Vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh trứng cá ở học sinh trường trung học phổ thông Hà Huy Tập, thành phố Vinh, Nghệ An”.. Đặc điểm lâm sàng bệnh
Trang 1NGUYỄN HỮU LIÊM
LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS ĐẶNG VĂN EM
HÀ NỘI - 2016
Trang 2Để có được kết quả học tập ngày hôm nay
Em xin chân thành cám ơn: Ban giám hiệu Trường Đại học Y Hà
Nội, Phòng Đào tạo sau đại học, đã tạo điều kiện cho em trong suốt thời
gian học tập
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong Trường Đại học Y Hà
Nội, đặc biệt là các thầy cô trong Bộ môn Da liễu đã tận tình dạy dỗ, giúp
đỡ em trong 2 năm học tại trường cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn này
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cám ơn
PGS.TS.Đặng Văn Em - người thầy hướng dẫn đã giành nhiều thời gian tận
tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn của mình
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, các thầy cô
của trường THPT Hà Huy Tập đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi trong quá
trình lấy số liệu phục vụ cho luận văn
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã luôn giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn!
Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2016
Tác giả
Trang 3Tôi là: Nguyễn Hữu Liêm, học viên lớp CKII khóa 28 Trường Đại học
Y Hà Nội, chuyên ngành Da liễu, xin cam đoan:
1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn
của PGS.TS Đặng Văn Em Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố tại Việt Nam
3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp nhận của cơ sở nơi nghiên cứu
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này
Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2016
Người viết cam đoan
Nguyễn Hữu Liêm
Trang 5CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Bệnh trứng cá 3
1.1.1 Đại cương bệnh trứng cá 3
1.1.2 Phân loại trứng cá 3
1.1.3 Đặc điểm lâm sàng bệnh trứng cá thông thường 6
1.1.4 Sinh bệnh học bệnh trứng cá thông thường 8
1.1.5 Các yếu tố liên quan đến bệnh trứng cá 13
1.1.6 Điều trị bệnh trứng cá 15
1.2 Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) về bệnh trứng cá 20
1.2.1 Thế nào là nghiên cứu KAP 20
1.2.2 Biện pháp nâng cao kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh trung học phổ thông về mụn trứng cá 21
1.2.3 Một số nghiên cứu về bệnh trứng cá trên Thế giới và Việt Nam 22
1.3 Trường THPT Hà Huy Tập, TP Vinh, Nghệ An 25
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.2 Phương pháp nghiên cứu 27
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 27
2.2.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu 27
2.2.3 Phương pháp và kế hoạch tiến hành 29
2.2.4 Biến số và chỉ số (Bộ câu hỏi) 30
2.2.5 Kỹ thuật và công cụ thu thập 33
2.2.6 Quy trình thu thập số liệu 33
2.2.7 Sai số và cách khống chế sai số 33
2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 33
Trang 6CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1.Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 36
3.2.Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh về BTC 37
3.2.1 Thực trạng kiến thức của học sinh về bệnh trứng cá 37
3.2.2 Thực trạng thái độ của học sinh với bệnh trứng cá 43
3.2.3 Thực trạng thực hành của học sinh với bệnh trứng cá 45
3.3 Hiệu quả của biện pháp giáo dục y tế cho học sinh về bệnh trứng cá 49
3.3.1 Hiệu quả về kiến thức của học sinh về BTC sau can thiệp 49
3.3.2 Hiệu quả về thái độ của học sinh về bệnh trứng cá sau can thiệp 56
3.3.3 Hiệu quả thực hành của học sinh về bệnh trứng cá sau can thiệp 57
Chương 4: BÀN LUẬN 61
4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 61
4.2 Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh bệnh trứng cá 62
4.2.1 Thực trạng kiến thức của học sinh về bệnh trứng cá 62
4.2.2 Thực trạng thái độ của học sinh với bệnh trứng cá 70
4.2.3 Thực trạng thực hành của học sinh về bệnh trứng cá 72
4.3 Kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh sau can thiệp 73
4.3.1 Kết quả kiến thức của học sinh về bệnh trứng cá sau can thiệp 73
4.3.2 Kết quả thái độ của học sinh về bệnh trứng cá sau can thiệp 75
4.3.3 Kết quả thực hành của học sinh về bệnh trứng cá sau can thiệp 76
KẾT LUẬN 82
KHUYẾN NGHỊ 84 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Bảng 3.2 Tỷ lệ mắc BTC theo tuổi 36
Bảng 3.3 Phân bố tỷ lệ bị BTC theo giới 37
Bảng 3.4: Kiến thức của học sinh về độ tuổi hay mắc BTC 37
Bảng 3.5: Kiến thức của học sinh về giới và BTC 38
Bảng 3.6 Kiến thức của học sinh về tính chất của BTC 38
Bảng 3.7: Kiến thức về nguyên nhân gây BTC 39
Bảng 3.8: Kiến thức về yếu tố ảnh hưởng tới BTC 39
Bảng 3.9: Kiến thức về ảnh hưởng của chế độ ăn với BTC 40
Bảng 3.10: Kiến thức về ảnh hưởng của thói quen với BTC 40
Bảng 3.11: Kiến thức về điều trị bệnh trứng cá 41
Bảng 3.12: Kiến thức về cách điều trị bệnh trứng cá 41
Bảng 3.13: Học sinh được tiếp cận thông tin về BTC 42
Bảng 3.14: Nguồn thông tin tiếp cận về BTC 42
Bảng 3.15: Tỷ lệ học sinh tự đánh giá kiến thức về BTC của bản thân 43
Bảng 3.16: Ảnh hưởng của BTC đối với bản thân người bệnh 43
Bảng 3.17: Thái độ của học sinh với phòng tránh và điều trị 44
Bảng 3.18: Tỷ lệ có nhu cầu tìm hiểu thêm thông tin về BTC 44
Bảng 3.19: Thói quen điều trị bệnh trứng cá 45
Bảng 3.20: Thói quen thức khuya của học sinh 45
Bảng 3.21: Về thói quen thường xuyên sử dụng cà phê của học sinh 46
Bảng 3.22: Thói quen thường xuyên sử dụng rượu bia của học sinh 46
Bảng 3.23: Thói quen hút thuốc lá của học sinh 47
Bảng 3.24: Thói quen uống nước của học sinh 47
Bảng 3.25: Thói quen nặn mụn trứng cá 47
Bảng 3.26: Thói quen massage mặt của học sinh 48
Bảng 3.27: Thói quen sử dụng sữa rửa mặt của học sinh 48
Trang 8Bảng 3.30: Kiến thức của đối tượng về tính chất của bệnh trứng cá 49
Bảng 3.31: Kiến thức về giới củaBTC sau can thiệp 50
Bảng 3.32: Kiến thức về nguyên nhân gây BTC sau can thiệp 50
Bảng 3.33: Kiến thức yếu tố ảnh hưởng đến BTC sau can thiệp 51
Bảng 3.34: Kiến thức về chế độ ăn với BTC sau can thiệp 51
Bảng 3.35: Kiến thức về ảnh hưởng của thói quen với BTC 52
Bảng 3.36: Kiến thức về điều trị bệnh trứng cá sau can thiệp 52
Bảng 3.37: Kiến thức về cách điều trị BTC sau can thiệp 53
Bảng 3.38: Kiến thức nguồn thông tin bệnh trứng cá sau can thiệp 54
Bảng 3.39: Thái độ đối với BTC của học sinh sau can thiệp 56
Bảng 3.40: Thái độ với việc phòng tránh BTC sau can thiệp 56
Bảng 3.41: Thái độ với việc điều trị sau can thiệp 57
Bảng 3.42: Hiệu quả thực hành thói quen điều trịsau can thiệp 57
Bảng 3.43: Thói quen thức khuya của học sinh sau can thiệp 58
Bảng 3.44: Thói quen sử dụng cà phê của học sinh sau can thiệp 58
Bảng 4.45: Thói quen sử dụng rượu bia của học sinh sau can thiệp 58
Bảng 3.46: Thói quen hút thuốc lá của học sinh sau can thiệp 59
Bảng 3.47: Thói quen uống nước của học sinh sau can thiệp 59
Bảng 3.48: Thói quen nặn mụn trứng cá của học sinh sau can thiệp 59
Bảng 3.49: Thói quen massage mặt của học sinh sau can thiệp 60
Bảng 3.50: Thói quen sử dụng sữa rửa mặt của học sinh sau can thiệp 60
Bảng 3.51: Thói quen sử dụng mỹ phẩm của học sinh sau can thiệp 60
Trang 9Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ đối tượng được tiếp cận thông tin về bệnh trứng cá 53
Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ học sinh tự đánh giá kiến thức về BTC 55
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Mức độ nhẹ 8
Hình 1.2 Mức độ vừa 8
Hình 1.3 Mức độ nặng 8
Hình 1.4 Sinh bệnh học trứng cá 12
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Trứng cá là một bệnh lý nang lông tuyến bã của da do rối loạn chức năng của bộ lông tuyến bã Sự tiết bã nhờn đọng lại ở lỗ chân lông tạo nên mụn Đây là một trong những bệnh thường gặp nhất ảnh hưởng 85% giới trẻ trên thế giới dưới nhiều mức độ khác nhau [1],[2],[3]
Bệnh hay gặp ở lứa tuổi thanh thiếu niên, nữ từ 10-17 tuổi, nam từ 14-19 tuổi Nghiên cứu ở Đức cho thấy có 85% thanh thiếu niên bị bệnh trứng cá [1] Tỷ lệ này ở Mỹ là 85% [4] Bệnh thường không gây hậu quả nghiêm trọng nhưng lại có nhiều ảnh hưởng về mặt tâm lý đối với người bệnh [5],[6],[7] Trong những trường hợp bệnh kéo dài để lại di chứng sẹo lõm hoặc sẹo phì đại có thể gây tổn thương tâm lý, tinh thần người bệnh và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống Theo Rigopoulos và cộng sự 48% học sinh trung học ở Hy Lạp cho rằng mụn trứng cá làm tổn hại đến mối liên hệ cá nhân [8] Theo nghiên cứu của Jancin B trên những thiêu niên Anh bị mụn trứng cá có 39% tránh đi đến trường vì xấu hổ, 55% cho rằng mụn trứng cá làm cho họ không có bạn trai hay gái [9]
Ở Việt Nam, trứng cá là bệnh rất phổ biến, đặc biệt là ở học sinh, sinh viên Nghiên cứu của Trần Thị Hạnh cho thấy tỷ lệ lưu hành bệnh trứng cá ở học sinh trường trung học phổ thông Châu Văn Liêm, thành phố Cần Thơ là 82,5% [10] Tại bệnh viện Da liễu thành phố Hồ Chí Minh, 17,97% số bệnh nhân đến khám là do mắc bệnh trứng cá, chỉ đứng thứ 2 sau bệnh chàm [10] Theo nghiên cứu tại bệnh viện Da liễu Trung ương có tới 76% bệnh nhân trứng cá cho biết sẹo trứng cá làm ảnh hưởng rất nhiều đến công việc hay học tập của họ [11] Nhiều bệnh nhân tự điều trị bằng cách dùng mỹ phẩm, sử dụng kem không rõ nguồn gốc hoặc tự tạo, tự uống thuốc, nặn mụn hoặc đi massage làm bệnh nặng thêm
Trang 11Ở lứa tuổi học sinh trung học, cơ thể đang phát triển về mọi mặt, trong
đó có sự hoạt động mạnh của tuyến bã là cơ sở đầu tiên cho phát sinh bệnh trứng cá thông thường và có tỷ lệ mắc bệnh cao Qua điều tra sơ bộ thấy tỷ lệ mắc bệnh trứng cá ở học sinh trung học phổ thông (THPT) thuộc tỉnh Nghệ
An khá cao Tuy nhiên, hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu về bệnh trứng cá trên đối tượng này, đặc biệt chưa có nghiên cứu nào được tiến hành tại trường trung học phổ thông Hà Huy Tập, thành phố Vinh Vì vậy chúng tôi thực hiện
nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh trứng cá ở học sinh
trường trung học phổ thông Hà Huy Tập, thành phố Vinh, Nghệ An”
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành, ở học sinh phổ thông trung học
Hà Huy Tập, thành phố Vinh, Nghệ An năm 2015 - 2016
2 Đánh giá hiệu quả của biện pháp giáo dục y tế về bệnh trứng cá đối với học sinh phổ thông trung học
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Bệnh trứng cá
1.1.1 Đại cương bệnh trứng cá
Bệnh trứng cá là một bênh da thông thường rất hay gặp, bệnh có ở cả nam và nữ, đa số bị bệnh ở độ tuổi 13-25, có khá nhiều trường hợp bệnh còn xuất hiện sau tuổi 25 và độ tuổi 40 hoặc lâu hơn Đặc biệt trứng cá phổ biến đến mức người ta coi đó là một biểu hiện của trạng thái sinh lý [12],[13] Theo Totsi A và cộng sự, bệnh trứng cá nói chung và trứng cá thông thường nói riêng ảnh hưởng nhiều đến nam giới độ tuổi 16-17 với tỷ lệ 95-100% và
nữ giới ở độ tuổi 16-17 với tỷ lệ 83-85% [14] Bệnh gặp nữ nhiều hơn nam, người da trắng có xu hướng bị nhiều hơn da đen Bệnh biểu hiện với nhiều loại tổn thương là nhân đầu đen, nhân đầu trắng, sẩn, mụn mủ, cục, nang và hậu quả là sẹo lõm hoặc sẹo lồi [15], [16], [17]
Điều trị bệnh trứng cá còn nhiều khó khăn, tiến triển đa dạng, có trường hợp giảm dần, nhưng nhiều trường hợp kéo dài dai dẳng, từng đợt tái phát nếu không được điều trị kịp thời, phù hợp sẽ gây nên các thể lâm sàng nặng thậm chí gây hậu quả lâu dài ảnh hưởng nặng nề về thẩm mỹ [16],[17], [18],[19],[20]
Dựa vào hình thái lâm sàng và đặc điểm tiến triển của bệnh, người ta chia thành các thể lâm sàng trứng cá khác nhau
1.1.2 Phân loại trứng cá
- Trứng cá thông thường (Acne vulgaris) [16], [17], [21]: thể lâm sàng
hay gặp nhất Các thương tổn khu trú đặc biệt ở vùng da mỡ như: ở mặt (trán,
má, cằm), ở vùng giữa ngực, lưng, vai; đôi khi gặp nhân trứng cá ở vành tai, bọc ở ống tai, màng nhĩ Tổn thương rất đa dạng, có thể là nhân trứng cá, sẩn
Trang 13đỏ, mụn mủ, cục, nang viêm tấy đỏ…, song các loại thương tổn này không phải thường xuyên kết hợp với nhau và có đầy đủ trên một bệnh nhân
- Trứng cá mạch lươn (Acne conglobata) [17], [19]: là một dạng của
trứng cá nặng, gặp chủ yếu ở nam giới, bắt đầu sau tuổi dậy thì và kéo dài nhiều năm sau đó Tổn thương thấy ở mặt, cổ, ngực, vai, lưng, mông, đùi và phối hợp nhiều hình thái: cục, nang, áp xe… Khởi đầu là mụn mủ ở nang lông, sau tiến triển thành các ổ viêm to dần và loét rất đặc biệt do ổ viêm thường thành cụm 2-3 cái, đi vằn vèo thành hang hốc với nhiều đường rò và cầu da Thương tổn có dịch màu vàng nhầy dạng sợi hoặc lẫn máu, sau khi rạch và dẫn lưu dịch lại đầy trở lại rất nhanh Bệnh tiến triển lâu dài, dai dẳng
- Trứng cá kê hoại tử (Acne miliaris necrotica) [17], [19], [20]: do tụ cầu
vàng gây nên, gặp nhiều ở nam giới, khu trú đối xứng ở trán, thái dương, rìa tóc Khởi đầu là các sẩn nang lông màu đỏ, bờ xung quanh viêm tấy đỏ, sau nhanh chóng biến thành mụn mủ màu nâu nhạt, bám rất chắc, có thể ngứa Ở dưới sẩn viêm là ổ loét nhỏ, sau lành để lại sẹo vĩnh viễn
- Trứng cá tối cấp (Acne fulminans) [17], [19], [21]: có thể thấy ở nam giới
từ 13-17 tuổi, bệnh thường ở thân mình, hiếm khi ở mặt Thương tổn dạng trứng
cá nang nặng tiến triển thành tổn thương loét đau với bờ nhô cao bao quanh các mảng hoại tử xuất tiết, khi lành để lại sẹo lồi Lâm sàng kèm theo sốt, mệt mỏi, đau các khớp, xét nghiệm có tăng bạch cầu, tốc độ máu lắng tăng cao
- Trứng cá sẹo lồi (Acne keloidalis) [19],[21],[22],[23]: chủ yếu gặp ở
nam giới, khu trú vùng gáy và rìa tóc Thương tổn dạng viêm nang lông sắp xếp thành đường thẳng hay vằn vèo, tiến triển thành củ xơ hoặc dải xơ phì đại
gồ lên mặt da giống như sẹo lồi, có thể có ít mụn mủ trên bề mặt Bệnh tiến triển lâu dài, sau xẹp dần và lông tóc bị mất vĩnh viễn
- Trứng cá do thuốc (Occupational acne) [20],[21],[23],[24]: có rất nhiều
loại thuốc gây phát sinh, phát triển bệnh trứng cá Các steroid gây sừng hóa nang lông và bít tắc cổ nang lông, hormon adrogen làm tăng hoạt động và phì
Trang 14đại tuyến bã, các thuốc khác như: thuốc chống hen, thuốc long đờm, thuốc cản quang, isoniazid, phenolbacbital, cyclosporin… đều gây bệnh trứng cá và bệnh sẽ khỏi sau dùng thuốc vài ba tuần
- Trứng cá trước tuổi thiếu niên (Preadolescent acne) [17],[20],[21]: gồm
3 loại:
+ Trứng cá sơ sinh (Neonatal acne): xuất hiện trong 4 tuần đầu sau đẻ, do
nội tiết tố progesteron của mẹ truyền sang Bệnh tự khỏi sau vài tuần mà không để lại dấu vết gì
+ Trứng cá tuổi ấu thơ (Infantile acne): xuất hiện từ tháng thứ 2 sau đẻ
hoặc do trứng cá sơ sinh tồn tại dai dẳng, bệnh có thể kéo dài thành trứng cá tuổi thiếu niên
+ Trứng cá tuổi thiếu niên (Childhood acne) [7],[25]: do trứng cá trẻ em
tồn tại dai dẳng, yếu tố gia đình đóng vai trò quan trọng
- Các loại hình trứng cá khác:
+ Trứng cá do mỹ phẩm (Acne Cosmetica) [17],[20],[26]: gặp ở phụ nữ
25 – 30 tuổi, do dùng loại mỹ phẩm không phù hợp hoặc có thói quen dùng
nhiều kem dưỡng ẩm, kem chống nắng
+ Trứng cá do yếu tố cơ học (Acne Mechanica) [20], 21],[24]: hay gặp ở
các cô gái trẻ có tâm lý lo lắng, hay nặn bóp, cào xước, cọ sát liên tục gây tắc nghẽn lối ra vào của nang lông tuyến bã dẫn đến hình thành cồi mụn, sau để lại vết thâm, sẹo teo da
+ Trứng cá nhân loạn sừng gia đình (Familial dyskeratotic comedones acne) [21],[23]: Bệnh do rối loạn di truyền trội, thương tổn nhiều nhân ở mặt,
thân mình, các chi, có thể có sẩn đỏ, mụn nước, khỏi để lại sẹo sâu như hố băng Mô bệnh học có tiêu gai và tế bào loạn sừng ở trong thành các lỗ chân lông Bệnh có thể xuất hiện đến giữa tuổi 40
+ Trứng cá vùng nhiệt đới (Tropical acne) [17], [21]: xuất hiện vào mùa hè
khi thời tiết nóng, ẩm, thương tổn dạng nang lớn, đa dạng ở ngực, mông, lưng
Trang 15+ Trứng cá trước chu kỳ kinh nguyệt [20]: xuất hiện trước khi có kinh 1
tuần, do Luteinizing hormone (LH) ở đỉnh cao kích thích tổ chức đệm của buồng trứng tiết androgen Thương tổn dạng sẩn mủ, số lượng từ 5 – 10
1.1.3 Đặc điểm lâm sàng bệnh trứng cá thông thường
Dựa trên hình thái lâm sàng, thương tổn cơ bản của bệnh trứng cá thông thường được chia làm 2 loại:
- Thương tổn không viêm: Các tổn thương không viêm được hình thành
sớm của tiến trình hình thành tổn thương bệnh trứng cá, bao gồm:
+ Vi nhân trứng cá (microcomedones) [16],[17],[20],[21]: các nhân trứng cá rất
nhỏ, bắt đầu mới hình thành, khó phát hiện trên lâm sàng, chủ yếu là nhờ sinh thiết
+ Nhân mở (open comedones) hay nhân đầu đen (blackheads) [16],[17],
[20],[21]: tổn thương do kén bã (chất lipid) kết hợp với những lá sừng của thành nang lông gồ cao trên mặt da, làm nang lông giãn rộng Sự oxy hóa chất keratin làm đầu nhân trứng cá có màu đen Loại nhân trứng cá này có thể thoát ra tự nhiên, ít gây tổn thương trầm trọng song cũng có thể bị viêm và thành mụn mủ trong vài tuần Chích nặn lấy được nhân có dạng giống trứng của cá, màu trắng ngà
+ Nhân kín (closed comedones) hay nhân đầu trắng (whiteheads) [16],
[17],[20],[23]: Do chất bã và lá sừng tích tụ Thương tổn có kích thước nhỏ hơn nhân đầu đen, màu trắng hoặc hồng nhạt, hơi gồ cao và không có lỗ mở trên da, có thể thoát ra tự nhiên hoặc chuyển thành nhân đầu đen
- Thương tổn viêm: Tùy thuộc vào tình trạng viêm nhiễm, trên lâm sàng
biểu hiện nhiều hình thái tổn thương khác nhau: sẩn đỏ, mụn mủ, cục, nang… với điểm chung đều gây viêm ở trung bì [16],[17],[21],[25]
+ Sẩn đỏ: Các nang lông bị giãn rộng và cổ bít chặt lại, vùng kế cận tuyến
bã có phản ứng viêm nhẹ Sẩn có đường kính 5 mm, nhô cao, màu đỏ, mềm
và hơi đau, có thể tự khỏi hay tiến triển thành mụn mủ
Trang 16+ Mụn mủ: Là sẩn chứa mủ Mụn mủ có thể vỡ ra hoặc khô lại, xẹp và
biến mất, có thể để lại sẹo
+ Cục: Hình thành do hiện tượng viêm nhiễm có thể xuống sâu hơn, tới
trung bì sâu tạo thành các cục hay nang viêm khu trú dưới trung bì, đường kính < 1 cm, thường đau và tăng lên khi sờ
+ Nang: Tập hợp nhiều cục, thường là 2-3 cục sưng lên, quá trình viêm
đã hóa mủ chứa dịch vàng lẫn máu, kích thước > 1cm, sờ thấy lùng nhùng, khỏi hay để lại sẹo
+ Dát và sẹo: Là các thương tổn thứ phát, do các thương tổn viêm thuyên
giảm để lại các dát đỏ, dát thâm sau đó da trở về bình thường Nếu tổn thương viêm nhiễm sâu, hóa mủ sẽ để lại sẹo, có thể là sẹo lõm, sẹo lồi hoặc sẹo quá phát
Ngoài các thương tổn trên, bệnh nhân bị trứng cá thông thường còn
có hiện tượng tăng tiết bã là da bóng, nhờn, các lỗ chân lông giãn rộng…
- Phân loại mức độ bệnh trứng cá thông thường: Có nhiều cách phân
loại mức độ bệnh trứng cá dựa vào số lượng và đặc điểm thương tổn trứng cá Phân loại theo Hayashi và cộng sự-2008 [27], theo Karen McKoy-2008 [26]
và theo Habif-2010 [21] Trong đề tài của chúng tôi sử dụng phân loại của Karen McKoy-2008 [32]: dựa vào số lượng và đặc điểm thương tổn, bệnh trứng cá được chia thành 3 mức độ:
- Mức độ nhẹ: < 20 thương tổn không viêm, hoặc < 15 thương tổn viêm, hoặc tổng số thương tổn <30
- Mức độ trung bình: ≤ 5 nang/cục hoặc 20-100 thương tổn không viêm, hoặc 15-50 thương tổn viêm, hoặc tổng số thương tổn 30-125
- Mức độ nặng: > 5 nang/ cục, hoặc >100 thương tổn không viêm, hoặc
>50 thương tổn viêm, hoặc tổng số thương tổn >125
Trang 17Hình 1.1 Mức độ nhẹ Hình 1.2 Mức độ vừa Hình 1.3 Mức độ nặng
1.1.4 Sinh bệnh học bệnh trứng cá thông thường
1.1.4.1.Đặc điểm nang lông và tuyến bã
- Nang lông: Có 2 loại là nang lông tơ: rải rác trên toàn bộ da của cơ
thể trừ lòng bàn tay, bàn chân, nang lông tơ có kích thước nhỏ, nhưng kích thước tuyến bã ở nang lông tơ lớn hơn ở nang lông dài và nang lông dài: ở da đầu, cằm, nách và mu [15],[17],[20],[28]
- Đặc điểm tuyến bã [15],[17],[20],[25],[28],[29]: Tuyến bã cùng với
tuyến mồ hôi, tuyến sữa là 3 loại tuyến của da Tuyến bã là một chùm nang chia nhánh, đường kính 0,2 - 2 mm gắn vào nang lông, tiết ra chất bã đổ vào nang lông nhờ một ống dẫn rồi bài xuất lên mặt da Tuyến bã ở niêm mạc đổ thẳng ra
bề mặt như tuyến Tyson và hạt Fox – Foxdyce Tuyến bã là tuyến toàn hủy: chất bã và tế bào tuyến được đào thải toàn bộ Tuyến bã hoạt động mạnh lúc mới sinh do được hoạt hóa bởi androgen của mẹ qua nhau thai, bất hoạt ở trẻ
em 2-6 tuổi, sau 7 tuổi thì hoạt động trở lại và phát triển mạnh ở tuổi dậy thì, giảm tiết ở tuổi 50 đối với nữ, 60-70 đối với nam Tuyến bã phân bố không đều trên toàn bộ cơ thể: vùng da đầu, mặt, lưng, ngực giàu tuyến bã với số lượng 400-900 tuyến/cm2 nên trứng cá hay xuất hiện, những vùng da khác có
số lượng tuyến bã ít hơn, riêng lòng bàn tay, bàn chân không có tuyến bã
- Chất bã [21]: Là hợp chất vô khuẩn được sản xuất chủ yếu từ tuyến bã
và một phần thượng bì, tiết ra trên bề mặt da làm dẻo hóa màng sừng, có tác dụng bảo vệ da chống lại virus, vi khuẩn, nấm, chống thấm nước và giữ độ ẩm
Trang 18cho da Thành phần chủ yếu của chất bã là acid béo dưới dạng este hỗn hợp, bao gồm: squalene (chỉ có ở da người với nồng độ ổn định), tryglycerid và các acid béo chuỗi dài, cires là những este đơn và kép của những acid béo chuỗi dài, ngoài ra còn có lipid gốc thượng bì từ cholesterol và các este của nó
1.1.4.2.Căn sinh bệnh học [30], [31]
Ngày nay căn sinh bệnh học của bệnh chứng cá được xác định khá rõ và thống nhất liên quan đến 3 yếu tố chính gồm tăng sản xuất chất bã, dày sừng
cổ tuyến bã và vai trò của vi khuẩn
- Tăng tiết chất bã và vai trò của chất bã: Bình thường chất bã được tiết ra
làm cho da, lông, tóc mềm mại, mượt mà, luôn giữ được độ ẩm Trong bệnh trứng cá, chất bã bài tiết quá nhiều Hoạt động bài tiết của tuyến bã có liên quan chặt chẽ với các hormon, trong đó quan trọng là hormon sinh dục nam, đặc biệt là testosteron Các hormon này làm phát triển, dãn rộng, tăng thể tích tuyến bã, kể cả các tuyến bã không hoạt động, kích thích tế bào tuyến bã hoạt động mạnh, dẫn tới sự bài tiết chất bã tăng lên rất nhiều so với bình thường Bên cạnh đó, sự bài tiết chất bã còn chịu sự tác động của một số yếu tố: di truyền, các stress, thời tiết Người ta đã nghiên cứu tính chỉ số chất bã và xác định rằng: trung bình người bình thường tiết ra 1,00mg chất bã/10cm2/3 giờ, vùng bị trứng cá nặng là 3,28mg/10cm2/3 giờ; trứng cá vừa là 3,00mg/10cm2/
3 giờ; trứng cá nhẹ 2,20mg/10 cm2/3 giờ Trong bệnh trứng cá, chất bã tăng tiết một cách quá mức do các yếu tố sau:
+ Tăng hormon sinh dục nam (testosteron, ehydroepiandrosteron)
+ Tăng việc gắn testosteron vào các thụ thể của tuyến bã
+ Tăng hoạt động của men 5α-reductase
+ Lượng SHBG (sexual hormon bindinh globulin) trong máu giảm, dẫn đến lượng testosteron tự do đi đến tế bào tuyến bã tăng nhiều hơn
Trang 19-Sừng hóa cổ nang lông tuyến bã: Quá trình sừng hóa cổ nang lông tuyến
bã chịu tác dụng của một số yếu tố: hormon androgen (testosteron), thiếu hụt acid linoleic, tăng acid béo tự do ở tuyến bã, vấn đề vi khuẩn, yếu tố di truyền
Sự phát triển của tuyến bã và chất bã có sự liên quan đến androgen và chính androgen góp phần quan trọng vào sự sừng hóa cổ nang lông tuyến bã
Trong bệnh trứng cá, acid béo tự do tăng, vai trò quan trọng là hóa ứng động quá trình viêm trực tiếp, kích thích làm tăng sự sừng hóa và gây xơ hóa
cổ tuyến bã Chính acid béo tự do tăng kết hợp với sự có mặt của vi khuẩn có men phân hủy chất bã bị ứ trệ góp phần làm bệnh nặng thêm
Sự sừng hóa cổ nang lông còn liên quan đến sự hoạt động và hiện diện của interleukin-1alpha và các cytokin khác Các yếu tố này làm cho quá trình sừng hóa ở cổ nang lông tuyến bã với nhịp độ luân chuyển tế bào tăng, tạo ra khối sừng ở cổ nang lông làm hẹp đường thoát chất bã lên mặt da, thậm chí gây bít tắc hoàn toàn Chất bã bị ứ đọng không được bài tiết lên mặt da dễ dàng và có đào thải cũng không hết Cùng lúc là sự thay đổi trong bản mẫu của quá trình sừng hóa trong nang lông: ở đáy phễu nang lông, chất sừng trở nên đông đặc hơn, các hạt dẹt hình lá thưa thớt, các hạt sừng trong suốt tăng lên, một số tế bào có chứa chất vô định hình là chất mỡ được tạo ra trong quá trình sừng hóa Kết quả tuyến bã bị giãn rộng, chừa đầy chất bã dẫn tới hình thành nhân trứng cá
- Vai trò của vi khuẩn trong nang lông: Trong nang lông có Propionibacterium acnes (P.acnes) còn gọi corynebacterrium acnes, một loại
trực khuẩn có tính chất đa dạng và kị khí Bình thường trong độ tuổi từ 11 đến
14 và 16 đến 20 không tìm thấy P.acnes ở những người không bị trứng cá
Ngược lại, ở những bệnh nhân trứng cá trung bình có khoảng 114.800 P.acnes/cm2 Bằng sinh hóa và huyết thanh học, loại vi khuẩn này được phân
Trang 20thành 2 nhóm: P.acnes (trước đây gọi là Corynebacterium type 1) và
Propionibaterium Grannulosum chủ yếu gặp ở phần nang lông với số lượng rất ít Ngoài các vi khuẩn trên người ta còn thấy một số nấm men Pityrosporum ovale ở trong một số nang tuyến bã
Vi khuẩn P.acnes có khả năng phân hủy lipid, giải phóng acid béo tự
do gây viêm mạch Điều này đã được chứng minh trong thực nghiệm bằng
cách tiêm P.acnes sống vào trong các nang chứa đựng toàn acid béo đã este
hóa Sau khi tiêm, các nang này bị vỡ, các tổ chức xung quanh bị viêm tấy
nhiều Ngược lại nếu tiêm các P.acnes chết vào các nang nói trên thì thấy hiện tượng viêm không đáng kể Thậm chí khi tiêm trực tiếp P.acnes vào trung bì
cũng chỉ gây viêm nhẹ hoặc trung bình Thí nghiệm đã chứng minh rằng men
lipase của P.acnes sống đã phân hủy lipid, giải phóng acid béo tự do, gây
viêm rõ rệt ở tổ chức dưới da
Qua thực nghiệm và thực tế lâm sàng, các nhà nghiên cứu nhận thấy chất
bã bị ứ đọng là điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các vi khuẩn ở phần
dưới cổ nang lông tuyến bã: P.acnes, P.grannulosum, S.blancs, S.albus, S.epidermidis và nấm Pityrosporum ovale So với P.acnes, P.grannulosum có
khả năng phân hủy lipid mạnh hơn nhiều nhưng số lượng ít hơn nhiều nên vai trò gây viêm yếu hơn Những vi khuẩn này tiết ra men: hyaluronidase, protease, lipase lecitinase có khả năng gây viêm và các yếu tố hóa ứng động bạch cầu Các yếu tố hóa ứng động bạch cầu sẽ giải phóng hydrolase thấm vào thành và làm yếu thành nang lông gây viêm và vỡ cùng nhân trứng cá vào lớp trung bì Phản ứng viêm hình thành trứng cá sẩn, mụn mủ, cục và nang
Những nghiên cứu gần đây cho thấy P.acnes gắn vào các thụ thể
(receptor) trên bề mặt các tế bào bạch cầu đa nhân và bạch cầu đơn nhân dẫn tới việc giải phóng nhiều cytokin có khả năng gây viêm: interleukin 8 (IL-8),
Trang 21interleukin 12 (IL-12), yếu tố hoại tử u (TNF) Sự gây viêm của một số vi khuẩn khác cũng bằng cách kích thích theo cơ chế miễn dịch
Như vậy, trên một thể trạng nhất định có tăng sản xuất chất bã dưới tác động của nhiều yếu tố (testosteron, tuổi, môi trường), kết hợp bị sừng hoá cổ nang lông tuyến bã làm cho chất bã bị ứ trệ trong lòng tuyến tạo nên nhân
trứng cá và điều kiện để các vi khuẩn trên da mà điển hình là P.acnes phát
triển phân huỷ chất bã tạo ra nhiều acid béo tự do là nguyên nhân chính gây viêm tấy thành tuyến bã và lan tràn ra xung quanh tạo nên các sẩn viêm, mụn
mủ, những quá tŕnh này phối hợp với nhau tạo thành vòng xoắn bệnh lý Do vậy, việc lựa chọn thuốc trong điều trị bệnh trứng cá, đặc biệt đối trứng cá nặng phải đáp ứng được yêu cầu là giải quyết được các vấn đề gây nên bệnh trứng cá
- Tình trạng viêm [16],[17],[20],[22],[25]: Sự tham gia của các yếu tố vi
khuẩn (nhất là P.acnes), bạch cầu, enzym, các cytokin tiền viêm, TNF-a… hình thành phản ứng viêm tạo các thương tổn viêm như: sẩn, mụn mủ, cục, nang
Hình 1.4 Sinh bệnh học trứng cá Theo Lyte P (2009), các biểu hiện của trứng cá do P.acnes gây ra phản
ứng viêm không những khi vi khuẩn còn sống mà ngay cả khi vi khuẩn đã bị
Trang 22tiêu diệt, cấu trúc màng tế bào vi khuẩn chết cũng có thể kích thích gây phản ứng viêm
Sự tham gia của các yếu tố vi khuẩn (nhất là P.acnes), bạch cầu, enzym,
các cytokin tiền viêm, TNF-a… hình thành phản ứng viêm tạo các thương tổn viêm như: sẩn, mụn mủ, cục, nang Theo Lyte P (2009), các biểu hiện của
trứng cá do P.acnes gây ra phản ứng viêm không những khi vi khuẩn còn
sống mà ngay cả khi vi khuẩn đã bị tiêu diệt, cấu trúc màng tế bào vi khuẩn chết cũng có thể kích thích gây phản ứng viêm
1.1.5 Các yếu tố liên quan đến bệnh trứng cá
Bệnh trứng cá liên quan với nhiều yếu tố, các yếu tố này có thể làm khởi phát bệnh và cũng có thể làm bệnh nặng thêm
- Tuổi: Trứng cá thường khởi phát ở lứa tuổi 13-19, đôi khi muộn hơn ở
tuổi 20-25, hoặc thậm chí ở tuổi 50 [17],[19],[22],[25]
- Giới: Đa số tác giả đều cho rằng nữ bị trứng cá nhiều hơn nam nhưng
các hình thái lâm sàng ở nam thường nặng hơn nữ [17],[20],[26]
- Yếu tố nghề nghiệp: Việc tiếp xúc dầu mỡ, ánh nắng… nhiều làm tăng
khả năng mắc trứng cá [17]
- Yếu tố gia đình: Có liên quan đến bệnh trứng cá Theo Goulden cứ 100
bệnh nhân trứng cá thì 50% có tiền sử gia đình [32]
- Yếu tố thời tiết: Khí hậu nóng, ẩm, hanh khô… cũng ảnh hưởng đến
bệnh trứng cá [20]
- Yếu tố chủng tộc: Người da trắng và da vàng mắc bệnh trứng cá nhiều
hơn người da đen
- Các bệnh nội tiết: Một số bệnh nội tiết gây trứng cá như cường giáp,
Cushing, buồng trứng đa nang…[17]
Trang 23- Chế độ ăn: đồ ăn ngọt (sô cô la, đường…), rượu, bia, cà phê… làm
tăng trứng cá [33] Việc tiêu thụ thực phẩm công nghiệp giàu estrogen có thể làm gia tăng hàm lượng estrogen trong cơ thể, gây mất cân bằng nội tiết tố Các loài động vật được nuôi công nghiệp thường được bổ sung chất steroid estrogen để vỗ béo Khi một người ăn phải thịt của động vật như thế, lượng estrogen dư thừa sẽ đi vào máu và gây ra sự mất cân bằng nội tiết tố
- Yếu tố thần kinh: tâm lý lo lắng, căng thẳng… làm bệnh trứng cá nặng
lên [20], [34], [35] Sự căng thẳng và lo lắng: Sự mất cân bằng nội tiết tố ở những người trẻ tuổi có thể là do tình trạng căng thẳng và lo lắng Tình trạng căng thẳng thường đi kèm với các triệu chứng như tăng/sụt cân, bị mất cơ bắp, cao huyết áp, chóng mặt, lông tóc mọc nhiều trên vùng mặt và mất cân bằng đường huyết Các nghiên cứu đã cho thấy rằng khi một người bị căng thẳng, hàm lượng progesterone trong cơ thể sẽ bị giảm sút Đây là vì progesterone trong cơ thể được sử dụng để tổng hợp chất corticosteroid của tuyến thượng thận, một loại nội tiết tố giúp bảo vệ cơ thể khỏi chứng căng thẳng Tuy nhiên, khi bị căng thẳng, cơ thể không sản sinh ra đủ progesterone, khiến tuyến thượng thận kiệt sức Việc này phá vỡ tỉ lệ cân bằng giữa estrogen và progesterone trong cơ thể, khiến cho hàm lượng estrogen tăng cao
và gây mất cân bằng nội tiết tố
- Thuốc: một số thuốc gây tăng mụn trứng cá như: corticoid, isonazid,
lithium…[23],[36]
- Mỹ phẩm: Các mỹ phẩm có gốc dầu như là dầu thô, dầu bôi trơn, bột tan, dung dịch sáp, v.v., có thể gây mất cân bằng nội tiết tố và làm khô da Chúng kích thích sự sản sinh một số nội tiết tố trong cơ thể, dẫn đến tình trạng mất cân bằng
Trang 241.1.6 Điều trị bệnh trứng cá
Mục tiêu điều trị là tác động vào mắt xích trọng yếu của sinh bệnh học bệnh trứng cá Bốn nguyên tắc chính khi điều trị mụn trứng cá [17],[20], [22],[25],[26]: Làm giảm hoạt động của tuyến bã nhờn; điều chỉnh những thay đổi về sự sừng hóa nang lông; làm giảm sự phát triển của vi khuẩn, đặc
biệt là P.acnes, ức chế sản xuất các sản phẩm của viêm nhiễm ngoại bào
thông qua việc ức chế sự phát triển của vi khuẩn và chống viêm
Ngoài ra, vấn đề chăm sóc da, khống chế các yếu tố liên quan như thức
ăn, thức khuya, môi trường làm việc, thời tiết khí hậu… là rất cần thiết kết hợp thêm sự phối hợp tốt của người bệnh và hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa Các thuốc điều trị bệnh trứng cá gồm thuốc tại chỗ và toàn thân
1.1.6.1 Điều trị tại chỗ
Các sản phẩm bôi điều trị tại chỗ có lợi thế là tác động trực tiếp tới vùng tổn thương do mụn, do đó giảm sự hấp thu toàn thân và tăng sự tiếp xúc để điều trị Tuy nhiên, các sản phẩm này cũng có hạn chế là có thể gây các tác dụng phụ làm kích ứng da tại chỗ Các sản phẩm sử dụng điều trị tại chỗ có nhiều loại chế phẩm với các công thức khác nhau, bao gồm cả các loại kem, gel,…[37] Điều trị tại chỗ thì thường dựa vào mức độ nghiêm trọng của mụn trứng cá Mụn trứng cá nhẹ thì thường được điều trị bằng retinoid tại chỗ, hoặc các phương pháp điều trị khác như acid azelaic, acid salicylic, benzoyl peroxide.Mụn viêm nhẹ hoặc trung bình có thể được điều trị bằng thuốc chống viêm tại chỗ cũng như các kháng sinh tại chỗ [38] Các loại thuốc điều trị mụn khác nhau có đích tác động vào các yếu tố sinh lý bệnh khác nhau của mụn trứng cá [39]
- Retinoid: Retinoids có thể sử dụng điều trị cho các mụn viêm, các
trường hợp mụn trứng cá nặng Nó giúp giảm tạo mụn trứng cá, giảm sản xuất
Trang 25bã nhờn Ngoài ra nó cũng thể hiện khả năng chống viêm [40] Khi điều trị mụn viêm thì dùng retinoids kết hợp với các kháng sinh tại chỗ cho hiệu quả
rõ Tuy nhiên, khi dùng retinoids có tác dụng phụ thường gặp là khô da và đặc biệt là bệnh nhân sẽ lên mụn nhiều trong một vài tuần đầu điều trị [41] Một
số retinoids phổ biến thường dùng hiện nay như: tretinoin, adapalene, tazarotene,… Tuy nhiên dạng phổ biến nhất ta hay gặp là tretinoin Tretinoin
là một dạng của vitamin A [42] Nó là thuốc điều trị mụn trứng cá tại chỗ đã được sử dụng trong hơn ba thập kỷ qua [34],[43] Người ta thấy rằng nó có tác dụng làm bong các tế bào biểu mô, giảm tắc nghẽn các tuyến bã nhờn và cũng có tính kháng viêm
- Kháng sinh tại chỗ: Các kháng sinh tại chỗ thường để điều trị các mụn viêm nhẹ đến trung bình Chúng có tác dụng diệt P acnes, giảm phản ứng
viêm của tổn thương [44] Các kháng sinh tại chỗ phổ biến nhất được sử dụng trong điều trị mụn trứng cá hiện nay là erythromycin và clindamycin Tuy nhiên do sự lạm dụng và điều trị không tuân thủ phác đồ dẫn tới tỷ lệ kháng thuốc với các loại kháng sinh này ngày càng cao [45] Do đó nên kết hợp các kháng sinh tại chỗ với các phương pháp điều trị tại chỗ khác như phối hợp với
retinoids, kẽm,…Erythromycin là kháng sinh nhóm macrolid, tác động ngăn
chặn sự tổng hợp protein của vi khuẩn từ đó ngăn cản sự hoạt động và nhân lên của vi khuẩn Nó đã được coi là loại kháng sinh điều trị tại chỗ với mụn
trứng cá cho hiệu quả cao, nhưng thời gian gần đây người ta thấy rằng P acnes
đã tăng tính đề kháng với erythromycin Điều này đã làm cho các nhà khoa học ngày càng quan tâm hơn tới việc phát triển các thuốc kháng sinh tại chỗ
khác trong điều trị mụn trứng cá [43],[46] Clindamycin là kháng sinh thuộc
nhóm lincosamide Nó cũng có cơ chế tác dụng giống với erythromycin trong điều trị mụn trứng cá
Trang 26- Hóa chất tẩy tế bào chết với Hydroxy Acid: Mặt nạ hóa học có tác dụng
trong việc loại bỏ các lớp biểu bì và kích thích tái tạo, trẻ hóa da [47] Mặt nạ hóa chất được dùng như là sản phẩm lột Nó cũng có thể làm giảm sắc tố da Dựa theo độ sâu xâm nhập và phá hủy của các hóa chất mà người ta chia liệu pháp này thành các nhóm khác nhau Acid alpha-hydroxy (tức acid glycolic
và acid acid lactic) và các beta-hydroxy (như acid salicylic) là những hóa chất phổ biến nhất được dùng làm mặt nạ hóa học điều trị mụn [37],[47],[48] Tuy nhiên phương pháp này để lại nhiều biến chứng và các tác dụng phụ như mất sắc tố, tăng sắc tố Đồng thời cũng có rất ít các tài liệu, bằng chứng cho thấy mặt nạ hóa học là an toàn, dễ sử dụng, nhất là với lứa tuổi thanh thiếu niên [49] Vì thế nó chỉ được coi như phương pháp điều trị bổ sung chứ không phải lựa chọn đầu tay trong điều trị mụn
- Benzoyl Peroxide: Benzoyl peroxide là chất khử trùng tại chỗ, ban đầu
được sử dụng như một chất lột cho việc điều trị mụn [50] Nó có tính kháng khuẩn bằng cách giải phóng các gốc tự do, để phân hủy protein vi khuẩn, tuy nhiên không ảnh hưởng tới việc tiết bã nhờn Theo nghiên cứu của Bershad [51] cho thấy Benzoyl peroxide không chỉ có tác dụng điều trị mụn viêm mà còn làm giảm việc hình thành mụn trên da Benzoyl peroxide là liệu pháp quan trọng trong điều trị mụn viêm nhẹ đến trung bình, mặc dù nó có thể được sử dụng như là đơn trị liệu trong thời gian 6-8 tuần, tuy nhiên vẫn thường được kết hợp với kháng sinh tại chỗ để làm giảm sức đề kháng
của P.acnes và tăng hiệu quả điều trị [38],[52].
- Azelaic Acid: Azelaic acid là một acid dicarboxylic tự nhiên có tác dụng ức chế tổng hợp protein của P.acnes [38],[40] Nó có tác dụng kháng
khuẩn, chống viêm, chống oxy hóa và chống sừng hóa [53]
Trang 27- Niacinamide: Niacinamide là một amide hoạt động của vitamin B3 và
bao gồm niacin (còn gọi là nicotinic acid) và amide của nó Nó còn được gọi
là nicotinamide [54],[55] Cơ chế tác dụng của nó là ức chế sự bài tiết bã nhờn, từ đó làm giảm chất nhờn của da [55],[56] Nó cũng đã được chứng minh là có tác dụng chống viêm, có tác dụng trong điệu trị các mụn mủ cũng như các mụn nhỏ ở da [57],[58] Bôi thuốc có niacinamide 4% đã mang tới sự cải thiện đáng kể cho các bệnh nhân bị mụn trứng các trên toàn thế giới
1.1.6.2 Thuốc điều trị toàn thân
Điều trị toàn thân với mụn trứng cá được chỉ định khi các điều trị tại chỗ không mang lại hiệu quả Nó cũng là lựa chọn được ưu tiên khi điều trị các tổn thương viêm Các loại chế phẩm điều trị toàn thân thường được dùng nhất
là các isotretinoin, kháng sinh uống và thuốc nội tiết tố [59],[60]
- Retinoid: Isotretinoin là một retinoid toàn thân và dẫn xuất của
vitamin A Nó hiện được sử dụng như một thuốc điều trị đầu tay cho các tình trạng mụn viêm, mụn trứng cá nặng và có khả năng kìm hãm mụn trứng cá trong thời gian dài [38],[60]
Isotretinoin có tác dụng trên cả bốn yếu tố gây mụn [61] Isotretinoin gây tác động tới tuyến bã nhờn, gây giảm sản xuất bã nhờn, thay đổi hệ vi khuẩn
da từ đó làm giảm tỷ lệ P acnes trong các nang lông Nó cũng giúp làm bong
nhanh các tế bào sừng, giảm sự bít tắc [38],[51],[61],[62] Tuy nhiên khi điều trị bằng retinoids đường toàn thân cần theo dõi sát và dặn dò bệnh nhân theo dõi sau dùng thuốc, để hạn chế các tác dụng phụ
-Kháng sinh toàn thân: Mụn trứng cá có tình trạng viêm, đặc biết là các
trường hợp viêm nặng thường được chỉ định điều trị kháng sinh đường uống Các thuốc kháng sinh thường dùng như macrolid (erythromycin, clindamycin, azithromycin), levofloxacin, tetracycline(doxycycline, minocycline)
Trang 28[40],[61],[63] Trong đó các kháng sinh nhóm tetracycline thường được sử dụng vì có hiệu quả điều trị và hiệu quả kinh tế cao
Ngoài ra, hiện nay còn có rất nhiều phương pháp khác đang được sử dụng trong việc điều trị mụn trứng cá như: dùng thuốc tránh thai [64] ở phụ
nữ, các sản phẩm từ trà xanh [65],[66] một số loại bùn khoáng …[67],[68]
Tại nước ta, dựa trên ý kiến chuyên gia quốc tế và kinh nghiệm điều trị ở Việt Nam, Hội đồng khoa học bệnh viện Da liễu Trung Ương đưa ra khuyến cáo và phác đồ điều trị bệnh trứng cá thông thường như sau:
- Để đạt hiệu quả cao cần điều trị đúng thuốc, đúng phác đồ theo từng thể bệnh (nhẹ, vừa, nặng) Tuy nhiên, nếu sau 1 tháng điều trị không kết quả, cần hội chẩn cao cấp hơn
- Cần phối hợp các thuốc bôi, tốt nhất là kháng sinh với Retinoid
- Không điều trị kháng sinh bôi/uống đơn độc và kéo dài để tránh hiện tượng kháng thuốc
- Tránh tái phát cần điều trị duy trì sau khi bệnh đã ổn định Thời gian điều trị duy trì khoảng từ 2-4 tháng
- Điều trị sớm để tránh được các biến chứng
- Có thể điều trị các biến chứng của trứng cá (sẹo lồi, sẹo lõm, sẹo quá phát, dát thâm,…) bằng laser, ánh sáng, sản phẩm tế bào gốc
- Cần phối hợp điều trị các nhiễm khuẩn, nấm, kí sinh trùng… nếu có
- Có chế độ ăn uống, sinh hoạt điều độ, hợp lý, tránh các stress
Trang 29Phác đồ điều trị bệnh trứng cá thông thường
(theo Hội Da liễu Việt Nam)
BP Uống:
- Kháng sinh
- Có thể dùng liệu pháp hormone
Bôi:
Retinoid và BP hoặc kháng sinh
Uống:
Isotretinoin hoặc/và kháng sinh hoặc liệu pháp hormon
Bôi:
Retinoid và kháng sinh Hoặc:
Kháng sinh và
BP
1.2 Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) về bệnh trứng cá
1.2.1 Thế nào là nghiên cứu KAP (Knowledge-Attitude-Practive) [69]
Hành vi của con người bao gồm ba thành phần chính là kiến thức-thái độ-thực hành Do vậy, nghiên cứu KAP là nghiên cứu ba nội dung trên của con người về một vấn đề, một bệnh nào đó
- Kiến thức: Kiến thức được bắt đầu từ kinh nghiệm, kiến thức có thể
thông qua các thông tin từ báo chí, truyền hình, đài phát thanh, báo chí, lớp học, nhà trường, bạn bè, người thân… Nghiên cứu kiến thức là kiểm tra lại xem kiến thức đó có đúng hay không đúng, có biết hay không biết về một vấn
đề nào đó Trong nghiên cứu này là kiến thức về bệnh trứng cá
- Thái độ: Thái độ phản ánh những gì mà người ta thích hay không
thích Thái độ bắt nguồn từ kinh nghiệm bản thân hoặc kinh nghiệm của
Trang 30người gần gũi, khiến người thích điều này không thích điều kia, chấp nhận
(đồng ý) hay không chấp nhận (không đồng ý) vấn đề gì
- Thực hành: Thực hành là hành vi lành mạnh hoặc không lành mạnh
Trong nghiên cứu KAP người ta cần tìm những hành vi có lợi cho sức khỏe
cần được duy trì và phát hiện những những hành vi ảnh hưởng xấu đến sức
khỏe để tránh và cần thay đổi Trong nghiên cứu này, KAP sẽ giúp tìm ra
những hành vi giúp cho khống chế bệnh trứng cá và những hành vi cần tránh
để bệnh trứng cá không xuất hiện hoặc tái phát…
Để có được những thông tin về kiến thức-thái độ-thực hành của cộng
đồng nơi nghiên cứu, người ta thường sử dụng các kỹ thuật thu thập thông tin
khác nhau như: phỏng vấn, quan sát, thảo luận tổ nhóm, phỏng vấn sâu…
Để thay đổi hành vi của con người, thì theo nguyên lý khoa học phải
trải qua các bước: từ chỗ chưa hiểu biết hiểu biết/nhận thức sự liên quan kiến thức và kỹ năng động lực thay đổi sự sẵn sàng thay đổi thử
nghiệm hành vi mới duy trì và chấp nhân hành vi mới
Như vậy, muốn nghiên cứu KAP về một bệnh nào đó cần có bộ câu hỏi
tương ứng về kiến thức, thái độ, thực hành của bệnh đó Do vậy, để nghiên
cứu KAP về bệnh trứng cá, chúng tôi đã đưa ra bô câu hỏi 26 câu đã được Hội
đồng chấm đề cương thông qua (xem mục lục 1)
1.2.2 Biện pháp nâng cao kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh trung
học phổ thông về mụn trứng cá
Truyền thông giáo dục sức khỏe là biện pháp được áp dụng nhiều nhất
và có hiệu quả cao nhất để nâng cao kiến thức, thái độ, thực hành trong cộng
đồng Để nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh trứng cá của học
sinh, chúng tôi sẽ thực hiện theo kế hoạch và bám sát bộ câu hỏi để phỏng vấn
Trang 31học sinh trước và sau can thiệp, so sánh kết quả Các biện pháp để nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành thường dùng các biện pháp sau:
- Truyền thông trực tiếp: Các báo cáo viên trực tiếp giao tiếp với học
sinh bằng các hình thức khác nhau như nói chuyện, thảo luận, tư vấn
+ Các buổi nói chuyện trực tiếp giữa chuyên gia với học sinh trung học phổ thông về bệnh trứng cá (nguyên nhân, cơ chế, các yếu tố làm tăng bệnh, cách điều trị và dự phòng, vê sinh cá nhân, môi trường….)
+ Thảo luận nhóm: Chuyên gia đưa ra các nội dung cần thảo luận để học sinh nêu chứng kiến của mình và cuối cùng chuyên gia kết luận vấn đề để học sinh hiểu
+ Tư vấn: Chuyên gia tư vấn cho học sinh những nội dung cần trong chương trình và các nội dung học sinh yêu cầu tư vấn
- Truyền thông gián tiếp: Học sinh được tìm hiểu về bênh trứng cá
được các chuyên gia da liễu trình bày trên các kênh truyền hình (VTV2,…), đài phát thanh (kênh VOV), trang mạng, các sách, bảng tin, tờ rơi…
1.2.3 Một số nghiên cứu về bệnh trứng cá trên Thế giới và Việt Nam
Tại Úc, sự khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh trứng cá ở cả hai giới chênh lệch không đáng kể ở lứa tuổi từ 13-15 với 77% nam và 79% nữ Tuy nhiên, ở lứa tuổi 16-18 thì tỷ lệ nam bị mụn cao hơn và thường nặng hơn [71]
Trang 32Nghiên cứu của Saurat tại Pháp và Klaus Degit tại Đức thì tỷ lệ bị mụn ở lứa tuổi thanh thiếu niên đều là 80% [1],[72] Theo Saurat khoảng 1,5% bệnh nhân nam và 0,4% nữ diễn tiến bệnh kéo dài và nặng nề với sự xuất hiện những sang thương dạng cục, nang, mưng mủ, mãn tính, tái phát, dai dẳng [11],[72]
Ở Hy Lạp cũng đã có nghiên cứu về kiến thức của học sinh về bệnh mụn trứng cá với kết quả nhìn chung kiến thức về nguyên nhân bệnh còn thấp và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm có bệnh và không bệnh [73] Tương tự như nghiên cứu của Rigopoulos trên học sinh cấp hai Hy Lạp, 55,1% học sinh nghĩ nguyên nhân là do hormone, 5,7% là do di truyền, 31,9%
là do stress, 14,9% là do nhiễm trùng [8]
Mụn trứng cá làm ảnh hưởng đến các mối quan hệ xã hội và công việc, học tập của người bệnh [74],[75] Theo nghiên cứu của Jancin trên những thiếu niên Anh cho thấy có 39% họ tránh đi đến trường vì xấu hổ, 55% cho rằng mụn trứng cá làm cho họ không có bạn trai hay gái, 35% khó kết bạn [9] Theo ghi nhận của Grake LA thì mụn trứng cá không chỉ gây nên các ảnh hưởng về mặt thể chất mà còn gây ảnh hưởng đáng kể về mặt tinh thần, ngay cả đối với bệnh nhân bị mụn trứng cá ở mức độ nhẹ Nghiên cứu của Jowet cho thấy 70% bệnh nhân mụn trứng cá có cảm giác xấu hổ, 63% lo âu
và 27% trầm cảm thực sự Nghiên cứu của Webber C đã tìm thấy mối liên quan
có ý nghĩa thống kê giữa việc điều trị kém với tình trạng vi khuẩn P.acnes kháng
với nhiều loại kháng sinh, ngay cả với bệnh nhân mới điều trị [71]
1.2.3.2 Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về bệnh trứng cá và kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh trứng cá:
Trang 33Theo Huỳnh Văn Bá, số bệnh nhân đến bệnh viện da liễu Cần Thơ để khám và điều trị bệnh trứng cá, đứng thứ 2 sau bệnh nám [76] Nghiên cứu tình hình bệnh da liễu tại phòng khám da liễu bệnh viện trung ương Huế cho thấy nhóm bệnh trứng cá chiếm 10,5% Trong đó có trên 30% trường hợp bị bệnh nặng do điều trị sai hoặc tự điều trị dẫn đến biến chứng sẹo lồi Có 52% bệnh nhân sẹo lồi là nam giới [77]
Theo Trần Thị Hạnh và Nguyễn Thị Giao Hạ cho thấy tỷ lệ lưu hành bệnh trứng cá ở sinh viên Đại học Y dược Cần Thơ là 90,2% cho cả hai giới, trong đó, nam mắc bệnh trứng cá (91,3%) cao hơn nữ (88,8%) Đa số sinh viên mắc bệnh ở mức độ trung bình (53,9%), 38,6% mức độ nhẹ Chỉ có 7,5% mức độ nặng Nghiên cứu cũng đã xác định yếu tố nguy cơ có liên quan đến bệnh trứng cá là thói quen sử dụng mỹ phẩm ở nữ, chu kì kinh nguyệt ở nữ Nghiên cứu này cũng ghi nhận có sự khác biệt về thói quen thực hành ở nam
và nữ về sử dụng sữa rửa mặt, sử dụng mỹ phẩm [78] Kết quả của Trần Thị Hạnh cho thấy tỉ lệ hiện mắc ở học sinh trung học phổ thông Châu Văn Liêm
là 82,5% (nam 83,9%; nữ 81,7%) Tỷ lệ học sinh có kiến thức đúng về nguyên nhân bệnh trứng cá chỉ chiếm 62,5% [10] Nhìn chung kiến thức về nguyên nhân còn thấp, và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm có bệnh và không bệnh Tỉ lệ học sinh có quan tâm về mụn trứng cá là 84,4% Có mối liên hệ giữa sự quan tâm về mụn trứng cá và giới tính Tỉ lệ có quan tâm về mụn trứng cá giữa hai phái chênh lệch tương đối rõ, nữ quan tâm
về mụn trứng cá nhiều hơn nam [10] 69,4% học sinh cho lối sống là nguyên nhân chính, kế đến là nhiễm trùng da (68,6%), hormone (62,5%), thực phẩm (52,3%), stress (37,3%), di truyền (18%) Về yếu tố bộc phát 86,4% cho là do kém vệ sinh da, 50,9% do chế độ ăn, 47,2% do mỹ phẩm, 44,2% do thời tiết, 40,5% do stress Xác định được một số yếu tố nguy cơ như lượng nước uống, thói quen dùng mỹ phẩm Các yếu tố khác như chế độ ăn, lối sống, vệ sinh da
Trang 34chưa cho thấy có ảnh hưởng đến bệnh Xác định sự khác biệt trong thực hành
và thái độ giữa nam và nữ như sự quan tâm đến bệnh, massage mặt, dùng sữa rửa mặt, dùng mỹ phẩm, lượng nước uống mỗi ngày, thức khuya, uống cà phê, uống rượu bia Mụn trứng cá gây ảnh hưởng thiếu tự tin, buồn chán, xấu
hổ, ảnh hưởng ít nói của nam nhiều hơn nữ [10]
Tại bệnh viện da liễu Thành phố Hồ Chí Minh, bệnh rất phổ biến, chiếm 17,97% tổng số bệnh nhân đến khám, chỉ đứng hàng thứ 2 sau chàm [11] Tỉ
lệ hiện mắc bệnh trứng cá ở học sinh rất cao 80,53%, giữa nam và nữ là không có sự khác biệt Kiến thức sai về nguyên nhân và các yếu tố bộc phát mụn còn phổ biến ở học sinh: 42,13% nguyên nhân là do nhiễm trùng; 39,2% nguyên nhân là do lối sống Yếu tố bộc làm bộc phát mụn; 90,4% cho là yếu
tố do bụi; 65,33% cho là yếu tố do kém vệ sinh da mặt [11]
Sẹo trứng cá nếu không điều trị sẽ tồn tại suốt đời, làm bệnh nhân mất tự tin, có thể dẫn đến trầm cảm, thậm chí gây ảnh hưởng đến nghề nghiệp, năng suất lao động, ảnh hưởng đến các mối quan hệ xã hội [79]
1.3 Trường THPT Hà Huy Tập, TP Vinh, Nghệ An
Ngày 22 tháng 12 năm 1975 Trường trung học phổ thông (THPT) Hà Huy Tập, TP Vinh, Nghệ An được thành lập Ban đầu trường có tên là trường vừa học vừa làm tỉnh Nghệ An
Tháng 4 năm 1977, trường được đổi tên thành trường phổ thông cấp 3 Vinh 2
Năm 1981, trường được đổi tên thành trường phổ thông trung học mang tên Cố tổng bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Hà Huy Tập
Từ năm 2005 đến nay, trường đổi tên thành trường trung học phổ thông
Hà Huy Tập tại số 8 Phan Bội Châu, TP.Vinh, Nghệ An
Trang 35Tổ chức biên chế của Trường:
- Trường có 91 giáo viên gồm các bộ môn: Toán, Văn, ngoại ngữ, ……
- Học sinh có 3 khối học sinh: Mỗi khối có 13 lớp
Khối 10: có 495 em, khối 11: có 510 em và khối 12: có 515 em Cả 3 khối có 1520 học sinh Các học sinh chủ yếu sinh sống tại Thành phố Vinh,
Nghệ An và các xã lân cận của huyện Nghi Lộc, Nam Đàn, Hưng Nguyên
Trang 36CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
302 học sinh của 3 khối 10, 11, 12 (mỗi khối 3 lớp) đang học tập tại trường trung học phổ thông Hà Huy Tập, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Tiến cứu, cứu mô tả cắt ngang
Trang 37Cỡ mẫu của nghiên cứu sẽ được tính cho từng nội dung nghiên cứu cả
về kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh trứng cá Cỡ mẫu cho nghiên cứu là
cỡ mẫu lớn nhất được tính cho mỗi nội dung
Trong nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh trứng cá của học sinh trung học phổ thông Châu Văn Liêm, thành phố Cần Thơ của Trần Thị Hạnh Kết quả như sau:
Kiến thức đạt Thái độ quan tâm
Thực hành
Thói quen điều trị
Thói quen nặn mụn Lối sống
p: Tỷ lệ học sinh có thái độ quan tâm về bệnh trứng cá trong nghiên cứu của Trần Thị Hạnh tại trường trung học phổ thông Châu Văn Liêm (p=0,844) Như vậy cỡ mẫu tính được là:
𝑛 = 𝑍(1−𝛼/2)2 𝑝(1 − 𝑝)
𝑑2 = 1,96
2𝑥0,844𝑥(1 − 0,844)0,052
Cỡ mẫu cho toàn trường (3 khối) là: 202 (học sinh) Trên thực tế cỡ mẫu của chúng tôi 302 học sinh
Trang 38Bước 3: Chọn mẫu: Toàn trường có 39 lớp, mỗi khối có 13 lớp Để đảm bảo số học sinh được tính theo cỡ mẫu, chúng tôi sẽ chọn ngẫu nhiên mỗi khối 3 lớp (đánh số lớp mỗi khối và bắt thăm ngẫu nhiên mỗi khối 3 lớp) Bước 4: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp học sinh các lớp đã được chọn và thu thập các số liệu cần thiết theo mẫu nghiên cứu
2.2.3 Phương pháp và kế hoạch tiến hành
- Phỏng vấn trực tiếp học sinh dựa vào bộ câu hỏi thiết kế sẵn
- Thời gian thực hiện: Nghiên cứu bắt đầu tiến hành từ tháng 10 năm
2015 và kết thúc vào tháng 6 năm 2016 tại trường trung học phổ thông Hà Huy Tập, Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
+ Tháng 10/2015: Phỏng vấn lần 1 (trước can thiệp) kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh trứng cá của học sinh trường trung học phổ thông Hà Huy Tập
+ Từ tháng 11/2015 đến tháng 4/2016: thực hiện biện pháp giáo dục y tế (truyền thông giáo dục sức khỏe về kiến thức bệnh, nguyên nhân, cách phòng tránh và điều trị đối với bệnh trứng cá) cho học sinh 3 khối lớp 10, 11, 12 của trường trung học phổ thông Hà Huy Tập
+ Tháng 5-6/2016: Phỏng vấn lần 2 (sau can thiệp) kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh trứng cá của học sinh trường trung học phổ thông Hà Huy Tập
- Cách phỏng vấn: trực tiếp Các điều tra viên sẽ được tập huấn trước với
bộ câu hỏi đã được test thử, chỉnh sửa hoàn thiện và được Hội đồng chấm đề cương của Bộ môn Da liễu - Đại học Y Hà Nội thông qua
Trang 392.2.4 Biến số và chỉ số (Bộ câu hỏi)
thu thập
Đặc điếm của đối tượng nghiên cứu
3 Tiền sử BTC
Đã từng bị bệnh trứng cá chưa?
(% đối tượng đã từng bị bệnh trứng cá)
Trang 40Thái độ về sơ cấp cứu
13 Thái độ của đối
tượng đối với BTC
Có quan tâm không?