyền dân sự, được
miễn trừ nghĩa vụ dân sự hoặc mất
quyền khởi kiện vụ án dân sự, quyền
yêu cầu giải quyết việc dân sự
Điều 149 Thời hiệu
1 Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định.Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan
2 Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc.Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ
Trang 82.2 ĐIỂM MỚI VỀ CHỦ THỂ TUYÊN BỐ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU
2.2.1 Các bên tham gia giao dịch
Điều 125 BLDS 2015 quy định cụ thể hơn điều 130 BLDS 2005, đồng thời, bổsung điều khoản loại trừ các giao dịch dân sự không bị xem là vô hiệu:
- Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân
sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế nănglực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó,Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định pháp luật giao dịch này phải
do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp sau: Giaodịch dân sự của người chưa đủ 06 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đápứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó; Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinhquyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lựchành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chếnăng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ; Giao dịchdân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc saukhi khôi phục năng lực hành vi dân sự Ở điều này có một số sửa đổi, bổ sung rất quantrọng thể hiện sự linh hoạt của BLDS 2015 góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp phápcủa các chủ thể khi tham gia vào các giao dịch dân sự Khoản 1, Điều 125 có sự bổsung về đối tượng, đó chính là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi.Việc bổ sung này là cần thiết vì pháp luật đã thừa nhận rằng sự trợ giúp pháp lý chongười có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là hoàn toàn cần thiết
2.2.2 Các cơ quan tài phán
Theo Điều 132 BLDS 2005 “khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu” Ở
đây bên cho rằng mình bị lừa dối hay bị đe dọa cần sự can thiệp của Tòa án để tuyên
bố giao dịch dân sự vô hiệu Dự thảo Chính phủ trình Quốc hội để thông qua năm
2015 quy định “khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì bên đó có quyền tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu” Ở đây bên cho rằng giao dịch
dân sự vô hiệu chỉ cần tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu và nếu bên còn lại khôngđồng ý thì yêu cầu Tòa án giải quyết (thay đổi hoàn toàn người yêu cầu cơ quan tàiphán can thiệp) Cuối cùng, BLDS 2015 quay lại hướng của BLDS 2005 là có sự can
thiệp của cơ quan tài phán Quy định hiện nay “khi một bên tham gia giao dịch dân sự
do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì bên đó có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự là vô hiệu”
Trang 9Phụ lục 2: Một số điểm mới về các cơ quan tài phán của BLDS 2015
Thời hiệu và việc áp dụng thời hiệu của
Bộ luật dân sự 2005
Điểm mới thời hiệu và việc áp dụng thời hiệu của Bộ luật dân sự 2015 Điều 122 Điều kiện có hiệu lực của giao
dịch dân sự
1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các
điều kiện sau đây:
a) Người tham gia giao dịch có năng lực
hành vi dân sự;
b) Mục đích và nội dung của giao dịch
không vi phạm điều cấm của pháp luật,
không trái đạo đức xã hội;
c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự
nguyện
2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có
hiệu lực của giao dịch trong trường hợp
pháp luật có quy định
Điều 117 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có
đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật,không trái đạo đức xã hội
2 Hình thức của giao dịch dân sự là điềukiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định
Trang 10Điều 130.Giao dịch dân sự vô hiệu do
người chưa thành niên, người mất năng
lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng
lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện
Khi giao dịch dân sự do người chưa
thành niên, người mất năng lực hành vi dân
sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi
dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu
của người đại diện của người đó, Toà án
tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy
định của pháp luật giao dịch này phải do
người đại diện của họ xác lập, thực hiện
Điều 125 Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành
vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện
1 Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này
2 Giao dịch dân sự của người quy định tại khoản 1 Điều này không bị vô hiệu trong trường hợp sau đây:
a) Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân
sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàngngày của người đó;
b) Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch vớihọ;
c) Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự