Chính vì vậy, yêu cầu cấp bách đặt ra là rủi ro tín dụng phải được quản lý, kiểm soát một cách bài bản và có hiệu quả, đảm bảo tín dụng hoạt động trong phạm vi rủi ro chấp nhận được, hỗ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyễn Thị Kim Anh
Chủ tịch hội đồng:
PGS.TS Đỗ Thị Thanh Vinh
Khoa sau đại học:
KHÁNH HÒA - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Quản trị rủi ro tín dụng khách hàng
cá nhân tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Nghệ An” là công trình
nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này
Khánh Hòa, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Xuân Trung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý thầy
cô, cán bộ của trường Đại học Nha Trang, ban lãnh đạo cũng như các cán bộ nhân viên của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Nghệ An đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được hoàn thành đề tài Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của PGS TS Nguyễn Thị Kim Anh đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Khánh Hòa, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Xuân Trung
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC HÌNH x
DANH MỤC ĐỒ THỊ x
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
1.1 Các vấn đề cơ bản về ngân hàng thương mại 6
1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại 6
1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại 6
1.1.3 Hoạt động của ngân hàng thương mại 7
1.1.4 Những rủi ro chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 10
1.2 Rủi ro tín dụng 13
1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng 13
1.2.2 Biểu hiện của rủi ro tín dụng 14
1.2.3 Phân loại rủi ro tín dụng 15
1.2.4 Nguyên nhân và hậu quả của rủi ro tín dụng 16
1.2.5 Những thiệt hại từ rủi ro tín dụng 19
1.2.6 Nợ xấu và các chỉ số đo lường rủi ro tín dụng 20
1.3 Quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng 21
1.3.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng 21
Trang 61.3.2 Những nội dung cơ bản của quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại 22
1.3.3 Ý nghĩa của quản trị rủi ro tín dụng 23
1.4 Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại trên thế giới và bài học cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam 24
1.4.1 Kinh nghiệm quản trị rủi ro của một số ngân hàng trên thế giới 24
1.4.2 Bài học kinh nghiệm 29
Kết luận chương 1 30
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG KHCN TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN – HÀ NỘI, CHI NHÁNH NGHỆ AN 31
2.1 Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Nghệ An 31
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 31
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội, chi nhánh Nghệ An 32
2.1.3 Khái quát về hoạt động của Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội, chi nhánh Nghệ An giai đoạn 2013 - 2015 35
2.2 Thực trạng hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Nghệ An 39
2.2.1 Thực trạng hoạt động tín dụng 39
2.2.2 Thực trạng rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân 40
2.2.3 Các nguyên nhân ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng cá nhân 48
2.3 Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại SHB chi nhánh Nghệ An 50
2.3.1 Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng 50
2.3.2 Quy trình xét duyệt cho vay nhằm quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh 50
2.3.3 Công cụ đánh giá rủi ro tín dụng 51
2.4 Nguyên nhân rủi ro tín dụng KHCN ở chi nhánh 54
2.4.1 Phương pháp 54
2.4.2 Kết quả 54
Trang 72.5 Khảo sát ý kiến chuyên gia về quản trị rủi ro tín dụng tại SHB chi nhánh Nghệ An 56
2.6 Đánh giá hoạt động quản trị rủi ro tín dụng KHCN tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Nghệ An 57
2.6.1 Những kết quả đạt được 57
2.6.2 Những hạn chế còn tồn tại 58
Kết luận chương 2 60
CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG KHCN TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN – HÀ NỘI CHI NHÁNH NGHỆ AN 61
3.1 Quan điểm chỉ đạo của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội về chính sách tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng đến 2020 61
3.1.1 Quan điểm 61
3.1.2 Mục tiêu 63
3.1.3 Kế hoạch tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Nghệ An 63
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng KHCN tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Nghệ An 65
3.2.1 Thực hiện tốt quy trình tín dụng 65
3.2.2 Tăng cường hoạt động kiểm tra, kiểm soát, giám sát tín dụng 65
3.2.3 Hoàn thiện hệ thống hỗ trợ, cảnh báo rủi ro tín dụng 66
3.2.4 Nâng cao trình độ và năng lực của chuyên viên quan hệ khách hàng 67
3.2.5 Nâng cao hiệu quả của công tác xử lý nợ có vấn đề 69
3.3 Một số kiến nghị về phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân 70
3.3.1 Đối với Hội sở chính 70
3.3.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước 75
3.3.3 Kiến nghị với Chính phủ và các ban, ngành có liên quan 76
Kết luận chương 3: 78
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 8SHB chi nhánh Nghệ An : Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Nghệ An
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh giai đoạn 2013 - 2015 35
Bảng 2.2: Kết quả huy động vốn của chi nhánh giai đoạn 2013 - 2015 36
Bảng 2.3: Kết quả hoạt động tín dụng của chi nhánh giai đoạn 2013 - 2015 39
Bảng 2.4: Tốc độ tăng trưởng tín dụng KHCN giai đoạn 2013 – 2015 40
Bảng 2.5: Dư nợ KHCN theo thời hạn giai đoạn 2013 - 2015 41
Bảng 2.6: Cơ cấu tín dụng KHCN giai đoạn 2013 - 2015 42
Bảng 2.7: Dư nợ cho vay KHCN có tài sản đảm bảo và không tài sản đảm bảo giai đoạn 2013 - 2015 42
Bảng 2.8: Số lượng KHCN có dư nợ giai đoạn 2013 - 2015 43
Bảng 2.9: Dư nợ theo nhóm của KHCN giai đoạn 2013 - 2015 44
Bảng 2.10: Tình hình nợ quá hạn KHCN giai đoạn 2013 - 2015 45
Bảng 2.11: Tình hình nợ xấu KHCN giai đoạn 2013 - 2015 46
Bảng 2.12: Dự phòng rủi ro tín dụng KHCN giai đoạn 2013 - 2015 47
Bảng 2.13: Mô hình chấm điểm 3A 52
Bảng 2.14: Nguyên nhân rủi ro tín dụng KHCN 54
Bảng 2.15: Đánh giá về công tác quản tri RRTD tại SHB chi nhánh Nghệ An 56
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
1 Đặt vấn đề
Hoạt động tín dụng đã và đang là một trong những hoạt động kinh doanh chính đem lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng thương mại (NHTM) Tuy nhiên, cùng với việc đem lại thu nhập đáng kể cho ngân hàng thì lĩnh vực tín dụng cũng là lĩnh vực
có rủi ro lớn nhất Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với ngân hàng thường rất nặng nề: làm tăng thêm chi phí của ngân hàng, thu nhập lãi bị chậm hoặc mất đi cùng với sự thất thoát vốn vay, làm xấu đi tình hình tài chính và cuối cùng là làm tổn hại đến vị thế của ngân hàng
Rủi ro tín dụng luôn song hành với hoạt động tín dụng, không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro tín dụng mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp để phòng ngừa hoặc giảm thiểu thiệt hại tối đa khi rủi ro xảy ra Đứng trên quan điểm quản lý toàn bộ hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng phải luôn được xác định trong chiến lược hoạt động chung Khi ngân hàng kinh doanh với một mức tổn thất thấp hơn hoặc bằng mức tỷ lệ tổn thất dự kiến thì đó là sự thành công trong lĩnh vực quản trị rủi ro Ngân hàng phải bằng nhiều biện pháp tác động đến hoạt động tín dụng để hạn chế tối đa rủi
ro tín dụng nhằm góp phần đạt tới mục tiêu hoạt động tín dụng an toàn, hiệu quả trong tăng trưởng
Thực tiễn hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Nghệ An thời gian qua cũng cho thấy rủi ro tín dụng chưa được kiểm soát một cách hiệu quả và đang có xu hướng ngày một gia tăng Chính vì vậy, yêu cầu cấp bách đặt ra là rủi ro tín dụng phải được quản lý, kiểm soát một cách bài bản và có hiệu quả, đảm bảo tín dụng hoạt động trong phạm vi rủi ro chấp nhận được, hỗ trợ việc phân bổ vốn hiệu quả hơn trong hoạt động tín dụng, giảm thiểu các thiệt hại phát sinh từ rủi ro tín dụng và tăng thêm lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng, góp phần nâng cao uy tín
và tạo ra lợi thế của ngân hàng trong cạnh tranh
Nhận thức được tầm quan trọng đó nên đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng khách
hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Nghệ An” đã
được tác giả lựa chọn làm đề tài luận văn thạc sỹ
Trang 122 Mục tiêu nghiên cứu
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tín dụng cá nhân tại Ngân hàng thương mại
+ Đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Nghệ An (SHB chi nhánh Nghệ An) thời gian qua
+ Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB), chi nhánh Nghệ An
3 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài gồm: phương pháp khảo sát và ý kiến chuyên gia, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và tổng hợp Đề tài cũng sử dụng và vận dụng các lý thuyết cơ bản về rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân và quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân
4 Kết quả nghiên cứu
Một số giải pháp được đề xuất như sau:
Tăng cường hoạt động kiểm tra, kiểm soát, giám sát tín dụng
+ Công tác kiểm tra, kiểm soát, giám sát tín dụng cần được quan tâm và điều chỉnh cho phù hợp, đây là một trong những biện pháp tích cực trong việc hạn chế rủi
ro tín dụng Mục đích của việc kiểm tra, giám sát tín dụng là giúp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng, đảm bảo tuân thủ các chiến lược tín dụng, chính sách phê duyệt tín dụng và cơ cấu dư nợ tín dụng theo quy định của ngân hàng Tài sản đảm bảo nợ vay phải đầy đủ tính pháp lý, phù hợp với quy định của SHB và ngân hàng Nhà nước
Trang 13+ Cán bộ kinh doanh luôn theo dõi, giám sát khoản vay để kịp thời phát hiện những dấu hiệu rủi ro, cần theo dõi chặt chẽ tình hình sử dụng vốn của khách hàng, dự đoán khả năng biến động tình hình kinh tế, theo dõi việc đóng tiền lãi vay, vốn gốc, nhắc nhở, đôn đốc khách hàng trả nợ vay
Hoàn thiện hệ thống hỗ trợ, cảnh báo rủi ro tín dụng
+ Xếp hạng tín dụng khách hàng cá nhân: Để khách hàng có khả năng có thể vay được vốn, việc đánh giá xếp hạng tín dụng nên căn cứ theo số điểm trung bình với mức rủi ro trung bình và nên được điều chỉnh theo từng thời kỳ để phù hợp với tình hình kinh tế xã hội, phù hợp với sự thay đổi của môi trường kinh doanh
+ Hoàn chỉnh sổ tay tín dụng: Khi có những thay đổi về cơ chế, chính sách, quy định, quy trình liên quan đến công tác tín dụng đều phải được cập nhật đầy đủ trong sổ tay tín dụng để nhân viên nắm bắt kịp thời và thực hiện đúng theo yêu cầu
Nâng cao trình độ và năng lực của chuyên viên quan hệ khách hàng
+ Nên đưa ra những ví dụ thực tế hậu quả do phẩm chất đạo đức yếu kém của nhân viên gây ra giúp nhân viên hiểu rõ ý nghĩa, tầm quan trọng đạo đức nghề nghiệp của bản thân
+ Đưa ra các chính sách tuyển dụng, đãi ngộ và đề bạt thích hợp với các tiêu chí
về trách nhiệm công việc cụ thể
+ Công tác đào tạo phải thực hiện thường xuyên, liên tục gắn với tập huấn chế
độ và văn bản pháp luật của ngành, sắp xếp và ổn định tổ chức, bố trí đúng người đúng việc xây dựng quy chuẩn cán bộ
+ Thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo về công tác tín dụng, công tác thẩm định, công tác xử lý nợ
Nâng cao hiệu quả của công tác xử lý nợ có vấn đề
+ Phải chủ động xây dựng phương án và tổ chức thực hiện, trực tiếp khai thác các phương án xử lý nợ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt nhằm thu hồi các khoản
nợ trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật, quy định của ngân hàng
+ Khéo léo đàm phán, thương lượng để thu hồi công nợ hiệu quả nhưng vẫn được mối quan hệ với khách hàng; chuẩn bị hồ sơ đầy đủ trong trường hợp thu hồi nợ bằng pháp lý
Từ khóa: Rủi ro, tín dụng, khách hàng cá nhân, SHB chi nhánh Nghệ An
Trang 14LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động tín dụng đã và đang là một trong những hoạt động kinh doanh chính đem lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng thương mại (NHTM) Tuy nhiên, cùng với việc đem lại thu nhập đáng kể cho ngân hàng thì lĩnh vực tín dụng cũng là lĩnh vực
có rủi ro lớn nhất Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với ngân hàng thường rất nặng nề: làm tăng thêm chi phí của ngân hàng, thu nhập lãi bị chậm hoặc mất đi cùng với sự thất thoát vốn vay, làm xấu đi tình hình tài chính và cuối cùng là làm tổn hại đến vị thế của ngân hàng
Rủi ro tín dụng luôn song hành với hoạt động tín dụng, không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro tín dụng mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp để phòng ngừa hoặc giảm thiểu thiệt hại tối đa khi rủi ro xảy ra Đứng trên quan điểm quản lý toàn bộ hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng phải luôn được xác định trong chiến lược hoạt động chung Khi ngân hàng kinh doanh với một mức tổn thất thấp hơn hoặc bằng mức tỷ lệ tổn thất dự kiến thì đó là sự thành công trong lĩnh vực quản trị rủi ro Ngân hàng phải bằng nhiều biện pháp tác động đến hoạt động tín dụng để hạn chế tối đa rủi
ro tín dụng nhằm góp phần đạt tới mục tiêu hoạt động tín dụng an toàn, hiệu quả trong tăng trưởng
Thực tiễn hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Nghệ An thời gian qua cũng cho thấy rủi ro tín dụng chưa được kiểm soát một cách hiệu quả và đang có xu hướng ngày một gia tăng Chính vì vậy, yêu cầu cấp bách đặt ra là rủi ro tín dụng phải được quản lý, kiểm soát một cách bài bản và có hiệu quả, đảm bảo tín dụng hoạt động trong phạm vi rủi ro chấp nhận được, hỗ trợ việc phân bổ vốn hiệu quả hơn trong hoạt động tín dụng, giảm thiểu các thiệt hại phát sinh từ rủi ro tín dụng và tăng thêm lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng, góp phần nâng cao uy tín
và tạo ra lợi thế của ngân hàng trong cạnh tranh
Nhận thức được tầm quan trọng đó nên đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng khách
hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Nghệ An” đã
được tác giả lựa chọn làm đề tài luận văn thạc sỹ
Trang 152 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài hướng đến những mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tín dụng cá nhân tại Ngân hàng thương mại
- Đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB), chi nhánh Nghệ An thời gian qua
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB)., chi nhánh Nghệ An
3 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu sẽ tập trung giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Nghệ An?
- Cần thực hiện những hoạt động nào nhằm quản lý rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Nghệ An?
4 Đối tượng nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu toàn bộ các vấn đề liên rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Nghệ An
5 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến nguyên nhân dẫn đến rủi
ro trong hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng khách hàng cá nhân nói riêng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Nghệ An Số liệu được thu thập trong giai đoạn từ năm 2013 – 2015
6 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài gồm: phương pháp khảo sát và ý kiến chuyên gia, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và tổng hợp Đề tài cũng sử dụng và vận dụng các lý thuyết cơ bản về rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân và quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân
7 Đóng góp của đề tài
- Về mặt lý luận:
Kết quả nghiên cứu khoa học của đề tài là nguồn dữ liệu cung cấp thông tin cho các ngân hàng, làm phong phú hơn về lý thuyết quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân cũng như khả năng áp dụng nó trong thực tiễn để đánh giá mức độ rủi ro tín dụng
Trang 16khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Từ đó giúp các ngân hàng có cái nhìn cụ thể hơn về rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân và quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân Đồng thời, làm cơ sở khoa học cho các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý trong việc hoạch định chính sách và các chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị rủi
ro tín dụng khách hàng cá nhân tại các ngân hàng
+ Kết quả của nghiên cứu là cơ sở khoa học để xem xét tiến hành nghiên cứu công tác quản trị rủi ro ở các chi nhánh khác của SHB, hay ở các ngân hàng khác + Đóng góp cơ sở khoa học cho công tác quản trị hoạt động của các ngân hàng + Đề tài có thể áp dụng vào thực tiễn hoạt động quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Nghệ An
8 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Một số luận án, luận văn đã nghiên cứu đề tài:
- Cao Thị Thanh Hà, luận văn thạc sỹ hoàn thành năm 2014 tại Học viện Ngân
hàng: “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội,
chi nhánh Tây Hà Nội” Luận văn đã hệ thống lý luận về quản trị rủi ro tín dụng tại
Ngân hàng thương mại, phân tích thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại SHB Tây Hà Nội và nghiên cứu đề xuất những giải pháp – kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản
trị tại SHB Tây Hà Nội
- Trần Văn Kiểm, luận văn thạc sỹ hoàn thành năm 2014 tại Học viện Ngân
hàng: “Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển
Việt Nam, chi nhánh Hai Bà Trưng – thực trạng và giải pháp” Luận văn đã nghiên
cứu cơ sở lý luận về quản lý rủi ro tín dụng của các Ngân hàng thương mại; phân tích, đánh giá thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV Hai Bà Trưng và đề xuất giải pháp hoàn thiện hoạt động quản lý rủi ro tín dụng, giảm thiểu rủi ro tín dụng tại BIDV
Hai Bà Trưng
Trang 17- Phùng Thị Thùy Dung, luận văn thạc sỹ hoàn thành năm 2013 tại Học viện
Ngân hàng: “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – chi nhánh Sông Nhuệ” Luận văn đã
khái quát các vấn đề cơ bản về quản lý rủi ro tín dụng trong ngân hàng nói chung; đánh giá thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Vietinbank Sông Nhuệ; tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại Vietinbank Sông Nhuệ và đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại
Vietinbank Sông Nhuệ
- Nguyễn Hoài Nam, luận văn thạc sỹ hoàn thành năm 2013 tại Học viện Ngân
hàng: “Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
tỉnh Nghệ An – thực trạng và giải pháp” Luận văn đã hệ thống hóa và phân tích lý
luận cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường; trên cơ sở nghiên cứu thực trạng rủi ro tín dụng và công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Agribank Nghệ An, từ đó chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân; đưa ra những kiến nghị và đề xuất nhằm hạn chế rủi ro tín dụng cũng như việc
tăng cường năng lực quản lý rủi ro tín dụng tại Agribank Nghệ An
- Lưu Thị Việt Hoa, luận văn thạc sỹ hoàn thành năm 2014 tại Trường đại học
Ngoại Thương: “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công
thương Việt Nam” Luận văn đã hệ thống cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng, rủi ro
tín dụng và cách quản trị rủi ro tín dụng; phân tích thực trạng hoạt động tín dụng và đánh giá tình hình quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng của tại Vietinbank; định hướng công tác quản trị rủi ro và đưa ra một số giải pháp quản trị rủi ro tín dụng cho
Vietinbank
- Lê Thị Hồng Điều, luận văn thạc sỹ hoàn thành năm 2008 tại Trường Đại học
kinh tế TP.Hồ Chí Minh: “Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng đầu tư và phát triển
Việt Nam” Luận văn đã làm rõ và góp phần hoàn thiện lý luận về quản lý rủi ro tín
dụng; phân tích thực trạng hoạt động tín dụng, nguyên nhân dẫn đến rủi ro và các phương pháp quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV; đưa ra một số biện pháp nhằm quản lý
rủi ro tín dụng tại BIDV
- Nguyễn Dương Thị Hằng Nga, luận văn thạc sỹ hoàn thành năm 2007 tại
Trường Đại học kinh tế TP.Hồ Chí Minh: “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
Trang 18thương mại cổ phần Ngoại thương Đồng Nai trong thời kỳ hội nhập quốc tế” Luận
văn đã làm sáng tỏ một số vấn đề cơ bản về hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại và cơ sở lý luận về quản rị rủi ro tín dụng của ngân hàng trong giai đoạn hội nhập quốc tế; phân tích tình hình hoạt động kinh doanh và hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại VCB Đồng Nai, từ đó đưa ra những mặt tích cực cũng như những mặt hạn chế của công tác quản trị này; đề xuất một số giải pháp quản trị rủi ro tín dụng có thể áp
dụng trong thực tiễn để nâng cao hiệu quả công tác quản trị rủi ro tại VCB Đồng Nai
9 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Nghệ An
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Nghệ An
Trang 19CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1 Các vấn đề cơ bản về ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại
Hiện nay có rất nhiều khái niệm về Ngân hàng thương mại Ở Mỹ, ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt
động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính (Hồ Diệu)
Ở Việt Nam, theo Luật tổ chức tín dụng tại khoản 1 và khoản 7, điều 20 đã xác
định "Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ
ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán" và trong các loại hình tổ chức tín dụng thì "NHTM là một tổ
chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu là thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng và trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các
nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán" (Hồ Diệu)
1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại
a Chức năng trung gian tín dụng
Thực hiện các chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là "cầu nối"
giữa người dư thừa vốn và người cần vốn (Nguyễn Văn Tiến)
Thông qua huy động các khoản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, NHTM hình thành lên quỹ cho vay để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế Với chức năng này NHTM vừa đóng vai trò người đi vay vừa đóng vai trò là người cho vay Với chức năng trung gian tín dụng, NHTM đã góp phần tạo lợi tích cho tất cả các bên tham gia, bao gồm người gửi tiền, ngân hàng và người đi vay đồng thời thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
Trung gian tín dụng được xem làm vai trò quan trọng nhất của NHTM vì nó phản ánh bản chất của NHTM là đi vay để cho vay, nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển
của ngân hàng, đồng thời là cơ sở để thực hiện các chức năng khác (Nguyễn Văn Tiến)
Người dư
thừa vốn
Ngân hàng thương mại
Người cần vốn
Gửi tiền
Ủy thác đầu
tư
Gửi tiền Đầu tư
Trang 20b Chức năng trung gian thanh toán
NHTM làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ Ở đây ngân hàng thương mại đóng vai trò là người
"thủ quỹ" cho các doanh nghiệp và các cá nhân bởi ngân hàng là người giữ tài khoản của họ
Việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt giữa các chủ thể kinh tế có nhiều hạn chế như rủi ro trong vận chuyển tiền gửi, chi phí thanh toán lớn, đặc biệt là những khách hàng ở xa nhau, điều này đã tạo nên nhu cầu khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng
Đối với NHTM chức năng này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc thu phí thanh toán Thêm nữa, nó lại làm tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng Chức năng này cũng chính là cơ sở hình thành chức năng tạo tiền của Ngân hàng thương mại
(Nguyễn Văn Tiến)
c Chức năng tạo tiền
Tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM với mục tiêu
là tìm kiếm lợi nhuận là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình vô hình dung đã thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay,
số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ thanh toán trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng cũng được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội
1.1.3 Hoạt động của ngân hàng thương mại
a Hoạt động tạo lập vốn
NHTM là một loại hình doanh nghiệp, bởi vậy muốn mở rộng các hoạt động kinh doanh nó phải tự lập được nguồn vốn
Trang 21 Vốn tự có
Vốn tự có của NHTM bao gồm vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản nợ khác theo quy định của ngân hàng Trung ương Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng, song nó có ý nghĩa quan trọng, là
cơ sở để thu hút nguồn vốn khác, là vốn khởi đầu tạo uy tín của ngân hàng đối với khách hàng, sử dụng xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngân hàng Đồng thời, vốn
tự có là cơ sở thu hút được nhiều nguồn vốn huy động và xác định hệ số an toàn trong
kinh doanh của ngân hàng (Vũ Văn Hóa, Đinh Xuân Hạng)
Vốn huy động
Huy động vốn nhàn rỗi là một trong những hoạt động quan trọng hàng đầu của NHTM, nó tạo nguồn vốn chủ lực trong kinh doanh NHTM thường huy động vốn nhàn rỗi của xã hội qua các hình thức nhân tiền gửi, phát hàng các chứng từ có giá Huy động tiền gửi là hình thức huy động vốn phổ biến của NHTM, các khoản
tiền gửi có thể được chia thành tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn (Vũ Văn
Hóa, Đinh Xuân Hạng)
Huy động vốn thông qua phát hành chứng từ có giá là việc NHTM phát hành các
chứng từ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng để huy động vốn (Vũ Văn Hóa, Đinh
Xuân Hạng)
Vốn vay của các ngân hàng
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, một NHTM có thể thiếu vốn ngắn hạn để thanh toán Ngân hàng giải quyết bằng cách đi vay các NHTM và các tổ chức tín dụng khác hoặc của ngân hàng Trung ương
Huy động vốn thanh toán và vốn khác: Trong quá trình thực hiện chức năng trung gian thanh toán, ngân hàng không dùng tiền mặt theo lệnh của khách hàng, như vậy ngân hàng đã huy động được nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi dưới hình thức tiền ký quỹ
vào tài khoản tiền gửi thanh toán tiền chu chuyển trong thanh toán (Vũ Văn Hóa, Đinh
Xuân Hạng)
b Hoạt động sử dụng vốn
Sử dụng vốn là hoạt động kinh doanh chủ yếu và quan trọng nhất của NHTM Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động sử dụng vốn ngày càng đa dạng và được thực hiện dưới nhiều hình thức:
Trang 22NHTM và nhu cầu sử dụng vốn đa dạng của khách hàng vay vốn (Vũ Văn Hóa, Đinh
Xuân Hạng)
Hoạt động đầu tư
Hoạt động đầu tư của NHTM được thực hiện dưới hai hình thức chủ yếu sau:
- Đầu tư chứng khoán, ngân hàng mua chứng khoán và trở thành người sở hữu chứng khoán Chứng khoán mà ngân hàng có thể mua là tín phiếu kho bạc ngắn hạn, trái phiếu Chính phủ, cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp Mua chứng khoán mang lại lợi ích cho ngân hàng, đó là ngân hàng sử dụng tối đa nguồn vốn đã huy động được để thu lợi nhuận mặt khác tăng cường khả năng thanh toán cho các khoản dự trữ của mình Ngân hàng thương mại chỉ được đầu tư chứng khoán ở một giới hạn nhất định theo quy định của pháp luật Nhà nước
- Đầu tư vốn liên doanh, liên kết là việc ngân hàng bỏ vốn ra để liên doanh, liên kết với các NHTM, tổ chức tín dụng khác hoặc doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực sản xuất thương mại, dịch vụ để tăng phần góp vốn, tạo ra những lợi thế cho ngân hàng và nền kinh tế
c Hoạt động dịch vụ ngân hàng
Dịch vụ ngân hàng được phát triển mạnh mẽ trong điều kiện kinh tế thị trường và đưa lại nguồn thu đáng kể cho các NHTM Hoạt động dịch vụ được thực hiện dưới các hình thức sau:
Thanh toán
NHTM là một tổ chức cung cấp dịch vụ thanh toán cho khách hàng Dịch vụ nay bao gồm thanh toán không dùng tiền mặt, hoặc thu chi tiền mặt, qua ngân hàng, thông
Trang 23qua hoạt động thanh toán ngân hàng thu được lệ phí, tập trung được nhiều nguồn vốn và thông qua đó kiểm soát được quá trình chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân
Bảo lãnh
NHTM chịu trách nhiệm trả tiền thay cho bên được bảo lãnh, nếu họ không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với yêu cầu của một đối tác nào đó Bảo lãnh được thực hiện dưới nhiều hình thức như: bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh chất lượng và khối lượng hàng hóa
Kinh doanh ngoại tệ và vàng
Ngân hàng mua bán ngoại tệ và vàng ở thị trường trong nước và quốc tế Lợi nhuận mang lại cho ngân hàng là chênh lệch giữa giá bán và giá mua
Môi giới kinh doanh chứng khoán
Ngân hàng làm môi giới chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng
Hoạt động ủy thác
Ngân hàng làm sự ủy thác của khách hàng về một số công việc như quản lý tài sản, đại lý và đại diện các tổ chức kinh tế hoặc cơ quan pháp luật
Hoạt động thông tin tư vấn
NHTM là trung tâm tiền tệ, tín dụng và thanh toán Hơn nữa ngân hàng là một tổ chức khá đầy đủ và cập nhật các thông tin về thị trường, giá cả, do vậy có thể cung cấp các thông tin theo yêu cầu của khách hàng, trong giới hạn cho phép Đồng thời có thể
tư vấn cho khách hàng về xây dựng dự án đầu tư, phương án huy động vốn, phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
1.1.4 Những rủi ro chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động kinh doanh đều chứa đựng những rủi
ro tiềm ẩn Hoạt động kinh doanh của NHTM cũng không tránh khỏi rủi ro Vậy rủi ro
là gì? Rủi ro là sự kiện xảy ra ngoài ý muốn và ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh
doanh của NHTM
Do đặc điểm về đối tượng kinh doanh, về tính hệ thống của nền kinh doanh trong ngân hàng rủi ro cao hơn gấp nhiều lần so với cấc doanh nghiệp trong các lĩnh vực kinh doanh khác Những rủi ro cơ bản mà NHTM thường gặp là:
a Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng khi lãi suất thay đổi ngoài dự tính Lãi suất ngân hàng (cả bên tài sản lẫn bên nguồn vốn) thường xuyên biến động với các mức biến động khác nhau có thể dẫn đến tổn thất
Trang 24- Ngân hàng duy trì tài sản Có kỳ hạn dài hơn so với tài sản Nợ thì ngân hàng luôn
đứng trước rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ đối với tài sản Nợ (Nguyễn Văn Tiến)
- Ngân hàng gặp rủi ro về lãi suất tái đầu tư trong trường hợp tài sản Có có kỳ hạn ngắn hơn so với tài sản Nợ
Khi lãi suất thị trường thay đổi ngân hàng còn có thể gặp phải rủi ro giảm giá trị tài sản Giá trị thị trường của tài sản Có hay tài sản Nợ là dựa trên khái niệm giá trị hiện tại của tiền tệ Do đó, nếu lãi suất thị trường tăng lên thì mức chiết khấu giá trị tài sản cũng tăng lên và do đó giá trị hiện tại của tài sản Có và tài sản Nợ giảm xuống Ngược lại, nếu lãi suất thị trường giảm thì giá trị của tài sản Có và tài sản Nợ sẽ tăng lên Do đó, nếu kỳ hạn của tài sản Có và tài sản Nợ không cân xứng với nhau, ví dụ tài sản Có có kỳ hạn dài hơn tài sản Nợ, thì khi lãi suất thị trường tăng, giá trị của tài sản
Có sẽ giảm nhanh hơn và nhiều hơn so với sự giảm giá trị của tài sản Nợ Rủi ro giảm giá trị tài sản khi lãi suất thay đổi thuộc loại rủi ro về lãi suất và có thể dẫn đến thiệt hại về tài sản của ngân hàng
b Rủi ro hối đoái
Rủi ro hối đoái là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho ngân hàng khi tỷ giá hối đoái thay đổi vượt quá thay đổi dự tính Trong cơ chế thị trường, tỷ giá thường xuyên biến động Sự thay đổi này cùng với trạng thái hối đoái của ngân hàng tạo ra thu nhập thặng dư hoặc thâm hụt tạm thời Tuy nhiên, có những thay đổi tỷ giá ngoài dự kiến
dẫn đến tổn thất cho ngân hàng
c Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn Nếu tất cả các khoản đầu tư của ngân hàng được thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi thì ngân hàng không phải chịu bất cử rủi ro tín dụng nào Trong trường hợp người vay tiền phá sản, thì việc thu hồi gốc và lãi đầy đủ là không chắc chắn, do đó ngân hàng có thể gặp rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là kết quả của việc ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng và ngân hàng nhận được các giấy nhận nợ do người nợ phát hành với sự cam kết là sẽ
thanh toán cả gốc và lãi đầy đủ và đúng hạn cho ngân hàng (Nguyễn Văn Tiến)
Như vậy, rủi ro tín dụng là loại rủi ro cơ bản nhất của ngân hàng
Trang 25d Rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản và khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến cho ngân hàng khi những người gửi tiền đồng thời có nhu cầu cần rút tiền gửi ở ngân hàng ngay lập tức Hậu quả là ngân hàng phải bán một số tài khoản có độ thanh khoản thấp để đáp ứng nhu cầu rút tiền của người gửi, điều này dẫn đến ngân hàng gặp rủi ro thanh khoản
nghiêm trọng (Nguyễn Văn Tiến)
Như vậy, một ngân hàng hoạt động bình thường phải đảm bảo được khả năng thanh khoản, tức là đáp ứng được các nhu cầu thanh khoản trong hiện tại, tương lai và các nhu cầu thanh khoản đột xuất Nếu không đáp ứng được các nhu cầu thanh khoản
đó ngân hàng có thể bị mất khả năng thanh khoản và có nguy cơ phá sản
e Rủi ro hoạt động ngoại bảng
Hoạt động ngoại bảng là các hoạt động không thuộc bảng cân đối tài khoản, các hoạt động này không liên quan đến việc nắm giữ các chứng khoán hay giấy nhận nợ sơ cấp hoặc nhân hàng phát hành các chứng khoán hay giấy nhận nợ thứ cấp
Tính chất của hoạt động ngoại bảng là ngân hàng thu được phí trong khi không phải sử dụng đến vốn kinh doanh, cho nên đã khuyến khích phát triển các hoạt động ngoại bảng ngày càng phát triển Tuy nhiên, những hoạt động này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro Trong thực tế, những trường hợp thua lỗ nghiêm trọng trong hoạt động ngoại bảng đã trở thành nguyên nhân chính khiến cho ngân hàng có thể đi đến phá sản
f Các loại rủi ro khác
Rủi ro môi trường
Là rủi ro do môi trường hoạt động của ngân hàng gây nên, bao gồm: rủi ro do sự biến động của thiên nhiên (lũ lụt, động đất ), rủi ro về kinh tế (khủng hoảng, suy thoái kinh tế ), rủi ro do sự thay đổi các cơ chế, chính sách của Nhà nước gây bất lợi cho ngân hàng
Rủi ro về công nghệ
Xảy ra trong các trường hợp ngân hàng đầu tư rất lớn vào phát triển công nghệ nhưng hiệu quả sử dụng không cao, không tiết kiệm chi phí cho ngân hàng theo như mong muốn Hoặc hệ thống công nghệ của ngân hàng bị trục trặc làm ảnh hưởng đến việc điều hành hoạt động kinh doanh của ngân hàng gây ra những tổ thất nhất định
Trang 26 Các rủi ro khác
Rủi ro hoạt động; rủi ro quốc gia; rủi ro pháp lý
1.2 Rủi ro tín dụng
1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
Rủi ro trong hoạt động ngân hàng có xu hướng tập trung chủ yếu vào các hoạt động tín dụng Đây là rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra, có thể khiến ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng
Theo Thomas P.Fitch (1997): “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay
không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng” (Dictionary of banking terms, Barron’s
Edutional, Inc, 1997)
Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức
tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng
do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng
Rủi ro tín dụng là khả năng tiềm ẩn có thể gây tổn thất về vốn và thu nhập cho ngân hàng phát sinh khi đối tác không đáp ứng được một phần hoặc toàn bộ các điều khoản của hợp đồng tín dụng hay không thực hiện đầy đủ như đã thỏa thuận theo các điều khoản của hợp đồng tín dụng
Rủi ro tín dụng xuất hiện trong quá trình cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng, bao thanh toán và các hình thức cấp tín dụng khác của ngân hàng
Tóm lại, rủi ro tín dụng là nguy cơ mà người đi vay hoặc đối tác của ngân hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã cam kết
Trang 271.2.2 Biểu hiện của rủi ro tín dụng
- Khách hàng có khả năng vỡ nợ, phá sản, lừa đảo, chây ỳ trong việc trả nợ là biểu hiện rõ nhất
- Các khoản nợ trả chậm hoặc không trả được khi đến hạn cũng thể hiện các khả năng vỡ nợ khác nhau Nếu một khoản nợ đến hạn không trả được thì các khoản nợ khác chưa đến hạn cũng được coi là có rủi ro Dù nợ chưa đến hạn, hoặc đến hạn vẫn trả được nhưng tình hình tài chính yếu kém thì khoản nợ đó cũng được coi là có rủi ro
- Khách hàng có dấu hiện chậm trễ trong việc chứng minh khả năng hoạt động của mình như không thể cung cấp được chứng từ chứng minh mục đích sử dụng vốn, hay khách hàng cung cấp báo cáo tài chính không trung thực, số liệu không được chính xác Có thể nói là báo cáo tài chính là nơi phản ánh sức khỏe tài chính của một doanh nghiệp Sai lệch thông tin trên báo cáo tài chính thường là do sự gian lận báo cáo tài chính hoặc do lỗi kế toán Số lượng công ty có báo cáo tài chính gian lận có xu hướng ngày càng tăng Những khoản mục của báo cáo tài chính thường bị sai lệch như: doanh thu, lợi nhuận, tài sản, nợ phải trả, chi phí, lãi lỗ và công bố thiếu thông tin, trong đó ghi nhận doanh thu không hợp lý chiếm tỷ lệ cao, sau đó đến việc khai khống tài sản, che giấu nợ phải trả và chi phí
- Số nợ xấu chiếm bao nhiêu % tổng dư nợ và con số nợ xấu được xác định lớn hay nhỏ Việc cán bộ tín dụng và các cấp quản lý có thực sự trung thực trong việc nhìn nhận rủi ro tín dụng và có chính sách quản lý rủi ro nhằm xác định, hạn chế rủi ro hay không Đa số nợ xấu xuất phát từ việc cán bộ che giấu tình trạng khó khăn của khách hàng Mặc dù các ngân hàng đã phải trích lập dự phòng rủi ro cho một khoản làm hao hụt tổng tài sản và vốn tự có Việc hao hụt này khiến các ngân hàng gặp khó về thanh khoản trong dài hạn hay sự dồi dào thanh khoản lúc này chỉ là trên bề mặt ngắn hạn
- Có nhiều tiêu chí phản ánh rủi ro tín dụng của các Ngân hàng thương mại như: + Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ
+ Tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu
+ Tỷ lệ nợ xấu trên quỹ dự phòng tổn thất
+ Nợ đáng nghi ngờ (nợ có vấn đề) – có khả năng chuyển thành nợ xấu cao + Nợ không có tài sản đảm bảo
Trang 28Do phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro xử lý nợ xấu chưa nhất quán với thông lệ quốc tế nên hiện nay, việc đánh giá chất lượng tín dụng thực chất như thế nào
là hết sức khó khăn, thậm chí không thể làm được
1.2.3 Phân loại rủi ro tín dụng
Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng có thể được chia ra
thành hai loại cơ bản, gồm rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục (Trần Huy Hoàng)
1.2.3.1 Rủi ro giao dịch
Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là
do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng
c Rủi ro nghiệp vụ
Là rủi ro liên quan đến công tác quản trị, như xây dựng và thực hiện chính sách tín dụng để định hướng cho việc cho vay và kiểm soát danh mục cho vay theo ý muốn, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng và kỹ thuật xử lý các khoản vay
có vấn đề (Trần Huy Hoàng)
1.2.3.2 Rủi ro danh mục
Rủi ro danh mục là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh
là do những hạn chế trong quản lý danh mục các khách hàng nhận tín dụng của các
ngân hàng thương mại (Trần Huy Hoàng)
Rủi ro danh mục bao gồm: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung
Trang 29a Rủi ro nội tại
Là rủi ro xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn
b Rủi ro tập trung
Là rủi ro phát sinh từ việc ngân hàng tập trung vốn vay cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao
1.2.4 Nguyên nhân và hậu quả của rủi ro tín dụng
1.2.4.1 Rủi ro tín dụng do nguyên nhân khách quan
a Rủi ro do môi trường kinh doanh
Sự cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM trong nước và các ngân hàng nước ngoài
có tiềm lực mạnh (về vốn, quy mô, công nghệ, sản phẩm, chất lượng dịch vụ) khiến cho các ngân hàng trong nước gặp phải nguy cơ rủi ro các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu hút
Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào sản xuất nông nghiệp và công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực phẩm và nguyên liệu), vốn rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế giới, nên dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến động xấu
Hàng lậu, hàng giả làm điêu đứng các doanh nghiệp trong nước và các ngân hàng đầu tư vốn cho các doanh nghiệp này Các mặt hàng kim khí điện máy, gạch men, đường cát, vải vóc, quần áo, mỹ phẩm,…là những ví dụ tiêu biểu cho tình hình hàng lậu ở nước ta
Sự cạnh tranh và lợi nhuận kỳ vọng đối với các nhà đầu tư làm chuyển dịch vốn
từ ngành này qua ngành khác Việc thiếu quy hoạch và điều tiết hợp lý của Nhà nước dẫn đến sự gia tăng vốn đầu tư quá mức vào một số ngành, dẫn đến khủng hoảng thừa, lãng phí tài nguyên quốc gia
b Rủi ro do môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý của Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập, các chính sách quản lý kinh tế thường thay đổi đột ngột dẫn đến việc ra đời các văn bản pháp lý chưa phù hợp
Trang 30làm ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh tại Việt Nam, khiến nhiều thành phần kinh
tế không điều chỉnh kịp thời phương án kinh doanh
Tuy hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại đã được Luật hóa trong các văn bản Luật và các văn bản pháp lý của Chính phủ, Ngân hàng nhà nước nhưng trong thực tế hoạt động của các ngân hàng thương mại cho thấy vẫn còn những rủi ro tiềm ẩn, xuất phát từ nhiều nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại
Công tác ban hành văn bản pháp luật chưa thật sự có hiệu quả, cần sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ của mỗi ban, ngành, đoàn thể và chính quyền các cấp Mỗi năm, Quốc hội thông qua hàng chục văn bản luật đề cập nhiều lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống Các luật, bộ luật được ban hành tương đối đầy đủ, kịp thời, nhưng văn bản dưới luật nhiều khi lại quá chậm Khi đưa ra thi hành thì điều luật đã trở nên lỗi thời, không còn phù hợp, buộc phải chỉnh sửa hoặc hủy bỏ
c Rủi ro do hệ thống thông tin
Những thách thức cho hệ thống ngân hàng là việc thiếu thông tin tương xứng để làm cơ sở trọng việc mở rộng và kiểm soát tín dụng cho nền kinh tế, do đó nếu các ngân hàng chạy mở rộng tín dụng trong điều kiện môi trường thông tin chưa cân xứng
sẽ gia tăng nguy cơ nợ xấu cho hệ thống ngân hàng
Việt Nam chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ, đáng tin cậy về khách hàng và ngân hàng Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) cũng chỉ cung cấp thông tin về tình hình hoạt động tín dụng nhưng chưa phải là cơ quan xác định mức tín nhiệm khách hàng một cách độc lập và hiệu quả, thông tin cung cấp còn đơn điệu, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu tra cứu thông tin
1.2.4.2 Rủi ro tín dụng do nguyên nhân chủ quan
a Rủi ro do các nguyên nhân từ phía khách hàng vay
- Do sự thay đổi chính sách, pháp luật ảnh hưởng bất lợi đến hoạt động kinh doanh của khách hàng;
- Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay:
Đa số các khách hàng khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh doanh cụ thể, khả thi Số lượng các khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, có ý lừa đảo ngân hàng
Trang 31để chiếm đoạt tài sản không nhiều Tuy nhiên những vụ việc phát sinh lại hết sức nặng nề, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các khách hàng khác
- Khả năng quản lý kinh doanh kém
- Tình hình tài chính khách hàng yếu kém, thiếu minh bạch
b Rủi ro do các nguyên nhân từ phía ngân hàng
- Do các quy trình, quy định thiếu chặt chẽ, chưa đầy đủ; bộ máy quản trị và kiểm soát rủi ro hoạt động chưa hiệu quả;
- Cho vay và đầu tư vốn quá nhiều vào một khách hàng hoặc một ngành kinh tế hoặc một địa bàn nào đó;
- Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin không đầy
đủ dẫn đến cho vay hoặc đầu tư không hợp lý;
- Do không phát hiện khách hàng vay vốn thiếu năng lực pháp lý, năng lực tài chính;
- Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ ngân hàng;
- Bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ;
- Thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay;
- Sự hợp tác giữa các NHTM còn lỏng lẻo, vai trò của CIC chưa thực sự hiệu quả
Tóm lại, rủi ro tín dụng có thể phát sinh do rất nhiều nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan Các biện pháp phòng chống rủi ro có thể nằm trong tầm tay của các NHTM nhưng cũng có những biện pháp vượt ngoài khả năng của riêng từng ngân hàng, liên quan đến vấn đề nội tại của bản thân nền kinh tế đang chuyển đổi, đang định hướng mô hình phát triển Trong phạm vi của các ngân hàng, rủi ro tín dụng phụ thuộc vào năng lực của bộ máy cấp quản lý tín dụng trong việc phát hiện và hạn chế rủi ro từ lúc xem xét quyết định cho vay cũng như trong suốt thời gian vay Năng lực cấp tín dụng phụ thuộc vào chuyên môn của cán bộ tín dụng và các nguồn lực của ngân hàng về nhân sự cũng như về cơ sở vật chất Do vậy biện pháp phòng ngừa rủi
ro tín dụng sâu sắc nhất vẫn là các biện pháp liên quan đến việc đào tạo, bố trị cán bộ
và cơ chế kiểm tra, giám sát hành vi của cán bộ trong quá trình xử lý công việc Thực hiện tốt các biện pháp này có thể cho rằng con đường quản lý rủi ro tín dụng của ngành ngân hàng coi như đã đi được hơn một nửa
Trang 321.2.5 Những thiệt hại từ rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng luôn tiềm ẩn trong kinh doanh ngân hàng và đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống, kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, thậm chí có thể lan rộng trên phạm vi toàn cầu
- Đối với ngân hàng bị rủi ro:
Do không thu hồi được nợ (gốc, lãi và các loại phí) làm cho nguồn vốn ngân hàng
bị thất thoát, trong khi ngân hàng vẫn phải chi trả tiền lãi cho nguồn vốn hoạt động, làm cho lợi nhuận bị giảm sút, thậm chí nếu trầm trọng hơn thì có thể bị phá sản
- Đối với hệ thống ngân hàng:
Hoạt động của ngân hàng trong một quốc gia có liên quan đến hệ thống ngân hàng và các tổ chức kinh tế, xã hội và cá nhân trong nền kinh tế Do vậy, nếu một ngân hàng có kết quả hoạt động xấu, thậm chí dẫn đến mất khả năng thanh toán và phá sản thì sẽ có những tác động dây chuyền ảnh hưởng xấu đến các ngân hàng và các bộ phận kinh tế khác Nếu không có sự can thiệp kịp thời của Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ thì tâm lý sợ mất tiền sẽ lây lan đến toàn bộ người gửi tiền và họ sẽ đồng loạt rút tiền tại các Ngân hàng thương mại làm cho các ngân hàng khác vô hình chung cũng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán
- Đối với nền kinh tế:
Ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế, là kênh thu hút và bơm tiền cho nền kinh tế, vì vậy rủi ro tín dụng gây nên sự phá sản một ngân hàng sẽ làm cho nền kinh tế bị rối loạn, hoạt động kinh tế bị mất ổn định và ngưng trệ, mất bình ổn về quan hệ cung cầu, lạm phát, thất nghiệp, tệ nạn xã hội gia tăng, tình hình an ninh chính trị bất ổn…
- Trong quan hệ kinh tế đối ngoại:
Làm ảnh hưởng đến vị thế và hình ảnh của hệ thống ngân hàng – tài chính quốc gia cũng như toàn bộ nền kinh tế của quốc gia đó
Tóm lại, rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra sẽ gây ảnh hưởng ở các mức
độ khác nhau Nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi phải trích lập dự phòng, không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn gốc và lãi vay, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn
Trang 33Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay
1.2.6 Nợ xấu và các chỉ số đo lường rủi ro tín dụng
1.2.6.1 Khái niệm nợ xấu
Ở Việt Nam, theo điều 10, Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro để để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài nhằm thay thế Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 và các quy định khác về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro trong hoạt động của các tổ chức tín dụng thì nợ của các ngân hàng thương mại Việt Nam được phân loại thành 5 nhóm như sau:
Trong đó: Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi
đã quán hạn; Nợ xấu: là các khoản nợ thuộc các nhóm 3,4,5 Theo các nhóm trên thì tỷ
lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với các nhóm nợ quy định là: Nhóm 1: 0%; Nhóm 2: 5%; Nhóm 3: 20%; Nhóm 4: 50%; Nhóm 5: 100% Riêng đối với các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý thì được trích lập dự phòng cụ thể theo khả năng tài chính của tổ chức tín dụng
Như vậy thì khái niệm về nợ xấu của Việt Nam đã gần sát với chuẩn mực quốc
tế Tuy nhiên vẫn còn có sự khác biệt là các ngân hàng lớn trên thế giới phân loại nợ xấu gắn liền với nguyên nhân xảy ra để xác định mức độ rủi ro, trong khi các ngân hàng thương mại Việt Nam phân loại nợ xấu căn cứ vào thời hạn mà bỏ qua việc đánh giá lại tình hình tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng vay vốn
Trang 341.2.6.2 Các chỉ số đo lường rủi ro tín dụng
Hoạt động tín dụng đem về lợi nhuận lớn cho ngân hàng nhưng cũng luôn tiềm
ẩn nhiều rủi ro Đặc biệt, đối với các nước phát triển trong giai đoạn đầu hội nhập kinh
tế thế giới thì mức độ rủi ro tín dụng lại càng cao hơn Vì thế, các ngân hàng luôn luôn kiểm tra hoạt động tín dụng của mình để chủ động phòng ngừa rủi ro Ngân hàng thường sử dụng các tiêu chí sau để phản ánh rủi ro tín dụng:
- Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng:
+ Nợ quá hạn/Tổng dư nợ: Hệ số này cho biết tỷ trọng nợ quá hạn trong tổng dư
nợ, tỷ lệ này càng cao thì chất lượng tín dụng càng thấp
+ Nợ xấu/Tổng dư nợ: Hệ số này cho biết tỷ trọng nợ xấu (nợ nhóm 3 – 5) trong tổng dư nợ, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là chỉ số cơ bản để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng
+ Nợ không có tài sản đảm bảo
+ Tỷ lệ nợ xấu/quỹ dự phòng tổn thất
+ Dư nợ/Tổng tài sản: cho biết tỷ trọng của hoạt động tín dụng trong tổng tài sản có, khoản mục này càng lớn thì lợi nhuận sẽ lớn nhưng đồng thời rủi ro tín dụng cũng sẽ rất cao
+ Hệ số rủi ro tín dụng (Nợ quá hạn/Tổng tài sản có): cho thấy tỷ lệ nợ quá hạn chiếm trong một đơn vị tài sản có
1.3 Quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng
1.3.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng
Quản trị là thiết lập một chương trình hoạt động kinh doanh dài và ngắn hạn cho một doanh nghiệp ngân hàng, xác định các nguồn tài nguyên để thực hiện chương trình
đó và lãnh đạo nhân viên ngân hàng thực hiện những mục tiêu đề ra
Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình từ việc hoạch địch chiến lược đến việc tổ chức thực hiện, điều khiển và kiểm soát việc thực hiện chiến lược, phòng ngừa, hạn
chế và xử lý rủi ro trong hoạt động tín dụng mà ngân hàng đề ra (Đinh Xuân Hạng,
Nguyễn Văn Lộc)
Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình theo dõi, xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và hoạt động kinh doanh tín dụng của ngân hàng nhằm đạt được mục tiêu an toàn, phát triển bền vững, tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn
Trang 35chế và giảm thấp nợ xấu, nợ quá hạn trong kinh doanh tín dụng, từ đó tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh trong cả ngắn hạn và dài hạn của ngân hàng thương mại
Quản trị rủi ro tín dụng để bảo vệ ngân hàng tránh khỏi những thiệt hại không dự tính trước, bảo đảm không ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và khả năng tồn tại của ngân hàng bằng cách hạ thấp rủi ro tín dụng bằng các biện pháp quản lý, giám sát hoạt động tín dụng và kiểm soát rủi ro
1.3.2 Những nội dung cơ bản của quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại
1.3.2.1 Nhận diện rủi ro tín dụng
Bước đầu tiên để có một chương trình quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả là phải nhận biết và xác định được các loại rủi ro tín dụng mà tổ chức tín dụng có thể gặp phải thông qua việc phân tích khách hàng, môi trường kinh doanh, đặc thù các sản phẩm, dịch vụ và quy trình nghiệp vụ tín dụng Một trong những cách phân tích rủi ro cơ bản
là phân tích từ nguyên nhân đến tổn thất theo chuỗi rủi ro với 5 mắt xích như sau: Mối nguy cơ -> Môi trường rủi ro -> Sự tương tác giữa mối nguy cơ và yếu tố môi trường -
> Kết quả trực tiếp -> Hậu quả lâu dài Việc phân tích theo chuỗi rủi ro sẽ tạo điều kiện cho các nhà quản trị phát triển các phương pháp kiểm soát rủi ro và hiểu kết quả xảy ra như thế nào để có phương pháp kiểm soát phù hợp
+ Nhận biết và đo lường rủi ro, rủi ro theo từng khoản vay, theo dạng hợp đồng tín dụng, theo dạng tài sản bảo đảm, từng khách hàng, nhóm khách hàng, theo mặt hàng và lĩnh vực đầu tư…
+ Trong quá trình xác định mức độ rủi ro cần chú ý các rủi ro mới trước đó chưa được phát hiện
1.3.2.2 Đo lường rủi ro tín dụng
Việc đo lường rủi ro, đánh giá khả năng và giá trị tổn thất theo tần số và mức độ tổn thất Quá trình đo lường có thể mang hình thức đánh giá chất lượng hoặc đánh giá
số lượng Hiện nay trên thực tế có 3 phương pháp định lượng cơ bản là:
- Phương pháp thống kê: Bản chất của phương pháp này là dựa trên việc tính toán xác suất xảy ra thiệt hại đối những nghiệp vụ tín dụng được nghiên cứu
Trang 36- Phương pháp kinh nghiệm: Phương pháp này được hình thành trên kinh nghiệm của các chuyên gia Và để chính xác hơn các nhà quản trị ngân hàng có thể kết hợp phương pháp thống kê và phương pháp kinh nghiệm với nhau (phương pháp này thường được các ngân hàng áp dụng)
- Phương pháp tính toán – phân tích: Phương pháp này dựa trên việc xây dựng đường cong xác suất thiệt hại và đánh giá rủi ro tín dụng ngân hàng dựa trên sự biến thiên của đồ thị toán ứng dụng bằng phương pháp ngoại suy Tuy nhiên, việc đánh giá rủi ro tín dụng trên cơ sở toán về mặt lý thuyết chưa được hoàn thiện Vì vậy phương pháp này thực tế hiện nay chưa được áp dụng rộng rãi
1.3.3 Ý nghĩa của quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị rủi ro tín dụng luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu của các ngân hàng thương mại ngay cả đối với những nền kinh tế phát triển ổn định và là điều kiện vô cùng cần thiết cho sự thành công lâu dài của ngân hàng với những lý do sau:
Trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, các quy luật kinh tế như quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh… ngày càng phát huy tác dụng, những rủi ro trong sản xuất, kinh doanh của các công ty trong nền kinh tế thị trường trực tiếp hay gián tiếp tác động đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại
Các ngân hàng thương mại đứng giữa người có vốn và người cần vốn, thực hiện chức năng huy động vốn và cho vay Đấy cũng chính là lĩnh vực hoạt động kinh doanh chủ yếu của bất kỳ một ngân hàng nào Hoạt động kinh doanh của ngân hàng vì thế bao gồm rất nhiều loại rủi ro Do đó, ngân hàng cần đánh giá cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro – lợi ích nhằm tìm ra những lợi ích xứng đáng với mức rủi ro
có thể chấp nhận được Ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà ngân hàng gánh chịu là hợp lý và kiểm soát được chứ không thể chối bỏ rủi ro
Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại phụ thuộc vào mức độ rủi ro: Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có nhiều yếu tố khách quan và chủ quan mang lại rủi ro, nhiều yếu tố bất khả kháng nên không tránh khỏi rủi ro Chính vì vậy, hàng năm các NHTM được phép và cần phải trích lập quỹ bù đắp rủi ro hạch toán vào chi phí Quy mô quỹ bù đắp rủi ro căn cứ vào mức độ và khả năng rủi ro Nếu rủi ro thấp thì hiệu quả kinh tế sẽ tăng và ngược lại Như vậy, hiệu quả kinh doanh của NHTM tỷ
lệ nghịch với mức độ rủi ro của khách hàng
Trang 37Việc quản trị RRTD có ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công hay thất bại của một ngân hàng Ở hầu hết các ngân hàng trên thế giới, nguyên nhân chủ yếu của các vụ đổ
vỡ liên quan trực tiếp đến việc buông lỏng các tiêu chuẩn cấp tín dụng với khách hàng vay, các bên đối tác, đến việc quản trị danh mục kém hiệu quả, hoặc thiếu quan tâm đến những thay đổi của môi trường kinh tế Ở Việt Nam đã từng xảy ra nhiều đổ vỡ hệ thống ngân hàng mà nguyên nhân chủ yếu cũng từ quản trị RRTD kém… Quản trị RRTD vì thế luôn được coi là hoạt động trung tâm của mọi ngân hàng
Theo sự tổng kết của Quỹ tiền tệ Quốc tế thì 50% ngân hàng bị phá sản là do tổ chức quản trị yếu kém, trong đó quản trị RRTD chiếm vị trí quan trọng Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có nhiều yếu tố khách quan và chủ quan mang đến rủi ro, nhiều yếu tố bất khả kháng nên ngân hàng không thể tránh khỏi rủi ro Quản trị rủi ro tín dụng tốt là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của các NHTM Ngoài quản trị RRTD đề ra những mục tiêu cụ thể và giúp ngân hàng đi đúng hướng Các nhà quản trị ngân hàng có kế hoạch hành động cụ thể và hiệu quả, phù hợp với mục tiêu đã đề ra, họ phải vạch ra những việc phải làm và cách làm tốt nhất
Ngân hàng sẽ có chính sách cho vay và các phương thức kiểm tra sử dụng vốn vay hiệu quả, đảm bảo quá trình thu hồi vốn vay có kết quả tốt nhất Luồng vốn trong dân cư được luân chuyển một cách có hiệu quả từ người dân vào ngân hàng, và từ ngân hàng đến cộng đồng dân cư Người đi vay có kế hoạch sử dụng vốn vay của mình một cách hiệu quả và kịp thời điều chỉnh kế hoạch kinh doanh cho phù hợp trong từng thời kỳ
1.4 Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại trên thế giới và bài học cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
1.4.1 Kinh nghiệm quản trị rủi ro của một số ngân hàng trên thế giới
Khủng khoảng tài chính khu vực Châu Á thời kỳ 1997-1998 bắt nguồn từ Thái Lan và cuộc khủng khoảng tài chính – tín dụng toàn cầu khởi đầu từ Mỹ lan rộng sang khu vực Châu Âu và sau đó là các nước trên thế giới vào năm 2008 Với những gì xẩy
ra, cho thấy ngày càng nhiều các ngân hàng với trình độ, thâm niên, kinh nghiệm hàng trăm năm nhưng cuối cùng cũng buộc phải công bố các khoản nợ xấu, thua lỗ lớn kỷ lục, trong đó có nhiều ngân hàng trong khu vực và trên thế giới đứng trước nguy cơ phá sản hoặc thậm trí là tuyên bố phá sản như Fannie Ma, Preddie Mac hay Lehman
Trang 38Brothers Vì vậy, nghiên cứu kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng ở các nước trên thế giới là hữu ích, cũng là bài học kinh nghiệm để sẵn sàng đối phó với rủi ro tín dụng cho các ngân hàng tại Việt Nam
1.4.1.1 Trung Quốc
a Kinh nghiệm quản lý và xử lý nợ xấu ở Trung Quốc
Chính phủ Trung Quốc đã thành lập ban cơ cấu nợ của chính phủ bao gồm các nhà khoa học và nhà quản lý danh tiếng của Trung Quốc Dưới ban này có 4 công ty mua bán nợ (AMC) được chỉ định đứng ra đặc trách mua lại nợ xấu của 4 ngân hàng Thương mại Nhà nước lớn ở Trung Quốc Chính phủ cho phát hành 270 tỷ NDT trái phiếu dài hạn của Chính phủ để tiếp ứng vốn điều lệ cho các NHTM Nhà nước, đồng thời ngân hàng Trung ương cho giải phóng khỏi quỹ dự trữ bắt buộc từ mức 13% xuống còn 8% rồi 6% để tăng cường vốn khả dụng cho các ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng phát hành cổ phiếu và bán cho chính cán bộ công nhân viên của ngân hàng mình theo một tỷ lệ xác định, đồng thời bổ sung quy chế về lập quỹ dự phòng bắt buộc, theo đó căn cứ vào bảng phân tích, phân loại tín dụng của cơ quan thanh tra, các ngân hàng thương mại phải lập 100% dự phòng cho các khoản nợ được xếp loại xấu, 75% cho các khoản nợ thuộc loại có vấn đề và 15% cho các khoản nợ có chất lượng không cao và tăng cường kiểm soát khống chế theo 25 tiêu chuẩn thanh tra
- giám sát của ủy ban Baesl không cho nợ xấu phát sinh
b Kinh nghiệm quản trị rủi ro của Trung Quốc
Theo quy định của ngân hàng nhân dân Trung Quốc, bộ phận tín dụng của NHTM cần phải có quy trình kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay, kịp thời thu thập thông tin để phân loại, thiết lập và kịp thời đề xuất kiến nghị kiểm tra lại, chịu trách nhiệm về tính chân thực, tính chính xác, tính hoàn chỉnh của các dữ liệu phân loại đã cung cấp; Tiến hành phân loại sơ bộ tài sản theo tiêu chuẩn phân loại, đề xuất ý kiến và lý do phân loại; định kỳ báo cáo cho bộ phân quản lý rủi ro những thông tin phân loại của bộ phận tín dụng
Khi phân loại các khoản tín dụng, NHTM Trung Quốc chủ yếu dựa trên khả năng trả nợ và dòng tiền thuân, thiện chí trả nợ, tài sản đảm bảo, trách nhiệm pháp luật
về thanh toán nợ vay của khách hàng, tình hình quản lý tín dụng của ngân hàng
Trang 39Trong phân loại nợ, các NHTM Trung Quốc lấy việc đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng làm cốt lõi, xem thu nhập kinh doanh thông thường của khách hàng là nguồn vốn trả nợ chủ yếu, tài sản đảm bảo là nguồn vốn trả nợ thứ yếu Đối với khoản vay mới, ngân hàng xem xét lịch sử giao dịch, trạng thái uy tín của khách hàng Nếu khách hàng vay là công ty mới thành lập chủ yếu xem xét lịch sử giao dịch, uy tín cổ đông, lịch sử trả nợ của khách hàng có thể phản ánh tình trạng gia hạn, quá hạn nợ vay của họ, đây là yếu tố quan trọng cần xem xét khi tiến hành phân loại các khoản tín dụng
1.4.1.2 Singapore
Bên cạnh xây dựng một hệ thống phòng ngừa nợ quá hạn, nợ xấu thông qua các
cơ chế, chính sách cho vay, thành lập ủy ban giám sát ngân hàng cũng như mở rộng các nghiệp vụ kinh doanh hiện đại, Singapore quy định những người ký kết các khoản tín dụng phải chịu trách nhiệm trước tiên trong việc thực hiện phân loại tín dụng chính xác dựa trên những đánh giá về tình hình tổng thể và có thể thay đổi kết quả phân loại trong quá trình phê chuẩn thông thường hay vào bất cứ thời điểm nào khác
Để phòng ngữa các khoản nợ xấu, các NHTM Singapore được yêu cầu xây dựng "danh mục theo dõi" để nhận biết những dấu hiệu cảnh báo sớm vấn đề bất ổn về tín dụng "Danh mục theo dõi" không phải là danh mục phân loại, mà là danh sách khách hàng đang tồn tại những vấn đề rủi ro tín dụng tiềm ẩn cần quan tâm Tuy nhiên, trong trường hợp dấu hiệu cảnh báo sớm có chiều hướng ảnh hưởng bất lợi đối với khách hàng vay, khi đó cần xem xét để có thể xếp loại khách hàng vào nhóm nợ cần chú ý hoặc thấp hơn
Đối với các khoản nợ được phân loại vào nợ xấu, thì tối đa trong vòng 30 ngày làm việc, các cán bộ tín dụng phải chuyển ngay cho bộ phận quản lý tài sản đặc biệt để theo dõi để: xem xét lại tất cả các loại giấy tờ và tài sản và tài sản ký quỹ, khi cần thiết
có thể sửa đổi để hoàn chỉnh các giấy tờ và tài sản đó Đánh giá khả năng của khách hàng
và sẵn sàng thực hiện cơ cấu lại nợ trong một khoảng thời gian thích hợp Trường hợp cần thiết sẽ tiến hành những thủ tục pháp lý thích hợp để thu hồi các khoản nợ tín dụng, đưa ra chiến lược thu hồi các khoản nợ cũng như phân loại vào nhóm nợ thích hợp Tiến hành giám sát chặt chẽ và kiểm tra thường xuyên hơn đối với các khoản nợ này
1.4.1.3 Thái Lan
Hệ thống ngân hàng Thái Lan có bề dày kinh nghiệm hàng trăm năm, nhưng đứng trước cuộc khủng khoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997-1998 vẫn bị chao
Trang 40đảo, nhiều NHTM và các Công ty tài chính bị phá sản hoặc bị bắt buộc phải sát nhập Trong bối cảnh đó buộc các ngân hàng Thái Lan phải xem xét lại toàn bộc chính sách, cách thức, quy trình hoạt động, đặc biệt là trong hoạt động tín dụng nhằm giảm thiểu rủi ro đi đôi với việc đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng và dịch vụ, xác định khách hàng mục tiêu, chủ động tiếp thị khách hàng, ứng dụng công nghệ cao trong hoạt động ngân hàng , một loạt thay đổi căn bản trong tín dụng đã được ngân hàng Thái Lan triển khai nhanh chóng và triệt để, cụ thể như sau:
a Tách bạch, phân công rõ chức năng của cán bộ và tuân thủ các khâu trong quy trình giải quyết các khoản vay
- Tại Ngân hàng Siam Commercial Bank (SCB), trước đây cán bộ trong quy trình này gộp làm một, nay ngân hàng đã tách hẳn thành hai bộ phận độc lập với nhau:
bộ phận tiếp nhận giải quyết hồ sơ và bộ phận thẩm định Trong đó, bộ phận thẩm định phải báo cáo thẩm định tín dụng, gồm chiến lược và kế hoạch kinh doanh, báo cáo xếp hạng rủi ro đây là một thay đổi căn bản của NH nhằm đảm bảo tính độc lập trong quá trình làm việc
Ngân hàng đã phân loại theo từng nhóm khách hành khác nhau: khách hàng tiêu dùng (chủ yếu), khách hàng kinh doanh, khách hàng cá nhân (giàu nghèo ) từ đó nhận
rõ tính chất khác nhau làm cơ sở cho các bộ phận nói trên trong việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ, thẩm định và quyết định cho vay
- Tại Bangkok Bank: Công tác phòng chống rủi ro tại ngân hàng Bangkok Bank luôn được quan tâm hàng đầu, việc phòng chống rủi ro được chia thành 3 lớp: Lớp 1 tại bộ phận kinh doanh khi tiếp xúc, giao dịch với khách hàng, là lớp vỏ bọc đầu tiên (lớp này chủ yếu tập trung và công việc: phân tích về khách hàng, phân tích ngành nghề kinh doanh, phân tích thu nhập, chi phí và dòng tiền, thị trường, định giá khoản vay kèm theo điều kiện đảm bảo, kiểm tra sau khi cho vay…); Lớp thứ 2 tại bộ phận quản lý rủi ro, bộ phần này theo dõi mức độ rủi ro, xây dựng chính sách, hạn mức, thẩm quyền phên duyệt, quy trình thực hiện và thường xuyên theo dõi, có báo cáo cụ thể để có ứng xử kịp thời; Lớp thứ 3 tại bộ phận kiểm toán có trách nhiệm theo dõi hai lớp bảo vệ trên về đảm bảo tuân thủ chính sách, chuẩn mực và quy định, hướng dẫn Các lớp phòng chống rủi ro này đều có sự hỗ trợ đồng bộ về công nghệ thông tin, nên công tác cảnh báo, đánh giá, xử lý luôn được nhanh chóng, kịp thời và chính xác