1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài dự thi tìm hiểu lịch sử quan hệ đặt biệt Việt Nam - Lào năm 2017

59 632 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 3,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài dự thi trả lời đầy đủ 12 câu hỏi .Các câu trả lời chi tiết cụ thể có hình ảnh minh họa. ............................................................................ ......................................................

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BÀI DỰ THI

“TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM – LÀO ”

NĂM 2017

Họ và tên :

Đơn vị :

, Tháng 7 năm 2017

Trang 2

Câu 1: Những cơ sở tạo nên việc thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào, Lào – Việt Nam (5-9-1962) Ý nghĩa của việc thiết lập quan hệ ngoại giao của hai nước.

VIỆT NAM – LÀO Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng, gần gũi bênnhau như làng trên xóm dưới Thành ngữ Việt Nam có câu láng giềng tối lửa tắtđèn có nhau, tương tự như cách nhân dân Lào gọi nhân dân Việt Nam là bản cạyhươn khiêng (bản kề, nhà cạnh) Quan hệ Việt Nam – Lào là mối quan hệ nhânhòa, nảy sinh từ đời sống thích ứng với tự nhiên và dựng xây xã hội của biết baothế hệ cộng đồng dân cư hai nước có nhiều lợi ích tương đồng, cao hơn hết là vậnmệnh hai dân tộc gắn bó với nhau rất khăng khít và được phát triển thành quan hệđặc biệt chưa từng có trong lịch sử quan hệ quốc tế Quan hệ đoàn kết đặc biệtViệt Nam – Lào không phải do ý muốn chủ quan của bất kỳ bên nào, mà bắtnguồn từ vị trí địa – chiến lược của hai nước, từ bản chất nhân văn, nương tựa lẫnnhau của hai dân tộc có cùng lợi ích cơ bản về độc lập, tự chủ và nguyện vọngchính đáng thiết tha về hòa bình và phát triển - Cùng tựa lưng vào dãy TrườngSơn hùng vĩ Việt Nam và Lào có vị trí địa – chiến lược quan trọng ở vùng ĐôngNam Á do nằm kề con đường giao thương hàng hải hàng đầu thế giới, nối liềnĐông Bắc Á, Nam Á qua Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương Dãy TrườngSơn, biên giới tự nhiên giữa Việt Nam và Lào là bức tường thành hiểm yếu, tạođiều kiện cho hai nước tựa lưng vào nhau, phối hợp giúp đỡ lẫn nhau trong chiếntranh bảo vệ Tổ quốc của mỗi nước Tại đây, có nhiều vị trí chiến lược khống chếnhững địa bàn then chốt về kinh tế và quốc phòng rộng lớn của cả hai nước, có thểtrở thành điểm tựa vững chắc cho Việt Nam và Lào trong sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ đất nước

Do điều kiện tự nhiên và sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam và Lào

có nhiều điểm tương đồng, lại vừa có những nét khác biệt, trong hoàn cảnh toàncầu hóa và hội nhập quốc tế ngày nay, hai nước hoàn toàn có thể bổ sung chonhau bằng tiềm năng, thế mạnh của mỗi nước về vị trí địa lý, tài nguyên, 6 nguồnnhân lực, thị trường cũng như sự phân vùng kinh tế và phân công lao động hợp lý

để hợp tác cùng phát triển - Nhân dân hai nước giàu lòng nhân ái, bao dung vàvăn hóa của hai dân tộc có nhiều nét tương đồng Việt Nam và Lào đều là nhữngquốc gia đa dân tộc, có lịch sử phát triển lâu đời trên bán đảo Đông Dương Quátrình cộng cư, hoặc sinh sống xen cài của những cư dân Việt Nam và cư dân Làotrên địa bàn biên giới của hai nước đã phản ánh sinh động, liên tục mối quan hệcội nguồn và quan hệ tiếp xúc từ xa xưa của nhân dân hai nước Sự hài hòa giữalòng nhân ái và tinh thần cộng đồng là một nét đặc sắc trong triết lý nhân sinhngười Việt Nam cũng như người Lào Người Việt Nam thường nói: “Được lời nhưcởi tấm lòng”, thì người Lào có câu ngạn ngữ: “Vầu thực khọ, khỏ kin cò bò thi(bò khỉ thi), vầu bò thực khọ khỏ xừ cò bò khải” (Nói hợp lòng thì xin ăn chocũng chả tiếc, nói trái ý thì dẫu xin mua cũng chẳng bán) Những tình cảm bình dịnhưng chân thành mà người dân nước Việt dành cho người bạn Lào láng giềngcủa mình từ xa xưa vẫn còn được lưu lại trong thư tịch cổ: “người Lào thuần hậuchất phác”1 , trong giao dịch buôn bán thì “họ vui lòng đổi chác”2 Mặc dầu Việt

Trang 3

Nam và Lào có tiếng nói, văn tự không giống nhau, sáng tạo và lựa chọn các nềnvăn hóa cũng như các hình thức tổ chức chính trị – xã hội khác nhau, nhưngnhững nét tương đồng thì vẫn thấy phổ biến trong muôn mặt đời sống hàng ngàycủa cư dân Việt Nam và Lào Các nền văn hóa nghệ thuật truyền thống của ViệtNam và Lào dễ dàng tìm thấy sự đồng cảm lẫn nhau, chia sẻ tâm hồn chung vềcác giá trị cộng đồng, coi trọng luật tục, tôn kính người già… Sự tương đồng giữavăn hóa của người Việt và người Lào bắt nguồn từ chính nền tảng chung của vănminh nông nghiệp lúa nước ở Đông Nam Á

Người nông dân của Lào tham gia thu hoạch lúa

Trong đối nhân xử thế của mình, nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào baogiờ cũng nêu cao những phẩm chất yêu thương và hướng thiện - Nhân dân hainước có truyền thống bang giao hòa hiếu, cưu mang đùm bọc lẫn nhau từ lâu đời,cuối thế kỷ XIX cùng bị thực dân Pháp xâm lược và đặt ách cai trị tàn Trong thời

kỳ phong kiến, đặc điểm nổi bật về quan hệ giữa nhân dân hai nước là thân thiện,hữu hảo Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp tiến hành xâm lược và đặt ách đô hộ lênViệt Nam, Campuchia và Lào Do có cùng một kẻ thù và chung một cảnh ngộ bịxâm lược và áp bức, phát huy truyền thống đoàn kết hữu nghị sẵn có, nhân dân banước Việt Nam, Lào, Campuchia dễ dàng đồng cảm, liên kết tự nhiên với nhau và

tự nguyện phối hợp với nhau trong một sứ mệnh chung đấu tranh chống thực dânPháp xâm lược, giành độc lập, tự do Tuy các phong trào trên đều bị chính quyềnthực dân đàn áp, dập tắt, song mối quan hệ giữa nhân dân Việt Nam và nhân dânLào trong những năm đầu chống sự xâm lược và ách áp bức, bóc lột của thực dânPháp cho thấy việc xây dựng khối đoàn kết đấu tranh trở thành một nhu cầu tấtyếu khách quan của hai dân tộc Xác định con đường cứu nước đúng đắn và xâydựng mối quan hệ đoàn kết giữa các dân tộc là những nhiệm vụ cấp bách đặt racho các nhà lãnh đạo phong trào yêu nước và cách mạng trên bán đảo ĐôngDương - Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm xác định con đường giải phóng dân tộc Việt

Trang 4

Nam và dân tộc Lào Trong những thập kỷ đầu thế kỷ XX, người con ưu tú củadân tộc Việt Nam là Nguyễn Ái Quốc (tức Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này) đã dàycông nghiên cứu lý luận và trực tiếp kiểm nghiệm thực tiễn về bản chất và môhình các cuộc cách mạng trên thế giới nhằm phát hiện chân lý cứu nước Ngườivận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam vàĐông Dương để xác định con đường giải phóng của dân tộc Việt Nam và dân tộcLào theo quỹ đạo cách mạng vô sản Trong quá trình đó, Nguyễn Ái Quốc luôngiành sự quan tâm đặc biệt đến tình hình Lào Người không chỉ lên án chế độ thựcdân Pháp nói chung mà còn tố cáo cụ thể sự tàn bạo của thực dân Pháp ở Lào1 Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên - một trong những tổ chức tiền thân củaĐảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp sáng lập vào tháng 6 năm

1925 tại Quảng Châu (Trung Quốc), đến tháng 2 năm 1927, Hội này gây dựngđược cơ sở tại Lào Hai nước Việt Nam và Lào cùng bị thực dân Pháp thống trị,

có cùng mục tiêu và khát vọng độc lập, tự do, nên con đường giải phóng và pháttriển của dân tộc Việt Nam theo tư tưởng Nguyễn Ái Quốc được ghi trong Cươnglĩnh chính trị đầu tiên cũng là con đường phù hợp, chứa đựng những giải pháp giảiphóng dân tộc Lào khỏi ách nô lệ, đưa đất nước Lào đến thịnh vượng Sự ra đờicủa Đảng Cộng sản Việt Nam - tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương mở đầunhững trang sử vẻ vang của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào Tháng 10 năm

1930, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam quyết nghịđổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương; xác lập cácnguyên tắc, phương hướng, đường lối chính trị và những nhiệm vụ cơ bản chophong trào cách mạng của ba dân tộc ở Đông Dương Hội nghị đặt phong tràocách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng Lào dưới sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản Đông Dương Trong suốt quá trình lãnh đạo phong trào cách mạng,Đảng Cộng sản Đông Dương còn đề ra những chủ trương và giải pháp cụ thể chỉđạo các cấp bộ Đảng và phong trào cách mạng Đông Dương cũng như tăng cường

sự quan hệ mật thiết, nương dựa lẫn nhau của hai dân tộc Việt Nam và Lào Từgiữa năm 1930, phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam đã nhanh chóng tácđộng và ảnh hưởng đến phong trào đấu tranh của nhân dân các dân tộc Lào Nhândân Lào tiến hành nhiều cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ gắn với ủng hộphong trào cách mạng Việt Nam, chống âm mưu địch gây thù hằn và kỳ thị giữangười Việt và người Lào…Trong các cuộc đấu tranh đó, những người Việt sinhsống ở Lào đã tích cực tham gia, sát cánh cùng nhân dân Lào Từ trong phong tràođấu tranh của nhân dân Lào, nhiều người con ưu tú của nhân dân Lào được kếtnạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương Tháng 9 năm 1934, Ban Chấp hành Đảng

bộ lâm thời Ai Lao (tức Xứ uỷ lâm thời Ai Lao) được thành lập, đánh một dấumốc quan trọng trong lịch sử đấu tranh yêu nước của nhân dân các bộ tộc Lào,khẳng định trên thực tế vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương đối vớicách mạng Lào Tháng 3 năm 1935, Đại hội Đại biểu lần thứ nhất của Đảng Cộngsản Đông Dương diễn ra Đại hội nhấn mạnh tầm quan trọng của việc liên hợpmật thiết các dân tộc Đông Dương để chống kẻ thù chung trên cơ sở lấy nguyêntắc chân thật, tự do và bình đẳng cách mạng làm căn bản Sau Đại hội Đảng,

Trang 5

phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào có nhiềuchuyển biến mới và ngày càng gắn bó mật thiết Tháng 9 năm 1939, Chiến tranhthế giới thứ II bùng nổ Ở Đông Dương, chính quyền thuộc địa thẳng tay đàn ápphong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào, ra sức

vơ vét sức người sức của ở Đông Dương phục vụ chiến tranh đế quốc Trước sựtồn vong của vận mệnh các dân tộc Đông Dương, Đảng Cộng sản Đông Dương đãquyết định đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng trước tiên của cách mạngĐông Dương, giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước và thành lập ởmỗi nước một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi Những chủ trương đúng đắntrên đây của Đảng Cộng sản Đông Dương đã soi đường cho nhân dân Việt Nam

và nhân dân Lào phát huy mạnh mẽ tinh thần độc lập, tự chủ, phát huy sức mạnhcủa mỗi dân tộc, đồng thời tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa nhân dân 2 nướccùng tiến lên trong sự nghiệp đánh Pháp, đuổi Nhật Trong khi phong trào đấutranh của nhân dân hai dân tộc Việt Nam và Lào đang phát triển mạnh mẽ thì ngày

9 tháng 3 năm 1945, quân phiệt Nhật tiến hành cuộc đảo chính Pháp, độc chiếmĐông Dương Trước tình hình đó, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sảnĐông Dương họp và sau đó ban hành Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành độngcủa chúng ta”, chủ trương phát động cao trào kháng Nhật cứu nước làm tiền đềcho Tổng khởi nghĩa Cao trào kháng Nhật cứu nước phát triển rất mạnh mẽ ởViệt Nam đã tác động và hỗ trợ tích cực, mạnh mẽ các lực lượng yêu nước Làođấu tranh giành độc lập Tại Lào, thực hiện chủ trương của Đội Tiên phong,

“Tổng hội Việt kiều cứu quốc toàn Thái - Lào” nhanh chóng xây dựng lực lượng

vũ trang, bán vũ trang chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền ở Lào Một chi bộĐảng cùng các đoàn thể Việt kiều cứu quốc được thành lập tại Viêng Chăn Cũng

từ sau ngày Nhật đảo chính, nhiều tổ chức chính trị khác nhau hình thành để mưucầu nền độc lập cho dân tộc Lào Vào tháng 4 năm 1945, tại Thái Lan, nhómngười Lào đang hoạt động tại đây thành lập tổ chức “Lào Ítxalạ” (Lào tự do) Tổchức này tập hợp các công chức, học sinh có tinh thần yêu nước, chủ trương dựavào phe Đồng minh chống Nhật để giành độc lập Tháng 5 năm 1945, một tổ chứcyêu nước khác của người Lào cũng ra đời là “Lào pên Lào” (Nước Lào của ngườiLào), gọi tắt là “Lopolo”, gồm những công chức, trí thức, sĩ quan người Lào tậphợp nhau để đấu tranh giành độc lập cho Lào Đội Tiên phong, Tổng hội Việt kiềucứu quốc toàn Thái - Lào đã tiến hành liên hệ với các tổ chức “Lào Ítxalạ” và

“Lào pên Lào” để bàn việc phối 1 Một số tài liệu viết là Đội tiền vệ(Conlảvăngnạ) 11 hợp hoạt động, thu hút và tổ chức huấn luyện chính trị, quân sựcho thanh niên Lào - Việt Giữa lúc cao trào kháng Nhật của nhân dân Việt Nam

và nhân dân Lào đang phát triển vô cùng mạnh mẽ thì vào ngày 15 tháng 8 năm

1945, Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh Lực lượng quân đội Nhật ởĐông Dương mất tinh thần, hoang mang, rệu rã, các chính quyền tay sai của Nhật

ở Việt Nam và ở Lào hoàn toàn bị tê liệt Trong thời điểm lịch sử đó, Đảng Cộngsản Đông Dương quyết định chớp thời cơ, phát động Tổng khởi nghĩa giành chínhquyền vào đêm 13 tháng 8 năm 1945 Ở Việt Nam, cuộc Tổng khởi nghĩa diễn rasôi động và kết thúc thắng lợi hoàn toàn trong vòng 15 ngày Ngày 2 tháng 9 năm

Trang 6

1945, Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra mắt quốc dân Chủ tịch

Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập trịnh trọng tuyên bố với nhân dân cảnước và thế giới khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Thắng lợi của cáchmạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam đã đập tan bộ máy thống trị đầu não củaquân phiệt Nhật và thực dân Pháp ở Đông Dương, tạo điều kiện thuận lợi chocuộc khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân Lào Ở Lào, tình hình diễn biếnrất phức tạp, trong chính giới Lào cũng còn nhiều khuynh hướng khác nhau vềcon đường giành độc lập cho đất nước Lào Trong hoàn cảnh đó, Xứ uỷ Ai Laonhanh chóng lập Ban Chỉ đạo khởi nghĩa Viêng Chăn và đề ra chủ trương vũ trangcho Việt kiều để có đủ sức mạnh đối phó với địch, rồi cùng toàn thể nhân dân Làovùng dậy giành chính quyền từ tay quân phiệt Nhật và đánh đuổi quân Pháp nếuchúng trở lại Ban Chỉ đạo tiến hành tuyên truyền chính giới Lào, vận động đểHoàng thân Phếtxarạt cho phép Việt kiều hoạt động, tiếp xúc với Uỷ ban Lào pênLào ở Viêng Chăn để thống nhất hành động Ban Chỉ đạo và chi bộ Đảng ở ViêngChăn còn cử người vào lãnh đạo thắng lợi cuộc đấu tranh của hơn 500 công nhânxưởng dệt Kappha đòi Nhật giao nhà máy cho Lào và trả nợ lương cho công nhân.Trước những hoạt động của Ban Chỉ đạo khởi nghĩa, các chính giới Lào nhận rõthật tâm đoàn kết của Việt kiều đối với Lào Uỷ ban Lào pên Lào và tỉnh trưởngViêng Chăn là Khăm Mạo rất tích cực phối hợp với Ban Chỉ đạo khởi nghĩa Ngày

23 tháng 8 năm 1945, một cuộc mít tinh lớn diễn ra tại khu vực chợ Mới (ViêngChăn) có đông đảo nhân dân Lào và Việt kiều tham gia Ông Khăm Mạo thay mặtChính phủ Vương quốc và Uỷ ban Lào pên Lào Viêng Chăn kêu 12 gọi Việt kiềuđoàn kết với nhân dân Lào, giúp đỡ Chính phủ Lào, cùng nhau chống Pháp, giànhđộc lập dân tộc cho hai nước Cuộc mít tinh ngày 23 tháng 8 năm 1945 đánh dấucuộc khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Lào Nhận rõ tầm quan trọng củamối quan hệ đoàn kết giữa hai dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử đại diện củaChính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà sang thiết lập quan hệ với Chính phủ Lào.Chủ tịch Hồ Chí Minh mời Hoàng thân Xuphanuvông đang ở Vinh ra Hà Nội vàtiếp Hoàng thân vào ngày 4 tháng 9 năm 1945 Cuộc gặp gỡ đã có tác động mạnh

mẽ, quyết định đối với Hoàng thân trong việc chọn lựa con đường làm cách mạng.Ngày 3 tháng 10 năm 1945, tại cuộc mít tinh của hàng vạn nhân dân tỉnhSavẳnnàkhẹt đón chào Hoàng thân Xuphanuvông trở về tham gia chính phủ Lào,Hoàng thân tuyên bố: “Quan hệ Lào - Việt từ nay sẽ mở ra một kỷ nguyên mới ”

Trang 7

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân Xuphanuvông.

* Ý nghĩa của việc thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào, Lào – Việt Nam.

- Đây là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tầm vóc lịch sử to lớn trongquan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào – Việt Nam

- Góp phần tạo nên sự hiểu biết lẫn nhau, thúc đẩy mối quan hệ hợp tác thân thiệngiữa hai dân tộc anh em tiến lên một tầm cao mới Nhờ đó, đã giải quyết đượcnhững khó khăn, thử thách mới với nhiều diễn biến phức tạp do sự can thiệp ngàycàng sâu của Mỹ vào các nước Đông Dương

- Khẳng định đường lối nhất quán, đúng đắn trong mối quan hệ chiến lược của haiĐảng và nhân dân hai nước; đảm bảo sự thống nhất về đường lối chính trị, quân

sự, để hai dân tộc tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

do Đảng Cộng sản Đông Dương đề ra

- Là cơ sở vững chắc để quân dân hai nước tiếp tục sát cánh bên nhau chiến đấu

và giành nhiều thắng lợi mới trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và taysai, giành độc lập tự do cho mỗi nước

Câu 2 Phát triển liên minh chiến đấu, đánh thắng các chiến lược chiến tranh của Đế quốc Mỹ, giành thắng lợi hoàn toàn (1963-1975).

Được sự giúp đỡ của Ban Chỉ đạo khởi nghĩa ở Viêng Chăn, sau một thờigian hiệp thương, hai tổ chức yêu nước là Hội “Lào pên Lào” và tổ chức “LàoÍtxalạ” đã hợp nhất thành lập Uỷ ban khởi sự (Khanạ Phu co kan), gấp rút tiếnhành thành lập Chính phủ Trung ương và dự thảo Hiến pháp tạm thời Sáng ngày

12 tháng 10 năm 1945, trong cuộc mít tinh lớn tại sân vận động thành phố ViêngChăn, Chính phủ Lào Ítxalạ vừa được thành lập đã làm lễ ra mắt và trịnh trọngtuyên bố trước toàn thể nhân dân nền độc lập của quốc gia Lào Chính phủ Làochủ trương: “Nhân dân Lào thân thiện với nhân dân Việt Nam và quyết tâm cùng

Trang 8

nhân dân Việt Nam đánh đuổi bọn thực dân Pháp ra khỏi Đông Dương”1 Thủtướng Khăm Mạo tuyên bố với Việt kiều: “mong rằng ba nước Việt, Miên, Làobắt tay nhau để kiến thiết quốc gia”2 Thời gian từ năm 1930 đến năm 1945 làthời kỳ nhân dân hai nước Việt Nam và Lào nương tựa lẫn nhau trong quá trìnhđấu tranh giành độc lập, tự do dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương.Trong tiến trình lịch sử đó, bộ phận nhân sĩ, trí thức tiến bộ và các tầng lớp nhândân Lào có vài trò quyết định quá trình phát triển của phong trào cách mạng Làocũng như trong việc duy trì và phát triển mối quan hệ giữa hai dân tộc Việt Nam -Lào Người Việt ở Lào là một lực lượng tích cực trong phong trào cách mạngLàovà là nhân tố quan trọng xây đắp mối quan hệ đặc biệt giữa hai dân tộc

Sau Hiệp định Giơnevơ 1962 về Lào, ngày 5 tháng 9 năm 1962, Chính phủ nướcViệt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ Vương quốc Lào chính thức thiết lậpquan hệ ngoại giao Đại sứ Việt Nam Lê Văn Hiến và Đại sứ Lào Thạo Pheng lànhững sứ giả đầu tiên của hai nước Việc hai nước chính thức thiết lập quan hệngoại giao đánh dấu bước phát triển mới của quan hệ đặc biệt giữa hai dân tộcViệt Nam và Lào Đầu năm 1963 vua Lào Xỉxávàng Vắthana dẫn đầu đoàn đạibiểu Hoàng gia Lào thăm Việt Nam Trong buổi chiêu đãi vua Lào, Chủ tịch HồChí Minh khẳng định: “Hai dân tộc Việt và Lào sống bên nhau trên cùng một dảiđất, cùng có chung một dãy núi Trường Sơn Hai dân tộc chúng ta đã nương tựavào nhau, giúp đỡ lẫn nhau như anh em…Ngày nay chúng ta lại đang giúp đỡnhau để xây dựng một cuộc sống mới Tình nghĩa láng giềng anh em Việt - Làothật là thắm thiết không bao giờ phai nhạt được”1 “Thật là: Thương nhau mấynúi cũng trèo Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua Việt – Lào, hai nước chúng

ta Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”2 Mặc dù Hiệp định Giơnevơ 1962 vềLào được ký kết, đế quốc Mỹ vẫn không từ bỏ âm mưu xâm lược Lào, tăng cườngviện trợ, giúp chính quyền Viêng Chăn tiến công lấn chiếm vùng giải phóng, đồngthời ra sức phá hoại Chính phủ liên hiệp, cô lập và vu cáo Neo Lào Hắc Xạt.Trước tình hình có chiều hướng phức tạp, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ươngĐảng Nhân dân Lào (15/2/1963) đề ra nhiệm vụ: đấu tranh bảo vệ Chính phủ liênhiệp, bảo vệ hòa bình và ra sức củng cố, phát triển lực lượng cách mạng về mọimặt Từ ngày 18 đến ngày 24 tháng 4 năm 1963, Trung ương Đảng Lao độngViệt Nam và Trung ương Đảng Nhân dân Lào hội đàm để thống nhất các hoạtđộng phối hợp và giúp đỡ nhau có hiệu quả hơn Đặc biệt, tại cuộc hội đàm(7/1963) bàn về phương hướng phát triển của cách mạng Lào, hai Đảng thốngnhất nhiệm vụ đẩy mạnh xây dựng lực lượng cả về quân sự và chính trị, chuẩn bịcho cuộc chiến đấu lâu dài Trung ương Đảng Nhân dân Lào đề nghị Việt Namtăng cường lực lượng chuyên gia giúp Lào toàn diện, từ chủ trương, chính sáchđến tổ chức thực hiện; trong đó, về quân sự, giúp Lào thực hiện hai nhiệm vụ cơbản là xây dựng chính trị, tư tưởng, tổ chức Đảng trong quân đội và củng cố, pháttriển phong trào chiến tranh du kích Thực hiện chủ trương trên, từ cuối năm 1963,đầu năm 1964, Việt Nam cử hơn 2.000 chuyên gia quân sự sang làm nhiệm vụquốc tế ở Lào Tiếp đó, từ giữa năm 1964, thành lập hệ thống chuyên gia quân sựViệt Nam từ trên cơ quan Tổng tư lệnh Lào xuống đến Bộ tư lệnh các quân khu,

Trang 9

tỉnh đội và cấp tiểu đoàn, có nhiệm vụ phối hợp với bạn để nghiên cứu kế hoạchtác chiến, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng và củng cố các vùng căn cứ ởLào Đồng thời, các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với bộ đội PathếtLào mở nhiều chiến dịch, chủ yếu ở khu vực đường 9 – Trung Lào, Cánh đồngChum – Xiêng Khoảng, đập tan các cuộc tấn công lấn chiếm của địch, bảo vệvững chắc vùng giải phóng Lào, tạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân Việt Namvận chuyển trên đường Tây Trường Sơn để chi viện cho chiến trường miền NamViệt Nam và cách mạng hai nước Lào, Campuchia Những hoạt động phối hợpgiữa quân và dân hai nước Việt Nam – Lào trong xây dựng lực lượng và chiến đấunói trên đã tạo sự chuyển biến rất có lợi về quân sự, chính trị cho lực lượng cáchmạng Lào, góp phần bảo vệ và phát triển tuyến đường Tây Trường Sơn Từ giữanăm 1965, do bị thất bại nặng nề trong âm mưu lấn chiếm vùng giải phóng vàkhông thực hiện được ý đồ phá hoại, chia rẽ giữa các lực lượng cách mạng và yêunước Lào, đế quốc Mỹ thực hiện bước leo thang chiến tranh mới, đưa lực lượngkhông quân Mỹ vào tham chiến ở Lào, đẩy chiến tranh đặc biệt ở Lào phát triểnđến cao độ; đồng thời tiến hành chiến lược “chiến tranh 26 cục bộ” ở miền NamViệt Nam, mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân ra miền BắcViệt Nam Trước những động thái mới của địch, Hội nghị Ban Chấp hành Trungương Đảng Nhân dân Lào (5/1965) nêu cao quyết tâm đánh bại chiến tranh đặcbiệt của đế quốc Mỹ ở Lào và đề ra nhiệm vụ: Đẩy mạnh đấu tranh quân sự, pháttriển chiến tranh nhân dân; tăng cường xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân;củng cố và mở rộng vùng giải phóng thành quy mô của một quốc gia Do yêu cầutăng cường đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ xâm lược, ngày

22 tháng 6 năm 1965, Đảng Lao động Việt Nam hội đàm với Đảng Nhân dân Làothống nhất các nội dung phối hợp và giúp đỡ lẫn nhau, trong đó tập trung giúpLào xây dựng vùng giải phóng về mọi mặt với quy mô một quốc gia, xây dựng lựclượng vũ trang Tiếp đó, ngày 3 tháng 7 năm 1965, Bộ Chính trị Đảng Lao độngViệt Nam ra Nghị quyết khẳng định: “Việt Nam cần phải nỗ lực đáp ứng đến mứccao nhất mọi yêu cầu đối với công cuộc phát triển cách mạng của Lào”1 Thựchiện chủ trương giúp đỡ lẫn nhau đã được hai Đảng thống nhất, Việt Nam cử một

số đơn vị quân tình nguyện và các đoàn chuyên gia quân sự, chính trị, kinh tế, vàvăn hóa sang làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào với số lượng ngày càng lớn theo yêucầu của cách mạng Lào Đến năm 1967, số cán bộ, công nhân Việt Nam tham giaxây dựng các lĩnh vực kinh tế, văn hóa ở Lào lên tới 15.000 người; riêng chuyêngia về quân sự lên tới 8.500 người Nêu cao tinh thần đồng cam cộng khổ, các lựclượng Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế đã kề vai sát cánh cùng quân và dân Lào rasức xây dựng vùng giải phóng Lào về mọi mặt; xây dựng và nâng cao sức mạnhchiến đấu của lực lượng vũ trang cách mạng Lào; đánh địch lấn chiếm, giữ vững

và mở rộng các khu căn cứ; bảo vệ vững chắc tuyến vận tải chiến lược tây TrườngSơn Đặc biệt, đầu năm 1968, bộ đội tình nguyện Việt Nam phối hợp với quângiải phóng Lào mở chiến dịch tiến công Nặm Bạc thắng lợi, giải phóng hoàn toànkhu vực Nặm Bạc – Khăm Đeng với trên một vạn dân, nối liền vùng giải phóngThượng Lào thành khu vực liên hoàn, tạo thế vững chắc cho hậu phương cách

Trang 10

mạng Lào và hỗ trợ thiết thực cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam vàCampuchia 1 Nghị quyết Bộ Chính trị về công tác Lào.Những thắng lợi trên thểhiện nấc thang phát triển mới của lực lượng cách mạng Lào, đồng thời khẳng địnhsức mạnh to lớn của quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa quân và dân hai nước, củng

cố sự gắn bó mật thiết giữa hai Đảng và hai dân tộc Việt Nam – Lào, trong đó thểhiện tình cảm chân thành nhất mực, sắt son của Việt Nam đối với sự nghiệp cáchmạng Lào, như đồng chí Cay xỏn Phômvihản phát biểu trong cuộc hội đàm giữaĐảng Nhân dân Lào và Đảng Lao động Việt Nam (12/1968) đã nhấn mạnh: “Sựgiúp đỡ của Việt Nam cho cách mạng Lào hết sức tận tình và vô tư Việt Nam đãgiúp Lào cả vật chất và xương máu Xương máu của nhân dân Việt Nam đãnhuộm đỏ khắp nơi trên đất nước Lào vì nền độc lập của Lào… Sự giúp đỡ củaViệt Nam đối với Lào đã xây dựng nên mối quan hệ đặc biệt, thực tế đó cũng là sựvận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản”1 Mặc

dù bị thất bại, từ năm 1969, đế quốc Mỹ vẫn tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh, đưachiến tranh đặc biệt ở Lào lên đến đỉnh cao với sự tham gia ngày càng nhiều củalực lượng không quân Mỹ và quân đội các nước tay sai, chư hầu của Mỹ, đồngthời tiến hành “Việt Nam hóa chiến tranh” và mở rộng chiến tranh sangCampuchia Những âm mưu, thủ đoạn và hành động chiến tranh mới của đế quốc

Mỹ đã gây nhiều khó khăn, phức tạp cho cách mạng ba nước Đông Dương Trước

âm mưu và thủ đoạn chiến tranh mới của đế quốc Mỹ, Trung ương Đảng Laođộng Việt Nam và Trung ương Đảng Nhân dân Lào đã ra chỉ thị khẳng định tăngcường đoàn kết giữa nhân dân hai nước, quyết tâm đánh bại đế quốc Mỹ và bè lũtay sai trong bất cứ tình huống nào Ngày 18 tháng 7 năm 1969, Quân ủy Trungương Việt Nam hội đàm với Quân ủy Trung ương Lào thống nhất các nội dungphối hợp và giúp đỡ nhau trên lĩnh vực quân sự, đồng thời xác định nhiệm vụ cáchmạng Lào tập trung vào việc xây dựng, tăng cường lực lượng về mọi mặt; nângcao chất lượng ba thứ quân; đẩy mạnh đấu tranh ở cả hai vùng nông thôn và thànhthị, trên cả ba mặt quân sự, chính trị, ngoại giao; củng cố vững chắc các địa bànđứng chân, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng; chú trọng sản xuất, bồi dưỡngsức dân… Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng Nhân dân Lào (25/6/1970)xác định nhiệm vụ cách mạng Lào trong hai năm tiếp theo là: Nêu cao tinh thần tựlực cánh sinh, phát huy thế chủ động tiến công địch về mọi mặt; ra sức củng cốvùng giải phóng; xây dựng ,phát triển lực lượng cách mạng về mọi mặt Hội nghịnhấn mạnh cần phải tăng cường đoàn kết hơn nữa với nhân dân Việt Nam và nhândân Campuchia anh em trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹxâm lược Thực hiện chủ trương trên, từ năm 1969, hai nước Việt Nam và Làocàng tích cực đẩy mạnh các hoạt động phối hợp và giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt

Về quân sự, Quân ủy Trung ương Việt Nam quyết định tăng cường cán bộ cho cácđoàn chuyên gia quân sự từ Trung ương đến các tỉnh theo yêu cầu của Lào Cáclực lượng chuyên gia và quân tình nguyện Việt Nam trên chiến trường Lào đã đẩymạnh nhiều hoạt động, vừa chú trọng giúp bạn xây dựng, nâng cao khả năng, trình

độ chiến đấu của bộ đội Lào, vừa cùng quân giải phóng Lào chiến đấu, đánh bạinhiều cuộc tiến công lấn chiếm của địch, quan trọng nhất là đập tan các chiến dịch

Trang 11

Cù Kiệt (10/1969 – 4/1970), chiến dịch Đường 9 – Nam Lào (3/1971), giữ vững

và mở rộng vùng giải phóng, trong đó có vùng chiến lược Cánh đồng Chum –Xiêng Khoảng, bảo vệ vững chắc và thông suốt tuyến vận tải chiến lược TâyTrường Sơn Về chính trị, ngoại giao, Việt Nam tích cực ủng hộ giải pháp nămđiểm của Neo Lào Hắc Xạt (3/1970) để giải quyết vấn đề Lào trên cơ sở Hiệpđịnh Giơnevơ 1962; phối hợp chặt chẽ với Lào tích cực đóng góp cho thành côngcủa Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương (4/1970) và việc thành lập Mặt trậnthống nhất chống Mỹ, góp phần tăng cường liên minh chiến đấu của nhân dân banước Việt Nam - Lào - Campuchia, đồng thời tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộmạnh mẽ của nhân dân tiến bộ trên thế giới, làm cho nội bộ địch, kể cả giới cầmquyền Mỹ bị chia rẽ sâu sắc Về lĩnh vực xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá, các

bộ, ngành của Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định hợp tác, giúp đỡ với các bộ,ngành của Lào, như: lâm nghiệp, công nghiệp nhẹ, thủ công và địa chất (2/1972);giao thông vận tải (4/1972); thuỷ lợi (5/1972), nhằm nâng cao tốc độ phát triểnkinh tế trong vùng giải phóng Lào Với sự nỗ lực vượt bậc của bản thân và cùngvới sự đoàn kết, giúp đỡ vô tư, trong sáng của Việt Nam, đến cuối năm 1972, cáchmạng Lào đã giành được nhiều thắng lợi quan trọng Lực lượng vũ trang cáchmạng Lào với hơn 3 vạn quân tập trung cùng hơn 5 vạn dân quân du kích trênkhắp mọi miền của đất nước không ngừng trưởng thành, đủ sức hoàn thành nhiệm

vụ chiến đấu trong những trận đọ sức quyết định Vùng giải phóng Lào được mởrộng, củng cố, đã 29 nối liền từ Bắc đến Nam và từng bước xây dựng theo quy mômột quốc gia, có nền tài chính riêng, có một số xí nghiệp công nghiệp nhỏ, thươngnghiệp quốc doanh, nhiều tỉnh đã bước đầu tự túc được lương thực Nhân dâncác bộ tộc Lào trong vùng giải phóng từ địa vị nô lệ trở thành người làm chủ đấtnước, tích cực tham gia xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, xây dựng cuộc đờimới của mình Đặc biệt, Đảng Nhân dân Lào tổ chức thành công Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ hai: quyết định đổi tên Đảng thành Đảng Nhân dân cách mạngLào và suy tôn đồng chí Hồ Chí Minh là lãnh tụ của Đảng; thông qua Nghị quyết:

“Tăng cường đoàn kết Lào – Việt”, trong đó khẳng định tình đoàn kết Lào – Việttrên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tinh thần quốc tế vô sản là mối quan hệ đặcbiệt Đại hội đánh dấu sự trưởng thành về chính trị và tổ chức của Đảng Nhân dâncách mạng Lào – nhân tố trọng yếu, có ý nghĩa quyết định thúc đẩy quan hệ đặcbiệt, liên minh chiến đấu Lào – Việt Nam lên bước phát triển mới Những chiếnthắng to lớn về nhiều mặt nói trên đã trực tiếp góp phần quan trọng buộc chínhphủ Viêng Chăn phải ký kết Hiệp định “lập lại hoà bình và thực hiện hòa hợp dântộc ở Lào” (21/2/1973), tạo điều kiện và thời cơ rất thuận lợi để thúc đẩy cáchmạng Lào tiến lên, đồng thời mở ra cơ hội mới cho liên minh chiến đấu Việt Nam– Lào đẩy mạnh đấu tranh giành thắng lợi hoàn toàn Tuy phải chấp nhận chochính quyền tay sai Viêng Chăn ký kết Hiệp định về chấm dứt chiến tranh và lậplại hòa bình ở Lào (2/1973), nhưng đế quốc Mỹ vẫn tiếp tục câu kết và sử dụnglực lượng phản động Lào để phá hoại việc thi hành Hiệp định Viêng Chăn, gây lạitình hình căng thẳng ở Lào và chống phá cách mạng Đông Dương Trước tìnhhình trên, Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào chủ trương: giương cao

Trang 12

ngọn cờ hòa bình, độc lập, hòa hợp dân tộc để tập hợp lực lượng đấu tranh đòi đốiphương thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định; nâng cao cảnh giác, quyết tâm đánh bạimọi âm mưu của kẻ thù; tăng cường lực lượng về mọi mặt, tạo điều kiện đi đếnxây dựng một nước Lào độc lập, dân chủ, trung lập, thống nhất và thịnh vượng.

Để xây dựng và củng cố vùng giải phóng ngày một vững mạnh làm hậu thuẫn chophong trào đấu tranh, Trung ương Đảng Nhân dân Lào đề nghị Việt Nam tiếp tục

cử chuyên gia giúp Lào, nhất là về các ngành hành chính sự nghiệp, kinh tế, vănhóa… Đáp ứng yêu cầu của cách mạng Lào trong tình hình mới, Hội nghị BanChấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (7/1973) chủ trương phối hợp

30 và hỗ trợ Lào phát huy thắng lợi đã đạt được, củng cố và đẩy mạnh các hoạtđộng buộc đế quốc Mỹ phải thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định Viêng Chăn.Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã chỉ thị cho các đơn vị quân tình nguyện

và đội ngũ chuyên gia làm nghĩa vụ quốc tế ở Lào tăng cường lực lượng, bảo đảmthực hiện tốt các nhiệm vụ do cách mạng Lào đặt ra Tại cuộc hội đàm giữa haiđoàn đại biểu cấp cao Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạngLào (12/1973), hai bên đã thống nhất xác định nhiệm vụ quan trọng nhất trongtình hình hiện tại để đưa cách mạng Lào tiến lên là: củng cố, xây dựng vùng giảiphóng; nắm chắc lực lượng vũ trang, đi đôi với việc sử dụng Chính phủ liên hiệp;đẩy mạnh đấu tranh chính trị trong hai thành phố trung lập và trong vùng đốiphương quản lý Để nâng cao hiệu quả quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữacách mạng hai nước, hai Đảng đã nhất trí phương hướng hợp tác cần tập trung vàonhững vấn đề cơ bản nhất, những khâu then chốt nhất, tạo điều kiện cho Làonhanh chóng đảm đương được công việc một cách độc lập, tự chủ Riêng về quân

sự, hai Đảng thống nhất cần phải bố trí lại lực lượng phù hợp tình hình mới: Đưacác đơn vị quân tình nguyện Việt Nam đứng chân ở tuyến sau, giúp bảo vệ, giữvững vùng giải phóng, đề phòng địch bất ngờ tiến công lấn chiếm; đưa bộ đội giảiphóng Lào lên phía trước, trực tiếp tiếp xúc với địch, gây áp lực, làm chỗ dựa choquần chúng đấu tranh và sẵn sàng tiến công địch khi cần thiết Thực hiện chủtrương trên, Việt Nam từng bước rút chuyên gia ở tỉnh và huyện về nước (trướctháng 5/1974), đồng thời điều chỉnh các lực lượng chuyên gia và quân tình nguyệncòn lại để phối hợp và giúp Lào thực hiện nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạngmới Về quân sự, Việt Nam cử các đội công tác và chuyên gia phối hợp với cán bộLào xây dựng cơ sở, củng cố các đội du kích, tổ chức huấn luyện quân sự; thamgia công tác tổng kết, tổng hợp tình hình, theo dõi, giúp đỡ các cụm chủ lực Lào;quân tình nguyện Việt Nam phối hợp chặt chẽ với bộ đội Lào đập tan nhiều cuộchành quân lấn chiếm của địch ở Luổng Phạbang, tây Mương Xủi - Xala PhuKhun, đông và nam Thà Khẹc, nam Đường số 9, nam Pạc Xê, bảo vệ vững chắcvùng giải phóng và hỗ trợ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của nhân dân ở vùngđịch kiểm soát Về kinh tế, văn hóa, các chuyên gia Việt Nam đã phối hợp tíchcực, cùng với cán bộ và nhân dân Lào đẩy mạnh sản xuất, xây dựng kinh tế, vănhóa, giáo 31 dục trong vùng giải phóng, góp phần giải quyết những yêu cầu cấpbách về đời sống của nhân dân và chuẩn bị các mặt cho việc phát triển kinh tế củavùng giải phóng trong những năm tiếp theo Về đối ngoại, từ cuối năm 1973, Việt

Trang 13

Nam đã tổ chức các đoàn đại biểu đại diện của Đảng Lao động và Nhà nước sangthăm hữu nghị chính thức vùng giải phóng Lào, như: chuyến thăm của Đoàn đạibiểu Đảng và Chính phủ do đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban chấp hànhTrung ương, từ ngày 2 đến ngày 6 tháng 11 năm 1973; chuyến thăm của Đoàn đạibiểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam và Chính phủ cách mạng lâm thờimiền Nam Việt Nam do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ dẫn đầu (1/1974); chuyến thămcủa Đoàn đại biểu phụ nữ giải phóng miền Nam do bà Nguyễn Thị Định dẫn đầu(4/1974)…Việt Nam cũng phối hợp và giúp Lào đón nhiều đoàn đại biểu của cácnước đến thăm vùng giải phóng Lào, như: Đoàn đại biểu Quốc hội Thụy Điển,Đoàn đại biểu kinh tế Cu-ba (1/1974); Đoàn đại biểu Đảng Công nhân xã hộithống nhất Hung-ga-ry, Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Bun-ga-ry (2/1974); Đoànđại biểu Đảng và Chính phủ Cu-ba (2/1974)… Sự phối hợp chặt chẽ và giúp đỡhiệu quả giữa Việt Nam và Lào nói trên, đã làm cho thế và lực của cách mạng Làolớn mạnh vượt bậc, tạo điều kiện thúc đẩy phong trào đấu tranh của quần chúngngày càng lan rộng và sôi nổi, nhất là ở Thủ đô Viêng Chăn Chính phủ liên hiệpLào buộc phải chấp nhận Cương lĩnh chính trị 18 điểm và Chương trình hànhđộng 10 điểm do Mặt trận Lào yêu nước đưa ra (12/1974) Sự phát triển của cáchmạng Lào đã hỗ trợ tích cực cho nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchiagiành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.Trước thắng lợi dồn dập, to lớn của nhân dân Việt Nam, Campuchia trong tháng 4năm 1975, nhất là chiến thắng giải phóng hoàn toàn miền Nam (30/4/1975) củanhân dân Việt Nam, ngày 5 tháng 5 năm 1975, Bộ Chính trị Đảng nhân dân cáchmạng Lào tổ chức Hội nghị mở rộng, quyết định phát động toàn Đảng, toàn dân,toàn quân trong cả nước nổi dậy đoạt lấy chính quyền và giành thắng lợi hoàntoàn Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ra đời (12/1975) là thắng lợi to lớn,triệt để của nhân dân các bộ tộc Lào, đồng thời cũng là thắng lợi quan trọng củamối quan hệ đặc biệt, liên minh đoàn kết chiến đấu, thủy chung, son sắt giữa haidân tộc Việt Nam và Lào Với đặc điểm “Đông Dương là một chiến trường”, cuộckháng chiến chống kẻ thù chung của nhân dân hai nước Việt Nam và Lào, từ năm

1945 đến năm 1975, nhất thiết phải liên kết, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau, vừa là thựchiện nghĩa vụ quốc tế cao cả, vừa vì lợp ích của mối quốc gia, như lãnh tụ Hồ ChíMinh khẳng định: “Giúp bạn là mình tự giúp mình” Hiệu quả của Liên minhchiến đấu là sự lớn mạnh không ngừng của lực lượng cách mạng ở Việt Nam và ởLào, là sự trưởng thành vượt bậc của lực lượng lãnh đạo ở mỗi nước mà sự pháttriển Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam (2/1951) vàĐảng Nhân dân cách mạng Lào (4/1955) là những minh chứng sinh động nhất.Hiệu quả của Liên minh chiến đấu còn là sự hình thành trên thực tế một khối đoànkết thống nhất, một lực lượng chiến đấu chung của ba nước Việt Nam –Campuchia – Lào dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tôn trọng chủ quyềncủa nhau, tạo nên sức mạnh vô địch đánh bại những đế quốc xâm lược hung hãn,góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì độc lập, tự do, hòa bình vàtiến bộ xã hội Qua quá trình liên minh chiến đấu, hai dân tộc Việt Nam – Làocàng thêm tin tưởng, gắn bó khăng khít, tình cảm giành cho nhau thêm sâu sắc,

Trang 14

đậm đà Đó chính là nền móng vững chắc để tăng cường, phát triển quan hệ hữunghị, đoàn kết đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam trong thời kỳ lịch sửmới.

Câu 3 Vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản, Chủ tịch Xuphanuvông và các nhà lãnh đạo cấp cao của hai Đảng, hai Nhà nước trong quá trình xây dựng và phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào- Việt Nam

*Chủ tịch Hồ Chí Minh người đặt nền móng cho quan hệ Việt - Lào

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân Souphanouvong,

tại Việt Bắc, năm 1951

Từ ngày Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời đảm nhận sứ mệnh lịch sử lãnhđạo cách mạng ba nước (Campuchia – Lào – Việt Nam), mối quan hệ Lào – Việt

có sự biến đổi về chất, trở thành mỗi quan hệ tự giác, kiểu mới, mang bản chấtchủ nghĩa quốc tế vô sản

Trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâmlược, quan hệ đoàn kết, liên minh chiến đấu Lào – Việt được củng cố và nâng caothành một quy luật tồn tại, phát triển, một nhân tố cơ bản bảo đảm thắng lợi củacách mạng mỗi nước và cả hai nước

Xác định tính chất, nội dung để đặt tên cho mối quan hệ này, cố Chủ tịch

Kaysone Phomvihane thường nói: "Tôi còn nhớ như in buổi làm việc thân tình trong căn nhà của Bác Khi thảo luận về mối quan hệ hai Đảng và hai Nhà nước

và giữa nhân dân hai nước, Bác Hồ và chúng tôi đều thấy rằng, ngoài mối quan

hệ giữa hai Đảng cùng chung lý tưởng cộng sản, giữa hai nước XHCN láng giềng, mối quan hệ giữa hai Đảng và nhân dân hai nước chúng ta còn có sự gắn

bó thân thiết không giống bất cứ nước nào Bác Hồ gõ tay lên trán rồi nói:

"Chúng ta phải gọi là quan hệ đặc biệt".

Trang 15

"Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới Ai làm cách mạng thế giới đều là đồng chí của Cách mạng Việt Nam Đã là đồng chí thì sung sướng và gian khổ phải có nhau " Đó là nhận thức đầu tiên, là tiền đề xây dựng

khối đoàn kết giữa các dân tộc bị áp bức, bị xâm lược nói chung trong đó có tìnhđoàn kết của nhân dân ba nước Đông Dương, tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt

– Lào Năm 1925 ngay tại Pháp, Hồ Chí Minh đã viết: "Ở Luang Prabang nhiều phụ nữ nghèo khổ thân thương phải mang xiềng đi quét đường chỉ vì một tội không đủ nộp thuế." Đây là văn bản đầu tiên thể hiện sự quan tâm của Chủ tịch Hồ

Chí Minh đối với nhân dân Lào

Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, ngay những ngày đầu tháng 9 năm

1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời Hoàng thân Souphanouvong đến Hà Nội đểgặp gỡ, trao đổi những vấn đề liên quan đến hai nước và khu vực Như vậy muốncứu nước, không có con đường nào khác là phải làm cách mạng vô sản Khi đãxác định đường đi cho dân tộc mình thì đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cũngnhận ra rằng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc mình cần phải có những ngườibạn đồng minh Trước hết đó là hai dân tộc láng giềng Miên và Lào

Vì lẽ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp, xây dựng cho mối quan

hệ này trở nên ngày càng trong sáng, thủy chung, mẫu mực cho đến khi người ra

đi và ngay trước lúc ra đi còn mong muốn khi Cách mạng thành công sẽ đi thămcác nước để cảm ơn bè bạn khắp năm châu

*Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản là một trong những người đặt nền móng cho mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam.

Cayxỏn Phômvihản - nhà hoạt động cách mạng, Tổng bí thư, Chủ tịch Ban Chấphành trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng vàChủ tịch nước nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Ông sinh ngày 13-12-1920, tại bản Naxeng, huyện Khămthạbuni, tỉnhXavẳnnakhệt, Lào Năm 1935, Cayxỏn Phômvihản, với tên gọi Nguyễn Trí Mưu,rời quê hương Lào đi Hà Nội, Việt Nam để dự thi vào Trường Bưởi (nay làTrường phổ thông trung học Chu Văn An, Hà Nội) Trong những ngày học tạiTrường Bưởi, ông đã giác ngộ cách mạng theo đường lối của Đảng Cộng sảnĐông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ông học đại học luật khoa ở Hà Nội, đã từng tham gia phong trào học sinh, sinhviên chống thực dân Pháp và phát xít Nhật ở Việt Nam Mùa thu 1945, tham giakhởi nghĩa giành chính quyền ở Xavanakhet, sau đó trực tiếp xây dựng khu dukích Hủaphăn, thành lập đội vũ trang Latxavông đầu tiên Năm 1946, ông làmviệc tại Ban liên lạc Lào - Việt Nam ở Hà Nội và phụ trách những người yêu nướcLào ở Việt Nam chống Pháp Năm 1948, ông trở về nước, lãnh đạo phong tràokháng chiến chống Pháp ở vùng Đông Bắc Lào Gia nhập Đảng Cộng sản ĐôngDương từ 1949 và cũng vào năm đó chủ trì lễ thành lập Quân đội Itxala (Quân độinhân dân Lào), đơn vị Latxavông được vinh dự làm hạt nhân cho việc thành lậpQuân đội Lào Itxala, ông được cử làm Tư lệnh Tháng 8-1950, Chính phủ khángchiến Lào Itxala do Hoàng thân Xuphanuvông làm Chủ tịch được thành lập,

Trang 16

Cayxỏn Phômvihản được cử làm Phó chủ tịch, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Tháng2-1951, ông dẫn đầu Đoàn đại biểu Lào tham dự Đại hội II Đảng Cộng sản ĐôngDương Ngày 22-3-1955, tại tỉnh Hủaphăn, ông đã chủ trì Đại hội thành lập ĐảngNhân dân Lào (22-3 – 6-4-1955) theo Nghị quyết Đại hội II Đảng Cộng sản ĐôngDương Cùng với các nhà lãnh đạo cách mạng Lào ông đã tổ chức ra Đảng Nhândân Lào (Phắc Paxaxôn Lào) trên cơ sở Đảng bộ Lào thuộc Đảng Cộng sản ĐôngDương Cayxỏn Phômvihản được bầu làm Bí thư thứ nhất của Ban lãnh đạo Đảng,

Bí thư Quân ủy trung ương, đồng thời là Tư lệnh tối cao

Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương, ông chỉ đạo cuộc đấu tranhbảo vệ hai tỉnh tập kết Sầm Nưa và Phongxalì Năm 1956, thực hiện đường lối hòahợp dân tộc, đoàn kết các bộ tộc và các tầng lớp nhân dân, Đảng Nhân dân Lào đãthành lập Mặt trận Lào yêu nước (Neo Lào Hăcsạt) Cayxỏn Phômvihản được bầugiữ chức Phó Chủ tịch Mặt trận Lào yêu nước Đế quốc Mỹ đẩy mạnh chiến tranhhòng tiêu diệt cách mạng Lào Đảng Nhân dân Lào đã củng cố và phát triển lựclượng vũ trang, lần lượt đánh bại mọi âm mưu của đế quốc Mỹ và tay sai

Tháng 2-1972, Đảng Nhân dân Lào triệu tập Đại hội lần thứ hai, đổi tên là ĐảngNhân dân cách mạng Lào, Cayxỏn Phômvihản được bầu làm Tổng bí thư BanChấp hành Trung ương Ông còn tiếp tục làm Tổng Bí thư Ban chấp hành Trungương Đảng các khoá III và IV (1982, và 1986) và đến Đại hội Đảng lần V (3-1991) ông được bầu giữ chức Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhândân cách mạng Lào Tháng 2-1973, đế quốc Mỹ và tay sai buộc phải ký Hiệp địnhViêng Chăn lập lại hòa bình, thực hiện hòa hợp dân tộc ở Lào Trong tình hìnhmới có nhiều thuận lợi, Đảng Nhân dân cách mạng Lào đẩy mạnh cuộc đấu tranhhoàn thành cách mạng dân chủ nhân dân trong cả nước Ngày 2-12-1975, nướcCộng hòa dân chủ nhân dân Lào ra đời, Cayxỏn Phômvihản được cử làm Chủ tịchHội đồng Bộ trưởng và đầu năm 1991 được bầu làm Chủ tịch nước

Là một trí thức yêu nước, rất tâm huyết với nhân dân các bộ tộc Lào, ông luônluôn phấn đấu không mệt mỏi vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc; đã cống hiến sứclực, trí tuệ, tài năng vào việc lãnh đạo và chỉ huy các lực lượng vũ trang cáchmạng Lào đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác

Ông có nhiều đóng góp quan trọng trong việc xây dựng Đảng Nhân dân cáchmạng Lào và xây dựng nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào hòa bình, độc lập.Trong sự nghiệp đổi mới của Lào, ông chủ trương quan điểm đổi mới toàn diện,

có nguyên tắc, từng bước vững chắc, không nóng vội, có tính toán cẩn thận,không lấy ý chí chủ quan thay cho điều kiện thực tế ở Lào, dựa vào sức mình làchính, đồng thời tranh thủ sự hợp tác quốc tế, nhằm tạo sự thay đổi tích cực trong

sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, thúc đẩy kinh tế, văn hóa, xã hộiphát triển

Là một trong những nhà hoạt động quốc tế tích cực của Đảng và Nhà nước Lào,ông luôn luôn nêu cao tinh thần quốc tế trong sáng, đóng góp nhiệt tình vào sựnghiệp đấu tranh của nhân dân thế giới nhằm mục tiêu một nền hòa bình, hợp tác,hữu nghị giữa các dân tộc Hoạt động quốc tế của ông đã góp phần quan trọngnâng cao vị thế của nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào trên trường quốc tế

