1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số quần áo trẻ em gái mẫu giáo 6 tuổi thành phố hồ chí minh

77 628 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số công trình nghiên cứu các đặc điểm nhân trắc tĩnh và động tiêu biểu là: - Việc nghiên cứu một cách có hệ thống và đã sơ bộ chuẩn hoá về phương pháp được kể đến sớm nhất là công tr

Trang 1

Huỳnh Thị Kim Liên -1- Ngành CN Vật liệu Dệt May

MỞ ĐẦU

Dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may đạt 13.8 tỷ USD trong năm 2011, tuy xuất khẩu hàng dệt may vẫn duy trì mức tăng trưởng cao ở các thị trường Mỹ, EU và Nhật Bản, nhưng cũng đã tận dụng tốt các cơ hội từ các Hiệp định thương mại tự do FTA mang lại để đẩy mạnh xuất khẩu sang một

số thị trường tiềm năng như: Hàn Quốc, Canada, Trung Đông… Ngoài hoạt động xuất khẩu, nhiều doanh nghiệp dệt may đã tập trung đầu tư cho thị trường nội địa với chất lượng, mẫu mã, thiết kế, kênh phân phối, đem lại diện mạo mới cho hàng dệt may nội địa

Trước tình hình ngành nghề đang trên đà phát triển nhưng cơ sở phục vụ cho việc phát triển thì còn kém cỏi và quá lạc hậu, điển hình như sử dụng hệ thống cỡ số quá lỗi thời (TCVN 5782-1994)

Mức sống ngày một cao, GDP tăng, trình độ con người cũng tăng… và nhiều vấn đề nâng cao mức sống con người cũng thay đổi theo, đó là lý do tại sao con người ta cùng một độ tuổi nhưng khác năm lại có sự chênh lệch kích thước

Hệ thống cỡ số cũ không bắt kịp được sự thay đổi đó, các doanh nghiệp

đã tự thân vận động bằng cách đi vay mượn hệ thống cỡ số của nước bạn hay

tự sáng tác ra hệ thống cỡ số… mỗi doanh nghiệp một hệ thống cỡ số và hậu quả là: khách hàng ra thị trường không biết chọn size nào với các thương hiệu khác nhau! Với quần áo trẻ em cũng vậy, mặt hàng quần áo trẻ em đã được các doanh nghiệp để mắt tới cụ thể là các nhãn hàng Sanding, Việt Tiến, Phương Đông…chú trọng Thế nhưng họ vẫn sản xuất theo hệ thống cỡ số riêng của họ

Trẻ em là mầm non tương lai của đất nước, cần phải được quan tâm về nhiều mặt, kể cả việc ăn mặc, chính vì thế mà tôi chọn đề tài “nghiên cứu xây

Trang 2

Huỳnh Thị Kim Liên -2- Ngành CN Vật liệu Dệt May

dựng hệ thống cỡ số” để phục vụ cho thiết kế công nghiệp Vì điều kiện kinh phí và thời gian hạn hẹp nên đề tài nghiên cứu chỉ giới hạn ở phạm vi nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số ở trẻ em gái mẫu giáo 6 tuổi địa bàn quận 7 Tp

Hồ Chí Minh

Trang 3

Huỳnh Thị Kim Liên -3- Ngành CN Vật liệu Dệt May

CHƯƠNG I TỔNG QUAN

Trang 4

Huỳnh Thị Kim Liên -4- Ngành CN Vật liệu Dệt May

Lúc ban đầu, những dấu hiệu nhân trắc chủ yếu phục vụ cho việc nghiên cứu loại hình người (typologie) Song từ cuối thế kỷ 19 đến thế kỷ 20, ở nhiều nước phương tây, người ta đã vận dụng dấu hiệu nhân trắc vào việc thiết kế các sản phẩm công nghiệp phục vụ chiến tranh thế giới lần thứ nhất

Trong những năm 40 và 50 của thế kỷ 20, không lĩnh vực thiết kế công nghiệp nào có liên quan đến con người mà không sử dụng các dấu hiệu nhân trắc Nhân trắc học ứng dụng cho ecgônômi trong giai đoạn đó được đặc biệt quan tâm, thu hút nhiều nhà nghiên cứu nhân trắc học tham gia

Một số công trình nghiên cứu các đặc điểm nhân trắc tĩnh và động tiêu biểu là:

- Việc nghiên cứu một cách có hệ thống và đã sơ bộ chuẩn hoá về phương pháp được kể đến sớm nhất là công trình của Barnes (Pháp) vào đầu những năm 1960 Trên một mặt ngang vừa tầm ngồi, tác giả xác định những vòng cung thể hiện tầm hoạt động của tay, tức là tầm với tay trong khi lưng và vai cố định

- Năm 1964, một hội nghị khoa học của Hội chỉnh hình thuộc các nước nói tiếng Anh được tổ chức tại Vnacouver (Canada), đã thông qua phương pháp đo và ghi tầm hoạt động khớp

Trang 5

Huỳnh Thị Kim Liên -5- Ngành CN Vật liệu Dệt May

- Vào những năm 1967- 1968, Rebiffe (Pháp) đã xác định vùng hoạt động của tay theo hai mặt phẳng: mặt ngang và mặt dọc (là mặt qua trục đối xứng cơ thể) trong trạng thái ngồi và mặt lưng có độ nghiêng về trước 300

- Trong những năm 70, Kennedy (Mỹ) đã mở rộng phương pháp khảo sát theo không gian ba chiều và với một số mặt ngang song song có độ cao thấp khác nhau nhằm nghiên cứu chủ yếu tầm hoạt động tay trong không gian phục

vụ cho thiết kế cabin máy bay

- Atlas nhân trắc học của Ba Lan năm 1972, là công trình tập thể của cán

bộ khoa học thuộc nhiều ngành khác nhau dưới sự chỉ đạo của Ban Nhân học- Viện hàn lâm khoa học Ba Lan (PAN) Atlas trình bày kết quả nghiên cứu trên 70 dấu hiệu nhân trắc trong số gần 200 dấu hiệu nhân trắc dự định nghiên cứu lúc ban đầu Toàn bộ kết quả nghiên cứu trình bày gọn trong một bảng số liệu kèm theo các hình vẽ minh họa

- Atlas nhân trắc học của Liên Cô (cũ), 1977, với mục tiêu chỉ dẫn phương pháp nghiên cứu khảo sát các dấu hiệu nhân trắc ecgônômi cho các nước thành viên của Hội đồng tương trợ kinh tế Một trăm linh hai chỉ tiêu nhân trắc học được trình bày trong Atlas là một mẫu mực về công trình nghiên cứu nhân trắc học

- Atlas nhân trắc học của Cộng hòa dân chủ Đức (cũ), 1987, mang tính toàn diện và khái quát Ngoài các dấu hiệu nhân trắc giống như trong Atlas của Liên Xô và Ba Lan Atlas nhân trắc học của Đức còn đưa ra các kết quả nghiên cứu về vùng hoạt động của tay ở các mức rào chắn cao- thấp khácnhau, kết quả nghiên cứu tầm hoạt động của khớp, lực tác động của tay, chân, toàn thân ở các góc độ và tư thế khác nhau Tập Atlas này là một tài liệu quý cho các nhà thiết kế ecgônômi

Trang 6

Huỳnh Thị Kim Liên -6- Ngành CN Vật liệu Dệt May

Năm 1996, tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO) đã ban hành tiêu chuẩn 7250

“Các kích thước cơ bản của con người cho thiết kế và kỹ thuật” Tiêu chuẩn

đã đưa ra được kỹ thuật đo 55 kích thước nhân trắc ecgônômi cơ bản nhất Tóm lại, nhân trắc học ecgônômi là một hướng nghiên cứu trẻ nhất của khoa học nhân trắc học Nhân trắc học ecgônômi được hình thành và phát triển nhanh chóng do nhu cầu đòi hỏi của thực tiển sản xuất đặt ra Ngày nay,

ở hầu hết các nước công nghiệp phát triển, dấu hiệu nhân trắc ecgônômi phong phú, đa dạng, đáp ứng và phục vụ các yêu cầu đòi hỏi của ecgônômi Những nguyên lý, qui tắc chỉ sử dụng các dấu hiệu nhân trắc đã được xây dựng và phổ biến rộng rãi Các loại máy móc, thiết bị sản xuất, chỗ làm việc đều được thiết kế dựa trên các dấu hiệu nhân trắc của người vận hành Các sản phẩm công nghiệp cũng như dân dụng đều chứa đựng trong nó những đặc tính của người sử dụng

1.1.2 Lịch sử nhân trắc ở Việt Nam [1]

Nhân trắc học ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 1930 tại Ban Nhân học thuộc Viện Viễn đông bác cổ (Ecole d’ extreme) Kết quả nghiên cứu nhân trắc đã được công bố trong các công trình nghiên cứu tại Viện Giải phẩu học, Đại học Y khoa Đông Dương 1936- 1944 Cuốn “ Hình thái học và giải phẫu

mỹ thuật” là một trong những tác phẩm đầu tiên của Bác sỹ Đỗ Xuân Hợp cộng tác với giáo sư Huard xuất bản năm 1942

Từ những năm 1950 đến nay, các bộ môn nhân trắc dần dần được thành lập ở một số viện nghiên cứu khoa học và trường đại học để làm nhiệm vụ nghiên cứu và giảng dạy Những kết quả nghiên cứu nhân trắc đã và đang có những đóng góp đáng kể cho các lĩnh vực khác nhau Có thể tạm khái quát các kết quả nghiên cứu nhân trắc theo các hướng chính sau:

- Các kết quả đi theo hướng tìm hiểu các đặc trưng hình thái, chủng tộc của các cộng đồng người Việt Nam Những công trình nghiên cứu theo hướng

Trang 7

Huỳnh Thị Kim Liên -7- Ngành CN Vật liệu Dệt May

này tập trung nhiều vào những năm cuối của thập kỷ 60 đến đầu những năm

80 Các tác giả và tác phẩm theo hướng này là: Nguyễn Đình Khoa, Nguyễn Quang Quyền, Võ Hưng, Nguyễn Duy…cũng có nhiều đóng góp cho hướng nghiên cứu này

- Các nghiên cứu nhằm khảo sát đánh giá thể lực, sự tăng trưởng, phát triển về hình thái cơ thể được phát triển hơn cả suốt từ khi môn nhân trắc học được hình thành đến nay Các tác giả đại diện của nhóm này là: Đinh Kỷ, Nguyễn Công Khanh, Lê Nam Trà…Một số tác giả như: Nguyễn Quang Quyền, Lê Gia Vinh, Bùi Thụ, Lê Gia Khải, Võ Hưng, lại tập trung vào những công trình đánh giá tầm vóc thể lực của người lao động

- Hội nghị “ Hằng số học” lần thứ nhất 1967 và lần thứ hai 1972, cùng với tác phẩm “ Hằng số sinh học người Việt Nam” xuất bản năm 1975 là các mốc đánh dấu một chặng đường trong lịch sử nghiên cứu sinh học của người Việt Nam

- Các công trình nghiên cứu ứng dụng cho ecgônômi là một hướng mới nhất trong nghiên cứu nhân trắc Từ những năm 1970, hướng nhân trắc ecgônômi được hình thành do yêu cầu thực tiễn sản xuất và tổ chức lao động khoa học Nhân trắc bắt đầu đã được ứng dụng ở Việt Nam trong các công trình nghiên cứu để đánh giá mức độ thuận tiện của các loại máy móc, thiết bị

và cả một số khí tài quân sự (đa số được nhập từ nước ngoài vào) phù hợp với người lao động Việt Nam Những kiến nghị, đề xuất hay thay đổi kích thước máy, chổ làm việc trên cơ sở các dẫn liệu nhân trắc đã được đưa ra Cho đến những năm đầu của thập kỷ 80, các công trình nhân trắc đã có

từ trước ở Việt Nam một phần là còn ít các dấu hiệu nhân trắc ecgônômi, phần khác do đối tượng, phạm vi khảo sát còn hẹp nên chưa đủ đại diện cho các lớp người lao động, các lứa tuổi và các vùng dân cư khác nhau Viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật Bảo hộ lao động được sự phối hợp nghiên cứu

Trang 8

Huỳnh Thị Kim Liên -8- Ngành CN Vật liệu Dệt May

của nhiều cán bộ khoa học tiến hành xây dựng bộ Atlat nhân trắc học ở Việt Nam gồm ba tập qua kết quả nghiên cứu của các đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước và cấp bộ

- Tập “Atlas nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động”, năm

1986 là kết quả của đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước “Nghiên cứu ứng dụng ecgônômi vào bảo hộ lao động và áp dụng các dữ kiện nhân trắc học vào việc cải thiện điều kiện lao động cho công nhân”

Tập Atlas thứ 2 “ Atlas nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động – Dấu hiệu nhân trắc động về tầm hoạt động của tay “ Tập Atlas thứ hai này cũng là kết quả của đề tải khoa học cấp nhà nước “Nghiên cứu xây dựng các chỉ tiêu nhân trắc học người lao động Việt Nam (phần dấu hiệu động) và chỉ dẫn phương pháp đánh giá ecgônômi chỗ làm việc phòng ngừa tai nạn, sự

cố do sai lầm của người điều khiển những hệ thống kỹ thuật phức tạp”

- Tập Atlas thứ 3 “Atlas nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động – Dấu hiệu tầm hoạt động khớp và giới hạn trường thị giác”, 1997, là phần tiếp nối của hai tập Atlas nhân trắc trên

Năm 2002 Viện Bảo hộ lao động đã tiến hành biên tập và xuất bản bộ Atlas nhân trắc học của người Việt Nam trong lứa tuổi lao động bằng tiếng Anh nhằm cung cấp cho các nhà sản xuất, đầu tư nước ngoài có cơ sở để thiết

kế, sản xuất máy móc, thiết bị công nghệ sẽ đưa vào Việt Nam phù hợp với các đặc điểm nhân trắc của người lao động Việt Nam

Tóm lại, nghiên cứu nhân trắc ecgônômi ở Việt Nam còn khá mới mẽ, chưa nhiều người quan tâm nghiên cứu như hướng tìm hiểu các đặc trưng hình thái, chủng tộc và hướng đánh giá thể lực, sự tăng trưởng, phát triển về hình thái cơ thể người Viện nghiên cứu Khoa học kỹ thuật bảo hộ Lao động

đã tiến hành ba công trình nghiên cứu nhân trắc quy mô lớn bao gồm các dấu hiệu nhân trắc tĩnh, tầm hoạt động của tay và tầm hoạt động các khớp trong

Trang 9

Huỳnh Thị Kim Liên -9- Ngành CN Vật liệu Dệt May

vòng 15 năm Ba tập Atlas nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động đã được xuất bản vào những năm 1986, 1991 và 1997 Các dấu hiệu nhân trắc công bố trong ba tập Atlas được ứng dụng cho nhiều mục tiêu khác nhau, đặc biệt là trong nghiên cứu, thiết kế ecgônômi ở Việt Nam

Việc xây dựng hệ thống cỡ số phục vụ thiết kế công nghiệp là một việc phức tạp vì nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều vấn đề cần phải giải quyết Đối tượng xây dựng hệ thống cỡ số là trẻ em, nên việc nghiên cứu những đặc điểm của trẻ giai đoạn này là điều cần thiết Quá trình phát triển trẻ từ lúc sơ sinh đến 6 tuổi được chia làm các giai đoạn:

- Giai đoạn thiếu nhi bé, bắt đầu từ lúc mới sinh tới lúc hai tuổi rưỡi

Ở giai đoạn này em bé bắt đầu phát triển về chiều cao với một tốc độ mà không giai đoạn nào sánh kịp: sau 1 năm kể từ khi sinh ra, chiều cao của đứa trẻ tăng gần gấp rưỡi, cân nặng tăng gần gấp ba, chiều cao trẻ sơ sinh bằng 4 đầu, chiều cao trẻ 2 tuổi bằng 4,5 lần cao đầu Thân hình tròn trĩnh , bụ bẫm, đầu to, chi ngắn, thân dài, ngực tròn Vòng đầu trong suốt giai đoạn này sấp

xỉ bằng vòng ngực Vòng bụng trong giai đoạn này có đặc điểm là lớn hơn vòng ngực, đặc biệt là trong thời gian một năm đầu Do chưa đi lại ở tư thế đứng thẳng nhiều, nên độ cong của cột sống không rõ ràng lắm như ở người lớn

- Giai đoạn thiếu nhi trung bình, bắt đầu từ hai tuổi rưỡi tới 7 tuổi

Đặc điểm của giai đoạn này là tốc độ lớn đã chậm hơn so với các giai đoạn trước Chiều cao trẻ 4 đến 5 tuổi bằng 5 lần cao đầu Các đặc điểm về tỷ

lệ của phần thân thể vẫn giống như ở giai đoạn thiếu nhi bé, nhưng gần về phía người lớn hơn: đầu vẫn còn to tương đối và thân vẫn dài tương đối hơn chi Trẻ em 6 tuổi cũng sắp chuyển mình sang giai đoạn thiếu nhi lớn nên trẻ dần dần mất tính bụ bẫm và sự gần lại tính người lớn của đứa trẻ Chiều cao trẻ 6 tuổi bằng 5,5 lần cao đầu, trẻ gầy đi nhiều Lý do là ở thời kỳ này đứa trẻ

Trang 10

Huỳnh Thị Kim Liên -10- Ngành CN Vật liệu Dệt May

phát triển nhiều về chi dưới và ít về bề ngang Kích thước đầu hầu như không tăng lên nữa, trán không đô tròn như giai đoạn trên, mà bắt đầu hơi vát Tầng mặt giữa và dưới bắt đầu phát triển làm cho khuôn mặt có vẽ khôn ngoan và biết suy nghĩ hơn Đây là tuổi của “ những câu hỏi tại sao” của đứa trẻ

Thân bắt đầu có dáng dấp người lớn: ngực không tròn mà bắt đầu bè ngang, bụng bé lại, vai nở ra, chi dưới dài ra

Tóm lại hình thái đứa trẻ trong giai đoạn này là chuyển tiếp từ giai đoạn

bụ bẫm ngây thơ của đứa trẻ sang giai đoạn cứng cáp biết suy nghĩ của người lớn

1.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU

1.3.1 Phương pháp nghiên cứu [18]

Có 2 phương pháp nghiên cứu

 Nghiên cứu dọc (Longitudinail study)

Là nghiên cứu trên cùng một đối tượng trong suốt thời gian dài Nghiên cứu dọc khó thực hiện, tốn nhiều thời gian, đòi hỏi sự chuẩn bị và kỹ thuật cao, đặc biệt đối với tốc độ tăng trưởng sai số sẽ tăng gấp đôi, vì so sánh giữa hai lần đo Tuy nhiên nghiên cứu này mới cho phép đánh giá tốc độ tăng trưởng của từng cá thể và chỉ ra được đặc điểm của từng thời kỳ tăng trưởng trong quá trình lớn và phát triển của trẻ từ lúc mới sinh cho đến tuổi trưởng thành

 Nghiên cứu cắt ngang (Cross- sectional study)

Là nghiên cứu nhiều đối tượng khác nhau ở tất cả các lứa tuổi, rồi sắp xếp chúng theo từng lứa tuổi và thống kê các đặc tính của các kích thước từng lứa tuổi Nghiên cứu loại này tốn ít thời gian, rẻ tiền hơn nhưng số lượng đo cần phải nhiều để nhận xét thống kê đủ tin cậy.[4]

1.3.2 Xác định đối tượng nghiên cứu

Để đảm bảo độ chính xác ở kết quả nghiên cứu thì đối tượng đo cần phải đảm bảo những điều kiện sau đây:

Trang 11

Huỳnh Thị Kim Liên -11- Ngành CN Vật liệu Dệt May

- Cùng chủng: ví dụ muốn đo thanh niên Việt nam để có kết luận xác đáng, thì phải thống kê riêng các số đo ở người Kinh, người từng dân tộc khác như Tày, Nùng, Thái…

- Cùng điều kiện xã hội, cùng hoàn cảnh địa lý và nghề nghiệp

- Cùng giới tính: Số đo của nam và nữ khác nhau vì vậy ít có thống kê nào xếp chung nam và nữ Trước 6 tuổi cả bé trai và bé gái đều phát triển như nhau Từ 6 tuổi trở đi thì các bé gái lồng ngực dẹp và bắt đầu phát triển về chiều cao nhanh hơn bé trai, nhưng nhìn chung sự khác biệt chưa rõ ràng

- Cùng nhóm tuổi: Cơ thể con người thay đổi theo sự phát triển của lứa tuổi, Ở mỗi nhóm tuổi thì sự phát triển của cơ thể khác nhau Về vấn đề này, muốn đảm bảo độ thuần nhất có thể xếp như sau:

+ Từ sơ sinh đến 1 tháng tuổi xếp thành 1 nhóm

+ Từ 1 tháng đến 12 tháng xếp thành 1 nhóm

+ Từ 1 tuổi đến 3 tuổi xếp thánh 1 nhóm

+ Từ 3 tuổi đến 7 tuổi xếp thành 1 nhóm

+ Từ 8 tuổi đến 25 tuổi mỗi năm xếp thành 1 nhóm

+ Từ 25 tuổi trẻ đi 10 năm xếp thành 1 nhóm

Về cách tính tuổi, theo quy ước chung, người ta gọi một tuổi nào đó bao gồm những cá thể có số năm trước hoặc sau tuổi đó 6 tháng.[4]

Ví dụ: 6 tuổi là những cá thể từ 5 năm 6 tháng 1 ngày đến 6 năm 6 tháng

1.3.3 Xác định số lƣợng mẫu cần đo [18]

Xác định số lượng mẫu cần đo trong tổng thể mẫu để tiến hành thu thập

số liệu, được yêu cầu số lượng tối thiểu là vừa đủ để vừa đảm bảo độ tin cậy cần thiết của số liệu điều tra vừa đảm bảo phù hợp với điều kiện về nhân lực, kinh phí và có thể thực hiện được, tức là có tính khả thi Số lượng mẫu cần đo phụ thuộc vào các yếu tố sau:

- Phương pháp chọn mẫu sẽ được tiến hành theo phương pháp nào;

Trang 12

Huỳnh Thị Kim Liên -12- Ngành CN Vật liệu Dệt May

- Xác định phạm vi sai số có thể chấp nhận được;

- Quy định độ tin cậy muốn có trong ước lượng;

- Xác định hệ số tin cậy Z từ độ tin cậy mong muốn;

- Ước lượng độ lệch tiêu chuẩn của tổng thể

a) Các phương pháp chọn mẫu cơ bản

Có hai nhóm kỹ thuật chọn mẫu đó là: chọn mẫu xác suất (probability

sampling) và không xác suất (nonprobability sampling) Mẫu được chọn theo

kỹ thuật xác suất có tính đại diện cho quần thể hơn

 Kỹ thuật chọn mẫu xác suất

 Kỹ thuật chọn ngẫu nhiên đơn (Simple Random Sampling)

Nếu một mẫu có n cỡ được lấy ra từ quần thể có kích thước N theo cách mọi mẫu có n cỡ đều có cùng cơ hội được chọn ra như nhau Cách chọn mẫu này được gọi là cách chọn mẫu theo kỹ thuật ngẫu nhiên đơn

+ Trước hết qui định số chọn ra có mấy ký tự

+ Qui định chiều: Có thể quy định lấy theo chiều từ trên xuống dưới hoặc

từ trái qua phải

+ Vào bảng ngẫu nhiên: Chọn ra đủ số đơn vị mẫu cần nghiên cứu

Chú ý: Những số lặp phải bỏ ra

* Ưu điểm

- Phương pháp này đơn giản, tính ngẫu nhiên và tích đại cao, là kỹ thuật chọn mẫu xác suất cơ bản và có thể lồng vào tất cả các kỹ thuật chọn mẫu xác suất phức tạp khác

Trang 13

Huỳnh Thị Kim Liên -13- Ngành CN Vật liệu Dệt May

* Nhược điểm

- Cần phải có một danh sách của đơn vị mẫu để phục vụ cho chọn mẫu Điều này đôi khi không thể làm được cho một cho một mẫu lớn hoặc mẫu không ổn định Các cá thể được chọn vào mẫu có thể phân bố tản mạn trong quần thể, do vậy việc thu thập số liệu sẽ tốn kém và mất thời gian

 Kỹ thuật chọn mẫu hệ thống: (Systematic Sampling)

Mẫu hệ thống là một mẫu, trong đó n các đơn vị quần thể được chọn vào mẫu theo một hệ thống trật tự xác định bởi khoảng cách mẫu k và số ngẫu nhiên đầu tiên được chọn đi từ 1 đến k

Ví dụ: Trường đại học "X" có 2000 sinh viên (N = 2000) Cần chọn 100

sinh viên (n = 100) để lấy số đo của họ Nếu chọn hệ thống sẽ tiến hành như sau: + Lập danh sách 2000 sinh viên của trường theo thứ tự nào đó, chẳng hạn theo vần A, B, C của tên gọi

+ Chia tổng số sinh viên của trường thành 100 nhóm (k= N/n) đều nhau

và sẽ có số sinh viên mỗi nhóm là 20 sinh viên

+ Chọn ngẫu nhiên một sinh viên ở nhóm thứ nhất, chẳng hạn rơi vào sinh viên có số thứ tự 15

n N

Trang 14

Huỳnh Thị Kim Liên -14- Ngành CN Vật liệu Dệt May

* Nhược điểm

- Tuy nhiên, khi việc sắp xếp khung mẫu có một quy luật nào đó tình cờ

trùng với khoảng cách chọn mẫu hệ thống, các cá thể trong mẫu có thể thiếu tính đại diện

 Kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng (Stratified Random Sampling)

- Mẫu ngẫu nhiên phân tầng: Là một kế hoạch mẫu trong đó quần thể được chia thành L tầng hoàn toàn riêng biệt Một mẫu ngẫu nhiên nh các đơn

vị mẫu được lấy ở mỗi tầng h Quá trình lấy mẫu được thực hiện độc lập ở từng tầng

* Cách tiến hành

Trong chọn mẫu phân tầng trước hết tổng thể gồm N đơn vị sẽ được chia thành k tổ, số đơn vị của mỗi tổ là N1, N2, N3…Nk Với số đơn vị mẫu n được phân phối cho các tổ lần lượt là n1, n2, n3,…nk với n+ n2+n3+ nk = n Trong thực tế số đơn vị mẫu ở từng tổ thường được xác định bằng phương pháp tỷ

lệ Gọi ni là số đơn vị lấy mẫu ra từ tổ i và Ni là số đơn vị ở tổ i ta có:

n

n N

n i

Trang 15

Huỳnh Thị Kim Liên -15- Ngành CN Vật liệu Dệt May

* Ưu điểm

- Tạo ra trong mỗi tầng có một sự đồng nhất về yếu tố được chọn để

phân tầng, do đó sẽ giảm sự chênh lệch giữa các cá thể

- Quá trình thu thập dữ liệu thường dễ hơn so với mẫu ngẫu nhiên đơn

- Mẫu đạt được từ mỗi tầng có tính đại diện và khái quát cao cho tầng đó

* Nhược điểmCũng như chọn mẫu ngẫu nhiên đơn, phải liệt kê danh sách

tất cả các cá thể ở mỗi tầng và được gắn số ngẫu nhiên Điều đó thường khó thực hiện trong thực tế

 Kỹ thuật chọn mẫu chùm (Cluster Sampling)

Chọn mẫu chùm là phương pháp tổ chức chọn mẫu trong đó số đơn vị mẫu được rút ra để điều tra không phải là từng đơn vị lẻ tẻ mà là từng khối đơn vị Trong trường hợp này đơn vị mẫu là chùm chứ không phải là các cá thể

* Cách tiến hành

Xác định các chùm thích hợp: quần thể hình thành một cách tự nhiên bởi các chùm, mỗi chùm là một tập hợp cá thể gần nhau (làng, xã, trường học, khoa, phòng, bệnh viện…), tùy theo mỗi nghiên cứu mà xác định chùm cụ thể; Xây dựng khung mẫu: bằng cách lập danh sách toàn thể các chùm trong quần thể và đánh số thứ tự vào các chùm đó;

Từ đây ta sẽ có 2 cách chọn:

- Mẫu chùm một giai đoạn : dùng phương pháp ngẫu nhiên đơn chọn một

số chùm từ khung mẫu, tất cả các cá thể trong các chùm được chọn sẽ hình thành mẫu nghiên cứu;

- Mẫu chùm hai giai đoạn: giai đoạn một, dùng phương pháp ngẫu nhiên đơn chọn một số chùm như cách chọn mẫu chùm một giai đoạn; giai đoạn hai: dùng phương pháp ngẫu nhiên đơn hoặc phương pháp khác chọn một số cá thể nhất định từ mỗi chùm được chọn trong giai đoạn một, tập hợp tất cả các

cá thể này tạo thành mẫu nghiên cứu

Trang 16

Huỳnh Thị Kim Liên -16- Ngành CN Vật liệu Dệt May

* Ưu điểm

- Áp dụng trong các nghiên cứu điều tra một phạm vi rộng lớn, độ phân tán cao, danh sách của tất cả các cá thể trong quần thể không có được, trong khi chỉ có danh sách hoặc bản đồ các chùm

- Sự lựa chọn thường dễ hơn, chi phí cho nghiên cứu mẫu chùm thường

rẻ hơn nhiều do các cá thể trong một chùm thường gần nhau

* Nhược điểm

- Tính đại diện cho quần thể hoặc tính chính xác của mẫu chùm thường thấp hơn so với mẫu được chọn bằng phương pháp khác Để tăng tính chính xác này người ta thường tăng cỡ mẫu lên gấp đôi

- Có sự tương quan nghịch giữa cỡ của chùm và tính đại diện của mẫu,

do vậy cỡ chùm càng nhỏ càng tốt

- Phân tích số liệu từ mẫu chùm thường phức tạp hơn so với các mẫu khác

- Việc lựa chọn số chùm vào mẫu khó khăn, nhất là khi cỡ chùm không đều nhau

 Kỹ thuật chọn mẫu không xác suất

 Mẫu thuận tiện(Convenience Sampling)

 Mẫu chỉ tiêu (Quota Sampling)

Chọn một số nhất định các đơn vị mẫu từ các loại khác nhau của quần thể nghiên cứu, với các tính chất đặc trưng sẽ có mặt trong mẫu Nó gần giống như cách chọn mẫu tầng nhưng không ngẫu nhiên Người nghiên cứu đặt ra

kế hoạch sẽ chọn bao nhiêu đối tượng cho mỗi tầng hoặc nhóm đối tượng

 Mẫu có mục đích (Purposive Sampling)

Người nghiên cứu xác định được các nhóm quan trọng trong quần thể để tiến hành thu thập số liệu Đây là cách rất hay dùng trong các điều tra thăm

dò, phỏng vấn sâu

Trang 17

Huỳnh Thị Kim Liên -17- Ngành CN Vật liệu Dệt May

m

t n n

d) Xác định độ tin cậy mong muốn từ đó xác định hệ số tin cậy

Mức tin cậy là xác suất chắc chắn để khẳng định một kết luận nào đó Mức tin cậy 95% tương đương với trong 100 trường hợp, có khả năng 95 trường hợp đúng như kết luận, còn 5 trường hợp khác với kết luận Trong thực tế độ tin cậy thường được sử dụng là 99%; 95% và 90% Trong nghiên

(1.3)

