1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH tế và KHẢ NĂNG TÍCH lũy CACBON của SEN sơn TRA với các LOẠI cây TRỒNG KHÁC

128 641 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 2,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm gần đây việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở các vùng nông thôn, vùng sâu đặc biệt là vùng nông thôn miền núi được Đảng và nhà nước ta rất quan tâm. Các chính sách đưa ra đều hướng tới việc nâng cao hiệu quả kinh tế, chất lượng cuộc sống của người dân, bảo vệ môi trường sinh thái. Do điều kiện tự nhiên của khu vực miền núi phía Bắc trong đó có tỉnh Yên Bái hết sức khó khăn, địa hình cao, dốc, phức tạp, chia cắt mạnh, đất sử dụng cho sản xuất cây lương thực, cây mầu ít, người dân phần lớn là các dân tộc ít người có trình độ khoa học kỹ thuật thấp. Sự bất lợi của điều kiện tự nhiên đòi hỏi phải có một phương pháp khai thác lợi dụng tài nguyên đất có hoặc không có kế hoạch, xây dựng lên các mô hình canh tác trên đất dốc với phương thức và kĩ thuật gây trồng khác nhau tùy vào điều kiện của từng vùng. Nếu việc lựa chọn các mô hình canh tác chỉ tính đến hiệu quả kinh tế xã hội mà không tính đến hiệu quả môi trường thì sẽ dẫn đến cạn kiệt tài nguyên ở khu vực đó. Ngược lại nếu chỉ xét đến hiệu quả môi trường mà không chú ý đến hiệu quả kinh tế xã hội thì việc nâng cao mức sống của người dân, phát triển kinh tế vùng là điều khó thực hiện được. Thực tế hiện tượng xói mòn, rửa trôi ở khu vực canh tác diễn ra mạnh làm suy kiệt đất ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và kinh tế của người dân. Vấn đề đặt ra làm thế nào để kinh doanh lợi dụng trên đất dốc vừa đem lại hiệu quả kinh tế lại không ảnh hưởng đến môi trường và chú ý đến tiềm năng giảm phát thải của mô hình để kinh doanh bền vững? Một trong các nội dung cần đi sâu nghiên cứu là điều tra đánh giá cụ thể, khách quan các mô hình nông lâm kết hợp (canh tác đất dốc).

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Những năm gần đây việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở các vùng nôngthôn, vùng sâu đặc biệt là vùng nông thôn miền núi được Đảng và nhà nước tarất quan tâm Các chính sách đưa ra đều hướng tới việc nâng cao hiệu quả kinh

tế, chất lượng cuộc sống của người dân, bảo vệ môi trường sinh thái Do điềukiện tự nhiên của khu vực miền núi phía Bắc trong đó có tỉnh Yên Bái hết sứckhó khăn, địa hình cao, dốc, phức tạp, chia cắt mạnh, đất sử dụng cho sản xuấtcây lương thực, cây mầu ít, người dân phần lớn là các dân tộc ít người có trình

độ khoa học kỹ thuật thấp Sự bất lợi của điều kiện tự nhiên đòi hỏi phải cómột phương pháp khai thác lợi dụng tài nguyên đất có hoặc không có kế hoạch,xây dựng lên các mô hình canh tác trên đất dốc với phương thức và kĩ thuậtgây trồng khác nhau tùy vào điều kiện của từng vùng Nếu việc lựa chọn các

mô hình canh tác chỉ tính đến hiệu quả kinh tế - xã hội mà không tính đến hiệuquả môi trường thì sẽ dẫn đến cạn kiệt tài nguyên ở khu vực đó Ngược lại nếuchỉ xét đến hiệu quả môi trường mà không chú ý đến hiệu quả kinh tế - xã hộithì việc nâng cao mức sống của người dân, phát triển kinh tế vùng là điều khóthực hiện được Thực tế hiện tượng xói mòn, rửa trôi ở khu vực canh tác diễn

ra mạnh làm suy kiệt đất ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và kinh tế của ngườidân

Vấn đề đặt ra làm thế nào để kinh doanh lợi dụng trên đất dốc vừa đem lạihiệu quả kinh tế lại không ảnh hưởng đến môi trường và chú ý đến tiềm nănggiảm phát thải của mô hình để kinh doanh bền vững? Một trong các nội dungcần đi sâu nghiên cứu là điều tra đánh giá cụ thể, khách quan các mô hình nônglâm kết hợp (canh tác đất dốc)

Cây Sơn tra hay cây táo mèo (Docynia indica) thuộc họ hoa hồng

Trang 2

(Rosaceae) phân bố chủ yếu ở miền nam Trung Quốc và một số tỉnh phía Tây

Bắc Việt Nam như Yên Bái, Lào Cai, Sơn La… Nhưng nổi tiếng và có mùi vịđặc trưng nhất là sơn tra ở Yên Bái, nơi có khí hậu mát mẻ ở độ cao trên1.000m Táo mèo có vị chua chát, ngọt thơm rất đặc trưng được sử dụng rộngrãi trong chế biến nước quả, rượu và là vị thuốc quý trong đông y Táo mèoYên Bái có vị thơm và lượng đường lớn rất phù hợp cho sản xuất công nghiệpcác sản phẩm Vang, nước ép Tiềm năng và vai trò của cây táo mèo với sự pháttriển của Yên Bái rất lớn, song việc sản xuất và kinh doanh còn manh mún, nhỏ

lẻ, hiệu quả thấp do những khó khăn về vốn, kĩ thuật và nhân lực Đây cũng làkhó khăn chung với các ngành khác trong tỉnh và cả khu vực miền núi phíaBắc Chính vì vậy tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Đánh giá hiệu quả kinh tế và khả năng tích lũy carbon của mô hình trồng xen “Sơn tra với các cây trồng khác” tại tỉnh Yên Bái”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở đánh giá thực trạng, hiệu quả kinh tế, khả năng tích lũycarbon của các mô hình trồng xen cây Sơn tra với một số cây trồng khác, để đềxuất, khuyến khích phát triển và nhân rộng các mô hình trồng xen có hiệu quảtrong tương lai

3 Ý nghĩa của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Giúp cung cấp thêm những kết quả nghiên cứu về sinh khối và khả năngtích lũy carbon và hiệu quả kinh tế của các mô hình trồng cây Sơn tra tại tỉnhYên Bái

3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Chọn được mô hình kinh doanh Sơn Tra với các cây trồng xenhiệu quả và có khả năng nhân rộng, được người dân chấp nhận

Trang 3

- Kết quả nghiên cứu là tài liệu quan trọng giúp chính quyền địaphương tham khảo, để xây dựng kế hoạch phát triển trong tương lai

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế

1.1.1.1 Khái niệm và quan điểm chung về hiệu quả kinh tế

Hiệu quả là một phạm trù kinh tế chung nhất liên quan trực tiếp với nềnsản xuất hàng hóa Hiệu quả được xem xét dưới nhiều góc độ và nhiều quanđiểm khác nhau Về hiệu quả kinh tế (HQKT), có hai quan điểm: Truyền thống

và hiện đại cùng tồn tại [30]

* Quan điểm truyền thống về hiệu quả kinh tế

Quan điểm truyền thống cho rằng, nói đến hiệu quả kinh tế tức là nói đếnphần còn lại của sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ chi phí Nó được đo bằngcác chi phí và lời lãi Những chỉ tiêu hiệu quả này thường là giá thành sảnphẩm hay mức sinh lời của đồng vốn Nó chỉ được tính toán khi kết thúc

một quá trình sản xuất kinh doanh

- HQKT được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được vàcác chi phí bỏ ra (các nguồn nhân lực, vật lực…) để đạt được kết quả

Trang 4

tổng sản phẩm chia cho vật tư được hiệu suất vật tư, tổng sản phẩm chia cho sốlao động được hiệu suất lao động” [1]

Với cách tính này chỉ rõ được mức độ hiệu quả của sử dụng các nguồnlực sản xuất khác nhau, từ đó so sánh được HQKT của các quy mô sản xuấtkhác nhau Nhược điểm của cách đánh giá này là không thể thực hiện được quy

mô của HQKT nói chung Ở Việt Nam một số tác giả như Trần Văn Đức(1993) cho rằng: “ HQKT được xem xét trong mối tương quan giữa một bên làkết quả thu được và một bên là chi phí bỏ ra” [5]

- HQKT được đo bằng hiệu số giữa giá trị sản xuất đạt được

và lượng chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó

HQKT = K – C

Tác giả Đỗ Thịnh (1988) cũng cho rằng: “Thông thường hiệu quả đạtđược biểu hiện như một hiệu số giữa kết quả và chi phí…Tuy nhiên trong thực

tế có nhiều trường hợp không thực hiện được phép trừ, hoặc phép trừ không có

ý nghĩa Do vậy, nói một cách khác linh hoạt hơn nên hiểu hiệu quả kinh tế làmột kết quả tốt nhất phù hợp mong muốn” [18]

* Quan điểm mới về HQKT

Nhằm khắc phục những hạn chế của quan điểm truyền thống Quan điểmmới ra đời căn cứ vào tổ hợp các yếu tố:

- Trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào đầu ra Mốiquan hệ này cần phân biệt rõ ba phạm trù: hiệu quả kỹ thuật (technicalefficiency), hiệu quả phân bổ các nguồn lực (Allocative efficiency) vàhiệu quả kinh tế

(Economic efficiency)

+ Hiệu quả kĩ thuật: là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên 1 đơn vịchi phí đầu vào, hiệu quả kĩ thuật được áp dụng phỗ biến trong kinh tế vi mô đểxem xét tình hình sử dụng nguồn lực cụ thể, nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồnlực dùng vào sản xuất đem lại thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm

Trang 5

+ Hiệu quả phân bổ: là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố giá sản phẩm

và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên 1 đồng chiphí thêm về đầu vào hay nguồn lực

+ Hiệu quả kinh tế: là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệuquả kĩ thuật và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật vàgiá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp

- Yếu tố thời gian:

Các nhà kinh tế hiện nay đã coi thời gian là yếu tố trong tính toán hiệuquả Cùng đầu tư một lượng vốn như nhau và cùng có tổng doanh thu bằng nhau nhưng hai dự án có hiệu quả khác do thời gian thu hồi vốn khác nhau

- Hiệu quả tài chính xã hội và môi trường:

Theo quan điểm toàn diện HQKT nên được đánh giá trên ba phươngdiện: Hiệu quả tài chính, xã hội và hiệu quả môi trường Hiệu quả tài chính màtrước đây ta quen gọi là hiệu quả kinh tế thường được thể hiện bằng những chỉtiêu như lợi nhuận, giá thành, tỉ lệ nội hoàn vốn, thời gian hoàn vốn…, hiệuquả xã hội và môi trường thể hiện bằng những chỉ tiêu như việc làm, sự côngbằng xã hội, sự tự lập của cộng đồng và sự được bảo vệ hoặc sự hoàn thiện hơncủa môi

trường sinh thái…

Nhìn chung, các quan điểm trên đều đánh giá hoạt động sản xuất kinhdoanh theo tiêu chí chất lượng nhất định, nhưng hạn chế của những quan điểmtrên đều chưa thể hiện được bản chất của nền kinh tế và bản chất của xã hội,

mà mới chỉ dừng lại xem xét trong phạm vi một doanh nghiệp một đơn vị sảnxuất kinh doanh mang tính chất trực tiếp, chưa gắn bó lợi ích của doanh nghiệp

và lợi ích xã hội, chưa giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và xã

hội

Trang 6

1.1.2 Cơ sở lý luận về biến đổi khí hậu

BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và ( hoặc) dao

động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷhoặc dài hơn Đó là những thay đổi theo thời gian của các hình thái thời tiếttrên toàn thế giới, nhiệt độ trung bình tăng hay còn gọi là sự nóng dần lên củaTrái Đất, tăng nồng độ khí nhà kính hoặc khí Carbon thải ra từ các hoạt độngcủa con người và đọng lại trong khí quyển

Biến đổi khí hậu đã và đang nhận được sự quan tâm của toàn cầu mànguyên nhân là do sự phát thải CO2 và khí nhà kính từ suy thoái rừng, mấtrừng; Hội nghị thay đổi Khí hậu (Climate Change Conference) đã ký thỏa hiệpBali (Indonesia) do Liên Hợp Quốc chủ trì vào ngày 15 tháng 12 năm 2007 với

sự tham gia của 187 Quốc gia thành viên trên thế gới Hội đồng liên chính phủ

về biến đổi khí hậu (The Intergovernmental Panel on Climate Change - IPCC)

dự báo khoảng 1,5 tỷ tấn carbon sẽ phát thải hàng năm do thay đổi sử dụng đấtrừng nhiệt đới, chiếm 1/5 khí CO2 phát thải trên toàn thế giới – nhiều hơn cảphát thải toàn cầu trong ngành giao thông Lần đầu tiên, hội nghị đã nêu lênchương trình giúp đỡ việc hạn chế sự phá hủy vùng rừng nhiệt đới trên thế giới

để giảm thiểu phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính "Giảm thiểu khí phát thải từsuy thoái và mất rừng" (Reducing Emissions from Deforestation andDegradation - REDD) Hội nghị cũng đã chính thức công bố các dự án thửnghiệm cho phép các nước đang phát triển có thể tham gia chương trìnhREDD Theo đó các nước phát triển sẽ đáp ứng một số mục tiêu giảm phát thảicủa nước họ bằng cách mua các tín dụng carbon của các nước đang phát triển

từ những cánh rừng hấp thụ CO2 Một số dự án REDD đang được thực hiện ở

Trang 7

châu Á nhằm mục đích chính thức đưa chương trình này vào nội dung tiếp theocủa Nghị định thư Kyoto bắt đầu từ năm 2013

1.2 Tổng quan nghiên cứu về NLKH

1.2.1 Tổng quan nghiên cứu về NLKH ngoài nước

Đi sâu vào tìm hiểu cội nguồn lịch sử của NLKH King (1987) [26] khẳngđịnh rằng ở Châu Âu thời kỳ Trung Cổ người ta đã phát quang rừng, đốt cànhnhánh và canh tác cây lương thực mục đích là để tận dụng dinh dưỡng của đấtrừng

Du canh được đánh giá là phương thức canh tác cổ xưa nhất lúc này conngười đã tích lũy được ít nhiều những kiến thức sơ đẳng về tự nhiên Loàingười đã vượt qua được các thời kỳ này bằng các cuộc cách mạng về kỹ thuật

và chăn nuôi, trồng trọt, song không phải tất cả các nước mà có không ít cácnước vận động rất chậm trong cuộc cách mạng này

Sau du canh sự ra đời của phương thức Taungya ở vùng nhiệt đới được

xem như là một sự báo trước cho phương thức NLKH sau này Theo Blanford(1858) (dt Phạm Quang Vinh và cs, 2005) [27] nguồn gốc của phương thức này

là từ ngôn ngữ của địa phương Myanma: Taung nghĩa là canh tác, ya là đồi núi, như vậy Taungya là phương thức canh tác trên đất đồi núi, điều đó cũng đồng

nghĩa với phương thức canh tác trên đất dốc

NLKH là một hệ thống sử dụng đất trong đó phối hợp cây lâu năm vớihoa màu và/ hay vật nuôi một cách thích hợp với điều kiện sinh thái và xã hội,theo hình thức phối hợp không gian và thời gian, để gia tăng sức sản xuất tổngthể của thực vật trồng và vật nuôi một cách bền vững trên một đơn vị diện tíchđất, đặc biệt trong các tình huống có kỹ thuật thấp và trên các vùng đất khókhăn [29]

Trang 8

NLKH là tên chung của những hệ thống sử dụng đất trong đó các cây lâunăm (cây gỗ, cọ, tre, hay cây ăn quả, cây công nghiệp ) được trồng có suy tínhtrên cùng 1 đơn vị diện tích qui hoạch đất với hoa màu và/hoặc với vật nuôidưới hệ thống xen theo không gian hay theo thời gian Trong các hệ thốngNLKH có mối tác động hỗ tương qua lại về cả mặt sinh thái lẫn kinh tế

Như vậy bản chất của hệ thống NLKH là hệ thống sử dụng đất để canh tácnông nghiệp nhưng có sự kết hợp giữa cây (hoặc/và) con nông nghiệp với cây lâm nghiệp trên cùng một đơn vị diện tích, đơn vị kinh doanh Tuy nhiên sự kết hợp này có thể diễn ra đồng thời hoặc cũng có thể kế tiếp nhau về mặt

không gian hay thời gian Xét về thành phần một hệ thống NLKH gồm có:

- Các cây thân gỗ sống lâu năm

- Các cây thân thảo (Cây nông nghiệp hoặc cỏ )

- Vật nuôi (gia súc, gia cầm, thủy sản ) [20], [22]

Tóm lại: Mục đích cuối cùng của các hệ thống NLKH là tận dụng triệt

để đất đai về mặt không gian và thời gian cũng như là một biện pháp canh tácbảo vệ đất, vấn đề đặt ra là con người chúng ta sử dụng các hệ thống này nhưthế nào cho hợp lý để canh tác lâu bền trên đất dốc, đó là nhiệm vụ mà các nhàkhoa học cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu

Trang 9

NLKH ở Ấn Độ:

Ấn Độ nổi tiếng thế giới với cuộc ‘‘cách mạng xanh” về canh tác NLKHtrong đó canh tác trong các vườn gia đình, vườn rừng được áp dụng phổ biến.Nhờ cuộc cách mạng này mà Ấn Độ từ một nước đông dân chẳng

những không bị thiếu mà còn xuất khẩu lương thực

NLKH ở Indonesia

Từ 1972 hoạt động NLKH ở nước này do các công ty lâm nghiệp, nôngnghiệp tổ chức và quản lý Việc chọn đất khai hoang để trồng cây lâm nghiệp,nông dân được các cán bộ kỹ thuật công ty hướng dẫn trồng cây lâm nghiệp kếthợp với cây nông nghiệp Sau khi trồng cây nông nghiệp hai năm nông dân bàngiao lại rừng cho công ty, sản phẩm nông nghiệp do họ toàn quyền sử dụng.Với phương thức này tại khu rừng trồng ở Savadan trên diện tích 300 ha người

ta đã thu được 1426 tấn Lúa, 126 tấn Sắn, 73 tấn Ngô và 19,5 tấn Đậu đỗ Tổnggiá trị thành tiền 155.000 USD, thực lãi 116.000 USD (bình

quân 385 USD/ha/ vụ) (dt Phạm Quang Vinh và Cs, 2005) [19]

NLKH ở Philippin

Philippin được nhiều người biết đến với các mô hình canh tác trên đấtdốc (SALT) SALT là phương thức canh tác đồng thời các cây ngắn ngày vớicác cây lâu năm giữa các hàng Keo dậu, các hàng này được trồng rất dày tạo racác băng xanh có tác dụng ngăn chặn dòng chảy, hạn chế xói mòn và cải tạođất Hiện nay SALT đã được phát triển theo nhiều mức độ và loại hình

khác nhau như: SALT 1, SALT 2, SALT 3, SALT 4 [3], [19], [21]

Ngày nay NLKH đang ngày một phát triển mạnh ở nhiều nước trên thếgiới đặc biệt là các nước nhiệt đới và các nước á nhiệt đới [20]

1.2.2 Kết quả nghiên cứu NLKH trong nước và nghiên cứu về cây Sơn tra

Trang 10

1.2.2.1 Kết quả nghiên cứu NLKH trong nước

Người dân miền núi trước đây chủ yếu canh tác theo hình thức du canh, thông thường có hai hình thức du canh:

- Du canh không quay vòng

- Du canh quay vòng [20]

Nghiên cứu về NLKH ở nước ta mới phát triển từ những năm 1960 trởlại đây Theo Nguyễn Trọng Hà, 1996 các công trình nghiên cứu của NguyễnNgọc Bình, Nguyễn Quí Khải, Cao Văn Minh, Nguyễn Xuân Quát, Bùi

Ngạnh 1964 đã xây dựng các thí nghiệm chống xói mòn ở Cầu Hai – Phú Thọ.Tôn Gia Huyên và Cs (1965) (dt Nguyễn Văn Tiễn, 1975) [16] đặt thí nghiệm

và xây mô hình chống xói mòn tại đồi ấp Bắc nông trường Quốc doanh SôngCầu – Bắc Thái đã cho những kết quả khả quan

Năm 1983 – 1985, Nguyễn Văn Tiễn (1988) [16] thí nghiệm trồng xenSắn với Lạc cùng với các băng Cốt khí và hàng rào xanh kết hợp bón phânkhoáng hợp lý trên đất dốc nghèo dinh dưỡng Kết quả cho thấy ngoài việc thuthêm sản phẩm Lạc từ 5,3 – 6,4 tạ/ha và đã làm năng suất Sắn đạt 12,1 – 16,6tấn/ha, thì lượng đất xói mòn đã giảm từ 2,8-4,5 lần so với trồng sắn thuần

Thái Phiên vs Cs (1986) [11] tổng kết kết quả nghiên cứu ‘‘Trong 5 năm của chương trình nhà nước giai đoạn 1980-1985” về ‘‘Áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong công tác khai hoang và chống xói mòn đất mới khai hoang” đã tập hợp các biện pháp sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất đỏ vàng, khai

hoang, phục hóa trên địa bàn đất dốc toàn quốc Nhiều mô hình bảo vệ đấtchống xói mòn trên các loại đất với cơ cấu cây trồng chính được thực hiện

và áp dụng trong sản xuất

Trang 11

Hiện trạng môi trường và quản lý tài nguyên rừng Việt Nam đang nằmdưới những áp lực nặng nề Các hệ sinh thái Việt Nam đang bị phá vỡ, tàinguyên đất rừng, đất và nước đang bị suy thoái trầm trọng, nguồn sống củađồng bào vùng cao chủ yếu vẫn là dựa vào rừng, đốt nương làm rẫy Trong 9triệu người dân tộc ít người thì vẫn có tới 2.879.685 người thuộc 482.612 hộsống bằng phương thức canh tác nương rẫy Trong đó người Tày có 7%, ngườiNùng 16%, người Thái 45%, trừ người Kinh ra còn lại tất cả các dân tộc ítngười khác sống bằng canh tác nương rẫy (dt Lê Trọng Cúc và Cs,

2001) [3]

Ở nước ta đất dốc chiếm tỷ lệ lớn (72% diện tích đất canh tác là đất có

độ dốc), nên cần có phương thức sử dụng và bảo vệ đất dốc trên quan điểm bềnvững Nhiều tác giả đã nghiên cứu về vấn đề này và đưa ra một số biện pháp kỹthuật như sau:

- Ở độ dốc dưới 120 dùng các biện pháp nông nghiệp: trồng xen,trồng gối

- Ở độ dốc từ 12 – 250 có thể dùng các biện pháp: Che phủ bằngthảm thực vật theo phương thức NLKH; Che phủ bằng vật không sống nhưrơm rạ, các tấm nhựa, ni lon; Các biện pháp công trình làm thềm bậc thang,rãnh sườn dốc

- Ở độ dốc trên 250 dùng các biện pháp lâm nghiệp [8], [9]

Tuy nhiên trong thực tế do sức ép về dân số của nước ta, tỷ lệ diện tíchđất canh tác/đầu người thấp nên nhiều nơi nông dân đã trồng độc canh câynông nghiệp ngay trên cả đất có độ dốc trên 250 Vì vậy, việc canh tác NLKH

là giải pháp tốt nhất để canh tác đất dốc lâu bền trong giai đoạn hiện nay ởnước ta [27]

Trang 12

Từ năm 1990 chương trình chuyển giao kỹ thuật canh tác nông nghiệptrên đất dốc SALT đã được triển khai tại Việt Nam, chương trình đã xây dựngđược rất nhiều mô hình, được nông dân chấp nhận, thu nhập từ canh tác SALTcũng được nâng cao Kết quả các thí nghiệm đã khẳng định, canh tác theo môhình SALT giảm đáng kể lượng đất mặt bị xói mòn, ngay trong năm đầu đã hạnchế được từ 50-57% lượng đất bị xói mòn [6].

Trong phong trào phát triển kinh tế đồi rừng hiện nay, các địa phương đã

có nhiều nỗ lực tìm ra các biện pháp canh tác thích hợp vừa tiến hành sản xuấtvừa bảo vệ môi trường đất đai và môi trường sinh thái, nhiều mô hình canh táctiến bộ đã được giới thiệu và áp dụng có kết quả tốt Việc sử dụng hợp lý tàinguyên đất dốc giữa kiến thức lâu đời của người dân địa phương với những kỹthuật tiên tiến theo phương thức NLKH là một phương thức canh tác chiếnlược cần được phổ cập rộng rãi đối với vùng đồi núi [16], [15]

Đặng Văn Minh, (2005) [10] khi nghiên cứu về sự ảnh hưởng tới chấtlượng đất của mô hình sản xuất trang trại NLKH tại trung tâm thực hành, thựcnghiệm, Trường Đại học Nông – Lâm Thái Nguyên đã đưa ra kết luận: Canhtác trên đất dốc theo mô hình trang trại NLKH đã có ảnh hưởng tích cực tớiviệc duy trì chất lượng đất

Đặng Kim Vui và Cs, 2005 [20] khi nghiên cứu về biện pháp kỹ thuậtcải tiến một số mô hình NLKH trên địa bàn huyện Võ Nhai – Thái Nguyên đãchỉ ra: để làm tăng năng suất cây trồng và đảm bảo canh tác lâu bền trên đấtdốc ngoài việc lựa chọn hệ thống cây trồng phù hợp thì cần phải trồng xen cácloài cây cải tạo đất như Cốt khí, Muồng đen, Keo dậu

Trang 13

Như vậy NLKH được tiến hành không chỉ nhằm nâng cao năng suất chosản xuất nông – lâm nghiệp mà còn tạo ra môi trường ổn định sinh thái cho mỗivùng

1.2.2.2 Cây Sơn Tra Yên Bái

Đặc điểm tự nhiên

Tên Việt Nam là Sơn Tra (Táo mèo)

Tên Latin là Docynia indica

Đài có lông màu trắng với 5 thùy hình mũi mác nhọn đầu, mặt ngoài cólông, mặt trong nhẵn Cánh hoa 5, màu trắng mép có mũi nhọn, nhỏ Nhị 30 –

50 Bầu 5 ô, mỗi ô có 3 – 10 noãn, xếp theo chiều dọc của bầu; vòi nhụy 5, hànliền với nhau ở gốc, có lông Quả dạng quả táo, hạt màu đen

- Sinh học: Mùa hoa tháng 3 – 4, mùa quả chin tháng 9 – 10 Táisinh bằng hạt, chồi hoặc chiết cành

- Nơi sống và sinh thái: Cây ưa sáng, mọc rải rác trong rừng hoặcthành quần thể thuần loại trong tràng cây bụi, ven đồi, ở độ cao 1000 – 1500

m

Trang 14

Việt Nam: Lai Châu (Phong Thổ), Lào Cai (Sapa), Cao Bằng, Sơn La(Bắc Yên: Tạ Xùa), Yên Bái

Thế giới: Trung Quốc, Ấn Độ, Mianma, Thái Lan

- Giá trị: Quả chín ăn được Quả tươi dùng chế rượu vang Quảphới khô dung làm nguồn duợc liệu để chế rượu thuốc, nấu cao, có tác dụngbồi bổ sức khỏe, chữa bệnh tim mạnh, huyết áp cao và kính thích tiêu hóa Câynon còn dùng làm gốc ghép cho các, loài táo và lê để tạo giống cây ăn quả Gỗ

có thể đóng đồ dùng gia đình và nông cụ sản xuất

- Tình trạng: Loài hiếm Quả được sử dụng rộng rãi như là nguồndược liệu nên được nhân dân địa phương khai thác hàng năm (đôi khi chặt cảcây) để dùng và bán Chính đó là nguyên nhân dẫn tới việc giảm số lượng cáthể và thu hẹp khu phân bố Mức độ đe dọa: Bậc R [32]

1.2.3 Các kết quả nghiên cứu về tích lũy carbon có liên quan đến đề tài nghiên cứu

1.2.3.1 Trên thế giới

a Nghiên cứu về chu trình carbon toàn cầu

Theo UNEP trong chu trình carbon toàn cầu, lượng carbon lưu trữ trongthực vật thân gỗ và trong lòng đất khoảng 2,5 Tt (bao gồm trong đất, sinh khốitươi và vật rơi rụng), trong khi đó khí quyển chỉ chứa 0,8 Tt Dòng carbon traođổi do sự hô hấp và quang hợp của thực vật là 0,61 Tt và dòng trao đổi giữakhông khí và đại dương là 0,92 Tt

Trang 15

Hình 1.1: Chu trình carbon toàn cầu (Theo UNEP, 2005)

Theo chu trình trên, trong tổng số 5,5 Gt - 6,6 Gt lượng carbon thải ra từcác hoạt động của con người, có khoảng 0,7 Gt được hấp thụ bởi các hệ sinhthái bên trên bề mặt trái đất Hầu hết lượng carbon trên trái đất được tích lũytrong đại dương và các hệ sinh thái rừng, đặc biệt là rừng mưa nhiệt đới

Từ những nghiên cứu trong lĩnh vực này, Woodwell và Pecan (1973)[31] đã đưa ra lượng carbon trong các kiểu rừng trên lục địa, trong đó rừngmưa nhiệt đới có lượng carbon tích trữ lớn nhất khoảng 340 tỷ tấn, đất trồngtrọt thấp nhất 7 tỷ tấn Điều đó chứng tỏ rằng, việc chuyển đổi đất rừng sangđất nông nghiệp sẽ làm mất cân bằng sinh thái, gia tăng lượng khí phát thải gâyhiệu ứng nhà kính

Rừng trao đổi carbon với môi trường không khí thông qua quá trìnhquang hợp và hô hấp Rừng ảnh hưởng đến lượng khí nhà kính theo 4 conđường: carbon dự trữ trong sinh khối và đất, carbon trong các sản phẩm gỗ,chất đốt sử dụng thay thế nguyên liệu hóa thạch [25] Theo ước tính, hoạt độngtrồng rừng và tái trồng rừng trên thế giới có tỷ lệ hấp thu CO2 ở sinh khối trênmặt đất và dưới mặt đất là 0,4 - 1,2 tấn/ha/năm ở vùng cực bắc, 1,5 - 4,5

Trang 16

tấn/ha/năm ở vùng ôn đới, và 4-8 tấn/ha/năm ở các vùng nhiệt đới [24, 25].Brown et al (1996) đã ước lượng, tổng lượng cácbon mà hoạt động trồng rừngtrên thế giới có thể hấp thu tối đa trong vòng 55 năm (1995 - 2050) là vàokhoảng 60 - 87 Gt C, với 70% ở rừng nhiệt đới, 25% ở rừng ôn đới và 5% ởrừng cực bắc (Cairns et al., 1997) Tính tổng lại, rừng, trồng rừng có thể hấpthu được 11 - 15% tổng lượng CO2 phát thải từ nguyên liệu hóa thạch trongthời gian tương đương [23].

b Các phương pháp nghiên cứu lượng carbon tích lũy của rừng

Quá trình biến đổi carbon trong hệ sinh thái được xác định từ cân bằngcarbon, gồm carbon đi vào hệ thống thông qua quang hợp và tiếp thu các chấthữu cơ khác Carbon mất đi từ quá trình hô hấp của thực vật, động vật, lửa,khai thác, sinh vật chết cũng như những quá trình khác Phương pháp điều tracarbon và động thái biến đổi carbon trong rừng nói chung và rừng trồng nóiriêng có thể được tóm tắt thành 4 nhóm lớn dưới đây (IPCC, 2000; Smith,2004):

[25]

- Phương pháp dựa trên đo đếm các bể carbon - Menthods based

on

stock change measurements

- Phương pháp dựa trên đo đếm các dòng carbon - Menthods based

on

flux measurements

- Phương pháp dựa trên công nghệ viễn thám - Menthods based onremote sensing to determine geographical extent and change

- Phương pháp mô hình hoá - Modelling

* Xác định lượng carbon tích luỹ thông qua sinh khối rừng

Trang 17

- Phương pháp 1: Phương pháp tính theo hệ số quy đổi từ sinhkhối khô: Phương pháp này tiến hành khi đã xác định được sinh khối của lâm phần Sau khi xác định sinh khối tươi bằng cách cân ngay tại rừng, tiến hànhlấy mẫu từng bộ phận và đem về phân tích Sau khi đã lấy mẫu, đem về phòngthí nghiệm và sấy khô ở các nhiệt độ 1050 C cho tới khối lượng không đổi thuđược sinh khối khô của các bộ phận Từ tỷ lệ lấy mẫu tính ra được sinh khốikhô/ha

- Phương pháp 2: Phương pháp của NIRI - Viện nghiên cứuNissho

* Xác định lượng carbon trực tiếp

- Phương pháp 1: Phương pháp này sử dụng công nghệ viễn thámGIS với các công cụ như ảnh hàng không, rada, ảnh viễn thám, laze, hệ thốngđịnh vị GPS,… để đo đếm lượng carbon và sự biến đổi của chúng Nó thườngđược áp dụng cho phạm vi quốc gia, vùng và cũng rất phù hợp cho việc kiểmtra, giám sát cá dự án sử dụng đất, chuyển đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF)

- Phương pháp 2: Đo trực tiếp quá trình sinh lý điều khiển cânbằng carbon trong hệ sinh thái Cách này bao gồm việc đo cường độ quang hợp

và hô hấp cho từng thành phần trong hệ sinh thái rừng (lá, cành, thân, rễ), sau

đó ngoại suy ra lượng CO2 tích luỹ trong toàn bộ hệ sinh thái

Trang 18

- Phương pháp 3: Phương pháp này được phát triển trong nhữngnăm gần đây với sự hỗ trợ của kỹ thuật vi khí tượng học (micrometeological techniques)

* Phương pháp xác định lượng carbon trong đất rừng

Mặc dù hầu hết carbon được hấp thụ bởi các hệ sinh thái trên mặt đấtnhưng hơn một nửa số này sẽ được chuyển xuống đất thông qua quá trình phânhuỷ xác hữu cơ, tiết dịch của rễ cây, vì vậy, nghiên cứu về lượng carbon tíchluỹ trong đất là rất quan trọng trong việc xác định lượng carbon hấp thụ bởirừng Carbon trong đất tồn tại ở hai dạng là carbon vô cơ (có nguồn gốc từphong hoá) và carbon hữu cơ có nguồn gốc từ thực vật Lượng carbon vô cơkhoảng 1.700 Pg nhưng ít biến đổi, carbon hữu cơ khoảng 1.400 Pg trong khithảm thực vật chỉ chiếm 650 Pg (Dalas and Carter 2000, Robert 2001).Để phântích carbon trong phòng thí nghiệm hiện nay có hai cách phổ biến nhất là oxihoá hỗn hợp ướt và đốt cháy mẫu khô (Schroth 2003)

c Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 của rừng

Năm 1980, Brown và cộng sự đã sử dụng công nghệ GIS dự tính lượngcarbon trung bình trong rừng nhiệt đới châu Á là 144 tấn/ha trong phần sinhkhối và 148 tấn/ha trong lớp đất mặt với độ sâu 1 m, tương đương 42 - 43 tỷtấn carbon trong toàn châu lục Năm 1991, Houghton R.A đã chứng minhlượng carbon trong rừng nhiệt đới châu Á là 40 - 250 tấn/ha, trong đó 50 - 120tấn/ha ở phần thực vật và đất

Kết quả nghiên cứu của Paml C.A và cộng sự năm 1986 đã cho rằnglượng carbon trung bình trong sinh khối phần trên mặt đất của rừng nhiệt đớichâu Á là 185 tấn/ha và biến động từ 25 - 300 tấn/ha Kết quả nghiên cứu củaBrown (1991) cho thấy rừng nhiệt đới Đông Nam Á có lượng sinh khối trên

Trang 19

mặt đất từ 50 - 430 tấn/ha (tương đương 25 - 215 tấn C/ha) và trước khi có tácđộng của con người thì các trị số tương ứng là 350 - 400 tấn/ha (tương đương

175 - 200 tấn C/ha)

Nghiên cứu sự biến động carbon sau khai thác rừng một số nhà khoa học

đã cho thấy rằng:

- Lượng sinh khối và carbon của rừng nhiệt đới châu Á bị giảm khoảng

22 - 67% sau khai thác (Lasco, 2003)

- Tại Philippines, ngay sau khi khai thác lượng carbon bị mất là 50%, sovới rừng thành thục trước khai thác ở Indonesia là 38 - 75% (Lasco, 2003) -Phương thức khai thác cũng có ảnh hưởng rõ rệt tới mức thiệt hại do khai tháchay lượng carbon bị giảm Bằng việc áp dụng phương thức khai thác giảmthiểu (RIL) tác động ở Sabah (Malaysia) sau khai thác một năm, lượng sinhkhối đã đạt 44 - 67% so với trước khai thác Lượng carbon trong lâm phần saukhai thác theo RIL cao hơn lâm phần khai thác theo phương thức thông thườngđến 88 tấn/ha (Putz F.E & Pinard M.A, 1993)

Subarudi và các cộng sự (2003), nghiên cứu về khả năng hấp thu carboncủa một số loài cây trồng chính ở Indonexia, trên cơ sở đó họ đã xây dựng môhình kinh tế cho các loài cây này, trong đó có loài Keo tai tượng đã đưa ra đượcphương trình tính lượng carbon có trong sinh khối cây với loài Keo tai tượng:

Trang 20

(1.2)

Quá trình sinh trưởng của cây trồng cũng đồng thời là quá trình tích lũy carbon Theo Noordwijk (2000), ở Indonesia khả năng tích lũy carbon ở rừng thứ sinh, các hệ thống nông lâm kết hợp và thâm canh cây lâu năm trung bình là 2,5 tấn/ha/năm và có sự biến động rất lớn trong các điều kiện khác nhau từ 0,5 - 12,5 tấn/ha/năm, rừng Quế 7 tuổi tích luỹ từ 4,49 - 7,19 kg C/ha

Tại Philippines, (1999) Lasco R cho thấy ở rừng tự nhiên thứ sinh có

86 - 201 tấn C/ha trong phần sinh khối trên mặt đất; ở rừng già con số đó là

370 - 520 tấn sinh khối/ha (tương đương 185 - 260 tấn C/ha, lượng carbon ướcchiếm 50% sinh khối) Nghiên cứu của Lasco năm 2003 cũng cho thấy rừngtrồng thương mại cây mọc nhanh tích luỹ được 0,5 - 7,82 tấn C/ha/năm

tuỳ theo loài cây và tuổi

1.2.3.2 Ở Việt Nam

Tác giả Vũ Tấn Phương, 2009 trong báo cáo chuyên đề sinh khối và trữlượng carbon rừng trồng đã đưa ra một số phương pháp xác định trữ lượng carbon như sau:

- Phương pháp dựa trên sinh khối của rừng

- Phương pháp dựa trên điều tra rừng thông thường

- Phương pháp dựa trên điều tra thể tích

- Phương pháp dựa trên các nhân tố điều tra lâm phần

- Phương pháp dựa trên số liệu cây cá lẻ

- Phương pháp dựa trên vật liệu khai thác

- Phương pháp dựa trên mô hình sinh trưởng

- Phương pháp dựa trên công nghệ viễn thám và Hệ thốngthông tin địa lý (GIS)

Trang 21

Ngô Đình Quế và cộng sự (2005) khi Nghiên cứu, xây dựng các tiêu chí,chỉ tiêu trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch ở Việt Nam đã tiến hành đánhgiá khả năng hấp thụ CO2 thực tế của một số loại rừng trồng ở Việt Nam gồm:Thông nhựa, Keo lai, Keo tai tượng, Keo lá tràm và Bạch đàn Uro ở các tuổikhác nhau Kết quả tính toán cho thấy khả năng hấp thụ CO2 của các lâm phầnkhác nhau tuỳ thuộc vào năng suất lâm phần đó ở các tuổi nhất định Để tíchluỹ khoảng 100 tấn CO2/ha Thông nhựa phải đến tuổi 16 - 17, Thông mã vĩ vàThông 3 lá ở tuổi 10, Keo lai 4 - 5 tuổi, Keo tai tượng 5 - 6 tuổi, Bạch đàn uro

ở tuổi 4-5 Kết quả này là rất quan trọng nhằm làm cơ sở cho việc quy hoạchvùng trồng, xây dựng các dự án trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch CDM.Tác giả đã lập phương trình tương quan hồi quy - tuyến tính giữa yếu tố lượngCO2 hấp thụ hàng năm với năng suất gỗ và năng suất sinh học Từ đó tính rađược khả năg hấp thụ CO2 thực tế ở nước ta đối với 5 loài cây trên.[13]

Nghiên cứu lượng carbon tích luỹ của một số trạng thái rừng trồng tạiNúi Luốt trường Đại học Lâm nghiệp Nghiên cứu này do Nguyễn Văn Dũngthực hiện năm 2005 tại Núi Luốt- Trường Đại học Lâm nghiệp cho hai đốitượng là rừng trồng thuần loài Thông mã vĩ 20 tuổi và rừng trồng Keo lá tràm

15 tuổi năm 2005 Sau khi nghiên cứu sinh khối tiến hành tính toán lượngcacbon tích luỹ ở hai trạng thái rừng trồng như sau:

Coi toàn bộ khối lượng gỗ khô kiệt là xenlulô có công thức (C6H10O5)n Từ đó tỷ lệ carbon/gỗ khô được tính là:

Ta có H = (12x6)/(12x6 + 1x10 + 16x5)

Lượng carbon tích luỹ trong cây = sinh khối khô của cây x H

Lượng carbon trong vật rơi rụng = sinh khối khô của vật rơi rụng x H

Trang 22

Lượng carbon tích luỹ trong đất được xác định bằng cách: Đối với mỗitrạng thái rừng trồng, ta chọn một vị trí đại diện, đào phẫu diện lấy 4 mẫu đấttheo độ sâu: 0-10cm, 10-30cm, 30- 50cm, 50-70cm Sau đó phân tích hàmlượng cacbon trong từng mẫu đất và tính toán trung bình lượng cacbon của mỗiloại rừng [4].

Võ Đại Hải (2007) Nghiên cứu khả năng hấp thụ carbon của rừng Mỡtrồng thuần loài tại vùng Trung tâm Bắc bộ theo phương pháp thu thập mẫu cây

cá thể Mỡ: Trên mỗi OTC, tiến hành đo đếm toàn diện các chỉ tiêu sinh trưởngD1.3 , Hvn , Dtán từ đó chọn ra cây tiêu chuẩn Tiến hành chặt hạ cây tiêuchuẩn và phân thành các bộ phận: Lá, cành, thân, đào lấy toàn bộ rễ có đườngkính lớn hơn 2 mm Mỗi bộ phận được cân tươi ngay tại rừng rồi lấy mẫu đem

về phân tích trong phòng thí nghiệm

Thu thập mẫu cây bụi thảm tươi: tại mỗi ô thứ cấp, tiến hành chặt và đàolấy rễ của toàn bộ cây bụi thảm tươi rồi phân chia thành các bộ phận thân,cành, lá, rễ Cân tươi các bộ phận ngay tại hiện trường, lấy mẫu đem về phân tích trong phòng thí nghiệm

Thu thập mẫu vật rơi rụng: Tại mỗi ô dạng bản, thu gom toàn bộ vật rơirụng, cân tại chỗ khối lượng tươi sau đó tính trung bình cho 1 m2 Trộn đều vậtrơi rụng, lấy mỗi ÔTC 1 mẫu đem về phân tích trong phòng thí nghiệm Kếtquả nghiên cứu cho thấy lượng cacbon tích lũy trong tầng cây gỗ lâm phầnrừng trồng Mỡ thay đổi rõ rệt theo cấp đất và cấp tuổi Cấu trúc carbon cây cáthể Mỡ là thân (54-80%), rễ (14-30%), cành (3-11%), lá (1-6%) Tổng lượngcacbon tích lũy trong lâm phần rừng trồng Mỡ dao động khá lớn từ 40.933-145.041 kg, bao gồm 4 thành phần chính là carbon trong đất (3875%), trong

Trang 23

tầng cây gỗ (19-60%), trong vật rơi rụng 1,56-7,91% và carbon trong cây bụithảm tươi 0,21-3,25%

Ngô Đình Quế (2005) cho biết, với tổng diện tích là 123,95 ha sau khitrồng Keo lai 3 tuổi, Quế 17 tuổi, Thông 3 lá 15 tuổi, Keo lá tràm 12 tuổi thìsau khi trừ đi tổng lượng C của đường cơ sở, lượng C thực tế thu được qua việctrồng rừng theo dự án CDM là 7.553,6 tấn C hoặc 27.721,9 tấn CO2 [13]

Nguyễn Ngọc Lung và Nguyễn Tường Vân (2004) đã thử nghiệm tínhtoán giá trị giá trị bằng tiền của rừng trồng trong cơ chế phát triển sạch Dựa vào công thức tổng quát của quá trình quang hợp cho rừng cây là:

Vũ Tấn Phương (2006) tính toán trữ lượng carbon trong sinh khối thảmtươi cây bụi tại Hòa Bình và Thanh Hóa là 20 tấn/ha với lau lách, 14 tấn/ha vớicây bụi cao 2-3 m, khoảng 10 tấn/ha với cây bụi dưới 2m và tế guột, 6,6 tấn/havới cỏ lá tre, 4,9 tấn/ha với cỏ tranh, cỏ chỉ/cỏ lông lợn là 3,9 tấn/ha Đây làmột kết quả nghiên cứu rất quan trọng không những chỉ đóng góp cho phươngpháp luận nghiên cứu sinh khối cây bụi thảm tươi mà còn là căn cứ khoa học

để xây dựng kịch bản đường cơ sở cho các dự án trồng rừng CDM sau này.[12]

Các tác giả thường thiết lập mối quan hệ giữa lượng carbon tích lũy củarừng với các nhân tố điều tra cơ bản như đường kính, chiều cao vút ngọn, mậtđộ, cụ thể như Nguyễn Văn Dũng (2005) đã lập phương trình cho 2 loài

Trang 24

Thông mã vĩ và Keo lá tràm; Ngô Đình Quế (2005) đã xây dựng mối quan hệcho các loài Thông nhựa, Keo lai, Keo tai tượng, Keo lá tràm, Bạch đàn Uro;

Vũ Tấn Phương (2006) xây dựng các phương trình quan hệ cho Keo lai, Keotai tượng, Keo lá tràm, Bạch đàn Urophylla, Quế Đây là những cơ sở quantrọng cho việc xác định nhanh lượng carbon tích lũy của rừng trồng nước tathông qua điều tra một số chỉ tiêu đơn giản

Những nghiên cứu về khả năng hấp thụ CO2 của rừng ở nước ta mới chỉđược tiến hành trong một vài năm trở lại đây Song những kết quả thu đượcbước đầu là rất lớn, có giá trị và phần nào đã phản ánh được khả năng hấp thụcarbon của rừng nước ta Có thể tổng kết những kết quả nghiên cứu đó nhưsau:

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Dũng (2005) tại Núi Luốt Đại học Lâm nghiệp cho thấy rừng thông mã vĩ thuần loài 20 tuổi lượng có carbon tích luỹ là 80,7 - 122 tấn/ha; giá trị tích luỹ carbon ước tính đạt 25,8 -39,0 triệu đồng/ha Rừng Keo lá tràm trồng thuần loài 15 tuổi có tổng lượngcarbon tích luỹ là 62,5 - 103,1 tấn/ha; giá trị tích luỹ carbon ước tính đạt 20 -

-33 triệu đồng/ha Tác giả cũng đã xây dựng bảng tra lượng carbon tích luỹ củahai trạng thái rừng trồng keo lá tràm và thông mã vĩ theo mật độ, Dg và HL Nguyễn Duy Kiên (2007) trong đề tài “Nghiên cứu khả năng hấp thụcarbon rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium) thuần loài tại TuyênQuang”, kết quả nghiên cứu cho thấy, lượng carbon hấp thụ có trong cây cá thểtăng dần theo tuổi và giảm dần từ cấp đất tốt tới cấp đất xấu Năng lực hấp thụcarbon ở các bộ phận thân cây là khác nhau Tổng lượng carbon hấp thụ

có trong lâm phần trung bình đạt 130,38 tấn/ha.[7]

Trang 25

Cho tới nay một số loài cây trồng rừng chủ yếu ở nước ta như Keo taitượng, Mỡ, Thông đuôi ngựa, Thông nhựa, Keo lai,… đã được nghiên cứu lậpbiểu cấp đất, thể tích, quá trình sinh trưởng và sản lượng rừng,… như Vũ TiếnHinh (1999-2000), Đào Công Khanh (1999-2001), Lê Huy Cường (1999), VũNhâm (1995),… Đây là những cơ sở quan trọng cho việc triển khai nghiên cứusinh khối và tính toán lượng carbon hấp thụ cho các loại rừng trồng ở nước ta.Một số kết quả nghiên cứu của các loài trên như sau:

+ Trong cây cá thể Thông mã vĩ, lượng carbon chủ yếu tập trung ở phầnthân cây và dao động trong khoảng từ 29,3-73,2% (trung bình 57,0%); tiếp đến

là cành cây chiếm từ 7,7 30,1% (trung bình 18,2%); rễ cây chiếm từ 5,8 15,5% (trung bình 9,9%); lượng carbon trong lá dao động từ 1,9 - 26,7% (trung bình 9,0%) và thấp nhất là lượng carbon trong vỏ cây, dao động từ 2,6 -13,5% (trung bình là 5,9%) Quá trình hấp thụ carbon trong cây cá thể tăng dầntheo thời gian Tính trung bình cho cả 3 cấp đất, ở tuổi 10, lượng carbon trongcây cá thể tăng gấp 4,4 lần so với tuổi 5 và ở tuổi 30 lượng carbon hấp thụ đãtăng gấp 45 lần so với tuổi 5 Tại tuổi 30, tổng lượng carbon trong cây cá thểThông mã vĩ đạt 226,5 kg/cây ở cấp đất I, 220,8 kg/cây ở cấp đất II và 186,8kg/cây ở cấp đất III (Đặng Thịnh Triều, 2010)

-+ Trong cây cá thể Keo lai lượng carbon tập trung vào phần lớn ở thâncây và dao động trong khoảng từ 20,10 - 70,59 % (trung bình 47,28%); tiếpđến là rễ cây chiếm từ 9,74 - 30,54 % (trung bình 17,87%); cành cây chiếm từ8,08 - 25,25% (trung bình 16,46%); lượng carbon trong lá dao động từ 2,95 -31,12% (trung bình 13,03%) và thấp nhất là lượng carbon trong vỏ cây, daođộng từ 3,80 - 8,33% (trung bình là 5,37%) Tổng lượng carbon hấp thụ trongcây bụi thảm tươi trên 1 ha rừng trồng Keo lai dao động khá lớn từ 0,21 - 2,31

Trang 26

tấn/ha (trung bình là 1,00 tấn/ha) Tuy nhiên, sự dao động của tổng lượngcarbon hấp thụ trong cây bụi, thảm tươi không theo những quy luật rõ ràng vì

nó phụ thuộc nhiều vào nhiều yếu tố như biện pháp chăm sóc, độ tàn che tầngcây cao,… Lượng carbon trong vật rơi rụng dưới tán rừng trồng Keo lai tậptrung phần lớn ở lá + hoa + quả và chiếm trung bình 64,95%, phần còn lại làcủa cành vật rơi rụng Tổng lượng carbon trong vật rơi rụng dao động từ 0,49 -4,96 tấn/ha và trung bình là 2,17 tấn/ha Nhìn chung, lượng carbon trong vậtrơi rụng dưới tán rừng trồng Keo lai dao động không theo quy luật rõ ràng và

nó phụ thuộc rất nhiều vào biện pháp tác động của con người, súc vật, độ dốc

và tốc độ phân giải vật rơi rụng dưới tán rừng [7]

+ Trong rừng trồng Bạch đàn urophylla, lượng carbon hấp thụ bao gồm 4 phần: carbon trong tầng cây gỗ, cây bụi thảm tươi, vật rơi rụng và trong đất rừng, trong đó lượng carbon chủ yếu tập trung trong đất rừng: chiếm từ 32,80

- 92,03% (trung bình là 63,66%); tiếp đến là carbon trong tầng cây gỗ chiếm 1,63 - 61,55% (trung bình là 31,03%); carbon trong vật rơi rụng chiếm từ 1,40

- 5,97% (trung bình là 3,56%); thấp nhất là carbon trong cây bụi thảm tươi chỉchiếm từ 0,45 - 2,79, (trung bình là 1,75%) Tổng lượng carbon hấp thụ trongmột ha rừng trồng Bạch đàn urophylla là rất lớn và dao động trong khoảng từ35,50 - 95,64 tấn/ha (trung bình là 58,72 tấn/ha) Trong cùng một cấp đất, khituổi lâm phần tăng lên thì lượng carbon hấp thụ trong lâm phần cũng có xuhướng tăng lên Tuy nhiên, trong một số trường hợp do ảnh hưởng của mật độcây rừng hiện tại và mức độ tác động của con người dẫn đến tuổi rừng cao hơnnhưng carbon hấp thụ trong lâm phần lại thấp hơn (Võ Đại Hải và cộng

sự, 2009)

Trang 27

Kết quả nghiên cứu cho thấy giữa carbon và sinh khối khô cây cá lẻ Mỡthực sự tồn tại mối quan hệ rất chặt chẽ ở dạng phương trình lnC = a0 + a1.lnP,các phương trình lập được đều có hệ số tương quan rất cao (R = 0,99) và saitiêu chuẩn rất thấp Kiểm tra sự tồn tại của R2 và hệ số a1 đều cho Sig.F vàSig.Ta1 nhỏ thua 0,05 Qua các phương trình trên cũng nhận thấy tỷ lệ carbontrong sinh khối khô cây cá lẻ Mỡ dao động không nhiều theo các cấp đất, cấptuổi và vị trí khác nhau trên cây Từ những kết quả nghiên cứu này, người ta cóthể xác định lượng carbon tích lũy trong thân cây cá lẻ Mỡ

thông qua sinh khối khô với độ chính xác cao [14]

Khả năng hấp thụ carbon của rừng tự nhiên cũng được quan tâm nghiêncứu Vũ Tấn Phương (2006) đã nghiên cứu trữ lượng carbon theo các trạng tháirừng cho biết: rừng giàu có tổng trữ lượng carbon 694,9 - 733,9 tấn CO2/ha;rừng trung bình 539,6-577,8 tấn CO2/ha; rừng nghèo 387,0-478,9 tấn CO2/ha/;rừng phục hồi 164,9 - 330,5 tấn CO2/ha và rừng tre nứa là 116,5 - 277,1 tấnCO2/ha

Theo Hoàng Xuân Tý (2004), nếu tăng trưởng rừng đạt 15 m3/ha/năm,tổng sinh khối tươi và chất hữu cơ của rừng sẽ đạt được xấp xỉ 10 tấn/ha/nămtương đương 15 tấn CO2/ha/năm, với giá thương mại cacbonic tháng 5/2004biến động từ 3-5 USD/tấn CO2, thì một ha rừng như vậy có thể đem lại 45-75USD (tương đương 675.000 - 1.120.000 đồng Việt Nam) mỗi năm

Từ những kết quả phân tích có thể đưa ra một số kết luận chính như

sau:

- Biến đổi khí hậu đang diễn ra hết sức phức tạp trên toàn cầu BĐKH hiện đang nhận được sự quan tâm của nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế Nguyên nhân của BĐKH là do sự gia tăng nhanh chóng nồng độ KNK trong khíquyển, trong đó việc thay đổi sử dụng đất do các hoạt động phá rừng đóng

Trang 28

góp tới 20% tổng lượng phát thải KNK toàn cầu

Các kịch bản BĐKH đã được xây dựng trên thế giới và ở Việt Nam, làm

cơ sở cho dự báo BĐKH toàn cầu Thông qua các kịnh bản có thể hình dung rahình ảnh của toàn trái đất sau 90 năm nữa và điều đáng buồn là nó không phải

là một hành tinh xanh mà là một hành tinh chết nếu ngay bây giờ con ngườikhông có những hành động kịp thời và đúng đắn để ngăn chặn thảm họa ấy

Tác động của BĐKH là rất lớn và rừng có vai trò to lớn trong việc giảmthiểu phát thải KNK Một số cơ chế thương mại các bon đã được đưa ra nhằmgia tăng diện tích rừng và ngăn ngừa các hoạt động phá rừng và chuyển đổi rừng Tiềm năng mua bán các bon trong lâm nghiệp đang được quan tâm pháttriển

Trên thế giới: Các phương pháp và các công trình nghiên cứu về khảnăng hấp thụ CO2 được tiến hành khá đồng bộ ở nhiều lĩnh vực khác nhau từnghiên cứu cơ bản tới các nghiên cứu ứng dụng, trong đó nghiên cứu khả nănghấp thụ carbon của rừng được nhiều tác giả quan tâm trong những năm gầnđây Các phương pháp nghiên cứu về vấn đề này cũng khá đa dạng và đượchoàn thiện dần và bước đầu đã đạt được những kết quả đáng kể Những kết quảtrên là nguồn tài liệu tham khảo và là cơ sở khoa học cho những nghiên cứutiếp theo về vấn đề này trên thế giới trong những năm qua

Ở Việt Nam: Các phương pháp và các công trình nghiên cứu về khảnăng hấp thụ CO2 vẫn còn là một vấn đề mới mẻ, mới bắt đầu tiến hành từ mộtvài năm trở lại đây tuy nhiên cũng đạt được những thành tựu đáng kể trongviệc xác định sinh khối và khả năng hấp thụ carbon của rừng Tuy nhiên, hầuhết các công trình nghiên cứu mới chỉ tập trung ở đối tượng rừng trồng thuầnloài, đều tuổi có cấu trúc đơn giản Đối với rừng tự nhiên, do có cấu trúc hếtsức phức tạp về cả tổ thành loài cây, tuổi, nên việc nghiên cứu khả năng hấp

Trang 29

thụ carbon của đối tượng rừng này là rất khó khăn và còn rất ít được thực hiện

và đây được xem là một khoảng trống rất lớn cần phải quan tâm nghiên cứutrong thời gian sắp tới nhằm cung cấp cơ sở khoa học cũng như thực tiễn trongviệc thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng cũng như tham gia vào thịtrường tín chỉ carbon của thế giới

1.2.4 Đánh giá về tổng quan nghiên cứu

Trên thế giới hiện nay NLKH ngày càng phát triển và thực sự là phươngthức canh tác mang lại hiệu quả nhiều mặt cho người dân vùng đồi núi Cácnhà khoa học trên thế giới đã tập trung nghiên cứu hệ thống canh tác ở vùngđồi núi theo hướng đa dạng hóa cây trồng, bảo vệ đất, chống xói mòn, xâydựng hệ thống canh tác lâu bền trên đất dốc trong đó chủ yếu bằng các phươngthức NLKH Hệ canh tác nương rẫy, vườn rừng NLKH mà trong đó các thànhphần gồm cây lâm nghiệp, cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày được đưa vàokinh doanh trong các hộ gia đình góp phần tăng thu nhập và bảo vệ đất đai[28], [32]

NLKH trên thế giới đã được hình thành và phát triển từ khá lâu và ngày càng được các nhà khoa học quan tâm, đi sâu nghiên cứu để tìm ra những giải pháp và hướng đi đúng đắn trong việc tái sử dụng nguồn tài nguyên đất dốc

Tại Việt Nam với đặc điểm địa hình chủ yếu là đồi núi cho nên NLKHhướng tới việc phát triển các phương thức canh tác trên đất dốc Các dự án chokhu vực miền núi và các đề tài nghiên cứu cũng tập trung cho phát triển các môhình kinh doanh tận dụng tối đa tiềm năng đất đai và đồng thời quan

tâm tới giảm thiểu xói mòn rửa trôi trong quá trình canh tác

- Biến đổi khí hậu đang diễn ra hết sức phức tạp trên toàn cầu BĐKH hiện đang nhận được sự quan tâm của nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế

Trang 30

Nguyên nhân của BĐKH là do sự gia tăng nhanh chóng nồng độ KNK trong khíquyển, trong đó việc thay đổi sử dụng đất do các hoạt động phá rừng đóng góp tới 20% tổng lượng phát thải KNK toàn cầu

Các kịch bản BĐKH đã được xây dựng trên thế giới và ở Việt Nam, làm

cơ sở cho dự báo BĐKH toàn cầu Thông qua các kịnh bản có thể hình dung rahình ảnh của toàn trái đất sau 90 năm nữa và điều đáng buồn là nó không phải

là một hành tinh xanh mà là một hành tinh chết nếu ngay bây giờ con ngườikhông có những hành động kịp thời và đúng đắn để ngăn chặn thảm họa ấy

Tác động của BĐKH là rất lớn và rừng có vai trò to lớn trong việc giảmthiểu phát thải KNK Một số cơ chế thương mại các bon đã được đưa ra nhằmgia tăng diện tích rừng và ngăn ngừa các hoạt động phá rừng và chuyển đổi rừng Tiềm năng mua bán các bon trong lâm nghiệp đang được quan tâm pháttriển

Trên thế giới: Các phương pháp và các công trình nghiên cứu về khảnăng hấp thụ CO2 được tiến hành khá đồng bộ ở nhiều lĩnh vực khác nhau từnghiên cứu cơ bản tới các nghiên cứu ứng dụng, trong đó nghiên cứu khả nănghấp thụ carbon của rừng được nhiều tác giả quan tâm trong những năm gầnđây Các phương pháp nghiên cứu về vấn đề này cũng khá đa dạng và đượchoàn thiện dần và bước đầu đã đạt được những kết quả đáng kể Những kết quảtrên là nguồn tài liệu tham khảo và là cơ sở khoa học cho những nghiên cứutiếp theo về vấn đề này trên thế giới trong những năm qua

Ở Việt Nam: Các phương pháp và các công trình nghiên cứu về khảnăng hấp thụ CO2 vẫn còn là một vấn đề mới mẻ, mới bắt đầu tiến hành từ mộtvài năm trở lại đây tuy nhiên cũng đạt được những thành tựu đáng kể trongviệc xác định sinh khối và khả năng hấp thụ carbon của rừng Tuy nhiên, hầu

Trang 31

hết các công trình nghiên cứu mới chỉ tập trung ở đối tượng rừng trồng thuầnloài, đều tuổi có cấu trúc đơn giản Đối với rừng tự nhiên, do có cấu trúc hếtsức phức tạp về cả tổ thành loài cây, tuổi, nên việc nghiên cứu khả năng hấpthụ carbon của đối tượng rừng này là rất khó khăn và còn rất ít được thực hiện

và đây được xem là một khoảng trống rất lớn cần phải quan tâm nghiên cứutrong thời gian sắp tới nhằm cung cấp cơ sở khoa học cũng như thực tiễn trongviệc thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng cũng như

tham gia vào thị trường tín chỉ carbon của thế giới

Tích lũy carbon là vấn đề đang được thế giới quan tâm rất lớn, đây cũng

là cơ hội cho những người sống bằng nghề rừng có thêm nguồn thu khác ngoàinhững thu nhập truyền thống từ rừng Góp phần phát triển nghề rừng một cáchbền vững, xóa đói, giảm nghèo giúp nguời dân xây dựng một môi trường sống

an toàn, đặc biệt ở những nước đang phát triển Tích lũy carbon và khả nănghấp thụ CO2 là những vấn đề đã được thế giới quan tân từ rất sớm Các đề tàinghiên cứu đã có những thành tựu nổi bật và xây dựng được những hệ thốngphương pháp luận tiên tiến`trong nghiên cứu sinh khối và khả năng tích lũycarbon

Ở Việt Nam các vấn đề nghiên cứu về sinh khối, khả năng tích lũycarbon và hấp thụ CO2 được quan tâm khá muộn so với thế giới Tuy nhiên đâylại là vấn đề đang nhận được sự quan tâm rất lớn của toàn xã hội Nhữngnghiên cứu tại Việt Nam cũng đạt được những thành tựu đáng khích lệ Kế thừanhững kết quả nghiên cứu trong nước và trên thế giới để xác định lượng carbontích lũy tại các mô hình trồng Sơn tra của tỉnh Yên Bái, vấn đề được quan tâm

ở đây là sự bền vững của mô hình dựa trên nhiều góc độ khác nhau, hiệu quả

về kinh tế, phù hợp với cộng đồng và sự bền vững với môi trường Để có thể

Trang 32

đánh giá và so sánh một cách khách quan và toàn diện nhất giữa các mô hìnhnghiên cứu từ đó để chọn ra mô hình phù hợp nhất để phát triển và mở rộng tạiđịa phương Chính vì những lý do đó đã khẳng định sự cần thiết của luận vănnghiên cứu

1.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

1.3.1 Điều kiện tự nhiên

1.3.1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Trạm Tấu

* Vị trí địa lý

Trạm Tấu là huyện vùng cao nằm phía Tây của tỉnh Yên Bái, có toạ độđịa lý từ 21021’ - 21040’ Vĩ độ Bắc; 104017’ - 104040’ Kinh độ Đông, với độcao địa hình từ 590 – 2.985 m so với mặt nước biển

- Phía Bắc và Đông giáp huyện Văn Chấn

- Phía Nam giáp huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La

- Phía Tây Nam giáp huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La

- Phía Tây giáp huyện Mường La, tỉnh Sơn La

- Phía Tây Bắc giáp huyện Mù Cang Chải

Toàn huyện có 12 đơn vị hành chính, trong đó có 1 thị trấn và 11 xãvùng cao đặc biệt khó khăn Với tổng diện tích tự nhiên của huyện là

74.333,60 ha, chiếm 10,80% diện tích tự nhiên toàn tỉnh

* Địa hình, địa mạo

Trạm Tấu là huyện vùng cao của tỉnh Yên Bái, nằm ở sườn Đông dãy PúLuông thuộc dãy Hoàng Liên Sơn, có độ cao trung bình khoảng 1.300 m so vớimặt nước biển, điểm cao nhất là đỉnh Pu Luông cao 2.985m, điểm thấp nhất làthị trấn Trạm Tấu cao 590m so với mặt nước biển Địa hình huyện Trạm Tấuđược chia thành 2 khu vực rõ rệt:

Trang 33

- Khu vực đồng bằng và đồi núi thấp: chủ yếu là đồi núi thấp xen

kẽ là các thung lũng bằng phẳng, là khu vực có độ cao từ 590 – 900m

- Khu vực đồi núi cao: địa hình chủ yếu của huyện Trạm Tấu làđồi núi cao, hiểm trở, mức độ chia cắt mạnh, có nhiều núi đá dốc, khe lạch, vựcsâu, nhiều nơi tạo thành vách đứng dễ gây sạt lở, trượt khối

* Khí hậu

Huyện Trạm Tấu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, về cơ bản khí hậuhình thành 2 mùa rõ rệt:

- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm

- Mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau

- Nhiệt độ trung bình năm biến đổi từ là 22- 230C Tháng cónhiệt độ cao nhất là tháng 7, trung bình khoảng 280C Tháng có nhiệt độthấp nhất là

tháng 1, trung bình khoảng 130C

- Lượng mưa bình quân hàng năm là 1.427mm, tập trungchủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10 Tháng có lượng mưa trung bình caonhất là tháng 8 với 275 mm/tháng, tháng có lượng mưu trung bình thấpnhất là tháng 12 khoảng

15 mm/tháng

* Thuỷ văn

Do không có hệ thống sông lớn, chế độ thuỷ văn của Trạm Tấu chủ yếu chịu ảnh hưởng của hệ thống suối và khe nằm trên toàn huyện Toàn huyện có gần 30 con suối và khe chạy từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông xuyên qua các xã tạo thành mạng lưới thuỷ hệ chằng chịt

Trang 34

1.3.1.2 Điều kiện tự nhiên huyện Mù Cang Chải *

Huyện có các mặt tiếp giáp như sau:

- Phía Bắc giáp tỉnh Lao Cai

- Phía Đông giáp huyện Văn Chấn, huyện Văn Yên, huyệnTrạm Tấu tỉnh Yên Bái

- Phía Nam giáp tỉnh Sơn La

- Phía Tây giáp tỉnh Lai Châu

* Đặc điểm địa hình

Huyện Mù Cang Chải là một huyện vùng núi cao của tỉnh Yên Bái Địahình bị chia cắt mạnh, hiểm trở độ dốc cao, độ cao tuyệt đối lớn, các lô thiết kếđều nằm trong vùng xung yếu và rất xung yếu phía Tây của tỉnh Yên Bái Độdốc bình quân 32o Độ cao tuyệt đối trung bình 1.000 - 1.700m, là địa hình núiđất có xen đá lộ đầu với tỷ lệ 5 - 10%

* Đặc điểm khí hậu

Nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa Theo tài liệu khí hậuthuỷ văn của trạm khí tượng huyện Mù Cang Chải theo dõi qua nhiều nămcung cấp:

- Nhiệt độ không khí bình quân cả năm là 19,60C, tháng có nhiệt

độ cao nhất là tháng 4 (32,50C) Tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1 (40C)

- Lượng mưa cả năm là 14.840 mm

- Ẩm độ không khí bình quân là 81%, tháng có ẩm độ cao nhất làtháng 8: 86%, tháng có ẩm độ thấp nhất là tháng 2 - 3: 35%

Trang 35

* Đất đai

Huyện Mù Cang Chải nằm ở phía Đông của dẫy Hoàng Liên Sơn, dẫynúi này được cấu tạo bằng các loại đá có nguồn gốc Mácma phun trào axít nhưTuf, Ryolit, Ortofia và là những loại đá cứng, khó phong hóa tầng mẫu chấtmỏng Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới núi cao âm ẩm, các loại

đá này đều có vỏ phong hoá khá dầy ở chân núi Nhưng do ở sườn và đỉnh bịnước mặt hoạt động dữ dội nên tốc độ phong hoá không bù lại được với tốc độxâm thực, đá gốc thường lộ ra và tầng phong hoá rất mỏng Điều đó tạo cho núi

có đỉnh nhọn và sắc Bản thân các dẫy núi được hình thành do vận động tạo núiCalcendon, các khối xâm nhập nhô lên cao hơn, làm tăng cường khả năng xâmthực của nước Dựa vào các đường nứt nẻ lớn sẵn có trong đá Mácma, các sôngsuối cứ dần dần cắt xẻ vào khối núi này, tạo cho sườn núi có độ dốc rất lớn,dựng đứng xuống tận chân núi

* Thuỷ văn

Nền địa hình của huyện trên 1.700m Các hệ suối trong vùng bắt nguồn

từ các đỉnh núi cao trên 2.000 - 2.400m Nhìn chung, mạng lưới suối phân bốkhá đều đặn và dầy, mật độ trung bình từ 1,5 - 2.0 km/km2 Vì vậy hệ thốngsuối ở Mù Cang Chải cung cấp đủ nước quanh năm cho Động vật rừng sinhsống

* Thảm thực vật và hệ động vật rừng:

- Thảm thực vật rừng: Đây là kiểu rừng nhiệt đới thường xanh, vớiđặc điểm đa dạng loài, nhiều tầng tán cây gỗ dây leo và bụi rậm, không đồngtuổi Các loài cây chủ yếu bao gồm: Vối Thuốc, Pơ Mu, Giổi, Sến, Kháo, Sang,Lòng Trứng, Mận Rừng…

- Hệ động vật rừng: Do hệ sinh thái rừng bị con người tác độngmạnh cộng với nạn săn bắt động vật rừng những năm trước đây nên số lượngloài, số lượng cá thể động vật rừng của xã bị suy giảm nghiêm trọng Hiện nay

Trang 36

còn tồn tại loài động vật như: Hươu, Nai, Sơn Dương, Vượn, Lợn rừng, Cầy,Cáo, Gà Lôi, Gà Rừng và một số loài chim, bò sát, ếch nhái…đặc biệt cóVượn đen tuyền là loài đang được bảo tồn tại Khu bảo tồn Loài - Sinh cảnh

Mù Cang Chải

1.3.2 Kinh tế - Xã hội

1.3.2.1 Kinh tế - Xã hội huyện Trạm Tấu

* Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2006 – 2010 đạt11,50%(1) Trong đó: Nông – lâm nghiệp, thủy sản tăng 8,17%; công nghiệp -xây dựng tăng 15,05%; thương mại – dịch vụ tăng 13,25%

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Nông - lâm nghiệp,thủy sản năm 2010 là 60,25%, giảm 4,35% so với năm 2006; công nghiệp - xâydựng năm 2010 là 20,00%, tăng 2,90% so với năm 2006; thương mại, dịch vụnăm 2010 là 19,75% tăng 1,45% so với năm 2006

Riêng đối với ngành lâm nghiệp giá trị sản xuất tăng từ 65.644,54 triệuđồng năm 2006 lên 68.870,04 triệu đồng (giá hiện hành) năm 2010 Trong 5năm qua, công tác phát triển khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ rừng phòng hộ vàrừng sản xuất được quan tâm, nhờ vậy mà diện tích rừng không ngừng tănglên Giai đoạn 2006 – 2010, toàn huyện trồng mới được 5.913 ha rừng, tỷ lệche phủ rừng đạt 51%

* Dân số, lao động, việc làm và thu nhập

Dân số toàn huyện tính đến 31/12/2010 có 27.147 người Dân cư thànhthị có 2.394 người chiếm 8,82% dân số toàn huyện; dân cư nông thôn là 24.753người chiếm 91,18% dân số toàn huyện Tổng số hộ là 4.787 hộ, mật độ dân sốtrung bình là 36,5 người/km2 nhưng phân bố không đều

Trang 37

Năm 2010, dân số trong độ tuổi lao động toàn huyện là 13.698 người,chiếm 50,46% dân số toàn huyện, trong đó lao động trong lĩnh vực nông - lâmnghiệp, thủy sản là 9.791 người chiếm 71,48% tổng số lao động Lực lượng laođộng trên địa bàn huyện tuy đông, nhưng lao động được đào tạo ít (9,33% tổng

số lao động toàn huyện), số lao động chưa có việc làm còn nhiều vì vậy trongnhững năm tới cần có các chính sách đào tạo nghề và giải quyết công ăn việclàm cho những lao động trên

* Hệ thống giao thông

Thời gian qua được sự quan tâm của nhà nước, các cấp, các ngành và sựgóp sức đáng kể của nhân dân địa phương, hệ thống giao thông trên địa bànhuyện phát triển khá mạnh Trong 5 năm qua đã cải tạo được 124km đường ô

tô, 340km đường liên thôn, bản Hiện nay 12/12 xã, thị trấn đã có đường ô tôđến trung tâm xã Loại hình giao thông duy nhất trên địa bàn huyện là đường

bộ với 533,4km

* Hệ thống thủy lợi

Thông qua chương trình định canh định cư, chương trình 135… TrạmTấu có điều kiện xây dựng nhiều công trình thuỷ lợi phục vụ cho sản xuất nôngnghiệp Trong giai đoạn 2006 – 2010 toàn huyện xây mới được 50 công trìnhvới tổng số vốn đầu tư trên 72,5 tỷ đồng, chủ động tưới tiêu cho 625 ha lúa

Tính đến hết năm 2010, tỷ lệ kiên cố hóa các công trình đầu mối đạt62%, kênh mương được kiên cố hóa 31,96% Bước đầu đã góp phần phát triểnkinh tế xã hội của địa phương, tăng diện tích canh tác và năng suất cây trồng;đặc biệt cây lúa nước đã được đưa vào sản xuất đại trà ở hầu hết các xã tronghuyện

* Cơ sở giáo dục – đào tạo

Trang 38

Giáo dục – đào tạo bước đầu được củng cố theo hướng nâng cao chấtlượng giáo dục toàn diện Năm học 2009 - 2010, toàn huyện có 28 trường họcvới 587 giáo viên và 01 trung tâm giáo dục thường xuyên – hướng nghiệp dạynghề Trong đó: có 11 trường mầm non, 16 trường tiểu học và trung học cơ sở,

01 trường phổ thông trung học Mạng lưới y tế từ huyện đến cơ sở ngày càngđược quan tâm; công tác khám chữa bệnh và y tế dự phòng cho nhân dân đượcđẩy mạnh Năm 2010, toàn huyện có 01 trung tâm y tế và 12 trạm y tế với 95giường bệnh Có 03 trạm y tế được công nhận đạt chuẩn quốc gia

1.3.2.2 Kinh tế - Xã hội huyện Mù Cang Chải

Huyện Mù Cang Chải có 13 xã đặc biệt khó khăn và một thị trấn, diệntích tự nhiên là 119.773,36 ha với tổng dân số là 52.113 người, chiếm hơn 91%

là đồng bào dân tộc Mông Nghề nghiệp chủ yếu là nông nghiệp trồng câylương thực Trong những năm gần đây đã hình thành và phát triển một sốngành nghề như: Dịch vụ, nghề rừng, buôn bán… Nhưng do trình độ dân trí ởmức độ chưa cao, trình độ thâm canh và khả năng áp dụng kỹ thuật trong canhtác để tăng năng suất cây trồng còn hạn chế Tỷ lệ đói nghèo ở mức cao Các

xã đều nằm trong quy hoạch chương trình 135 của Chính phủ

*Cơ sở hạ tầng

Trong những năm gần đây được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước,thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo cho các xã vùng sâu, vùng xa Đã xâydựng được nhiều các cơ sở như: Trường học, trạm xá, kênh mương tưới tiêu,điện lưới quốc gia Tuy nhiên những công trình cơ sở hạ tầng vẫn chưa đápứng được nhu cầu của nhân dân Nhiều nơi trường học, trạm xá còn tạm thời.Phong tục tập quán lạc hậu, nhiều hủ tục chưa được khắc phục Nhìn tổng thểbức tranh văn hoá xã hội, cơ sở hạ tầng của các xã thay đổi còn chậm, chưa đápứng được nhu cầu văn hoá xã hội của nhân dân

Trang 39

- Tình hình giao thông: Là một huyện vùng cao địa hình phức tạp đi lại

khó khăn những năm qua được sự hỗ trợ của Nhà nước, huyện Mù Cang Chải

đã mở rộng và xây dựng nhiều tuyến đường Các xã đã có đường ô tô đến Uỷban Hiện nay Nhà nước đang đầu tư xây dựng nâng cấp các tuyến đường liên

xã Tuy nhiên ở các thôn bản đường giao thông chưa phát triển, việc vậnchuyển hàng hoá, lương thực chủ yếu bằng sức người hoặc ngựa thồ Việc vậnchuyển phân bón hoặc đi lại đến nơi sản xuất ở các lô rừng xa, dốc, rất phứctạp

1.3.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

1.3.3.1 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Trạm Tấu

* Thuận lợi

- Huyện Trạm Tấu có tỉnh lộ 174 chạy qua, đây là một lợi thế quantrọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện cũng như tiếp cận và thu hút các nguồn vốn đầu tư từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước

- Tài nguyên đất đai Trạm Tấu tương đối phong phú, quỹ đất chưa

sử dụng còn nhiều Nguồn tài nguyên này trong thời gian tới có thể sử dụng để

mở rộng diện tích đất nông nghiệp cũng như xây dựng các cơ sở hạ tầng, nhằmthúc đẩy kinh tế của huyện ngày càng đi lên

- Tài nguyên khoáng sản thuận lợi cho việc hình thành và pháttriển cơ sở khai thác tuyển quặng chì, kẽm tại xã Xà Hồ Đầu tư khai thác mỏ

đá tại xã Hát Lừu, Xà Hồ và Tà Si Láng Khai thác đá Thạch Anh và đá ốp lát

ở xã Bản Mù và xã Làng Nhì

- Huyện có nguồn lao động dồi dào, với truyền thống cần cù, chịukhó Vì vậy có thể huy động chuyển dịch lao động từ sản xuất nông nghiệpsang các ngành nghề khác, nhằm giải quyết công ăn việc làm và tăng thêm thunhập cho nhân dân

Trang 40

- Nguồn nước dồi dào, thuận lợi cho việc phát triển thủy điện Vìvậy, những năm gần đây ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện pháttriển khá mạnh và chiếm tỷ trọng lớn trong ngành công nghiệp

- Trạm Tấu có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống, đây là mộttrong những lợi thế phát triển thương mại, du lịch gắn với phát triển bản sắc,văn hóa truyền thống của các dân tộc

* Những hạn chế và thách thức

- Trạm Tấu là huyện vùng cao của tỉnh Yên Bái, địa hình dốc và bịchia cắt mạnh Hàng năm thường bị lũ quét và lũ ống gây thiệt hại lớn về sảnxuất cũng như đời sống nhân dân

- Điều kiện thời tiết khắc nghiệt, tập quán sản xuất còn lạc hậu,manh mún, đầu tư thâm canh chưa cao nên ảnh hưởng rất lớn đến sản xuấtnông nghiệp, làm giảm năng suất và hiểu quả

- Hệ thống giao thông chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được nhu cầu

đi lại và vận chuyển của người dân trên địa bàn huyện

- Nền kinh tế tuy có tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng xuất phátđiểm thấp, quy mô sản xuất nhỏ, hàng hóa có sức cạnh tranh thấp trên thịtrường vì vậy sẽ có nhiều khó khăn trong tiến trình hội nhập trong những nămtới Cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch đúng hướng song vẫn chưa vững chắc

- Tiềm năng đất đai, nguồn lao động chưa được phát huy sử dụngtriệt để Đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn

- Dân cư phân bố không đều, sống rải rác trên các sườn núi,phương thức sản xuất mang tính tự cung tự cấp

- Trình độ dân trí không đồng đều nên việc truyên truyền và phổbiến đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước còn gặp nhiều khó khăn

1.3.3.2 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Mù Cang Chải

Ngày đăng: 21/07/2017, 21:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. MARD (1996), “Giới thiệu và các khuyến nghị về NLKH cho đất dốc của miền Bắc Việt Nam”, Hội thảo về NLKH trên đất dốc ở miền Bắc Việt Nam, Dự án của FAO về các chương trình trồng rừng ở châu Á, Phù Ninh, Vĩnh Phú 6/1996, tr. 6 - 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu và các khuyến nghị về NLKH cho đất dốccủa miền Bắc Việt Nam”, "Hội thảo về NLKH trên đất dốc ở miền Bắc ViệtNam
Tác giả: MARD
Năm: 1996
10. Đặng Văn Minh (2005), “Nghiên cứu tính bền vững và sự ảnh hưởng tới chất lượng đất của mô hình sản xuất trang trại NLKH tại trại thực tập thí nghiệmTrường ĐH Nông lâm Thái Nguyên”. Tạp chí KH&CN, Đại học Thái Nguyên, (3) 2005 tr. 45 – 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tính bền vững và sự ảnh hưởng tớichất lượng đất của mô hình sản xuất trang trại NLKH tại trại thực tập thínghiệm Trường ĐH Nông lâm Thái Nguyên”. "Tạp chí KH&CN
Tác giả: Đặng Văn Minh
Năm: 2005
11. Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm (1993), “Quản lí đất dốc để sử dụng lâu bền cho phát triển nông nghiệp”, Tạp chí Khoa học đất tháng 3/1993, tr. 74 -79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí đất dốc để sử dụng lâubền cho phát triển nông nghiệp”, "Tạp chí Khoa học đất
Tác giả: Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm
Năm: 1993
12. Vũ Tấn Phương (2006), ”Nghiên cứu trữ lượng carbon thảm tươi và cây bụi: Cơ sở để xác định đường carbon cơ sở trong dự án trồng rừng/tái trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch ở Việt Nam”. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, số 8/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nông nghiệp vàPhát triển Nông thôn
Tác giả: Vũ Tấn Phương
Năm: 2006
13. Ngô Đình Quế và các cộng tác viên (2005), Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí và chỉ tiêu trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch ở Việt Nam.Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng cáctiêu chí và chỉ tiêu trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch ở Việt Nam
Tác giả: Ngô Đình Quế và các cộng tác viên
Năm: 2005
14. Lý Thu Quỳnh (2007), Nghiên cứu sinh khối và khả năng hấp thụ carbon của rừng Mỡ (Manglietia conifera Dandy) trồng tại Tuyên Quang và Phú Thọ, Luận văn Thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sinh khối và khả năng hấp thụcarbon của rừng Mỡ (Manglietia conifera "Dandy") trồng tại Tuyên Quangvà Phú Thọ
Tác giả: Lý Thu Quỳnh
Năm: 2007
15. Nguyễn Văn Thuận (1994), “Hệ thống cây trồng trên một số loại đất nông nghiệp vùng núi thấp Đông Bắc Bắc Bộ”, Báo cáo nghiên cứu khoa học Viện KHKT Nông nghiệp Việt Nam 1994, tr. 35 – 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống cây trồng trên một số loại đấtnông nghiệp vùng núi thấp Đông Bắc Bắc Bộ”, "Báo cáo nghiên cứu khoahọc
Tác giả: Nguyễn Văn Thuận
Năm: 1994
16. Nguyễn Văn Tiễn (1975), Các biện pháp canh tác trên đất dốc, NXB Nông nghiệp Hà Nội, tr. 22 – 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp canh tác trên đất dốc
Tác giả: Nguyễn Văn Tiễn
Nhà XB: NXBNông nghiệp Hà Nội
Năm: 1975
17. Phạm Đức Tuấn, Phạm Xuân Hoàn (1992), “Nông lâm kết hợp” Bài giảng môn Nông lâm kết hợp, Trường ĐHLN Xuân Mai – Hà Tây, tr. 6 – 88.18. Sách đỏ Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông lâm kết hợp” "Bàigiảng môn Nông lâm kết hợp
Tác giả: Phạm Đức Tuấn, Phạm Xuân Hoàn
Năm: 1992
19. Phạm Quang Vinh, Phạm Xuân Hoàn (2005), Nông lâm kết hợp, NXB Nông nghiệp Hà Nội, tr. 12 – 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông lâm kết hợp
Tác giả: Phạm Quang Vinh, Phạm Xuân Hoàn
Nhà XB: NXBNông nghiệp Hà Nội
Năm: 2005
20. Đặng Kim Vui, Đàm Văn Vinh, Đỗ Hoàng Sơn (2005), “Thử nghiệm một số biện pháp kỹ thuật cải tiến các mô hình nông – lâm kết hợp tại huyện Võ Nhai,tỉnh Thái Nguyên”, Báo cáo kết quả nghiên cứu Khoa học đề tài cấp Bộ , tr. 31 – 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghiệmmột số biện pháp kỹ thuật cải tiến các mô hình nông – lâm kết hợp tạihuyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”, "Báo cáo kết quả nghiên cứu Khoa học đề tài cấp Bộ
Tác giả: Đặng Kim Vui, Đàm Văn Vinh, Đỗ Hoàng Sơn
Năm: 2005
21. Đặng Kim Vui (2007), “Nông lâm kết hợp” Bài giảng hệ cao học chuyên ngành Lâm sinh, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tr. 24 – 81.2. Tài liệu tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông lâm kết hợp” "Bài giảng hệ cao họcchuyên ngành Lâm sinh
Tác giả: Đặng Kim Vui
Năm: 2007
22. Black J. (1993), “Development Jujitsu: Looking on the Bright Side”.Studies in Comparative International Development 28 (1), pp. 71 – 79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Development Jujitsu: Looking on the Bright Side”."Studies in Comparative International Development
Tác giả: Black J
Năm: 1993
23. Brown, S. (1997), "Estimating biomass and biomass change of tropical forests: a primer" FAO forestry paper 134 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Estimating biomass and biomass change of tropicalforests: a primer
Tác giả: Brown, S
Năm: 1997
26. King K. F. S. (1987), “The history of agroforestry”. Agroforestry: a decade of development, ICRAF, Nairobi, Kenya, pp. 1-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The history of agroforestry”. "Agroforestry: adecade of development
Tác giả: King K. F. S
Năm: 1987
27. Leakey R. (1996), “Definition of agroforestry revisted”, Agroforestry Today, pp.55 – 78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Definition of agroforestry revisted”, "AgroforestryToday
Tác giả: Leakey R
Năm: 1996
28. Nair P. K. R (1985), “Classsification of agroforestry systems”.Agroforestry systems (3), pp. 97 – 128 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Classsification of agroforestry systems
Tác giả: Nair P. K. R
Năm: 1985
29. Mc Dicken K. G. and Vergara N. T. (1990), “Agroforestry: classification and management”, New York: John Wiley and Sons, pp. 119 – 281 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Agroforestry: classificationand management
Tác giả: Mc Dicken K. G. and Vergara N. T
Năm: 1990
30. Sajjjapongse P. J. (1994): “Managemenr of sloping land”. IBSRAM, Newsletter 19, pp. 4 – 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Managemenr of sloping land”. "IBSRAM,Newsletter 19
Tác giả: Sajjjapongse P. J
Năm: 1994
24. Dixon, R. K., Meldahl, R. S., Ruark, G. A. and Warren, W. G. (1990), Process modelling of forest growth responses to environmental stress, Timber Press Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w