1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân tại thành phố quy nhơn, tỉnh bình định

131 584 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Mục tiêu của đề tài này là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, đánh giá

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

TRẦN TRUNG KIẾM

NGHIÊN CỨU YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH THAM GIA PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG CỦA NGƯỜI DÂN TẠI THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA – 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

TRẦN TRUNG KIẾM

NGHIÊN CỨU YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH THAM GIA PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG CỦA NGƯỜI DÂN TẠI THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận văn “Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định” là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác

Nha Trang, tháng 09 năm 2016

Tác giả luận văn

Trần Trung Kiếm

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt hơn hai năm học tập và nghiên cứu đến nay, tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp Đây là công trình nghiên cứu của tôi Để có được kết quả như hôm nay, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ Quý thầy

cô, các bạn học viên, các đồng nghiệp, người thân cũng như các tổ chức, cá nhân Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Quý thầy cô Trường Đại học Nha Trang đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho tôi và các học viên khác trong quá trình theo học tại trường

Đặc biệt, tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Lê Chí Công đã tận tình hướng dẫn và hỗ trợ tôi rất nhiều trong thời gian thực hiện đề tài với tất cả sự nhiệt tình và đầy tránh nhiệm

Và cuối cùng xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong Hội đồng bảo vệ luận văn thạc sỹ đã góp thêm ý kiến để tôi hoàn thành tốt hơn luận văn này

Xin chân thành cảm ơn

Trân trọng

Nha Trang, tháng 09 năm 2016

Tác giả luận văn

Trần Trung Kiếm

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

lỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC BẢNG ix

DANH MỤC HÌNH xi

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Ý ĐỊNH THAM GIA PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 5

1.1 Cơ sở lý thuyết liên quan đến phát triển du lịch bền vững 5

1.1.1 Khái niệm du lịch 5

1.1.2 Khái niệm phát triển bền vững 6

1.1.3 Khái niệm phát triển du lịch bền vững 9

1.1.4 Mô hình phát triển du lịch bền vững 10

1.2 Cộng đồng địa phương và vai trò đối với phát triển du lịch bền vững 13

1.2.1 Khái niệm cộng đồng địa phương 13

1.2.2 Vai trò của cộng đồng địa phương đối với phát triển du lịch 15

1.3 Lý thuyết TPB ứng dụng trong lĩnh vực du lịch 16

1.3.1 Ý định tham gia phát triển du lịch bền vững 18

1.3.2 Thái độ đối với phát triển du lịch bền vững 19

1.3.3 Các ảnh hưởng xã hội đối với việc tham gia phát triển du lịch bền vững 26

1.3.4 Kiểm soát rào cản đối với việc tham gia phát triển du lịch bền vững 26

1.4 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan 27

1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới 27

1.4.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 29

1.5 Đề xuất mô hình và các giả thuyêt nghiên cứu 31

Trang 6

1.5.1 Mô hình 1 - các thành phần TPB 31

1.5.2 Mô hình 2 – Mô hình các thành phần thái độ 33

Tóm tắt chương 1 35

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TẠI THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

2.1 Giới thiệu về Quy Nhơn – Bình Định 36

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 36

2.1.2 Điều kiện tự nhiên, chính trị-xã hội và kinh tế 36

2.1.3 Tài nguyên du lịch 40

2.1.4 Kết quả kinh doanh du lịch 46

2.2 Thiết kế nghiên cứu 50

2.2.1 Quy trình nghiên cứu 50

2.2.2 Nghiên cứu định tính 51

2.2.3 Nghiên cứu định lượng 54

2.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 56

Tóm tắt chương 2 57

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ Ý ĐỊNH THAM GIA PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TẠI THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH 58

3.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 58

3.1.1 Thống kê mô tả đặc điểm mẫu nghiên cứu 58

3.1.2 Thống kê mô tả các biến quan sát 60

3.2 Đánh giá thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha 63

3.2.1 Thang đo “Thái độ đối với bảo vệ môi trường” 63

3.2.2 Thang đo “Thái độ đối với bảo vệ tài nguyên du lịch” 64

3.2.3 Thang đo “Thái độ đối với bảo vệ cơ sở vật chất – hạ tầng” 64

3.2.4 Thang đo “Thái độ đối với bảo vệ bản sắc văn hóa địa phương” 66

3.2.5 Thang đo “Thái độ đối với giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội” 66

3.2.6 Thang đo “Thái độ chung đối với việc tham gia phát triển DLBV” 66

Trang 7

3.2.7 Thang đo “Các ảnh hưởng xã hội đối với việc tham gia phát triển DLBV” 67

3.2.8 Thang đo “Kiểm soát rào cản đối với việc tham gia phát triển DLBV” 67

3.2.9 Thang đo “Ý định tham gia phát triển du lịch bền vững” 68

3.3 Đánh giá thang đo bằng phân tích nhân tố khám phá EFA 68

3.3.1 Các biến quan sát của các thành phần độc lập 69

3.3.2 Các biến quan sát của các thành phần phụ thuộc 72

3.4 Giá trị đại diện trung bình của các nhân tố 73

3.5 Phân tích tương quan hồi quy 74

3.5.1 Phân tích mô hình hồi quy 1 – Các thành phần trong mô hình TPB ảnh hưởng đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững 74

3.5.2 Mô hình hồi quy 2 – Các thành phần thái độ ảnh hưởng đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững 77

3.6 Kết quả nghiên cứu 80

Tóm tắt chương 3 81

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82

4.1 Kết luận và đóng góp của đề tài 82

4.1.1 Kết luận 82

4.1.2 Đóng góp của đề tài 83

4.2 Kiến nghị chính sách 83

4.2.1 Chính sách dựa trên kết quả mô hình hồi quy 1 83

4.2.2 Chính sách dựa trên kết quả mô hình hồi quy 2 85

4.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài 88

4.3.1 Hạn chế của đề tài 88

4.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 89

Tóm tắt chương 4 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ANOVA : Anlysis of Variance (Phân tích phương sai)

CSVCHT : Cơ sở vật chất hạ tầng

DLBV : Du lịch bền vững

EFA : Exploratory Factor Analysis (Phân tích nhân tố khám phá)

GRDP : Gross Regional Domestic Product (Tổng sản phẩm trên địa bàn)

IUCN : International Union for onservation of Nature and Natural

Resources (Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế)KDLH : Kinh doanh lữ hành

KMO : Kaiser-Meyer – Olkin (Hệ số KMO)

PBC : Perceived Behavioral Control (Kiểm soát hành vi)

SEM : Structural Equation Modeling (Mô hình cấu trúc tuyến tính)

SN : Subjective Norm (Chuẩn chủ quan)

ST : Sustainable Tourism (Du lịch bền vững)

TPB : Theory of Planned Behavior (Thuyết hành vi dự định)

TRA : Theory of Reasoned Action (Thuyết hành động hợp lý)

UBND : Ủy ban nhân dân

UNDP : United Nations Development Programme (Chương trình phát triển

liên hiệp quốc)UNWTO : United Nation Word Tourism Organization (Tổ chức du lịch thế

giới từ 1/12/2005)VH-TT& DL : Văn hóa, thể thao và du lịch

WCED : World Commission on Environment and Development (Ủy ban

phát triển thế giới)WTO : World Tourism Organization (Tổ chức du lịch thế giới)

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Phát triển du lịch bền vững và không bền vững 13

Bảng 2.1 Lượng khách du lịch và doanh thu du lịch tại Bình Định 2013 - 2015 49

Bảng 2.2 Thang đo thái độ cộng đồng đối với phát triển du lịch bền vững 53

Bảng 3.1 Thống kê mô tả đặc điểm mẫu nghiên cứu 59

Bảng 3.2 Thống kê mô tả biến quan sát 60

Bảng 3.3 Thang đo Thái độ đối với bảo vệ môi trường 63

Bảng 3.4 Thang đo Thái độ đối với bảo vệ tài nguyên du lịch 64

Bảng 3.5 Thang đo Thái độ đối với bảo vệ CSVCHT lần 1 64

Bảng 3.6 Thang đo Thái độ đối với bảo vệ CSVCHT lần 2 65

Bảng 3.7 Thang đo Thái độ đối với bảo vệ CSVCHT lần 3 65

Bảng 3.8 Thang đo Thái độ đối với bảo vệ bản sắc văn hóa địa phương 66

Bảng 3.9 Thang đo Thái độ đối với giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội 66

Bảng 3.10 Thang đo Thái độ đối với việc tham gia phát triển du lịch bền vững 66

Bảng 3.11 Thang đo Các ảnh hưởng xã hội đối với việc tham gia phát triển DLBV 67

Bảng 3.12 Thang đo Kiểm soát rào cản đối với việc tham gia phát triển DLBV 67

Bảng 3.13 Thang đo ý định tham gia phát triển du lịch bền vững 68

Bảng 3.14 Phân tích EFA nhóm biến độc lập các thành phần thái độ 69

Bảng 3.15 Kết quả phân tích nhân tố khám phá cho các thành phần thái độ 70

Bảng 3.16 Cronbach’s Alpha thang đo nhân tố AVHAN 71

Bảng 3.17 Phân tích EFA nhóm biến thành phần độc lập trong mô hình TPB 71

Bảng 3.18 Kết quả phân tích nhân tố khám phá cho các nhân tố thành phần độc lập trong mô hình TPB 72

Bảng 3.19 Phân tích EFA nhóm biến thành phần phụ thuộc 72

Bảng 3.20 Kết quả phân tích nhân tố khám phá cho các thành phần phụ thuộc 73

Bảng 3.21 Phân tích tương quan mô hình 1 74

Trang 10

Bảng 3.22 Hệ số đánh giá mô hình hồi quy 1 75

Bảng 3.23 Kết quả ANOVA của mô hình 1 75

Bảng 3.24 Hệ số hồi quy của mô hình 1 75

Bảng 3.25 Phân tích tương quan mô hình 2 77

Bảng 3.26 Hệ số đánh giá mô hình hồi quy 2 78

Bảng 3.27 Kết quả ANOVA của mô hình 2 78

Bảng 3.28 Hệ số hồi quy của mô hình 2 78

Bảng 4.1 Mức độ quan trọng của các yếu tố đối với ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (Mô hình 1) 84

Bảng 4.2 Mức độ quan trọng của các yếu tố đối với ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (Mô hình 2) 86

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Mô hình phát triển bền vững theo quan điểm của Jordan Ryan 7

Hình 1.2 Mô hình phát triến bền vững của ngân hàng Thế giới World Bank 8

Hình 1.3 Mô hình phát triến bền vững của Villen, 1990 8

Hình 1.4 Mô hình phân tích lợi ích chi phí phát triển du lịch bền vững 11

Hình 1.5 Thuyết hành vi dự định – TPB (Ajzen, 1991) 17

Hình 1.6 Mô hình nghiên cứu các thành phần mô hình TPB 31

Hình 1.7 Mô hình nghiên cứu các thành phần thái độ đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững 33

Hình 2.1 Chùa Long Khánh 41

Hình 2.2 Mộ thi nhân Hàn Mạc Tử 41

Hình 2.3 Eo Gió Nhơn Lý 42

Hình 2.4 Mũi Yến – Bán đảo Phương Mai 43

Hình 2.5 Bãi Đá Trứng 44

Hình 2.6 Công viên văn hóa Tháp Đôi 45

Hình 2.7 Quy trình nghiên cứu 50

Hình 3.1 Đồ thị phân tán phần dư chuẩn hóa và giá trị ước lượng (Mô hình 1) 76

Hình 3.2 Biểu đồ tần số P-P Plot khảo sát phân phối của phần dư (Mô hình 1) 76

Hình 3.3 Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa (Mô hình 1) 77

Hình 3.4 Đồ thị phân tán phần dư chuẩn hóa và giá trị ước lượng (Mô hình 2) 79

Hình 3.5 Biểu đồ tần số P-P Plot khảo sát phân phối của phần dư (Mô hình 2) 79

Hình 3.6 Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa (Mô hình 2) 80

Trang 12

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Mục tiêu của đề tài này là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, đánh giá mức độ quan trọng của từng yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia của cộng đồng dân cư địa phương trong phát triển bền vững du lịch biển Từ đó đề xuất những giải pháp và kiến nghị chính sách nhằm nâng cao vai trò của cộng đồng dân cư địa phương trong phát triển bền vững du lịch

Dựa vào cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu, đo lường về ý định tham gia của cộng đồng đã có trên thế giới và trong nước, nghiên cứu khám phá để đưa ra mô hình lý thuyết cùng với các thang đo cho từng nhân tố trong mô hình nghiên cứu Nghiên cứu định lượng với mẫu 200 người dân được khảo sát để đánh giá các thang đo và kiểm định mô hình lý thuyết

Kết quả kiểm định và những lập luận cho thấy các thang đo đạt yêu cầu, mô hình

lý thuyết phù hợp với mục đích nghiên cứu và các giả thuyết được chấp nhận Kết quả nghiên cứu TPB ứng dụng cho du lịch bền vững cho thấy ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân bới 3 yếu tố thái độ đối với việc tham gia phát triển du lịch bền vững, các ảnh hưởng xã hội đối với việc tham gia phát triển du lịch bền vững

và kiểm soát rào cản đối với việc tham gia phát triển du lịch bên vững Bên cạnh đó ý định tham gia phát triển du lịch bền vững còn bị tác động bởi các yếu tố thành phần của thái độ như thái độ đối với bảo vệ môi trường, thái độ đối với bảo vệ cơ sở hạ tầng, thái độ đối với bảo vệ bản sắc văn hóa địa phương, thái độ đối với bảo vệ an ninh trật tự an toàn xã hội

Kết quả nghiên cứu giúp cơ quan quản lý nhận ra các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững tại địa phương nhằm có chính sách phù hợp

để phát triển du lịch bền vững có sự đóng góp tích cực của người dân địa phương

Từ khóa: ý định, du lịch bền vững, cộng đồng, Quy Nhơn

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự phát triển ngành du lịch trong những năm qua đã và đang tạo ra những đóng góp hết sức đáng kể cho mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ Việt Nam với lợi thế tài nguyên

du lịch phong phú đã vươn lên trở thành điểm đến hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước Cụ thể, năm 2014 Việt Nam đón tiếp và phục vụ 7.874.312 lượt khách quốc tế (tăng 4% so với năm 2013), 38,5 triệu lượt khách nội địa (tăng 10%) và tổng thu từ khách du lịch đạt 230.000 tỷ đồng (tăng 15%) Đây là được xem là thành công của du lịch Việt Nam bởi vì trong năm 2014, ngành du lịch gặp phải những khó khăn, thách thức không nhỏ vì tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, căng thẳng chính trị giữa một số quốc gia, xung đột sắc tộc, kinh tế thế giới hồi phục chậm và không đồng đều giữa các nền kinh tế sau suy thoái toàn cầu (Truyền Phương, 15/01/2015)

Tuy nhiên, sự phát triển ngành du lịch đang đối mặt với thách thức không nhỏ liên quan đến phát triển du lịch bền vững Theo đó, việc phát triển du lịch hiện nay bên cạnh phát triển đồng bộ các sản phẩm du lịch có chất lượng, có khả năng thu hút khách cao, song lại không gây phương hại đến môi trường địa phương và văn hóa bản địa, thậm chí phải có trách nhiệm bảo tồn và phát triển chúng (Phạm Trung Lương, 2002)

Tổ chức Du lịch Thế giới UNWTO (2005) chỉ ra rằng để phát triển du lịch bền vững cần phải tập trung vào các khía cạnh: (1) Môi trường: sử dụng tốt nhất các tài nguyên môi trường đóng vai trò chủ yếu trong phát triển du lịch, duy trì quá trình sinh thái thiết yếu, và giúp duy trì di sản thiên nhiên và đa dạng sinh học tự nhiên; (2) Văn hóa – xã hội: tôn trọng tính trung thực về xã hội và văn hóa của các người dân, bảo tồn di sản văn hóa và các giá trị truyền thống đã được xây dựng và đang sống động, và đóng góp vào sự hiểu biết và chia sẻ liên văn hóa; (3) Kinh tế: bảo đảm sự hoạt động kinh tế tồn tại lâu dài, cung cấp những lợi ích kinh tế xã hội tới tất cả những người hưởng lợi

và được phân bổ một cách công bằng, bao gồm cả những nghề nghiệp và cơ hội thu lợi nhuận ổn định và các dịch vụ xã hội cho các người dân, và đóng góp vào việc xóa đói giảm nghèo Như vậy, sự tham gia tích cực của người dân vào chương trình phát triển

du lịch bền vững tại địa phương là một trong những giải pháp nhằm phát triển du lịch bền vững (Phạm Trung Lương, 2002)

Bình Định là địa phương nằm trong khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, được thiên nhiên ban tặng cảnh quan đa sắc màu với bờ biển dài, núi non trùng điệp, nhiều

Trang 14

địa danh nổi tiếng gắn liền với các di tích lịch sử - văn hóa nổi tiếng tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển du lịch Cụ thể, với 134 km bờ biển Bình Định sở hữu nhiều bãi tắm đẹp nổi tiếng, rộng hàng trăm ha, còn rất hoang sơ với bờ cát trắng mịn thoai thoải, nước biển trong xanh, quanh năm tràn ngập ánh nắng như: Quy Nhơn, Hải Giang, Trung Lương, Tân Thanh, Vĩnh Hội và nhiều đảo gần bờ như Nhơn Châu, Hòn Khô, Đảo Yến,… Là nguồn tài nguyên to lớn cho sự phát triển các sản phẩm về du lịch nghỉ dưỡng biển Ngoài ra, với các dạng địa hình phong phú đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên đặc sắc hòa quyện giữa đồng bằng, đồi núi, sông suối, và biển cả với nhiều thắng cảnh độc đáo: Ghềnh Ráng - Tiên Sa, bán đảo Phương Mai, Hầm Hô, Hồ Núi Một, suối khoáng nóng Hội Vân, chùa Hang, đầm Trà Ổ, Đầm Thị Nại,… Bên cạnh di sản thiên nhiên biển đảo phong phú, Bình Định còn là nơi tập trung nhiều giá trị văn hóa lịch sử và văn học dân tộc Miền đất này có bảy cụm tháp còn nguyên vẹn

và 52 phế tích đền tháp, kiến trúc, nghệ thuật Chămpa Bình Định còn là nơi khai sinh

và phát triển nhiều bộ môn nghệ thuật độc đáo như: nghệ thuật hát Bội (Tuồng), bài Chòi Nơi đây còn là miền đất võ với những làng võ, lò võ và những bài quyền, roi nổi tiếng đã đi vào lịch sử với câu ca dao: “Ai về Bình Định mà coi /Con gái Bình Định bỏ roi đi quyền” Bình Định nổi tiếng với những món ăn đặc sản lạ miệng mang nét đặc trưng văn hóa của miền đất võ như: Rượu Bàu Đá, Nem chợ huyện, bánh Ít lá gai, bún Chả cá Quy Nhơn, bánh Hỏi lòng heo, bún Song Thằn,… Những điều này khiến Bình Định trở thành “trung tâm” trong chuỗi liên kết phát triển kinh tế vùng duyên hải miền Trung, vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên với các tỉnh Nam Lào và Đông Bắc Campuchia, đặc biệt là phát triển mạnh ngành công nghiệp không khói du lịch

Theo thống kê của Phòng Nghiệp vụ du lịch, 9 tháng đầu năm 2015, tổng số khách du lịch đến Bình Ðịnh ước trên 2,113 triệu lượt người, tăng 24% so với cùng kỳ năm 2014; trong đó khách quốc tế 167.288 lượt người, tăng 23% Tổng doanh thu du lịch 9 tháng ước trên 832 tỷ đồng, tăng 32% so với cùng kỳ năm 2014 (Nguyễn Thị Thanh, 07/10/2015)

Các nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng người dân dân cư địa phương đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển du lịch (Hall et al, 2005) Tuy nhiên, nhận thức và chủ động phát huy vai trò của người dân trong phát triển du lịch vẫn còn hạn chế ở Việt Nam nói chung và thành phố biển Quy Nhơn – Bình Định nói riêng Vì vậy, là học viên của ngành Quản trị kinh doanh, là một người con của tỉnh Bình Định,

Trang 15

với mong muốn nghiên cứu phát huy vai trò của người dân trong phát triển du lịch địa

phương tôi quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham

gia phát triển du lịch bền vững của người dân tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định” để nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia phát triển bền vững du lịch biển của người dân tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định Từ đó, giúp cho chính quyền địa phương và các nhà quản lý du lịch hiểu rõ hơn về vai trò của người dân trong phát triển du lịch, tìm ra các chính sách và giải pháp để phát triển du lịch bền vững trong thời gian tới

2.2 Mục tiêu cụ thể

Đề tài có ba mục tiêu cụ thể sau: một là xác định các yếu tố ảnh hưởng ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân dân cư địa phương tại Quy Nhơn, tỉnh Bình Định; hai là đánh giá mức độ quan trọng của từng yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia của người dân dân cư địa phương trong phát triển bền vững du lịch; ba

là đề xuất những giải pháp và kiến nghị chính sách nhằm nâng cao vai trò của người dân địa phương trong phát triển bền vững du lịch

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là khung lý thuyết về vai trò của người dân địa phương trong phát triển bền vững du lịch Khách thể nghiên cứu là người dân địa phương trong phạm vi thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp với các dữ liệu đã được công bố thông qua các nguồn: Cục thống kê, sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Bình Định, Trung tâm xúc tiến du lịch để đánh giá sơ bộ về phát triển bền vững du lịch biển tại địa phương Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp định lượng kiểm định

mô hình này tại Quy Nhơn, với số lượng được khảo sát dự kiến là 230 người Toàn bộ

dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS Xử lý dữ liệu gồm có bốn bước: một là làm sạch dữ liệu; hai là kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Anpha để kiểm định sự tương quan giữa các biến và loại bỏ các biến có độ tin cậy

Trang 16

không phù hợp; ba là phân tích nhân tố khám phá EFA tìm ra các nhân tố ảnh hưởng tới ý định tham gia phát triển du lịch bền vững; bốn là phân tích hồi quy tuyến tính nhằm xác định mức độ tác động của các nhân tố đến ý định tham gia phát triển bền vững du lịch

5 Đóng góp của đề tài

5.1 Về mặt lý luận

Đề tài nghiên cứu ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định nhằm chỉ ra và xem xét các yếu tố ảnh hưởng ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân Tìm ra đâu là các nhân tố cơ bản có ảnh hưởng nhiều đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững tại địa phương

Trong giai đoạn hiện nay ngành du lịch của thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định ngày càng phát triển bền vững, đề tài xem xét các khía cạnh liên quan đến mức độ tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân tại đây Các yếu tố xem xét kiểm

soát tác động đến ý định tham gia của người dân như trình độ học vấn, tuổi tác, thu nhập, khu vực sống của họ có gần biển hay không, thời gian họ gắn bó với Quy Nhơn

5.2 Về mặt thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm cơ sở để các cấp quản lý phát triển du lịch tại địa phương có chính sách khuyến khích người dân tham tham gia phát triển du lịch bền vững Góp phần bảo vệ lợi ích lâu dài của người dân, đồng thời bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường, và giá trị văn hóa của người dân

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu thành 4 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu ý định tham gia phát triển du

lịch bền vững

Chương 2: Tổng quan về phát triển du lịch bền vững tại thành phố Quy Nhơn,

tỉnh Bình Định và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu về ý định tham gia phát triển du lịch bền vững tại

thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

Chương 4: Kết luận và kiến nghị

Trang 17

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Ý ĐỊNH

THAM GIA PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

1.1 Cơ sở lý thuyết liên quan đến phát triển du lịch bền vững

1.1.1 Khái niệm du lịch

Vào thời kỳ đồ đá, con người “đi” vì sự sinh tồn, vì tránh đói, tránh rét, tránh sợ hãi Đến thời kỳ cường thịnh của đế quốc La Mã, các chuyến du ngoạn bằng ngựa đã mang mục đích tiêu khiển của những tầng lóp thống trị Sự ra đời của tàu hỏa vào thế

kỷ XIX đã tạo động lực cho giao thông phát triển, đồng thời cũng tạo điều kiện cho du lịch phát triển hơn Sau đó đến sự có mặt của tàu thủy, ô tô, máy bay, làm cho du lịch ngày càng trở nên gần gũi với con người hơn Từ giữa thế kỷ 19, du lịch bắt đầu phát triển mạnh và ngày nay đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến Nhiều nước đã lấy chỉ tiêu đi du lịch của dân cư là một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc sống Tuy nhiên, khái niệm “Du lịch” được hiểu rất khác nhau tại các quốc gia khác nhau và từ nhiều góc độ khác nhau của con người Năm 1925, Hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch được thành lập tại Hà Lan, đánh dấu bước ngoặt trong việc thay đổi, phát triển các khái niệm về du lịch Đầu tiên, du lịch được hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc nhóm người, rời khỏi nơi ở của mình trong khoảng thời gian ngắn, đến các vùng xung quanh để nghỉ ngơi, giải trí hay chữa bệnh

Khái niệm chung về du lịch: “Du lịch là tổng hợp các hiện tượng và các mối quan hệ phát sinh từ tác động qua lại giữa khách du lịch, nhà kinh doanh, chính quyền

và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và tiếp đón khách du lịch” Định nghĩa của Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa, Canada diễn ra vào tháng 6 năm 1991: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm” Trong định nghĩa trên đã quy định rõ mấy điểm sau: Một là ngoài “Môi trường thường xuyên”, có nghĩa là loại trừ các chuyến đi trong phạm vi nơi ở thường xuyên các chuyến đi có tổ chức thường xuyên hàng ngày, các chuyến đi thường xuyên định kỳ có tổ chức phường hội giữa nơi ở và nơi làm việc và các chuyến đi phường hội khác có tổ chức thường xuyên hằng ngày; Hai là “Khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức

du lịch quy định trước” - sự quy định này nhằm loại trừ di cư trong một thời gian dài; Ba

Trang 18

là “Không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm” -

có nghĩa là loại trừ việc hành nghề lâu dài hoặc tạm thời

Theo Tổ chức Du lịch Thế giới WTO (World Tourist Organization): “Du lịch

bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư”

Theo điều 10, Luật Du lịch Việt Nam (2005): “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí và nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” Từ những khái niệm trên, có thể rút ra bốn luận điểm cơ bản về du lịch như sau: Thứ nhất, du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên; Thứ hai, chuyến du lịch ở nơi đến mang tính tạm thời, trong một thời gian ngắn; Thứ ba, mục đích của chuyến du lịch là thỏa mãn nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng hoặc kết hợp đi

du lịch với giải quyết những công việc của cơ quan và nghiên cứu thị trường, nhưng không vì mục đích định cư hoặc tìm kiếm việc làm để nhận thu nhập ở nơi đến, nơi viếng thăm; Thứ tư, du lịch là thiết lập mối quan hệ giữa khách du lịch với nhà cung ứng các dịch vụ du lịch, chính quyền địa phương và dân cư địa phương

1.1.2 Khái niệm phát triển bền vững

Từ thế kỷ XIX, qua thực tiễn quản lý rừng ở Đức, người ta đã đề cập tới sự “phát triển bền vững” Nhưng mãi đến thập kỷ 80 của thế kỷ XX, khái niệm này mới được phổ biến tương đối rộng rãi

Năm 1980, IUCN cho rằng “phát triển bền vững” phải và cân nhắc đến việc khai thác các tài nguyên có khả năng phục hồi và không phục hồi, cần xem xét các điều kiện khó khăn cũng như thuận lợi trong việc tổ chức xen kẽ các hoạt động ngắn và dài hạn Đến năm 1987, ủy ban môi trường và phát triển thế giới WCED do bà Grohalem Brandtland thành lập đã công bố thuật ngữ “phát triển bền vững” trong bản báo cáo

“Tương lai chúng ta” như sau: “Phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển có thể

đáp ứng những điều kiện hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”

Trang 19

Theo ông Jordan Ryan - đại diện thường trú của UNDP tại Việt Nam thì “phát triển bền vừng là một quá trình đảm bảo tăng tối đa phúc lợi của xã hội và xóa bỏ đói nghèo thông qua việc quản lỷ ở mức tối ưu và có hiệu quá tài nguyên thiên nhiên” Ông khẳng định phát triển bền vững nằm ở phần giao nhau của 3 vòng tròn: bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường Cũng theo ông, chúng ta không nên coi phát triển bền vững như một phương tiện thuận lợi để gom tất cả các vấn đề về kinh tế, xã hội và môi trường lại với nhau, mà cần có một quan điểm toàn diện để đảm bảo các chính sách có tác dụng hỗ trợ thay vì mâu thuẫn nhau

Hình 1.1 Mô hình phát triển bền vững theo quan điểm của Jordan Ryan

Trong Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất tháng 6 năm 1992 tại Rio De Janeiro,

“phát triển bền vững được hình thành trong sự hòa nhập, xen cài và thỏa hiệp giữa ba

hệ thống là hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệ xã hội

Bà Nguyễn Ngọc Lý (Trưởng ban Phát triển bền vững - UBND thành phố Hà Nội) cũng đồng ý với các định nghĩa về phát triển bền vững của hội nghị Rio De Janeiro, cho rằng khái niệm về phát triển bền vững cần được vận dụng linh hoạt tùy theo từng thời điểm lịch sử, từng nền kinh tế - xã hội khác nhau và tùy theo những nền văn hóa khác nhau của các quốc gia

Ngoài ra, còn có một số tác giả cho rằng: “phát triển bền vững bên cạnh yếu tố là bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường, cần phải có cả sự bền vững về an ninh, chính trị và bảo đảm công bằng xã hội Khái niệm phát triển bền vững mang tính chất toàn cầu nên không thể hiểu phát triển bền vững chỉ trong phạm vi một nước mà phải tính đến những yếu tố hợp tác quốc tế, yếu tố phối hợp phát triển giữa các quốc gia, nhất là những ảnh hưởng trong lĩnh vực môi trường

Ngày nay, tất cả các quốc gia đều đề cập đến “phát triển bền vững” trong quá trình hoạch định chính sách và quản lý phát triển kinh tế với ý muốn nhấn mạnh phương thức

và việc sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực của sự phát triển

Trang 20

Tuy hiện nay có khá nhiều quan điểm khác nhau về phát triển bền vững, song tựu

trung, tất cả đều thống nhất ở các nội dung sau: “Phát triển bền vững là sự phát triển hài

hòa cả về 3 mặt: Kinh tế, xã hội và môi trường để đáp ứng những nhu cầu về đời sống

vật chất, văn hóa, tinh thần của thế hệ hiện tại nhưng không làm tồn hại, gây trở ngại

đến khả năng cung cấp tài nguyên để phát triển kinh tế - xã hội mai sau, không làm giảm chất lượng cuộc sống của các thế hệ trong tương lai”

Hình 1.2 Mô hình phát triến bền vững của ngân hàng Thế giới World Bank

Hình 1.3 Mô hình phát triến bền vững của Villen, 1990

Như vậy, muốn phát triển bền vững thì phải cùng đồng thời thực hiện ba mục tiêu: (1) Phát triển có hiệu quả về kinh tế; (2) Phát triển hài hòa các mặt xã hội; nâng cao mức sống, trình độ sống của các tầng lớp dân cư; (3) Cải thiện môi trường môi sinh, bảo đảm

phát triển lâu dài vững chắc cho thế hệ hôm nay và mai sau (Hình 1.2 và Hình 1.3)

Trang 21

1.1.3 Khái niệm phát triển du lịch bền vững

Theo WTO (1992) đưa ra tại hội nghị về mô trường và phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janerio thì “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái

và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người” (Phạm Trung Lương, 2002)

Phát triển du lịch bền vững là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tự nhiên

và nhân văn nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai; cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương

Du lịch bền vững là việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách

có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên (và tất cả những đặc điểm văn hoá kèm theo, có thể là trong quá khứ và cả hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tê - xã hội của cộng đồng địa phương (World Conser Vation Union, 1996) Du lịch bền vững có 3 hợp phần chính (Kibert et al, 2011), đôi khi được

ví như “ba chân” như sau:

Thứ nhất là thân thiện môi trường, du lịch bền vững có tác động thấp đến nguồn lợi tự nhiên, giảm thiểu các tác động đến môi trường (động thực vật, các sinh cảnh sống, nguồn lợi sống, sử dụng năng lượng và ô nhiễm…) và cố gắng có lợi cho môi trường Thứ hai là gần gũi về xã hội và văn hoá, nó không gây hại đến các cấu trúc xã hội hoặc văn hoá của cộng đồng nơi mà chúng được thực hiện Thay vào đó thì nó lại tôn trọng văn hoá và truyền thống địa phương Khuyến khích các bên liên quan (các cá nhân, cộng đồng, nhà điều hành tour, và quản lý chính quyền) trong tất cả các giai đoạn của việc lập kế hoạch, phát triển và giám sát, giáo dục các bên liên quan về vai trò của họ

Trang 22

Thứ ba là có kinh tế, nó đóng góp về mặt kinh tế cho cộng đồng và tạo ra những thu nhập công bằng và ổn định cho cộng đồng địa phương cũng như càng nhiều bên liên quan khác càng tốt Nó mang lợi ích cho người chủ, cho nhân viên và cả người xung quanh Nó không bắt đầu một cách đơn giản để sau đó sụp đổ nhanh do các hoạt động kinh doanh nghèo nàn Một đơn vị kinh doanh du lịch mà có đủ 3 tiêu chí trên thì

“sẽ kinh doanh tốt nhờ làm tốt” Điều này có nghĩa là việc thực hiện kinh doanh du lịch trong nhiều cách có thể không phá huỷ các nguồn lợi tự nhiên, văn hoá và kinh tế, nhưng cũng khuyến khích đánh giá cao những nguồn lợi mà du lịch phụ thuộc vào Việc kinh doanh mà được thực hiện dựa trên 3 tiêu chí này có thể tăng cường việc bảo tồn nguồn lợi tự nhiên, đánh giá cao giá trị văn hoá và mang lợi tức đến cho cộng đồng

và có thể cũng sẽ thu lợi tức

1.1.4 Mô hình phát triển du lịch bền vững

1.1.4.1 Mô hình phân tích lợi ích và chi phí

Các học giả Ba Lan cũng đã nỗ lực để trình bày bản chất của du lịch bền vững ở một dạng mô hình Du lịch bền vững (ST) đề cập chủ yếu là ba loại hình du lịch (Durydiwka

et al, 2010), tức là: 1) liên quan đến các giá trị môi trường tự nhiên (STnatural); 2) liên quan đến các giá trị môi trường văn hóa (STcultural); 3) yêu cầu từ khách du lịch kỹ năng nhất định (STqualifying) Có tính đến các loại hình du lịch mà họ trình bày ý tưởng của du lịch bền vững như công thức sau đây:

ST=STnatural+STcultural+STqualifying+(STnatural/k x STcultural/k x STqualifying/k)

với k là hệ số hiệu chỉnh

Theo các tác giả, công thức này đề cập đến khái niệm toàn diện về du lịch bền vững, có nghĩa là nó phải được hiểu như là một sự kết hợp của các loại hình du lịch, bổ sung bởi các mục tiêu chung, chẳng hạn như quan tâm đến môi trường tự nhiên, hạn chế những tác động tiêu cực cho người dân địa phương, mang lại lợi ích kinh tế cho khu vực tiếp nhận và đáp ứng các nhu cầu của du khách du lịch

Mô hình này được thể hiện trong sơ đồ (Hình 1.4), giả định chính là mô hình dựa

trên các biến, các yếu tố mô hình cân bằng và sự thay đổi của nó, yếu tố ảnh hưởng đến các biến, và các khả năng và hạn chế về việc sử dụng các mô hình

Trang 23

Hình 1.4 Mô hình phân tích lợi ích chi phí phát triển du lịch bền vững

Giải thích cho mô hình

(1) Lợi ích từ du lịch - lợi ích thu được khi du khách tham quan một điểm đến và

lợi ích của người dân địa phương (bao gồm đơn vị kinh doanh du lịch, cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức khác), kết quả từ sự phát triển của du lịch:

Mức lợi ích thấp nhất chấp nhận được (Bmin): biểu thị mức độ chấp nhận tối thiểu của nhu cầu cao nhất của khách du lịch và người dân địa phương, dưới mức này những lợi ích thu được sẽ được đánh giá là không đủ; giá trị Bmin được đo bằng giá trị

số của các điểm Bmin trên trục Ox của đồ thị

Mức lợi ích cao nhất (Bmax): biểu thị mức độ chấp nhận tối đa (trong điều kiện du lịch bền vững) của mức nhu cầu cao nhất của khách du lịch và người dân địa phương; giá trị Bmax được đo bằng giá trị số của các điểm Bmax ở trên trục Ox của đồ thị

Lợi ích thực (Breal): biểu thị mức độ thực của lợi ích thu được bởi khách du lịch

và cộng đồng địa phương liên quan đến phát triển du lịch trên một điểm đến nhất định Trong thành phần của lợi ích có hai nhóm tham gia cơ bản (du khách và, cộng đồng địa phương), trong đó có thể có lợi ích đối lập Để cân bằng lợi ích (đảm bảo tính bền vững) giữa những lợi ích của khách du lịch và cộng đồng địa phương, như một yếu tố của sự cân bằng chung (bền vững), các tác giả đã tạo ra một mô hình phụ hỗ trợ

Trang 24

nhằm cân bằng các thành phần có lợi Các giả định của mô hình này đã được chuyển giao với trục Ox của mô hình chính

(2) Chi phí phát triển du lịch - suy thoái môi trường tự nhiên và tổ hợp môi

trường xã hội (xã hội, văn hoá, kinh tế) trên một khu vực tiếp nhận du lịch:

Mức suy thoái cao nhất có thể chấp nhận (Dmax): biểu thị mức chấp nhận cao nhất về du lịch bền vững (tức là không được dẫn đến những thay đổi không thể đảo ngược) mức độ xuống cấp của cả hai môi trường; giá trị Dmax được đo bằng giá trị số của các điểm Dmax trên trục Oy của đồ thị

Mức suy thoái không thể tránh khỏi (Dunav): biểu thị mức độ suy thoái không thể tránh khỏi của cả hai môi trường do phát triển du lịch bền vững; giá trị Dunav được đo bằng giá trị số của các điểm Dunav trên trục Oy của đồ thị

Suy thoái thực (Dreal): mức độ thực sự của sự xuống cấp của môi trường tự nhiên

và môi trường kinh tế xã hội xảy ra tại một điểm đến liên quan đến phát triển du lịch Mục đích của việc xây dựng mô hình du lịch bền vững là trình bày một cách đầy

đủ, rõ ràng và đơn giản như hình thức bản chất của du lịch bền vững trong quan điểm ngắn hạn Các tác giả dự định mô hình đề xuất, thiết kế như là một cấu trúc lý thuyết, thể hiện một cách đầy đủ nhất những ý tưởng của du lịch bền vững Mô hình này được

dự định được linh hoạt, tức là có thể áp dụng trong mọi điều kiện, trên tất cả các khu vực tiếp nhận, với mỗi loại hình du lịch Một điều kiện, mà đã được yêu cầu để đáp ứng tất cả các tiêu chí khác, là cần thiết để sử dụng chức năng phụ thuộc toán học và

Trang 25

Bảng 1.1 Phát triển du lịch bền vững và không bền vững

Các yếu tố đánh giá Du lịch bền vững Du lịch không bền vững

khai tùy tiện

Nguồn: Machado A (2003), Tourism and Sustainable Development, Capacity Building for Tourism Development in VietNam, VNAT and FUDESO, VietNam

1.2 Cộng đồng địa phương và vai trò đối với phát triển du lịch bền vững

1.2.1 Khái niệm cộng đồng địa phương

Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng thường được dùng để chỉ nhiều đối tượng có những đặc điểm tương đối khác nhau về qui mô và đặc tính xã hội Ý nghĩa rộng nhất của cộng đồng là tập hợp người với các liên minh rộng lớn như toàn thế giới

Trang 26

(cộng đồng thế giới), một châu lục (cộng đồng Châu Âu…), một khu vực (cộng đồng Đông Nam Á…) Cộng đồng còn được áp dụng để chỉ một kiểu xã hội, căn cứ vào những đặc tính tương đồng về sắc tộc, chủng tộc hay tôn giáo Nhỏ hơn nữa, cộng đồng được dùng khi gọi tên các đơn vị làng, bản, xã, huyện… Trong các chương trình phát triển có sự tham gia của cộng đồng, khái niệm này được hiểu trên phạm vi hẹp hơn Cộng đồng là những nhóm người được tập hợp dưới nhiều hình thức khác nhau như theo lứa tuổi, nghề nghiệp, huyết thống, khu vực địa lý, tổ chức đoàn thể, sở thích

Sự hình thành cộng đồng thường dựa vào các yếu tố: lãnh thổ, kinh tế và văn hóa Khái niệm cộng đồng bao gồm các yếu tố: tương quan cá nhân mật thiết với những người khác; có sự liên hệ tình cảm; có sự tự nguyện hy sinh đối với những giá trị được tập thể coi là cao cả; có ý thức đoàn kết mọi thành viên trong tập thể Cộng đồng là một tập thể người định cư trên lãnh thổ nhất định Họ có hoạt động kinh tế để đảm bảo về mặt vật chất và tạo nên sự gắn kết cộng đồng Đây là nhân tố quan trọng giúp cho một cộng đồng phát triển vững mạnh Mỗi cộng đồng có những nét văn hóa đặc trưng riêng, được hình thành trong quá trình phát triển của cộng đồng đó Đó là phong tục tập quán, các quy ước, tín ngưỡng tôn giáo…được lưu truyền từ đời này sang đời khác

Hầu hết nghiên cứu trước nói về “cộng đồng” như một đơn vị không gian nhỏ, cấu trúc xã hội đồng nhất với mức độ chia sẻ và lợi ích chung Cộng đồng địa phương

là nhóm người với một bản sắc chung và những người có thể được tham gia vào một loạt các khía cạnh liên quan của đời sống Họ cũng lưu ý rằng cộng đồng địa phương thường có quyền liên quan đến khu vực và tài nguyên thiên nhiên, mối quan hệ mạnh

mẽ về văn hóa, xã hội, kinh tế và tinh thần Nghiên cứu khác phát biểu rằng một cộng đồng dùng để chỉ một nhóm các cá nhân sinh sống hoặc làm việc trong khu vực địa lý cùng với một số chia sẻ về văn hóa hoặc lợi ích chung (Aref & Gill, 2010)

Trong du lịch, cộng đồng thường được xác định theo phân bố địa lý Theo một nghiên cứu khác thì “Cộng đồng là một nhóm người, thường sống trên cùng một khu vực địa lý, nhận biết bản thân họ thuộc cùng một nhóm Các thành viên trong một cộng đồng thường có quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân Tất cả họ có thể thuộc về cùng một nhóm tôn giáo, chính trị, tầng lớp hoặc đẳng cấp” Ngoài những đặc điểm chung, cộng đồng là một thực thể phức tạp và không đồng nhất Trong cùng một cộng đồng, có người giàu và người nghèo, người mới nhập cư và những cư dân bản địa, người có nhiều đất đai và người không có đất Sự phân hóa trong cộng đồng dẫn đến mức độ tham gia

Trang 27

và hưởng lợi khác nhau của thành viên trong một cộng đồng trong các chương trình, dự

án phát triển cộng đồng, do đó ẩn chứa những xung đột xảy ra trong cộng đồng (Israr et

1.2.2 Vai trò của cộng đồng địa phương đối với phát triển du lịch

Đối với cư dân địa phương, du lịch không chỉ có những tác động kinh tế mà còn tác động đến cuộc sống cá nhân họ Du lịch tác động lên cách sống, truyền thống và văn hoá cũng như sinh kế của họ Không giống như những người tham gia khác trong ngành du lịch, cộng đồng địa phương sẽ phải giải quyết với du lịch cho dù họ có chọn hay không (Salam, 2009) Một số cộng đồng vùng xa nơi mà thường là rất yên tĩnh và

an bình, đã bị phát hiện cho các hoạt động của du khách quốc tế, những người mà phần lớn chỉ đi qua và không ở lâu để gặp gỡ với cộng đồng địa phương Các cư dân địa phương cần phải hoà nhập những phản ứng với việc xâm nhập này Một số không muốn làm gì với du khách, nhưng một số bị hấp dẫn bởi những cơ hội việc làm Cho

dù những phản ứng đầu tiên này như thế nào, các cư dân địa phương thường là chưa có những chuẩn bị cho những nhu cầu của du khách Họ thường không thể cạnh tranh với các ngành du lịch lớn và không hiểu những mong muốn hoặc thói quen của những du khách tự do này, những người thích khám phá những vùng mới Các thành viên cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong du lịch Họ có thể thực hiện nhiều vai trò trực tiếp trong ngành du lịch như: Cho thuê đất cho việc phát triển; Làm việc bán thời gian, toàn thời gian hoặc thời vụ cho những nhà điều hành tư nhân; Cung cấp những dịch vụ cho các nhà điều hành tư nhân như thức ăn, hướng dẫn viên, giao thông, nhà nghỉ; Hình thành liên kết với các nhà điều hành tư nhân, những người cung cấp thị trường, hậu cần, hướng dẫn viên đa ngôn ngữ, trong khi đó thì cộng đồng cung cấp những dịch

vụ còn lại; Thực hiện các chương trình du lịch tự do dựa vào cộng đồng

Cho dù cộng đồng địa phương có hay là không tham gia trực tiếp vào ngành du lịch, nhưng họ cũng đóng nhiều vai trò gián tiếp mà tác động đến sự thành công của bất

Trang 28

cứ doanh nghiệp du lịch bền vững nào Sự giao lưu không chính thức của cộng đồng địa phương với du khách có vai trò lớn trong việc mở rộng thêm những trải nghiệm của du khách về những cái tích cực như du khách cảm thấy được sự hiếu khách, an toàn và tiện nghi Các chủ đất địa phương cũng có thể có vài trò quan trọng đối với sự lành mạnh sinh thái của vùng, đặc biệt là ở vùng đệm của khu bảo tồn biển, gần bờ biển, xung quanh cửa sông… Nhà cửa, thị xã, gia đình và cuộc sống cũng sẽ bị thay đổi nếu du lịch trở thành một phần quan trọng của vùng này (Gutierrez et al, 2005)

