Chè là cây công nghiệp lâu năm, có đời sống kinh tế dài, trồng một lần có thể cho thu hoạch 30 40 năm hoặc lâu hơn nữa. Cây chè rất thích hợp trồng ở vùng đồi núi, trung du. Vì thế, một quốc gia với ¾ diện tích là đồi núi như Việt Nam thì cây chè rất phù hợp để phát triển. Hiện nay, trong khoảng 40 quốc gia trồng chè, Việt Nam là quốc gia đứng thứ 5 thế giới về diện tích và xuất khẩu chè. Đối với người dân miền núi, cây chè còn là nguồn sống, nguồn thu nhập chính, góp phần ổn định đời sống cho người dân miền núi, xóa đói giảm nghèo. Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc, với điều kiện thiên nhiên ưu đãi về khí hậu và đất đai rất thích hợp cho cây chè phát triển. Chè là cây công nghiệp truyền thống có giá trị kinh tế cao ở Thái Nguyên, được thị trường trong nước và nhiều nước trên thế giới biết đến. Nhân dân Thái Nguyên có nhiều kinh nghiệm về trồng, chế biến chè và đã biết tận dụng lợi thế đất đai, khí hậu tạo nên hương vị chè Thái đặc trưng không thể lẫn với các loại chè khác. Vì thế, chè Thái Nguyên đã nổi tiếng từ lâu, đặc biệt chè Tân Cương là sản phẩm nổi tiếng trong cả nước. Cục Sở hữu trí tuệ đã chính thức cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa cho sản phẩm chè Thái Nguyên. Với diện tích 18.605 ha, năng suất bình quân đạt 80 tạ chè búp tươiha, Thái Nguyên đứng thứ hai toàn quốc sau Lâm Đồng cả về diện tích và sản lượng. Chè Thái Nguyên được tiêu thụ cả thị trường trong và ngoài nước, trong đó thị trường nội tiêu chiếm trên 70% sản lượng chè toàn tỉnh. Hiện nay, sản lượng chè tăng bình quân 9,4%năm. (Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Thái Nguyên 2012) 38 Hiệu quả kinh tế cây chè ở Thái Nguyên đã đem lại cho các hộ nông dân và cho tỉnh nhiều lợi ích kinh tế. Tuy nhiên, đến thời điểm này ngành chè vẫn gặp nhiều khó khăn như giá cả biến động thất thường, nhà máy thiếu nguyên liệu, sản xuất manh mún, thậm chí phải đối mặt với nguy cơ mất thị trường xuất khẩu chè… Không chỉ có doanh nghiệp gặp khó khăn mà người trồng chè cũng lao đao không kém, hầu hết các hộ nông dân sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, giá cả phụ thuộc vào tư thương. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hiệu quả kinh tế của cây chè còn thấp và chưa ổn định là giá các yếu tố đầu vào để sản xuất chè liên tục biến động tăng chưa ổn định. Đối với sản xuất chè, các yếu tố đầu vào có vai trò rất quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ nông dân. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, thị trường đầu vào của sản xuất chè biến động rất bất lợi cho các hộ nông dân. Giá các yếu tố đầu vào như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kích thích, công lao động, nhiên liệu… liên tục tăng cao làm cho một bộ phận nông dân gặp không ít khó khăn, đặc biệt là nông dân nghèo, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ nông dân. Trong bối cảnh hiện nay, đứng trước những khó khăn chung của ngành chè Thái Nguyên và của các hộ nông dân trồng chè trên địa bàn Tỉnh, việc nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của sự biến động tăng giá đầu vào đến tình hình sản xuất, kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ nông dân từ đó đưa ra những giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè cho các hộ nông dân Thái Nguyên là hết sức cần thiết và thiết thực.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chè là cây công nghiệp lâu năm, có đời sống kinh tế dài, trồng một lần cóthể cho thu hoạch 30 - 40 năm hoặc lâu hơn nữa Cây chè rất thích hợp trồng ởvùng đồi núi, trung du Vì thế, một quốc gia với ¾ diện tích là đồi núi như ViệtNam thì cây chè rất phù hợp để phát triển Hiện nay, trong khoảng 40 quốc giatrồng chè, Việt Nam là quốc gia đứng thứ 5 thế giới về diện tích và xuất khẩuchè Đối với người dân miền núi, cây chè còn là nguồn sống, nguồn thu nhậpchính, góp phần ổn định đời sống cho người dân miền núi, xóa đói giảm nghèo
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc, với điều kiện thiênnhiên ưu đãi về khí hậu và đất đai rất thích hợp cho cây chè phát triển Chè là câycông nghiệp truyền thống có giá trị kinh tế cao ở Thái Nguyên, được thị trườngtrong nước và nhiều nước trên thế giới biết đến Nhân dân Thái Nguyên có nhiềukinh nghiệm về trồng, chế biến chè và đã biết tận dụng lợi thế đất đai, khí hậu tạonên hương vị chè Thái đặc trưng không thể lẫn với các loại chè khác Vì thế, chèThái Nguyên đã nổi tiếng từ lâu, đặc biệt chè Tân Cương là sản phẩm nổi tiếngtrong cả nước Cục Sở hữu trí tuệ đã chính thức cấp giấy chứng nhận đăng ký
nhãn hiệu hàng hóa cho sản phẩm chè Thái Nguyên Với diện tích 18.605 ha,
năng suất bình quân đạt 80 tạ chè búp tươi/ha, Thái Nguyên đứng thứ hai toànquốc sau Lâm Đồng cả về diện tích và sản lượng Chè Thái Nguyên được tiêu thụ
cả thị trường trong và ngoài nước, trong đó thị trường nội tiêu chiếm trên 70%
sản lượng chè toàn tỉnh Hiện nay, sản lượng chè tăng bình quân 9,4%/năm (Sở
Nông nghiệp và phát triển nông thôn Thái Nguyên 2012) [38]
Hiệu quả kinh tế cây chè ở Thái Nguyên đã đem lại cho các hộ nông dânvà cho tỉnh nhiều lợi ích kinh tế Tuy nhiên, đến thời điểm này ngành chè vẫn gặpnhiều khó khăn như giá cả biến động thất thường, nhà máy thiếu nguyên liệu, sảnxuất manh mún, thậm chí phải đối mặt với nguy cơ mất thị trường xuất khẩuchè… Không chỉ có doanh nghiệp gặp khó khăn mà người trồng chè cũng lao đaokhông kém, hầu hết các hộ nông dân sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, giá cả phụ thuộcvào tư thương Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hiệu quả kinh tế củacây chè còn thấp và chưa ổn định là giá các yếu tố đầu vào để sản xuất chè liêntục biến động tăng chưa ổn định
Trang 2Đối với sản xuất chè, các yếu tố đầu vào có vai trò rất quan trọng, nó ảnhhưởng trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ nông dân.Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, thị trường đầu vào của sản xuất chè biến độngrất bất lợi cho các hộ nông dân Giá các yếu tố đầu vào như phân bón, thuốc bảo
vệ thực vật, thuốc kích thích, công lao động, nhiên liệu… liên tục tăng cao làmcho một bộ phận nông dân gặp không ít khó khăn, đặc biệt là nông dân nghèo,đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ nôngdân Trong bối cảnh hiện nay, đứng trước những khó khăn chung của ngành chèThái Nguyên và của các hộ nông dân trồng chè trên địa bàn Tỉnh, việc nghiêncứu đánh giá ảnh hưởng của sự biến động tăng giá đầu vào đến tình hình sảnxuất, kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ nông dân từ đó đưa ranhững giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè cho các hộnông dân Thái Nguyên là hết sức cần thiết và thiết thực
Xuất phát từ lý do trên chúng tôi lựa chọn vấn đề: "Ảnh hưởng của biến
động tăng giá đầu vào đến hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ nông dân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên" làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ nhằm góp
phần thúc đẩy việc sản xuất và xuất khẩu chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
2 Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn ảnh hưởng của biến động tănggiá đầu vào đến hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ nông dân trên địa bàntỉnh Thái Nguyên, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm khuyến cáochính phủ và hộ nông dân có những ứng xử phù hợp để nâng cao hiệu quả kinh tếtrong sản xuất chè của các hộ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
* Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa những vấn đề mang tính tổng quan về hiệu quả kinh tế, giávà biến động giá trong sản xuất chè, ảnh hưởng của biến động giá đầu vào đếnhiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ nông dân
- Phân tích, đánh giá thực trạng ảnh hưởng của biến động tăng giá đầu vàođến hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ nông trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Trang 3- Phân tích ảnh hưởng của các loại yếu tố đầu vào tới năng suất và hiệu quả
kỹ thuật trong sản xuất chè của các hộ nông dân trên địa bàn Tỉnh
- Phân tích ảnh hưởng của việc tăng chi phí đầu vào tới hiệu quả kinh tế sảnxuất chè của các hộ nông dân trên địa bàn nghiên cứu
- Đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của tăng giáđầu vào sản xuất chè và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè cho các hộ nôngdân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề về hiệu quả kinh tế sản xuấtchè của các hộ nông dân, ảnh hưởng của biến động tăng giá đầu vào đến hiệu quảkinh tế sản xuất chè của các hộ, ảnh hưởng của các loại đầu vào đến năng suất vàhiệu quả kỹ thuật sản xuất chè của của hộ và ảnh hưởng của việc tăng chi phí sảnxuất chè tới hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ nông dân trên địa bàn tỉnhThái Nguyên
* Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung:
Trọng tâm nghiên cứu của đề tài là hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các
hộ nông dân trước và sau khi có biến động tăng giá đầu vào; ảnh hưởng biếnđộng tăng giá các yếu tố đầu vào chính trong sản xuất chè như giá các vật tư phânbón, nhiên liệu, công lao động đến hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ nôngdân trên địa bàn Tỉnh; phân tích tác động của các loại yếu tố đầu vào tới hiệu quả
kỹ thuật sản xuất chè của các hộ nông dân trên địa bàn nghiên cứu; tác động củaviệc tăng chi phí sản xuất chè tới hiệu quả kinh tế sản xuất chè của hộ
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
- Phạm vi về thời gian:
Giới hạn thời gian để phân tích biến động giá: Luận án chọn mốc trước khibiến động giá là năm 2007, đây là năm giá các đầu vào sản xuất chè chưa tăngcao, giá các đầu vào sản xuất chè không có biến động gì đặc biệt Nghiên cứuchọn mốc sau biến động giá năm 2011, đây là năm sau khi giá các đầu vào sản
Trang 4xuất chè đã tăng cao và đi vào ổn định, không có biến động gì bất thường, lãi suấtvay ổn định, lạm phát không đáng kể, thời tiết biến động không đáng kể
Đối với nghiên cứu tổng quan, các thông tin được thu thập thông qua cáctài liệu đã công bố trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến nay
Các số liệu đánh giá thực trạng ở tỉnh Thái Nguyên được thu thập trongkhoảng thời gian từ 2006 đến 2012
Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp hộ năm 2008
và năm 2012
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực, làtài liệu giúp hộ nông dân, xã, huyện và tỉnh đánh giá ảnh hưởng của biến độngtăng giá đầu vào đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè của các hộ nông dân,đánh giá được ảnh hưởng của các loại yếu tố đầu vào tới năng suất và hiệu quả kỹthuật sản xuất chè của các hộ và đánh giá được ảnh hưởng của việc tăng chi phísản xuất chè tới hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ nông dân trên địa bàntỉnh Thái Nguyên Từ đó, đưa ra được các giải pháp làm giảm thiểu tác độngkhông tốt của việc tăng giá đầu vào tới sản xuất chè của các hộ nông hộ dân,khuyến cáo các hộ nông dân có những ứng xử phù hợp để sản xuất chè của các
hộ nông dân đạt hiệu quả kinh tế cao, có cơ sở khoa học
Đề tài giúp cho các hộ nông dân sản xuất chè có giải pháp để phát triểnkinh tế cây chè, nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng năng suất và hiệu quả kỹ thuậttrong sản xuất chè, giúp cho nhà quản lý địa phương có giải pháp phát triển kinh
tế xã hội và là tài liệu có giá trị cho những nhà nghiên cứu, những người giảngdạy và những người quan tâm đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài
5 Đóng góp của luận án
Luận án nghiên cứu, thảo luận vấn đề về ảnh hưởng của biến động tănggiá đầu vào đến hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ nông dân trên địa bàntỉnh Thái Nguyên, trên cơ sở đó có những đóng góp mới về mặt lý luận, thực tiễn,phương pháp nghiên cứu và giải pháp can thiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tếsản xuất chè của các hộ nông dân
Trang 5Về mặt lý luận, luận án đã hệ thống hoá lý thuyết về hiệu quả kinh tế củacác hộ nông dân sản xuất chè, phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế và ảnhhưởng của biến động giá đầu vào tới hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộnông dân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Về phương pháp nghiên cứu, luận án áp dụng thành công các mô hìnhtoán: Mô hình hàm sản xuất Cobb-Douglas để phân tích tác động của biến độngtăng các yếu tố giá tới hiệu quả kinh tế sản xuất chè của hộ, mô hình hàm giớihạn sản xuất (Frontier function) để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố đầu vàotới năng suất và hiệu quả kỹ thuật trong sản xuất chè của hộ, xác định được mứcđầu tư tối ưu trong sản xuất chè củao hộ để đạt lợi nhuận tối đa, mô hình hồi quygãy khúc để đánh giá tác động của sự gia tăng các yếu tố chi phí đến hiệu quảkinh tế sản xuất chè của hộ nông dân trên địa bàn Tỉnh Sử dụng các mô hình dựbáo để thấy được sự biến động giá các yếu tố đầu vào trong sản xuất chè của hộ
Về mặt thực tiễn, luận án đã đánh giá được thực trạng hiệu quả kinh tế sảnxuất chè của hộ trước và sau khi có biến động tăng giá đầu vào Phân tích đượcảnh hưởng của biến động tăng các yếu tố giá đầu vào, đầu ra tới hiệu quả kinh tếsản xuất chè của hộ Đánh giá được tác động của việc tăng chi phí trong sản xuấtchè tới hiệu quả kinh tế sản xuất chè của hộ Phân tích được ảnh hưởng của cácloại yếu tố đầu vào tới năng suất và hiệu quả kỹ thuật trong sản xuất chè của hộ
Luận án chỉ ra được việc tăng giá các yếu tố đầu vào gây cản trở tới việcnâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè cho các hộ nông dân, từ đó có các giảipháp nhằm hạn chế tác động không tốt của các yếu tố này, khuyến cáo các hộ cóứng xử phù hợp để nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè của hộ
6 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án được kết cấu gồm 04 chương: Chương 1: Cơ sở khoa học về ảnh hưởng của biến động tăng giá đầu vàođến hiệu quả kinh tế sản xuất chè của hộ nông dân
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Phân tích thực trạng ảnh hưởng của tăng giá đầu vào đến hiệuquả kinh tế sản xuất chè của các hộ nông dân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Trang 6Chương 4: Giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sảnxuất chè của các nông hộ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện tăng giáđầu vào
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỘNG TĂNG GIÁ ĐẦU VÀO TỚI HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT CHÈ CỦA CÁC HỘ NÔNG DÂN
1.1 Cơ sở lý luận về giá, biến động giá và hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè của hộ nông dân
1.1.1 Đặc điểm kỹ thuật và kinh tế của cây chè
1.1.1.1 Đặc điểm sinh vật học
Theo Willson, K.C (1992), Cây chè có tên khoa học là Cmaellia sinesis, làloài cây mà lá và chồi của chúng được sử dụng để sản xuất chè Chè là loại câyxanh lâu năm được mọc thành bụi hoặc các cây nhỏ, thông thường được xén tỉathấp hơn 2m khi được trồng để lấy lá Lá chè có chiều dài từ 4 - 15cm, lá non cómàu xanh lục nhạt, lá già có màu lục sẫm Các độ tuổi khác nhau của lá chè tạo racác sản phẩm chè khác nhau về chất lượng do thành phần hóa học trong các lánày là khác nhau Thông thường, chỉ có lá chồi và 2 đến 3 lá mọc gần thời gian
đó được thu hoạch để chế biến Việc thu hoạch thủ công bằng tay diễn ra đều đặnsau khoảng 1 đến 2 tuần
* Các thời kỳ sinh trưởng, phát triển của cây chè
Cây chè là cây lâu năm tính từ khi gieo trồng phải mất thời gian từ 3 đến 5năm kiến thiết cơ bản Sau thời kỳ kiến thiết cơ bản cây chè mới cho kinh doanh
(Lê Tất Khương, 1999) [25]
1.1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất chè
* Các nhân tố về điều kiện tự nhiên
- Đất đai và địa hình: Muốn chè có chất lượng cao và hương vị đặc biệt cầnphải trồng chè ở độ cao nhất định Đa số những nơi trồng chè trên thế giớithường có độ cao cách mặt nước biển từ 500-800m So với một số cây trồngkhác, cây chè yêu cầu về đất không nghiêm ngặt, nhưng để sinh trưởng tốt, có
Trang 7tiềm năng năng suất cao thì đất trồng chè phải đạt yêu cầu đất tốt, có nhiều mùn,
có độ sâu, chua và thoát nước
- Thời tiết, khí hậu: Cây chè sinh trưởng và phát triển tốt nhất trong điềukiện nhiệt độ từ 15 – 23 độ C Mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng, mùaxuân cây chè sinh trưởng trở lại Do cây chè là cây thu hoạch lấy núp non và lánon nên cây ưa ẩm, cần nhiều nước Cây chè yêu cầu độ ẩm cao trong suốt thời
kỳ sinh trưởng là khoảng 85 % Ở nước ta, các vùng trồng chè có điều kiện thíchhợp nhất cho cây chè phát triển cho năng suất và chất lượng cao vào các tháng 5,
6, 7, 8, 9 và 10
* Nhóm nhân tố về kỹ thuật
- Giống chè: Giống chè ảnh hưởng tới năng suất búp, chất lượng nguyênliệu do đó cũng ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm chè, đến hiệu quả kinhdoanh và cạnh tranh trên thị trường
- Kỹ thuật chăm sóc gồm tưới nước cho chè, đốn chè, bón phân Bón phânlà biện pháp kỹ thuật quan trọng nhằm tăng năng suất và chất lượng chè Nhiềucông trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước cho thấy hiệuquả của bón phân cho chè chiếm từ 50 – 60% Trong các loại phân bón cho chèthì đạm có vai trò hàng đầu, sau đó đến lân và kali Do vậy, khi giá phân bón tăngcao có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ
- Kỹ thuật thu hái và bảo quản: Nguyên liệu chè sau khi thu hái có thể đưathẳng vào chế biến, có thể để một thời gian nhưng không quá 10 giờ, do vậy khithu hái không để dập nát búp chè
- Kỹ thuật chế biến (Cao Ngọc Lân, 1992), [26]
1.1.1.3 Đặc điểm của thị trường tiêu thụ sản phẩm chè
- Tính ổn định và tính ít co dãn về mặt cung cầu: Trong thị trường tiêu thụchè, quan hệ cung cầu thay đổi chậm, độ co dãn của cung cầu thấp hơn các sảnphẩm khác Vì sản phẩm chè là đồ uống hàng ngày nhưng không phải là mặthàng thiết yếu như các loại lương thực, thực phẩm khác Khi có sự biến động vềgiá thì cung - cầu thay đổi chậm, không vì sản phẩm chè trên thị trường nhiều và
rẻ mà người tiêu dùng cần nhiều sản phẩm hơn Khối lượng sản phẩm chè đưa rathị trường tuy có thay đổi nhưng không thể có biến đổi lớn trong một thời gian
Trang 8nhất định Không phải vì có nhu cầu tiêu dùng lớn, giá cao mà người sản xuất cóthể cung ngay một khối lượng lớn cho thị trường do đặc điểm của sản xuất nôngnghiệp cần phải có thời gian sản xuất nhất định Do vậy, muốn ổn định và mởrộng thị trường tiêu thụ chè cần nghiên cứu được nhu cầu thị trường để đẩy mạnhsản xuất, tăng cung đáp ứng cầu một cách chủ động
- Thị trường tiêu thụ chè gắn với tính thời vụ: Do đặc điểm này mà ngườitrồng chè không chỉ phải đối phó với sự tác động của điều kiện tự nhiên mà cònphải đối phó với những vấn đề khách quan khác xuất phát từ thị trường Muốnhạn chế sự biến động của thị trường chè theo thời vụ người sản xuất cần cải tiếncông nghệ chế biến, bảo quản, dự trữ để điều hòa cung cầu Nhà nước cũng cần
có những chính sách hỗ trợ cho người trồng chè để có thể sản xuất chè vụ đôngnhư tưới nước cho chè vụ đông, chế biến sản phẩm vào những tháng chính vụ
- Thị trường tiêu thụ chè gắn liền với việc khai thác và sử dụng lợi thế sosánh các điều kiện tự nhiên và những điều kiện sản xuất khác: chè là cây trồngchỉ có thể sinh trưởng, phát triển và cho sản phẩm kinh tế trong những điều kiện
tự nhiên nhất định Chính vì vậy, thị trường chè hình thành nguồn cung theoluồng, tuyến hay khu vực và có thể phát sinh hiện tượng cạnh tranh không hoànhảo, trong khi đó bất kỳ người sản xuất nào cũng muốn đưa ra thị trường sảnphẩm chè mà mình có ưu thế nhất Điều này đòi hỏi người sản xuất phải biết tậndụng đất đai, thời tiết, khí hậu, lao động cũng như phải biết ứng dụng nhữngthành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất để nâng caonăng suất, hạ giá thành sản phẩm để tạo lợi thế trong cạnh tranh
1.1.2 Kinh tế hộ nông dân sản xuất chè
1.1.2.1 Khái niệm về hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân
Trong một số từ điển ngôn ngữ học cũng như một số từ điển chuyên ngànhkinh tế, người ta định nghĩa về “hộ” như sau: “Hộ” là tất cả những người sốngchung trong một ngôi nhà và nhóm người đó có cùng chung huyết tộc và ngườilàm công, người cùng ăn chung Thống kê Liên Hợp Quốc cũng có khái niệm về
“Hộ” gồm những người sống chung dưới một ngôi nhà, cùng ăn chung, làmchung và cùng có chung một ngân quỹ
Trang 9Giáo sư Mc Gê (1989) - Đại học tổng hợp Colombia (Canada) cho rằng:
“Hộ” là một nhóm người có cùng chung huyết tộc hoặc không cùng chung huyếttộc ở trong một mái nhà và ăn chung một mâm cơm
Nhóm “hệ thống thế giới” gồm các đại biểu Wallerstan (1982), Wood (1982), Smith (1985), Martin và BellHel (1987) cho rằng: “Hộ là một nhómngười có cùng chung sở hữu, chung quyền lợi trong cùng một hoàn cảnh Hộ làmột đơn vị kinh tế giống như các công ty, xí nghiệp khác”
Theo lý thuyết về hệ thống nông nghiệp (FAO, 1999), hộ nông dân là đơn
vị cơ bản cho các phân tích KTXH, là hệ thống sản xuất có cấu trúc phức hợp,quan hệ chặt chẽ với các hệ thống khác ở mức độ cao hơn
Hình 1.1 Hộ nông dân trong mối quan hệ với các hệ thống sản xuất
(Nguồn: FAO (1999), Guisdelines for Agrarian Systems Diagnosis, Rome)
Theo Frank Ellis (1993) “Hộ nông dân là hộ có phương tiện kiếm sống dựa trênruộng đất, chủ yếu sử dụng lao động gia đình vào sản xuất, luôn nằm trong hệthống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi sự tham gia từngphần vào thị trường với mức độ không hoàn hảo” Theo ông các đặc trưng củađơn vị kinh tế để phân biệt gia đình nông dân với những người làm kinh tế kháctrong một nền kinh tế thị trường là: Thứ nhất, đất đai: Người nông dân với ruộngđất chính là một yếu tố hơn hẳn các yếu tố sản xuất khác vì giá trị của nó; nó là
Trang 10nguồn đảm bảo lâu dài đời sống của gia đình nông dân trước những thiên tai Thứhai, lao động: Sự tín nhiệm đối với lao động của gia đình là một đặc tính kinh tếnổi bật của người nông dân Người “lao động gia đình” là cơ sở của các nông trại,là yếu tố phân biệt chúng với các xí nghiệp tư bản Thứ ba, tiền vốn và sự tiêudùng: Người ta cho rằng: “người nông dân làm công việc của gia đình chứ khôngphải làm công việc kinh doanh thuần túy” (Woly, 1966) nó khác với đặc điểm chủyếu của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm chủ vốn đầu tư vào tích lũy cũngnhư khái niệm hoàn vốn đầu tư dưới dạng lợi nhuận
Theo “Kinh tế hộ nông dân” của Đào Thế Tuấn (1995) thì Hộ nông dân làmột nhóm người cùng chung huyết tộc, sống chung hay không sống chung vớingười khác huyết tộc trong cùng mái nhà, ăn chung và có cùng chung ngân quỹ.Khái niệm này chưa hoàn toàn phản ánh chính xác về hộ nông dân Tuy nhiên,Ông cũng xác định hộ nông dân là những hộ làm nông nghiệp mà ở đó họ vừa làngười sản xuất, vừa là người tiêu thụ nông sản
Theo Nguyễn Văn Huân (1995) “Kinh tế hộ nông dân là một hình thức sảnxuất đặc biệt, tồn tại trong mọi chế độ xã hội Kinh tế hộ nông dân có những quyluật phát triển của nó, trong mọi chế độ nó luôn thích ứng với thực tế cuộc sống,
cơ chế kinh tế hiện hành”
Có nhiều quan niệm khác nhau về hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân,
qua tham khảo các tài liệu luận án đưa ra khái niệm về hộ và kinh tế hộ Hộ nông
dân là hộ gia đình được xem như một đơn vị kinh tế có đất đai, tư liệu sản xuất,
vốn sản xuất thuộc sở hữu của hộ gia đình, sử dụng chủ yếu sức lao động của giađình để sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp Các thành viên trong hộ đều hưởngphần thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý kiến chung của các thành viên là
người lớn trong hộ gia đình Kinh tế hộ nông dân là loại hình kinh tế trong đó các
hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào lao động gia đình và mục đích của loạt hìnhkinh tế này trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình (không phải mụcđích chính là sản xuất hàng hoá để bán) Tuy nhiên cũng cần có sự chú ý ở đây làcác hộ gia đình cũng có thể sản xuất để trao đổi nhưng ở mức độ hạn chế
1.1.2.2 Đặc điểm kinh tế hộ nông dân và hộ nông dân sản xuất chè
Kinh tế hộ nông dân tồn tại ở các xã hội khác nhau, ở các giai đoạn khácnhau có sự khác nhau về hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, quy mô sản xuất và
Trang 11hiệu quả sản xuất Tuy nhiên, trải qua nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhaunhưng tựu trung lại, kinh tế hộ nông dân mang một số đặc điểm cơ bản sau:
- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn
lý và lao động trực tiếp rất cao
- Hộ nông dân có khả năng đa dạng hóa các hoạt động kinh tế của hộ, do đóhọ có thể giảm thiểu bớt rủi ro
- Hộ nông dân là đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ nhưng hiệu quả, có khả
năng thích nghi và sự điều chỉnh rất cao (Chu Văn Vũ, 1995) [58]
Hộ nông dân sản xuất chè ở Thái Nguyên ngoài mang những đặc điểm
chung của hộ nông dân nêu trên còn mang một số đặc điểm:
- Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún
- Tiềm lực, nguồn lực (như vốn, lao động…) để sản xuất yếu nên các hộnông dân sản xuất chè không dự trữ được các vật tư, yếu tố đầu vào cho sản xuấtchè Do đó, khi có biến động tăng giá đầu vào các hộ chịu sự tác động lớn
- Trình độ dân trí thấp, vì thế cho dù có đủ nguồn lực để đầu tư cho sản xuấtchè thì hộ nông dân cũng không đủ kiến thức để tính đoán được mức dự trữ tối
ưu
- Hộ nông dân sản xuất chè ở vùng cao của Thái Nguyên có địa hình đồi núiphức tạp, sản xuất của các hộ chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện tự nhiên, nhất làvào mùa mưa
Trang 12- Điều kiện sản xuất của hộ nông dân vùng cao còn nghèo nàn, giao thông
đi lại khó khăn, khả năng tiếp cận thị trường kém, nguồn thông tin bị hạn chế dấnđến kinh tế chậm phát triển
Để hộ nông dân trồng chè ở Thái Nguyên phát triển được thì ngoài sự cốgắng của bản than người dân, họ cần có sự quan tâm, hỗ trợ của nhà nước, củacác ban ngành, cộng đồng để có những định hướng và các giải pháp cho từngvùng cụ thể
1.1.2.3 Các nguồn lực của hộ nông dân
Trong hộ nông dân, các nguồn lực chủ yếu của hộ là đất đai, lao động và
vốn cho sản xuất Đất đai của hộ nông dân bao gồm: đất được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, đất thuê (theo vụ hay lâu dài), đất khoán, thầu bênngoài Việc sử dụng đất đai của hộ nông dân phụ thuộc vào độ phì, quy mô diệntích và vị trí thửa ruộng Mặt khác, việc sử dụng đất đai của hộ nông dân còn phụthuộc vào chính sách đất đai của Nhà nước, địa phương Đặc trưng nổi bật của hộnông dân nước ta hiện nay là quy mô diện tích đất canh tác rất nhỏ bé, biểu hiện
rõ nét một nền kinh tế tiểu nông Quy mô đất đai của một hộ nông dân ở các tỉnhđồng bằng sông Hồng rất nhỏ và manh mún, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Longvà một số tỉnh miền núi và Tây Nguyên có diện tích lớn hơn nhưng so với các
nước trong khu vực vẫn thuộc loại nhỏ bé (Nguyễn Văn Huân, 1995) [21] Điều
này ảnh hưởng rất lớn tới việc phát triển nền nông nghiệp hàng hóa có tính cạnhtranh cao trong nền kinh tế thị trường hiện nay Quy mô diện tích đất đai của hộ
có ảnh hưởng tới ứng dụng các kỹ thuật tiến bộ của KHCN, các hộ có quy mônhỏ ngại thay đổi công nghệ, các hộ có diện tích lớn thì hiệu quả kinh tế cao hơn
hộ có diện tích nhỏ Vì thế, để khuyến khích các hộ nông dân trồng chè ứng dụngcác tiến bộ kỹ thuật thì việc dồn điền đổi thửa cũng là một yêu cầu đặt ra
Một nguồn lực rất quan trọng khác của hộ nông dân đó là nguồn lao động
trong gia đình Nguồn lao động này gồm lao động chính và lao động quy của hộ.Trong sản xuất nông nghiệp, các hộ chủ yếu dựa vào nguồn lao động này vàthường được sử dụng linh hoạt theo nhiều chiều một cách hiệu quả Đây là sựkhác biệt cơ bản giữa lao động hộ nông dân và các thành phần kinh tế khác Sứclao động trong hộ nông dân có đặc trưng là họ không được coi là hàng hóa Laođộng này chủ yếu được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất và sự nghỉ ngơi
Trang 13của gia đình họ Ở những gia đình có tỷ lệ số lao động trên số nhân khẩu thấp thìthời gian nghỉ giảm đi hay nói cách khác là họ phải làm việc vất vả hơn và ngượclại Lao động trong hộ nông dân ở Việt Nam hiện nay có một số đặc điểm: đadạng nhưng ít chuyên sâu, mang tính thời vụ; dư thừa nên việc tìm kiếm việc làmtrong nông thôn gặp nhiều khó khăn mà thu nhập lại thấp; trình độ học vấn và kỹnăng của người lao động thấp, ít được đào tạo, chủ yếu là tự đào tạo và truyềnnghề, tôn sùng kinh nghiệm Điều này hạn chế đến việc tiếp thu kỹ thuật và côngnghệ mới, nhất là ứng dụng các tiến bộ trong sản xuất của các hộ trồng chè trênđịa bàn tỉnh Thái Nguyên Thực tế hiện nay ở các vùng nông thôn cho thấy, hầuhết các lao động trẻ khỏe, có học vấn đều dời các làng quê thuần nông lên cácthành phố tìm kiếm cơ hội việc làm, tăng thu nhập cho hộ Mặc dù vậy, một hệlụy đang diễn ra trong vùng là lao động còn lại cho sản xuất nông nghiệp nóichung và sản xuất của các hộ trồng chè nói riêng chủ yếu lại là lao động nữ Việc
sử dụng nhiều lao động nữ trong sản xuất nông nghiệp phần nào có ảnh hưởng tớikhả năng áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Để sử dụng và nâng caonguồn nhân lực trong hộ nông dân cần đẩy mạnh đào tạo kỹ năng lao động thôngqua các hoạt động khuyến nông Xét về lâu dài, việc đầu tư cho giáo dục và côngtác khuyến nông là những phương tiện hữu hiệu nhằm nâng cao năng lực chonguồn lao động này, góp phần nâng cao năng suất lao động, nâng cao hiệu quảsản xuất và cải thiện thu nhập cho hộ nông dân
Nguồn vốn cho sản xuất là nguồn lực không thể thiếu của hộ Nguồn vốn
trong hộ nông dân bao gồm tiền và hiện vật mà hộ có hoặc đi vay để phục vụ sảnxuất Ở nước ta, do quy mô sản xuất của hộ nông dân nhỏ, lẻ, năng suất lao độngthấp nên khả năng tích tụ vốn của đại đa số hộ nông dân còn rất thấp Theo sốliệu tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn của Tổng cục thống kê (2012), vốn tíchlũy của các hộ nông nghiệp nước ta năm 20012 ở mức thấp, trung bình khoảng6,8 trđ/hộ, trong khi vốn tích lũy của các loại hộ khác cao hơn (hộ vận tải là 16,8trđ/hộ, hộ thương mại là 14,21 trđ/hộ và hộ thủy sản là 11,3 trđ/hộ)
Sản xuất của các hộ nông dân trồng chè cũng cần đầu tư thâm canh, dovậy cần nguồn vốn lớn hơn, đặc biệt là phân đạm, NPK, tưới tiêu Với nguồn vốnrất hạn chế như trên để đảm bảo cho các hộ nông dân sản xuất chè đạt hiệu quảkinh tế cao cần có sự đầu tư giúp đỡ tiền mua phân bón, tưới tiêu thông qua hìnhthức cho vay, hỗ trợ lãi suất vv
Trang 141.1.3 Hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè của hộ nông dân
1.1.3.1 Một số vấn đề vơ bản về hiệu quả kinh tế
* Khái niệm về hiệu quả kinh tế
Xuất phát từ các góc độ xem xét, các nhà kinh tế đã đưa ra nhiều quan
điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế Theo Kar Marx, hiệu quả là việc “tiết kiệm
và phân phối một các hợp lý thời gian lao động sống và lao động vật hóa giữa các ngành” và hiệu quả cũng là quy luật “tiết kiệm và tăng năng suất lao động”
Kar Marx cũng cho rằng “nâng cao năng suất lao động vượt quá nhu cầu cá
nhân của người lao động là sơ sở tiết kiệm của hết thảy mọi xã hội” (K.Marx, 1962) [24]
Theo David Begg (1992) [8], “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không
thể tăng sản lượng một loại hàng hóa này mà không cắt giảm một loại hàng hóa khác” và Ông còn khẳng định “Hiệu quả nghĩa là không lãng phí” Các quan
điểm này đúng trong nền kinh tế thị trường ở các nước phát triển nhưng khó xácđịnh vì chưa đề cập đến chi phí để tạo ra sản phẩm, nhất là ở các nước đang pháttriển hay chậm phát triển
Theo Nguyễn Như Ý (1999) [60] “Hiệu quả được hiểu như một hiệu số
giữa kết quả với chi phí, tuy nhiên trong thực tế đã có trường hợp không thực hiện được phép trừ hoặc phép trừ không có ý nghĩa”
Các nhà kinh tế học thị trường như Samuelson, Nordhaus (2002) [29] cho
rằng “Hiệu quả là một tình trạng mà trong đó các nguồn lực của xã hội được sử
dụng hết để mang lại sự thỏa mãn tối đa cho người tiêu dùng” và “Hiệu quả kinh
tế xảy ra khi không thể tăng thêm mức độ thỏa mãn của người này mà không làm phương hại cho người khác”
Theo Phạm Ngọc Kiểm (2009) [23] “Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một
phạm trù kinh tế, biểu hiện sự phát triển kinh tế theo chiều sâu Nó phản ánh trình
độ khai thác các nguồn lực và trình độ tiết kiệm chi phí các nguồn lực đó trongquá trình tái sản xuất nhằm thực hiện các mục tiêu kinh doanh” Quan điểm này
ưu việt hơn trong đánh giá hiệu quả đầu tư theo chiều sâu, hoặc hiệu quả của việcứng dụng các tiến bộ kỹ thuật
Trang 15Hiện nay, theo quan điểm mới, hiệu quả kinh tế (EE) gồm hai bộ phận là
hiệu quả kỹ thuật (TE) và hiệu quả phân bổ (AE) Theo Colman và Young (1990)
[64], hiệu quả kỹ thuật được định nghĩa là khả năng của người sản xuất có thể sảnxuất mức đầu ra tối đa với một tập hợp các đầu vào và công nghệ cho trước Cầnphân biệt hiệu quả kỹ thuật với thay đổi công nghệ Sự thay đổi công nghệ làmdịch chuyển hàm sản xuất (dịch chuyển lên trên) hay dịch chuyển đường đồnglượng xuống phía dưới Hiệu quả kỹ thuật được đo bằng số lượng sản phẩm cóthể đạt được trên chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong điềukiện cụ thể áp dụng kỹ thuật hay công nghệ Hiệu quả kỹ thuật thường được phảnánh và biểu hiện trong mối quan hệ giữa các yếu tố trong hàm sản xuất và liênquan đến phương diện sản xuất vật chất Nó phản ánh mối quan hệ giữa yếu tốđầu vào và yếu tố đầu ra, giữa các yếu tố đầu ra với nhau và giữa các sản phẩmkhi nhà sản xuất quyết định sản xuất Vì thế, nó được áp dụng phổ biến trongkinh tế vi mô để xem xét tình hình sử dụng các yếu tố đầu vào cụ thể Chỉ tiêunày cho biết một đơn vị chi phí nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêuđơn vị sản phẩm
Hiệu quả phân bổ là thước đo phản ánh mức độ thành công của người sảnxuất trong việc lựa chọn tổ hợp các đầu vào tối ưu, nghĩa là tỷ số giữa sản phẩmbiên của yếu tố đầu vào nào đó sẽ bằng tỷ số giá cả giữa chúng Hiệu quả phân bổlà hiệu quả do giá các yếu tố đầu vào và đầu ra được tính để phản ánh giá trị sảnphẩm thu thêm trên một đồng chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực Thực chất,hiệu quả phân bổ là hiệu quả kỹ thuật có tính đến yếu tố giá của đầu vào và giácủa đầu ra Việc xác định hiệu quả phân bổ giống như xác định các điều kiện về
