Làm hàng xuất khẩu theo đơn hàng có lợi thế vì ít chi phí đầu tư, sản xuất theo đơn đặt hàng, sẵn mẫu mã, số lượng… Theo bà Nguyễn Thị Thu Huyền, Tổng giám đốc Tổng công ty May 10 Nếu ki
Trang 1TRẦN THỊ BÌNH
NGHIÊN CỨU VỀ THIẾT KẾ
THỜI TRANG MAY SẴN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT Chuyên ngành: Công nghệ Vật liệu Dệt May
Mã đề tài: 2014BDET-HY02
Người hướng dẫn luận văn: TS Dương Thị Kim Đức
HÀ NỘI - 2016
Trang 2MỤC LỤC MỤC LỤC I LỜI CẢM ƠN III LỜI CAM ĐOAN IV NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN V DANH MỤC HÌNH ẢNH VI DANH MỤC BẢNG – BIỂU VIII
LỜI NÓI ĐẦU 1
NỘI DUNG 3
CHƯƠNG I: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 7
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 7
1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 11
1.2.1 Tại Việt Nam 11
1.2.2.Tại thế giới 15
1.3 TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ CÔNG NGHIỆP THỜI TRANG THẾ GIỚI [4] 15
1.3.1 Nguồn gốc 15
1.3.2 Quá trình phát triển 17
1.4 TÌNH HÌNH DỆT MAY THỜI TRANG TRÊN THẾ GIỚI NGÀY NAY 19
1.4.1 Bối cảnh chung 19
1.4.2 Nguyên liệu 20
1.4.3 Nhà thiết kế 21
1.4.4 Quản lí và sản xuất 26
1.4.5 Phân phối 28
1.4.6 Quảng bá bán hàng 29
1.4.7 Dịch vụ chăm sóc khách hàng 29
1.5 TÌNH HÌNH THỜI TRANG MAY SẴN VIỆT NAM VÀ THỊ TRƯỜNG MAY SẴN VIỆT NAM 29
Trang 31.5.1 Hiện trạng thời trang may sẵn Việt Nam và thị trường may sẵn Việt Nam 29
1.5.2 Cơ hội và thách thức cho ngành dệt may 43
1.6 TIỂU KẾT 49
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH VIỆC PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU CỦA VIỆT NAM VÀ NƯỚC NGOÀI 51
2.1 MỘT SỐ THƯƠNG HIỆU THỜI TRANG MAY SẴN TRÊN THẾ GIỚI HIỆN NAY 51
2.1.1 Thương hiệu ZARA 51
2.1.2.Thương hiệu H&M 57
2.1.3.Thương hiệu UNIQLO 64
2.1.4 Tiểu kết 71
2.2 CÁC CÔNG TY MAT VÀ THỜI TRANG TRONG NƯỚC 74
2.2.1 Công ty May Việt tiến : 75
2.2.2 Công ty May 10 : 86
2.2.3 Thời trang Nem 91
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU THỜI TRANG CANIFA CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ HOÀNG DƯƠNG 100
3.1 PHÂN TÍCH MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CANIFA 100
3.1.1 Giới thiệu về Công ty Cổ phần thương mại và Dịch vụ Hoàng Dương 100
3.1.2 Hiện trạng của công ty về lĩnh vực sản xuất hàng thời trang may sẵn 101 3.1.3 Những kết quả đạt được 117
3.2 MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY 121 3.3 NHẬN XÉT CỦA TÁC GIẢ 121
KẾT LUẬN CHUNG CỦA LUẬN VĂN 124
TÀI LIỆU THAM KHẢO 125
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin được cảm ơn chân thành các Thầy Cô Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội và đặc biệt là các Thầy Cô Viện Dệt May- Da giầy và Thời trang đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong thời gian học tập tại Viện
Tôi xin trân trọng cảm ơn cô hướng dẫn TS Dương Thị Kim Đức đã tận tâm chỉ dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn Thạc sĩ của mình
Đồng thời, tôi xin cảm ơn các cán bộ quản lý, nhân viên làm việc tại công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Hoàng Dương đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong thời gian tôi tiến hành thực nghiệm nghiên cứu tại quý cơ quan
Và tôi cũng xin chân thành cảm ơn trường Cao Đẳng Công Nghiệp Hưng Yên đơn vị chủ quản của tôi đã tạo điều kiện cho tôi thời gian tôi đi học tập, trau dồi, nâng cao trình độ
Và cuối cùng tôi xin cảm ơn Gia đình và bạn bè đã sát cánh và hỗ trợ về tinh thần cũng như vật chất cho tôi trong suốt thời gian qua
Nhận thức bản thân còn nhiều hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của Thầy Cô để bản luận văn được hoàn thiện hơn, bổ sung nâng cao thêm kiến thức của tôi, nhằm phục vụ tốt hơn nữa cho quá trình công tác thực tế sau này
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 8tháng 11 năm 2016
Trần Thị Bình
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết toàn bộ kết quả nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận văn là
do tôi nghiên cứu, không trùng lặp với bất kỳ kết quả nghiên cứu nào đã có, số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực Tôi cũng xin cam đoan rằng các kết quả trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc hoặc chỉ rõ trong tài liệu tham khảo Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về những nội dung, hình ảnh cũng nhƣ kết quả nghiên cứu
Hà nội, tháng 11 năm 2016
Tác giả
Trần Thị Bình
Trang 6NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 7DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Chiếc máy khâu năm 1755 16
Hình1.2 Những nhà máy công nghiệp cỡ lớn bắt đầu xuất hiện 17
Hình1.3 Các thương hiệu đã bắt đầu di dời nhà máy sản xuất qua những quốc gia đang phát triển 18
Hình 1.4 H&M, ZARA và Topshop là những cái tên lớn trong làng công nghiệp fast fashion 19
Hình 1.11 Cửa hàng triển lãm của tổng công ty 28 39
Hình 1.12 Các đại biểu, quan khách cắt băng khai mạc Hội chợ VIFF 2015 40
Hình 2.1 Top 10 thương hiệu kinh doanh quần áo 2014 có giá trị cao nhất theo dữ liệu từ BrandZTM and Bloomberg 51
Hình 2.2 Logo của hãng ZARA 52
Hình 2.3 Sức mạnh của thương hiệu ZARA, theo BrandZ 54
Hình 2.4 Biểu đồ vị trí của ZARA trên biểu đồ giá cả và mức độ cao cấp 55
Hình 2.5 Hình ảnh một số cửa hàng của ZARA 56
Hình 2.6 Một số hình ảnh trong Bộ sưu tập của Hãng 57
Hình 2.7 Logo của thương hiệu 58
Hình 2.8 :Lăng kính nhận diện thương hiệu 59
Hình 2.9 Vị trí của H&M trên biểu đồ giá cả và chất lượng 60
Hình 2.10 Một số hình ảnh về cửa hàng của H&M trên thế giới 61
Hình 2.11 Người mẫu đại diện cho thương hiệu 63
Hình 2.12 Hình ảnh một số sản phẩm trong BST Xuân Hè 2015 của hãng 64
Hình 2.13 Logo của Hãng 65
Hình 2.14 Doanh số bán hàng trên mỗi của hàng và trên mỗi mét vuông 66
Hình 2.15 Doanh số các mặt hàng của Uniqlo và thị trường quần áo Nhật Bản 67
Hình 2.16 Sáng kiến tái chế tất cả các sản phẩm của Uniqlo 68
Hình 2.17 Hình ảnh cửa hàng trưng bày sản phẩm 69
Hình 2.18 Người mẫu đại diện cho thương hiệu 70
Hình 2.19 Một số hình ảnh về BST Xuân hè 2015 của Hãng 70
Trang 8Hình 2.20 Giá trị xuất khẩu các ngành 74
Hình 2.21 Sản phẩm áo sơ mi và cà vạt của Việt Tiến 76
Hình 2.22 Logo công ty Việt Tiến 77
Hình 2.23 Một số cửa hàng của công ty may Việt Tiến 77
Hình 2.24 Các thương hiệu của công ty may Việt Tiến 78
Hình 2.25 Sản phẩm của công ty may Việt Tiến 79
Hình 2.27 Thị trường xuất khẩu của công ty may Việt Tiến 84
Hình 2.28 Logo công ty May 10 87
Hình 2.29 Phòng thiết kế công ty May 10 88
Hình 2.30 Dây chuyền sản xuất áo sơ mi nam áp dụng quy trình LEAN cho hiệu suất cao 88
Hình 2.31 Veston cũng là một dòng sản phẩm thế mạnh của May 10 89
Hình 2.32 Hệ thống cửa hàng của công ty May 10 89
Hình 2.33 Sản phẩm sơ mi nam của công ty May 10 90
Hình 2.34 Logo Nem 92
Hình 2.35 Bộ sưu tập Nem 95
Hình 3.1 Một số hình ảnh trong Bộ sưu tập áo lông vũ siêu nhẹ của CANIFA năm 2014 102
Hình 3.2 Một số hình ảnh Bộ sưu tập len lông cừu 100% của CANIFA năm 2014 [21] 102
Hình 3.3 Câu chuyện “ Hành trình của đóa hồng” của NTK Châu Chấn Hưng cho thương hiệu CANIFA năm 2015 103
Hình 3.4 Bộ sưu tập “Mùa ấm” của Canifa năm 2015 103
Hình 3.5 Bộ sưu tập Thu – Đông của CANIFA được top 4 Viet Nam Next Top Model 2016 trình diễn tại Sydney – Australia 104
Hình 3.6 Mẫu áo len Cashmere của Canifa năm 2016 104