Một trong những đóng góp lớn nhất của du lịch bền vững là khả năng để chuyển những “đe doạ” thành những “lợi ích” cho cộng đồng địa phương (Gutierrez et al, 2005) Các cư dân địa phương đóng vai trò quan trọng trong du lịch bền vững do 2 nguyên nhân chính sau Trước hết, địa điểm và nhà của họ đang thu hút nhiều du khách Tiếp theo, việc hỗ trợ của cư dân địa phương là cần thiết cho sự thành công của những nỗ lực bảo tồn bao gồm cả du lịch bền vững Thêm vào đó, những hiểu biết truyền thống và địa phương thường là những hợp phần chính của những trải nghiệm và giáo dục thu hút du khách

Những tác động tiêu cực về môi trường, văn hoá và xã hội của việc phát triển du lịch không bền vững tác động đến cư dân địa phương một cách sâu sắc nhất Các cộng đồng truyền thống và những người bản xứ có thể đóng vai trò chính trong việc bảo tồn đang dạng sinh học, nhưng chỉ được nhận ra trong thời gian gần đây và vấn đề quan trọng liên quan đến sự tham gia, sử dụng đất và nguồn lợi và vấn đề dân chủ cũng cần được xem xét trong hoàn cảnh phát triển du lịch Du lịch có thể phát triển và tăng trưởng khi người dân địa phương có một thái độ tích cực đối với nó và khi họ nhìn thấy vai trò của họ trong quá trình phát triển du lịch (Ambro`, 2008)

1.3 Lý thuyết TPB ứng dụng trong lĩnh vực du lịch

Lý thuyết TPB tồn tại cách đây hơn 20 năm, nó được chứng mính rằng nó là lý thuyết hữu ích để dự đoán hành vi của con người Lý thuyết TPB là một lý thuyết cho việc thực hiện những dự đoán liên quan đến việc xây dựng và thực hiện kế hoạch và hành động TPB là một lý thuyết mà nhìn vào những hành vi thay đổi thông qua ảnh hưởng của ý định Về lý thuyết, các dự báo xu hướng của hành vi của một người là ý định của họ để tham gia tạo hành vi Xu hướng hành vi được xác định bởi thái độ đối với các hành vi, mức chủ quan và kiểm soát các hành vi (Ajzen, 1991)

Trang 29

Các thành phần đầu tiên của TPB là thái độ mà nó đo lường mức độ mà một cá nhân có một đánh giá thuận lợi hay bất lợi của hành vi Điều này lần lượt được dự đoán bởi tổng của các sản phẩm của niềm tin về kết quả của các hành vi và đánh giá về những kết quả đó Thành phần thứ hai là chuẩn chủ quan, nó được sử dụng để đo lường sự ảnh hưởng của người khác đối với các hành vi, mà lần lượt được dự đoán bằng tổng của các tín ngưỡng, quy phạm và động lực để thực hiện Thành phần thứ ba

là kiểm soát hành vi, nó phản ánh tín ngưỡng liên quan đến việc tiếp cận các nguồn lực

và cơ hội cần thiết để thực hiện hành vi

Hình 1.5 Thuyết hành vi dự định – TPB (Ajzen, 1991)

Kết quả là, lý thuyết có thể được sử dụng để dự đoán hành vi người dân, mục tiêu của nghiên cứu này là dự đoán xu hướng hành vi của người dân đối với hoạt động phát triển du lịch bền vững Các phần khác trong nghiên cứu sẽ xây dựng trên du lịch bền vững và xem xét lại các nghiên cứu liên quan đến TPB và phát triển du lịch bền vững TPB đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu như hành vi mua Internet (Celik, 2008; George, 2002; Jarvenpaa & Todd, 1997; Limayen et al, 2000) và trong các hệ thống thông tin thư viện (Mathieson, 1991; Taylor & Todd, 1995) TPB cũng được nhiều tác giả sử dụng nghiên cứu về du lịch như Lý thuyết TPB về du lịch bền vững (Hamid & Isa, 2015), Các ứng dụng của lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) trong du lịch tại Jordan (Ziadat, 2015)

Nghiên cứu ý định tham gia phát trển du lịch bền vững, tác giả dừng lại ở nghiên cứu xu hướng hành vi/ý định hành vi Ứng dụng TPB trong nghiên cứu ý định tham gia phát triển du lịch bền vững, thái độ ở đây là thái độ của người dân đối với phát triển du lịch bền vững; chuẩn chủ quan ở đây chính là các ảnh hưởng xã hội đối với

Trang 30

việc tham gia phát triển du lịch bền vững; tương đồng với kiểm soát hành vi cảm nhận

là kiểm soát rào cản đối với việc tham gia phát triển du lịch bền vững

1.3.1 Ý định tham gia phát triển du lịch bền vững

Ở các nước đang phát triển, sự tham gia của cộng đồng địa phương trong quá trình ra quyết định của sự phát triển du lịch thường mờ nhạt và trong quá trình ra quyết định luôn có giới hạn hoặc đôi khi không quan trọng (Dola & Mijan, 2006) Việc chấp nhận và nhấn mạnh vào sự tham gia của cộng đồng và cách tiếp cận cộng đồng để phát triển du lịch có nghĩa là họ phải được tham gia lập kế hoạch, ra quyết định và quản lý

dự án Bỏ qua sự tham gia của người dân vào phát là một thực tế phổ biến ở các nước đang phát triển có nền văn hóa phát triển theo lệnh từ trên xuống (Teye et al, 2002) Cater (1994) nhấn mạnh sự cần thiết cho sự tham gia của cộng đồng địa phương trong việc lập kế hoạch và quản lý du lịch, đặc biệt là trong bối cảnh các nước đang phát triển Drake (1991) đã tuyên bố rằng sự tham gia của người dân địa phương ngày càng được coi là nền tảng cho sự hiệu quả của việc lập kế hoạch và quản lý du lịch Thật vậy,

sự tham gia của cộng đồng trong phát triển du lịch không chỉ liên quan đến quá trình ra quyết định và lợi ích của việc phát triển du lịch, mà còn liên quan đến chiến lược du lịch bền vững (D‘Amore, 1992; Green, 1995; Leslie, 1993; Murphy, 1988) Tuy nhiên, có những trở ngại đáng kể đến sự tham gia cộng đồng trong hoạch định du lịch ở các nước đang phát triển như Iran Một trong những trở ngại liên quan đến sự chỉ thị ra quyết định của hệ thống quản lý Do đó, có hai vấn đề chính của hoạch định hệ thống phát triển: hệ thống theo từng ngành được chia nhỏ, và không có sự hiện diện đáng kể của sự tham gia của cộng đồng trong tiến trình hoạch định và quản lý (Mohammadi, 2010)

Một trong những lý do chính cho vấn đề này ở các nước đang phát triển, liên quan đến cấu trúc chính trị, kinh tế và xã hội của họ, đó là cơ sở hạ tầng cần thiết để tham gia vào việc ra quyết định không được cung cấp đồng thời (Dola & Mijan, 2006) Bên cạnh đó những rào cản hoạt động, cấu trúc và văn hóa với sự tham gia của cộng đồng được nhấn mạnh trong phát triển du lịch cộng đồng địa phương ở Iran (Aref & Redzuan, 2008) Họ phát hiện ra rằng những rào cản này không đồng đều tồn tại trong mỗi cộng đồng, nhưng thiếu sự tham gia của cộng đồng đã được xác định là rào cản quan trọng để phát triển du lịch hiệu quả

Lý thuyết hành vi tiêu dùng có kế hoạch (TPB) được mở rộng từ lý thuyết hành động hợp lý (TRA) TPB cho rằng thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và sự kiểm

Trang 31

soát hành vi là ba yếu tố quyết định đến ý định hành vi (Ajzen, 1991) Đồng thời, việc tích hợp vào mô hình nhân tố kiểm soát hành vi như một yếu tố quyết định về xu hướng hành

vi của khách hàng Nhân tố này được xem xét dưới góc độ kiểm soát niềm tin Nó bao gồm yếu tố niềm tin rằng việc thực hiện hành vi dễ dàng hay khó khăn phụ thuộc vào việc

sở hữu các nguồn tài nguyên thiết yếu và cơ hội để thực hiện một hành vi cụ thể

Theo lý thuyết TPB, ý định của một người là các dự báo gần của hành vi của họ tham gia tạo hành vi Do đó, ý định tham gia phát triển du lịch bền vững là các dự báo gần của hành vi của người dân, dự báo xác suất họ tham gia phát triển du lịch bền vững hay là không

Ý định tham gia phát triển du lịch bền vững là biến phụ thuộc, xu hướng hành vi này được giải thích bởi thái độ của người dân đối với phát triển du lịch bền vững, các ảnh hưởng xã hội đối với việc tham gia phát triển du lịch bền vững, đồng thời bị kiểm soát bởi các rào cản

1.3.2 Thái độ đối với phát triển du lịch bền vững

Thái độ được định nghĩa là một trạng thái tinh thần của cá nhân hướng tới một giá trị (Allport, 1966) và là một khuynh hướng lâu dài đối với một khía cạnh cụ thể của môi trường của một người (McDougall & Munro, 1987) Chúng được xây dựng dựa trên sự nhận thức và niềm tin của thực tại, nhưng có liên quan chặt chẽ với tổ chức sâu giá trị và nhân cách Theo Ajzen (1991), thái độ đối với hành vi liên quan đến mức độ đánh giá tích cực hay tiêu cực trong quá trình phát triển cùa hành vi Thái độ tích cực của cá nhân đối với một hành vi cụ thể cũng sẽ củng cố ý định thực hiện hành vi đó của cá nhân (Ajzen, 1991) Trong du lịch, thái độ của cộng đồng đối với du lịch là rất quan trọng bởi lập luận rằng một cộng đồng hạnh phúc có khả năng hỗ trợ phát triển du lịch và chào đón khách du lịch (Snaith & Haley, 1999) Thái độ đối với phát triển du lịch bền vững là thái độ tổng thể bao gồm thái độ đối với bảo vệ môi trường, thái độ đối với bảo vệ tài nguyên du lịch, thái độ đối với bảo vệ cơ sở vật chất hạ tầng, thái độ đối với bảo vệ bản sắc văn hoá địa phương, và thái độ đối với giữ gìn an ninh trật tự

Một là, thái độ với bảo vệ môi trường: các nghiên cứu về xu hướng trong thái độ

đối với các vấn đề môi trường trong vòng 20 năm qua, bao gồm các vấn đề như các mối

đe dọa gây ra bởi các vấn đề môi trường, hỗ trợ cho các hành động của chính phủ, sẵn sàng chi trả cho bảo vệ môi trường, mức độ nhận thức của các vấn đề môi trường và cân

Trang 32

bằng giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế (Dunlap & Scace, 1991) Họ kết luận rằng mối quan tâm của người dân về chất lượng môi trường đã được nâng cao Trong khi mức độ quan tâm về môi trường vẫn chưa rõ ràng, đa số nhìn thấy vấn đề môi trường nghiêm trọng, xấu đi, và ngày càng đe dọa đến mạng sống con người Sức khỏe con người ngày càng bi đe dọa liên quan đến tác động môi trường (Cooper et al, 1998) Môi trường sống lành mạnh mang đến nhiều lợi ích cho con người, điều đó hầu như mọi người dân đều biết rất lâu Chất lượng của môi trường tự nhiên đóng một vai trò quan trọng trong việc thu hút khách quốc tế đến các điểm du lịch (Kaltenborn et al, 2011) Tuy nhiên, trong ý thức người dân ít biết làm thế nào để giữ gìn môi trường sống sạch

sẽ, đặc biệt là môi trường biển Họ vô tư vức rác bừa bãi mọi nơi, trên đường phố, bãi biển, công viên,…Họ phá hoại môi trường một cách vô thức Bên cạnh đó cũng có một

số bộ phận người dân có thái độ tích cực bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh nơi công cộng, tổ chức các phong trào thu gom rác, làm sạch bãi biển, … Ý thức giữ gìn môi trường của cộng đồng nâng cao khi chính quyền địa phương tổ chức tuyên truyền các phong trào bảo vệ môi trường sống Môi trường tự nhiên được chú trọng bảo vệ, giữ gìn môi trường sạch sẽ nhằm mục đích thu hút nhiều hơn du khách chọn địa phương là điểm đến Điều này lại phát sinh vấn đề mới về môi trường, địa phương phải hy sinh một phần môi trường để xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà hàng, khách sạn phục vụ du khách, đánh bắt hải sản nhiều hơn, rác thải cũng tăng lên gây áp lực cho chính quyền địa phương trong công tác xử lý rác sinh hoạt

Du lịch là ngành công nghiệp lớn nhất thế giới có thể cung cấp môi trường lành mạnh và an toàn cho thị trường khách du lịch cũng như các ngành công nghiệp khác Các hoạt động hợp tác giữa môi trường và vấn đề du lịch đã được nhấn mạnh trong tuyên bố Manila cũng như các nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển Trong nhiều dự án du lịch với bảo tồn môi trường tự nhiên, văn hóa và xây dựng môi trường là một động lực quan trọng cho sự khởi đầu của dự án Hơn nữa, một số dự án

có xu hướng ngăn chặn các cộng đồng địa phương từ việc sử dụng bất hợp pháp và sử dụng quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như họ cố gắng tích hợp các khu vực tự nhiên được bảo vệ trong các kế hoạch và chương trình phát triển khu vực và địa phương Vì thế, du lịch có thể và nên đóng góp tích cực vào việc bảo vệ môi trường (Muhanna, 2006)

Hai là, thái độ với bảo vệ tài nguyên du lịch: Tài nguyên du lịch được hiểu là

cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình

Trang 33

sáng tạo của con người được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản

để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo sức hấp dẫn du lịch (Bùi Thị Hải Yến, 2009H) Người dân địa phương tích cực bảo vệ tài nguyên du lịch làm cho tài nguyên du lịch ngày càng phong phú, đặc sắc tăng thêm sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch Khai thác tài nguyên du lịch phục vụ hoạt động du lịch cũng cần chú ý đến vấn đề bảo tồn, tôn tạo tài nguyên, tránh tình trạng vì lợi ích trước mắt huỷ hoại tài nguyên du lịch, đặc biệt là tài nguyên thiên nhiên Tuy nhiên, đa số người dân không quan tâm đến giá trị lâu dài của tài nguyên du lịch, họ quan tâm lợi nhuận kinh doanh

Du lịch cũng có thể làm suy giảm môi trường Du khách tạo chất thải và gây ô nhiễm (không khí, nước, chất thải rắn, tiếng ồn, và thị giác) Sức hấp dẫn tài nguyên thiên nhiên có thể sẽ bị hủy hoại thông qua sử dụng không đúng cách hoặc lạm dụng Cung cấp các dịch vụ du lịch có thể thay đổi sự xuất hiện của cảnh quan Ví dụ, ô nhiễm thị giác có thể xảy ra từ việc xuất hiện ngày càng nhiều bảng quảng cáo Khi du lịch phát triển, nhu cầu đất tăng, đặc biệt là vị trí đắc địa như đối diện biển, điểm đặc biệt, và núi Nếu không có sự suy tính trước, cảnh quan thiên nhiên và không gian mở có thể bị mất Việc tiêu hủy hoặc mất mát của hệ thực vật và động vật có thể xảy ra khi cây ưa thích và động vật bị bắt để bán hoặc đất bị khai thác Khách du lịch hoặc các doanh nghiệp phục vụ cho chúng thường xuyên loại bỏ vật, động vật, đá, hóa thạch, san hô,

và các hiện vật văn hoá, lịch sử từ một khu vực Sự tham quan không kiểm soát được

Trang 34

hoặc lạm dụng bởi du khách có thể làm suy thoái cảnh quan, di tích lịch sử Ở đâu nước khan hiếm, nhu cầu của khách du lịch có thể cao hơn nguồn cung cấp có sẵn.Du khách cũng có thể vô tình giới thiệu những loài phi bản địa, bởi nó có thể tăng trong thương mại của động vật và thực vật Một dòng của du khách và vật nuôi trong nước

có thể phá vỡ động vật hoang dã do lo ngại các chu kỳ sinh sản của chúng và thay đổi hành vi tự nhiên (Kreag, 2001)

Ba là, thái độ với bảo vệ cở sở vật chất – hạ tầng: Phát triển du lịch giúp cải

thiện sức khỏe cộng đồng, cải thiện cơ sở vật chất xã hội và hạ tầng tiện nghi, giáo dục

và bảo tồn (Travis, 1984) Giao thông vận tải bằng đường hàng không, đường bộ, đường sắt và liên tục tăng để đáp ứng với sự gia tăng số lượng khách du lịch và tính di động cao hơn của họ (Sunlu, 2003) Cơ sở vật chất – hạ tầng hoàn thiện, hiện đại mang lại hiệu quả cho nhiều hoạt động kinh tế - xã hội, hoạt động du lịch là một trong số đó Giao thông thông suốt rút ngắn thời gian đi lại của du khách, tạo sự nhanh chóng thuận tiện đi đến nhiều hơn những điểm, khu du lịch trong địa phương Hạ tầng cung cấp điện, nước, thông tin hỗ trợ làm hài long du khách khi chọn địa phương làm điểm đến

du lịch Nhà hàng, khách sạn, trung tâm mua sắm, làm đẹp, thậm chí nhà dân đều hấp dẫn du khách Thái độ bảo vệ cơ sở vật chất – hạ tầng mang tính tích cực trong phát triển du lịch Tuy nhiên, để thu hút lượng lớn du khách, địa phương phải đầu tư nhiều cho cơ sở vật chất – hạ tầng mới đảm bảo đáp ứng phục vụ du khách

Cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, công nghệ đã đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển các tuyến đường giao thông Như vậy, sự phát triển công nghệ đã thực hiện tốt các xây dựng các tuyến đường bộ và đường sắt, cung cấp mới khả năng đi từ nơi này đến nơi khác Đi du lịch giữa hai hay nhiều quốc gia đã được khuyến khích, dẫn đến sự gia tăng du lịch cho các quốc gia Hạ tầng giao thông vận tải, xây dựng khách sạn, phương tiện tại chỗ ở và vận chuyển thực phẩm, những sáng kiến vĩ đại nhất trong ngành công nghiệp du lịch là do sự phát triển của công nghệ thông tin Đây

là một trong trong những yếu tố quan trọng trong sự cạnh tranh của thị trường sản phẩm và dịch vụ du lịch Nhưng còn về quản lý chiến lược du lịch giúp giảm chi phí giao dịch và chi phí hoạt động Sự phát triển công nghệ đã chủ yếu tạo điều kiện tiếp cận với nhiều khu du lịch, điểm quan trọng là việc sử dụng các máy bay để vận chuyển hành khách đến những nơi xa xôi hoặc thậm chí các khu vực không thể đến được đối với trước đây (Firoiu & Croitoru, 2013)

Trang 35

Chiến lược phát triển du lịch đòi hỏi phải đầu tư vào cơ sở hạ tầng du lịch, nghĩa là con đường tốt và điều kiện giao thông, tiếp cận với nước sạch, kiểm soát của pháp luật

và trật tự, cung cấp đào tạo và thúc đẩy lực lượng lao động, cơ sở vật chất sẵn có của ngân hàng hiệu quả, vv Tất cả những yếu tố cơ sở hạ tầng vật chất và xã hội, cũng như tính bền vững phương pháp tiếp cận để kinh doanh, nên là một phần của một chiến lược phát triển du lịch toàn diện của một quốc gia đang phát triển (Camillo, 2015) Du lịch đã trở thành một tác nhân của sự thay đổi trong nhiều khu định cư mà trước đây chậm phát triển, bắt đầu quá trình đô thị hóa Do đó, hầu hết các thành phố đã trở thành một nam châm thu hút khách du lịch và các khái niệm về du lịch đô thị đã củng cố trong lĩnh vực

du lịch rộng lớn hơn (Safavi, 2012) Du lịch có thể sản xuất gián tiếp bằng cách tạo ra nhu cầu cho các sản phẩm địa phương lẽ ra sẽ không tồn tại khi không có khách du lịch Và khi nhu cầu của khách du lịch gia tăng trong khu vực, đầu tư cơ sở hạ tầng mới và các phương tiện thông tin liên lạc, giao thông cũng sẽ bị ảnh hưởng (King et al, 1988) Kết quả là, các cư dân của khu vực được dự kiến sẽ có chất lượng cuộc sống tốt hơn và họ có thể có thu nhập tốt hơn và mức độ phát triển của hoạt động kinh tế

Bốn là, thái độ với bảo vệ bản sắc văn hóa địa phương: Một trong những thách

thức lớn nhất đối với du lịch bền vững là sự ô nhiễm văn hoá, ô nhiễm văn hóa được đặc trưng bởi việc từ bỏ các truyền thống địa phương và các giá trị, sự ô nhiễm gián tiếp do thông qua trao đổi văn hóa bởi giao thương và du lịch giữa các nước (Reinfeld, 2003) Những nơi văn hóa là một phần của các điểm du lịch, qua khuếch đại các đặc điểm văn hóa và sáng tạo của các đặc điểm văn hóa "mới" để đáp ứng thị hiếu của khách du lịch

có thể tạo ra một nền văn hóa giả mạo Cư dân có thể trả giá một cảm giác đứng bên ngoài và sự tha hóa về kế hoạch và phát triển Họ có thể cảm thấy mất kiểm soát tương lai của cộng đồng như "người ngoài" chiếm sự thành lập và phát triển mới Quá phụ thuộc vào các nhà phát triển không địa phương và một dòng của các doanh nghiệp bên ngoài tạo ra một cảm giác mà cộng đồng đang được chế tác và khai thác bởi người ngoài vì lợi ích duy nhất của những nhà phát triển hoặc những người kinh doanh.Tương tác giữa cộng đồng và khách du lịch có thể tác động tích cực trong việc tạo ra các cơ hội, mang lại hòa bình xã hội, hội nhập của các nền văn hóa khác nhau

Du lịch có thể cải thiện chất lượng cuộc sống trong một khu vực bằng cách tăng số lượng các điểm tham quan, các cơ hội giải trí và các dịch vụ Du lịch cũng cung cấp các cơ hội của người dân để gặp gỡ những người thú vị, cải thiện lối sống thông qua

Trang 36

học hỏi từ khách du lịch (Zaei, 2013) Bản sắc văn hoá địa phương là một phần trong cuộc sống của người dân, họ thường tổ chức các lễ hội lưu giữ lại các nét đẹp văn hoá

đó Du lịch phát triển đã hỗ trợ và tạo thêm động lực cho người dân địa phương phát huy truyền thống tốt đẹp với các lễ hội quy mô lớn hơn, bài bản hơn và tất nhiên điều

đó phục vụ tốt hơn cho du lịch thu hút du khách về địa phương tham gia lễ hội Du lịch phát triển, nhiều nét văn hoá hiện đại xâm nhập vào cộng đồng địa phương làm một số tập quán địa phương có sự thay đổi phù hợp hơn cho việc kinh doanh du lịch

Du lịch có thể gây ra các hình thức ô nhiễm tương tự như bất kỳ ngành công nghiệp khác Giao thông vận tải bằng đường hàng không, đường bộ, đường sắt và liên tục tăng để đáp ứng với sự gia tăng số lượng khách du lịch và tính di động cao hơn của

họ Ô nhiễm không khí từ giao thông vận tải du lịch có tác động trên cấp độ toàn cầu, đặc biệt là từ khí thải CO2 liên quan đến việc sử dụng năng lượng Ngoài gây khó chịu, căng thẳng, và thậm chí mất ngủ cho người dân, mô hinh hoạt động du lịch có thể gây

ra sự xáo trộn đối với động vật hoang dã và thay đổi tự nhiên Trong khu vực có cường

độ cao của các hoạt động du lịch và các điểm tham quan thiên nhiên hấp dẫn, xử lý chất thải là một vấn đề nghiêm trọng và xử lý không đúng cách có thể là một hiểm họa của môi trường tự nhiên gây ô nhiễm các con sông, các khu vực danh lam thắng cảnh,

và cảnh quan hai bên đường Chất thải rắn và vứt rác bừa bãi có thể làm ô nhiễm nguồn nước và bờ biển và gây ra cái chết của động vật biển Tại các khu vực miền núi,

du khách đi bộ tạo ra một lượng lớn chất thải Khách du lịch thám hiểm để lại rác, bình oxy của họ và thậm chí thiết bị cắm trại Xây dựng khách sạn, vui chơi giải trí và các

cơ sở khác thường dẫn đến sự gia tăng ô nhiễm nước thải Nước thải đã gây ô nhiễm biển và hồ xung quanh các điểm tham quan du lịch, làm tổn hại đến hệ thực vật và động vật Nước thải chảy tràn gây thiệt hại nghiêm trọng cho các rạn san hô vì nó kích thích sự phát triển của tảo Ô nhiễm nước thải đe doạ sức khoẻ của con người và động vật Ô nhiễm mỹ quang do du lịch không phù hợp các đặc điểm tự nhiên và kiến trúc bản địa của điểm đến, các khu nghỉ dưỡng với những thiết kế khác nhau có thể lộ rõ trong môi trường tự nhiên và có thể xung đột với kiến trúc bản địa Sự quy hoạch chưa hoàn chỉnh và thiếu các quy định về sử dụng đất tại các địa điểm đến đã tạo điều kiện phát triển không đồng nhất dọc bờ biển, các thung lũng và các tuyến đường Cảnh quan khôn hài hòa bởi sự mở rộng các cơ sở du lịch và cơ sở hạ tầng hỗ trợ như đường giao thông, nhà ở nhân viên, bãi đậu xe, khu vực dịch vụ và xử lý chất thải (Rodrigo, 2012)

Trang 37

Du lịch có những tác động có thể là cả tích cực và tiêu cực đồng thời Các tác dụng nhận thức của du lịch và làm thế nào chúng được nhận thức (tích cực hoặc tiêu cực) sẽ được được xác định chủ yếu bởi người dân địa phương, và quan trọng nhất có

lẽ, một cách độc lập bởi mỗi cá nhân riêng lẻ ở các điểm đến Việc một số ít cá nhân thể hiện một phong cách lạ trong giao tiếp lạ, ăn mặc, suy nghĩ, tiêu thụ, và tương táccó thể được coi là một bất lợi văn hóa cho những người tin rằng nền văn hóa cần được bảo tồn ở dạng truyền thống của họ Tuy nhiên, những thay đổi trong ăn uống, trang phục, thói quen nói hay trong bất kỳ đại diện xã hội có thể biểu hiện một tác động tích cực đến đời sống của người dân địa phương ở một mức độ rất cá nhân Trong thực tế, nó sẽ là không khôn ngoan để tin rằng người dân địa phương thông qua

và duy trì, ít nhất là ý thức, thể hiện lối sống đại diện cho một thế bất lợi trong cuộc sống hàng ngày của họ (Monterrubio & Mendoza - Ontiveros, 2014)

Năm là, thái độ với giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội: Phần lớn các cư dân

địa phương coi du lịch như một công cụ phát triển kinh tế (Gursoy et al, 2002) và bỏ qua các vấn đề khác Tuy nhiên, sự an toàn và an ninh là yếu tố quan trọng để cung cấp dịch vụ chất lượng trong ngành du lịch Do đó cung cấp những kinh nghiệm du lịch chất lượng mà kết hợp các nguyên tắc về an toàn và an ninh đang trở thành một mục tiêu trọng điểm du lịch Điều này đòi hỏi các quan chức du lịch ở mọi cấp độ để phối hợp những nỗ lực của họ với các quan chức khác của chính phủ, các lĩnh vực hoạt động du lịch , các phương tiện truyền thông , các tổ chức phi chính phủ và các nhóm dân cư quan tâm (WTO, 1996)

Địa phương an ninh, trật tự đem đến cảm giác an toàn và thân thiện cho người dân và cả khách du lịch Người dân nhiệt tình và tự hào về nơi mình sống với du khách, và du khách yên tâm tham quan, giải trí, nghỉ ngơi tại nơi họ đến và các điểm

du lịch An ninh, trật tự an toàn xã hội là điều mà mọi người dân đều mong muốn (Maslow, 1943) Song do nhu cầu phát triển, sự phân hoá xã hội giữ gìn an ninh trật tự

an toàn xã hội trở thành vấn đề lớn cho xã hội, gây khó khăn cho chính quyền địa phương Bên cạnh đó, một khi du lịch phát triển, chính quyền địa phương phải mất nhiều công sức hơn để giữ gìn an nhinh, trật tự an toàn cho địa phương

Về mối quan hệ giữa du lịch và tội phạm, nhìn chung có một liên kết trực tiếp giữa sự gia tăng trong số những tội ác và sự gia tăng khách du lịch tại các điểm đến; đồng thời cho rằng sự gia tăng tội phạm có thể được liên kết trực tiếp với các loại

Trang 38

khách du lịch tìm thấy trong các điểm đến, điều này là rất quan trọng trong việc phân loại các kinh nghiệm du lịch và các khía cạnh an ninh, du lịch đại trà là ví dụ rõ ràng nhất về điều này Ngoài ra còn có các yếu tố quan trọng khác từ các khách du lịch, như chủng tộc, sự lựa chọn của hình thức nơi ở, tuổi tác, cho dù trên được đi du lịch một mình hoặc với người khác, giới tính, quốc tịch Nó cũng cần lưu ý rằng các nghiên cứu

về mối quan hệ giữa tội phạm và mùa vụ du lịch đã kết luận rằng tội phạm như trộm cắp, cướp, bắt cóc và giết người tăng đáng kể trong thời kỳ "mùa cao điểm" khi so sánh với thời điểm khác trong năm (Brás, 2015)

1.3.3 Các ảnh hưởng xã hội đối với việc tham gia phát triển du lịch bền vững

Chuẩn chủ quan thể hiện nhận thức về tầm quan trọng của những người có ảnh hưởng đến quyết định mua của một cá nhân, có thể là người thân, hay bạn bè và cả đồng nghiệp của họ (Ajzen, 1991) Chuẩn chủ quan là một chức năng của chuẩn mực niềm tin của một người về những gì mà người xung quanh nghĩ rằng họ nên hay không nên làm (Ajzen, 1991) Trong du lịch, chuẩn chủ quan cũng được đo lường bởi mức độ ủng hộ hay phản đối của những người xung quanh như bạn bè người thân, cộng đồng,

có thể là khách du lịch Mức độ ảnh hưởng của những người liên quan phụ thuộc vào

sự gắn kết với chủ thể và động cơ của chủ thể làm theo những người có ảnh hưởng Bạn bè, người thân có sự gắn kết chặt chẽ với chủ thể gây ra ảnh hưởng đáng kể lên ý định tham gia của chủ thể Họ có thái độ, hành động tích cực hay tiêu cực đối với

sự phát triển du lịch bền vững đều tác động đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững Sự gắn kết cộng đồng chủ thể thường có hành vi của cộng đồng

Nếu cộng đồng địa phương ủng hộ tham gia phát triển du lịch bền vững, thì đó là một cộng đồng đó có ảnh hưởng tích cực lên ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của chủ thể Sự lên án hay ủng hộ của người dân cả nước hay thế giới đối với sự phát triển du lịch của địa phương phần nào gây ảnh hưởng lên ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của chủ thể Mức độ thoả mãn nhu cầu của khách du lịch ảnh trực tiếp đến

sự quay lại của họ, mong muốn của du khách đối với người dân địa phương trong đó bao gồm cả mong muốn về sự phát triển du lịch bền vững ở địa phương phần nào tác động đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân

1.3.4 Kiểm soát rào cản đối với việc tham gia phát triển du lịch bền vững

PBC có thể được mô tả như sự dễ dàng/khó khăn của khách hàng để thực hiện ý định hành vi (Ajzen, 1991) PBC đánh giá nhận thức như thế nào để kiểm soát các yếu

Trang 39

tố có thể tạo điều kiện/ hạn chế các hành động cần thiết để đối phó với một tình huống

cụ thể PBC trở nên tốt hơn khi cá nhân có các cơ hội và những nguồn tài nguyên quan trọng (Madden et al, 1992)

Đối với du lịch, các rào cản chính ngăn cản cộng đồng địa phương tham gia vào

kế hoạch phát triển du lịch bền vững của địa phương được chỉ ra, đó là: 1) trình độ học vấn thấp, thiếu kiến thức về du lịch; 2) điều kiện sống nghèo nàn và thiếu sự hỗ trợ tài chính; 3) thói quen hàng ngày bận rộn và thiếu thời gian để tham gia du lịch; 4) nhận thức của cộng đồng địa phương về du lịch như một hoạt động thời vụ với thu nhập thấp; và 5) sự chênh lệch về quyền lực, thể chế quan liêu và sự mất lòng tin của cộng đồng về quyền lực của họ (Kim et al, 2014)

Cộng đồng có ít kiến thức về du lịch và do đó miễn cưỡng tham gia và chịu trách nhiệm về bất kỳ khía cạnh của việc lập kế hoạch và phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng Tương tự như các nghiên cứu trước đây trong đó nêu bật mức độ giáo dục thấp là rào cản chính cho sự tham gia của cộng đồng trong quy hoạch du lịch

1.4 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan

1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Vấn đề liên quan đến phát triển du lịch bền vững được nghiên cứu nhiều nơi

trên thế giới Một nghiên cứu được biết đến là báo cáo Community Perception of

Tourism Impacts and Their Participation in Tourism Planning: A Case Study of Ramsar, Iran do Eshliki & Kaboudi thực hiện đăng trên tạp chí Procedia Social and

Behavioral Sciences năm 2011, trường hợp này nghiên cứu vùng biển Ramsar của Iran, nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững tại một nước đang phát triển Nghiên cứu chỉ ra năm yếu tố tác động đến người dân: (1) Yếu tố đầu tiên thuộc về các tác động của môi trường du lịch như: loại bỏ một phần nông nghiệp nhường chỗ cho phát triển du lịch, cư dân tập trung đông hơn, dễ xảy ra ùn tắc giao thông, sự biến mất của thảm thực vật hay xói mòn đất,…; (2) Yếu tố thứ hai liên quan đến văn hóa và xã hội của ngành du lịch: làm gián đoạn cuộc sống yên tĩnh trong thành phố, nguy hại đến văn hóa thổ dân địa phương, tăng tội phạm, các mục tiêu tích cực nâng cao hình ảnh thành phố vì du lịch; (3) Yếu tố thứ ba được hiểu là hiệu quả kinh tế của ngành du lịch đối với người dân Các kết quả phân tích chỉ ra rằng việc tăng bán lẻ cũng như làm tăng cơ hội việc làm, tăng chi phí cuộc sống, tăng thu nhập hộ gia đình; (4) Yếu tố liên

Trang 40

quan đến ô nhiễm bờ biển như: nước thải, ô nhiễm nước biển, gia tăng rác thải dọc bờ biển; (5) Nhân tố thứ năm gồm nâng cao chất lượng cuộc sống vì hiệu suất du lịch và nâng cao chất lượng dịch vụ công cộng có liên quan đến cải thiện chất lượng cuộc sống Bài báo chỉ rõ các tác động của các yếu tố kinh tế và ảnh hưởng của các yếu tố

xã hội và văn hóa được xem thuộc là những yếu tố quan trọng nhất có hiệu quả vào sự tham gia của người dân vào các chương trình phát triển du lịch Biết làm thế nào tác động du lịch đối với xã hội và hỗ trợ hợp tác của người dân có tác động quan trọng củng cố các điểm mạnh và cải thiện những điểm yếu của quy hoạch du lịch để đạt được mục tiêu này, nó là cần thiết để cung cấp một giao tiếp hiệu quả giữa các nhà hoạch định và người dân để có được sự hỗ trợ từ xã hội Bài báo cũng nhấn mạnh những tác động của phát triển du lịch là những khác nhau về các xã hội khác nhau nên kết quả thu được từ nghiên cứu này không thể được khái quát hóa cho các xã hội khác một cách chắc chắn Một trong những vấn đề lớn nhất trong nghiên cứu này là không

có các nghiên cứu đã được thực hiện về tác động của phát triển du lịch ở Iran dẫn đến việc thiếu một tiêu chuẩn để so sánh tác động phát triển du Kết quả là, mặc dù kết quả của nghiên cứu này cho thấy sự tương quan mạnh mẽ giữa tác phát triển du lịch người dân và mức độ tham gia của người dân vào các chương trình phát triển du lịch, để chắc chắn về vấn đề này và các yếu tố ảnh hưởng đến nó đòi hỏi phải nghiên cứu nhiều hơn nữa trong tương lai (Eshliki & Kaboudi, 2011)

Một nghiên cứu khác do Lee thực hiện với chủ đề “Influence analysis of

community resident support for sustainable tourism development” đăng trên tạp chí

Tourism Management số 34 năm 2013 Nghiên cứu này nhằm mục đích phát triển một

mô hình lý thuyết để kiểm tra mối quan hệ giữa sự hỗ trợ của người dân đối với sự phát triển bền vững du lịch và các biến tiền lệ của gắn bó người dân, sự tham gia của người dân, lợi ích cảm nhận, cảm nhận và chi phí Đối với sự hỗ trợ của người dân tác giả đưa ra hai giải thuyết: một là (H1) - Cảm nhận lợi ích của du lịch bền vững trực tiếp và tích cực ảnh hưởng đến sự tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân; hai là (H2) Cảm nhận tổn thất của du lịch bền vững trực tiếp và tiêu cực đến sự tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân Đối với gắn bó của người dân tác giả cũng đưa ra hai giả thuyết: (H3) - sự gắn bó trực tiếp và tích cực của người dân tác động đến cảm nhận lợi ích gián tiếp và tích cực ảnh hưởng đến sự tham gia phát triển

du lịch bền vững của người dân; (H4) - Sự gắn bó người dân trực tiếp và tiêu cực tác

Ngày đăng: 22/07/2017, 00:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Nguyễn Hậu (2008), Phương pháp nghiên cứu trong kinh doanh, NXB Đại Học Bách khoa TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu trong kinh doanh
Tác giả: Lê Nguyễn Hậu
Nhà XB: NXB Đại Học Bách khoa TP.HCM
Năm: 2008
2. Nguyễn Bá Lâm (2007), Tổng quan về du lịch và phát triển du lịch bền vững, NXB Trường đại học kinh doanh và công nghệ Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về du lịch và phát triển du lịch bền vững
Tác giả: Nguyễn Bá Lâm
Nhà XB: NXB Trường đại học kinh doanh và công nghệ Hà Nội
Năm: 2007
3. Phạm Trung Lương (2002), Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam, Viện nghiên cứu phát triển du lịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương
Năm: 2002
4. Hồng Thị Minh (2008), Phát triển du lịch theo hướng bền vững ở khu vực tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội), Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đai học kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Phát triển du lịch theo hướng bền vững ở khu vực tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội)
Tác giả: Hồng Thị Minh
Năm: 2008
5. Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang (2009), Nghiên cứu khoa học trong quản trị kinh doanh, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khoa học trong quản trị kinh doanh
Tác giả: Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2009
6. Nguyễn Đình Thọ (2011), Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh, NXB Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh
Tác giả: Nguyễn Đình Thọ
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2011
7. Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, NXB Hồng Đức, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS
Tác giả: Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2008
1. Ajzen, I. (1991), The theory of planned behavior, Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50, 179-211 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The theory of planned behavior
Tác giả: Ajzen, I
Năm: 1991
3. Ambro`, M. (2008), Attitudes of local residents towards the development of tourism in Slovenia: The case of the Primorska, Dolenjska, Gorenjska and Ljubljana regions, Anthropological Notebooks 14 (1): 63–79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Attitudes of local residents towards the development of tourism in Slovenia: The case of the Primorska, Dolenjska, Gorenjska and Ljubljana regions
Tác giả: Ambro`, M
Năm: 2008
4. Aref, F. & Gill, S. S. (2010), ‘Tourism Development in Local Communities: As a Community Development Approach’, Journal of American Science 2010; 6 (2):155-161 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ‘Tourism Development in Local Communities: As a Community Development Approach’
Tác giả: Aref, F. & Gill, S. S
Năm: 2010
5. Aref, F., & Redzuan, M. (2008), ‘Barriers to community participation toward tourism development in Shiraz’, Pakistan journal of Social science, 5 (9), 936-940 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Barriers to community participation toward tourism development in Shiraz’
Tác giả: Aref, F., & Redzuan, M
Năm: 2008
6. Baker, M. J. & Churchill, G. A. (1977), ‘The impact of physically attractive models on advertising evaluations’, Journal of Marketing Research, Vol 14(4), Nov 1977, 538-555 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The impact of physically attractive models on advertising evaluations’
Tác giả: Baker, M. J. & Churchill, G. A
Năm: 1977
7. Bollen, K. A. (1989), ‘Structural Equations with Latent Variables’, New York: John Wiley & Sons, Inc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Structural Equations with Latent Variables’
Tác giả: Bollen, K. A
Năm: 1989
8. Brás, M. (2015), Tourism and Crime – Why Tourists become Victims, Maison de L’Europe – European Union, Paris Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tourism and Crime – Why Tourists become Victims
Tác giả: Brás, M
Năm: 2015
10. Camillo, A. A. (2015), Handbook of Research on Global Hospitality and Tourism Management, IGI Global Publ., Hershey, Penn., chapt. 13, pp 234-261 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Handbook of Research on Global Hospitality and Tourism Management
Tác giả: Camillo, A. A
Năm: 2015
11. Casaló, L. V., Flavián, C., & Guinalíu, M. (2010), ‘Relationship quality, community promotion and brand loyalty in virtual communities: Evidence from free software communities’, International Journal of Information Management, 30(4), 357-367 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Relationship quality, community promotion and brand loyalty in virtual communities: Evidence from free software communities’
Tác giả: Casaló, L. V., Flavián, C., & Guinalíu, M
Năm: 2010
1. Lịch sử hình thành và phát triển thành phố Quy Nhơn, Cổng thông tin điện tử thành phố Quy Nhơn, < http://www.quynhon.gov.vn/iwebos/portal/intro/general-history.c2p?intl=vi&gt Link
3. Các địa điểm du lịch Quy Nhơn, < http://cabongsongtra.net/cac-dia-diem-du-lich-quy-nhon.html&gt Link
6. Lịch sử hình thành đất và người Bình Định, Trung tâm xúc tiến du lịch Bình Định, < http://dulichbinhdinh.com.vn/Pages/detail.aspx?lang=vi&id=82&gt Link
7. Tổng cục du lịch tổ chức hội nghị tổng kết công tác năm 2014, Chương trình Phát triển Năng lực Du lịch có Trách nhiệm với Môi trường và Xã hội, <http://esrt.vn/default.aspx?portalid=1&tabid=464&itemid=715&gt Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.4. Mô hình phân tích lợi ích chi phí phát triển du lịch bền vững - Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân tại thành phố quy nhơn, tỉnh bình định
Hình 1.4. Mô hình phân tích lợi ích chi phí phát triển du lịch bền vững (Trang 23)
Hình 1.6. Mô hình nghiên cứu các thành phần mô hình TPB - Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân tại thành phố quy nhơn, tỉnh bình định
Hình 1.6. Mô hình nghiên cứu các thành phần mô hình TPB (Trang 43)
Hình 1.7. Mô hình nghiên cứu các thành phần thái độ đến ý định tham gia phát triển - Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân tại thành phố quy nhơn, tỉnh bình định
Hình 1.7. Mô hình nghiên cứu các thành phần thái độ đến ý định tham gia phát triển (Trang 45)
Hình 2.2. Mộ thi nhân Hàn Mạc Tử - Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân tại thành phố quy nhơn, tỉnh bình định
Hình 2.2. Mộ thi nhân Hàn Mạc Tử (Trang 53)
Hình 2.3. Eo Gió Nhơn Lý - Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân tại thành phố quy nhơn, tỉnh bình định
Hình 2.3. Eo Gió Nhơn Lý (Trang 54)
Hình 2.4. Mũi Yến – Bán đảo Phương Mai - Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân tại thành phố quy nhơn, tỉnh bình định
Hình 2.4. Mũi Yến – Bán đảo Phương Mai (Trang 55)
Hình 2.5. Bãi Đá Trứng - Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân tại thành phố quy nhơn, tỉnh bình định
Hình 2.5. Bãi Đá Trứng (Trang 56)
Hình 2.6. Công viên văn hóa Tháp Đôi - Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân tại thành phố quy nhơn, tỉnh bình định
Hình 2.6. Công viên văn hóa Tháp Đôi (Trang 57)
Bảng 2.1. Lượng khách du lịch và doanh thu du lịch tại Bình Định 2013 - 2015 - Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân tại thành phố quy nhơn, tỉnh bình định
Bảng 2.1. Lượng khách du lịch và doanh thu du lịch tại Bình Định 2013 - 2015 (Trang 61)
Hình 2.7. Quy trình nghiên cứu - Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân tại thành phố quy nhơn, tỉnh bình định
Hình 2.7. Quy trình nghiên cứu (Trang 62)
Bảng 3.1. Thống kê mô tả đặc điểm mẫu nghiên cứu - Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân tại thành phố quy nhơn, tỉnh bình định
Bảng 3.1. Thống kê mô tả đặc điểm mẫu nghiên cứu (Trang 71)
Bảng 3.2. Thống kê mô tả biến quan sát - Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân tại thành phố quy nhơn, tỉnh bình định
Bảng 3.2. Thống kê mô tả biến quan sát (Trang 72)
Hình 3.3. Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa (Mô hình 1) - Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân tại thành phố quy nhơn, tỉnh bình định
Hình 3.3. Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa (Mô hình 1) (Trang 89)
Hình 3.4. Đồ thị phân tán phần dư chuẩn hóa và giá trị ước lượng (Mô hình 2) - Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân tại thành phố quy nhơn, tỉnh bình định
Hình 3.4. Đồ thị phân tán phần dư chuẩn hóa và giá trị ước lượng (Mô hình 2) (Trang 91)
Hình 3.6. Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa (Mô hình 2) - Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững của người dân tại thành phố quy nhơn, tỉnh bình định
Hình 3.6. Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa (Mô hình 2) (Trang 92)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w