lý thuyết để tối đa hóa lợi nhuận Cũng theo Colman và Young (1990) [64], hiệu
quả kinh tế được tính bằng tích của hiệu quả kỹ thuật và hiệu quản phân bổ
Theo Begg và CVT (1992) [8] Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà
trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩalà cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng cácnguồn lực trong nông nghiệp Nếu đạt một trong hai chỉ tiêu hiệu quả nói trên(hoặc là hiệu quả kỹ thuật, hoặc là hiệu quả phân bổ) mới là điều kiện cần, chưaphải là điều kiện đủ để đạt hiệu quả kinh tế Vì thế, chỉ khi nào sử dụng nguồnlực đạt cả hai chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó sản xuấtmới đạt hiệu quả kinh tế Trong sản xuất chè, khi xét đến hiệu quả kinh tế cần chú
Trang 16ý hiệu quả kinh tế tuân theo quy luật năng suất cận biên giảm dần, nghĩa là sựphản ứng của năng suất cây chè với mức đầu tư sẽ bị giảm dần kể từ một thờiđiểm nào đó, điểm đó gọi là điểm tối ưu sinh học
Như vậy, có rất nhiều quan điểm về hiệu quả kinh tế, tuy nhiên trong đề tài
này chúng tôi đã tham khảo một số tài liệu và tổng hợp thành khái niệm: Hiệu
quả kinh tế sản xuất chè của hộ nông dân là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của quá trình sản xuất chè được xác định bằng cách so sánh kết quả đầu ra của sản xuất chè với các chi phí đầu vào sản xuất chè
* Nội dung và bản chất hiệu quả kinh tế sản xuất chè của hộ nông dân Nội dung của hiệu quả: Hiệu quả kinh tế là quan hệ so sánh giữa kết quả
thu được với toàn bộ chi phí các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất (đất đai,vốn, lao động, kỹ thuật, quản lý ) Kết quả và hiệu quả kinh tế là hai phạm trùkinh tế khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với nhau Kết quả thể hiện quy mô,khối lượng của một sản phẩm cụ thể và được thể hiện bằng nhiều chỉ tiêu, tùythuộc vào từng trường hợp Hiệu quả là đại lượng để đánh giá kết quả đó đượctạo ra như thế nào, mức chi phí cho một đơn vị kết quả đó có chấp nhận đượckhông
Hiệu quả luôn gắn liền với kết quả của từng hoạt động cụ thể Trong sảnxuất một sản phẩm cụ thể luôn có mối quan hệ sử dụng yếu tố đầu vào và kết quảđầu ra Từ đó, chúng ta xác định được hao phí để sản xuất một đơn vị sản phẩmlà bao nhiêu? Mức chi phí như vậy có hiệu quả không? Tuy nhiên, hiệu quả vàkết quả phụ thuộc vào từng ngành, từng hoạt động ở điều kiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội, môi trường (Phạm Ngọc Kiểm, 2009) [23]
Hiệu quả kinh tế khi tính toán gắn liền với việc lượng hóa các yếu tố đầuvào (chi phí) và các yếu tố đầu ra (sản phẩm) Việc lượng hóa hết và cụ thể cácyếu tố này để tính toán hiệu quả thường gặp khó khăn nhất là trong sản xuất nôngnghiệp Chẳng hạn, đối với các yếu tố đầu vào như tài sản cố định (đất nôngnghiệp, vườn cấy lâu năm…) được sử dụng cho nhiều chu kỳ sản xuất, trongnhiều năm nhưng không đồng đều Mặt khác, giá trị hao mòn khó xác định chínhxác nên việc tính khấu hao TSCĐ và phân bổ chi phí để tính hiệu quả chỉ có tínhchất tương đối Một số chi phí chung như chi phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng,chi phí thông tin, khuyến cáo khoa học kỹ thuật cần thiết phải hạch toán vào chi
Trang 17phí, nhưng trên thực tế khó có thể tính toán cụ thể và chính xác những chi phínày Sự biến động của giá cả và mức độ trượt giá trên thị trường gây khó khăncho việc xác định chính xác các loại chi phí sản xuất chè Điều kiện tự nhiên cóảnh hưởng thuận lợi và gây khó khăn cho sản xuất, nhưng mức độ tác động là baonhiêu đến nay vẫn chưa có phương pháp nào xác định chuẩn xác nên cũng ảnhhưởng tới việc tính đúng, tính đủ các yếu tố đầu vào Đối với các yếu tố đầu ra,chỉ lượng hóa được kết quả thể hiện bằng vật chất, còn kết quả thể hiện dướidạng phi vật chất như tạo công ăn việc làm, tăng khả năng cạnh tranh trên thịtrường, tái sản xuất, bảo vệ môi trường thường không thể lượng hóa đượcngay Vì vậy, việc xác định đúng, đủ lượng kết quả này cũng gặp khó khăn
Bản chất của hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè:
Bản chất của nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè là nâng caonăng suất chè và tiết kiệm chi phí sản xuất chè trên một đơn vị sản phẩm đượcsản xuất ra Hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè cũng bao gồm hiệu quả kỹ thuậtvà hiệu quả phân bổ Hiệu quả kỹ thuật trong sản xuất chè chính là hiệu quả củangười nông dân bằng kinh nghiệm và kiến thức của mình sử dụng một lượng đầuvào thích hợp (phân bón, thuốc bảo vệ thực vật…) để sản xuất ra một khối lượngchè lớn hơn trên cùng một đơn vị diện tích, trong cùng một khoảng thời gian của
vụ của năm Hiệu quả kỹ thuật trong sản xuất chè của nông hộ là mức giảm lượngđầu tư cho một đơn vị sản phẩm sản xuất ra Sản xuất chè đạt hiệu quả phân bổkhi giảm được chi phí trên một đơn vị sản phẩm hoặc tăng giá bán trên một đơn
vị sản phẩm đầu ra
1.1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế sản xuất chè của hộ nông dân
- Nhóm yếu tố về kỹ thuật trong sản xuất chè
Giống: Giống có ảnh hưởng tới năng suất cũng như chất lượng của chè
thành phẩm Vì vậy, đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè cần quan tâmđến nguồn gốc giống và chất lượng loại giống mà hộ nông dân sử dụng Hiệnnay, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, giống chè mà các hộ nông dân sử dụng vẫn làgiống chè Trung du (năm 2010 chiếm 65,43% diện tích trồng chè của cả tỉnh).Các giống chè mới nhập nội và các giống chè trong nước chọn lai tạo có năngsuất là chất lượng cao vẫn còn chiếm tỷ lệ hạn chế (năm 2010 chiếm 34,57 %)
Trang 18Phân bón: Phân bón liên quan đến yếu tố đầu vào, việc biến động tăng giá
đầu vào phân bón trong giai đoạn hiện nay ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh
tế của sản xuất chè Do đó, khi đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè của
hộ cần chú ý tới lượng phân bón mà các hộ sử dụng
Biện pháp canh tác: Sản xuất chè không chỉ có đầu tư phân bón mà cần
phải áp dụng các biện pháp quản lý canh tác tổng hợp, bao gồm quản lý dinhdưỡng (phân bón: sử dụng phân bón cân đối, áp dụng biện pháp canh tác hữu cơ,hạn chế sử dụng phân bón vô cơ, hóa chất trừ sâu), nước (tưới tiết kiệm), áp dụngquản lý phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM), áp dụng quy trình thực hành sản xuấtnông nghiệp tốt GAP Khi nghiên cứu, đánh giá cần tìm hiểu biện pháp canh tácmà các hộ áp dụng so với biện pháp canh tác đã được khuyến cáo, từ đó xây dựngcác giải pháp nâng cao hiệu quả kỹ thuật, đồng thời nâng cao hiệu quả kinh tế của
các hộ nông dân trồng chè
- Nhóm yếu tố điều kiện kinh tế và tổ chức sản xuất
Quy mô sản xuất: Các hộ nông dân có diện tích đất canh tác, diện tích
trồng chè khác nhau, diện tích chuyển đổi các giống chè mới khác nhau, khả năngđầu tư thâm canh cũng khác nhau Diện tích của hộ càng lớn thì các công việcnhư tổ chức chăm sóc, thu hoạch, chi phí cũng tiết kiệm hơn
Trình độ của chủ hộ: Trình độ văn hóa, am hiểu khoa học kỹ thuật, tổ chức
quản lý và sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật của lao động trong hộ nông dân có ýnghĩa quan trọng trong việc nâng cao năng suất, chất lượng chè Vì vậy, tập huấn
kỹ thuật cho nông dân áp dụng kỹ thuật tiến bộ là rất cần thiết Mỗi một nông dân
có khả năng tiếp thu ở mức độ nhất định, do vậy năng suất cây trồng nói chungvà chè nói riêng luôn có sự khác biệt giữa các hộ
Môi trường chính sách: Mỗi địa phương thường có những chính sách hỗ
trợ khác nhau cho sản xuất chè, điều này có ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất chègiữa các địa phương Hệ thống khuyến nông có một vai trò rất quan trọng trongviệc thúc đẩy việc áp dụng nhanh tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất của nông hộ Tuynhiên, hoạt động của hệ thống khuyến nông trong sản xuất chè còn những điềubất cập như nặng về phong trào, chưa chú trọng đến việc xây dựng các mô hìnhphát triển bền vững Ngoài ra, sự quan tâm của các HTX, các tổ chức chính trị xã
Trang 19hội (hội nông dân, hội phụ nữ), các ban, ngành có ảnh hưởng rất lớn đến kếtquả cũng như hiệu quả sản xuất chè của các hộ nông dân
Các nhân tố khác như: Trình độ chuyên môn hóa, tập trung hóa sản xuấtchè của vùng, cơ sở hạ tầng, vốn sản xuất, hợp tác trong sản xuất và các hìnhthức tổ chức sản xuất chè
- Nhóm yếu tố xã hội
Tập quán canh tác: Mỗi vùng có tập quán canh tác khác nhau, vùng thì sử
dụng trồng bằng chè cành, vùng thì trồng chè bằng hạt, tập quán sử dụng phânđạm, tưới tiêu cũng khác nhau, điều đó ảnh hưởng tới hiệu quả kỹ thuật trongsản xuất chè của nông hộ
Dân tộc, giới tính: Trên thực tế, mỗi dân tộc, giới tính có khả năng ứng
dụng các kỹ thuật tiến bộ khác nhau dẫn đến kết quả sản xuất cũng khác nhau
Thương nhân, tổ hợp tác đây là yếu tố ảnh hưởng tới việc tiêu thụ và giá tiêu
thụ của sản phẩm chè, nó ảnh hưởng tới hiệu quả phân bổ trong sản xuất chè củanông hộ
- Nhóm các yếu tố về giá
+ Giá các yếu tố đầu vào:
Giá của giống Để để có diện tích chè cho thu hoạch thì thời gian kiến
thiết cơ bản mất nhiều năm (3 đến 5 năm) Thực tế hiện nay giống chè được trồngchủ yếu trên địa bàn nghiên cứu là giống chè Trung du cho năng suất, chất lượngchè không cao, muốn chuyển đổi sang các giống chè mới cho năng suất, chấtlượng cao thì mất nhiều thời gian Trong khoảng thời gian chuyển đổi đó các hộnông dân không có nguồn thu Đây là hạn chế lớn cho việc mở rộng diện tíchgiống chè mới của địa phương, nó làm giảm tốc độ thay thế giống chè cũ Mỗiloại giống cũng có yêu cầu về kỹ thuật và đầu tư chi phí riêng, vì vậy đòi hỏi khiđánh giá hiệu quả kinh tế nên xem xét nguồn gốc của từng loại chè
Giá vật tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật Nhu cầu bón phân cho chè
cao, đặc biệt là phân đạm, NPK Giá phân bón tăng cao trong những năm gầnđây, nhất là giá đạm và kali đã ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng và mức độđầu tư của các hộ trồng chè Vì thế, trong đánh giá hiệu quả kinh tế của sản xuấtchè đặc biệt chú ý đến hiệu quả của việc đầu tư phân bón cho sản xuất chè của
Trang 20nông hộ Ngoài ra, cũng cần quan tâm đến hiệu quả sử dụng thuốc BVTV trongsản xuất chè của nông hộ vì nó liên quan đến hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân
bổ trong trồng chè
Giá công lao động Công lao động cho sản xuất chè chủ yếu là lao động
gia đình với kỹ thuật thủ công, đa năng và không được trả công Thực tế sản xuấtchè, cứ đến thời vụ các hộ thiếu công lao động thì thực hiện đổi công từ anh, em,hàng xóm hoặc thuê bên ngoài Vì vậy, khi tính giá công lao động thường xácđịnh theo giá công lao động phổ thông tại thời điểm trên thị trường
Giá dịch vụ Giá dịch vụ bao gồm dịch vụ làm đất, tưới tiêu, dịch vụ
BVTV…
+ Giá bán chè búp tươi, chè khô Giá bán chè búp tươi, chè búp khô phụ
thuộc vào chất lượng, cung cầu của thị trường và mùa vụ Do vậy, khi nghiên cứuhiệu quả kinh tế trong sản xuất chè cần xem xét giá chè theo giống và theo các vụsản xuất
1.1.3.3 Nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè cho các nông hộ nông dân