Trang 18

Huỳnh Thị Kim Liên -18- Ngành CN Vật liệu Dệt May

cứu sinh học người ta thường dùng độ tin cậy 95% Với P = 95% ứng với thì t=1.96 ≈2 [8]

1.3.4 Phương pháp đo và thiết bị đo

Phương pháp đo gián tiếp: Phương pháp chụp ảnh tự động 3D bằng các thiết bị điện tử sử dụng các tia: rơghen, hồng ngoại, laser…Với buồng đo bằng các tia như hình 1.3 Thiết bị đo này giúp người nghiên cứu có thể có được tất cả các kích thước một cách chính xác, và đã áp dụng ở một số trung tâm mua sắm lớn của các nước như: Anh, Pháp, Mỹ, Trung Quốc…và được các hãng được hãng Levi, Lane Bryant, Fashion Bug… tin dùng

Phương pháp đo trực tiếp: đo trên bề mặt cơ thể người bằng dụng cụ đo nhân trắc Martin

Hình 1.1 Dụng cụ đo nhân trắc Martin

Hình 1.2 dụng cụ đo nhân trắc thước kẹp

Trang 19

Huỳnh Thị Kim Liên -19- Ngành CN Vật liệu Dệt May

Hình 1.3 Dụng cụ đo gián tiếp- buồng đo

1.3.5 Phương pháp xử lý số liệu

- Dùng phương pháp thống kê sinh học: xác suất thống kê

- Xử lý số liệu bằng các phần mềm chuyên dụng như: excel, SPSS, R, minitab, SAS, STATA…

1.4 CÁC HỆ THỐNG CỠ SỐ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

1.4.1 Hệ thống cỡ số nước ngoài

Các nước đi đầu về nhân trắc : Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Liên Xô cũ đã xây dựng hệ thống cỡ số tương đối hoàn chỉnh Sau đây là sơ lược về các kích thước của hệ thống cỡ số một số nước

 Các kích thước để thiết kế quần áo theo tiêu chuẩn CHDC Đức

TGL-20866 [21]

Bao gồm 27 kích thước:

1 Chiều cao cơ thể

2 Chiều cao đầu

3 Vòng đầu

4 Vòng chân cổ

5 Vòng cổ

6 Vòng ngực nhỏ

Trang 20

Huỳnh Thị Kim Liên -20- Ngành CN Vật liệu Dệt May

24 Dài tay trong

25 Dài tay ngoài

26 Dài tay trên

27 Dài tay trên

 Các kích thước để thiết kế quần áo nữ theo tiêu chuẩn quốc gia LB

CHXHCN Xô Viết: GOCT 17522-72 [19]

Bao gồm 62 kích thước

1 Cao đỉnh đầu- chiều cao

2 Chiều cao ngực trên

3 Chiều cao xương đòn

Trang 21

Huỳnh Thị Kim Liên -21- Ngành CN Vật liệu Dệt May

4 Chiều cao chân cổ

5 Chiều cao mỏm vai

6 Chiều cao đầu vú

7 Chiều cao eo lưng

8 Chiều cao hông

9 Chiều cao đầu gối

10 Chiều cao đốt sống cổ

11 Chiều cao góc sau hõm nách

12 Chiều cao đáy mông

25 Chiều dài chân bên cạnh

26 Chiều dài chân phía trước

27 Chiều dài chân bên trong

28 Vòng tay trên

29 Vòng cổ tay

30 Vòng bàn tay

Trang 22

Huỳnh Thị Kim Liên -22- Ngành CN Vật liệu Dệt May

31 Chiều dài xuôi vai

32 Chiều dài tới khủyu tay

33 Chiều dài tới cổ tay

34 Chiều dài từ đốt sống cổ tới vòng ngực thứ 1 phía trước

35 Chiều cao ngực

36 Chiều dài eo phía trước

37 Chiều dài từ đốt sống cổ tới điểm phía trước ngang với góc sau hõm nách

38 Cung bả vai

39 Chiều dài từ đốt sống cổ tới vòng ngực thứ 1 và thứ 2 tính cả

độ nhô của xương bả vai

40 Chiều dài lưng tới eo tính cả độ nhô của xương bả vai

41 Chiều dài chéo vai

42 Chiều dài từ eo lưng phía sau tới chân cổ

43 Vòng thân trên qua chân cổ

44 Rộng ngực

45 Khoảng cách đầu vú

46 Rộng lưng

47 Vòng đầu

48 Chiều cao eo lưng (ngồi)

49 Vòng đầu gối (ngồi)

Trang 23

Huỳnh Thị Kim Liên -23- Ngành CN Vật liệu Dệt May

56 Đường kính tay trên

57 Đường kính vòng ngực thứ 2

58 Trọng lượng cơ thể

59 Cung thân trước qua chân cổ

60 Chiều dài tay trên

61 Chiều dài cẳng tay

1.4.2 Hệ thống cỡ số trong nước

Sơ lược về các kích thước của hệ thống cỡ số ở nước ta:

Các kích thước để thiết kế quần áo học sinh theo TCVN 5782 – 1994 [24]

 Các công trình nghiên cứu hệ thống cỡ số tại Việt Nam

Nhìn chung các công trình nghiên cứu khoa học ứng dụng phương pháp nhân trắc vào ngành May còn hạn chế Ngoài các công trình nghiên cứu ứng dụng nhân trắc theo hướng ecgônômi cho các lứa tuổi lao động trong ngành Dệt May thì hầu hết nhân trắc học được áp dụng để xây dựng hệ thống cỡ số trang phục cho từng quốc gia

Trang 24

Huỳnh Thị Kim Liên -24- Ngành CN Vật liệu Dệt May

Năm 1994, Tiêu chuẩn Việt Nam – 5781 về “Phương pháp đo cơ thể

người”, Tiêu chuẩn Việt Nam – 5782 về “Hệ thống cỡ số tiêu chuẩn quần áo”

đã được ban hành, cũng chính là kết quả của các công trình ứng dụng phương pháp nhân trắc học phục vụ cho ngành May đem lại

Cho đến nay, Việt Nam đang là một trong những nước có tốc độ phát triển kinh tế cao,ngành công nghiệp May trong lĩnh vực xuất khẩu nói chung

và thị trường nội địa nói riêng cũng phát triển mạnh mẽ Hệ thống cỡ số quần

áo của nước ta xây dựng từ năm 1994 đã trở nên quá lạc hậu để đáp ứng nhu cầu phục vụ người tiêu dùng trong nước, mặt khác từ sau khi gia nhập WTO

sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp may trong nước; giữa các doanh nghiệp may nước ta với các doanh nghiệp may ở nước ngoài càng trở nên khốc liệt, một trong những vấn đề tồn tại lớn nhất của ngành công nghiệp may vẫn là chưa xây dựng mới hệ thống cỡ số trang phục cho riêng người Việt Nam Hầu hết từ các công ty may lớn cho đến các cơ sở sản xuất hàng may sẵn nhỏ lẻ thiết kế quần áo, hoặc dựa trên hệ thống cỡ số riêng của công ty được xây dựng từ kinh nghiệm sản xuất, hoặc vay mượn từ các hệ thống cỡ số của một

số nước sau đó chỉnh sửa lại một số kích thước để phù hợp với các kích thước

cơ thể của người Việt nam

Năm 2001, trong đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số quân trang

theo phương pháp nhân trắc học” TS Nguyễn Thị Hà Châu cùng các cộng sự

đã tiến hành xây dựng thành công hệ thống cỡ số quân trang và được ứng dụng may quân trang cho cả nước Đây cũng là công trình thể hiện sự hữu ích của phương pháp Nhân Trắc học khi áp dụng cho ngành công nghiệp May Cũng trong năm 2001, KS Trần Thị Hường và PGS TS Nguyễn Văn