Hình 3.7 Bộ sưu tập Xuân Hè 2016 “Color your summer” của thương hiệu CANIFA thiết kế bởi Châu Chấn Hưng tại Tuần lễ thời trang Quốc tế Việt Nam 2016 105
Trang 9DANH MỤC BẢNG – BIỂU
Bảng 1.1 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may năm 1988 27
Bảng 1.2 Việt Nam xuất khẩu hàng may mặc sang một số nước và đạt tổng kim ngạch 37
Bảng 3.1 Các loại chất liệu sản phẩm của công ty (2004-2016) 105
Bảng 3.2 Số liệu mẫu mã theo dòng sản phẩm (2014-2016) 107
Bảng 3.3 Bảng màu sản phẩm của công ty qua các năm (2014-2016) 108
Trang 10LỜI NÓI ĐẦU
Trong ngành Dệt May Việt Nam hiện nay, nhiều doanh nghiệp may mặc đang tái cơ cấu sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường, khách hàng, kênh phân phối và đa dạng hoá phương thức kinh doanh Và đây cũng là lúc doanh nghiệp dệt may hướng đến phát triển công nghiệp thời trang Và trong tương lai rất gần, khi các FTA (là kết quả chính thức của một quá trình thương lượng giữa hai hay nhiều quốc gia ký kết nhằm hạ thấp hoặc loại hẳn các rào cản đối với thương mại) có hiệu lực, khả năng sản phẩm may mặc ngoại nhập sẽ xuất hiện nhiều tại Việt Nam
Như vậy, việc cạnh tranh sản phẩm may mặc sẽ gay gắt hơn và doanh nghiệp nào tận dụng tốt lợi thế hội nhập sẽ phát triển hơn Cụ thể, trong chuỗi sản xuất, kinh doanh may mặc, khâu thiết kế và phân phối có giá trị thặng dư cao nhất Nguồn vải phong phú, giá rẻ của Trung Quốc, ASEAN qua đường chính ngạch vào Việt Nam sẽ là thách thức với ngành dệt, nhưng lại là cơ hội cho ngành may Thị trường thời trang Trung Quốc, các nước ASEAN sẽ là lớn nhất thế giới, ước tính sức mua trên 500 tỷ USD/năm
Các doanh nghiệp may mặc Việt Nam hiện tập trung sản xuất cho xuất khẩu
là chính, tiêu thụ thị trường nội địa chỉ chiếm 15% - 20% sản lượng Làm hàng xuất khẩu theo đơn hàng có lợi thế vì ít chi phí đầu tư, sản xuất theo đơn đặt hàng, sẵn mẫu mã, số lượng…( Theo bà Nguyễn Thị Thu Huyền, Tổng giám đốc Tổng công
ty May 10)
Nếu kinh doanh nội địa, doanh nghiệp phải đầu tư khâu thiết kế, mở rộng kênh phân phối, tìm hiểu xu hướng tiêu dùng… Và nhìn chung, nếu hướng đến ngành công nghiêp thời trang, Việt Nam hiện nay có nhiều lợi thế hơn các nước láng giềng, bởi có kinh nghiệm dày dặn trong lĩnh vực may gia công, lực lượng nhà thiết kế trẻ đang thể hiện tính chuyên nghiệp ngày càng cao và không ngại thử thách
Thời trang Việt Nam đã có những nhà thiết kế tên tuổi, được nhiều nước trong khu vực biết đến như Minh Hạnh, Công Trí, Võ Việt Chung… Nhưng theo
Trang 11nhà thiết kế Nguyễn Công Trí, ủy viên Hiệp hội Thời trang châu Á, công nghiệp thời trang là chuỗi liên kết các yếu tố từ thiết kế, nguyên liệu, sản xuất, phân phối
Tuy nhiên các khâu này phải phát triển một cách đồng bộ Còn tại Việt Nam hiện nay, khâu thiết kế chưa thật sự phát triển, chưa có lượng khách hàng đủ để “nuôi sống” thương hiệu và nhà thiết kế Các nhà thiết kế thời trang Việt có tên tuổi đều phát triển tự phát, và tự làm hết mọi việc, từ khâu thiết kế vật liệu, nguyên phụ liệu đến sản phẩm thời trang, hình thành phong cách riêng biệt và tìm đầu ra cho sản phẩm
Kể từ thế kỷ XX ngành Công nghiệp thời trang thế giới phát triển mạnh mẽ, đạt được những thành tựu to lớn Tuy nhiên ở Việt Nam với thực trạng nêu trên và tình hình nghiên cứu về công nghiệp thời trang và thời trang may sẵn còn đang ở
mức độ sơ khai thì việc lựa chọn đề tài “Nghiên cứu về thiết kế thời trang may sẵn Việt Nam” tác giả mong muốn nghiên cứu, hệ thống và góp phần đưa ra giải pháp
cho ngành Thiết kế thời trang may sẵn Việt Nam
Trang 12NỘI DUNG
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nói về ngành Công nghiệp thời trang nói chung và thị trường công nghiệp thời trang nói riêng có một số ý kiến như sau:
Theo nhà thiết kế Minh Hạnh [1]: Việt Nam là cường quốc xuất khẩu dệt may của thế giới, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may năm ngoái vượt mức 20 tỉ đô
la Mỹ, mục tiêu từ năm 2017-2020, dệt may nước ta sẽ đứng thứ hai, thứ ba trong tốp các nước xuất khẩu dệt may lớn nhất trên toàn thế giới Nhưng cho đến nay vẫn chưa có nền Công nghiệp thời trang chuyên nghiệp
Công nghiệp thời trang cần được coi là một trong những ngành công nghiệp chủ lực của quốc gia Ngành công nghiệp này không chỉ tiên phong đưa ra các xu hướng thời trang mang bản sắc dân tộc và định hướng người tiêu dùng Việt Nam trong việc chọn lựa hàng may mặc mà quan trọng hơn, công nghiệp thời trang sẽ thúc đẩy sự phát triển của ngành Dệt may, chấm dứt tình trạng sản xuất công nghiệp gia công giá rẻ cho nước ngoài
“Công nghiệp thời trang cần được hiểu là chuỗi liên kết gồm các yếu tố: thiết kế, nguyên liệu, sản xuất, phân phối và các khâu phải phát triển một cách đồng bộ Nhưng chúng ta đã có một “lỗ hổng” lớn ngay khâu đầu tiên”
Vì thế, chúng ta vẫn chưa có thương hiệu dệt may nào đủ sức cạnh tranh trên trường quốc tế Chúng ta đã có những thương hiệu phát triển kinh doanh thời trang trên dưới 10 năm với chất lượng sản phẩm cạnh tranh nhưng chưa có thương hiệu nào có thể tạo nên các trào lưu thời trang theo từng mùa, ngay cả trên thị trường nội địa.Hiện nay, chúng ta đang có đội ngũ sản xuất tốt, nhân công giá rẻ mà kỹ năng sản xuất tốt hơn các nước trong khu vực Hệ thống kênh phân phối và những người làm thương hiệu thời trang đang có những bước tiến đáng kể Với thời trang, cần phải có chiến lược phát triển vĩ mô được thực hiện một cách cụ thể, quyết liệt và chuyên nghiệp hơn, để nền Công nghiệp thời trang Việt Nam không còn mông lung trong cuộc dạo chơi chậm chạp và không rõ phương
Trang 13hướng như hiện nay
Theo Ông Bùi Trọng Nguyên,Tổng thư ký Hội Dệt may thêu đan Thành phố
Hồ Chí Minh [1]: Trình độ của ngành Thời trang Việt Nam chỉ ở mức trung bình
thấp so với công nghiệp thời trang thế giới, thậm chí kém xa so với những nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan Nguyên nhân là do thời gian qua, chúng
ta chưa có chiến lược phát triển công nghiệp thời trang một cách đúng hướng và có trọng tâm Công nghiệp thời trang kém phát triển dẫn đến tình trạng ngành dệt may trong nước trở thành khâu gia công giá rẻ cho nước ngoài Do không có chính sách bảo hộ thương hiệu thời trang Việt, nên hàng lậu Trung Quốc tràn lan, các nhãn hiệu nước ngoài ồ ạt tràn vào giành thế chủ động ngay trên sân nhà
Bên cạnh đó, yếu tố nhà thiết kế cũng cần được quan tâm đúng mức Hiện nay, nhà thiết kế trẻ có nhiều sáng tạo nhưng do chưa có đủ kiến thức nền tảng và thiếu kinh nghiệm thực tế nên các thiết kế thời trang chưa thể ứng dụng thực tế và bắt kịp xu hướng thị trường Nhà thiết kế ngoài việc được đào tạo bài bản, cần có sự tiếp xúc sâu rộng với ngành Công nghiệp thời trang nước ngoài
Và đặc biệt quan trọng là Việt Nam đang thiếu một hệ thống nghiên cứu và phát triển (R&D) để hỗ trợ cho các nhà thiết kế trong nước
Theo nhà thiết kế Chương Đặng [1]: Việc phát triển ngành Công nghiệp thời
trang là một yêu cầu bức thiết, vì đây là một trong những ngành Công nghiệp trọng điểm của một quốc gia Với dân số đông, mức sống ngày càng cao mà không phát triển ngành công nghiệp thời trang sẽ là một sự lãng phí lớn Hơn nữa, chính ngành công nghiệp thời trang mới là nền tảng cho sự phát triển ngành công nghiệp may mặc trong nước, giúp hạn chế tình trạng hàng nhập khẩu tràn lan trên thị trường, nhất là hàng nhập lậu từ Trung Quốc