Trang 17

Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản luôn luôn chăm lo mối tình đoàn kết, thủy chung sonsắt, quan hệ đặc biệt Lào – Việt Nam Theo ông, thắng lợi của cách mạng Làocũng là thắng lợi của tình đoàn kết chiến đấu chặt chẽ giữa cách mạng của banước Đông Dương Trong mấy chục năm qua, ba dân tộc của ba nước ĐôngDương cùng chung một chiến hào chống thực dân Pháp và trên tuyến đầu chống

Mỹ, đã kề vai, sát cánh, chiến đấu hỗ trợ nhau, hạt gạo cắn đôi, cọng rau bẻ nửa,san sẻ với nhau những khó khăn, tạo cho nhau những thuận lợi, khích lệ động viênnhau Đó là sự hợp đồng chiến đấu theo tinh thần anh em và tình đồng chí giữacách mạng ba nước; đó cũng là mối quan hệ quốc tế trong sáng và mẫu mực Ôngnói “Nhân dân Lào chúng tôi vô cùng hãnh diện có nhân dân Việt Nam anh hùngvừa là đồng chí vừa là anh em thân thiết của mình” Mối quan hệ Lào – Việt Namđược bắt nguồn từ nền móng tư tưởng vững chắc do Chủ tịch Hồ Chí Minh vàChủ tịch Cayxỏn Phômvihản xây dựng là mối quan hệ đặc biệt, hợp tác toàn diện,trước sau như một, không bao giờ thay đổi Ông qua đời ngày 21-11-1992 tại Thủ

đô Viêng Chăn, hưởng thọ 72 tuổi

Chủ tịch Xuphanuvông, một hiện thân cao đẹp của tình đoàn kết hữu nghị Việt Nam - Lào

Chủ tịch Xuphanuvông từ một trí thức yêu nước trở thành nhà lãnh đạo cách mạngkiên trung, suốt đời cống hiến trí tuệ, sức lực cho độc lập dân tộc và phồn vinhcủa đất nước Lào Xuất thân trong một gia đình hoàng tộc, lớn lên trên đất nướcLào, từ khi mới 11 tuổi, Xuphanuvông đã đến Việt Nam học tập tại trường AnbeXarô, Hà Nội 10 năm sau, năm 1920 Xuphanuvông sang học tại Pháp Tốt nghiệpđại học quốc gia cầu đường Pari, Hoàng thân Xuphanuvông trở thành kỹ sư cầuđường đầu tiên ở Đông Dương Trong những năm học tại Pháp, Xuphanuvôngmiệt mài tìm hiểu, trau dồi kiến thức về lịch sử của Tổ quốc và về Đông Dươngvới khát vọng làm "một cái gì đó" cho tương lai tươi đẹp của đất nước Lào.Xuphanuvông biết đến Nguyễn Ái Quốc là nhà yêu nước qua “Bản yêu sách” củanhân dân Việt Nam gửi tới Hội nghị Véc xây năm 1919, là người đã từng tham giasáng lập Đảng Cộng sản Pháp tại Đại hội Tua (Tours) năm 1920 và viết nhiều bàibáo trên báo Le Paria (Người cùng khổ) do Người làm chủ bút; sau này, là người

tổ chức, rèn luyện và tập hợp các nhóm Cộng sản ở Việt Nam hợp nhất thànhĐảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930 Năm 1945, ở Việt Nam, Cách mạngTháng Tám giành được chính quyền về tay nhân dân Lúc này, trên khắp đất nướcLào, nhân dân Lào cũng đứng lên làm cách mạng đánh đuổi phát xít Nhật và đếquốc Pháp xâm lược Sau Cách mạng Tháng Tám, với tầm nhìn xa, trông rộng và

sự nhạy cảm sâu sắc, ngày 4/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời Hoàng thânXuphanuvông đến Hà Nội bàn việc liên minh tương trợ giữa hai nước Việt Nam -Lào Chính cuộc gặp lịch sử ấy, như một "mệnh trời", khát vọng được làm "mộtcái gì đó" cho đất nước và nhân dân Lào của Hoàng thân Xuphanuvông đã bắt đầutrở thành hiện thực Đó cũng chính là bước ngoặt lớn mở ra những trang mớitrong lịch sử đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào chống kẻ thùchung Tiếp thu tư tưởng của Hồ Chí Minh, Hoàng thân Xuphanuvông đã gianhập Đảng Cộng sản Đông Dương và bắt đầu sự nghiệp cách mạng của mình

Trang 18

Xuphanuvông nhận thấy rõ giá trị cao cả trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về vấn

đề dân tộc "Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc thì chẳngnhững toàn thể quốc gia, dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộphận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được" Tư tưởng Hồ Chí Minh đãđáp ứng nguyện vọng sâu xa nhất của các tầng lớp nhân dân yêu nước Việt Nam

và Lào Đồng thời, phản ánh sâu sắc nhu cầu, trách nhiệm của mỗi dân tộc trênbán đảo Đông Dương: "Muốn đánh đuổi kẻ thù chung không chỉ dân tộc này haydân tộc kia mà đủ, mà phải có một lực lượng thống nhất của tất thảy các dân tộcĐông Dương họp lại" Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ảnh hưởng sâu sắcđến tư tưởng và hành động cách mạng của Xuphanuvông, đã biến ông từ mộthoàng tử của Hoàng gia Lào thành người chiến sĩ cách mạng đầy nhiệt huyết, luônđặt lợi ích của đất nước và nhân dân lên trên lợi ích bản thân và gia đình, đúngnhư lời đồng chí đã viết "Lúc này, tôi chỉ có Tổ quốc là lớn hơn cả" Với biệt danh

"Hoàng thân đỏ", Xuphanuvông đã trở thành nhà lãnh đạo Pathét Lào và ĐảngNhân dân Lào, trở thành Chủ tịch đầu tiên của nước Cộng hòa dân chủ nhân dânLào và được Đảng, Nhà nước Lào trao giữ nhiều trọng trách quan trọng khác.Những mốc son thắng lợi trong lịch sử cách mạng Lào đều có công lao đóng góp

to lớn của đồng chí Chủ tịch Xuphanuvông, một hiện thân cao đẹp của tình đoànkết hữu nghị Việt Nam - Lào Học tập ở Việt Nam từ thuở niên thiếu, Hoàng thânXuphanuvông có nhiều tình cảm đặc biệt với Việt Nam Xinava Xuphanuvông -con trai út của Hoàng thân, trong một bài báo của mình đã viết "Ba tôi qua Pháphọc, nhưng Người vẫn nhớ Hà Nội, nhớ bạn bè Việt Nam khôn nguôi " Sau khitốt nghiệp Đại học ở Pháp, về Trung kỳ công tác, những năm tháng ở Việt Nam,Xuphanuvông đã từng đảm nhận chức vụ Kiến trúc sư trưởng khu Công chánhNha Trang, ông đã dành tất cả tâm trí cho việc thiết kế và phụ trách thi công nhiềucông trình thủy lợi trên đất Việt Nam, trong đó có 7 công trình cho đến nay vẫnđang còn sử dụng, tiêu biểu như đập Bái Thượng ở Thanh Hóa, là công trình

“sống cùng thế kỷ”, không chỉ hữu ích trong việc điều hòa nguồn nước sinh hoạt

và sản xuất nông nghiệp mà còn là cảnh quan hấp dẫn khách du lịch, đã từng làbiểu tượng đẹp nhất của thời Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; công trình Thápnước Phan Thiết do Hoàng thân Xuphanuvông vẽ thiết kế, được giới kiến trúcđánh giá là đẹp và độc đáo nhất trong các tháp nước được xây dựng ở Việt Nambởi sự thanh thoát, sang trọng kiểu kiến trúc phương Đông, đã trở thành biểutrưng chính thức của tỉnh Bình Thuận Đây là những công trình mang đậm dấu ấnlịch sử, thể hiện sự gắn bó sâu nặng giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào Được gặpChủ tịch Hồ Chí Minh, Hoàng thân Xuphanuvông bắt đầu sự nghiệp đấu tranhcách mạng Từ đó, trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Xuphanuvông luônmang nặng ân tình với Bác Hồ kính yêu và tình cảm sâu đậm hơn với nhân dânViệt Nam, Xuphanuvông đã từng trìu mến gọi Bác Hồ là Papa Hồ, tức cha Hồ

Và, luôn phấn đấu không mệt mỏi cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc,giải phóng nhân dân, đồng chí trở thành tấm gương sáng ngời, một hiện thân caođẹp của tình đoàn kết keo sơn, thủy chung, trong sáng Việt Nam - Lào Sau này,với nhiều cương vị lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và Mặt trận đoàn kết Lào, đồng

Trang 19

chí Xuphanuvông càng có điều kiện quan tâm, chăm lo xây dựng, vun đắp tìnhđoàn kết hữu nghị Việt Nam - Lào ngày càng xanh tươi và bền vững Đặc biệt, từsau khi nước Lào hoàn toàn độc lập, với trọng trách Chủ tịch nước kiêm Chủ tịchHội đồng nhân dân tối cao nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, tinh thần ấycàng được nhân lên, mà kết quả là hai nước đã ký kết “với những cam kết "Hếtlòng ủng hộ và giúp đỡ nhau, hợp tác chặt chẽ với nhau trên tất cả các lĩnh vực”.Đánh giá công lao của đồng chí Xuphanuvông, đồng chí Cayxỏn Phômvihẳn đãnói: “Đồng chí Xuphanuvông đã cùng với tập thể ban lãnh đạo của Đảng từ nhữngnăm đầu của cuộc cách mạng, tham gia xây dựng cơ sở cách mạng và căn cứ địavững chắc trong cả hai cuộc kháng chiến lâu dài của nhân dân ta góp phần quantrọng vào thắng lợi của cuộc đấu tranh vì hòa bình, hòa hợp dân tộc, thống nhấtđất nước và đoàn kết quốc tế” Trong điện chia buồn gửi tới Ban Chấp hành Trungương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Quốc hội, Chính phủ nước Cộng hòa nhândân Lào, Ủy ban Mặt trận Lào xây dựng đất nước trong ngày lễ tang Chủ tịchXuphanuvông (ngày 11/1/1995), Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản ViệtNam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, UBTW Mặt trận Tổquốc Việt Nam đã khẳng định: "Đồng chí Xuphanuvông là nhà lãnh đạo cáchmạng anh dũng kiên cường, đã suốt đời cống hiến trí tuệ, sức lực cho độc lập dântộc và phồn vinh của đất nước Lào; người bạn lớn rất thân thiết, thủy chung củanhân dân Việt Nam, đã có nhiều đóng góp quan trọng vào việc xây dựng, củng cố

và phát triển mối quan hệ hữu nghị đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện ViệtNam - Lào Đồng chí Xuphanuvông mất đi là một tổn thất lớn của Đảng, Nhànước, các bộ tộc Lào và gia đình đồng chí; đồng thời là nỗi đau buồn của Đảng,Nhà nước và nhân dân Việt Nam" Với những đóng góp to lớn của đồng chí choquan hệ hợp tác hữu nghị và liên minh chiến đấu đặc biệt Việt Nam – Lào, Đảng

và Nhà nước Việt Nam đã trân trọng trao tặng đồng chí Xuphanuvông phầnthưởng cao quý nhất của Việt Nam: và cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.Trong dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Xuphanuvông lần này, Liên hiệpcác Tổ chức Hữu nghị Việt Nam đã thiết kế một chương trình "Theo dấu chânHoàng thân Xuphanuvông", tổ chức cho đoàn cán bộ của Hội Hữu nghị Lào -Việt, các nhà báo, phóng viên, giảng viên Trường Đại học Xuphanuvông và giađình của Chủ tịch sang thăm Việt Nam, đến những nơi Xuphanuvông đã từngsống, làm việc, gắn bó trong cuộc sống và có những đóng góp bằng các công trình

do chính Chủ tịch Xuphanuvông thiết kế, xây dựng ở Việt Nam Hiện nay, chúng

ta thật sự vui mừng nhận thấy mối quan hệ đầy ân tình và sinh động của Chủ tịch

Hồ Chí Minh và Chủ tịch Xuphanuvông đã được phát huy có hiệu quả và ngàycàng có nhiều bước tiến bộ mới Những công lao to lớn, tình cảm thủy chung sonsắt và tinh thần đoàn kết cao đẹp của Chủ tịch Xuphanuvông dành cho nhân dânViệt Nam vẫn mãi mãi ngời sáng trên con đường xây dựng tình đoàn kết hữu nghị

và quan hệ đặc biệt của hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước chúng ta Học tập ở Việt Nam từ thuở niên thiếu, Hoàng thân Xuphanuvông có nhiều tìnhcảm đặc biệt với Việt Nam Xinava Xuphanuvông - con trai út của Hoàng thân,trong một bài báo của mình đã viết Ba tôi qua Pháp học, nhưng Người vẫn nhớ Hà