Lân cũng ứng dụng phương pháp nhân trắc học vào đề tài cấp cơ sở “Thống

kê cỡ số và thiết kế cơ bản trang phục nữ Việt Nam” Đề tài này cũng đã xây

dựng được hệ thống cỡ số của phụ nữ chưa sinh con và phụ nữ đã sinh con

Trang 25

Huỳnh Thị Kim Liên -25- Ngành CN Vật liệu Dệt May

thông qua việc kiểm định các giả thiết trong quá trình xây dựng hệ thống cỡ

số bằng cơ sở toán thống kê sinh học

Gần đây, năm 2009 đề tài “Xây dựng hệ thống cỡ số quần áo nam nữ và trẻ em trên cơ sở số đo nhân trắc người Việt Nam”do T.S.Nguyễn Văn Thông -Viện trưởng Viện Dệt-May làm chủ nhiệm đã được nghiệm thu

Với số lượng kích thước chủ đạo là một được xem là không đủ cho việc xây dựng hệ thống cỡ số Vì bản thân chọn kích thước chủ đạo để xây dựng

hệ thống cỡ số của quần áo, mà sản phẩm quần áo cần phải có kích thước dài, cao, rộng Nên trên cơ sở đó kích thước chủ đạo tối thiểu phải là 2 kích thước không cùng mặt phẳng

Việc nghiên cứu đưa ra kích thước chủ đạo phải tiêu biểu đại diện và có mối tương quan với các kích thước trong cùng một mặt phẳng, mối tương quan kích thước trên cùng một mặt phẳng phải đạt mức trên trung bình

Theo Nguyễn Quang Quyền “…Kích thước nào có khoảng phân phối rộng nhất, nói một cách khác, có độ tản mạn lớn nhất (biểu hiện ở hệ số biến đổi Cv lớn) sẽ được chọn làm kích thước cơ sở Như vậy, khoảng nhảy bậc mới đủ để quần áo mặc vừa cho mọi cỡ…” Áp dụng lý thuyết này với trẻ Việt Nam ta chọn chiều cao đứng làm kích thước chủ đạo

Trang 26

Huỳnh Thị Kim Liên -26- Ngành CN Vật liệu Dệt May

Theo TCVN 5782-1994: “ Hệ thống cỡ số tiêu chuẩn quần áo” kích thước chủ đạo của thanh thiếu niên học sinh là chiều cao cơ thể, vòng ngực và vòng mông

Báo cáo tổng kết đề tại “Nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số quân trang theo phương pháp nhân trắc học” của Tiến sĩ Nguyễn Thị Hà Châu cũng đã nêu ra kích thước chủ đạo của trẻ em bao gồm 2 kích thước: chiều cao và vòng ngực

Việc lựa chọn kích thước chủ đạo phải tuân thủ các điều kiện sau:

- Là đại lượng có giá trị trung bình lớn nhất hoặc gần lớn nhất trong dãy thông số kích thước

- Là đại lượng thuộc phân bố chuẩn

- Là kích thước có ý nghĩa nhất trong dãy thông số kích thước

- Việc lựa chọn kích thước chủ đạo phụ thuộc vào đặc điểm cơ thể, nhóm người, dân tộc, từng nước và từng sản phẩm

- Kích thước chủ đạo có mối liên hệ chặt chẽ với các kích thước khác trên cùng một mặt phẳng

1.5.2 Bước nhảy

Sau khi đã chọn được kích thước chủ đạo làm cơ sở thì việc cần thiết phải giải quyết đó là chọn bước nhảy phù hợp giữa các kích thước chủ đạo Bước nhảy chính là khoảng cách 2 cỡ liên tiếp, nhằm phân nhóm các dạng cơ thể người, sao cho các dạng cơ thể trong cùng 1 nhóm sử dụng chung 1 sản phẩm đều cảm thấy vừa vặn “Bước nhảy được xác định từ sự phụ thuộc cảm quan của người tiêu dùng đối với dao động của cỡ khi sử dụng sản phẩm”[16] Các nhà nhân trắc học theo đánh giá Đức, Nga, Tiệp bước nhảy xác định xung quanh giá trị trung bình của kích thước chủ đạo Trong số đó giá trị không nhỏ hơn 50% các trường hợp theo kích thước chủ đạo nằm trong khoảng ±2/3

б Việc lựa chọn bước nhảy phụ thuộc vào các yếu tố sau:

Trang 27

Huỳnh Thị Kim Liên -27- Ngành CN Vật liệu Dệt May

- Lứa tuổi, giới tính: Nam giới cần sự mạnh mẽ quần áo mặc có độ rộng nên bước nhảy thường lớn hơn nữ giới Với người già cần sự thoải mái nên bước nhảy lớn hơn thanh niên

- Khả năng sản xuất của công ty: Bước nhảy càng nhỏ số lượng cỡ số nhiều thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng nhưng lại gây khó khăn cho khâu thiết kế, sản xuất… dễ nhầm lẫn

Với bước nhảy của quần áo mặc thông thường, tài liệu [16] đưa ra 3 phương án bước nhảy theo chiều cao là 6, 5, 3 Bước nhảy là 3 được coi là quá nhỏ sẽ gây khó khăn cho việc sản xuất Bước nhảy là 6 có thể chấp nhận được vì giữa các cỡ đáp ứng được chiều dài áo từ 2 đến 3 cm và quần từ 3 đến 4 cm Bước nhảy 6 được xem là tối ưu cho quần áo vì với áo sơ mi chọn bước nhảy không nhỏ hơn 6 và quần bước nhảy không lớn hơn 6

Theo các hệ thống cỡ số trước như TCVN 5782-1994 chọn bước nhảy theo chiều cao là 6cm, vòng ngực và vòng bụng là 4cm Bước nhảy chiều cao

là 6 tương ứng với giới hạn chiều dài áo từ 2-3cm và quần từ 3-4cm, điều này

là phù hợp với lứa tuổi từ thanh thiếu niên trở lên Cũng được xem là phù hợp với trẻ dù là độ chênh lệch về kích thước không cao nhưng trẻ cần phải được mặc rộng, mặc thoải mái Vậy đề tài chọn bước nhảy chiều cao đứnglà 6 cm

và vòng ngực là 4cm

Trang 28

Huỳnh Thị Kim Liên -28- Ngành CN Vật liệu Dệt May

KẾT LUẬN

1 Nhân trắc học ra đời từ rất lâu, nhưng mãi đến cuối thế kỷ thứ 19 đầu thế kỷ thứ 20 thì nhân trắc học mới thực sự trở thành một môn khoa học với đầy đủ ý nghĩa Đến giữa thế kỷ thứ 20 thì tất cả những lĩnh vực thiết kế công nghiệp liên quan đến con người đều được nhân trắc học tham gia nghiên cứu

2 Từ lúc nhân trắc học mới ra đời, các nhà nhân trắc học chỉ tập trung nghiên cứu về nhân trắc học học tĩnh, nhưng mãi đến những năm 70 của thế

kỷ 20 thì họ mới tập trung nghiên cứu về nhân trắc học động (ecgônômi) Nhân trắc học xâm nhập vào tất cả các ngành trong đó có ngành may vào năm

1960 Hiện nay, rất ít các công trình nghiên cứu xây dựng hệ thống kích thước

cơ thể đối với lứa tuổi mẫu giáo

3 Đặc điểm sinh lý của trẻ em là: Cơ thể phát triển rất nhanh, nếu như ở giai đoạn 3 đến 5 tuổi thân hình bé tròn trĩnh, bụ bẫm, đầu to, chi ngắn, thân dài, ngực tròn… Nhưng sang giai đoạn 6 đến 7 tuổi bé đã bớt bụ bẫm hơn, chi dài hơn, gầy hơn và ngực dẹp hơn, bụng bé lại, trán vát… Bé gái ở lứa tuổi này lồng ngực bè hơn và phát triển chiều cao nhanh hơn bé trai, nhưng nhìn chung sự khác biệt chưa rõ ràng

4 Để nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số có 2 phương pháp đó là: nghiên cứu dọc và nghiên cứu ngang Mỗi phương pháp có ưu và nhược điểm riêng Trong ngành may nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số thường chọn phương pháp nghiên cứu ngang