Biến động giá nói chung và biến động giá nông nghiệp nói riêng là hiệntượng bình thường của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường Tuy nhiên, sựbiến động của giá lớn sẽ gây ảnh hưởng lớn đến cả người sản xuất lẫn người tiêudùng Đối với các hộ nông dân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, biến động giá đầuvào ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm chè, khả năng cạnh tranh của sản phẩmchè và ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, hiệu quả kinh tế sản xuất chè và cácquyết định sản xuất chè của hộ
Biến động giá đầu vào lớn sẽ làm giảm mức đầu tư cho sản xuất, vì thếlàm giảm sản lượng đầu ra, do các nông hộ không dự báo được lợi nhuận đầu tưcủa mình và họ lo sợ rủi ro trong đầu tư Biến động giá vật tư đầu vào diễn ra liêntục trong vài năm trở lại đây đã có những ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quảkinh tế sản xuất chè của các hộ nông dân Trong những năm gần đây, thời kỳ biếnđộng giá mạnh đã ảnh hưởng rất lớn đến phản ứng của nông hộ trong sản xuất.Khi giá đầu vào tăng cao, một số bộ phận nông dân không thiết tha với việc đầu
tư trên diện tích trồng chè của mình, họ cắt giảm mức đầu tư, đi làm thuê cho bênngoài Một số khác lại tìm cách thay đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi Chính
vì thế, việc tìm ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè cho
Trang 21các nông hộ trong điều kiện biến động giá đầu vào có ý nghĩa thiết thực trongviệc ổn định sản xuất cho nông hộ, nâng cao thu nhập, tạo việc làm ổn định cholao động nông thôn
Để nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất các hộ nông dân cần quân tâmvà điều chỉnh theo các hướng: một là, mở rộng quy mô sản xuất nhằm tăng kếtquả thu được, tuy nhiên tốc độ tăng của kết quả đầu ra phải lớn hơn tốc độ tăngcủa các chi phí đầu vào Hai là, tăng kết quả thu được với chi phí đầu vào khôngđổi Ba là, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các chi phí đầu vào cho sản xuất nhằmgiảm chi phí bỏ ra trong khi kết quả thu được không đổi
1.1.4 Giá và biến động giá trong sản xuất chè
1.1.4.1 Khái niệm về giá và các loại giá trong sản xuất chè
Giá trong sản xuất chè bao gồm: Giá sản phẩm đầu vào và Giá các sảnphẩm đầu ra Trong tiếng Việt “giá” được một số từ điển kinh tế sử dụng bao gồm
cả 2 nghĩa: Chi phí (the cost) và Giá cả (the price) Theo nghĩa chi phí, giá là các
khoản chi thường xuyên phải trả bằng hiện vật hoặc tiền mặt trong suốt quá trình
sản xuất chè (vật tư, giống, phân bón, vận chuyển ) Còn giá cả là biểu hiện
bằng tiền của giá trị sản phẩm được hiểu là giá trị đo bằng tiền các vật tư, dịch vụcủa các nhân tố đầu vào của sản xuất chè
Như vậy, khái niệm chi phí gắn chặt với quá trình hoạt động sản xuất, giá
cả dùng để đo giá trị của một sản phẩm, một dịch vụ hàng hoá cụ thể Trongnghiên cứu này, khái niệm chi phí gắn với quá trình sản xuất chè, còn giá cả đogiá trị của sản phẩm chè
Theo các học thuyết kinh tế, giá cả luôn biến động quanh giá trị trungbình, bao gồm giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá Vì thế một sản phẩm, haydịch vụ sẽ được gắn với giá nhất định khi sản phẩm và dịch vụ đó trở hành hànghoá Trong quá trình lưu thông hàng hóa, giá sẽ thay đổi ở từng công đoạn lưuthông, từng thị trường khác nhau Giá luôn biến động và nguyên nhân của sự biếnđộng giá trên thị trường rất phức tạp và khó xác định
Đối với chi phí và giá, tuy khác nhau về khái niệm, nhưng chúng có mốiquan hệ hữu cơ với nhau Khi giá của các yếu tố tham gia quá trình sản xuất (giáđầu vào) thay đổi sẽ làm cho chi phí sản xuất hay chi phí cung cấp một dịch vụ
Trang 22(giá đầu ra) cũng biến đổi theo (do giá thành thay đổi) Nếu sản phẩm đầu ra làsản phẩm cuối cùng phục vụ tiêu dùng thì việc tăng giá sẽ ảnh hưởng tới thu nhậpcủa người tiêu dùng Khi chi phí tái sản xuất sức lao động trở nên đắt đỏ hơn thìbản thân giá của hàng hóa sức lao động cũng sẽ thay đổi Còn nếu sản phẩm sảnxuất ra lại là yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất khác, viêc tăng giá ở quá trìnhsản xuất trước kéo theo sự tăng giá ở quá trình tiếp theo Như vậy, tác động tănggiá là tác động lan toả, kéo theo và phức tạp Rất ít có sự biến động giá đơn lẻ đốivới một mặt hàng hay dịch vụ này mà không ảnh hưởng đến giá cả các mặt hàngkhác Vì vậy, cần nghiên cứu mối quan hệ giữa biến động giá và sự thay đổi kếtquả kinh tế của một số hoạt động sản xuất nông nghiệp và thu nhập của ngườinông dân
Trong sản xuất chè, khi giá các yếu tố đầu vào tăng lên sẽ làm cho chi phísản xuất chè tăng lên, giá bán sản phẩm chè cũng tăng theo Tuy nhiên, tốc độtăng của giá trị kết quả sản phẩm chè đầu ra và chi phí các yếu tố đầu vào sảnxuất chè khác nhau Tốc độ tăng của kết quả đầu ra có thể bằng, hoặc lớn hơn,hoặc thấp hơn tốc độ tăng của chi phí đầu vào, hiệu quả sản xuất chè của hộ vìthế cũng thay đổi khác nhau Vì vậy, cần xem xét sự ảnh hưởng của biến động giácác yếu tố đầu vào tới kết quả và hiệu quả sản xuất chè của hộ nông dân
Có nhiều loại giá được sử dụng trên thị trường tùy thuộc vào mục đích vàquan hệ trao đổi Trong nghiên cứu này với mục đích xem xét ảnh hưởng củabiến động tăng giá đầu vào đến hiệu quả sản xuất chè của các hộ nông dân chúngtôi đề cập đến các loại giá sau:
(1) Giá đầu vào sản xuất chè: Gồm giá của giống chè, giá vật tư, giá dịch
vụ và giá thuê lao động (lao động phải thuê)
(a) Giá vật tư bao gồm phân bón (chủ yếu là phân vô cơ như đạm, lân,kali), thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc kích thích và các loại phân khác… (b)Giá dịch vụ bao gồm dịch vụ làm đất, tưới tiêu, dịch vụ BVTV … (c) Giá cônglao động chỉ tính giá công gia đình phải thuê thêm
Đối với giá cả vật tư phân bón đầu vào, nhiều nhà nghiên cứu có chung ýkiến rằng: nếu giá vật tư phân bón đầu vào biến động tăng sẽ làm tăng chi phí sảnxuất và có thể dẫn đến việc nông dân hoặc sẽ hạn chế đầu tư thâm canh, hoặc sẽ
Trang 23chuyển đổi hệ thống sản xuất lựa chọn những cây trồng khác, ít phải đầu tư hơnnhằm giảm sức ép về vốn Hệ quả là năng suất chè có thể giảm xuống và thu
nhập của người nông dân cũng bị giảm theo (F Ellis, 1995) [16] Cơ cấu sản
lượng cung cấp ra thị trường vì thế có thể bị thay đổi
Tuy nhiên, do đặc thù của sản xuất nông nghiệp là mang tính mùa vụ nên
sự tác động của giá có những điểm đặc thù Người ta nói nhiều đến “tính trễ” của
sự thay đổi về sản lượng nông nghiệp khi có sự thay đổi về giá Mỗi khi có sựbiến động giá (ví dụ giá tăng), do tính mùa vụ trong nông nghiệp nên phải đợiđến vụ tiếp sau nông dân mới tăng diện tích gieo trồng lên được Và như vậy phảiđợi thêm một chu kỳ sản xuất nữa sản lượng nông nghiệp mới tăng, khi đó giá lạibắt đầu giảm xuống Tương tự như vậy phải mất một chu kỳ sản xuất tiếp theokhi nông dân không đầu tư sản xuất nữa thì sản lượng mới giảm xuống và giá lúc
đó lại tăng lên
(2) Giá đầu ra của sản xuất chè là giá bán sản phẩm chè (giá chè búp tươi
và giá chè búp khô)
Giá cả đầu ra ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất, thu nhập và hiệu quảcủa người sản xuất chè Một số tác giả cho rằng giá sản phẩm chè cao không chỉlàm tăng thu nhập cho người sản xuất chè mà còn góp phần điều chỉnh thu nhậpgiữa các khu vực nông thôn và thành thị Nói cách khác là giá cao góp phầnchuyển một phần thu nhập từ thành phố, nơi đa phần là người tiêu dùng sản phẩmchè về nông thôn Tuy nhiên một số người khác lại cho rằng vấn đề không đơngiản như vậy Sự phân bổ này ngoài sự phụ thuộc vào cơ cấu sản lượng tự tiêucủa chính nông hộ, còn phụ thuộc vào tỷ lệ người dân không có đất ở nông thônlà nhiều hay ít Những người dân nông thôn không có đất canh tác phải mua giá
nông sản cao sẽ làm gia tăng tỷ lệ nghèo ở nông thôn (F.Ellis, 1995) [16]
Tương tự, theo Nakajima, 1986 sự tăng giá đầu ra có thể dẫn đến tăng thu nhậpcho các nông hộ Nhưng do thu nhập tăng có thể có sự tăng tiêu dùng trong chínhcác nông hộ khiến sản lượng bán ra thị trường không tăng Do vậy, phản ứngcung cho thị trường đối với các hộ nửa tự cung, nửa tự cấp là rất khó xác định về
lí thuyết Kết luận này trái với quan điểm thứ nhất và càng không đúng với kếtluận của Timmer, 1983 rằng: Đối với nền kinh tế nông dân phản ứng cung cho thịtrường luôn dương, có nghĩa là khi giá tăng thì nông dân sẽ tăng sản lượng bán rathị trường Ngoài ra còn một tác giả khác cũng cho rằng, tác động của giá đến
Trang 24Cung là thường xuyên Nhưng việc sản lượng cung có tăng hay không còn phụthuộc vào quy mô sản xuất của các hộ nông dân Nếu quy mô sản xuất của các hộnông dân quá bé, manh mún, phản ứng Cung từ các hộ này bị hạn chế hơn rấtnhiều Mặt khác, giá đầu ra tăng sẽ khuyến khích các hộ đầu tư, thâm canh Khigiá cao, các nông hộ sản xuất hàng hoá sẽ tập trung vốn, lao động, đất đai để sảnxuất Không chỉ có vậy, lợi nhuận nông nghiệp cao sẽ thu hút các nhà đầu tư từcác khu vực khác vào khu vực nông nghiệp, tạo nên sự cân đối mới về đầu tưtrong nền kinh tế
Khi giá bán sản phẩm chè có lợi, người sản xuất chè mang thái độ lạc quan
sẽ tăng mức đầu tư vốn, lao động, đất đai vào sản xuất Khi đó, một sự thay đổitương đối của mức đầu ra này so với đầu ra khác dẫn đến sự thay đổi cơ cấu sảnxuất và cơ cấu sản phẩm của nông hộ do hộ nông dân đã điều chỉnh cơ cấu sảnxuất theo sự thay đổi về khả năng sinh lợi tương đối của các sản phẩm đầu ra
1.1.4.2 Đặc điểm của giá trong sản xuất chè
* Giá sản xuất chè biến động theo mùa vụ:
Vào mùa vụ sản xuất, nhu cầu vật tư, phân bón trên thị trường có thể tăngđột biến do nhu cầu cùng lúc của tất cả người nông dân làm cho giá cả đầu vào cóthể tăng nhanh Tương tự ở thời điểm thu hoạch và sau thu hoạch, lượng sảnphẩm bán ra thị trường có thể tăng đột biến tạo ra sự “dư thừa” làm cho giá cả cóthể giảm xuống Sau một chu kỳ sản xuất, lượng cung trên thị trường sẽ tăng độtbiến làm cho giá sản phẩm lại giảm xuống Người sản xuất không muốn đầu tưnữa, nhưng chính vì thế một thời gian tiếp sau sản phẩm lại khan hiếm và giá cảlại tăng trở lại và người nông dân lại tiếp tục đầu tư cho sản xuất Và một chu kỳbiến động giá mới lại bắt đầu Trên thực tế thì những biến động giá theo mùa vụvà ngắn hạn này có thể gây ra những thiệt hại khá lớn cho người nông dân do bảnthân họ không có khả năng dự trữ vật tư hay sản phẩm Nhưng những biến động
có tính quy luật này nếu có diễn ra cũng ít ảnh hưởng đến chiến lược đầu tư mởrộng hay thu hẹp quy mô sản xuất của người nông dân Thông thường, phản ứngcủa nông dân là sản xuất rải vụ hoặc điều chỉnh phương thức mua và bán sảnphẩm của mình Để khắc phục khó khăn nay, cần phải hỗ trợ và giám sát hệ thốngcung cấp dịch vụ, thương mại và phân phối sản phẩm hoạt động một cách có hiệuquả nhất
Trang 25* Độ trễ của giá:
Giá đầu vào và giá đầu ra của sản xuất chè có ảnh hưởng trực tiếp đếnquyết định của người sản xuất, nhất là hoạt động sản xuất chè mang tính chấthàng hoá Giá đầu ra tăng hoặc giá đầu vào giảm sẽ làm tăng lợi nhuận/đơn vị sảnphẩm, kích thích người sản xuất tăng đầu tư họăc mở rộng quy mô sản xuất Nóicách khác, sự tăng giá đầu ra, giảm giá đầu vào đều có tác dụng khuyến khích
“Cung” Trong trường hợp ngược lại, nếu giá đầu vào tăng lên hoặc giá đầu ragiảm xuống sẽ làm giảm “Cung” do lợi nhuận của sản xuất giảm xuống Tuynhiên, sự ảnh hưởng đó ít xảy ra ngay lập tức khi có biến động giá do sản xuấtnông nghiệp mang nặng tính mùa vụ Khi giá tăng hay giảm người sản xuất phảichờ đến vụ sau mới có thể thực hiện được quyết định đầu tư của mình Quyếtđịnh đầu tư muộn dẫn đến hiện tượng đã được nghiên cứu đó là “độ trễ của giá”.Như vậy, khác với sự biến động giá của hàng tiêu dùng hay hàng công nghiệp,biến động của các giá sản xuất chè thường có những tác động mang tính chất