Trang 20

Nội, nhớ bạn bè Việt Nam khôn nguôi

Hoàng thân Xuphanuvong và Xuphana Phuma đến thăm Chủ tịch Hồ Chí Minh

nhân dịp thăm Việt Nam, năm 1960

Câu 4 Quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào, Lào- Việt

Nam từ năm 1976 đến nay Ý nghĩa và tầm quan trọng của Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (được ký kết ngày 18-7-1977)

Năm 1976, ngay sau thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Lào vàViệt Nam đã đạt được thỏa thuận quan trọng trong vòng hai tháng rút toàn bộquân đội và chuyên gia Việt Nam về nước và bắt đầu xúc tiến việc hoạch địnhbiên giới quốc gia giữa hai nước Tuy nhiên, lợi dụng cơ hội này, bọn phản độngtrong nước Lào, với sự hỗ trợ của các thế lực thù địch quốc tế, đã hoạt động nổidậy ở nhiều nơi Do vận mệnh của hai nước liên đới lẫn nhau nên mối quan tâmhàng đầu về an ninh chính trị của Lào cũng là mối quan tâm thường trực của ViệtNam Ngày 30 tháng 4 năm 1976, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt

Nam ra Nghị quyết Về tăng cường giúp đỡ và hợp tác với cách mạng Lào trong giai đoạn mới, xác định: việc tăng cường đoàn kết, giúp đỡ, hợp tác đối với Lào là

một trong những nhiệm vụ quốc tế hàng đầu của Đảng và nhân dân Việt Nam,cũng là vì lợi ích thiết thân của cách mạng Việt Nam

Đặc biệt, từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 7 năm 1977, Đoàn đại biểu cao cấp Đảng

và Chính phủ Việt Nam do Tổng Bí thư Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm Văn Đồngdẫn đầu sang thăm hữu nghị chính thức Lào Hai bên đã trao đổi ý kiến về các vấn

đề quốc tế quan trọng mà hai bên cùng quan tâm, cũng như các vấn đề nhằm pháttriển mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Đảng, Chính phủ và nhân dân hai nước,trên cơ sở đáp ứng nguyện vọng thiết tha và lợi ích sống còn của hai dân tộc trong

Trang 21

sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Ngày 18 tháng 7

năm 1977, hai nước chính thức ký kết các Hiệp ước: Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; và ra Tuyên bố chung tăng cường sự tin cậy và hợp tác lâu dài giữa hai nước.

Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là Hiệp ước toàn diện, mang tính chiến lược lâu dài,

tạo cơ sở chính trị và pháp lý quan trọng để củng cố và tăng cường lâu dài tìnhđoàn kết, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam Hiệp ước có giátrị trong 25 năm và sẽ được mặc nhiên gia hạn thêm từng 10 năm nếu một tronghai bên không thông báo cho bên kia muốn hủy bỏ Hiệp ước ít nhất là một nămtrước khi hết hạn Hiệp ước nêu rõ: Hai bên cam kết ra sức bảo vệ và phát triểnmối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam, không ngừng tăng cườngtình đoàn kết và tin cậy lẫn nhau, sự hợp tác lâu dài và giúp đỡ lẫn nhau về mọi

mặt trên tinh thần của chủ nghĩa quốc tế vô sản và theo nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau Đây là mốc lịch sử quan trọng đánh dấu bước ngoặt mới trong quan hệ giữa hai nước Việc ký kết hiệp ước đó còn có ý nghĩa quốc tế quan trọng, nêu cao tinh

thần quốc tế trong sáng giữa hai nước đang cùng hướng tới mục tiêu chủ nghĩa xãhội và phát huy ảnh hưởng tích cực trong khu vực

Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia là một biểu hiện tốt đẹp của việc giải

quyết vấn đề lợi ích dân tộc trên tinh thần kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêunước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng, là mẫu mực về chínhsách láng giềng hữu nghị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nướcCộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

*GIAI ĐOẠN 2007 - 2015 VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO

Trang 22

Ngày 17-3-1996, tại Viêng Chăn, Tổng Bí thư Đỗ Mười trao tặng Đảng Nhân dân Cách mạng Lào bức ảnh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ảnh chụp lại.

Những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội sau hơn 20 năm tiến hành công cuộcđổi mới và những chuyển biến quan trọng trong quan hệ hợp tác toàn diện ViệtNam - Lào, Lào - Việt Nam trong những năm qua đã tạo nên những điều kiện vậtchất to lớn thúc đẩy việc tiếp tục tăng cường hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào,Lào - Việt Nam trong giai đoạn mới

Để tăng cường hợp tác toàn diện, đưa quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào lên tầmcao mới trong những năm qua hai nước đã bổ sung và điều chỉnh nhiều cơ chế,chính sách, chương trình và tổ chức chỉ đạo hợp tác cho phù hợp với thực tế vànhững đòi hỏi mới của sự hợp tác toàn diện giữa hai nước Đặc biệt là trong bốicảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực hiện nay và những năm tới, càng cầnphải đẩy nhanh việc điều chỉnh kịp thời, linh hoạt các nội dung đã thỏa thuận bằngcác văn bản hợp tác nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức, đơn vị hợp tác thực hiện

có hiệu quả những mục tiêu chiến lược hợp tác đã đặt ra

Trong quan hệ hợp tác kinh tế cần phải chú trọng tính thực chất, hiệu quả và chất

lượng Có nghĩa là, các chương trình hợp tác, nhất là từ phía Việt Nam (các dự án của Việt Nam đầu tư vào Lào)phải phù hợp với yêu cầu của công cuộc xây dựng

đất nước, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia của Lào Việt Nam cần ưutiên các dự án hợp tác với Lào phù hợp với qui hoạch và kế hoạch phát triển củaLào đã được vạch ra tại các kế hoạch 5 năm 2006-2010 và tầm nhìn đến 2020 củaLào

Tính chất đặc biệt của quan hệ Việt Nam - Lào khác căn bản với các quan hệ đốitác thông thường ở chỗ nó là quan hệ hợp tác toàn diện bao gồm cả chính trị, anninh, kinh tế, văn hóa và ưu tiên, ưu đãi cho nhau cao hơn cả các quan hệ song

Trang 23

phương khác Cần có một nhận thức thống nhất của cán bộ và nhân dân hai nước

về tính chất đặc biệt này Cả hai bên cần có tầm nhìn rộng hơn, toàn diện và lâudài hơn chứ không chỉ ở các lợi ích kinh tế thuần túy và ngắn hạn

Định hướng cơ bản của chiến lược hợp tác Việt Nam - Lào giai đoạn 2011-2020là: “Phát huy truyền thống quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trở thành động lực tạo

ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong hợp tác kinh tế, góp phần thực hiện mục tiêuphát triển kinh tế xã hội và hội nhập của mỗi nước” Trong đó, không ngừng nângcao nhận thức và làm sâu sắc thêm quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào trong hợp táckinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật tạo sự chuyển biến mạnh mẽ thúc đẩy hợp táckinh tế ngang tầm với quan hệ truyền thống giữa hai nước Thấm nhuần tư tưởngchỉ đạo coi trọng, phát triển và củng cố mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoànkết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện giữa hai nước và coi đây là nhiệm vụ có tầmchiến lược to lớn, thiết thực phục vụ lợi ích đảm bảo ổn định an ninh chính trị vàphát triển của mỗi nước Từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả hợp tác trênnguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi và tinh thần quan hệ đặc biệt theo luật pháp củamỗi nước trên cơ sở những nội dung sau:

Tiếp tục đầu tư và phát huy những tiềm năng, lợi thế của hai nước nhằm bổ sungnguồn lực cho nhau, phù hợp với mục tiêu, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội củamỗi nước theo từng giai đoạn, góp phần thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiệnđại hóa của Lào trong 10 năm tới, đưa nước Lào thoát khỏi nước kém phát triểnvào năm 2020

Chiều 19/6/2006, tại Phủ Chủ tịch diễn ra Lễ đón chính thức đồng chí

Trang 24

Chum-ma-ly Xay-nha-xỏn, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào,Chủ tịch nước Cộng

hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

Trong ảnh: Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Trần Đức Lương và đồng chí

Chummaly Xaynhaxỏn duyệt đội danh dự Quân đội nhân dân Việt Nam Ảnh chụp lại.

Phấn đấu tăng kim ngạch xuất nhập khẩu hai nước đạt 5 tỷ USD vào năm 2020.Quan tâm đặc biệt tới việc bảo đảm kết nối giao thông đường bộ trên các trụchuyết mạch và các tuyến kết nối qua biên giới với các cảng biển của Việt Nam đểphục vụ đầu tư, thương mại và hội nhập giữa hai nước trên nguyên tắc đầu tưđồng bộ và đồng thời giữa hai bên

Tăng cường và nâng cao vai trò hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa các bộ, ngành, tổchức, địa phương và doanh nghiệp hai nước Gắn phát triển kinh tế - xã hội vớiquốc phòng, an ninh, đặc biệt là các địa phương có chung đường biên giới nhằmphát triển các địa phương khu vực biên giới trở thành hậu phương chiến lượcvững chắc, ổn định, hòa bình, hữu nghị, hợp tác, tạo sự gắn bó, tin tưởng lẫn nhaulâu dài

Hai bên phối hợp chặt chẽ việc rà soát, bổ sung sửa đổi các văn bản thỏa thuậnphối hợp xây dựng cơ chế, chính sách mới phù hợp với luật pháp và tình hìnhthực tế mỗi nước, thể hiện mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước và thông lệ quốc tế,tạo sự chuyển biến trong hợp tác kinh tế cũng như hội nhập quốc tế và khu vựccủa mỗi nước phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện các cam kết và có sự đồngthuận trong các khuôn khổ hợp tác đa phương đối với những vấn đề có liên quanđến hai nước

Trên cơ sở những kết quả to lớn của sự hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào nhữngnăm qua, lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước thống nhất đặt ưu tiên cao nhấtcùng phấn đấu nâng quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào lên tầm cao mới, theophương châm chất lượng và hiệu quả, góp phần giữ vững ổn định an ninh chínhtrị, tăng trưởng kinh tế bền vững, hội nhập ngày càng sâu rộng và có vị thế xứngđáng trên trường quốc tế

Trải qua 55 năm thử thách, mối quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam càngthêm khẳng định là mối quan hệ mẫu mực, trong sáng, rất mực thủy chung, vừa làthành quả cách mạng, vừa là tài sản chung vô giá được xây dựng bằng máu và mồhôi của nhiều thế hệ nhân dân hai nước, là minh chứng cho mối quan hệ đặc biệthiếm có giữa hai dân tộc như lời Chủ tịch Cayxon Phomvihan đã từng nói “Núi cóthể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Lào - Việt sẽ mãi mãi vững bền hơn núi,hơn sông”, hay như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phác họa “Việt - Lào hai nướcchúng ta, tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”

Trang 25

Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đón đồng chí Bounnhang Volachith

Trang 26

Quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào là nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh vô địch củahai dân tộc Việt Nam, Lào Đứng ở vị trí chiến lược của vùng Đông Nam á, nơiđối đầu quyết liệt giữa phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, hoà bình và tiến

bộ xã hội với các thế lực xâm lược, khối đại đoàn kết Việt Nam- Lào trở thành lựclượng vững mạnh, chặn đứng, làm thất bại những mưu đồ và hành động của kẻthù, góp phần quan trọng tạo dựng môi trường hoà bình, hợp tác, hữu nghị giữacác quốc gia Đông Nam á

Quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào là một tấm gương mẫu mực, thuỷ chung, trongsáng, vững bền, chưa từng có trong quan hệ giữa các dân tộc đấu tranh vì độc lập,

tự do, hoà bình và tiến bộ xã hội

Câu 5 Những kỷ niệm sâu sắc về tình đoàn kết, hữu nghị giữa hai dân tộc Việt-Lào trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay

Mười tám tuổi, có đứa con đầu lòng, nhưng trước hoàn cảnh người lính tình nguyện Việt Nam bị kiệt sức vì sốt rét, thiếu dinh dưỡng và có thể mất mạng, người mẹ trẻ đó đã vượt qua sự xấu hổ, vượt qua những điều cấm kỵ của phong tục dân tộc, nhường một phần sữa của con cho người lính tình nguyện Việt Nam.

Theo lời mẹ, khi đó (mẹ cũng không nhớ rõ năm nào), nhằm chặn tuyếnđường vận tải huyết mạch của Việt Nam, giặc Mỹ ngày đêm cho máy bay B52 vàcác loại máy bay khác bắn pháo sáng, thả bom Napal và rải chất độc hóa học…vào nhà dân và các khu vực rừng núi xung quanh khiến gia đình mẹ và dân bảnphải liên tục di chuyển, lẩn trốn Khi đó, đơn vị của mẹ đang đóng ở Huoi Dua(Suối Đừa), sâu trong rừng Trường Sơn, phía trên là một đơn vị quân đội ViệtNam, một buổi sáng, mẹ đang cho con bú, một chú bộ đội Việt Nam đến xin mẹsữa cho một đồng đội bị ốm rất nặng trong đơn vị Vì khi đó các kho lương thựccủa đơn vị bị bom Mỹ phá hỏng, đường vận chuyển bị gián đoạn nên không cònlương thực bồi dưỡng cho thương bệnh binh.Mẹ cho biết, ban đầu mẹ xấu hổ quá,không dám trả lời, tuy nhiên, khi nhìn người lính xanh rớt, kiệt sức nằm thiêmthiếp được đồng đội khiêng tới, mẹ đã quyết định không có ngại ngần gì nữa Mẹnói: “Tôi nghĩ người Việt cũng như người Lào, tôi thương đồng chí đó vì sợ nếuchết đi sẽ bỏ lại bố, mẹ, vợ, con ở quê nhà Tôi thương vì họ đều là bộ đội tìnhnguyện Việt Nam sang giúp Lào chiến đấu Trước đó, tôi cũng chưa từng biết đấtnước Việt Nam ở chỗ nào, nhưng khi thấy anh em Việt Nam sang giúp đất nướcmình, tôi thương và yêu quý nên tôi quyết định vượt qua mọi ái ngại và cho sữa

Có người hỏi tôi tại sao lại cho sữa như vậy, tôi kệ, tôi chỉ nghĩ rằng anh em ViệtNam đến ở làng mình, chiến đấu cho mình, hy sinh xương máu vì mình, nếu mìnhkhông chăm sóc sẽ như thế nào, còn gì là đoàn kết nữa”.Từ những giọt sữa đầynghĩa tình này, anh bộ đội tình nguyện Việt Nam đã dần hồi phục và đến gặp mẹKanchia để cảm ơn ân nhân cứu mạng và xin nhận làm con.Thời kỳ sau đó, tinh

Trang 27

thần đoàn kết Việt Nam – Lào lại càng được hun đúc và tôi luyện hơn khi hainước nhịp nhàng hỗ trợ nhau trên các mặt trận quân sự và đối ngoại, làm thất bại

âm mưu phá hoại và tiến hành chiến tranh do chủ nghĩa thực dân mới gây ra.Ngày 5-9-1962, Việt Nam và Lào chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, mở ramột giai đoạn mới trong lịch sử quan hệ hai nước

Đầu năm 1964, hai đồng chí Xuphanuvông và Kayxỏn Phomvihẳn đến HàNội, vào Khu Phủ Chủ tịch thăm Bác Trong lúc nói chuyện, gió mùa đông bắclùa hơi lạnh vào phòng khách, Bác chợt hỏi: "Ở Lào không rét như ở Việt Nam.Các đồng chí có lạnh lắm không? Sao hai đồng chí không quàng khăn cổ?", nóirồi Bác đứng dậy mở tủ lấy ra hai chiếc khăn quàng mới rồi nói: "Đồng chíXuphanuvông và tôi là người già, nhiều tuổi, mỗi người một khăn quàng mới" vàBác tháo chiếc khăn đang quàng đưa cho đồng chí Kayxỏn: "Bác trao khăn này đểđồng chí Kayxỏn quàng" Khi ra về, đồng chí Xuphanuvông hớn hở: "Tôi với Bácmỗi người một khăn mới", còn đồng chí Kayxỏn thì gật gù: "Còn tôi được kế thừachiếc khăn của Bác Hồ" Kể từ đó, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh hàngnăm đều có những cuộc gặp gỡ cấp cao giữa hai Đảng tại Hà Nội, nề nếp đó đãgóp phần rất quan trọng bồi đắp tình hữu nghị đặc biệt Việt-Lào trở thành mẫumực hiếm có trong thời đại ngày nay Ngày 15/12/1968, tại Khu Phủ Chủ tịch, đã

có buổi gặp gỡ ấm áp tình hữu nghị cuối cùng giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và cácđồng chí lãnh đạo Đảng Nhân dân cách mạng Lào: Kayxỏn Phomvihẳn,Xuphanuvông, Nuhắc Phumxavẳn, Khămtày Xiphănđon, Phuni Vôngvichít

Ngày 10/4/1969, Người gửi bức điện cuối cùng đến chúc Vua Lào Xrixavang Vatthana nhân dịp Tết năm mới của dân tộc Lào.Liên minh chiến đấu củaquân và dân hai nước Việt – Lào ngày càng được tăng cường và dãy Trường Sơnhùng vĩ với hai nửa Trường Sơn Đông – Trường Sơn Tây đã trở thành hình ảnhsinh động của mối quan hệ keo sơn “hạt muối cắn đôi, cọng rau bẻ nửa” trongnhững năm tháng gian khổ nhưng đầy vinh quang, cùng góp phần to lớn giúpnhân dân và các lực lượng vũ trang hai nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác

mà đỉnh cao là Đại thắng Mùa Xuân 1975 tại Việt Nam và Chiến thắng ngày

2-12-1975 tại Lào

Bước vào thời kỳ mới, thời kỳ xây dựng đất nước trong hòa bình và quá độ

đi lên CNXH, quan hệ hai nước chuyển từ quan hệ đoàn kết trong chiến đấuchống kẻ thù chung sang quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diệndưới sự lãnh đạo của Đảng CS Việt Nam và Đảng NDCM Lào Ngày 18-7-1977,hai nước ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Hiệp ước có ý nghĩa vô cùng quantrọng, là cơ sở pháp lý vững chắc cho việc tăng cường và mở rộng mối quan hệđặc biệt Việt Nam – Lào trong thời kỳ mới; tạo cơ sở để hai bên tiến tới ký kết

Trang 28

hàng loạt các thỏa thuận hợp tác sau này giữa hai nước Trong quá trình hợp tác

và giúp đỡ lẫn nhau sau chiến tranh, Việt Nam đã cử nhiều đoàn chuyên gia sanggiúp bạn bảo đảm an ninh, ổn định đời sống, khôi phục sản xuất và phát triển kinh

tế Quan hệ hợp tác, giúp đỡ, hỗ trợ đó được thực hiện trên cơ sở tôn trọng độclập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; đề cao ý chí tự lực, tự cường, hợptác bình đẳng và cùng có lợi

Một sự kiện có ý nghĩa quan trọng đánh dấu bước phát triển mới trong quan

hệ hợp tác toàn diện Việt Nam là chuyến thăm hữu nghị chính thức nước Cộnghòa Dân chủ Nhân dân Lào của Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam do Tổng

Bí thư Nguyễn Văn Linh dẫn đầu từ ngày 2 đến ngày 4 tháng 7 năm 1989 Đây làchuyến thăm Lào chính thức đầu tiên của lãnh đạo cấp cao Đảng Cộng sản ViệtNam từ sau Đại hội IV Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Hai bên thống nhất vớinhau nhiều vấn đề quan trọng trong việc đổi mới phương thức hợp tác giữa hainước và giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực Thành tựu nổi bật nhất củaquan hệ hợp tác chính trị Việt Nam – Lào trong giai đoạn này là hai nước vẫn kiênđịnh giữ vững định hướng chính trị theo con đường xã hội chủ nghĩa

Chương tình thắp nến tri ân 'Khúc tráng ca Việt-Lào.' (Ảnh: TTXVN)

Vượt qua muôn vàn khó khăn do hậu quả chiến tranh để lại, bất chấp sự baovây, cấm vận và chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, nhân dân hai nướcluôn dành cho nhau sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn về mọi mặt trong những ngày đầumới giành chính quyền cách mạng Mối quan hệ son sắt, thủy chung, trong sáng

Trang 29

đó đã hun đúc ý chí, quyết tâm của chúng ta, tạo thành nền tảng vững chắc, đểtrên chặng đường mới, nhân dân hai nước Việt Nam - Lào lại cùng kề vai sát cánhbên nhau, đẩy mạnh công cuộc xây dựng và phát triển mỗi nước, vun đắp choquan hệ láng giềng hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào mãi mãi trường tồn.

Tối 9/4/2017, tại TP Huế, trường Cao đẳng Sư phạm Huế phối hợp cùngcác trường thành viên trong Đại học Huế và Ban đại diện lưu học sinh lào tại Huế

đã tổ chức Tết cổ truyền Bunpimay cho gần 600 bạn trẻ Lào đang sinh sống vàhọc tập tại đây

Nhiều tiết mục văn nghệ đặc sắc được chính các bạn sinh viên Lào biểu diễn

Ngày đăng: 21/07/2017, 22:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w