Không như ngành Dệt May, ngành Thời trang đòi hỏi không chỉ có tay nghề, sức lao động, khả năng tài chính hay tư duy công nghệ, mà còn đòi hỏi cao về nguồn lực sáng tạo và phông văn hóa tôn trọng sự khác biệt
Nói tóm lại, ngành Công nghiệp thời trang đòi hỏi không chỉ sự đầu tư tài
Trang 14chính, công nghệ, nhân lực mà điều quan trọng hơn là phải thay đổi được cách tương tác với thị trường, phong cách sống và thậm chí cả văn hóa của khách hàng
mà ngành công nghiệp hướng đến
Cùng với sự xâm nhập thị trường quần áo may sẵn của các hãng thời trang tên tuổi trên thế giới như: Giorgio Armani, CK, Pierre Cardin, Chanel, D&G, Christian Dior, Louis Vuitton, Levis… Một loạt các thương hiệu Việt như PT 2000, The Blues (Blue Exchange), Canifa, Ninomaxx… hay mới hơn là Eva de Eva, Nem… vẫn còn non trẻ nhưng rõ ràng đang khẳng định được vị trí của mình trên thị trường trong nước
Đó chính là lí do chính để tôi lựa chọn đề tài “nghiên cứu về thiết kế thời trang may sẵn Việt Nam”
2 Mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
+ Hệ thống, đánh giá, tổng kết những vấn đề về ngành Công nghiệp thời trang nói chung và thiết kế thời trang may sẵn nói riêng qua một số hãng thời trang may sẵn trên thế giới và ở Việt Nam
+ Sau đó qua việc phân tích đánh giá tình hình phát triển của hãng thời trang Canifa Tác giả đưa ra những kiến nghị, giải pháp phát bổ sung cho việc phát triển thương hiệu cho hãng thời trang Canifa
+ Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị phát triển thương hiệu
thời trang may sẵn trong nước
2.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Các khái niệm có liên quan đến thương hiệu thời trang may sẵn
+ Luận văn tập chung nghiên cứu tổng kết về ngành Công nghiệp thời trang thế giới (H&M, ZARA, Uniqlo) các hãng thời trang trong nước (Việt Tiến, May 10, Nem) và đặc biệt đi vào nghiên cứu tìm hiểu hãng thời trang Canifa
3 Tóm tắt cô đọng các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả
3.1 Các luận điểm cơ bản của đề tài
Với mục tiêu nghiên cứu của đề tài, luận văn tiến hành các nội dung sau:
Trang 15- Nghiên cứu cơ sở lý luận về ngành Công nghiệp thời trang nói chung và thiết kế thời trang may sẵn nói riêng qua một số hãng thời trang may sẵn trên thế và
ở Việt Nam
- Nghiên cứu phân tích đánh giá tình hình phát triển của hãng thời trang Canifa Tác giả đưa ra những kiến nghị, giải pháp phát triển thương hiệu cho hãng thời trang Canifa
- Tổng kết, phân tích những kiến nghị, giải pháp phát triển thương hiệu cho hãng thời trang Canifa
3.2 Những đóng góp mới của đề tài
+ Về mặt lý luận: đề tài bước đầu tổng hợp, hệ thống, phân tích, đánh giá đề
xuất phương hướng để phát triển thương hiệu thời trang may sẵn Việt Nam
+ Về mặt thực tiễn: vận dụng kết quả nghiên cứu đó, tác giả đã đề xuất phát triển cho một mô hình thương hiệu thời trang may sẵn của Việt Nam
Nếu các giải pháp xây dựng và phát triển thương hiệu thời trang Việt Nam được áp dụng sẽ góp phần khẳng định và nâng cao giá trị thương hiệu thời trang Việt Nam trong tương lai
4 Phương pháp nghiên cứu
+ Thu thập các tài liệu trên sách, báo, tạp chí, mạng internet theo phương hướng của đề tài
+ Tổng hợp, phân tích theo hướng đề tài
+ Bổ sung tài liệu, tìm kiếm trên mạng, báo các thông tin, hình ảnh,…
+ Rút ra kết luận, đề xuất các biện pháp giải quyết
+ Chứng minh kết quả đề tài qua phân tích nghiên cứu mô hình thực tế
Trang 16CHƯƠNG I: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Thời trang: Khái niệm thời trang nói về một xu thế và thiên hướng trong xã
hội liên quan đến cách suy nghĩ, giao tiếp, lối sống, được thể hiện bằng cách ăn mặc hoặc bằng một phong cách nào đó và phong cách này có thể thay thế bởi một phong cách khác Thời trang là kiểu hay phong cách phổ biến nhất ở một thời điểm nhất định.thuật ngữ bao gồm ba yếu tố: phong cách, sự thay đổi và sự chấp nhận.[2]
Phong cách: Phong cách là bất kỳ đặc điểm hoặc kiểu của một trang phục
hoặc phụ trang.các nhà thiết kế chuyển tải các ý tưởng thời trang thành các kiểu mới
và giới thiệu với công chúng, nhà sản xuất phân công một mã số kiểu cho mỗi thiết
kế mới trong mỗi bộ sưu tập, được sử dụng để nhận diện qua việc sản xuất, maketing và bán lẻ [2]
Trong thời trang một phong cách cụ thể đó vẫn luôn là một phong cách, cho
dù nó có còn hợp mốt nữa hay không Chẳng hạn như kiểu áo polo shirt (áo phòng)
sẽ không bao giờ là mốt thời thượng nhưng nó sẽ luôn có những kiểu dáng tương tự của kiểu đó và các chi tiết ban đầu
Phong cách thời trang (a fashion look): Nói đến tổng thể bộ trang phục kết
hợp với phụ trang Phong cách mặc của một người ở một thời điểm nhất định có thể rất phù hợp với váy, giày, đồ trang sức và túi Một phong cách thời trang có thể là một quần jean rách, áo thụng đuôi dài đến gối, áo vest in màu sắc lòe loẹt, và sandals Các kiểu thời trang khác nhau thường được nhận ra qua một buổi tiệc hoặc qua một nhóm người nào đó, hoặc là kết quả của những ảnh hưởng từ những sự kiện văn hóa hoặc sự kiện của thế giới Một số kiểu cách được khách hàng ưa chuộng hơn các kiểu cách khác [2]
Sự thay đổi: Điều làm thời trang thú vị và hấp dẫn chính là vì nó luôn thay
đổi.nhà thiết kế Karl Lagerfeld nói:” điều tôi thích ở thời trang chính là sự thay đổi sự thay đổi có nghĩa là chúng ta làm ngày hôm nay có thể không có ích gì cho ngày mai, nhưng chúng ta vẫn phải chấp nhận điều đó vì chúng ta đang sống trong thế giới thời trang không có gì là an toàn vĩnh cửu trong thời trang cả …thời trang là
Trang 17con tàu không đợi một ai Nếu bạn không lên tàu thì nó sẽ đi mất ”nhiều người chỉ trích”đỏng đảnh”của thời trang, cho rằng thời trang thay đổi chỉ để kích thích người mua hàng.và sự thật nếu thời trang không bao giờ thay đổi, công chúng sẽ không bao giờ mua quần áo và phụ trang thường xuyên như thế [2]
Tuy nhiên, thời trang luôn là cách để người tiêu dùng thể hiện mối quan hệ hữu hình của họ với cuộc sống, những sự kiện hiện tại và để thể hiện bản thân mình
Sự chấp nhận: Sự chấp nhận là khái niệm đè cập tới việc khách hàng lựa
chọn, mua và mặc một kiểu quần áo nào đó khiến cho kiểu quần áo đó trở thành mốt Karl Lagerfeld nhận xét:”Một kiểu quần áo không thể trở thành mốt nếu không
có ai mua cả do đó quyết định xem một kiểu quần áo nào đó có trở thành mốt hay không phụ thuộc nhiều vào công chúng.” Sự chấp nhận cảu người tiêu dùng thời trang cũng phần nào cho thấy được xu hướng trong các mùa tiếp theo…[2]
Thẩm mỹ: Sự yêu thích của cá nhân với một kiểu quần áo này hay kiểu quần
áo khác được gọi là tính thẩm mỹ của người đó “thẩm mỹ tốt”, nói tới tính nhạy cảm đối với cái đẹp, và sự phù hợp hài hòa của trang phục Những người có thẩm mỹ tốt thường là những người hiểu về chất lượng và tính đơn giản của thời trang [2]
Quần áo may sẵn: Một số lượng lớn quầu áo được sản xuất rồi được bán ra
gọi là quần áo may sẵn, tiếng Anh là ready-to-wear, tiếng Pháp gọi là pret-a-porter,
và tiếng Ý là moda pronto Quần áo may sẵn gắn liền với nền sản xuất công nghiệp, sản xuất hàng loạt Quần áo may sẵn cũng chính là quần áo được may hoàn chỉnh và sẵn sàng để mặc [2]
Haute couture: Là thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Pháp, mang ý nghĩa
chỉ sản phẩm thời trang cao cấp Couture chỉ công việc may đo, khâu vá, một người thợ may đo nữ gọi là couturiere, một thợ may đo nam gọi là couturier, haute mang nghĩa cao cấp, hoàn đích, thuật ngữ này, haute couture, chỉ thực sự xuất hiện và trở thành thuật ngữ thời trang khi Charles Frederick Worth, một NTK thời trang người Anh, tới Pháp mở ra hiệu may và thoát ly hoàn toàn với cách may đo truyền thống, tạo nên một nền công nghiệp thời trang hiện đại, thời trang cao cấp Ngày nay, nói tới haute couture, là nói tới những NTK thời trang
Trang 18chuyên nghiệp với những BST mang tính đinh hướng xu hướng thời trang, haute couture do đó gắn liền với những sản phẩm mang thương hiệu và phục vụ số đông là những khách hàng lắm tiền [2]
Seasonal lines: Nhóm sản phẩm thời trang, hay tập hợp các kiểu dáng được
thiết kế theo mùa, thuật ngữ lines thường được dùng để chỉ nhóm sản phẩm được phát triển và trinh diễn bởi các công ty may Cần phân biệt Lines và Collections [2]
Collections: BST thời trang, thuật ngữ này chỉ tập hợp những những kiểu
dáng được thiết kế theo mùa, được sáng tạo bởi các NTK chuyên nghiệp, gắn liền với các Haute Couture Collections chính là các BST biểu diễn trên sàn diễn thời trang và định hình phong cách cũng như xu hướng thời trang [2]
Mùa thời trang: Một đặc thù riêng của ngành công nghiệp thời trang, chỉ
thời điểm các dòng sản phẩm mới được tung ra thị trường Thông thường mùa thời trang trong năm thường chia thành: Thời trang Xuân Hè (Spring- Summer) và Thời Trang Thu Đông (Fall-Winter), gắn liền với các show thời trang diễn ra trước đó 1-
2 năm để xác định xu hướng thời trang (xu hướng màu sắc, chất liệu, kiểu dáng )
và định hình phong cách thời trang mới Thông thường một mùa thời trang được bắt đầu bằng các show diễn trước đó 1-2 năm kéo dài là quá trình sản xuất và tung ra thị trường của các nhà bán lẻ Một mùa thời trang kết thúc cũng là lúc các sản phẩm
đi vào lỗi mốt Sản phẩm theo mùa thời trang có thể phụ thuộc nhiều vào đặc điểm, chủng loại sản phẩm và thị trường mục tiêu Ví dụ, một công ty sản xuất bộ complet nam có thể tạo ra 2 nhóm SP mỗi năm (mùa thu và mùa xuân), trong khi đó một công ty sản xuất trang phục thể thao nam có thể tung dòng SP theo cả 4 mùa: Xuân,
hạ, thu, đông [2]
Tiểu chuẩn hóa cỡ số: Tiêu chuẩn hóa cỡ số cần cho sự phát triển của ngành
công nghiệp sản xuất hàng may sẵn Các cỡ số quần áo được phát triển bởi các số
đo nhân trắc học trung bình của một số lượng lớn người trong cùng nhóm Những
số đó hay kích thước nhân trắc học sau khi đo sẽ được tính toán để chuẩn hóa và đưa thành cỡ số chuẩn Các NTK và các công ty dựa vào cỡ số chuẩn này thiết kế cho các dòng sản phẩm của mình để đưa ra các sản phẩm may sẵn đạt hiệu quả kinh
Trang 19daonh và thời trang nhất Thông thường khi thành công, các công ty sẽ phát triển cỡ
số chuẩn của riêng mình với dòng sản phẩm đặc thù của công ty mình để đưa ra thị trường sản phẩm phụ hợp với số đông khách hàng của họ…[2]
Fast fashion là thuật ngữ chỉ những hãng bán lẻ thời trang bình dân chuyên
đi sao chép các mẫu thiết kế của nhiều thương hiệu danh tiếng và sau đó bán ra thị trường Các mẫu mã này được sản xuất một cách nhanh chóng với lợi thế duy nhất
là giá rẻ Chính vì thế, người ta thường gọi “fast fashion” với cái tên đời thường hơn
là “thời trang mỳ ăn liền”.[3]
Một số thương hiệu "fast fashion" nổi tiếng có thể kể đến là Zara, H&M hay Topshop Trong đó, theo thống kê của Forbes thì Zara là thương hiệu thành công nhất với mức tăng trưởng 8%, đạt doanh thu 19,7 tỷ USD trong năm 2014 Tiếp theo đó là các hãng Uniqlo, Gap, Primark, Abercrombie & Fitch hay Mango
Tóm lại:
Suốt thế kỷ XX, kinh đô của thời trang được xem là Paris, Các nhãn hiệu thời trang đến Paris để sao chép mẫu mã và thiết kế lại Paris được xem là cái nôi
của thiết kế thời trang, nơi những gì thời thượng nhất và xa hoa nhất quy tụ về
Vào thời điểm đầu của thiết kế thời trang, thời trang cao cấp và may sẵn không được phân biệt rõ nét như hiện tại, tất cả những sản phẩm may mặc đều được nhà thiết kế sáng tạo riêng biệt và sản xuất thủ công Đầu thế kỷ XX chứng kiến những chất liệu mới, những hình dáng của thời trang vẫn còn chịu ảnh hưởng bởi kiểu cũ
Sự phát triển của những trường phái thiết kế mới mang thời trang tiến đến một giá trị giản đơn hơn, cô đọng hơn, đem đến những bộ trang phục gọn gàng, nhẹ nhàng và hiện đại
Đại thế chiến thứ I đã khiến kinh tế thế giới lâm vào cuộc Đại khủng hoảng,
rõ ràng đây không phải là thời điểm để sáng tạo thời trang có thể thăng hoa Sự giảm thiểu ngân sách dành cho thời trang Phong trào nam nữ bình quyền vào thời
Trang 20điểm này cũng đem lại một cái nhìn khởi sắc cho trang phục nữ giới Chiến tranh thế giới thứ hai thì ngược lại, nó khiến kinh đô ánh sáng Paris mất đi vị trí bà hoàng thời trang Cái được gọi là thời thượng dần biến mất ở thủ đô nước Pháp danh tiếng
và nhường ngôi cho một hơi thở mới hơn, trẻ trung và bốc đồng hơn mang tên nước
Mỹ Quần áo may sẵn và tiện dụng trở nên thứ ám ảnh khiếu thẩm mỹ của giới trẻ trên toàn thế giới Cục diện thiết kế thời trang đã bước sang một giai thoại khác, đó
là của sự hòa trộn thời trang may sẵn và thời trang cao cấp, hiện đại và cổ điển, phóng khoáng và cổ hủ Dòng thời trang phức tạp và cuốn hút này đã hấp dẫn mọi tín đồ thời trang cho đến tận ngày nay
1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.2.1 Tại Việt Nam
Có một số các công trình nghiên cứu sau:
Những phát hiện mới của luận án: Các doanh nghiệp may xuất khẩu của Việt
Nam đang đứng ở vị trí vị trí bất lợi và phụ thuộc quá nhiều vào khách hàng trong chuỗi giá trị toàn cầu Điều này thể hiện ở hai đặc điểm chính như sau:
Các doanh nghiệp may xuất khẩu của Việt Nam được định vị là ở dưới đáy của chuỗi giá trị toàn cầu Dù đang thực hiện công việc sản xuất thâm dụng lao động cao nhưng các doanh nghiệp này lại đóng góp rất ít giá trị (khoảng 5%) vào sản phẩm cuối cùng, nhỏ hơn rất nhiều so với công đoạn marketing và phân phối (khoảng 75%) Lợi nhuận mà các doanh nghiệp này tạo ra cũng rất khiêm tốn, chỉ khoảng dưới 8% giá trị đơn hàng, nghĩa là dưới 0,4% giá trị sản phẩm cuối cùng
Mối liên kết giữa các doanh nghiệp may xuất khẩu của Việt Nam với các chủ
Trang 21thể khác tham gia chuỗi giá trị rất lỏng lẻo Đặc biệt, các doanh nghiệp này không tiếp cận được các hãng bán lẻ toàn cầu làm cho lợi nhuận tạo ra thấp do phải chia sẻ với các nhà môi giới, hãng thu mua khu vực, hãng thu mua toàn cầu
Mức lợi nhuận quá nhỏ làm cho các doanh nghiệp may xuất khẩu của Việt Nam không có đủ năng lực tài chính để đầu tư Kết quả là mặc dù giá trị xuất khẩu hàng may tăng trưởng ấn tượng trong những năm qua nhưng các doanh nghiệp may xuất khẩu của Việt Nam vẫn duy trì vị trí bất lợi này
Đề xuất mới của luận án: Trong số các giải pháp nhằm tăng cường sự tham
gia của các doanh nghiệp may xuất khẩu của Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu, luận án đề xuất tăng cường mối liên kết giữa các doanh nghiệp may xuất khẩu với các tổ chức khác trong chuỗi giá trị theo hình thức tổ chức cụm công nghiệp Luận
án đề xuất mô hình lý tưởng của cụm công nghiệp dệt may, trong đó có các doanh nghiệp may, dệt, sản xuất phụ liệu, công ty thời trang và các trung tâm thương mại Đây là mô hình tận dụng được mối liên kết giữa các doanh nghiệp bởi sự chia sẻ thông tin, hợp tác trong nghiên cứu và phát triển, sản xuất và phân phối
+ Xây dựng và quản lý thương hiệu của các doanh nghiệp may Việt Nam-
NCS Nguyễn Thị Hoài Dung
Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận:
Nhiều tài liệu cho rằng, thương hiệu là nhãn hiệu thương mại hay nhãn hiệu hoặc đối tượng sở hữu công nghiệp đã được bảo hộ, hoặc đó là tên thương mại hay
là hình tượng và tập hợp các dấu hiệu để phân biệt , song quan niệm mới của NCS
về thương hiệu thể hiện rõ thương hiệu bao gồm hai phần: Phần bên ngoài (Tên gọi, logo, slogan, màu sắc, bao bì, kiểu dáng, mùi, nhạc hiệu ) và phần bên trong (Đặc tính cốt lõi của sản phẩm được người tiêu dùng cảm nhận) Một sản phẩm muốn trở thành một thương hiệu phải hội tụ đủ cả hai thành phần trên
Khắc phục tính thiếu hệ thống của những nghiên cứu trước đây: Có tài liệu cho rằng quy trình xây dựng và phát triển thương hiệu gồm ba bước (Xây dựng chiến lược thương hiệu; Thiết kế và tạo dựng các yếu tố thương hiệu; Đăng ký bảo
hộ các yếu tố thương hiệu), sau khi đã trở thành thương hiệu rồi mới tiến hành
Trang 22quảng bá, bảo vệ và phát triển thương hiệu Tuy nhiên theo kết quả nghiên cứu của NCS, quy trình xây dựng và quản lý thương hiệu gồm bốn bước: Xây dựng chiến lược thương hiệu (nội dung khác với những nghiên cứu đã tiếp cận); Thiết kế các yếu tố bên ngoài cấu thành nên thương hiệu; Đăng ký nhãn hiệu hàng hoá và tên miền internet; Thực hiện marketingMix
Những luận điểm mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu, khảo sát của luận án: NCS đã khảo sát tổng quát 18 công ty may thuộc Tập đoàn dệt may Việt Nam Kết quả cho thấy: 5.6% doanh nghiệp có chiến lược thương hiệu; 38.9% doanh nghiệp áp dụng mô hình thương hiệu gia đình; 33.3% doanh nghiệp áp dụng
mô hình thương hiệu cá biệt; 27.8% doanh nghiệp áp dụng mô hình đa thương hiệu kết hợp song song; 88.9% doanh nghiệp thực hiện các hoạt động gia công; Hoạt động FOB mới chỉ chiếm 27.8%; 100% doanh nghiệp đã đăng ký nhãn hiệu hàng hoá tại Việt Nam, song đăng ký ở nước ngoài mới chỉ chiếm 38.9%; 83.3% doanh nghiệp đã có Website; 100% doanh nghiệp đã quan tâm đến các hoạt động marketing Kết quả trên cho thấy các doanh nghiệp may Việt Nam đã nhận thức được những việc cần làm trong quá trình xây dựng và quản lý thương hiệu, song mức độ nhận thức còn chưa đầy đủ và đồng đều giữa các doanh nghiệp
Nghiên cứu điển hình kết quả thực hiện “mục tiêu” của quá trình xây dựng
và quản lý thương hiệu sản phẩm của Tổng công ty may Việt Tiến, sử dụng chương trình STATA, luận án chỉ rõ những yếu tố quyết định trong việc lựa chọn sản phẩm may Việt Tiến, đó là: Kiểu dáng (quyết định 16.9%); Giá cả (quyết định 13.33%); Tên hiệu (quyết định 12.49%); Độ bền (quyết định12.02%); Mầu sắc (quyết định 11.34%); Nét tính cách của sản phẩm (quyết định 6.61%); Tác động của người thân, bạn bè (quyết định 5.51%); Địa điểm bán hàng (quyết định 4.36%) Qua đó cho thấy Công ty cổ phần may Việt Tiến cần phải đầu tư và cải tiến các hoạt động ở mức độ như thế nào trong quá trình xây dựng và quản lý thương hiệu các sản phẩm may của doanh nghiệp
NCS chú trọng kiến nghị tạo lập bản sắc riêng cho các sản phẩm may Việt
Nam: “Chất lượng giữ nguyên, giá rẻ hơn”; Đầu tư theo mức độ giảm dần cho:
Trang 23Kiểu dáng, giá cả, tên hiệu, độ bền, mầu sắc, nét tính cách của sản phẩm, tác động của người thân, bạn bè, địa điểm bán hàng; Cần cải tiến hơn nữa: Kiểu dáng, giá cả, màu sắc, hoạt động quảng bá sản phẩm, dịch vụ sau bán hàng & bán hàng, nét cá tính của sản phẩm Cần thành lập trung tâm đào tạo chuyên ngành dệt may nhằm đào tạo các chuyên viên cao cấp về: Thiết kế thời trang, cán bộ mặt hàng, tiếp thị hàng hoá, tổ trưởng - chuyền trưởng, quản lý chất lượng, quản lý kho hàng, quản lý xuất nhập khẩu
+ “Văn hóa mặc truyền thống và xu hướng phát triển thời trang hiện đại Việt Nam”- nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Kim Hương
Mục đích nghiên cứu của luận án là: cung cấp bức tranh tổng thể về văn hóa mặc truyền thống của người Việt thông qua mối quan hệ giữa trang phục với môi
trường, xã hội, đẳng cấp, thẩm mỹ, giới tính, tôn giáo, tín ngưỡng từ góc độ văn hóa học, rút ra những nét đặc thù, những nguyên tắc ứng xử trở thành giá trị sống
của người Việt xưa, phát hiện những điểm mạnh, tính ưu việt trong những giá trị văn hóa đó để đáp ứng nhu cầu về trang phục của người Việt hiện nay
Những đóng góp mới của luận án: Luận án lý giải mối quan hệ giữa bản sắc dân tộc và giao lưu, tiếp biến cũng như những nhân tố tác động đến việc bảo tồn và phát huy các yếu tố truyền thống trong xã hội Việt Nam đương đại Bước đầu nhìn nhận một cách hệ thống về văn hoá mặc của người Việt từ truyền thống đến hiện đại Thông qua trang phục góp phần khắc hoạ một khía cạnh quan trọng trong bản sắc của văn hoá Việt Nam
Về ý nghĩa thực tiễn: Luận án cung cấp nguồn tài liệu tham khảo hữu ích
trong công tác nghiên cứu, đồng thời, là cơ sở lý luận góp phần xây dựng hệ thống khái niệm liên quan đến lĩnh vực thời trang, bổ sung cho giáo trình giảng dạy, cũng như việc nghiên cứu và học tập của giảng viên, học viên chuyên ngành thiết kế thời trang hoặc các lĩnh vực liên quan; Là cầu nối xây dựng mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn giữa sáng tạo thời trang hiện đại của các nhà thiết kế, góp phần nâng cao chất lượng thẩm mỹ và hiệu quả kinh tế trong sản xuất và kinh doanh thời trang ở Việt Nam
Trang 241.2.2.Tại thế giới
+ “The workforce scorecard – managing human capital to execute strategy”,
Mark A Huselid, Brian E Becker, Richard W Beatty, NXB Harvard business school Nghiên cứu về quản lý nguồn nhân lực trong thực thi chiến lược
+ “Strategic intent”, Gary Hamel and C.K Prahalad, Havard business review
Nghiên cứu về ý tưởng chiến lược cho một số trường hợp kinh doanh đặc thù
+ “Market development using TQM through system integration and customer service in Asia”, Fasil Taddese & Hiroshi Osada, NXB Emerald Group Publishing
Limited Mục đích nghiên cứu là để giải quyết các vấn đề phát triển thị trường bằng cách sử dụng TQM (quản trị chất lượng toàn diện) và xác định các yếu tố quan trọng liên kết hai lĩnh vực để nâng cao thành công kinh doanh của công ty trong môi trường toàn cầu hóa
Tiểu kết : Qua tìm hiểu nội dung của các đề tài có liên quan, tác giả chưa thấy
có nghiên cứu chuyên sâu nào về Thiết kế thời trang may sẵn Việt Nam, bởi vậy tác
giả đã đi vào tìm hiểu và hệ thống về thời trang may sẵn thế giới và Việt Nam nói chung cũng như nghiên cứu về thiết kế thời trang may sẵn Việt Nam nói riêng
1.3 TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ CÔNG NGHIỆP THỜI TRANG THẾ GIỚI [4]
Ngành Công nghiệp thời trang trên thế giới là một trong những ngành được hình thành từ rất sớm Sản phẩm của ngành Công nghiệp Dệt may luôn là những vật dụng không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày của con người Những sản phẩm này ngày càng được đa dạng về chủng loại, mẫu mã đã đáp ứng được nhu cầu của mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi trong xã hội Ngày nay, hàng Dệt may không chỉ thể hiện truyền thống văn hóa mà còn thể hiện trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước, mỗi khu vực
1.3.1 Nguồn gốc
Ngành Công nghiệp thời trang có lịch sử phát triển lâu dài Năm 1800, những người thợ phải làm lụng rất chuyên cần và vất vả, từ khâu thu gom chất liệu thô (da động vật, tơ sợi…) đến khâu cho ra đời những nguyên liệu như vải, lụa và đến khâu đo đạc may vá May thay, cuộc Cách mạng Công nghiệp vào những năm 1820-1840 đã cho ra đời những dây chuyền sản xuất, đồng thời công nghệ hóa và
Trang 25hiện đại hóa quy trình sản xuất quần áo Những thiết kế đã bắt đầu được sản xuất với số lượng lớn thay vì may đo từng mẫu
Sự ra đời của máy may năm 1755 đã đẩy mạnh tốc độ và sản lượng của ngành may mặc lên một tầm cao hoàn toàn mới Những quý cô trong giới trung lưu trở lên bắt đầu tin dùng những sản phẩm quần áo của những nhà máy may địa phương Những nhà máy may này hầu hết được vận hành bởi những công nhân Nhưng trong một số công đoạn sản xuất, các nhà máy thường tận dụng những nhân công lương thấp (“sweaters”) Những “sweaters” này chính là nền tảng của ngành công nghiệp thời trang hiện đại bây giờ
Hình 1.1 Chiếc máy khâu năm 1755 [4]
Trang 261.3.2 Quá trình phát triển
1.3.3.1 Những năm 1900s - 1950s (nửa đầu thế kỷ 20)
Những nhà máy công nghiệp cỡ lớn bắt đầu xuất hiện, đẩy nhanh tiến độ phát triển của ngành Công nghiệp thời trang Bên cạnh đó, vào khoảng thời gian này, những cuộc thế chiến liên tiếp diễn ra Khái niệm về chất lượng và các quy chuẩn đồng bộ hóa được hình thành rõ nét hơn trong những xưởng sản xuất quần áo Người tiêu dùng, sau khi đã được tận hưởng những thay đổi tích cực về mặt chất lượng sản phẩm, bắt đầu nâng cao tiêu chuẩn chọn lọc hơn trong việc mua sắm quần áo
Hình1.2 Những nhà máy công nghiệp cỡ lớn bắt đầu xuất hiện [4]
1.3.3.1 Những năm 1960s-2000s (cuối thế kỷ 20)
Đây mới thực sự là khoảng thời gian mà ngành công nghiệp fast fashion phát
triển với tốc độ như „diều gặp gió‟ Vào những năm 1960s, giới trẻ bắt đầu thể hiện
Trang 27sự ưa chuộng với những nhãn hàng thời trang giá rẻ nhưng vẫn phải hợp thời Để đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng một cách hiệu quả nhất, những hãng quần áo liền nhanh chóng di dời nhà máy sản xuất qua những nước đang phát triển,
để đảm bảo được nguồn nhân công dồi dào và giá thành phải chăng
Hình1.3 Các thương hiệu đã bắt đầu di dời nhà máy sản xuất qua những quốc
gia đang phát triển [4]
Những cái tên lớn trong ngành công nghiệp fast fashion như ZARA, H&M,
Topshop hẳn đều rất quen thuộc với mỗi người chúng ta H&M có bề dày lịch sử lâu đời nhất, với cửa hàng đầu tiên ở Thụy Điển khai trương vào năm 1947 H&M tiếp tục mở rộng địa bàn đến Anh quốc vào năm 1976 và chính thức xâm nhập vào thị trường thời trang của Mỹ năm 2000 Tương tự, cửa hàng đầu tiên của ZARA được khai trương tại Tây Ban Nha vào năm 1975 và thương hiệu đã tiếp tục phát triển bền vững đến tận bây giờ với tiêu chí đẩy nhanh tốc độ sản xuất Cụm từ „fast fashion‟ được sử dụng lần đầu tiên để miêu tả về tốc độ của ZARA vào những năm đầu tiên thâm nhập thị trường Mỹ tại New York (1990)
Trang 28Hình 1.4 H&M, ZARA và Topshop là những cái tên lớn trong làng công nghiệp fast fashion
1.3.3.3 Ngày nay
Đến thời điểm hiện tại, những thương hiệu fast fashion vẫn đang rất được ưa chuộng trong giới mộ điệu Fast fashion cũng tạo được chỗ đứng vững chắc trong ngành Công nghiệp thời trang với sự ủng hộ của rất nhiều yếu nhân như công nương Kate Middleton và phu nhân Michelle Obama Ngoài hai điểm mạnh lâu đời của fast fashion như giá mềm và hợp mốt, fast fashion còn được xem là một công cụ
hỗ trợ đắc lực cho phong trào “dân chủ hóa”, để ai ai cũng có thể sử dụng thời trang như là một tuyên ngôn của cá nhân mà không bị phụ thuộc vào tầng lớp xã hội hoặc thu nhập
1.4 TÌNH HÌNH DỆT MAY THỜI TRANG TRÊN THẾ GIỚI NGÀY NAY 1.4.1 Bối cảnh chung
Ngành công nghệ Dệt may là một trong những ngành sản xuất được hình thành từ rất sớm Sản phẩm của ngành Dệt May luôn là những vật dụng không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày của con người Những sản phẩm này ngày càng được đa dạng về chủng loại, mẫu mã đã đáp ứng đuợc nhu cầu của mọi tầng
Trang 29lớp, mọi lứa tuổi trong xã hội Ngày nay, hàng dệt may không chỉ thể hiện truyền thống văn hoá, mà còn thể hiện về trình độ phát triển kinh tế kinh tế của mỗi nước, mỗi khu vực
1.4.2 Nguyên liệu
Nguyên liệu của ngành Dệt May là bông và các sản phẩm nông nghiệp khác như đay tơ gai…sau này khi khoa học kĩ thuật phát triển đã tạo ra những nguyên liệu như các loại tơ tổng hợp, nhân tạo và nâng cao kỹ thuật xử lý sợi đã đẩy ngành Dệt May lên một bước phát triển nhảy vọt cả về chất lượng và số lượng Các loại sợi nhân tạo chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong tổng sản lượng sơi của toàn thế giới trong khi sản lượng sợi tự nhiên suy giảm, đặc biệt là sợi len Năm 1997, sợi nhân tạo chiếm 54%, sợi tự nhiên( bông và len) chiếm 46% trong tổng sản lượng sợi Tỉ
lệ giữa sợi nhân tạo và sợi tự nhiên năm 1980 là 48:52, năm 1990 là 48:52, năm
1994 là 53:47 so với tỉ lệ 54:46 của năm 1997 Tuy nhiên trong khi hầu hết các loại sợi nhân tạo đều tăng đáng kể thì sợi xenlulô lại có xu hướng giản vì thiếu nguyên liệu và chi phí tăng do ảnh hưởng của các quy định về bảo vệ môi trường hiện nay
Những tiến bộ trong ngành Dệt May không chỉ tạo ra những nguyên liệu mới
mà còn tạo ra máy móc thiết bị hiện đại nâng cao năng suất lao động ở nhiều nước như Nhật Bản, Pháp, Ý… từ những năm 70, đã sử dụng dây chuyền dệt may khép kín với mục đích khai thác hết công suất của thiết bị, tăng năng suất lao động , giảm giá thành sản phẩm Song trong những năm của thập kỷ 80, 90 những phát triển về
kỹ thuật máy tính trong ngành Dệt May đã tự động hoá nhiều khâu trong cả dây chuyền dệt cũng như trong cả dây chuyền may, làm cho năng suất lao động tăng lên đáng kể Đã xuất hiện nhiều xí nghiệp theo dạng mạng lưới thông tin và cung cấp thông tin cho trung tâm điều khiển Tuy nhiên, dạng xí nghiệp này không nhiều và không phải nước nào hay nơi nào cũng áp dụng vì nó đòi hỏi mạng lưới thông tin công cộng phải đạt trình độ phát triển cao
Mặc dù đã được tự động hoá nhiều, nhưng hiện nay ngành Dệt May vẫn là ngành sử dụng nhiều lao động.Việc sử dụng nhiều lao động trong điều kiện giá lao động ngày càng cao đang làm cho vị trí ngành Dệt May trong cơ cấu sản xuất ở các
Trang 30nước phát triển suy giảm Ngược lại ngành Dệt May ở các nước đang phát triển ngày càng được đẩy mạnh, do mức tiền lương thấp đã tạo ra ưu thế trong cạnh tranh cho các nước này, đây cũng là lời giải đáp cho câu hỏi tại sao ngày nay các nước đang phát triển lại giữ một vai trò quan trọng trong ngành Dệt May thế giới Sản xuất và buôn bán trên thị trường hàng dệt may thế giới đã hình thành cung cách mới.[5]
1.4.3 Nhà thiết kế
Thiết kế thời trang hiển nhiên đã được coi là một biểu tượng thời thượng của
xã hội hiện đại, khi mà nhu cầu ăn mặc đẹp và xu hướng đã trở nên quá quen thuộc Tuy rằng trang phục đã xuất hiện rất lâu, thậm chí cùng lúc với sự phát triển của loài người, nhưng lịch sử thiết kế thời trang chỉ chính thức có mặt gần đây, nhưng lại có một tầm ảnh hưởng to lớn đến tất cả các mặt của xã hội.[6]
Trước những năm 1990, thiết kế trang phục chỉ là công việc thủ công, và những người sáng tạo ra những bộ trang phục, cho dù là dành cho dân thường, quý tộc hay vua chúa thì cũng chỉ đơn thuần là những người thợ có địa vị thấp kém trong xã hội
Hình 1.5 Ảnh người phụ nữ trong trang phục hiện đại của thời trang năm 1905 [6]
Trang 31Trong thời đại của những trang phục dành cho nữ giới cầu kỳ, xa hoa và lãng mạn, người đàn ông mang tên Charles Frederick Worth đã nổi lên như một hiện tượng Ông là nhà thiết kế thời trang đầu tiên tạo dựng được thương hiệu mang tên mình chỉ từ danh nghĩa của một người thợ may Ông đã chứng minh rằng thời trang
là một sự kết hợp hài hòa của thẩm mỹ và vẻ đẹp tự nhiên trên quần áo và phụ kiện
Trước khi mở thương hiệu của mình mang tên Maison de couture tại Paris, phần lớn
trang phục chỉ được may bởi những thợ may vô danh và không được biết đến Giá trị thành công của ông chính là người sáng tạo trang phục không chỉ chạy theo đòi hỏi và yêu cầu của khách hàng, mà còn khiến khách hàng phải mua và săn đón những sản phẩm mà một nhà thiết kế tạo ra
Hình 1.6 Bộ trang phục được thiết kế bởi người đàn ông danh tiếng Charles
Trang 32Sự phát triển của những trường phái thiết kế, đặc biệt là Art Deco cũng mang
thời trang tiến đến một giá trị giản đơn hơn, cô đọng hơn Bỏ qua những tầng lớp
váy áo bóp nghẹt phụ nữ, Art Deco đem đến những bộ trang phục gọn gàng, nhẹ
nhàng và hiện đại Người thay đổi hẳn một cái nhìn về thời trang nữ giới, hiện đại hơn, quyến rũ hơn, tự do hơn và… ngắn hơn chính là huyền thoại Coco Chanel, một biểu tượng quyền lực thời trang khi mà bà đã gây một tầm ảnh hưởng cho thời trang cho đến tận ngày nay
Hình 1.7 Thời trang theo phong cách Art Deco được thiết kế bởi Paul
Poiret[6]
Chiến tranh thế giới thứ hai kinh đô ánh sáng Paris mất đi vị trí bà hoàng thời trang Cái được gọi là thời thượng dần biến mất ở thủ đô nước Pháp danh tiếng và nhường ngôi cho một hơi thở mới hơn, trẻ trung và bốc đồng hơn mang tên nước
Mỹ Quần áo may sẵn và tiện dụng trở nên thứ ám ảnh khiếu thẩm mỹ của giới trẻ trên toàn thế giới Cục diện thiết kế thời trang đã bước sang một giai thoại khác, đó
là của sự hòa trộn thời trang may sẵn và thời trang cao cấp, hiện đại và cổ điển, phóng khoáng và cổ hủ Dòng thời trang phức tạp và cuốn hút này đã hấp dẫn mọi tín đồ thời trang cho đến tận ngày nay
Trang 33Hình 1.8.Thời trang thập niên 50s sau chiến tranh thế giới thứ hai [6]
Từ những nhà thiết kế đầu tiên tạo ra được những hiệu ứng tuyệt vời này như Coco Chanel, Jean Patou, Jeanne Lanvin cho đến những nhà thiết kế thiên tài đương đại như Marc Jacob, Alexander McQueen hay John Galliano đều đã dẫn dắt và bảo
vệ thời trang luôn giữ được những giá trị của nó
Thiết kế thời trang luôn đặc biệt, vì nó gần gũi với nhu cầu của con người hơn bất kỳ thứ gì Trang phục không chỉ là quần áo, mà còn là thứ nghệ thuật sáng tạo thể hiện được cái nhìn thời đại, dấu ấn cá nhân của người mặc và những giá trị thẩm mỹ cơ bản
Trang 34Hình 1.9 Thiết kế thời trang đương đại trên sàn diễn quốc tế của Longchamp[6]
Với tài năng thiên bẩm, niềm đam mê và bề dày kinh nghiệm, tư duy sáng tạo không ngừng,…tất cả đã làm nên những tên tuổi hàng đầu của làng thời trang trên thế giới cùng với sự phát triển không ngừng về mẫu mã, chủng loại, đa dạng của các hãng thời trang trên thế giới
Các nhà thiết kế trên thế giới
Là một trong những tên tuổi có uy tín nhất thế giới, Chiristian Dior được biết đến như một nhãn hiệu không phải chạy theo xu hướng mà ngược lại, tạo ra xu hướng
Năm 1978, Versace ngày nay là một trong các đầu tàu của xu hướng thời trang cao cấp và đồng thời là một trong những thương hiệu có tầm ảnh hưởng nhất quốc tế Gianni khởi nghiệp là một freelance designer, người luôn có một suy nghĩ
Trang 35nhất quán trong việc thách thức mọi giới hạn của thời trang Những đường cắt may sắc cạnh, màu sắc chói sáng, chất liệu lạ lùng của Gianni được tích hợp với tính nghệ thuật cao cấp và tính thời thượng đương đại
Năm 1994, nhà thiết kế trẻ tuổi với tầm nhìn viễn kiến – Tom Ford – đã đầu quân với tư cách là giám đốc sáng tạo cho Gucci, anh đã thổi một luồng sinh lực tươi trẻ vào cho thương hiệu Những thiết kế của Ford là một sự pha trộn đầy mê hoặc giữa tính quyến rũ và đẳng cấp, anh đã biến Gucci trở thành một thương hiệu
xa xỉ với đẳng cấp toàn cầu bằng những thiết kế độc đáo và thanh lịch
Christian Dior chính là người đã tạo dựng nên thương hiệu cao cấp Dior vào năm 1947 Bộ sưu tập đầu tiên khi cho ra mắt thương hiệu, New Look, đã tạo nên một cuộc cách mạng thời trang với việc thể hiện được 90 phong cách khác nhau cho thời trang nữ giới
Khi Prada được thành lập bởi Mario Prada vào năm 1913 và từ đó đã trở thành một trong những thương hiệu uy tín và được biết đến rộng rãi nhất trong ngành công nghiệp thời trang thế giới Những gì người ta nói về Miuccia là tài năng và ma lực trong từng thiết kế, bất cứ ai cũng muốn một lần nhìn ngắm những sản phẩm trong các
bộ sưu tập của cô Prada luôn được xếp ra khỏi phần còn lại của thế giới thời trang bởi
vì thương hiệu không bao giờ chạy theo trào lưu phong cách và các họa tiết đang thịnh
hành, mà luôn tạo ra sự tinh xảo và khuynh hướng riêng cho mình
1.4.4 Quản lí và sản xuất
Từ những năm 70, sản xuất hàng dệt may trên thế giới đã có xu hướng chuyển dịch dần từ các nước phát triển như Nhật Bản, Mỹ , Anh, Pháp… sang các nước đang phát triển Ở các nước phát triển, khối lượng hàng dệt may xuất khẩu giảm và khối lượng hàng dệt may nhập khẩu tăng nhanh Các nước đang phát triển trở thành người cung cấp chủ yếu trên thị trường hàng dệt may thế giới, điển hình là các nước mới công nghiệp hóa (NICs), Trung Quốc Trong những năm 80 hàng dệt may của các nước NIC (nước công nghiệp mới) đã chiếm đến 1/4 khối lượng buôn bán hàng dệt và 1/3 tổng khối lượng buôn bán hàng may trên thế giới Theo thống
kê của GATT Thị Trường trong năm 1988 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của
Trang 36Trung Quốc là 11,4 tỷ USD đứng hàng thứ năm trên thế giới, Hồng Kông là 18,2 tỷ USD đứng đầu thế giới, nếu tính xuất khẩu ròng thì Nam Triều Tiên đạt 11,9 tỷ USD đứng thứ nhất,Trung Quốc đạt 9 tỷ USD,đứng thứ ba sau Italia
Bảng 1.1 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may năm 1988 [7]
Đơn vị :Triệu USD Tên
nước
Thị
trường
Hàng dệt
Hàng may
Thị trường
Tổng cộng
Thị trường
Xuất khẩu
Thị trường Hồng
Kông 4 6.400 11.800 1 18.200 11 6.100 6 Italia 2 7.500 9.100 2 16.600 2 9.900 2
Quá trình chuyển dịch này thể hiện rất rõ nét ở các nước thuộc EU, những nước trước đây là những cường quốc xuất khẩu hàng dệt may Tính chung từ năm
Trang 371980 đến 1989 số công nhân trong ngành dệt của các nước EU đã giảm tới 220.000 người cụ thể la Pháp “tính theo %” là 6,2; CHLBĐ 31,5; Anh 24,7; Italia 16 Trong
2 năm 1992-1993 quá trình này còn diễn ra mạnh mẽ hơn
Ngành dệt ở các nước EU đang cải tổ sâu sắc một mặt do thế hệ đã rời khỏi ngành và người ta thích đầu tư vốn vào những ngành dịch vụ nhẹ nhàng hơn như du lịch , hàng mỹ nghệ,bất động sản; mặt khác do các hãng lớn đang đẩy mạnh chuyên môn hoá với việc mua cổ phần ở các nước ngoài biên giới Châu Âu, nhất là những nơi có giá nhân công rẻ để hạ giá thành sản phẩm Như hãng QUELL của Đức có tới 2/3 cổ phần thực hiện ở các nước ngoài Châu Âu như: Hồng Kông, Trung Quốc,Philipin, Việt Nam,Mađagatxca
Phần lớn các hãng công nghiệp Châu Âu đều chuyển thành các hãng thương mại chẳng hạn như hãng Z.ZONE của Pháp có 1/3 hàng mua tại các nước Đông Nam Á, 1/3 hàng do các xí nghiệp vùng Trung Đông cung cấp, chỉ có 1/3 hàng do các xí nghiệp gia công hàng của Pháp cung cấp; tập đoàn công nghệ dệt may Shtailmanhai của Đức đã sản xuất 55% sản phẩm của mình ở các nước Đông Âu, 18% tại các nước Châu Á, chỉ giữ lại 27% sản xuất tại Đức Sang những năm của thập kỷ 90, quá trình chuyển dich không chỉ diễn ra ở các nước phát triển mà còn bắt đầu diễn ra ở các nước NICs, là những nước đang phát triển đã vươn tới những ngành công nghiệp mũi nhọn có hàm lượng kỹ thuật cao, tốn ít lao động, mang lại nhiều lợi nhuận( như ngành công nghiệp điện tử) và giá nhân công ngày càng tăng Khi tiền công lao động ngày càng gia tăng thì sức mạnh cạnh tranh trong sản xuất mặt hàng dệt may ở các nước này giảm đi rõ rệt Ngành dệt may ở các nước này có
xu hướng chuyển dần sang các nước ASEAN, khu vực Nam Á và các nước lân cận
có nhiều lao động rẻ hơn.Điều này đã góp phần thúc đẩy ngành Dệt May ở các nước ASEAN và các nước lân cận trong đó có Việt Nam phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây
1.4.5 Phân phối
Hiện nay những nước xuất khẩu hàng dệt may lớn trên thế giới là Hồng Kông, Nam Triều Tiên, Trung Quốc, Đài Loan, Inđônêxia, Pháp, Đức Những nước
Trang 38nhập khẩu hàng dệt may lớn trên thế giới là Mỹ, EU, Nhật Bản, Canada, Hồng Kông Hồng Kông là một trong những nước xuất khẩu chủ yếu hàng may Các nhà sản xuất Hồng Kông đa nguyên liệu sang các nước Đông Nam Á gia công sản phẩm may mặc để khai thác nhân công rẻ rồi xuất đi ước thứ ba Có thể nói Hồng Kông là một thị trường lớn cung cấp cung cấp các nguyên phụ liệu cho ngành may
1.4.6 Quảng bá bán hàng
Thị trường thời trang may sẵn trên thế giới luôn diễn ra sôi động Các cửa hàng dệt may tăng khá nhanh.Khách hàng luôn tìm thấy các sản phẩm mới nhưng số lượng có hạn Các khách hàng mua những sản phẩm có thể đặt qua trung gian, đặt qua mạng
Các cửa hàng luôn chọn địa điểm đẹp nhất trong những thành phố chính, bày những hàng đẹp nhất qua cửa sổ còn bên trong bày biện một cách tinh vi
1.4.7 Dịch vụ chăm sóc khách hàng
Thị trường thời trang may sẵn trên thế giới luôn có các hoạt động chăm sóc khách hàng rất ưu ái như trình chiếu các đoạn quảng cáo, cuộc thi bình chọn nhà bán lẻ tốt nhất, sản xuất một số bộ phim tài liệu với tiêu đề về thương hiệu của mình, khuyến khích tự đưa ra các quyết định liên quan đến dịch vụ khách hàng tại bất kỳ thời điểm nào cần thiết, Trang web và các dịch vụ hỗ trợ trực tuyến được thiết kế và tối ưu nhằm đảm bảo các khách hàng trực tuyến luôn nhận được hỗ trợ tốt nhất “Phần quan trọng của dịch vụ trực tuyến là chăm sóc khách hàng tốt nhất
có thể”, Andy Street giải thích rằng, “Chúng tôi phải mang dịch vụ vào trực tuyến.” thường xuyên đảm nhận việc trao đổi với những nhân viên tiếp xúc trực tiếp với khách hàng để cùng với họ cải thiện và nâng cao các công việc liên quan
1.5 TÌNH HÌNH THỜI TRANG MAY SẴN VIỆT NAM VÀ THỊ TRƯỜNG MAY SẴN VIỆT NAM
1.5.1 Hiện trạng thời trang may sẵn Việt Nam và thị trường may sẵn Việt Nam 1.5.1.1 Bối cảnh chung[8]
Đứng trong top 10 các nước xuất khẩu hàng dệt may trên thế giới nhưng thị trường thời trang Việt Nam trong một thời gian dài lại nằm trong tay những nhãn
Trang 39hiệu đến từ nước ngoài
Cùng với làn sóng những sản phẩm trung bình từ Trung Quốc, Thái Lan… lan khắp các tỉnh thành, cơn sóng của những thương hiệu thời trang cao cấp từ những nước châu Âu, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc đang phủ kín những trung tâm mua sắm lớn tại các TP lớn, khiến ngành may mặc, thời trang Việt Nam chao đảo…
Theo thống kê chưa đầy đủ của các DN kinh doanh thời trang, đến thời điểm hiện tại, có gần 200 thương hiệu thời trang ngoại đang có mặt tại Việt Nam, chiếm hơn 60% thị trường, tiêu thụ mạnh nhất là những thương hiệu tầm trung như Giordano, Bossini (châu Á) và tầm cao như CK, Mango, D&G…
Theo các chuyên gia, điều đáng lo ngại nhất là dù đã nỗ lực đổi mới nhưng các thương hiệu thời trang Việt Nam đang rất khó khi phải cạnh tranh với hàng hiệu nước ngoài Canifa – Thương hiệu thời trang của Cty Cổ phần Thương mại và Dịch
vụ Hoàng Dương là một ví dụ
Chủ tịch HĐQT một Công ty thời trang lớn cho rằng, khó khăn là có thực,
sự cạnh tranh không chỉ từ các thương hiệu ngoại mà từ hàng nhập lậu Trung Quốc, nhưng nếu DN chú tâm, có chiến lược tốt và có tâm huyết với thương hiệu của mình thì vẫn sống được Tuy nhiên, câu chuyện của số đông DN may mặc khi tìm cách chiếm lĩnh, chiếm lại "sân nhà" thật sự không dễ dàng Ngay các DN lớn như: Việt Tiến, Việt Thắng, May Nhà Bè, May 10, Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) và một số doanh nghiệp may mặc thời trang tư nhân cũng gặp khó khi liên tiếp cho ra đời các dòng nhãn hiệu thời trang từ cao cấp đến bình dân để phục vụ thị trường nội địa nhưng vẫn bí đầu ra
Như vậy ngành công nghiệp thời trang Việt Nam cần một cuộc đại tu toàn diện từ sản xuất, thiết kế, phân phối đến chiến lược marketing để có thể đủ sức bám trụ, tồn tại sau trận đại hồng thủy đổ bộ của của nhiều thương hiệu quốc tế Nếu không có cuộc đại tu toàn diện, các bên liên quan tham gia vào chuỗi sản xuất của ngành may mặc, bên cạnh lợi ích được hưởng, sẽ phải chịu nhiều thiệt thòi khi chỉ
có thể tận dụng lợi ích một chiều và hoàn toàn bị động
Trang 40Nghịch lý hiện nay ở chỗ, mặc dù sở hữu nhiều yếu tố gồm kinh nghiệm dày dặn trong lĩnh vực gia công, lực lượng nhà thiết kế trẻ, duy trì mức tăng trưởng liên tục về lượng khách quốc tế hàng năm, ngành thủ công truyền thống lâu đời và bề dày văn hóa Tuy nhiên, tầm vóc phát triển của ngành công nghiệp thời trang Việt Nam vẫn rất chậm, thiếu sự đồng bộ và mang tính chất tự phát thay vì được quy hoạch bài bản
1.5.1.2 Nguyên liệu[9]
Theo số liệu thống kê của Hiệp hội Bông sợi Việt Nam, trong năm 2014, Việt Nam nhập các loại nguyên liệu thô như bông, sợi polyester, sợi viscose để sản xuất được trên 900.000 tấn sợi Tuy nhiên, do khâu đoạn sản xuất vải trong nước chỉ hấp thụ được khoảng trên 300.000 tấn nên 70% khối lượng sợi dành cho xuất khẩu
Trong khi đó, hàng năm ngành dệt may trong nước cần khoảng 8,7 tỷ mét vải nhưng với năng lực và công nghệ yếu, Việt Nam chỉ sản xuất được khoảng 3 tỷ mét vải/năm Như vậy, để hiện thực hóa được lợi thế về thuế quan trong các FTA, Việt Nam phải nhanh chóng bổ sung năng lực sản xuất gần 6 tỷ mét vải/năm Con số này chỉ mới xét tới nhu cầu hiện tại chứ chưa tính đến sự tăng trưởng của dệt may Việt Nam tại các thị trường xuất khẩu như EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ…
Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam, năm 2014, doanh thu xuất khẩu dệt may của Việt Nam đạt 24 tỷ USD, dự báo năm 2015 sẽ là 28 tỷ USD Tuy tăng trưởng
ấn tượng song có một thực tế là tỷ lệ nguyên liệu và phụ liệu nội địa còn hết sức khiêm tốn, chỉ đạt 55% Tỷ lệ này chưa cao chủ yếu là ở khâu đoạn dệt nhuộm còn yếu kém, khiến cho việc sản xuất sợi dệt nhuộm hạn chế theo
Để tháo gỡ khó khăn cho ngành Dệt May về nguyên phụ liệu, các chuyên gia của Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công thương cho rằng, Nhà nước nên khuyến khích các nhà đầu tư chọn đầu tư vào các lĩnh vực mà Việt Nam còn thiếu và yếu, nhằm hoàn thiện chuỗi cung ứng giá trị sản xuất tại Việt Nam (từ vải thô, chưa tẩy trắng thành vải hoàn thiện)
Để phục vụ sản xuất trong nước, nhu cầu về các mặt hàng vải, sợi, nguyên phụ liệu dệt may tăng nhanh trong thời gian tới Việc phụ thuộc quá nhiều vào một