định hướng lâu dài hơn đến sản xuất Nhưng cần chú ý rằng, tuy không làm tăng
đột biến tức thì “Cung” nhưng một sự “khuyến cung” cho dù rất nhỏ cũng có thểdẫn đến dư thừa các sản phẩm sẽ làm cho giá sản phẩm chè nhanh chóng giảmxuống và người sản xuất thay vì được lợi lại rơi vào tình trạng “thất bát” do mấtgiá Vì thế, cần phải nỗ lực tìm cách ổn định giá nếu người ta muốn sản xuất vàthu nhập của nông dân ổn định hơn
1.1.4.3 Biến động giá và nguyên nhân biến động giá
Khái niệm biến động giá được hiểu là sự tăng hoặc giảm giá của các sản
phẩm trên thị trường theo thời gian hoặc không gian Trong nghiên cứu này, biếnđộng giá được xét theo nội dung biến động tăng giá đầu vào của sản xuất chèthông thường là giữa một hoặc vài chu kỳ sản xuất có thể tạo ra nguy cơ thay đổităng hoặc giảm kết quả và hiệu sản xuất chè
Trước hết cần khẳng định rằng nghiên cứu về những nguyên nhân làmbiến động giá không phải là đối tượng chính của nghiên cứu này Mục đích củanghiên cứu này nằm ở phần sau của sự biến động giá đó là tìm hiểu những tácđộng của sự biến động tăng giá đầu vào hiệu quả sản xuất chè của các hộ nôngdân và đề xuất các giải pháp khắc phục các tác động xấu của biến động giá, nângcao hiệu quả kinh tế sản xuất chè cho các hộ nông dân Tuy nhiên, trong quá trìnhnghiên cứu chúng tôi nhận thấy nếu ít nhiều không tìm hiểu nguyên nhân của sự
Trang 26biến động giá thì rất khó có thể đề xuất được các biện pháp khắc phục có hiệuquả
Tuy biến động giá là hiện tượng phổ biến nhưng nguyên nhân biến độnggiá lại rất phức tạp trong nền kinh tế thị trường Lạm phát dẫn đến biến động giánhưng nguyên nhân của những biến động giá thông thường khác ít nhiều khônggiống với nguyên nhân tăng giá do lạm phát Nếu lạm phát làm cho giá tăngmạnh và liên tục, biến động giá có thể hiểu là hiện tượng giá có thể tăng hoặcgiảm tuy theo từng trường hợp Nếu lạm phát có nhiều nguyên nhân và trong tất
cả các trường hợp đều liên quan đến những chính sách về tiền tệ thì sự biến độnggiá cũng có nhiều nguyên nhân nhưng không phải trường hợp nào cũng liên quanđến chính sách tiền tệ Vì thế, khi xử lý lạm phát thông thường người ta sử dụngnhiều đến các công cụ tiền tệ, còn đối phó với biến động giá người ta có thể ápdụng các biện pháp phi tiền tệ, phụ thuộc vào nguyên nhân gây ra biến động giá.Biến động giá liên quan nhiều đến khả năng cung cầu của các hàng hoá
Những nguyên nhân chính gây ra sự biến động giá đó là: Lạm phát tiền tệ(phụ thuộc vào chính sách vĩ mô của chính phủ); Biến động giá từ bên ngoài (giáquốc tế và khu vực); Đô thị hóa: Làm tăng cầu, thu hút lao động nông thôn làmcho giá lao động nông thôn tăng lên; Các sự kiện, yếu tố gây ra tình trạng giảmCung hoặc tăng Cầu (ví dụ thiên tai, cúm gà, dịch bò điên, dịch lở mồm longmóng); Tâm lí người tiêu dùng (ví dụ sợ sản phẩm lây nhiễm bệnh); Tình trạngđộc quyền mua, độc quyền bán; Các nguyên nhân khác
* Biến động giá, lạm phát tăng giá của hàng hóa
Lạm phát là tăng giá nói chung của hàng hóa Có vô vàn nguyên nhân dẫnđến hiện tượng tăng giá của lạm phát, nhưng nhìn chung các nguyên nhân nàyđều gián tiếp hay trực tiếp liên quan đến sự tăng quá mức về lượng tiền trong nềnkinh tế dẫn đến tình trạng mất cân bằng giữa tiền và hàng (tiền nhiều hơn hàng).Giá cả tăng làm cho sức mua của đồng tiền giảm xuống Vì thế người ta còn tagọi đây là hiện tượng “mất giá” của đồng tiền Lạm phát bản thân cũng là sự biếnđộng về giá Đây là hiện tượng phức tạp liên quan đến các vấn đề kinh tế vĩ mô.Nhưng sự khác của sự tăng giá do lạm phát so với các hiện tượng tăng giá khácchính là ở sự tăng giá đồng loạt của tất cả các hàng hóa chứ không diễn ra ở từnglĩnh vực nào
Trang 27Nhìn chung, đồng tiền mất giá sẽ làm cho thu nhập thực tế của cả ngườisản xuất và người tiêu dùng giảm xuống Việc nghiên cứu thu nhập của hộ nôngdân ở các thời điểm khác nhau liên quan đến sự biến động giá (dù là sự tăng giánào) cũng cần xét đến yếu tố lạm phát Khi so sánh chi phí, sản lượng hay thuthập, ở các thời điểm khác nhau cần được tính toán bằng đồng tiền cố định làđồng tiền được quy về giá trị ở một thời điểm nhất định (còn gọi là giá thật, giácố định, giá so sánh) sau khi yếu tố lạm phát đã được loại bỏ
1.1.4.4 Ảnh hưởng biến động giá đầu vào tới sản xuất chè
Hộ nông dân luôn vừa là đơn vị sản xuất, vừa là đơn vị tiêu dùng Vì thế,khi phản ứng với sự biến động giá, thông thường chủ hộ vừa đóng vai trò củangười sản xuất, vừa đóng vai trò của người tiêu dùng Nhưng nhìn chung có thểphân biệt được tư cách của họ trong mỗi hành vi này
* Biến động giá, hiện tượng không mới nhưng chứa đựng nhiều tiềm
ẩn về sự không ổn định đối với sản xuất chè
Trong kinh tế thị trường, sự biến động của giá nông sản nói chung, giá sảnphẩm chè và giá vật tư đầu vào sản xuất chè nói riêng là hiện tượng phổ biến.Những người có quan điểm theo hướng tả cho rằng, chính nhờ sự biến động giámới có thể cải tạo đặc tính cố hữu của nông dân là không dám mạo hiểm, bảo thủtrì trệ làm cho sản xuất nông nghiệp kém linh hoạt, chậm thay đổi
Tuy nhiên, tình trạng biến động của giá và những tác động của giá đến sảnxuất chè là vấn đề hết sức phức tạp Những khủng hoảng về giá, hiện tượng giátăng quá cao hoặc giảm quá thấp đều có thể dẫn đến những khủng hoảng kháctrong các khu vực sản xuất và lưu thông phân phối Nhưng cần phân biệt hai loạibiến động giá là giá biến động theo chu kỳ dài và giá biến động nhất thời Theogiáo sư M Mazoyer, giá của các sản phẩm nông nghiệp, tính theo đồng tiền cốđịnh (giá thực), luôn có xu thế giảm xuống theo thời gian Trong vòng gần mộtthế kỷ qua, giá thực của sản phẩm chè thế giới đã giảm từ 3 đến 5 lần Lí dochính của sự giảm giá theo chu kỳ dài hạn này là do năng suất lao động trongnông nghiệp luôn tăng cao nhờ khả năng cải tiến về công nghệ trong sản xuất (M.Mazoyer, 1996) Loại biến động giá thứ 2 là các biến động giá nhất thời mànguyên nhân của nó không phải khi nào cũng dễ dàng nhận ra Đó là những biếnđộng giá diễn ra trong giai đoạn ngắn hơn, chỉ từ vài tháng đến vài năm Mà
Trang 28nguyên nhân lúc thì do thay đổi của cung cầu, khi lại do tác động tâm lí của conngười trước những hiện tượng kinh tế xã hội, nhiều khi lại do chính sự can thiệpcủa các Chính phủ gây nên Loại biến động giá thứ hai này có tác động rất lớnvà phức tạp đến sản xuất, thu nhập và đời sống của người dân nông thôn Trongnhiều trường hợp mà người ta đã quan sát được sự biến động giá đột ngột cóthường có những tác động tiêu cực nhiều hơn là tích cực Hay nói cách khác, sựbiến động giá luôn tiềm ẩn đằng sau những rủi ro
Đối với các hộ nông dân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, biến động tăng giáđầu vào sản xuất chè có ảnh hưởng lớn tới kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuấtchè của hộ Giá đầu vào sản xuất chè tăng, giá sản phẩm chè đầu ra cũng có thểtăng, không tăng hoặc giảm Tốc độ tăng giá đầu vào có thể chậm hơn, có thểnhanh hơn hoặc bằng tốc độ tăng giá bán sản phẩm chè đầu ra Vì thế, mức độảnh hưởng của tăng giá đầu vào trong từng trường hợp là khác nhau.Do đó, cần
có những đánh giá và giải pháp để ổn định và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuấtchè của hộ nông dân trong điều kiện tăng giá đầu vào sản xuất chè như hiện nay
* Rủi ro về giá là trở ngại lớn nhất đối với sự phát triển của các nông hộ có quy mô sản xuất nhỏ
Nghiên cứu tác động của biến động giá đến tình trạng tiêu dùng của hộnông dân không phải là mục đích của nghiên cứu này Tuy nhiên, hộ nông dânnhất là những nông hộ nhỏ (hoặc nông dân nghèo) là đơn vị đa chức năng vừa làđơn vị sản xuất, vừa là đơn vị tiêu dùng Sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm lươngthực do hộ sản xuất ra trước hết là để bảo đảm tiêu dùng cho hộ sau đó mới bán
ra thị trường Vì thế, giá lương thực cao có thể có tác động làm thay đổi chiếnlược sản xuất của nông hộ, bằng cách các nông hộ nhỏ có thể quay về với việcsản xuất lương thực vì mục tiêu an ninh lương thực cho chính mình hơn là tham
gia sản xuất các sản phẩm hàng hóa khác (F Ellis, 1993) [15]
Với các hộ nông dân, tăng trưởng nhanh là điều nhiều người mong đợinhưng tăng trưởng ổn định lại được họ quan tâm hơn nhiều Chỉ một lần gặp rủi
ro, hộ nông dân sẽ phải mất nhiều năm để có thể khôi phục lại tình trạng ban đầu.Tổng kết từ nghiên cứu trên diện rộng hộ nông dân ở nhiều nước, nhiều khu vựctrên thế giới các nhà nghiên cứu khẳng định rằng: “Các hộ nhất là hộ nông dânnhỏ luôn có xu thế chọn mức thu nhập tuy thấp hơn đôi chút nhưng đều đặn và ổnđịnh thay vì mức thu nhập cao nhưng rủi ro và biến động hơn nhiều” Tương tự
Trang 29như thế, hộ nghèo với thu nhập thấp sẽ là những hộ dễ bị tồn thương nhất trướcnhững biến động của thị trường, cho dù họ có tham gia thị trường với tư cách lànhà cung cấp hàng hóa hay người tiêu thụ
* Kinh tế hợp tác một giải pháp giúp cho các hộ sản xuất nhỏ vượt qua các “cú sốc” về giá cả và tăng hiệu quả sản xuất chè
Mục tiêu của Hợp tác là quyền lợi chung của các thành viên trong nhóm.Hợp tác được thực hiện trong khuôn khổ các tổ chức, đó có thể là những phápnhân có đăng ký chính thức như HTX, hiệp hội, hội hay chỉ là những nhóm, tổhợp tác nhỏ không đăng ký Làm việc chung sẽ giúp họ tăng năng suất và giảmchi phí Hợp tác sẽ giúp họ tăng quy mô, tăng sự chắc chắn về nhu cầu vì vậygiúp họ tham gia được vào ngành hàng và thị trường Liên quan đến biến độnggiá và tác động của nó đến sản xuất và đời sống của người nông dân, sự hợp tác
cho phép giảm thiểu đáng kể các “cơn sốc” do giá gây ra nhờ vào việc tổ chức
mua chung bán chung sản phẩm đầu vào đầu ra Khi giá đầu vào tăng cao, cácthành viên của tổ chức mua chung sản phẩm với giá rẻ hơn để dự trữ Khi giá đầu
ra hạ thấp đột ngột, các thành viên cũng có thể giúp nhau chia sẻ rủi ro Ngoài
ra, các quỹ hỗ trợ rủi ro của các tổ chức hợp tác cũng cho phép giảm thiểu tácđộng xấu của sự biến động trên thị trường nói chung và biến động giá nói riêng
1.2 Cơ sở thực tiễn về ảnh hưởng của biến động tăng giá đầu vào tới hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ nông dân
1.2.1 Tình hình biến động giá một số yếu tố đầu vào chính trong sản xuất
chè * Biến động giá phân bón - Trên thế giới:
Trong vài năm gần đây, giá phân bón trên thị trường thế giới biến đổi liêntục theo đà tăng lên nhất là thời điểm từ sau năm 2008 đến nay Thời điểm quý 3năm 2008 giá phân DAP tại vùng vịnh Mỹ và miền trung Florida và giá Amoniackhan tại Vùng Vịnh đã tăng cao do nhu cầu được cải thiện theo mùa Đầu năm
2009, thị trường phân bón thế giới chịu tác động của việc Trung Quốc tăng thuếxuất khẩu phân bón và giảm mạnh nguồn cung đã tiếp tục tăng đồng thời giá dầuthô tăng cao và nhu cầu nhập khẩu phân bón các nước cũng tăng Giá phân Urêliên tục có chiều hướng tăng, có nơi đã tăng lên 650 USD/tấn, trong khi mức giácao nhất của 5 tháng đầu năm 2008 chỉ là 330 USD/tấn Đặc biệt trong năm 2010giá DAP bình quân gần đạt mốc 1000 USD/tấn ở mức 967.2 USD/tấn
Trang 30Giá phân bón các loại trên thị trường thế giới đã tăng ở mức kỷ lục trongvòng 35 năm qua Theo tạp chí chuyên ngành Green Markets, giá Phosphate (lân)tăng phi mã từ 365 USD/tấn năm 2007 lên 1.000 USD/tấn năm 2008 Riêng giáKali nhảy vọt từ 230 USD/tấn lên 7.000 USD/tấn Thời điểm đầu tháng 8/2008,giá DAP (Diamonium Phosphate) giao dịch trong khoảng 1.268-1.275 USD/tấn,(CFR) Tại Mỹ, giá dao động trong khoảng 1.065-1.075 USD/tấn FOB Nola.Trong khi đó, giá Urê Yuzhny đạt mốc 785 USD/tấn, FOB còn giá hợp đồng chỉ ởmức 735 USD/tấn, FOB Khách hàng Brazil mua với giá khoảng 850-855USD/tấn, CFR tương đương với 780-790 USD/tấn, FOB, urê Nga/Ucraina GiáNitrate ammonium tại Mỹ dao động trong khoảng 765-770 USD/tấn, FOB GiáAmmonia tăng thêm 360-380 USD/tấn tùy thị trường so với thời điểm đầu năm
2008, giá tại Yuzhny đang dao động ở mốc 800 USD/tấn, FOB Đến tháng10/2008 giá Urê giảm trên hầu hết các thị trường do nhu cầu tiêu thụ giảm, giá tạithị trường Yuzhny ở mức 710 USD/tấn, FOB Tại Mỹ, giá Urê dao động ở mức
710 USD/tấn, FOB Nola, nhưng nhu cầu không nhiều
Từ đầu năm 2009, giá phân bón trên thế giới đã không ngừng tăng lênhàng tuần, hàng tháng Đối với phân Ure, giá thị trường thế giới đang ở mức trên
300 USD/tấn, tăng tới 100 USD/tấn so với cuối năm 2008 Tuy nhiên, giá phânUrê từ khối các nước thuộc Liên bang Xô Viết cũ (FSU) giảm mạnh kể từ đầutháng 3/2009 đã bắt đầy gây tác động đến các nhà sản xuất Urea tại những khuvực khác Giá mời thầu Urea Prilled cho hợp đồng giao hàng tại Trung Quốc đãgiảm xuống dưới 290 USD/tấn, FOB Giá Urê Granular hợp đồng tháng 4/09đứng ở mức khoảng 280 USD/tấn FOB Tại Ai Cập, dưới áp lực bởi nhu cầu muayếu tại Thái Lan và châu Âu, giá chào bán Urea đã được điều chỉnh giảm xuốngcòn 290-295 USD/tấn, FOB Tại Mỹ latinh, giá chào bán phân Urê xuất xứ từVenuezuela trong khu vực đạt khoảng 280 USD/tấn, FBO
Thị trường phân bón năm 2011 nhìn chung tương đối vững, với giá phânbón đạt mức cao nhất kể từ mức đỉnh cao vào năm 2008
USD/tấn
Trang 31DAP Phosphate rock Potassium chloride TSP Urea
Đồ thị 1.1 Diễn biến giá phân bón thế giới 2008 – 2011
(Nguồn: Ngân hàng Thế giới Ghi chú: Năm 2012 theo số liệu 4 tháng đầu năm)
- Ở Việt Nam:
Hiện nay sản xuất phân bón trong nước mới đáp ứng được 50% nhu cầu,
có loại phân bón phải nhập khẩu tới 100% như phân DAP, Kali, … nên giá phânbón trong nước bị chi phối bởi giá phân bón và giá vật tư thế giới Cùng với biếnđộng giá trên thị trường thế giới, giá các loại vật tư, phân bón trong nước cũngthay đổi liên tục và trở thành nỗi lo cho người nông dân Theo trung tâm thôngtin của Viện Chính sách chiến lược về giá cả các loại phân bón vào thời điểmcuối tháng 3/2007, giá các loại phân urê bán lẻ tại các cửa hàng vật tư nôngnghiệp khoảng 8.5 ngàn đồng/kg Trong tháng 8-2007, hầu hết các loại phânNPK, phân kali và phân lân giá vẫn đứng ở mức cao, tuy có giảm giảm nhẹkhông đáng kể (giảm 150-200 đồng/kg) Nhưng từ đầu tháng 9/2008, giá các loạiphân bón lại tăng trở lại và tăng liên tục, mức tăng bình quân từ 350- 400đồng/kg so với tháng 8/2007 Cụ thể, giá phân Urê (Phú Mỹ) bán lẻ từ mức 8,5 -8,7 ngàn đồng/kg vào thời điểm đầu tháng 8-2007 đã tăng lên mức 8,7 - 9,2 ngànđồng/bao Giá phân DAP (Trung Quốc, loại hột xanh) tăng từ từ 7, 9 ngànđồng/kg 8,5- 8,7 ngàn đồng/kg; DAP hột đen có giá thấp hơn loại xanh khoảng
100 - 150 đồng/kg Nguyên nhân phân bón trong nước đang tăng cao do giá cácloại phân bón và nguyên liệu nhập khẩu tăng mạnh
0 200
Trang 32Đồ thị 1.2 Diễn biến giá phân bón trong nước 2008 – 2012
( Nguồn: AGROINFO)
Quý I năm 2008, trong khi giá lương thực tăng trung bình 17,4%, giá thựcphẩm tăng 22% thì giá phân bón tăng đến 71,3%, giá thuốc trừ sâu tăng 50% Đến cuối tháng 5/2008, giá phân bón nhập khẩu đã tăng 96% so với tháng1/2008 Sự tăng giá không đồng đều này làm cho sản xuất nông nghiệp gặp rấtnhiều khó khăn Thu nhập từ sản xuất có xu thế tiếp tục giảm xuống Mức tănggiá sản phẩm đầu ra trên thực ra chỉ có lợi cho người những người nông dân sảnxuất hàng hóa có quy mô đáng kể Đối với phần lớn nông dân sản xuất ở mức tựcung tự cấp thì mức tăng giá về đầu ra không có ý nghĩa gì đối với cuộc sống củahọ Ngoài ra, người nông dân còn phải chịu mức tăng giá của mọi sản phẩm hànghóa của công nghiệp và kinh tế đô thị, phải chịu mức tăng giá của mọi loại dịch
vụ, ví dụ thuốc chữa bệnh, nhiên liệu, vật liệu xây dựng đã tăng giá rất nhanh
Phân bón là yếu tố đầu vào chính trong sản xuất chè Giá phân bón biếnđộng tăng cao như thời gian qua có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế sản xuấtchè của các hộ nông dân của trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
* Biến động lãi suất
Vấn đề lạm phát - lãi suất - tỷ giá đã trở thành những chủ đề nóng đượcbàn luận nhiều trong thời gian qua là nguyên nhân gây bất ổn kinh tế vĩ mô Lạmphát đã cho thấy giảm tốc; lãi suất đã giảm bằng những chính sách mạnh tay củaNHNN Từ năm 2011 tới nay, mặt bằng lãi suất huy động đã giảm mạnh, giảmkhoảng 7-10%/năm so với thời điểm giữa năm 2011 Hiện nay, lãi suất huy động
Trang 33của các TCTD phổ biến: không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng ở mức11.2%/năm, kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức 5-7%/năm, kỳ hạn từ 6tháng đến dưới 12 tháng ở mức 6.5-7.5%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên ở mức7.5-9%/năm, phù hợp với kỳ vọng lạm phát đến cuối năm 2013 và cả năm 2014.Bên cạnh việc quy định lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với mộtsố lĩnh vực, ngành kinh tế và kêu gọi các TCTD giảm lãi suất các khoản vay cũ
về dưới 13%/năm thì việc lãi suất huy động giảm đã tạo điều kiện cho các TCTDtiếp tục giảm mạnh lãi suất cho vay qua đó chia sẻ khó khăn đối với các doanhnghiệp Đến nay mặt bằng cho vay giảm khoảng 9-12%/năm so với thời điểmgiữa năm 2011 và đã trở về mức lãi suất của giai đoạn 2005-2006, thấp hơn năm
2007, lãi suất đã không còn là cản trở đối với hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp và người dân Hiện lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiênhiện ở mức 7-9%/năm, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh ở mức 9-11%/năm, trong
đó, đối với khách hàng tốt lãi suất cho vay chỉ từ 6,5-7%/năm
1.2.2 Bài học kinh nghiệm về các biện pháp ứng phó của các hộ nông dân và các chính sách hỗ trợ của chính phủ đối với các biến động của giá đầu vào
1.2.2.1 Một số bài học kinh nghiệm của các nước trong hỗ trợ nông dân đối phó với biến động về giá
Tuy đây không phải là bài học kinh nghiệm đối phó của người nông dânđối với biến động về giá đầu vào của ngành chè nhưng những kinh nghiệm dướiđây cũng là bài học kinh nghiệm tốt để tham khảo đối với ngành chè
a Liên minh châu Âu (EU)
Chính sách nông nghiệp chung (CAP) của Cộng đồng chung Châu Âuđược thiết lập dựa trên các nguyên tắc: Nguyên tắc thống nhất thị trường đòi hỏiphải có một thị trường duy nhất cho bất cứ một hàng hóa nào thuộc CAP, với một
hệ thống chung về marketing và giá cả xuyên suốt EU Để tránh cho người nôngdân ở các nước giảm giá sản phẩm, giá chung đặt ra cho mỗi loại sản phẩmthường sẽ lấy giá của nước bán sản phẩm đó đắt nhất Tôn trọng quan điểm ưutiên trong liên minh đã đề ra Cam kết về tài chính vững mạnh nhằm vượt quanhững “cơn sốc”
* Phương thức hỗ trợ của EU trước ký hiệp định về nông nghiệp ở Urugoay (URAA: Từ trợ giá đến hỗ trợ trực tiếp
Trang 34Trọng tâm của CAP là hệ thống giá được đảm bảo cho việc sản xuất luôntăng trưởng Người nông dân luôn được trả một mức giá tối thiểu cho hàng hóacủa họ, kể cả khi họ bán hàng hóa đó như những sản phẩm dư thừa được dự trữ
do sự can thiệp của cơ quan quản lý của EU để sau này bán với giá đã có trợ cấptrên thị trường thế giới Cơ chế hoạt động sẽ chuyển từ trợ giá cho nông dân sang
hệ thống hỗ trợ trực tiếp thu nhập của họ Theo cơ chế này, người nông dân sẽđược đền bù những khoản mất mát trong thu nhập do giá giảm hay do việc táchđất ra ngoài quy trình sản xuất Khoản trợ giúp trực tiếp này nhằm mục đích ngănchặn việc người nông dân dời khỏi đất đai của họ, hỗ trợ người nông dân làm
“nông nghiệp sạch” tức bảo vệ môi trường
* Chính sách bảo hộ nông sản của EU sau khi ký hiệp định URAA
Thuế quan: Để thực hiện cam kết của mình, EU giống như Nhật Bản và
Mỹ chỉ áp dụng mức cắt giảm thuế suất đối với các sản phẩm ít quan trọng, cóthuế suất cao EU chỉ cắt giảm thuế hải quan ở mức 20% đối với các sản phẩmnhư đường, dầu oliu, rượu vang, dầu quả, sữa bột
Hỗ trợ trong nước: đặc biệt các chương trình hỗ trợ của nhà nước đều
được xếp trong “hộp xanh da trời” Các chương trình này thường đi kèm với biệnpháp hạn ngạch sản xuất
Các hàng rào kỹ thuật: Các hàng rào kỹ thuật với danh nghĩa là để bảo vệ
môi trường và bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng được EU áp dụng một cách rộngrãi để bảo hộ nông nghiệp
Nhận xét và bài học kinh nghiệm: Chính sách nông nghiệp chung của EU
và những chính sách bảo hộ của họ đã tạo ra sự ổn định trong sản lượng nôngnghiệp ở mức phù hợp hơn với lượng tiêu thụ của Liên minh Các biện pháp đượcthực hiện đã kiểm soát được mức tăng sản lượng và không gây ra những thiếu hụtnghiêm trọng Triết lý cơ bản của EU đối với CAP thực chất có một sự chuyểndịch từ chủ nghĩa bảo hộ sang phụ thuộc nhiều hơn vào giá cả thị trường thế giới
Tư tưởng chủ đạo là trong tương lai, lý do duy nhất để tăng sản lượng là để đápứng những cơ hội mới (tức mở rộng nhu cầu) của thị trường Liên minh sẽ đápứng những nhu cầu mới này bằng cách xuất khẩu những mặt hàng cạnh tranh vànhững mặt hàng không được trợ cấp Việc cắt giảm trợ cấp cũng là đòi hỏi của
Trang 35các nước khác ngoài EU, phù hợp với đòi hỏi của xu hướng tự do hóa mậu dịch
hàng hóa nông sản
b Chính sách của Trung Quốc
Bài học về độc quyền của Chính phủ đối với các mặt hàng chiến lược ở giai đoạn trước hội nhập WTO
Trung Quốc hiện là một nước xuất khẩu lớn hàng nông sản, đồng thờicũng là nước nhập khẩu chủ yếu một số mặt hàng như ngũ cốc, đường, dầu thựcvật Vì thế, an ninh lương thực là vấn đề được ưu tiên ở Trung quốc Trước đây,
để ổn định giá cả và bảo đảm an ninh lương thực, Chính phủ TQ đã sử dụng cácbiện pháp phi thuế quan và độc quyền đối với nhiều mặt hàng nông sản chiếnlược Tùy từng mặt hàng nông sản, Trung Quốc áp dụng các biện pháp phi thuếquan khác nhau như hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu, độc quyền kinh doanh củanhà nước hoặc qua công ty chuyên doanh
Một thời gian dài, giá nông sản trong nước Trung Quốc khá thấp so với thịtrường thế giới Tỷ lệ bảo hộ đối với hàng nông sản trong nước là rất thấp Trênthực tế, Trung Quốc không sử dụng mạnh biện pháp thuế quan có hiệu quả đểthuế hóa việc bảo hộ hợp pháp hàng nông sản Ngược lại, Trung Quốc lại coitrọng việc áp dụng hạn chế nhập khẩu mạnh mẽ như hạn ngạch và giấy phép đểbảo hộ sản xuất nông nghiệp Cho đến năm 1997, có 354 loại nông sản được quản
lý bằng giấy phép và 28 nhóm mặt hàng như bông, len, cao su, đường, phân bón,dầu thực vật được quản lý bằng hạn ngạch nhập khẩu
Trong thời kỳ hội nhập, củng cố năng lực sản xuất là biện pháp chống rủi
ro về giá có hiệu quả nhất mà Trung Quốc đã áp dụng
Cũng giống như ở Việt Nam mấy năm gần đây, giá vật tư đầu vào củanông nghiệp ở Trung Quốc cũng tăng mạnh: giá thức ăn tăng 30%, giá nhân côngtăng gấp đôi, giá phòng chữa bệnh, vận chuyển, điện nước đều tăng, trong khi giásản phẩm nông sản so với mấy năm trước vẫn giữ nguyên làm cho hiệu quả sảnxuất giảm sút Trước tình hình này, quan điểm chỉ đạo của Bộ trưởng của Bộnông nghiệp là: Tìm mọi cách ổn định thu nhập cho người sản xuất nông nghiệp(trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản) ở nông thôn Nhanh chóng thay đổi phươngthức sản xuất, biết kết hợp giữa chất lượng và quy mô Hỗ trợ và phát triển mạnhcác dịch vụ, hoàn thiện chế độ chính sách khuyến khích liên kết trong ngành
Trang 36hàng Các doanh nghiệp đứng đầu trong công nghiệp hoá nông nghiệp cần dựavào việc phục vụ cho nông dân để tìm sự phát triển, xây dựng cơ chế gắn liền lợiích của doanh nghiệp và hộ nông dân, doanh nghiệp nông nghiệp hàng đầu nếu
xa rời lợi ích của nông dân sẽ không có tương lai phát triển
Chính phủ Trung Quốc chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng: đường, điện, thủylợi, thông tin liên lạc, bến cảng cải cách doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là cổphần hóa; đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài; tạo môi trường cạnh tranhlành mạnh giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; thúc đẩy hạ giáthành, tăng chất lượng hàng xuất khẩu nói chung, nông thủy sản nói riêng
Vốn tín dụng ưu tiên phục vụ cho những ngành hàng mặt hàng có lợi thế,nhà nước khuyến khích xuất khẩu, trong đó có mặt hàng nông thủy sản Lãi suấtmềm dẻo, phù hợp với tín hiệu thị trường, Ngân hàng Trung ương thực hiện cơchế lãi suất cơ bản đối với tiền gửi (không kỳ hạn, có kỳ hạn, 3 tháng, 6 tháng, 1,
2, 3, 5 năm) và tiền vay (thời hạn 6 tháng, 1, 3, 5 năm) và cho phép các ngânhàng thương mại ổn định lãi suất cho vay trong giới hạn biên độ 10% - 30%
Ngoài ra, Chính phủ Trung Quốc cũng rất quan tâm đến bảo hiểm, baogồm bảo hiểm rủi ro giá, bảo hiểm rủi ro do thiên tai dịch bệnh, xây dựng các kho
dự trữ hàng nông thủy sản với tích lượng lớn để tránh các cú sốc gây bất lợi cho
nông dân, ngư dân, doanh nghiệp và Nhà nước
c Bài học Thái Lan trong ổn định giá gạo và phát triển ngành lúa gạo Chính sách giá nông sản: Chính sách giá cả được coi là công cụ quan
trọng nhất để điều tiết sản xuất Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể mà cơ chế giá có
sự biến đổi linh hoạt, những mục tiêu chiến lược của chính sách giá nông nghiệpcủa Chính phủ là: Khuyến khích người sản xuất bảo đảm giá nơi sản xuất có lợicho người sản xuất và giá bán lẻ thấp có lợi cho người tiêu dùng; Ổn định giánông sản thị trường trong nước, kìm giữ giá trong nước thấp hơn so với giá thịtrường thế giới, khuyến khích xuất khẩu; Hạn chế ảnh hưởng của sự biến độnggiá thị trường thế giới đối với giá nông sản thị trường nội địa Bảo hộ lúa gạođược coi là biện pháp mạnh mẽ nhất và ưu việt nhất để tác động vào giá lúa gạotrong nước Đó là vì chính phủ đã tạo ra những thay đổi giá cả lúa gạo mà không
có chi phí đầu tư lớn Chính phủ Thái Lan đã áp dụng ba công cụ chủ yếu để thựchiện bảo hộ lúa gạo, đó là thuế xuất khẩu gạo, chương trình dự trữ gạo bắt buộcvà hạn mức xuất khẩu gạo
Trang 371.2.2.2 Kinh nghiệm ứng phó của hộ nông dân đối với biến động của giá đầu vào
ở một số địa phương
Đến thời điểm này rất đáng tiếc là chưa có tài liệu nào nghiên cứu về ứngphó của hộ nông dân sản xuất chè đối với sự thay đổi của giá đầu vào trong sảnxuất chè Tuy nhiên, những bài học kinh nghiệm của người nông dân sản xuấtngô của người dân miền núi phía Bắc và của người nông dân ở Đồng bằng sôngHồng và Đồng bằng sông Cửu Long trước những thay đổi về giá đầu vào có thểcoi là bài học tốt có thể tham khảo đối với ngành chè
a Bài học kinh nghiệm ứng phó với biến động của giá đầu vào của các
hộ nông dân trồng ngô ở các tỉnh miền Bắc
Ứng xử của các hộ trong đầu tư thâm canh: Do nhận thức được giá trị củacây ngô cao hơn một số cây trồng ngắn ngày khác nên các hộ đã quan tâm đếnviệc sản xuất ngô thông qua việc mở rộng diện tích trồng ngô và tăng các mứcđầu tư (thay đổi mức đầu tư phân bón) để tăng năng suất ngô Ở vùng núi, các hộchuyển diện tích trồng lúa nương sang trồng ngô và tận dụng các chân đất vensông, suối Các hộ vùng đồng bằng thay thế các loại cây ngắn ngày kém hiệu quảsang trồng ngô Bên cạnh đó, các hộ thay đổi sang giống ngô lai cho năng suấtcao, áp dụng kỹ thuật canh tác theo quy mô hộ, loại hình hộ
Ngoài ra, các hộ còn có ứng xử đối với việc bán sản phẩm như chọn thờiđiểm bán sản phẩm, chọn khách hàng, quan tâm thông tin thị trường
b Bài học kinh nghiệm ứng phó với biến động của giá đầu vào của các
hộ nông dân ở Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long
Tác động rõ nét của biến động tăng giá đầu vào trong những năm qua là
sự thúc đẩy nhanh hơn quá trình tái cơ cấu lại thu nhập của hộ nông dân ở cả 2đồng bằng Nhìn chung, nguồn thu nhập từ nông nghiệp của hộ đang giảm nhanh,thay thế vào đó là nguồn thu từ hoạt động phi nông nghiệp
Một số mô hình giúp giảm rủi ro do biến động tăng giá đầu vào gây ra ởhai đồng bằng:
* Đa dạng hóa sản xuất và phát triển sản phẩm đặc sản
- Mô hình đa dạng hóa trồng trọt ở Gia Lộc, Hải Dương: Cây trồngtrái vụ là một trong những biện pháp được các hộ lựa chọn nhằm chống lại những
Trang 38tác động tiêu cực của sự tăng giá đầu vào Mô hình có đặc điểm: một là gia tăngsố lượng các cây trồng, công thức luân canh hoắc sự chuyển đổi về loại cây trồngmặc dù diện tích canh tác có thể không tăng, hai là phát triển các cây trồng có giátrị kinh tế cao
- Phát triển các giá trị của vùng: Hướng vào giá trị kinh tế của cácsản phẩm đặc sản của vùng như sản phẩm Xoài Cát Hòa Lộc
* Phát triển kinh tế hợp tác cung cấp dịch vụ đầu vào và sảnphẩm đầu ra cho nông nghiệp
Mô hình hoạt động của các HTX dịch vụ nông nghiệp ở Nam Định: Cácdịch vụ sản xuất do HTX cung cấp chủ yếu là dịch vụ sản xuất giống lúa, hỗ trợtiêu thụ sản phẩm đầu ra (Chỉ đạo sản xuất và ký hợp đồng tiêu thụ), quản lý chỉđạo tổ dịch vụ làm đất
* Phát triển kinh tế hợp đồng trong nông nghiệp
Điều quan trọng hàng đầu đối với phát triển nông nghiệp ở Nam Định làliên kết 4 nhà Hình thức hợp đồng chủ yếu là HTX Nông nghiệp đứng ra ký hợpđồng về chủng loại sản phẩm, sản lượng và giá cả một số sản phẩm vụ Đông (càchua, dưa chuột bao tử,, ngô ngọt) với các Công ty Sau đó, HTX sẽ hướng dẫn
kỹ thuật đến các hộ sản xuất (Viện chính sách và chiến lược, 2008) [55]
1.2.3.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ nghiên cứu kinh nghiệm các nước trên thế giới trong việc hỗ trợ hộ nông dân và kinh nghiệm ứng phó của hộ nông dân đối phó với biến động tăng giá đầu vào
Bài học 1: Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong quản lý giá, ổn định giá và hỗ trợ nông dân giảm thiểu rủi ro do biến động tăng giá gây ra
Trong nền kinh tế chế thị trường vai trò quản lý thị trường và quản lý giá của
Chính phủ luôn có vị trí quan trọng trong việc điều tiết thị trường và điều tiết nềnkinh tế Việc can thiệp của Chính phủ về giá một mặt bảo đảm sản xuất ổn định,tăng được sản lượng, mặt khác bảo đảm thu nhập và bảo vệ người tiêu dùng Vìthế chống độc quyền giá, chống phá giá và bảo đảm cạnh tranh lành mạnh đượccoi là những nhiệm vụ thường xuyên của bất cứ một Chính phủ nào Để ổn địnhgiá và chống độc quyền Chính phủ cần áp dụng chính sách sau: Quy định giáchuẩn hoặc định giá trần (giá tối đa) đối với những đầu vào dễ bị độc quyền Nếu
Trang 39có thể cần phải tổ chức đăng kí giá, hiệp thương giá và niêm yết giá Khuyếnkhích hiệp tác liên doanh và tạo điều kiện cho nhiều tác nhân tham gia kinhdoanh và cạnh tranh lành mạnh trong cả hệ thống thị trường đầu vào nôngnghiệp Lập quỹ dự trữ và quỹ quốc gia nhằm bình ổn giá, bình ổn thị trường.Tăng cường kiểm tra, đánh giá kiểm soát những yếu tố hình thành giá và sử dụnglinh hoạt các chính sách hỗ trợ hiệu quả và phù hợp với quy định của quốc gia,quốc tế Các chính sách này có thể chia ra làm 2 nhóm giải pháp của Chính phủlà: (1) Nhóm giải pháp trực tiếp (can thiệp lập tức) và (2) Nhóm các giải phápgián tiếp (chiến lược lâu dài) nhằm tăng khả năng chống đỡ của các hộ nông dânvới các “cú sốc” về tăng giá
(1) Nhóm các giải pháp trực tiếp và ngắn hạn
* Giá quy định của Chính phủ Việc quy định giá trần (mức giá tối đa
có thể), để người tiêu dùng không bị hiệt hại quá mức, hay giá sàn (mứcgiá tối thiểu có thể) để người sản xuất không bị thiệt hại quá nhiều Khigiá vượt trên những mức quy định này, Chính phủ sẽ áp dụng các biệnpháp khác nhau để hạ giá hay bảo vệ giá tối thiểu này Chẳng hạn khi giátăng quá cao, Chính phủ có thể dỡ bỏ các thuế nhập khẩu để kích thíchnguồn cung Tuy nhiên, tác dụng của các chính sách giá kiểu này thườngthấp Trong xu thế hội nhập, các biện pháp hỗ trợ trực tiếp về giá sẽ bị loại
bỏ
* Hỗ trợ trực tiếp vào giá đầu vào và đầu ra của sản xuất chè
Không nên chỉ coi chính sách giá là công cụ quan trọng duy nhất để ổnđịnh giá và thu nhập Trên thực tế ổn định năng suất chống rủi ro thiên tai, dịchhại thông qua chính sách nghiên cứu và công nghệ có tác dụng hơn nhiều so vớichính sách giá Chính sách giá là cần thiết, nhưng chỉ nên giới hạn trong một số ítmặt hàng có tầm quan trọng chiến lược như các loại cây lương thực chủ yếu hay
những mặt hàng đem lại nguồn thu xuất khẩu (Frank Ellis, 1995, tr 126) [16] Lí
do là vì: Chính phủ thường bị hạn chế về nguồn lực tài chính và thông tin cầnthiết để giải quyết vấn đề Luật thương mại quốc tế không chấp nhận các hìnhthức hỗ trợ giá trực tiếp Tuy nhiên việc giảm giá nhập khẩu đổi với các sản phẩmđầu vào hay miễn thuế xuất khẩu đối với các sản phẩm đầu ra cũng có thể xemxét như cách để các chính phủ hỗ trợ giảm giá đầu vào và tăng giá đầu ra Việc
Trang 40càng có nhiều hàng hoá trong các chính sách giá thì hiệu quả chính và hiệu quảphụ của các mối quan hệ giữa chúng càng phức tạp
* Giảm các khoản thu của Chính phủ và giảm lãi suất vốn
Việc giảm các khoản thu, giảm thuế hay hỗ trợ lãi suất vay có thể làm tăngthu nhập thuần cho người sản xuất Việc hỗ trợ tăng thu nhập cho người sản xuất
ở một góc độ nào đó có thể khuyến khích người sản xuất mở rộng quy mô Tuynhiên, như những gì đã phân tích ở phần trên, việc hỗ trợ để tăng thu nhập sẽ đơnthuần chỉ kích thích mở rộng quy mô diện tích sản xuất mà không khuyến khíchđược người sản xuất thâm canh tăng năng suất trên 1 đơn vị diện tích Muốnkhuyến khích người sản xuất thâm canh, tăng năng suất, cần phải hỗ trợ để giảmchi phí đầu vào trong sản xuất nông nghiệp Việc hỗ trợ giá đầu vào còn đượchiểu là hỗ trợ để giảm chi phí cho sản xuất, không những cho phép giảm lập tứcchi phí sản xuất của hộ nông dân mà còn khuyến khích các hộ nông dân tiếp tụctăng đầu tư thâm canh nhằm tăng năng suất/đơn vị diện tích Các chính sách hỗtrợ giá đầu vào được áp dụng khá phổ biến do ít tốn kém cho ngân sách Chínhphủ hơn và thông thường người ta chọn cách giảm thuế nhập khẩu phân bón,nguyên liệu để hạ giá các vật tư đầu vào trên thị trường
(2) Nhóm các giải pháp gián tiếp và dài hạn
* Hỗ trợ khuyến nông và tăng cường công nghệ nâng cao năng suất
và hiệu quả sản xuất chè
Hỗ trợ đào tạo và khuyến nông tuy không trực tiếp giảm được “sốc” về giánhưng lại có tác dụng lâu dài trong việc hỗ trợ nông dân nâng cao khả năngchống “sốc” Cũng còn cách khác để tạo ra thu nhập cao hơn cho người sản xuất,qua đó giúp cho người sản xuất vượt qua được các khó khăn do ảnh hưởng củabiến động giá gây ra Đó là các Chính phủ có thể miễn giảm bớt các chi phí xãhội hoặc trợ cấp trực tiếp Nhưng so với việc hỗ trợ công nghệ để tăng năng suấtvà giá trị sản lượng thô hoặc giảm chi phí trung gian thì cách hỗ trợ trực tiếp sẽkhông hiệu quả bằng, bởi vì với cùng một đồng vốn hỗ trợ, nếu đưa vào sản xuấtđồng vốn sẽ sinh lời ngay trong chu kỳ sản xuất, trong khi đó nếu hỗ trợ trực tiếpvốn đó sẽ không sinh lời Vì thế lựa chọn cách hỗ trợ đầu vào và đặc biệt là hỗtrợ về công nghệ luôn được xem là giải pháp khôn ngoan nhất mà các chính phủ