Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chính của nghiên cứu là phân tích thực trạng công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Nghi Lộc với các m
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Quyết định giao đề tài: 259 /QĐ-ĐHNT ngày 24/03/2016
Quyết định thành lập hội đồng: 1163/QĐ-ĐHNT ngày 29/12/2016 Ngày bảo vệ: 14/01/2017
Người hướng dẫn khoa học:
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An” là công
trình nghiên cứu của bản thân tôi và chưa được công bố trên bất kỳ phương tiện thông tin nào Mọi sự giúp đỡ để hoàn thành đề tài nghiên cứu này đã được cảm ơn đầy đủ, các thông tin trích dẫn trong đề tài nghiên cứu này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả đề tài
Nguyễn Thị Thúy Hằng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành đề tài Luận văn này, tôi đã nhận được sự hỗ trợ, giúp
đỡ và tạo điều kiện từ cơ quan, tổ chức và cá nhân Luận văn cũng được hoàn thành dựa trên sự tham khảo, học tập kinh nghiệm từ các kết qủa nghiên cứu liên quan, các tạp chí chuyên ngành của nhiều tác giả ở các trường Đại học, các tổ chức nghiên cứu,
tổ chức chính trị…Đặc biệt là sự hợp tác, sự giứp đỡ của các đội thuế thuộc Chi cục Thuế Nghi lộc trong quá trình thu thập dữ liệu nghiên cứu; đồng thời là sự giúp đỡ, tạo điều kiện về vật chất và tinh thần từ phía gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp nơi tôi đang công tác
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo TS Phạm Hồng Mạnh người hướng dẫn khoa học đã trực tiếp dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
Tôi xin trân trọng cám ơn Ban giám hiệu, Khoa kinh tế, Khoa đào tạo SĐH- Trường Đại học Nha Trang, cùng toàn thể các thầy cô giáo đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Nhân đây, tôi xin chân thành cám ơn tất cả mọi người đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này Cám ơn tất cả các tác giả của các công trình mà tôi đã tham khảo; cám
ơn sự cộng tác từ phía hộ kinh doanh và sự giúp đỡ của tất cả mọi người
Tuy có nhiều cố gắng, nhưng trong Luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tôi kính mong Quý thầy cô, các chuyên gia, những người quan tâm đến
đề tài, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè tiếp tục có những ý kiến đóng góp, giúp đỡ để
đề tài được hoàn thiện hơn
Một lần nữa xin chân thành cám ơn./
Tác giả đề tài
Nguyễn Thị Thúy Hằng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC HÌNH x
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 7
1.1 Thuế và vai trò của thuế trong nền kinh tế 7
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thuế 7
1.1.2 Vai trò của thuế 11
1.2 Đặc điểm của quản lý thu thuế doanh nghiệp ngoài quốc doanh 13
1.2.1 Khái niệm về quản lý thuế 13
1.2.2 Khái niệm doanh nghiệp ngoài quôc doanh 14
1.2.3 Sự tồn tại khách quan của doanh nghiệp Ngoài quốc doanh 14
1.2.4 Đặc điểm doanh nghiệp Ngoài quốc doanh 15
1.2.5 Đặc điểm quản lý thuế doanh nghiệp NQD 16
1.2.6 Ưu nhược điểm của doanh nghiệp NQD 19
1.3 Nội dung cơ bản của một số sắc thuế chủ yếu đối với doanh nghiệp NQD 21
1.3.1 Một số loại thuế chủ yếu đối với các doanh nghiệp NQD 22
1.3.2 Công tác quản lý thuế doanh nghiệp NQD 24
1.3.3 Ý nghĩa của quản lý thu thuế doanh nghiệp NQD 25
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 27
Trang 61.4 Kinh nghiệm của thế giới và Việt Nam trong công tác quản lý thuê đối với doanh
nghiệp ngoài quốc doanh 30
1.4.1 Kinh nghiệm của các nước 30
1.4.2 Kinh nghiệm quản lý thuế của một số địa phương ở Việt Nam 32
1.4.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra trong công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp NQD 36
Tóm lược chương 1: 38
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NQD TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN NGHI LỘC 39
2.1 Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội huyện Nghi Lộc 39
2.1.1 Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 39
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 40
2.2 Thực trạng công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế huyện Nghi Lộc trong những năm 2013-2015 41
2.2.1 Khái quát tình hình phát triển của các doanh nghiệp NQD tại Nghi Lộc 41
2.2.2 Vai trò của các doanh nghiệp NQD ở Nghi Lộc 43
2.2.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy chức năng nhiệm vụ Chi cục thuế Nghi Lộc 44
2.2.4 Tình hình thực hiện dự toán thu ngân sách của Chi cục thuế Nghi Lộc giai đoạn 2013-2015 50
2.2.5 Thực trạng triển khai thực hiện các hoạt động quản lý thuế đối với các doanh nghiệp NQD trên địa bàn huyện Nghi Lộc 52
2.2.6 Kết quả quản lý thu thuế 67
2.3 Các yếu tố ảnh hưỏng đến công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp trên địa bàn 77
2.3.1 Các yếu tố thuộc về nội dung các sắc thuế 77
2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng thuộc về tổ chức, quản lý công tác thuế 80
2.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng thuộc về người nộp thuế 82
Tóm lược chương 2: 84
Trang 7CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
TẠI CHI CỤC THUẾ NGHI LỘC 85
3.1 Định hướng và mục tiêu hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 85
3.1.1 Định hướng 85
3.1.2 Mục tiêu của Chi cục thuế Nghi Lộc 86
3.2 Một số Giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp NQD trên địa bàn huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An 86
3.2.1 Tăng cường tuyên truyên giáo dục pháp luật về thuế, phổ biến, công khai các thủ tục hành chính thuế cho doanh nghiệp NQD 87
3.2.2 Tăng cường công tác quản lý nợ thuế, tích cực xử lý vi phạm và cưỡng chế nợ thuế 89
3.2.3 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thuế 90
3.2.4 Tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng công chức thuế 91
3.2.5 Phát huy vai trò của các cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng xã hội với công tác quản lý thuế 94
3.3 Một số kiến nghị 95
3.3.1 Ðối với Nhà nước 95
3.3.2 Đối với Bộ Tài chính 96
3.3.3 Đối với chính quyền địa phương 97
3.3.4 Đối với cơ quan Thuế 97
Tóm lược chương 3 98
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC 104
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Tính thuế MB căn cứ vào vốn 23
Bảng 2.1: Gía trị sản xuất của huyện Nghị Lộc (theo giá năm 2000) 40
Bảng 2.2: Sự phát triển của DN NQD trên địa bàn huyện từ năm 2013 - 2015 41
Bảng 2.3: Phân bổ Doanh nghiệp NQD trên địa bàn huyện theo ngành nghề hoạt động các năm 2013-2015 42
Bảng 2.4: Quy mô và tỷ trọng thu thuế từ DN NQD trong NSNN huyện 43
Bảng 2.5: Tình hình số lượng, chất lượng lao động ở Chi cục Thuế Nghi Lộc giai đoạn 2013 – 2015 49
Bảng 2.6: Tài sản và cơ sở vật chất giai đoạn 2013-2015 50
Bảng 2.7: Kết quả thực hiện dự toán thu NSNN các năm 51
Bảng 2.8: Tỷ trọng số thu từ doanh nghiệp NQD trên tổng số thu NSNN huyện Nghi Lộc năm 2015 52
Bảng 2.9: Kết quả hoạt động tuyên truyền của Chi cục thuế huyện Nghi Lộc 57
Bảng 2.10: Kết quả hoạt động hỗ trợ các DN năm 2015 58
Bảng 2.11: Cách giải quyết vướng mắc của người nộp thuế 59
Bảng 2.12: Kết quả kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế 62
Bảng 2.13: Số người nộp thuế nợ thuế 66
Bảng 2.14: Các biện pháp đôn đốc thu nợ đã áp dụng 67
Bảng 2.15: Tình hình nộp hồ sơ khai thuế của các doanh nghiệp trên địa bàn 69
Bảng 2.16: Tình hình hồ sơ khai thuế nộp quá hạn của các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Nghi Lộc 70
Bảng 2.17: Kết quả nộp thuế của các DN giai đoạn 2013 - 2015 71
Bảng 2.18: Số thuế truy thu bình quân đối với doanh nghiệp 72
Bảng 2.19: Tỷ lệ truy thu bình quân đối với doanh nghiệp 73
Bảng 2.20: Kết quả kiểm tra thuế các DN 74
Bảng 2.21: Tỷ lệ hồ sơ khai thuế phải điều chỉnh 74
Bảng 2.22: Tình hình nợ thuế thời điểm 31/12 hàng năm 76
Bảng 2.23: Ý kiến của các doanh nghiệp điều tra 79
Bảng 2.24: Nhận xét của các doanh nghiệp trong việc chấp hành chính sách thuế 83
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy Chi cục Thuế Nghi Lộc 45
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chi cục Thuế Nghi Lộc là một trong những Chi cục thuộc Cục Thuế Tỉnh Nghệ
An trong nhiều năm đều hoàn thành nhiệm vụ thu NSNN Tuy vậy việc quản lý thu thuế khu vực kinh tế NQD nói chung, doanh nghiệp NQD nói riêng hiện còn nhiều trở ngại trong cơ chế chính sách, quy trình hành thu còn nhiều vướng mắc, ý thức chấp hành nghĩa vụ của người nộp thuế còn thấp Một số hiện tượng tiêu cực còn phổ biến như: không sử dụng hóa đơn khi bán hàng, sử dụng hoá đơn bất hợp pháp khai tăng chi phí, ghi giá bán thấp, khai man trốn thuế còn nhiều Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhiều thành phần tham gia, các doanh nghiệp NQD tăng lên nhanh chóng cả về số lượng lẫn quy mô cùng với việc đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cơ chế chính sách quản lý từ Trung ương đến các địa phương đã đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản quản lý thuế nói chung và quản lý thu thuế đối với NQD trên địa bàn huyện Nghi Lộc nói riêng
Việc nghiên cứu để tìm những giải pháp đổi mới, cải tiến quy trình, thủ tục cũng như đề xuất đổi mới pháp luật, để làm tăng thêm hiệu lực, hiệu quả của công cụ thuế
trở nên rất bức xúc Đó cũng là lý do chủ yếu của việc em lựa chọn đề tài: "Hoàn
thiện công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An "
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của nghiên cứu là phân tích thực trạng công tác quản lý thuế đối
với doanh nghiệp doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Nghi Lộc với
các mục tiêu cụ thể: (1) Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế NQD; (2) Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Nghi Lộc và (3) Đề xuất quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện và tăng cường quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại địa bàn huyện Nghi Lộc
3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn bao gồm các phương pháp, như: phương pháp phân tích hệ thống, tổng hợp, điều tra thống kê nhằm đánh giá, phân tích thực
trạng công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên
địa bàn huyện Nghi Lộc trong thời gian qua
Trang 124 Kết quả chính của nghiên cứu
Tình hình thực hiện công tác quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp NQD của Chi cục thuế Nghi Lộc giai đoạn 2013-2015 đó là:
Công tác quản lý thuế đã đạt được những thành tích đáng ghi nhận, luôn hoàn thành dự toán được giao, từng bước thực hiện cải cách và hiện đại hoá ngành thuế
Số thu từ nội địa của toàn Chi cục năm sau cao hơn năm trước, so sánh năm
2015 với năm 2013 có số tăng tuyệt đối là: 18.250 triệu đồng, so với dự toán giao đạt
119 %; tăng 29% so với cùng kỳ
Chi cục thuế Nghi Lộc thực hiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp NQD theo mô hình “tự khai – tự nộp”, từ công tác kê khai đăng ký thuế; tuyên truyền hỗ trợ pháp luật thuế đến kiểm tra và cưỡng chế nợ thuế đối với doanh nghiệp NQD Đây là một thách thức lớn đối với Chi cục thuế Nghi Lộc bởi những hạn chế nhất định về nguồn lực của ngành thuế và ý thức của người nộp thuế
Tình hình tuân thủ pháp luật thuế của các doanh nghiệp NQD trên địa bàn huyện Nghi Lộc nhất là việc tuân thủ nghĩa vụ nộp thuế còn thấp, kê khai thuế chậm; nợ đọng thuế kéo dài; tình trạng gian lận, trốn thuế còn diễn ra Cơ quan thuế còn thiếu biện pháp chống thất thu thuế
Công tác tuyên truyền, hướng dẫn đối với người nộp thuế còn chưa đạt được yêu cầu thực tế, chưa có nhiều biện pháp tuyên truyền phù hợp, có hiệu quả
Công tác, kiểm tra đôn đốc nợ thuế chưa có hiệu quả, chưa áp dụng triệt để các biện pháp cưỡng chế nợ thuế
Trên cơ sở đánh giá nguyên nhân và thực trạng công tác quản lý thu thuế NQD trên địa bàn huyện Nghi Lộc, luận văn đã đề xuất một số biện pháp cụ thể mang tính địa phương căn cứ theo quy trình quản lý thuế và kiến nghị một số giải pháp nhằm tăng cường và hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp NQD trên địa bàn huyện Nghi Lộc hiện nay
Từ khóa: Quản lý thuế, huyện Nghi Lộc, doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thuế ra đời và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của Nhà nước, thuế là công cụ chủ yếu để huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước (NSNN), hàng năm số thu về thuế chiếm khoảng 80% đến 90% tổng thu NSNN và thuế còn là công cụ quan trọng nên các quốc gia đều rất quan tâm đến thuế và đưa ra nhiều biện pháp quản lý và thu thuế Trong các đối tượng quản lý về thuế thì quản lý thu thuế khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (NQD) là phức tạp nhất Đây là khu vực kinh tế gồm nhiều đơn vị sản xuất, hoạt động trong hầu hết các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế Đây cũng là khu vực khó quản lý và dễ gây thất thu lớn Do vậy làm thế nào để quản
lý thuế của khu vực kinh tế NQD vừa bảo đảm thu ngân sách, thực hiện công bằng giữa các chủ thể kinh doanh, vừa kích thích phát triển sản xuất - kinh doanh của khu vực này đang là bài toán khó
Chi cục Thuế Nghi Lộc là một trong những Chi cục thuộc Cục Thuế Tỉnh Nghệ
An trong nhiều năm đều hoàn thành nhiệm vụ thu NSNN Tuy vậy việc quản lý thu thuế khu vực kinh tế NQD nói chung, doanh nghiệp NQD nói riêng hiện còn nhiều trở ngại trong cơ chế chính sách, quy trình hành thu còn nhiều vướng mắc, ý thức chấp hành nghĩa vụ của người nộp thuế còn thấp Một số hiện tượng tiêu cực còn phổ biến như: không sử dụng hóa đơn khi bán hàng, sử dụng hoá đơn bất hợp pháp khai tăng chi phí, ghi giá bán thấp, khai man trốn thuế còn nhiều Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhiều thành phần tham gia, các doanh nghiệp NQD tăng lên nhanh chóng cả về số lượng lẫn quy mô cùng với việc đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cơ chế chính sách quản lý từ Trung ương đến các địa phương đã đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản quản lý thuế nói chung và quản lý thu thuế đối với NQD trên địa bàn huyện Nghi Lộc nói riêng
Từ nhiều năm qua, vấn đề quản lý thuế nói chung đã thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu, như: nghiên cứu của Nguyễn Thị Loan Oanh (2014) về giải pháp hoàn thiện quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại chi cục thuế thành phố Vĩnh Yên, Mai Duy Tâm (2012) về hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Thái Nguyên hay nghiên cứu của
Việc nghiên cứu để tìm những giải pháp đổi mới, cải tiến quy trình, thủ tục cũng như đề xuất đổi mới pháp luật, để làm tăng thêm hiệu lực, hiệu quả của công cụ thuế
Trang 14trở nên rất bức xúc Đó cũng là lý do chủ yếu của việc em lựa chọn đề tài: "Hoàn
thiện công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An "
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung:
Mục tiêu chung của đề tài là phân tích thực trạng công tác quản lý thuế đối với
doanh nghiệp doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ
An, trên cơ sở đó nhằm tìm kiếm các giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Nghi Lộc hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác quản lý thuế và các vấn đề liên
quan đến công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Đối tượng khảo sát là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi của đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong các hoạt động sản xuất - kinh doanh - dịch vụ trên địa bàn huyện gồm: Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Doanh nghiệp tư nhân
từ năm 2013 - 2015
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu, thông tin
Thu thập thông tin tốt sẽ cung cấp đầy đủ các thông tin về lý luận và thực tế, tạo điều kiện cho việc xử lý và phân tích thông tin, từ đó đưa ra đánh giá chính xác về thực trạng của vấn đề nghiên cứu và đề xuất các giải pháp xác thực giúp cho việc hoàn
Trang 15thành công việc nghiên cứu của mình và của cơ sở Với ý nghĩa như vậy, đề tài sử dụng hai nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp
Thu thập thông tin thứ cấp
- Các thông tin thu thập
Thông tin số liệu liên quan đến tính tuân thủ Pháp luật thuế của NNT trong tỉnh, trong nước và thế giới để hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Các số liệu về tình hình chung của huyện: điều kiện tự nhiên, đất đai, dân số, lao động, kết quả sản xuất kinh doanh và việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước của các doanh nghiệp NQD từ năm 2013 đến năm 2015
Số liệu, thông tin phán ánh thực trạng tuân thủ Pháp luật thuế trên địa bàn, thực trạng và thực hiện các giải pháp của cơ quan thuế nhằm nâng cao tính tuân thủ Pháp luật thuế Những định hướng của nhà nước trong việc nâng cao quản lý thuế đối với đối tượng là những doanh nghiệp NQD
- Nguồn thu thập
Các thông tin số liệu trên thế giới được thu thập từ Internet, Tổng cục thuế, qua sách báo, tạp chí, các kết quả nghiên cứu, các báo của trung ương, địa phương v.v có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Các thông tin số liệu trong nước được thu thập từ Internet, Bộ tài chính, Tổng cục thuế, Cục thuế tỉnh Nghệ An, Chi cục thuế huyện Nghi Lộc
Các thông tin số liệu của tỉnh, huyện được thu thập từ các phòng thuộc Cục thuế tỉnh Nghệ An, Sở tài chính, Sở Kế hoạch đầu tư, Cục thống kê, UBND huyện Nghi Lộc, Phòng thống kê, Phòng tài chính - kế hoạch, Kho bạc nhà nước, Phòng tài nguyên môi trường, Phòng nông nghiệp, Phòng lao động TBXH, Chi cục Thuế huyện Những thông tin này có vai trò quan trọng làm cơ
sở phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài
Thu thập thông tin sơ cấp
- Các thông tin, số liệu cần thu thập là những tài liệu tự điều tra gồm: Các
thông tin, số liệu liên quan đến việc tuân thủ pháp luật thuế của doanh nghiệp trên địa bàn; đánh giá của các doanh nghiệp đối với việc thực hiện các giải pháp trong công tác quản lý thuế của Chi cục Thuế Nghi Lộc trong thời gian qua; nguyện vọng của doanh nghiệp trong điều kiện thực hiện Luật quản lý thuế hiện nay
Trang 16- Chọn đối tượng điều tra: Số liệu sơ cấp được thu thập từ điều tra các đối
tượng là cán bộ quản lý thuế, các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất ngoài quốc doanh Mục đích sử dụng các số liệu như sau:
Thông tin của cán bộ quản lý thuế được sử dụng để đánh giá thực trạng quản
lý nhà nước về thuế nói chung
Thông tin điều tra các doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất gồm công ty TNHH, Công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân được sử dụng để đánh giá tình hình thực thi công tác thuế của doanh nghiệp và cơ sở sản xuất
- Cách chọn mẫu: Chọn mẫu điều tra ngẫu nhiên (theo danh sách) có phân lớp
theo từng đối tượng điều tra Chọn 50 doanh nghiệp điều tra trong đó công ty TNHH
là 20 đơn vị, Công ty Cổ phần là 15 đơn vị, DNTN là 15 đơn vị Điều tra, khảo sát theo câu hỏi và phiếu điều tra Trong số 50 doanh nghiệp tham gia điều tra chia theo ngành nghề kinh doanh là 10 doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, 15 doanh nghiệp ngành xây dựng, 15 doanh nghiệp ngành thương mại và 10 doanh nghiệp ngành dịch vụ Câu hỏi và phiếu điều tra được xây dựng trên cơ sở thực hiện các nội dung nghiên cứu để đáp ứng được mục tiêu của đề tài
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn theo bảng câu hỏi
Thực hiện phỏng vấn các doanh nghiệp trong huyện bằng phiếu điều tra đã xây dựng trước gồm các chỉ tiêu về quy mô sản xuất kinh doanh, các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, tình hình đầu tư, kết quả sản xuất kinh doanh, số thuế nộp ngân sách nhà nước Các doanh nghiệp điều tra được phân làm 4 loại: Doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp xây dựng, doanh nghiệp thương mại, doanh nghiệp dịch vụ
Phương pháp phân tích tài liệu
- Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong phân tích số liệu của luận văn là phương pháp thống kê, trong đó phương pháp phân tổ thống kê là chủ yếu
Phân tổ thống kê được sử dụng để nghiên cứu sự khác biệt giữa các hình thức
sở hữu doanh nghiệp, giữa các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài
Phương pháp so sánh: Sử dụng để làm rõ sự khác nhau về việc thực hiện nghĩa
vụ thuế của các doanh nghiệp dân doanh, so sánh sự khác nhau về tình hình tuân thủ các quy định về quản lý
Trang 17- Phương pháp phân tích so sánh
Phương pháp này dùng để so sánh đối chiếu các chỉ tiêu thống kê Chúng tôi sử dụng phương pháp này để so sánh các chỉ tiêu theo thời gian và theo không gian, từ đó nhằm chỉ ra sự khác biệt và đi tìm nguyên nhân của hiện tượng kinh tế - xã hội ấy Thống kê so sánh là phương pháp tính toán các chỉ tiêu theo các tiêu chí khác nhau và được đem so sánh với nhau, so sánh có nhiều loại: So sánh với kế hoạch, so sánh theo thời gian, so sánh theo không gian, so sánh các điểm nghiên cứu khác nhau trong cùng một vấn đề… Đề tài sử dụng phương pháp thống kê so sánh với các thông tin thu thập được trên cơ sở số liệu điều tra giữa các đối tượng, giữa các nhóm doanh nghiệp khác nhau sẽ được phân tổ và so sánh với nhau để đưa ra được các nhận xét về thực trạng hoạt động, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh và việc chấp hành chính sách thuế đối với Nhà nước
5 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Phương Hiền (2014), đã nghiên cứu về vấn đề quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh – Thực tiện tại địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Nghiên cứu đã đánh giá thực trạng pháp luật quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay nói chung và tại Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng, từ đó rút ra những thành tựu cần phát huy và những nguyên nhân hạn chế cần khắc phục Trên cơ sở các nghiên cứu trên đề xuất những định hướng và kiến nghị để hoàn thiện công tác quản lý thuế mà quan trọng nhất chính là pháp luật quản lý thuế
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Loan Oanh (2014), đã nghiên cứu về về giải pháp hoàn thiện quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại chi cục thuế thành phố Vĩnh Yên Nghiên cứu đã sử dụng các chỉ tiêu,
thuế qua công tác kiểm tra, Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế và Quản lý thuế qua công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT để đánh giá thực trạng quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại chi cục thuế thành phố Vĩnh Yên, từ đề xuất những giải pháp quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại chi cục thuế thành phố Vĩnh Yên
Trang 186 Đóng góp của luận văn
Đóng góp về mặt thực khoa học
Luận văn đã góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản
lý thuế nói chung và quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn nói riêng
Đóng góp về mặt thực tiễn
Từ những đánh giá về thực trạng, những ưu điểm, khuyết điểm và nguyên nhân của những tồn tại của công tác quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp NQD ở huyện Nghi Lộc, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường và hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp NQD trên địa bàn huyện hiện nay
Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho lãnh đạo và các cán bộ nghiệp vụ ở cơ quan thuế trong quá trình lập dự toán, phân tích, đánh giá kế hoạch thu,
đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu thuế ở đơn vị Đảm bảo sự tinh tế trong hành thu; hạn chế đến mức thấp nhất hiện tượng thất thu thuế; thực hiện công bằng trong điều tiết thuế ở các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế
6 Bố cục của luận văn
Luận văn được kết cấu như sau:
Chương 1: Lý luận chung về Thuế và quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp
ngoài quốc doanh
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài
quốc doanh tại Chi cục thuế Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở tại Chi cục thuế Nghi Lộc
Trang 19CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THUẾ
VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
1.1 Thuế và vai trò của thuế trong nền kinh tế
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thuế
1.1.1.1 Khái niệm
Việc nghiên cứu về sự tồn tại và phát triển của Nhà nước đã giúp cho chúng ta hiểu ra một điều đó là: Để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mình Nhà nước phải dùng quyền lực để bắt buộc các thành viên trong xã hội có nghĩa vụ đóng góp một phần sản phẩm, thu nhập cho Nhà nước Hình thức đó chính là thuế Như vậy thuế
là sản phẩm tất yếu từ sự xuất hiện bộ máy Nhà nước
Trong quá trình tồn tại của mình, thuế đã được nghiên cứu, định nghĩa khá nhiều và trên nhiều góc độ khác nhau Các nhà kinh điển thì cho rằng: "Thuế cấu thành nên phần thu của chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩm của đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế"
Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta lại cho rằng: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện chức năng của Nhà nước
Lịch sử phát triển của xã hội loài người cho thấy, một khi Nhà nước chỉ làm nhiệm vụ quản lý hành chính đơn thuần thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước ở chừng mực nhất định, xã hội ngày càng phát triển hơn nên Nhà nước có thêm nhiệm vụ điều hành, quản lý nền kinh tế thì chi tiêu của Nhà nước ngày càng nhiều hơn Đến khi Nhà nước đảm nhận thêm công việc chăm lo đời sống, văn hóa, xã hội của cộng đồng thì thuế lại được động viên càng lớn với nhiều sắc thuế và ở tất cả mọi hoạt động trong nền kinh tế
Như vậy, khi vai trò, nhiệm vụ của Nhà nước ngày càng được mở rộng, đòi hỏi nguồn tài chính phục vụ cho việc chi tiêu ngày càng tăng lên Điều đó, không thể thiếu
sự đóng góp của người dân và các tổ chức kinh tế, đó là thuế
Theo phân tích trên, thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước và thuế
ra đời khi hoạt động lao động sản xuất của xã hội loài người tạo ra sản phẩm thặng dư Với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, sự chuyển dịch giá trị sản phẩm thặng dư
từ thành phần kinh tế này sang thành phần kinh tế khác, từ lĩnh vực này sang lĩnh vực
Trang 20khác rất đa dạng và phức tạp Cho nên, đứng trên giác độ toàn xã hội, đòi hỏi phải có hệ thống thuế để điều tiết thỏa đáng số sản phẩm thặng dư xã hội tạo ra sao cho hợp lý và công bằng Vì vậy, khi xã hội càng văn minh thì thuế khóa lại càng đa dạng và phát triển
Tóm lại, qua quá trình phát triển của Nhà nước và thuế cho chúng ta thấy, thuế
và Nhà nước là hai phạm trù gắn bó hữu cơ với nhau Nhà nước tồn tại tất yếu phải có thuế Thuế là cơ sở vật chất đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của Nhà nước Kết hợp những hạt nhân hợp lý của những quan niệm về thuế kể trên, có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế như sau: “Thuế là một khoản nộp mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật”
1.1.1.2 Đặc điểm
Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của thuế Những thuộc tính đó có tính ổn định qua từng giai đoạn phát triển Nghiên cứu về thuế người ta thấy nó có những đặc điểm riêng để phân biệt với các công cụ tài chính khác
Đặc điểm thứ nhất: Thuế có tính pháp lý và tính cưỡng chế cao Chúng ta có
thể dễ dàng thấy rằng thuế là nguồn thu chủ yếu đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của Nhà nước, bởi vậy việc đóng thuế là nghĩa vụ bắt buộc đối với các tổ chức kinh tế
và cá nhân cho Nhà nước Nghĩa vụ này được quy định cụ thể trong luật của mỗi quốc gia sao cho phù hợp với từng đối tượng đóng thuế Việc không thực hiện đúng nghĩa
vụ thuế là đã vi phạm pháp luật và sẽ bị cưỡng chế thực hiện hoặc xử lý theo đúng pháp luật
Tính bắt bộc phi hình sự là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế, nó phân biệt thuế với các hình thức huy động tài chính khác của NSNN Đặc điểm này vạch rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hệ tiền tệ, được hình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc động viên mang tính chất bắt buộc của Nhà nước Phân phối mang tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế - như một nhà kinh tế định nghĩa: là một phương thức phân phối của Nhà nước mà kết quả của quá trình đó là một
bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho Nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác trực tiếp cho người nộp thuế
Trang 21Tính chất cưỡng chế bắt buộc của việc chuyển giao thu nhập bắt nguồn từ những lý do sau:
- Một là: Hình thức chuyển giao thu nhập dưới hình thức thu thuế không gắn với lợi ích cụ thể của người nộp thuế, do đó không thể sử dụng phương pháp tự nguyện trong việc chuyển giao Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng, Nhà nước tất yếu phải sử dụng quyền lực chính trị để bắt buộc mọi đối tượng có thu nhập phải chuyển giao
- Hai là: Trong xã hội văn minh nhu cầu của các thành viên cộng đồng về hàng hóa công cộng ngày càng tăng cao Để duy trì hoạt động đó thì thu nhập về hàng hóa công cộng từ những người thụ hưởng phải bù đắp đủ các chi phí bỏ ra Nhưng hàng hóa công cộng lại có tính chất đặc biệt, nó không thể phân bổ theo "khẩu phần" để sử dụng và người thụ hưởng cũng không muốn sử dụng theo "khẩu phần" Mặt khác, hàng hóa công cộng không có tính cạnh tranh và không thể đem trao đổi trực tiếp trên thị trường để bù đắp các chi phí Chính vì vậy trong việc cung cấp hàng hóa công cộng
đã xuất hiện những "người ăn không", nghĩa là không ai tự nguyện trả tiền cho việc thụ hưởng hàng hóa công cộng Do đó, để đảm bảo cung cấp hàng hóa công cộng, Nhà nước chỉ có thể sử dụng phương pháp thuế để buộc "người ăn không" phải chuyển giao thu nhập từ khu vực tư sang khu vực công Tuy nhiên, tính bắt buộc của thuế không có nội dung hình sự, nghĩa là hành động đóng thuế cho Nhà nước không phải là hành động xuất hiện khi có biểu hiện phạm pháp, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa vụ của người công dân
Từ đặc điểm này, thuế không giống như các hình thức huy động tài chính khác của NSNN như: lệ phí, công trái hoặc hình thức phạt bằng tiền Hình thức phạt bằng tiền cũng là hình thức bắt buộc, song việc phạt tiền chỉ xảy ra đối với người nộp phạt khi có hành vi vi phạm luật làm phương hại đến lợi ích nhà nước hoặc cộng đồng Hình thức phí, lệ phí, công trái nói chung mang tính tự nguyện và có tính chất đối giá Tính bắt buộc của phí và lệ phí chỉ xảy ra khi người trả phí thụ hưởng trực tiếp những dịch vụ cho Nhà nước cung cấp
Đặc điểm thứ hai: Thuế là khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp
Thuế thu được sẽ sử dụng vào các khoản chi tiêu của Nhà nước như là chi tiêu công cộng, xây dựng cơ sở hạ tầng, trợ cấp mọi đối tượng trong xã hội dù nộp nhiều, nộp
Trang 22ít thậm chí không nộp thuế đều được hưởng các phúc lợi xã hội từ Nhà nước một cách bình đẳng Điều này cho thấy rằng số thuế mà các đối tượng phải nộp được tính toán dựa trên hoạt động và thu nhập của họ chứ không phải dựa vào phúc lợi xã hội mà họ được hưởng Mặt khác, thuế được hoàn trả thông qua phúc lợi xã hội chứ không phải trả bằng những khoản tiền mà các đối tượng đã nộp sau một thời gian nhất định
Tính không hoàn trả trực tiếp của thuế được biểu hiện trên các mặt sau:
Thứ nhất, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đối
giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp xã hội chuyển giao cho Nhà nước không hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thụ hưởng những dịch vụ và hàng hóa công cộng
do Nhà nước phải cung cấp hành hóa, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới phát sinh khoản chuyển giao thu nhập cho Nhà nước; mặt khác mức độ chuyển giao Mức chuyển giao thu nhập nhiều hay ít chỉ căn cứ vào kết quả hoạt động kinh tế và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cũng như nhu cầu tài chính chung của Nhà nước
Thứ hai, khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không được hoàn trả
trực tiếp có nghĩa là người nộp thuế suy cho cùng sẽ nhận được một phần các dịch vụ công cộng mà Nhà nước cung cấp chung cho cả cộng đồng, giá trị phần dịch vụ đó không nhất thiết tương đồng với khoản tiền thuế mà họ nộp cho Nhà nước Đặc điểm này giúp ta phân biệt sự khác nhau giữa thuế và các khoản phí, lệ phí
+ Việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế được quy định trước bằng luật pháp:
Đặc điểm này một mặt thể hiện tính pháp lý cao của thuế, mặt khác phản ánh sự chuyển giao thu nhập không mang tính chất tùy tiện mà dựa trên những cơ sở pháp luật nhất định và đã được xác định trước trong Luật thuế; Pháp lệnh thuế Những tiêu thức thường được xác định trước trong các Luật thuế, Pháp lệnh thuế là: đối tượng chịu thuế; đối tượng nộp thuế; mức thuế phải nộp; thời hạn cụ thể và những chế tài mang tính cưỡng chế khác
+ Các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội trong những thời kỳ nhất định:
Yếu tố kinh tế tác động đến thuế thường là mực độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân, thu nhập bình quân đầu người, giá cả, thị trường, sự biến động của NSNN
Yếu tố chính trị, xã hội tác động đến thuế thường là thể chế chính trị của Nhà nước, tâm lý, tập quán của các tầng lớp dân cư, truyền thống văn hóa, xã hội của dân tộc
Trang 23Do thuế chịu sự ràng buộc của các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội nên người
ta thường nói thuế mang ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội tổng hợp
+ Các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế chỉ được giới hạn trong phạm vi biên giới quốc gia với quyền lực pháp lý của Nhà nước đối với con người và tài sản
Tóm lại: những đặc điểm cơ bản trên đây của thuế đã phản ánh bản chất và nội
dung bên trong của thuế Từ những đặc điểm đó, giúp chúng ta phân biệt thuế với các hình thức động viên khác của NSNN trên nhiều phương diện khác nhau
1.1.2 Vai trò của thuế
Trong nền kinh tế của mỗi quốc gia thuế đóng một vai trò hết sức quan trọng
Thứ nhất: Thuế là nguồn thu chủ yếu và lâu dài của ngân sách quốc gia Ngân
sách có thể huy động nguồn thu bằng nhiều cách khác nhau như đi vay, bán tài nguyên khoáng sản nhưng không có một nguồn thu nào mang tính chất bền vững và cơ bản như thuế Tỷ trọng thu từ thuế thường chiếm phần lớn trong tổng thu nhập của Ngân sách nhà nước, tuy nhiên không phải vì thế mà chính phủ các nước có thể tìm mọi cách để tăng thu từ thuế, bởi vì, nếu tăng thuế đến một mức quá cao thì phần còn lại cho các đối tượng nộp thuế ít đi, họ sẽ cảm thấy không xứng đáng với công sức mình
bỏ ra và như vậy ham muốn làm việc giảm xuống, kết quả là sản xuất kinh doanh không được khuyến khích mở rộng, số thuế thu về của Nhà nước tất yếu sẽ giảm đi
Để đảm bảo nguồn thu này ngày càng gia tăng thì Chính phủ các nước phải có những biện pháp thích hợp, đảm bảo hài hòa lợi ích của cả Nhà nước và người nộp thuế Vì vậy khi đánh thuế cần tuân thủ các nguyên tắc như: Nguyên tắt lợi ích, nguyên tắc khả năng thanh toán, nguyên tắt công bằng dọc và nguyên tắc công bằng ngang
Thứ hai: Thuế là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô Nếu như trong cơ chế kế
hoạch hóa tập trung, Nhà nước trực tiếp tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội bằng hệ thống các mệnh lệnh, chỉ tiêu, các kế hoạch từ Trung ương đến địa phương, thì ở cơ chế nền kinh tế thị trường Nhà nước chỉ quản lý ở tầm vĩ mô bằng các định hướng, biện pháp nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội đã đề ra Sự điều tiết của Nhà nước thông qua thuế gồm hai mặt: khuyến khích và hạn chế Điều đó được thể hiện ra trong việc xây dựng cơ cấu các loại thuế và mối quan hệ giữa chúng cũng như việc xác định thuế suất, chế độ miễn - giảm thuế phù hợp với điều kiện thực tế Khuyến khích đối với những ngành nghề, hoạt động sản xuất kinh doanh cần thiết cho nền kinh tế quốc dân hoặc những ngành nghề những hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 24phục vụ cho đại đa số quần chúng nhân dân thì áp dụng thuế suất thấp Hạn chế, thu hẹp những ngành nghề không có lợi cho sự phát triển của nền kinh tế, cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân hoặc những ngành nghề ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục, đến sức khỏe của nhân dân thì áp dụng thuế suất cao Trong nền kinh tế thị trường, các thành phần kinh tế tự do lựa chọn ngành nghề sản xuất, kinh doanh, với mục tiêu đầu
tư vào những ngành nghề nào mang lại lợi nhuận cao nhất mà không tính đến hậu quả
để lại sau quá trình sản xuất kinh doanh Nhà nước dùng công cụ thuế để điều chỉnh và hướng các hoạt động sản xuất kinh doanh đi vào con đường phát triển có hiệu quả mang lại nhiều lợi ích cho quốc kế dân sinh
Trong điều kiện nay, hệ thống thuế của Nhà nước Việt Nam thể hiện rất rõ quan điểm khuyến khích các ngành nghề sản xuất hơn là các hoạt động thương mại, dịch vụ Sản xuất các mặt hàng thiết yếu được khuyến khích hơn sản xuất các mặt hàng và dịch
vụ khác Để khuyến khích các ngành nghề sản xuất hàng xuất khẩu, sản xuất sản phầm thay thế hàng nhập khẩu cần thiết khi trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu, hay đầu tư vào những vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, vùng không thuận lợi cho sức khỏe, sinh hoạt của người dân, Nhà nước thường
áp dụng thuế suất ưu đãi để thúc đẩy kinh tế phát triển một cách có hiệu quả, đồng bộ theo hướng có lợi cho quốc kế dân sinh
Hiện nay, Nhà nước ta sử dụng tổng hợp hệ thống chính sách thuế, nhằm: Khuyến khích mạnh mẽ các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế cạnh tranh lành mạnh trên cơ sở bình đẳng trước pháp luật; góp phần thúc đẩy việc khai thác vật tư nguyên liệu trong nước, tranh thủ vốn đầu tư nước ngoài để mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế hàng hóa đẩy mạnh xuất nhập khẩu đáp ứng yêu cầu tiêu dùng và tích lũy; bảo đảm lợi ích giữa Nhà nước và xã hội, lợi ích của các bên hợp tác, vừa đảm bảo sản xuất trong nước phát triển nâng cao đời sống của người dân
Thứ ba: Thuế là công cụ tác động vào sự phân bổ nguồn lực trong xã hội Xét
về mặt tiêu dùng, thuế đã phân bổ lại các nguồn lực từ cách sử dụng tư nhân sang sử dụng công cộng Xét về mặt sản xuất, thuế có thể làm thay đổi quyết định đầu tư của các hãng sản xuất kinh doanh bằng cách đầu tư vào những mặt hàng có nhiều ưu đãi thuế suất và rút dần khỏi các mặt hàng có mức thuế suất cao
Thứ tư: Thuế là công cụ để điều hòa thu nhập thực hiện công bằng xã hội trong
phân phối Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, khoảng cách giàu nghèo giữa các cá nhân trong xã hội ngày càng có xu hướng gia tăng Đây là một "khiếm khuyết" lớn mà nền kinh tế thị trường - bản thân nó không tự giải quyết được Hậu quả
Trang 25của vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến đạo đức và công bằng xã hội mà còn tạo nên
sự đối lập về quyền lợi giữa các tầng lớp dân cư trong cộng đồng Để giải quyết tình trạng này Nhà nước cần có các biện pháp cụ thể mà một trong những giải pháp đó là thuế Thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, Chính phủ sẽ khấu trừ thu nhập của các tổ chức, cá nhân theo những tỉ lệ khác nhau hoặc thông qua thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào các hàng hóa mà chỉ có lớp người giàu mới tiêu thụ Số thuế thu được sẽ đầu tư vào các chương trình chi tiêu công, trợ giúp cho người nghèo
để giảm bớt khoảng cách giàu nghèo giữa các cá nhân, tạo công bằng xã hội
Trong thực tế, sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đều có sự đóng góp của cộng đồng, của toàn xã hội Chính vì vậy mà thành quả kinh tế đạt được trong hiện tại
và tương lai phải được phân phối trên cơ sở của cộng đồng Cho nên, cần có sự can thiệp của Nhà nước trong quá trình phân phối thu nhập, sự phân phối này chủ yếu nhờ vào công cụ thuế để điều tiết Nền kinh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước, thì vai trò tạo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và người dân trong động viên điều tiết thuế và công bằng xã hội ngày càng được nâng cao hơn, bao quát hơn
1.2 Đặc điểm của quản lý thu thuế doanh nghiệp ngoài quốc doanh
1.2.1 Khái niệm về quản lý thuế
Quản lý thuế là quá trình hoạch định kế hoạch thuế cũng như chương trình mục tiêu, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện so với mục tiêu
đề ra, phát hiện những sai sót và gian lận để uốn nắn, chỉnh sửa trong công tác quản lý
ở những kỳ tiếp theo
Qui trình quản lý thuế luôn gắn với quá trình nhà quản lý thuế (chủ thể quản lý)
sử dụng các chức năng quản lý tác động tới khách thể quản lý (người nộp thuế) nhằm đạt được các mục tiêu quản lý Các chức năng quản lý thuế bao gồm bốn nhóm cơ bản gắn với qui trình quản lý thuế đó là: Nhóm chức năng hoạch định như lập kế hoạch, chuẩn bị điều kiện thực hiện; nhóm chức năng tổ chức như tổ chức bộ máy, tổ chức nhân sự, ra quyết định, tổ chức hoạt động; nhóm chức năng chỉ đạo như hướng dẫn, phối hợp, điều chỉnh quá trình thực hiện kế hoạch thuế; nhóm chức năng kiểm tra bao gồm đo lường, so sánh, đánh giá, cưỡng chế thi hành, đúc rút kinh nghiệm, khen thưởng, chuẩn bị cho kỳ quản lý tiếp theo
Trang 26Quản lý thuế là hoạt động của Nhà nước mà cơ quan thuế là đại diện để nhằm huy động tiền thuế vào ngân sách nhà nướctheo những qui định của pháp luật về thuế
Quản lý thuế gồm những hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước, thuộc lĩnh vực hành pháp và tư pháp về thuế của cơ quan thuế các cấp, với các chức năng nhiệm vụ, quyền hạn do luật định, nhằm thực hiện chính sách thuế đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua Nói cách khác, quản lý thuế là khâu tổ chức thực hiện chính sách thuế của cơ quan thuế các cấp, là việc định ra một hệ thống các tổ chức, phân công trách nhiệm cho các tổ chức này xác lập mỗi quan hệ phối hợp giữa các bộ phận một cách hữu hiệu trong việc thực thi các chính sách thuế nhằm đạt các mục tiêu đã đề
ra, trong điều kiện môi trường quản lý luôn biến động
1.2.2 Khái niệm doanh nghiệp ngoài quôc doanh
Doanh nghiệp dân doanh là doanh nghiệp do người dân thành lập, điều hành sản xuất – kinh doanh và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và các qui định khác
Hoặc có thể hiểu, doanh nghiệp dân doanh là những doanh nghiệp ngoài quôc doanh, không phải là doanh nghiệp cổ phần mà vốn nhà nước chiếm trên 51% hay có vốn đầu
tư nước ngoài
Doanh nghiệp dân doanh, theo qui định của Luật doanh nghệp năm 2005 bao gồm các loại hình: Công ty hợp danh, công ty TNHH (1 thành viên hoặc từ 2 thành viên trở lên) công ty cổ phần và doanh nghiệp tư nhân Các doanh nghiệp này có sự đa dạng về các chủ sở hữu, hoặc là sở hữu tư nhân bởi một cá nhân, tôe chức hoặc là đồng chủ sở hữu, và trong đó có thể có phần sở hữu một phần của Nhà nước (tuỳ vào
tỷ lệ sở hữu phần vốn góp trong doanh nghiệp mà Nhà nước có quyền chi phối hay không)
1.2.3 Sự tồn tại khách quan của doanh nghiệp Ngoài quốc doanh
Trong điều kiện nước ta hiện nay phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, với nhiều thành phần kinh tế tham gia thì doanh nghiệp NQD tồn tại là một tất yếu khách quan Việc nghiên cứu doanh nghiệp NQD nói chung và thuế đối với doanh nghiệp NQD nói riêng không thể tách rời việc nghiên cứu những đặc điểm của môi trường mà doanh nghiệp NQD tồn tại và phát triển Đó chính là nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Ở Việt Nam, kinh tế thị trường định hướng XHCN được tiếp tục khẳng định ở Đại hội Đảng lần thứ X Nền kinh tế đó phát triển dựa trên
Trang 27hình thức sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp giữa nhà nước với tư nhân trong và ngoài nước, trong đó sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể là nền tảng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay
Yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường đặt ra cho tất cả các hình thức sở hữu là phải xác định rõ quyền sở hữu về tài sản, tiền vốn, trí tuệ nhằm mục đích định lượng hoá sở hữu của từng đối tượng làm cơ sở để Nhà nước xây dựng cơ chế, chính sách quản lý thuế và thu thuế cho NSNN
Nền kinh tế thị trường ở Việt Nam vừa chịu sự điều tiết theo cơ chế “Bàn tay vô hình” của thị trường, theo qui luật cung cầu, qui luật giá trị, vừa chịu sự điều tiết theo
cơ chế “bàn tay hữu hình” của Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật, chủ trương chính sách đồng bộ Thị trường và Nhà nước đóng vai trò là người phân bổ các nguồn lực cho sự phát triển các thành phần kinh tế Đề cao quá mức vai trò của thị trường mà coi nhẹ hay phủ nhận vai trò của Nhà nước hoặc ngược lại đều không đạt được sự phát triển và tăng trưởng nền kinh tế một cách hiệu quả và bền vững
1.2.4 Đặc điểm doanh nghiệp Ngoài quốc doanh
Trong cơ chế thị trường nền kinh tế bao gồm hai khu vực: Kinh tế nhà nước chủ yếu thực hiện chức năng dịch vụ công cộng, nặng nề về mục tiêu chính là lợi ích chung của toàn xã hội; KTNQD chủ yếu làm chức năng kinh doanh mưu cầu lợi nhuận Từ đó trong cơ cấu sản xuất xã hội, KTNQD được coi là một thực thể khách quan, gồm các thành phần kinh tế được xác định tùy theo đặc điểm kinh tế - xã hội và đường lối chính trị của mỗi Nhà nước trong từng giai đoạn khác nhau như: kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản nhà nước
Doanh nghiệp NQD bao gồm các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh bằng vốn của các tổ chức, của một số cá nhân góp lại; hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường vì mục tiêu lợi nhuận Doanh nghiệp NQD có nhiều đặc điểm riêng biệt, nhưng
có thể khái quát một số đặc điểm cơ bản sau:
+ Sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, do tư nhân quản lý và phân phối lợi nhuận; + Có tính tư hữu cao, trình độ phổ biến thấp, cho nên hiểu biết về luật cũng như
ý thức chấp hành pháp luật chưa cao;
+ Vốn ít, số lượng cơ sở nhiều, nằm rải rác, phân tán ở tất cả các địa phương trong cả nước;
+ Số thu hàng năm chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số thu ngân sách;
Trang 28+ Thường xuyên biến động về số lượng cơ sở, tùy thuộc vào chính sách, chế độ của Nhà nước trong từng thời điểm;
Mục tiêu của chủ doanh nghiệp trong doanh nghiệp NQD chính là lợi nhuận, do vậy không ít cơ sở luôn tìm mọi cách, mọi sơ hở của cơ quan thuế, cán bộ thuế, chính sách, chế độ, để luồn lách, trốn thuế
Các hình thức tồn tại phát triển của doanh nghiệp NQD rất đa dạng với số lượng lớn, ý thức trong việc thực hiện luật pháp với mức độ khác nhau, tùy theo trình
độ phát triển ở mỗi quốc gia Song rõ ràng đây là một lĩnh vực phức tạp trong quản lý thu thuế
Trên địa bàn huyện Nghi Lộc trong những năm gần đây số lượng doanh nghiệp NQD tăng nhanh, cụ thể: năm 2013 có 248 doanh nghiệp, năm 2014 có 281 doanh nghiệp, năm 2015 có 325 doanh nghiệp
Sự phát triển ở khu vực KTNQD nói chung, doanh nghiệp NQD nói riêng, ở nước ta trong những năm qua đã tạo thêm nhiều của cải vật chất cho xã hội, giải quyết việc làm cho người lao động, góp phần không nhỏ vào sự ổn định xã hội và tăng trưởng kinh tế
1.2.5 Đặc điểm quản lý thuế doanh nghiệp NQD
Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến lần thứ XI, Đảng ta luôn khẳng định chủ trương chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Công cuộc chuyển đổi này là phù hợp với qui luật khách quan của một nền kinh tế nhiều thành phần, mở cửa buôn bán, hợp tác kinh tế rộng rãi với nước ngoài Do vậy, hệ thống thuế hiện hành đã cải cách bước hai, phải đảm bảo mục tiêu, yêu cầu cơ bản là:
* Mục tiêu của hệ thống thuế:
+ Về mục tiêu tài chính:
Có thể khẳng định mục tiêu này của cải cách thuế đọt I là rất thành công Từ ngày thành lập đến nay ngành thuế đã không ngừng phấn đấu vươn lên, khắc phục mọi khó khăn, để liên tục hoàn thành vượt mức nhiệm vụ kế hoạch thu được giao Số thu năm sau tăng cao hơn năm trước, số thuế thu được trong năm 2000 tăng 13,7 lần so vơi năm 1990 Trước đây thuế chỉ đảm bảo 50% - 60% tổng thu NSNN, đến nay đã chiếm trên 90%, nhờ vậy đã đáp ứng được nhu cầu chi thường xuyên ngày càng tăng
Trang 29của NSNN, đồng thời giảm bội chi NSNN và dành được một phần tích luỹ đáng kể cho phát triển kinh tế tạo cơ sở ổn định và từng bước cải thiện đời sống của nhân dân, nhất là những người hưởng lương hành chính - sự nghiệp, hưu trí, hưởng phụ cấp xã hội Về cơ bản chính sách thuế thường xuyên được xem xét, sửa đổi bổ sung kịp thời, phù hợp với sự biến động phức tạp về tình hình kinh tế - xã hội của đất nước Những biện pháp về cải tiến, tổ chức thực hiện cũng đã góp phần đáng kể vào thành tích trên, đặc biệt là việc thường xuyên củng cố, kiện toàn tổ chức, bộ máy đào tạo, rèn luyện cán bộ thuế theo 10 điều kỷ luật của ngành Tuy vậy kết quả thu được chưa phản ánh đúng tình hình phát triển kinh tế Cả nước còn có 60% - 70% cơ sở kinh doanh nộp thuế theo hình thức khoán, hiệp thương, chủ yếu theo cảm tính, chưa đảm bảo kết quả thu thuế sát đúng với hoạt động của từng cơ sở, vừa lạm thu, vừa thất thu đặc biệt là ở khu vực KTNQD Số nợ đọng dây dưa kéo dài hàng trăm tỷ đồng cũng là nguyên nhân gây thất thoát lơn cho NSNN Tình hình đóng góp giữa khu vực kinh tế nhà nước và KTNQD cũng cần được điều chỉnh Tổng thu NSNN trong giai đoạn 2006-2010, gấp đôi giai đoạn 2001-2005, bình quân mỗi năm tăng khoảng 12%; Tỷ trọng thuế và phí trong tổng thu đạt 94-95% Thu từ dầu thô giảm còn khoảng 20% trong tổng thu Tỷ trọng thu từ XNK đến năm 2010 còn khoảng 16-17% tổng số thu Thu nội địa trừ dầu
dự kiến tăng lên 63-65% vào năm 2010 Tuy còn thất thu nhưng khu vực kinh tế nhà nước chiếm khoảng 38% GDP, đã đóng góp khoảng 28% tổng số thu NSNN (loại trừ thuế XNK, thu khấu hao, thu về dầu thô, xổ số) Trong khi đó KTNQD chiếm khoảng 62% GDP, chỉ mới đóng góp 14% tổng số thu NSNN Như vậy KTNQD làm ra tổng sản phẩm quốc nội gấp 1,63 lần khu vực kinh tế nhà nước nhưng lại đóng góp cho
NSNN chỉ bằng 60% mức đóng góp của khu vực kinh tế nhà nước (Nguồn: cổng
thông tin Bộ Tài chính)
+ Về mục tiêu kinh tế:
Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu
tố chủ quan (trang bị kỹ thuật, tiền vốn, trình độ quản lý…) và khách quan (cung cầu, giá cả, chính sách thuế…) nhưng nhìn chung hệ thống thuế mới đã từng bước góp phần thực hiện yêu cầu phục vụ có hiệu quả chủ trương giải phóng mọi khả năng tiềm tàng đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế, góp phần thúc đẩy sắp xếp lại tổ chức sản xuất, kinh doanh, tăng cường hạch toán kinh tế, tăng năng suất,
hạ giá thành, nâng cao hiệu quả kinh tế, khắc phục tình trạng lãi giả, lỗ thật trong khu
Trang 30vực kinh tế Nhà nước Phát huy tác dụng hướng dẫn phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông có lợi cho quốc kế dân sinh, góp phần khuyến khích đầu tư vốn, thúc đẩy tái sản xuất mở rộng, phục vụ xuất khẩu và các chương trình lớn, khuyến khích khai thác nhiên liệu, vật tư trong nước và tranh thủ hợp tác với nước ngoài, vừa coi trọng bảo vệ sản xuất nội địa…
Quan điểm bảo vệ sản xuất nội địa kéo dài, một chiều, qua thuế suất thuế Nhập khẩu, thuế GTGT, vừa gây thiệt hại cho nhân dân (phải tiêu dùng hàng xấu, giá cao) vừa không thúc đẩy các doanh nghiệp quan tâm, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng,
hạ giá thành, giá bán để tạo được môi trường cạnh tranh lành mạnh trong thị trường nội địa và hội nhập quốc tế Trong thuế GTGT có nhiều trường hợp thu chồng chéo làm tăng giá, tác động không tốt đến sản xuất, kinh doanh,… không ít trường hợp vì yếu tố thuế, giá bán hàng quá cao, không được xã hội chấp nhận nên thuế gián thu trở thành gánh nặng của thuế trực thu mà cơ sở kinh doanh phải chịu để có thể tiêu thụ được hàng hóa
+ Về mục tiêu xã hội:
Chính sách thuế mới được áp dụng thống nhất đối với mọi thành phần kinh tế
đã cơ bản bảo đảm được sự động viên đóng góp bình đẳng và thực hiện công bằng xã hội Người có thu nhập cao, nộp thuế TNDN và thuế TNCN nhiều hơn những người
có thu nhập thấp nhưng vẫn đảm bảo được hưởng số thu nhập còn lại cao hơn, thậm chí cao hơn nhiều so với người có thu nhập thấp Thông qua kết quả thu thuế, Nhà nước có thêm điều kiện giải quyết nhiều việc mang tính xã hội: xóa đói giảm nghèo; giúp đỡ khắc phục thiên tai
* Yêu cầu chủ yếu của hệ thống thuế:
Từ những mục tiêu cơ bản, yêu cầu đặt ra đối với hệ thống chính sách thuế và từng sắc thuế là:
+ Phải bao quát hết nguồn thu để kiểm kê, kiểm soát và thu đúng, thu đủ cho NSNN + Góp phần khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển theo định hướng của Nhà nước trong từng thời kỳ;
+ Đảm bảo tính bình đẳng và công bằng xã hội;
+ Phải rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu, dễ làm, dễ kiểm tra;
+ Chi phí hành thu thấp
Trang 31* Đặc điểm của quản lý thu thuế doanh nghiệp NQD:
+ Trình độ của đối tượng nộp thuế phổ biến thấp, do đó sự hiểu biết pháp luật cũng như ý thức chấp hành luật kém
+ Nằm rải rác, phân tán nên rất khó cho cơ quan thuế trong quá trình thực hiện quản lý thu thuế;
+ Ở Việt Nam, hệ thống sổ sách, hóa đơn, chứng từ, kế toán… của KTNQD vừa yếu kém, vừa lỏng lẻo làm cho quản ý thu thuế càng khó khăn, phức tạp, hiệu quả thấp
1.2.6 Ưu nhược điểm của doanh nghiệp NQD
- Về ưu điểm: Doanh nghiệp NQD có tiềm năng lớn về trí tuệ, kinh nghiệm, tiền vốn, lao động, sản phẩm, sự hợp tác, liên doanh liên kết
+ Tiềm năng quan trọng nhất của Doanh nghiệp NQD đó là sự phát huy triệt để
về tính tự chủ, sáng tạo của mỗi cá nhân trong đội ngũ những người tham gia thành lập doanh nghiệp; trong hàng triệu công nhân làm việc trong các doanh nghiệp NQD Đối với nước ta, khi công cuộc đổi mới được Đảng khởi xướng từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, đã có nhiều sáng kiến cá nhân của quần chúng lao động, của nhân dân
đã và đang được phát huy cả trong lao động sản xuất cũng như trong việc tìm tòi các hình thức kinh doanh thích hợp, năng động, từng bước đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng và phong phú của thị trường
+ Tiềm năng về kinh nghiệm quản lý, nâng cao tay nghề, đặc biệt là phát huy kiến thức, các bí quyết truyền thống được tích lũy qua nhiều đời là nguồn tiềm năng vô cùng to lớn cho sự tăng trưởng kinh tế nếu được khởi động với những chính sách, chủ trương thích hợp
+ Nguồn vốn trong các doanh nghiệp NQD nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác đã và đang được tích lũy ngày càng lớn Ở hầu hết các nước, nguồn vốn đầu tư từ phía Nhà nước không đáng kể (chỉ chiếm khoảng từ 13% - 30% tổng vốn đầu tư)
+ Doanh nghiệp NQD có tiềm năng sử dụng lực lượng lao động to lớn góp phần đáng kể vào việc giải quyết việc làm cho xã hội Ở nước ta hàng năm bình quân có thêm khoảng hơn một triệu người đến tuổi lao động bao gồm: lực lượng thanh niên đến tuổi lao động, số học sinh tốt nghiệp dạy nghề, trung học, cao đẳng, đại học hoặc những người lao động thất nghiệp do sắp xếp lại biên chế trong các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp hoặc do sắp xếp lại sản xuất trong các ngành kinh tế quốc dân, những người bán thất nghiệp ở nông thôn, thành thị Đây là nguồn lao động rất dồi dào
Trang 32mà Nhà nước ta chưa khai thác hết được Nếu như chỉ thông qua các doanh nghiệp nhà nước thì sẽ không đáp ứng được hết nhu cầu việc làm cho những người lao động Mà chỉ có thông qua các doanh nghiệp NQD với mọi hình thức, mọi quy mô, mọi loại ngành nghề, áp dụng nhiều phương thức tổ chức, sử dụng linh hoạt các lực lượng lao động của xã hội mới có thể tận dụng được lực lượng lao động dôi thừa
+ Sự phát triển của doanh nghiệp NQD còn là môi trường thuận lợi để phát triển sự hợp tác, liên doanh liên kết kinh tế với nước ngoài Trong nền kinh tế mở hiện nay, sự giao lưu với các nước phát triển mạnh về mọi mặt đó là một tất yếu khách quan Đại hội Đảng lần IX đã xác định: Phát triển đa dạng kinh tế nhà nước dưới các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong nước, ngoài nước, mang lại lợi ích thiết thực cho các bên đầu tư kinh doanh; chú trọng phát triển các hình thức kinh doanh đan xen, hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu, giữa các thành phần kinh tế với nhau, giữa trong nước, ngoài nước
Ở các nước phát triển, liên doanh với nước ngoài chủ yếu là do khu vực NQD thực hiện vì đây là khu vực năng động, làm ăn có hiệu quả, thích ứng nhanh với sự biến động hoặc thay đổi của thị trường, của khách hàng Trong khi đó ở nước ta hiện nay, các liên doanh với nước ngoài chủ yếu là do kinh tế nhà nước thực hiện Nhiều doanh nhân ở nước ngoài muốn đầu tư về quê hương nhưng đã gặp không ít khó khăn trong việc tìm đối tác liên doanh
+ Sự phát triển đa dạng của doanh nghiệp NQD đã tạo ra nguồn sản phẩm đa dạng, phong phú đáp ứng mọi nhu cầu tiêu dùng của xã hội ở mọi nơi, mọi thời điểm Thực tế nhiều năm qua ở các nước XHCN và ở Việt Nam đều cho thấy nền kinh tế chủ yếu dựa trên Kinh tế nhà nước thì hàng hóa sẽ nghèo nàn về chủng loại, số lượng Ở Liên Xô cũ, sau 70 năm xây dựng CNXH với hàng ngàn doanh nghiệp mà nhà nước chỉ có 10 triệu loại sản phẩm Trong khi đó ở Nhật Bản một nước nhỏ bé hơn nhiều về dân số và diện tích có tới 1,4 triệu doanh nghiệp với hơn 50 triệu loại sản phẩm Ở nhiều nước Đông Nam Á, kinh tế NQD đang được đánh giá là nguồn lực chủ yếu làm tăng trưởng kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu, có thể tạo thu nhập quốc dân tính theo đầu người tăng lên rất nhanh
Ở Việt Nam, tuy kinh tế NQD nói chung, doanh nghiệp NQD nói riêng, mới được công nhận và phục hồi nhưng trong những năm qua đã xác định được chỗ đứng xứng đáng, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp đổi mới đất nước
Trang 33Sự đóng góp của doanh nghiệp NQD không chỉ dừng lại ở việc làm tăng tổng sản phẩm trong nước, đa dạng hàng hóa với nhiều mẫu mã đẹp, giá cả hợp lý mà còn tạo ra môi trường thuận lợi cho giải quyết việc làm, nâng cao đời sống xã hội, cả cho người sản xuất lẫn người tiêu dùng
Từ một số thế mạnh của doanh nghiệp NQD, có quan điểm muốn tư nhân hóa một cách triệt để nhằm huy động được tối đa mọi nguồn lực, khai thác mọi tiềm năng, lợi thế đang tiềm ẩn trong khu vực kinh tế NQD Thực ra, quan điểm này chưa thấy hết được những khiếm khuyết trong sự phát triển của doanh nghiệp NQD Tuy là một khu vực năng động nhưng nếu thiếu định hướng và không bao quát hết mọi nhu cầu xã hội, tự phát theo cơ chế thị trường, trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan nhà nước thì sẽ có không ít cơ sở hoạt động vô chính phủ, kinh doanh trái phép, buôn bán trốn lậu thuế Điều đó càng trở nên khó khăn, phức tạp đối với một nền kinh tế sản xuất nhỏ, phân tán, chưa quen với văn minh công nghiệp, hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, chưa hoàn thiện như ở nước ta
Việc khuyến khích phát triển doanh nghiệp NQD để phát triển kinh tế - xã hội không đồng nghĩa với việc buông lỏng quản lý, để mặc cho các thành phần kinh tế tự
do phát triển Ngược lại, đòi hỏi Nhà nước phải quản lý, định hướng, phải có hệ thống pháp luật được thể chế hóa đầy đủ rõ ràng cả ở tầm vĩ mô lẫn vi mô, để có thể phát huy đến mức tối đa mặt tích cực và hạn chế đến mức thấp nhất mặt tiêu cực của doanh nghiệp NQD trong cơ chế thị trường
1.3 Nội dung cơ bản của một số sắc thuế chủ yếu đối với doanh nghiệp NQD
Nhằm bao quát mọi đối tượng phải thu thuế, đảm bảo tính công bằng trong động viên điều tiết tiền thuế và đáp ứng yêu cầu của thu ngân sách, hệ thống thuế hiện nay ở nước ta bao gồm các sắc thuế sau:
Thuể GTGT; Thuế TTĐB; Thuế XNK; Thuế Tài nguyên; Thuế TNDN; Thuế TNCN; Thuế BVMT; Thuế sử dụng đất nông nghiệp; Thuế SD đất phi nông nghiệp; Thuế môn bài
Mỗi sắc thuế có chức năng, tác dụng, đối tượng nộp khác nhau nhưng có mối liên hệ chặt chẽ tác động lẫn nhau; giữa thuế trực thu và thuế gián thu để phát huy tác dụng toàn diện của hệ thống thuế
Ngoài ra, còn một số khoản thu mang tính chất lệ phí, nhằm động viên sự đóng góp cho NSNN vừa mang tính chất phục vụ cho người nộp lệ phí thực hiện một số thủ tục hành chính
Trang 341.3.1 Một số loại thuế chủ yếu đối với các doanh nghiệp NQD
1.3.1.1 Thuế môn bài:
Thuế môn bài là một khoản thu có tính chất lệ phí thu hàng năm vào các cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế vì vậy Thuế môn bài mang tính chất là loại thuế trực thu, động viên sự đóng góp trực tiếp của cơ sở kinh doanh tạo được nguồn thu quan trọng cho nhu cầu chi tiêu của NSNN ngay từ đầu mỗi năm khi các nguồn thu khác chưa nhiều Thuế môn bài còn có tác dụng kiểm kê, kiểm soát các cơ sở kinh doanh, có căn cứ phân loại quy mô kinh doanh để áp dụng biện pháp quản lý chp phù hợp
Thuế môn bài áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân có thực tế kinh doanh Khai thuế môn bài một lần khi người nộp thuế mới ra hoạt động kinh doanh chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh
Trường hợp người nộp thuế mới thành lập cơ sở kinh doanh những chưa hoạt động sản xuất kinh doanh thì phải khai thuế môn bài trong thời hạn ba mươi ngày, kể
từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế hoặc ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Đối với người nộp thuế đang hoạt động kinh doanh đã khai, nộp thuế môn bài thì không phải nộp hồ sơ khai thuế môn bài cho các năm tiếp theo nếu không thay đổi các yếu tố làm thay đổi về mức thuế môn bài phải nộp Trường hợp người nộp thuế có
sự thay đổi các yếu tố liên quan đến căn cứ tính thuế làm thay đổi số thuế môn bài phải nộp của năm tiếp theo thì phải nộp hồ sơ khai thuế môn bài cho năm tiếp theo, thời hạn khai thuế chậm nhất là ngày 31/12 của năm có sự thay đổi Nếu không kê khai thì
sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế và bị ấn định mức thuế môn bài phải nộp
- Các cơ sở kinh doanh là chi nhánh, cửa hàng, cửa hiệu (thuộc công ty hoặc chi nhánh) hạch toán phụ thuộc hoặc báo sổ được cấp Giấy chứng nhận ĐKKD, có đăng
ký nộp thuế và được cấp mã số thuế thì phải kê khai và nộp thuế MB căn cứ vào vốn
- Các doanh nghiệp có các Chi nhánh (hạch toán phụ thuộc) tại các quận, huyện, thị xã và các điểm kinh doanh khác thì phải nộp thuế MB cho các chi nhánh này mỗi chi nhánh là 1.000.000đồng/năm
Cách tính thuế Môn bài:
- Tính thuế MB căn cứ vào vốn được áp dụng cho các tổ chức kinh tế
Trang 35Bảng 1.1: Tính thuế MB căn cứ vào vốn
Bậc thuế môn bài Vốn đăng ký Mức thuế môn
1.3.1.2 Thuế GTGT: Thuế GTGT tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa,
dịch vụ phát sinh ở từng khâu trong quá trình sản xuất, lưu thông, tiêu dùng Thuế GTGT được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị sản xuất và tiêu thụ với tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào tương ứng Thuế GTGT phải nộp ở mỗi giai đoạn được tính bằng cách lấy số thuế GTGT đầu ra (Tính được bằng cách lấy thuế suất x giá hàng hóa dịch vụ bán ra) trừ số thuế GTGT đầu vào (tính được bằng cách lấy thuế suất
x giá hàng hóa dịch vụ mua vào) Thuế GTGT được hoàn đối với hàng hóa xuất khẩu
sẽ phát huy tốt tác dụng khuyến khích xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng xuất khẩu có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế; thuế GTGT kết hợp với hàng nhập khẩu làm tăng giá vốn đối với hàng nhập khẩu; góp phần tích cực bảo vệ hàng sản xuất trong nước; tăng cường hạch toán kế toán kinh doanh, thúc đẩy việc mua bán hàng hóa thực hiện tốt chế độ hóa đơn để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào; khuyến khích hiện đại hóa, chuyên môn hóa sản xuất, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm,
Thuế GTGT được thực hiện theo hai phương pháp: khấu trừ và trực tiếp; Thuế GTGT chỉ thực hiện việc khấu trừ thuế đầu vào đã nộp của hàng hóa, nguyên nhiên vật liệu, TSCĐ, dịch vụ đầu vào dùng để sản xuất, kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT khi bán hàng ra
Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ đối hàng hóa, nguyên nhiên vật liệu và dịch
vụ dùng vào sản xuất, kinh doanh hàng hóa tính thuế GTGT, phát sinh trong tháng nào thì được kê khai khấu trừ khi xác định thuế GTGT phải nộp của tháng đó, không phân biệt đã xuất dùng, bán ra hay còn trong kho
Nếu số thuế GTGT được khấu trừ trong tháng lớn hơn số thuế GTGT đầu ra của tháng đó thì số thuế GTGT nộp thừa còn lại sẽ được chuyển đến để tiếp tục khấu trừ trong tháng sau hoặc được đề nghị hoàn thuế theo chế độ qui định
Thuế GTGT là một loại thuế tiêu dùng; là công cụ có hiệu quả trong việc động viên nguồn thu cho ngân sách Nhà nước (NSNN) Số thuế GTGT từ sản xuất kinh
Trang 36doanh nội địa chiếm tỷ trọng cao nhất (so với các loại thuế khác) trong tổng thu NSNN: khoảng 16.8% (Từ kinh doanh hàng hóa XNK chỉ khoảng 9%) và chiếm 36% trong tổng thu từ doanh nghiệp Thuế GTGT được áp dụng ở nước ta từ 01/01/1999 thay cho thuế doanh thu trước đây (sắc thuế này hiện đã có trên 120 quốc gia áp dụng) Thuế GTGT vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu thuế và phí, năm 2015 chiếm khoảng 28 – 30%;
1.3.1.3 Thuế TNDN: Thuế TNDN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập có được
của một doanh nghiệp trong một kỳ sản xuất kinh doanh nhất định (gồm thu nhập kinh doanh và các khoản thu nhập khác) Có nhiều nước trên thế giới gọi thuế này là thuế thu nhập công ty Dù tên gọi có thể khác nhau nhưng nội dung cơ bản thì đều giống nhau: đánh vào thu nhập sau khi đã trừ chi phí hợp lý Việc ban hành Luật thuế TNDN nhằm bao quát và điều tiết được tất cả các khoản thu nhập đã, đang và sẽ phát sinh của
cơ sở kinh doanh trong cơ chế thị trường; khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài và khuyến khích các tổ chức cá nhân trong nước tiết kiệm vốn cho đầu tư phát triển kinh doanh qua các chế độ miễn, giảm thuế; từng bước thu hẹp sự khác biệt về chính sách thuế để đảm bảo sự bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế; hệ thống hóa những quy định ưu đãi về thuế trong nhiều Luật khác nhau, bảo đảm sự rõ ràng thống nhất trong việc thực hiện các chế độ ưu đãi thuế
1.3.1.4 Thuế tài nguyên Là loại thuế đánh vào tài nguyên thiên nhiên khai thác
được Thuế này được tính bằng cách lấy số lượng tài nguyên thực tế khai thác x giá tính thuế đơn vị tài nguyên thuế suất
Thuế tài nguyên là công cụ để quản lý, kiểm soát, hướng dẫn, điều tiết các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên của đất nước, bảo vệ môi trường sinh thái và động viên một phần thu nhập cho NSNN
1.3.2 Công tác quản lý thuế doanh nghiệp NQD
Quản lý thuế là hoạt động quản lý của Nhà nước mà cơ quan thuế là đại diện, thông qua việc tổ chức, điều hành bộ máy ngành nghề, thực hiện hệ thống chính sách pháp luật thuế và hệ thống các qui trình quản lý thu để động viên một phần thu nhập từ lao động, của cải, vốn, từ việc tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ và từ việc lưu giữ, chuyển dịch tài sản của các thể nhân và pháp nhân vào NSNN nhằm trang trải cho các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Công tác quản lý thuế doanh nghiệp NQD được thực hiện theo
cơ chế: Cơ sở sản xuất, kinh doanh tự khai tự nộp thuế
Trang 37Theo cơ chế này người nộp thuế tự giác tuân thủ thực hiện các nghĩa vụ thuế: người nộp thuế căn cứ các quy định tại các Luật thuế để xác định nghĩa vụ thuế của mình, kê khai chính xác, nộp tờ khai thuế và nộp thuế đúng hạn Cơ quan thuế không can thiệp vào việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế nếu NNT tự giác tuân thủ nghĩa vụ Cơ quan thuế có trách nhiệm tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn để người nộp thuế hiểu rõ và tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế, đồng thời giám sát chặt chẽ việc tuân thủ nghĩa vụ thuế của NNT và thông qua công tác kiểm tra, thanh tra để phát hiện, xử lý kịp thời, đúng đắn những hành vi gian lận, trốn thuế của NNT
Trong cơ chế tự khai tự nộp thuế, NNT phải hiểu biết đầy đủ về các quyền và nghĩa vụ của mình, tự kê khai, tự tính số thuế phải nộp và nộp tờ khai thuế cho cơ quan thuế trên cơ sở kết quả sản xuất kinh doanh của mình và chính sách chế độ về thuế mà không cần sự xác nhận trực tiếp của cơ quan thuế Trên cơ sở số thuế đã kê khai, cơ sở kinh doanh chủ động nộp tiền thuế vào NSNN Đồng thời, NNT được áp dụng các thủ tục kê khai, nộp thuế đơn giản, thuận lợi và được hướng dẫn, được cung cấp các dịch vụ hỗ trợ chất lượng cao nhằm tạo thuận lợi cho họ tự giác tuân thủ đúng nghĩa vụ thuế theo qui định
Thực hiện quản lý thuế theo cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế, bộ máy quản lý thuế
ở cơ quan thuế được tổ chức tập trung theo các chức năng, bao gồm các chức năng chính: Tuyên truyền, hỗ trợ NNT; Xử lý tờ khai và kế toán thuế; Thu nợ - cưỡng chế thuế và Kiểm tra, thanh tra thuế Trong đó, chức năng thanh tra, kiểm tra thuế là chức năng trọng tâm của cơ quan thuế trong cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế Trong cơ chế tự khai, tự nộp thuế, công tác thanh tra, kiểm tra không phải nhằm tăng số thu, mà mục tiêu chính là nhằm ngăn ngừa, phòng chống NNT vi phạm pháp luật thuế
1.3.3 Ý nghĩa của quản lý thu thuế doanh nghiệp NQD
Trong tổng thu NSNN hàng năm, thuế công thương nghiệp dịch vụ NQD tuy không chiếm tỷ trọng lớn chỉ ở mức khoảng 18 đến 25%, nhưng lại là lĩnh vực khó khăn phức tạp hơn cả Công tác quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp NQD không chỉ đơn thuần phục vụ cho mục tiêu thu ngân sách mà chính là thực hiện vai trò quản lý của Nhà nước đối với khu vực kinh tế dân doanh; thông qua công cụ thuế thực hiện yêu cầu quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung Quản lý thu thuế doanh nghiệp NQD có vai trò quan trọng trong việc đưa chính sách, pháp luật vào hoạt động kinh doanh và phát huy tác dụng của chính sách Quản lý thu thuế doanh nghiệp NQD không chỉ góp phần tăng thu cho ngân sách mà còn góp phần đảm bảo thực hiện công
Trang 38bằng xã hội và tạo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế Trên cơ sở quan niệm và tiếp cận doanh nghiệp NQD từ góc
độ thuế, quản lý thu thuế doanh nghiệp NQD có một số ý nghĩa chủ yếu sau:
+ Góp phần tích cực trong việc tạo môi trường kinh tế, pháp lý và tạo sự bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh; thực hiện chức năng kiểm soát, định hướng phát triển của Nhà nước đối với khu vực KTNQD; thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển nhanh chóng và đúng hướng, thúc đẩy cơ sở thực hiện hạch toán kinh doanh, huy động triệt để nguồn vốn ngày càng có hiệu quả, sử dụng nguồn lao động, thiết bị tốt hơn, từ
đó tạo bước chuyển biến mới trên lĩnh vực tài chính
+ Công tác thuế đã góp phần quan trọng phát huy mặt tốt của kinh tế thị trường
và hạn chế những mặt trái của nó Đất nước ta, nhiều năm qua đã thực hiện mô hình kinh tế thị trường, bên cạnh những ưu điểm đã bộc lộ rõ những khuyết tật lớn, đó là phân hóa thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, là điều kiện để phát sinh tệ nạn tham nhũng, tha hóa bản chất đạo đức của con người, do kinh doanh chạy theo lợi nhuận bất chấp cả luật pháp Hoạt động quản lý thu thuế đã góp phần hạn chế những mặt trên, thông qua thu thuế đã góp phần điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, góp phần thực hiện công bằng xã hội, định hướng cho doanh nghiệp NQD phát triển có lợi cho nền kinh tế quốc dân và tạo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể kinh doanh
+ Quản lý thu thuế doanh nghiệp NQD còn giáo dục ý thức và trách nhiệm của công dân trong việc thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước Thông qua công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật thuế đã làm cho người dân hiểu được những quy định của Nhà nước và tự giác chấp hành Các đối tượng nộp thuế thuộc doanh nghiệp NQD rất
đa dạng, nhiều nơi trình độ dân trí chưa cao, ý thức chấp hành luật pháp của dân chưa nghiêm, sự hiểu biết về pháp luật và nhận thức về trách nhiệm nghĩa vụ công dân chưa đầy đủ, thông qua quản lý thu thuế cán bộ, nhân viên ngành thuế đã truyền đạt chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước, giới thiệu, giải thích chính sách thuế và sự cần thiết của thuế trong sự tồn tại và phát triển của đất nước cho người dân nói chung và đối tượng nộp thuế nói riêng để mọi công dân tự giác thực hiện nghĩa vụ của mình với Nhà nước, dần dần đã góp phần nâng cao thêm ý thức chấp hành luật pháp của người dân Đồng thời thông qua công tác tuyên truyền pháp luật thuế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý thu thuế, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời tiền thuế vào ngân sách, đó chính là mục tiêu phấn đấu của Ngành thuế
Trang 391.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
1.3.4.1 Môi trường quản lý thuế
Quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp NQD nói riêng là hoạt động có liên quan đến mọi mặt đời sống kinh tế-xã hội của một nước Ở đâu có hoạt động kinh tế hay có thu nhập đối với một tổ chức, cá nhân thì ở
đó có hoạt động quản lý thu thuế Vì vậy, để thực hiện quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp NQD tốt, môi trường xã hội, môi trường pháp lý nói chung và về thuế nói riêng phải được ban hành và thực hiện một cách đồng bộ Một số tác động chủ yếu của những môi trường này tác động đến quản lý thu thuế như sau:
Thứ nhất, nội dung của các sắc thuế:
Nếu nội dung của các sắc thuế quá phức tạp, quy định không rõ ràng, thủ tục hành chính về thuế rườm rà sẽ khó khăn cho cả cán bộ thuế và các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp dân doanh nói riêng Ví dụ: thuế suất GTGT vừa quy định theo nhóm mặt hàng, vừa quy định theo ngành nghề kinh doanh thì một mặt hàng có thể được hiểu và xác định theo thuế suất đối với một nhóm mặt hàng này nhưng lại có thể xác định là thuế suất của một ngành nghề kinh doanh khác
Thứ hai, trình độ hiểu biết về thuế và ý thức chấp hành luật thuế của các doanh nghiệp dân doanh
Nếu các doanh nghiệp dân doanh thực sự hiểu biết pháp luật về thuế, ý thức tự giác chấp hành nghĩa vụ nộp thuế sẽ cao Ngược lại, các doanh nghiệp dân doanh sẽ không có thái độ rõ ràng trước các hành vi trốn thuế, gian lận về thuế, thậm chí còn thờ ơ, khuyến khích, đồng tình
Trước hết, các doanh nghiệp NQD phải hiểu sâu sắc về nghĩa vụ thuế và quyền thụ hưởng lợi ích từ khoản tiền thuế, kê khai và nộp thuế; nhận thức đúng trách nhiệm pháp luật về nghĩa vụ phải kê khai nộp thuế của mình Do đó tính tuân thủ, tự nguyện cao trong việc kê khai, tính thuế và nộp thuế
Quản lý thu thuế ở nước nào cũng gặp khó khăn là: một số doanh nghiệp cố ý, tìm mọi thủ đoạn, dưới mọi hình thức gian lận và các khoản tiền thuế phải nộp Các doanh nghiệp này không những không nộp thuế mà còn tìm cách chiếm đoạt tiền từ ngân sách nhà nước thông qua việc kê khai khống giá mua hàng, nhất là hàng xuất khẩu để được hoàn thuế Tình trạng trốn, lậu thuế, nợ đọng thuế còn khá phổ biến ở
Trang 40nhiều khoản thu và diễn ra ở các địa bàn khác nhau, vừa làm thất thu cho ngân sách nhà nước, vừa không bảo đảm công bằng xã hội và đưa quản lý thu thuế vào nề nếp
Thứ ba, các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế xã hội tạo cơ sở cho quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp dân doanh
Các quy định như, quản lý đất đai, quản lý thanh toán không dùng tiền mặt, quản lý xuất nhập khẩu của cơ quan hải quan, quản lý xuất nhập cảnh của cơ quan công an, quản lý đăng ký kinh doanh của cơ quan kế hoạch và đầu tư…nếu không được ban hành đồng bộ và triển khai thực hiện tốt, môi trường kiểm toán, kế toán còn nhiều hạn chế, trách nhiệm pháp lý chưa cao sẽ làm hạn chế rất nhiều đến kết quả quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp dân doanh
1.3.4.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy và trình độ đội ngũ cán bộ quản lý thuế đối với các doanh nghiệp NQD
Năng lực, trình độ trách nhiệm của cơ quan thuế, cán bộ thuế phải đáp ứng được yêu cầu quản lý, phù hợp với nền kinh tế xã hội, tận dụng được các thành tựu quản lý thuế quốc tế sẽ tạo điều kiện cho quản lý thu thuế đạt hiệu quả cao Thể hiện ở những nội dung cơ bản sau đây:
- Tuyên truyền giáo dục, hướng dẫn chính sách thuế chưa đáp ứng được yêu cầu để nâng cao sự hiểu biết, tính tự giác trong việc chấp hành các chính sách thuế đối với nhà nước của các doanh nghiệp dân doanh
- Chức năng, tổ chức và quyền hạn của thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp dân doanh phải trở thành công cụ có hiệu lực để chống thất thu ngân sách và răn đe, ngăn chặn các hành vi vi phạm về thuế Thanh tra, kiểm tra xử lý các hành vi vi phạm về thuế của cơ quan thuế phù hợp với thực hiện và có biện pháp ngăn chặn kịp thời hành vi gian lận trong việc tính thuế, kê khai thuế, gian lận trong hoàn thuế, miễn giảm thuế Mọi hành vi hình sự về thuế đều phải chuyển qua cơ quan pháp luật để điều tra khởi tố vụ án
Nếu chế tài xử lý vi phạm về thuế chưa được quy định rõ ràng, các hình thức xử phạt về thuế còn nhẹ chưa đủ mức răn đe, ngăn chặn các hành vi gian lận thuế, đồng thời, chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra, kiểm tra thuế còn hạn chế, thì hiệu quả quản lý thu thuế sẽ thấp
- Cán bộ thuế được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên để đáp ứng yêu cầu của tình hình về chính sách thuế, nghiệp vụ quản lý các khoản thu, sắc thuế, hiện đại hóa quản lý thu bằng ứng dụng tin học Cán bộ thuế phải có khả năng tuyên truyền giáo