5 Về phương pháp đo, hiện nay có 2 phương pháp đó là: phương pháp

đo trực tiếp và phương pháp đo gián tiếp Do địa bàn đo không gần khu vực

có thiết bị đo gián tiếp và kinh phí hạn hẹp nên đề tài chọn phương pháp đo trực tiếp

Trang 29

Huỳnh Thị Kim Liên -29- Ngành CN Vật liệu Dệt May

6 Rất nhiều công trình nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số cho các lứa tuổi đã ra đời, nhưng với trẻ em gần đây chưa được nghiên cứu đầy đủ Với

sự bỏ ngõ đó tác giả mạnh dạn nghiên cứu đề tài xây dựng hệ thống cỡ số trẻ

em, nhưng với thời gian hạn hẹp, đề tài chỉ nghiên cứu trên đối tượng bé gái 6 tuổi./

Trang 30

Huỳnh Thị Kim Liên -30- Ngành CN Vật liệu Dệt May

CHƯƠNG II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

Trang 31

Huỳnh Thị Kim Liên -31- Ngành CN Vật liệu Dệt May

2.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Nhiêm vụ đặt ra cho đề tài “ Nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số trẻ em gái mẫu giáo 6 tuổi trên địa bàn quận 7 TPHCM”, để đạt được cần nghiên cứu một

số vấn đề sau:

- Xác định số lượng các thông số kích thước phục vụ thiết kế cơ bản quần áo trẻ em gái mẫu giáo 6 tuổi

- Xây dựng chương trình nghiên cứu nhân trắc cho trẻ em gái mẫu giáo 6 tuổi

- Tiến hành đo nhân trắc theo phương pháp ngang và phương pháp đo trực tiếp trên cơ thể trẻ

- Xác định các kích thước chủ đạo và bước nhảy là cơ sở cơ bản để phân cỡ

- Xây dựng phương pháp xử lý số liệu theo toán thống kê sinh học để chứng minh phương án phân cỡ số quần áo trẻ em theo kích thước chủ đạo và bước nhảy đã chọn là phù hợp và đủ độ tin cậy cao

- Đề xuất cỡ số tối ưu với phương án bước nhảy để xây dựng hệ thống cở số

- Xây dựng hệ thống kích thước cơ thể trẻ em gái mẫu giáo 6 tuổi

2.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.2.1 Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu bao gồm các bé gái 6 tuổi Theo cách tính tuổi như quy ước chung theo tài liệu của Nguyễn Quang Quyền Gọi một tuổi nào đó là bao gồm những cá thể có số năm trước hoặc sau tuổi đó 6 tháng Vậy đối tượng

ở đây bao gồm các em từ 5 năm 6 tháng 1 ngày đến 6 năm 6 tháng

Địa điểm đo là các trường mầm non ở quận 7, một quận ven trung tâm thành phố, với mức sống tương đối cao

2.2.2 Người đo và thời gian đo

Bản thân người đo là sinh viên năm cuối ngành may và trước khi đo đã được tập huấn kỹ thuật và phương pháp đo

Trang 32

Huỳnh Thị Kim Liên -32- Ngành CN Vật liệu Dệt May

Thời gian: được tiến hành vào tháng 5, lúc này thời tiết ấm áp thuận tiện cho đối tượng cởi bỏ áo ngoài nên đo đạc dễ dàng, đồng thời đo vào buổi sáng

từ 8- 10 giờ, giờ các bé hoạt động ngoài trời, để đảm bảo độ tin cậy của số đo

2.2.3 Số lượng đối tượng nghiên cứu

Vì trước đây chưa tiến hành điều tra, nên đề tài điều tra thí điểm để tính

độ lệch chuẩn, tiến hành lấy thông số chiều cao thí điểm của 30 em, ta được

độ lệch chuẩn б bằng 4.32

Do điều kiện về thời gian và kinh phí đo đạc phục vụ cho việc nghiên cứu có hạn nên đề tài chọn m=1% Có nghĩa là sai số trong việc chứng minh ước tính cỡ mẫu n không lớn hơn hoặc nhỏ hơn 1%

Với P= 95% thì t=2

Áp dụng công thức (1.3) ta có: 104.04

1

10.5

*22

2 2

2

2 2

Vậy số lượng mẫu tối thiểu cần đo là 104.04

Để đảm bảo độ tin cậy, đề tài đã đo 143 bé gái lớn hơn số lượng mẫu tối thiểu cần đo và lớn hơn 2/3 tổng số bé gái ở trường mầm non

2.3 XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐO

Chương trình đo cần bao gồm các công việc sau:

- Xác định số lượng các thông số kích thước cần đo

- Xác định các mốc đo nhân trắc

- Xác định dụng cụ đo

- Nguyên tắc và tư thế khi đo

- Xây dựng phương pháp đo

- Phiếu đo

- Trình tự đo và chia bàn đo

Trang 33

Huỳnh Thị Kim Liên -33- Ngành CN Vật liệu Dệt May

2.3.1 Xác định số lượng các thông số kích thước cần đo

Việc lựa chọn các thông số kích thước phục vụ cho xây dựng hệ thống cỡ

số đóng một vai trò khá quan trọng Trên cơ sở những kích thước cần thiết cho việc thiết kế công nghiệp đồng phục cho bé gái lứa tuổi mẫu giáo Để đem lại sự vừa vặn chúng ta phải cần rất nhiều kích thước, nhưng với một chừng mực nào đó và kinh phí hạn hẹp, đề tài chỉ chọn một số thông số thật

sự cho là cần thiết phục vụ cho thiết kế và kiểm tra Ở đây đề tài chọn 3 loại kích thước gồm: kích thước cao, kích thước dài- rộng và kích thước vòng Tổng cộng 27 kích thước nhân trắc và 1 cân nặng

Bảng 2.1 Ý nghĩa các kích thước nhân trắc trong xây dựng hệ thống cỡ số

thước

1 Cao đứng Cđ Kích thước tiêu chuẩn để phân cỡ số

2 Cao thân Ct Cơ sở xác định chiều dài sản phẩm áo, quần

(theo các chia tỷ lệ)

3 Cao eo Ce Cơ sở xác định chiều dài sản phẩm và kích

thước hạ mông, hạ đáy

4 Cao nếp lằng

Cơ sở xác định chiều dài sản phẩm và kích thước hạ mông, hạ đáy

5 Dài lưng Dl Cơ sở thiết kế dài áo

6 Dài vai Dv Cơ sở kiểm tra độ rộng vai con trên áo và

xác định đường vai áo

7 Dài nách sau Dns Cơ sở xác định vị trí đường ngang nách áo,

chiều dài đô áo

8 Dài tay Dt Cơ sở xác định chiều dài tay áo

9 Dài khuỷu tay Dkt Cơ sở xác định chiều dài tay áo (áo tay ngắn)

Trang 34

Huỳnh Thị Kim Liên -34- Ngành CN Vật liệu Dệt May

10 Dài chân đo

bên ngoài Dcn Cơ sở xác định dài quần, váy

11 Dài chân đo

Cvn Cơ sở xác định độ cao điểm đầu vai ngoài

trên áo (Chiều dài phía trên nách áo)

14 Rộng vai Rv Cơ sở độ rộng vai áo

15 Vòng đầu Vđa Cơ sở thiết kế độ rộng vòng cổ áo

16 Vòng cổ Vc Cơ sở xác định vòng cổ thân áo

17 Vòng ngực Vn Cơ sở xác định vòng ngực thân áo

18 Vòng bụng Vb Cơ sở xác định vòng bụng thân áo, quần

19 Vòng mông Vm Cơ sở xác định vòng mông thân áo, quần

20 Vòng đùi Vđu Cơ sở xác định kích thước rộng đùi trên quần

21 Vòng gối Vg Cơ sở xác định kích thước rộng gối

22 Vòng bắp

chân Vbc Cơ sở xác định kích thước rộng ống quần

23 Vòng cổ chân Vcc Cơ sở xác định kích thước rộng gấu quần

24 Vòng cổ tay Vct Cơ sở xác định kích thước rộng cửa tay

25 Vòng bắp tay Vbt Cơ sở xác định kích thước rộng ống tay

26 Rộng lưng Rl Xác định chiều rộng lưng áo

Trang 35

Huỳnh Thị Kim Liên -35- Ngành CN Vật liệu Dệt May

BMI = W/(H/100)2 (2.1) Trong đó:

Hình 2.1 Các mốc đo nhân trắc

Trang 36

Huỳnh Thị Kim Liên -36- Ngành CN Vật liệu Dệt May

(suprasternale) Sst Điểm giữa bờ trên xương ức Chổ lõm

nhất nằm giữa đường chân cổ phía trước

4 Gốc cổ vai (điểm

đầu trong vai ) hps

Giao điểm của đường cạnh cổ với đường vai, nằm trên mép ngoài đường chân cổ

8 Khớp đầu gối ti Điểm khe phía trong giữa đầu gối giữa lồi

cầu và xương đùi

9 Mắt cá

chân(sphyrion) Sph Điểm thấp nhất của mắt cá trong

10 Khuỷu tay ol Điểm nhô ra nhất của chỏ tay khi co hoặc

duổi

11 Mắt cá tay sty Điểm dưới nhất của xương quay

13 Điểm đầu ngực n Điểm ngay đầu mủi nhũ

14 Đốt sống cổ thứ 7 c Đốt xương nằm trên đường chân cổ và

trồi ra sau khi cuối đầu

15 Điểm lằn mông

Khi cơ thể người ở tư thế đứng, ta thấy đường mông phía sau có nếp lằn, điểm nếp lằn mông là điểm thấp nhất của nếp lằn mông phía sau

Trang 37

Huỳnh Thị Kim Liên -37- Ngành CN Vật liệu Dệt May

17 Đường ngang eo Đường thẳng ngang song song với mặt

đất và đi qua nơi hẹp nhất của phần thân

18 Đường ngang đáy

Đường thẳng ngang song song với mặt đất nằm dưới cùng phần thân và đi qua điểm đáy chậu (điểm giữa 2 chân)

Mức độ chính xác của kết quả đề tài tùy thuộc phần lớn vào dụng cụ đo

Sử dụng bộ thước đo nhân học gồm thước đo chiều cao kiểu Martin, thước dây, thước kẹp, thước thẳng…tất cả được hiệu chuẩn và đều chia đến 1mm, cân bàn y học độ chính xác tới 0.1kg Cụ thể: Các kích thước chiều cao đo bằng thước đo martin; Chiều dài và các vòng đo bằng thước dây

Ngoài ra còn có các dây vải dùng xác định vị trí các đường ngang, bút định vị

Hình 2.3 Dụng cụ đo chiều cao

Trang 38

Huỳnh Thị Kim Liên -38- Ngành CN Vật liệu Dệt May

2.3.4 Nguyên tắc và tư thế khi đo

Khi đo các kích thước thẳng (chiều cao), người được đo phải đứng thẳng trong tư thế đứng nghiêm: hai gót chân chạm nhau, hai tay buông thẳng và bàn tay úp vào mặt ngoài đùi Khi nhìn nghiêng thì ba điểm lưng, mông và gót chân nằm trên một đường thẳng vuông góc với mặt đất Đầu để thẳng sao cho đuôi mắt và lỗ tai ngoài tạo thành một đường thẳng ngang song song với mặt đất, mắt nhìn thẳng, chân chạm đất

2.3.5 Xây dựng phương pháp đo

Với phương pháp đo trực tiếp, cách thức đo được thực hiện như sau:

Bảng 2.3 Phương pháp đo cơ thể trẻ em gái

thước

1 Cao đứng Cđ Đo từ đỉnh đầu đến mặt đất bằng thước

2 Cao thân Ct Đo từ đốt sống cổ thứ 7 đến mặt đất

bằng thước đo chiều cao 2.4a

3 Cao eo Ce Đo từ mặt đất đến ngang eo bằng thước

4 Cao nếp lằn

Đo từ nếp lằn mông đến mặt đất bằng

5 Dài lưng Dl Đo bằng thước dây từ đốt sống cổ thứ 7

Ngày đăng: 21/07/2017, 20:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Hoàng Trọng – Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, Nhà xuất bản Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS
Tác giả: Hoàng Trọng – Chu Nguyễn Mộng Ngọc
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống Kê
Năm: 2005
[2] Lê Nam Trà (1996), Đặc điểm sinh thể con người Việt Nam tình trạng dinh dưỡng và các biện pháp nâng cao chất lượng sức khoẻ, Công trình nghiên cứu cấp Nhà nước KX-07 – Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm sinh thể con người Việt Nam tình trạng dinh dưỡng và các biện pháp nâng cao chất lượng sức khoẻ
Tác giả: Lê Nam Trà
Năm: 1996
[3] Nguyễn Cảnh, Qui hoạch thực nghiệm, Giáo trình - Trường đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh – 1993 – 155tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qui hoạch thực nghiệm
[4] Nguyễn Quang Quyền ( 1974), Nhân trắc học và sự ứng dụng nghiên cứu trên người Việt Nam, Nhà xuất bản Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân trắc học và sự ứng dụng nghiên cứu trên người Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học Hà Nội
[5] Nguyễn Văn Lân (2003), Xử lý thông kê số liệu thực nghiệm và những ví dụ ứng dụng trong ngành dệt may, NXB Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử lý thông kê số liệu thực nghiệm và những ví dụ ứng dụng trong ngành dệt may
Tác giả: Nguyễn Văn Lân
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2003
[6] Thẫm Thị Hoàng Điệp (1992), Đặc điểm hình thái và thể lực học sinh một trường phổ thông cơ sở Hà Nội, Luận án Phó tiến sĩ khoa học Y dược – Trường đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm hình thái và thể lực học sinh một trường phổ thông cơ sở Hà Nội
Tác giả: Thẫm Thị Hoàng Điệp
Năm: 1992
[7] Tập thể tác giả (1997), Bàn về đặc điểm tăng trưởng người Việt Nam [8] Nguyễn Đình Khoa (1975), Phương pháp thống kê ứngdụng trong sinh học, Trường Đại học tổng hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: 1997), Bàn về đặc điểm tăng trưởng người Việt Nam " [8] Nguyễn Đình Khoa (1975), "Phương pháp thống kê ứngdụng trong sinh học
Tác giả: Tập thể tác giả (1997), Bàn về đặc điểm tăng trưởng người Việt Nam [8] Nguyễn Đình Khoa
Năm: 1975
[11] Nguyễn Đức Hồng- Nguyễn Hữu Nhân,(2004),Nhân trắc học Ergonomi, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân trắc học Ergonomi
Tác giả: Nguyễn Đức Hồng- Nguyễn Hữu Nhân
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà nội
Năm: 2004
[12] Bùi Thụ- Lê Gia Khải (1983), Nhân trắc Ecgonomi, Nhà xuất bản y học [13] Nguyễn Văn Dự- nguyễn Đăng Bình, Quy hoạch thực nghiệm trong kỹ thuật, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân trắc Ecgonomi", Nhà xuất bản y học [13] Nguyễn Văn Dự- nguyễn Đăng Bình, "Quy hoạch thực nghiệm trong kỹ thuật
Tác giả: Bùi Thụ- Lê Gia Khải
Nhà XB: Nhà xuất bản y học [13] Nguyễn Văn Dự- nguyễn Đăng Bình
Năm: 1983
[16] Nguyễn Thị Hà Châu (2001), Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số quân trang theo phương pháp nhân trắc học, Tổng cục hậu cần công ty 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số quân trang theo phương pháp nhân trắc học
Tác giả: Nguyễn Thị Hà Châu
Năm: 2001
[16] Viện y học lao động và vệ sinh môi trường (1998), Tâm sinh lý lao động và Ecgônômi, Nhà xuất bản y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm sinh lý lao động và Ecgônômi
Tác giả: Viện y học lao động và vệ sinh môi trường
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 1998
[9] Đào Huy Khuê (1975), Luận án PTS Đặc điểm về kích thước hình thái về sự tăng trưởng và phát triển cơ thể học sinh phổ thông 6- 7 tuổi Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm