1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Nghiên cứu đặc điểm kích thước phần thân dưới cơ thể phụ nữ thành phố hồ chí minh độ tuổi 25 45

137 443 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 2,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 1.1 Quá trình phát triển nhân trắc học trên thế giới và Việt Nam 1.1.1 Quá trình phát triển nhân trắc học trên thế giới Nhân trắc học là một môn khoa học

Trang 1

-*** -

NGUYỄN THỊ THANH PHÚC

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM KÍCH THƯỚC PHẦN THÂN DƯỚI CƠ THỂ PHỤ NỮ THÀNH PHỐ HCM ĐỘ TUỔI 25 - 45

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

Hà Nội – 2015

Trang 2

-*** -

NGUYỄN THỊ THANH PHÚC

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM KÍCH THƯỚC PHẦN THÂN DƯỚI CƠ THỂ PHỤ NỮ THÀNH PHỐ HCM ĐỘ TUỔI 25 - 45

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

CHUYÊN NGÀNH: CÔNG NGHỆ VẬT LIỆU DỆT MAY

Người hướng dẫn khoa học:

PGS-TS PHAN THANH THẢO

Hà Nội – 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài: Nghiên cứu đặc điểm kích thước phần thân dưới cơ thể phụ nữ thành phố hcm độ tuổi 25 – 45 là công trình nghiên cứu của riêng tôi được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS TS Phan Thanh Thảo Kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm với nội dung luận văn không có sự sao chép từ các luận văn khác

Hà Nội, ngày 01 tháng 03 năm 2015

Học viên

Nguyễn Thị Thanh Phúc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn cô giáo PGS TS Phan Thanh Thảo đã hướng dẫn và chỉ bảo tận tình để bắt đầu và hoàn tất luận văn này, em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo trong viện Dệt may – Da giầy và Thời trang cũng như thầy cô trong chương trình đào tạo sau đại học Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội

Xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường Cao Đẳng Nghề VINATEX Tp.HCM, Trường Cao Đẳng Công Thương Tp.HCM, Trường Đại học Công nghệ Tp.HCM và các bạn, các đồng nghiệp đã giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng Tôi xin cảm ơn toàn thể người thân trong gia đình đã ủng hộ, động viên cũng như tạo mọi điều kiện để Tôi hoàn thành luận văn này

Do thời gian có hạn, điều kiện, trang thiết bị dụng cụ phục vụ nghiên cứu nhiều hạn chế, nên trong quá trình làm luận văn còn có thiếu sót, rất mong được sự chỉ dạy của quý thầy cô, bạn bè cùng đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Người thực hiện

Nguyễn Thị Thanh Phúc

Trang 5

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 12

1.1 Quá trình phát triển nhân trắc học trên thế giới và Việt Nam 12

1.1.1 Quá trình phát triển nhân trắc học trên thế giới 12

1.1.2 Quá trình phát triển nhân trắc học ở Việt Nam 17

1.2 Đặc điểm cấu trúc các bộ phận phần thân dưới cơ thể và tâm sinh lý của phụ nữ Việt Nam khu vực phía nam độ tuổi 25-45 22

1.2.1 Đặc điểm cấu trúc các bộ phận phần phần thân dưới cơ thể phụ nữ Việt Nam khu vực phía nam độ tuổi 25-45 22

1.2.1.1 Vùng bụng 22

1.2.1.2 Vùng mông 24

1.2.1.3 Đùi……… 25

1.2.1.4 Cẳng chân 27

1.2.1.5 Bàn chân 28

1.2.2 Đặc điểm tâm sinh lý 29

1.2.2.1 Đặc điểm tâm lý 30

1.2.2.2 Đặc điểm sinh lý 31

1.2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý của phụ nữ ở độ tuổi 25 - 45 35

1.2.2.4 Kết luận về đặc điểm tâm sinh lý 35

1.3 Đặc điểm kích thước phần thân dưới cơ thể phụ nữ Việt Nam khu vực phía nam độ tuổi 25-45 36

1.3.1 Chiều cao đứng 36

1.3.2 Chiều cao ngồi 38

1.3.3 Chiều rộng mông 40

1.3.4 Vòng đùi 40

1.3.5 Chiều dài chân 41

1.3.6 Trọng lượng cơ thể 42

1.3.7 Các kích thước khác 43

Trang 6

khu vực phía nam độ tuổi 25-45 45

1.4.1 Đặc điểm tỉ lệ cơ thể người 45

1.4.2 Các thời kỳ phát triển 48

1.5 Kết luận 49

1.5.1 Kết luận phần tổng quan 49

1.5.2 Nhiệm vụ đề tài 50

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 51

2.1 Đối tượng nghiên cứu 51

2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 51

2.2.1 Tiến hành cuộc khảo sát nhân trắc 51

2.2.1.1 Phương pháp đo 51

2.2.1.2 Vấn đề chọn mẫu 52

2.2.1.3 Vấn đề chọn dấu hiệu nhân trắc 55

2.2.1.4 Kỹ thuật khảo sát 67

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm kích thước phần thân dưới cơ thể phụ nữ thành phố HCM độ tuổi 25-45 72

2.2.2.1 Xử lý thống kê số liệu nhân trắc 72

2.2.2.2 Chương trình nghiên cứu đặc điểm kích thước phần thân dưới 81

2.3 Kết luận 90

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 92

3.1 Kết quả xử lý thống kê số liệu điều tra nhân trắc phần thân dưới cơ thể phụ nữ thành phố HCM độ tuổi 25 – 45 92

3.1.1 Các đặc trưng thống kê phần thân dưới cơ thể phụ nữ thành phố HCM độ tuổi 25 – 45 92

3.2 Đặc điểm kích thước của phần thân dưới cơ thể phụ nữ thành phố HCM độ tuổi 25 – 45 113

3.2.1 Sức lớn về chiều cao 113

Trang 7

3.2.3 Đặc điểm kích thước chiều cao ngồi 114

3.2.4 Đặc điểm cân nặng 115

3.2.5 Đặc điểm kích thước vòng bụng 116

3.2.6 Đặc điểm chiều dài của chi dưới và các đoạn chi dưới và các vòng chi dưới 118

3.3 Qui luật phát triển kích thước chính phần thân dưới cơ thể phụ nữ thành phố HCM độ tuổi 25 – 45 121

3.3.1 Chiều cao đứng 121

3.3.2 Chiều cao bụng 123

3.3.3 Vòng bụng 125

3.3.4 Vòng mông 126

3.4 Kết luận 128

KẾT LUẬN CHUNG 130

HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 131

TÀI LIỆU THAM KHẢO 132

PHỤ LỤC 134

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Chiều cao đứng theo lớp tuổi giữa ba miền 36

Bảng 1.2 Dấu hiệu nhân trắc chiều cao đứng từ 20 đến 49 tuổi 37

Bảng1.3 Số đo trung bình của một số dấu hiệu nhân trắc theo các tác giả khác nhau 38

Bảng 1.4 Chiều cao ngồi theo lớp tuổi giữa ba miền 39

Bảng 1.5 Vòng đùi theo lớp tuổi giữa ba miền 41

Bảng 1.6 Dấu hiệu nhân trắc cân nặng từ 20 đến 49 tuổi 43

Bảng 2.1 Số lượng người đo thực tế trên 3 trường thuộc 3 quận TP.HCM 55

Bảng 2.2 Các kích thước và phương pháp đo 56

Bảng 2.3 Mốc đo các kích thước trên cơ thể người và cách xác định 65

Bảng 2.4 Chiều cao trung bình thanh niên miền bắc 74

Bảng 2.5 Trị số student ứng với số bậc tự do tương ứng 79

Bảng 2.6 Tiêu chuẩn chiều cao đứng ở người việt nam 82

Bảng 2.7 Xếp loại người việt nam theo chỉ số skelie của tác giả đỗ xuân hợp và nguyễn quang quyền 84

Bảng 2.8 các kích thước bàn chân của tác giả lê gia khải và cộng sự 88

Bảng 2.9 Hệ số tương quan và công thức hồi quy giữa các đoạn chi với chiều cao đứng ở học sinh mẫu giáo hà nội từ 4 đến 6 tuổi 89

Bảng 2.10 Hệ số tương quan và công thức hồi quy giữa các đoạn chi với chiều cao đứng của thanh niên từ 18 đến 25 tuổi 89

Bảng 3.1 Đặc trưng thống kê phần thân dưới phụ nữ độ tuổi 25-35 92

Bảng 3.2 Đặc trưng thống kê phần thân dưới phụ nữ độ tuổi 36 - 45 93

Bảng 3.3 Các đặc trưng thống kê của 04 kích thước chính của đối tượng nghiên cứu nhóm tuổi từ 25 đến 35 96

Bảng 3.4 Tần số lý thuyết va thực nghiệm kich thước chiều cao dứng của phụ nữ nhóm tuổi 25 dến 35 96

Bảng 3.5 Tần số lý thuyết và thực nghiệm kích thước chiều cao bụng của phụ nữ nhóm tuổi 25 đến 35 98

Trang 9

tuổi 25 đến 35 100 Bảng 3.7 Tần số lý thuyết và thực nghiệm kích thước vòng mông của phụ nữ nhóm tuổi 25 đến 35 102 Bảng 3.8 Các đặc trưng thống kê của 04 kích thước chính của đối tượng nghiên cứu nhóm tuổi từ 36 đến 45 104 Bảng 3.9 Tần số lý thuyết va thực nghiệm kich thước chiều cao dứng của phụ nữ nhom tuổi 36 dến 45 105 Bảng 3.10 Tần số lý thuyết và thực nghiệm kích thước chiều cao bụng của phụ nữ nhóm tuổi 36 đến 45 107 Bảng 3.11 Tần số lý thuyết và thực nghiệm kích thước vòng bụng của phụ nữ nhóm tuổi 36 đến 45 109 Bảng 3.12 Tần số lý thuyết và thực nghiệm kích thước vòng mông của phụ nữ nhóm tuổi 36 đến 45 111 Bảng 3.13 Giá trị kích thước chiều cao đứng phụ nữ thành phố HCM độ tuổi 25 -

35, 36 - 45 113 Bảng 3.14 So sánh giá trị kích thước chiều cao đứng phụ nữ thành phố HCM độ tuổi 25 - 35, 36 - 45 với một số kết quả nghiên cứu trong nước 114 Bảng 3.15 So sánh giá trị kích thước chiều cao ngồi phụ nữ thành phố HCM độ tuổi

25 - 35, 36 - 45 với một số kết quả nghiên cứu trong nước 115 Bảng 3.16 Giá trị chỉ số kaup của đối tượng phụ nữ nghiên cứu 115 Bảng3.17 So sánh giá trị cân nặng phụ nữ thành phố HCM độ tuổi 25 - 35, 36 - 45 với một số kết quả nghiên cứu trong nước 116 Bảng 3.18 Giá trị chỉ số lorentz của đối tượng phụ nữ nghiên cứu 117 Bảng 3.19 So sánh giá trị vòng bụng phụ nữ thành phố HCM độ tuổi 25 - 35,36 - 45 với một số kết quả nghiên cứu trong nước 117 Bảng 3.20 Giá trị kích thước chiều dài chi dưới, chiều cao ngồi, chiều cao đứng và chỉ số skelie, chỉ số thân của đối tượng phụ nữ nghiên cứu 118 Bảng 3.21 Giá trị các kích thước phần đùi phụ nữ thành phố HCM độ tuổi 25 - 35,

36 - 45 119

Trang 10

35, 36–45 120 Bảng 3.23 So sánh giá trị các vòng chi dưới phụ nữ thành phố HCM độ tuổi 25 - 35,

36 - 45 với kết quả nghiên cứu trong nước của tập thể tác giả 2 120 Bảng 3.24 Số liệu chiều cao đứng trung bình phụ nữ thành phố HCM độ tuổi 25 –

45 121 Bảng 3.25 Số liệu chiều cao bụng phụ nữ thành phố HCM độ tuổi 25 – 45 123 Bảng 3.26 Số liệu vòng bụng trung bình phụ nữ thành phố HCM độ tuổi 25 – 45 125 Bảng 3.27 Số liệu vòng mông trung bình phụ nữ thành phố HCM độ tuổi 25 – 45 127

Trang 11

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1 Xương vùng bụng 22

Hình 1.2 Các cơ thành bụng trước bên 23

Hình 1.3 Cơ hoành và cơ thành bụng sau 23

Hình 1.4 Ống bẹn 24

Hình 1.5 Xương vùng mông 24

Hình 1.6 Các cơ vùng mông 25

Hình 1.7 Xương đùi 25

Hình 1.8 Các cơ vùng đùi 26

Hình 1.9 Xương cẳng chân 27

Hình 1.10 Các cơ vùng cẳng chân 28

Hình 1.11 Xương bàn chân 28

Hình 1.12 Các cơ gan chân 29

Hình 1.13 Các cơ mu chân 29

Hình 1.14 Tỷ lệ mặt người trưởng thành chính diện 46

Hình 1.15 Tỷ lệ phụ nữ ở tuổi trưởng thành 48

Hình 2.1 Minh họa phương pháp đo kích thước chiều cao 60

Hình 2.2 Hình minh họa phương pháp đo kích thước chiều dài 61

Hình 2.3 Minh họa phương pháp đo kích thước bề rộng 62

Hình 2.4 Minh họa phương pháp đo kích thước bề dầy, độ lõm 63

Hình 2.5 Minh họa phương pháp đo kích thước vòng 64

Hình 2.6 Vị tri cac mốc do tren cơ thể 67

Hình 2.7 Can nặng 70

Hình 2.8 Thước day 70

Hình 2.9 Thước cay do chiều cao 71

Hình 2.10 Thước kẹp 71

Hình 2.11 Tổng số đo tập hợp mẫu 74

Hình 3.1 Biểu đồ tần số lý thuyết và thực nghiệm kích thước chiều cao đứng của phụ nữ nhóm tuổi 25 đến 35 98

Trang 12

phụ nữ nhóm tuổi 25 đến 35 100 Hình 3.3 Biểu đồ tần số lý thuyết và thực nghiệm kích thước vòng bụng của phụ nữ nhóm tuổi 25 đến 35 102 Hình 3.4 Biểu đồ tần số lý thuyết và thực nghiệm kích thước vòng mông của phụ nữ nhóm tuổi 25 đến 35 104 Hình 3.5 Biểu đồ tần suất lý thuyết và thực nghiệm của kích thước cao đứng của phụ nữ độ tuổi 36-45 106 Hình 3.6 Biểu đồ tần số lý thuyết và thực nghiệm của kích thước cao bụng của phụ

nữ độ tuổi 36-45 108 Hình 3.7 Biểu đồ tần số lý thuyết và thực nghiệm kích thước vòng bụng của phụ nữ nhóm tuổi 36 đến 45 110 Hình 3.8 Biểu đồ tần số lý thuyết và thực nghiệm kích thước vòng mông của phụ nữ nhóm tuổi 36 đến 45 112 Hình 3.9 Biểu đồ sự phát triển chiều cao đứng phụ nữ ở độ tuổi 25 – 35, 36 – 45 122 Hình 3.10 Biểu đồ sự phát triển chiều cao bụng phụ nữ ở độ tuổi 25 – 35,

36 – 45 124 Hình 3.11 Biểu đồ sự phát triển vòng bụng phụ nữ ở độ tuổi 25 – 35, 36 – 45 126 Hình 3.12 Biểu đồ sự phát triển vòng mông phụ nữ ở độ tuổi 25 – 35, 36 – 45 128

Trang 13

CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 1.1 Quá trình phát triển nhân trắc học trên thế giới và Việt Nam

1.1.1 Quá trình phát triển nhân trắc học trên thế giới

Nhân trắc học là một môn khoa học dùng các phương pháp toán học và thống

kê để nhận định và phân tích sự đo đạc các kích thước của cơ thể con người nhằm tìm hiểu các quy luật về sự phát triển hình thái con người và rút ra các kết luận để phục vụ thực tiễn hàng ngày trong công tác y tế và cho hầu hết các nghành kinh tế quốc dân Về mặt lý luận, Nhân trắc học cho phép chúng ta đề ra các qui luật về sự phát triển cơ thể con người, về phân loại các dạng người, các nhóm chủng tộc loài người và tìm hiểu về nguồn gốc loài người, những đặc trưng số lượng về những biến dị của các cá thể tùy thuộc vào giới tinh, lứa tuổi, dân tộc, nghề nghiệp cũng như các yếu tố tự nhiên khác

Tùy theo mục đích nghiên cứu, Nhân trắc học gồm có:

 Nhân trắc học chuyên về nghiên cứu hình thái các chủng tộc loài người

 Nhân trắc học học đường, nghiên cứu thể lực và các tiêu chuẩn kiểm tra sức khỏe học sinh

 Nhân trắc học thể dục thể thao, nghiên cứu các tiêu chuẩn kiểm tra sức khỏe vận động viên hoặc xác định thiên hướng cũng như lựa chọn vận động viên vào môn thể thao thích hợp nhất

 Nhân trắc học nghề nghiệp, nhằm xác định thiên hướng nghề nghiệp cho từng đối tượng

 Nhân trắc học y học, nghiên cứu sự phát triển cơ thể theo từng thời kỳ, xác định các hình thái thay đổi do bệnh lý, phân loại các dạng người dễ nhiễm một số bệnh đặc trưng, đánh giá tình trạng bình thường hay bệnh tật v.v… 10]

Dấu hiệu nhân trắc được đặc trưng bởi các kích thước rộng (vòng), kích thước góc, lực cơ v.v… Tính định lượng của các dấu hiệu nhân trắc được tính bằng các đơn vị đo lượng như: centimet, milimet, kilogram, newton, độ v.v… hoặc bằng các

Trang 14

chỉ số hệ thông số Đây chính là cơ sở khoa học đánh giá khả năng thích ứng của con người với môi trường sống

Các dấu hiệu nhân trắc bao gồm: dấu hiệu nhân trắc cổ điển và dấu hiệu nhân trắc Egônômi là những dấu hiệu nhân trắc về mặt định hướng trong không gian tương ứng với kích thước được thiết kế bao gồm: dấu hiệu nhân trắc tĩnh, dấu hiệu nhân trắc động, các kích thước từng phần của cơ thể, các kích thước chiếm chỗ và góc hoạt động của các khớp Các dấu hiệu này được đo ở trạng thái và tư thế khác nhau phỏng theo trạng thái và tư thế hoạt động của người từ đó nhằm thiết kế các

đồ dùng cá nhân, công cụ lao động, thiết kế thời trang, thiết kế các phương tiện giao thông, nhà cửa v.v… phù hợp với kích thước của cá nhân, nhóm tuổi, giới tính, sở thích, tính tối ưu trong hoạt động của cá nhân giúp con người sống thoải mái và đạt năng suất cao trong lao động

Nhân trắc học Ecgônômi là khoa học nghiên cứu sự thích ứng giữa đối tượng

kĩ thuật (bao gồm các phương tiện lao động, công cụ, máy móc, phương tiện mà con người sử dụng hoặc giao tiếp trong quá trình lao động) với kích thước, khối lượng toàn bộ và từng phần cơ thể người trong mối tương quan tĩnh và động nhằm đảm bảo tư thế làm việc hợp lý, bộ phận điều khiển tối ưu [11]

Nhân trắc học (Antropometrie) được hình thành và phát triển song song với lịch sử phát triển khoa học về người (nhân học) ở các nước châu âu Nhân trắc học

là ngành khoa học có từ rất lâu, ngay từ khi con người biết vạch dấu chiều cao của mình trên đá, dấu hiệu đầu tiên về nhân trắc đã được ghi nhận

Tuy nhiên, nó chỉ thực sự phát triển từ đầu thế kỷ XX, khi Fisher xây dựng được môn thống kê ứng dụng trong sinh học Người đầu tiên nghiên cứu ứng dụng phương pháp nhân trắc học là một nhà giải phẫu người Pháp nổi tiếng Pola Broma (1824-1881)

Đặc biệt năm 1919, Rudolf Martin, nhà nhân học đi tiên phong người Đức, ông đã đề xuất một hệ thống các phương pháp và dụng cụ để đo đạc kích thước cơ thể con người và vẫn được áp dụng đến ngày nay đó là bộ thước đo Martin Ông đã xuất bản cuốn sách “Giáo trình về nhân học” Đó là cuốn sách đầu tiên trình bầy

Trang 15

một cách đầy đủ các phương pháp nghiên cứu nhân trắc học với sự xâm nhập của toán học, đặc biệt là thống kê sinh học Năm 1942 ông đã cho ra đời cuốn “Chỉ nam

đo đạc cơ thể và xử lý thống kê” Cuốn sách của Rudolf Martin được coi là kim chỉ nam cho môn khoa học này và ông được coi là người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại

Từ đó nhân trắc học trở thành môn khoa học độc lập và ngày càng được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác như: xác định đặc trưng hình thái chủng tộc của các cộng đồng người (trong nhân chủng học), xác định những biến đổi hình thái bệnh lý (trong y học) v.v…

Thời kỳ đầu, những dẫn liệu nhân trắc học phục vụ cho việc nghiên cứu loại hình người (typologie) Song, từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 ở nhiều nước phương tây, người ta đã vận dụng những số liệu về nhân trắc học vào việc thiết kế công nghiệp phục vụ chiến tranh thế giới lần thứ nhất Trong những năm 40 và 50 của thế

kỷ 20 này, không có lĩnh vực thiết kế công nghiệp nào có liên quan đến con người

mà không sử dụng những dẫn liệu nhân trắc học

Trong chương trình nghiên cứu sinh học thế giới IBP (international biological program) do UNESCO chỉ đạo, triển khai vào những năm 60 và 70, người ta thấy nhân trắc học được quan tâm đặc biệt, thu hút nhiều nhà nghiên cứu nhân trắc học

có tên tuổi trên thế giới Những dụng cụ đo đạc nhân học được tiêu chuẩn hóa và sản xuất ở nhiều nước

Các nước xã hội chủ nghĩa, nhân trắc học được đầu tư nghiên cứu và đạt được nhiều thành tựu trong nhiều nước có truyền thống khoa học như Liên xô, Ba Lan, Tiệp Khắc, Đức, nhân trắc học đã trở thành cơ sở tin cậy cho việc định các tiêu chuẩn cấp nhà nước về sản phẩm công nghiệp dân dụng và quốc phòng [1]

Đã có hàng loạt các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đóng góp vào

sự phát triển mạnh mẽ của môn khoa học nhân trắc

Năm 1941 Theo tác giả Bunak, tất cả các kích thước trên cơ thể người có kích thước cơ bản, có kích thước phụ thuộc, chính vì vậy đây không còn là sự nghiên cứu của ngành y nữa mà còn là nghiên cứu của các nhà nhân trắc ứng dụng Tác giả

Trang 16

đã phân chia : “nam giới theo chiều cao cong của cột sống có 7 dạng hình thể người,

mà trong đó có 3 dạng cơ thể là : Gù, bình thường và ưỡn Đây là bước đầu nghiên cứu để thiết kế quần áo [5]

Năm 1961, có hai công trình nghiên cứu lớn, thứ nhất là Đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của địa lý đến sự tăng trưởng của chiều cao cơ thể và chứng minh rõ những yếu tố ảnh hưởng đó là có thật của Nold và Volsuski Thứ hai là Đề tài nghiên cứu thu thập số liệu và chứng minh tình trạng dinh dưỡng, bệnh tật ảnh hưởng rõ rệt đến

sự gia tăng của các kích thước cơ thể, đặc biệt là chiều cao và cân nặng của Graef

và Cone [5]

Năm 1962, “Học thuyết về sự phát triển thể lực con người” của tác giả Baskirop bàn luận về các quy luật phát triển cơ thể con người dưới ảnh hưởng của những điều kiện sống

Năm 1964 một thầy thuốc người Bỉ ông F.Vandervael đã viết cuốn giáo khoa

về nhân trắc học Trong đó ông đưa ra những nhận xét toàn diện về các quy luật phát triển thể lực theo giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp và xây dựng các thang phân loại thể lực với các đặc trưng thống kê như trung bình (M) và độ lệch chuẩn (σ) Năm 1964, nhà nghiên cứu nhân trắc học BaLan đã nhận định khi đi sâu nghiên cứu sự liên hệ giữa hình thể cơ thể và chức năng cơ thể tỉ lệ thuận với nhau, quá trình hình thành phát triển cơ thể chịu ảnh hưởng của lao động Đó chính là giá trị cơ bản hình thành quan điểm ngành may khi nghiên cứu các dạng hình thể cơ thể người: các kích thước cơ bản, các kích thước phụ thuộc và các dạng hình thái cơ thể [5]

Với yêu cầu thống nhất hệ thống cỡ số phục vụ cho sản xuất quần áo may sẵn thì năm 1971 các nước trong khối liên minh SEV (tổ chức hợp tác kinh tế của các quốc gia thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn 1949 - 1991) đã mở rộng chương trình đo và từ đó xây dựng hệ thống tiêu chuẩn cỡ số cơ thể nam giới, nữ giới và trẻ em [13]

Năm 1972 Atlat nhân trắc học của Ba Lan được xuất bản là công trình tập thể

của cán bộ khoa học thuộc nhiều nghành khác nhau dưới sự chủ trì của ban Nhân

Trang 17

học Viện hàn lâm khoa học Ba Lan (PAN)

Năm 1977 Atlat nhân trắc học của Liên Xô xuất bản là một mẫu mực về công

trình nhân trắc học Cuốn sách (Loại hình học cư dân các nước thành viên thuộc khối Hội đồng tương trợ kinh tế), xuất phát từ những nhu cầu của khối SEV, là công trình tập thể của các nhà nhân trắc học thuộc 7 nước thành viên dưới sự chủ biên của viện nghiên cứu nhân học Matxcơva [1]

Hình dáng bên ngoài và các kích thước cơ thể người được tạo thành do nhiều yếu tố, đi từ trong ra ngoài đầu tiên là khung xương và mấu chuyển của xương, dây chằng, gân, các cơ, mạch máu và sự phân bố của mỡ Khi nghiên cứu về sự phát triển hình thể người, nhiều tác giả đã chỉ rõ cơ thể người thay đổi rất nhanh theo thời gian đặc biệt là nữ giới [5]

Trong những năm gần đây, nhiều quốc gia trên thế giới đã ứng dụng để khảo sát nhân trắc phục vụ trong ngành may mặc, với công nghệ tiên tiến trên thế giới là máy quét cơ thể 3D

Một số khảo sát nhân trắc chủ yếu như: Nghiên cứu của CAESAR Nhóm đã tiến hành quét 3D một số lượng lớn đối tượng trong một dự án CAESAR (Nguồn nhân trắc cộng đồng người châu Âu và châu Mỹ) Kết quả của sự cố gắng này là một bộ hoàn chỉnh các dữ liệu liên quan đến các loại hình dạng người và các cỡ của dân cư từ 18-65 tuổi Lực lượng Không quân, Bang Ohio cũng đã được sử dụng máy quét Cyberware W-4 để lấy dữ liệu quét cơ thể

Nghiên cứu cỡ số của Anh: Khảo sát cỡ số quốc gia của Anh bắt đầu năm

2000 và hoàn thành vào năm 2001 Cuộc khảo sát này được phối hợp giữa chính phủ, các nhà bán lẻ lớn ở Anh, viện nghiên cứu, các công ty sản xuất Mục đích của cuộc khảo sát nhằm phát triển tiêu chuẩn cỡ số phù hợp với người dân Anh

Nghiên cứu cỡ số của Mỹ: Cỡ số quốc gia Mỹ được tài trợ bởi Hội Thương Mại và Phát triển, Bộ Công Nghiệp và các nhà khoa học Khảo sát này được thực hiện từ 2002 đến 2003 bao gồm nghiên cứu tất cả các cỡ số cho người dân Mỹ

Nghiên cứu cỡ số của Hàn Quốc: Khảo sát cỡ số quốc gia Hàn Quốc được

Trang 18

thực hiện từ năm 2003 đến 2004 được thực hiện không chỉ đo nhân trắc theo kỹ thuật truyền thống mà còn dùng máy quét cơ thể 3D

Các dữ liệu được tập hợp đặc biệt được cho ngành công nghiệp may mặc, nhiều kích thước chuyên dùng cho quần áo đã được thiết lập như hệ thống dữ liệu

về kích cỡ quần áo của đối tượng, kinh doanh hàng may mặc v.v…

1.1.2 Quá trình phát triển nhân trắc học ở Việt Nam

Ở Việt Nam nhân trắc học đã được bắt đầu chú ý từ những năm 30 của thế kỉ trước bằng một số công trình lẻ tẻ về đo đạc một số kích thước như: Chiều cao, cân nặng và vòng ngực của học sinh ở Hà Nội Các công trình này chưa vận dụng được thống kê toán học vào việc nhận định kết quả đo đạc, nên giá trị phần nào bị hạn chế Trong thời kì này, hầu hết các công trình nghiên cứu đều do một số bác sĩ người Pháp và bác sĩ người Việt Nam thực hiện tại ban nhân trắc học thuộc Viện Viễn Đông Bác Cổ (Ecole d’ Extrême Orient) Kết quả nghiên cứu nhân trắc học đã được công bố trong các công trình nghiên cứu của viện Giải phẫu học, Đại học y khoa Đông Dương

Năm 1942 bác sĩ Đỗ Xuân Hợp (cộng tác với P.Huard) xuất bản tác phẩm đầu

tiên đó là cuốn Hình thái học và giải phẫu học mỹ thuật Tác phẩm đã công bố

những nghiên cứu của mình về các đặc điểm mô tả, đặc điểm đo đạc và phân loại vùng đầu mặt của một số dân tộc đông dương và các vùng lân cận Từ năm 1945 đến những năm 60 bộ môn nhân trắc học dần dần được thành lập ở một số viện nghiên cứu và trường đại học để làm nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu [1]

Từ những năm 50 đến nay nhân trắc học ở nước ta đã có những đóng góp đáng

kể cho khoa học Đã tập hợp được nhiều công trình nghiên cứu về nhân trắc học trên người Việt Nam Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu lúc đó cho kết quả rất hạn chế do chưa hệ thống các kỹ thuật và phương pháp nghiên cứu còn đơn sơ, xử

lý thống kê toán học chưa triệt để và còn thiếu chính xác

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành độc lập dân tộc 1954), giáo sư Đỗ Xuân Hợp đã cùng một số bác sĩ và sinh viên tiến hành những

Trang 19

(1945-công trình nghiên cứu nhân trắc học trên thanh niên để phục vụ cho việc tuyển quân

và may quân trang, mũ, giầy cho bộ đội

Sau khi đất nước giải phóng từ năm 1954 tới nay, các bộ môn nhân trắc học dần dần được thành lập ở một số viện nghiên cứu khoa học (Viện KHKT Bảo hộ lao động, Viện khoa học lao động, Viện vệ sinh dịch tễ học, Viện đo lường tiêu chuẩn, Viện khảo sát học, Viện bảo tang lịch sử v.v ) và trường đại học (Đại học tổng hợp

Hà nội, Đại học sư phạm, Đại học mỹ thuật, Đại học văn hoá, Đại học thể dục thể thao v.v…) để làm nhiệm vụ nghiên cứu và giảng dạy Nhiều đối tượng người ở hầu hết các lứa tuổi của hầu hết các thành phần đã được điều tra nghiên cứu Số kích thước và thông số đo đạc cho mỗi đối tượng lên tới hàng trăm, các chỉ số thể lực và các thông số sinh học dần dần được thiết lập Toán thống kê cũng được vận dụng tối

ưu để nhận định và đánh giá kết quả một cách chính xác hơn [13]

Có thể nói các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực này khá phong phú Tuy nhiên, những nghiên cứu tùy thuộc vào mục đích, yêu cầu của việc nghiên cứu mà mỗi nghiên cứu sẽ đi sâu vào một đề tài, vấn đề khác nhau Có thể khái quát các kết quả nghiên cứu nhân trắc theo các hướng chính sau:

Các kết quả đi theo hướng tìm hiểu đặc trưng hình thái, chủng tộc của các cộng đồng người Việt Nam Trong hướng nghiên cứu này, Năm 1974, Nguyễn Quang Quyền, người đã có nhiều cống hiến cho ngành nhân trắc ở việt nam đã xuất

bản cuốn “Nhân trắc học và sự ứng dụng trong nghiên cứu trên người việt nam”,

đây là tài liệu quan trọng giới thiệu các bước tiến hành nghiên cứu, các mốc đo thông dụng trên người, trên xương, các dụng cụ đo đạc và một số nét thống kê ứng dụng trong nghiên cứu nhân trắc Kể từ đó nhân trắc đầu mặt mới được nghiên cứu nhiều hơn với nội dung bổ ích mang tính ứng dụng cao, được xem là một tài liệu quan trọng hướng dẫn cho nhiều nhà nghiên cứu trẻ sau này đi vào lĩnh vực nhân trắc học Việt Nam [10]

Các nghiên cứu nhằm khảo sát đánh giá thể lực, sự tăng trưởng, phát triển về hình thái cơ thể được phát triển hơn cả với khá nhiều tác giả tham gia Các nhà nghiên cứu nhằm tìm hiểu sự tăng trưởng và phát triển của trẻ em, thiếu niên, thanh

Trang 20

niên mà đại diện là Lê Thị Hợp, Đinh Kỷ, Nguyễn Công Khanh, Lê Nam Trà, Hàn Nguyệt Kim Chi, Đào Huy Khuê v.v…

Liên tục trong các năm 1972, 1973 Đinh Kỷ và cộng sự đã công bố kết quả nghiên cứu của mình về một số kích thước hình thái và thể lực của học sinh phổ thông của Thái Bình từ 7 đến 18 tuổi Trong công trình này, tác giả đã bàn về sự phát triển cơ thể của học sinh và so sánh với các nhận định của Đỗ Xuân Hợp và Nguyễn Quang Quyền tiến hành nghiên cứu đối với học sinh Hà Nội cùng lứa tuổi

từ năm 1959 [9]

Năm 1976, Nguyễn Đình Khoa trong cuốn “Các dân tộc Bắc Việt Nam” đã nêu các đặc điểm hình thái vùng đầu mặt cũng như một số kết luận về đặc điểm chủng tộc của các dân tộc Việt Nam

Năm 1982 Nguyễn Quang Quyền tác giả cuốn “về những thông số sinh học

người Việt Nam” nội dung đã đề xuất chỉ số đánh giá thể lực với QVC, dùng các

đường vòng để thay thế cân nặng, thay thang phân loại Đối với hầu hết các chỉ số thể lực ở nam giới lứa tuổi 18 – 22, xây dựng công thức tính khối mỡ, khối lạc cơ thể công thức tính diện tích da…Đó là kết quả rút ra từ những công trình nghiên cứu của tác giả với cộng tác của PTSKH Y Dược Thẩm Thị Hoàng Điệp, Lê Gia Vinh

và một số đồng nghiệp khác tiến hành trong thời gian từ năm 1975 – 1980 [13] Năm 1991, đề tài nghiên cứu đặc điểm và hình thái kích thước, sự tăng trưởng

và phát triển cơ thể của trẻ em của Đào Huy Khuê đã khảo sát tới 50 chỉ tiêu nhân trắc trên 1478 em học sinh từ 7 đến 18 tuổi Đây là công trình nghiên cứu khá công phu tỉ mỉ để đánh giá sức lớn của trẻ em Việt Nam cả về mặt sinh lý và hình thái

Năm 1992, đề tài “Đặc điểm hình thái và thể lực học sinh một trường phổ

thông cơ sở ở Hà Nội” của Thẩm Thị Hoàng Điệp đã mang lại cho lĩnh vực nghiên

cứu nhân trắc học ở Việt Nam một bứt phá mới khi lựa chọn phương pháp theo dõi dọc (Longgitudial Study) để tiến hành theo dõi một nhóm học sinh trong 10 năm liên tục từ năm 1981 – 1992, từ đó đưa ra quy luật phát triển của trẻ em thông qua các quy luật phát triển như: quy luật phát triển về chiều cao, quy luật phát triển về cân nặng, quy luật phát triển của các kích thước vòng v.v… Đề tài này được tác giả

Trang 21

bảo vệ thành công nhận học vị Phó tiến sĩ khoa học Từ đó cho đến nay phương pháp này cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và áp dụng [9]

Năm 1994, Lê Hữu Hưng với các nghiên cứu “Các đặc điểm mô tả sọ Việt hiện đại” và “Một số đặc điểm hình thái nhân chủng của sọ Việt hiện đại và cận đại” đã trình bày chi tiết các đặc điểm Đo đạc kích thước nhân trắc vùng mặt của sinh viên Việt Nam ở nhóm tuổi 18 – 25

Trong những năm gần đây, một hướng mới – Ecgônômi đã được đầu tư thực hiện và phát triển Là một khoa học về người, ecgônômi sử dụng những kết quả nghiên cứu của y học (vệ sinh lao động), của sinh học (giải phẫu chức năng hình thái và sinh lý lao động), của tâm lý học và xã hội học nhằm tối ưu hóa quá trình lao động sản xuất, làm giảm gánh nặng lao động, giảm nguy cơ tai nạn lao động góp phần giữ gìn sức khỏe cho người sản xuất, và nâng cao hiệu suất lao động Các công trình nhân trắc học hướng vào mục tiêu ecgônômi còn gọi là nhân trắc ecgônômi, đã

góp phần trực tiếp vào việc cải thiện điều kiện lao động Cuốn nhân trắc ecgônômi

của hai tác giả Lê Gia Khải và Bùi Thụ (1983) là một đóng góp tích cực theo hướng

đó [1]

Từ nững năm 1970 hướng nhân trắc ergonomic được hình thành do yêu cầu của thực tiễn sản xuất và tổ chức lao động khoa học Nhân trắc ergonomics đã được ứng dụng ở Việt Nam trong các công trình nghiên cứu, đánh giá về mức độ phù hợp của các loại máy móc, thiết bị (đa phần được nhập ngoại) với người lao động Việt Nam Những kiến nghị, đề xuất thay đổi kích thước máy, chỗ làm việc trên cơ sở kết quả các dẫn liệu nhân trắc đã được đưa ra [1]

Cho đến những năm đầu thập kỉ 80, các công trình nghiên cứu nhân trắc ở Việt Nam có từ trước, một mặt còn dẫn liệu về nhân trắc ergonomics, mặt khác đối tượng, phạm vi khảo sát còn hẹp chưa đủ đại diện cho các lứa tuổi và các vùng dân

cư khác nhau Các công trình mang tính ergonomics đã được thực hiện đều phải bắt đầu bằng việc đo đạc, khảo sát các chỉ tiêu nhân trắc của các nhóm đối tượng nghiên cứu Thêm nữa, có một số tiêu chí không kèm theo các quy định về kỹ thuật

đo lường và xác định rõ các điểm mốc đo [1]

Trang 22

Để tạo tiền đề cho việc nghiên cứu ergonomics, nhiệm vụ đề ra trước tiên là phải xây dựng các dẫn liệu nhân trắc ergonomic theo quy định thống nhất trên một

số đối tượng đủ lớn đại diện được cho các lớp người lao động, các lứa tuổi và các vùng dân cư khác nhau Viện nghiên cứu Khoa học Kỹ thuật Bảo hộ Lao động dưới

sự chỉ đạo của PGS.TS Nguyễn An Lương và sự phối hợp nghiên cứu của nhiều cán

bộ khoa học thuộc nhiều trường đại học, nhiều cơ quan khoa học đã nghiên cứu xây dựng ba tập Atlas nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động trong khuân khổ các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ và cấp Nhà nước [9]

Tập “Atlas nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động” (1986) do

PGS.TS Võ Hưng làm chủ biên là kết quả của đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước “Nghiên cứu ứng dụng ergonomics vào bảo hộ lao động và áp dụng các dữ kiện nhân trắc vào việc cải thiện điều kiện lao động cho công nhân” (mã số: 58:01:03:01) thuộc chương trình tiến bộ khoa học kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước về bảo hộ lao động trong giai đoạn từ 1982-1985 [1]

Trong giai đoạn 1986 – 1990, tập Atlas thứ 2 “Atlas nhân trắc học người Việt

Nam trong lứa tuổi lao động – Dấu hiệu nhân trắc động về tầm hoạt động của tay”

ra đời Đây cũng là kết quả của đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước “Nghiên cứu xây dựng các chỉ tiêu nhân trắc học người lao động Việt Nam (phần dấu hiệu động) và

sự chỉ dẫn phương pháp đánh giá ergonomic chỗ làm việc, phòng ngừa tai nạn, sự

cố do sai lầm của người điều khiển những hệ thống kỹ thuật phức tạp” (mã số: 58A:01:02) Kết quả công trình nghiên cứu khoa học của đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu tầm hoạt động của khớp và giới hạn thị trường bình thường của người lao động Việt

Nam” (mã số: 93-19/TLĐ) đã cho ra đời tập Atlas thứ 3 “Atlas nhân trắc học người

Việt Nam trong lứa tuổi lao động – Dấu hiệu nhân trắc động khớp và giới hạn thị giác” 1997 Nội dung chủ yếu của cuốn Atlas nhân trắc này là trình bày các thông

số thống kê của 50 dấu hiệu hoạt động khớp đo trên 2267 nam nữ lao động tuổi từ

17 – 59 ở hai miền Bắc, Nam Việt Nam cùng với sự phân tích nhận định tổng quát

về tầm hoạt động khớp theo giới tính, lứa tuổi và vùng lãnh thổ [9]

Trang 23

Nhân trắc học được ứng dụng vào nhiều mục tiêu khác nhau, đặc biệt là cả trong may mặc

Ngành nhân trắc học Việt Nam đã và đang từng bước phát triển

1.2 Đặc điểm cấu trúc các bộ phận phần thân dưới cơ thể và tâm sinh lý của phụ nữ Việt Nam khu vực phía nam độ tuổi 25-45

1.2.1 Đặc điểm cấu trúc các bộ phận phần phần thân dưới cơ thể phụ nữ Việt Nam khu vực phía nam độ tuổi 25-45

1.2.1.1 Vùng bụng

a Xương vùng bụng:

Gồm 3 xương hợp lại: Hai xương chậu và xương sống

Hình 1.1 Xương vùng bụng [19]

b Các cơ thành bụng trước bên:

Thành bụng trước bên gồm ba cơ ở phía bên xếp thành ba lớp từ nông đến sâu: cơ chéo bụng ngoài, cơ chéo bụng trong và cơ ngang bụng; hai cơ ở phía trước, giữa bụng là cơ thẳng bụng và cơ tháp

Hai phần phải và trái của thành bụng trước gặp nhau ở đường giữa là đường trắng đi từ mũi ức đến xương mu Thường được sử dụng trong phẫu thuật bụng

Tác dụng của các cơ thành bụng trước bên là: bảo vệ các tạng trong ổ bụng, làm tăng áp lực trong ổ bụng khi các cơ cùng co, góp phần trong hô hấp gắng sức, giúp giữ vững tư thế, cử động thân mình

Trang 24

Hình 1.2 Các cơ thành bụng trước bên [19]

Trang 25

1 Cơ chéo bụng ngoài

2 Cân cơ chéo bụng ngoài

3 Thừng tinh

4 Dây chằng bẹn

Trang 26

Loại cơ chậu mấu chuyển gồm các cơ: cơ căng mạc đùi, cơ mông lớn, cơ mông nhỡ, cơ mông bé và cơ hình lê Ðây là những cơ duỗi dạng và xoay đùi

Loại cơ ụ ngồi xương mu mấu chuyển gồm các cơ: cơ bịt trong, cơ sinh đôi,

cơ vuông đùi và cơ bịt ngoài Các cơ này có động tác chủ yếu là xoay ngoài đùi

Cơ chậu mấu chuyển

Cơ ụ ngồi xương mu mấu chuyển

Hình 1.6 Các cơ vùng mông [19]

1 và 6 Cơ mông lớn 2 Cơ hình lê

3 Cơ mông nhỡ 4 Cơ mông bé

5 Cơ bịt trong và hai cơ sinh đôi 7 Cơ vuông đùi

1.2.1.3 Đùi

a Xương đùi:

Nhìn mặt bên xương đùi hình chữ S cong ra phía trước, do đó mặt trước xương cũng cong theo Đầu khớp trên tròn 2/3 hình cầu, thân xương hình trụ tam giác, đầu dưới có hình tứ giác

Trang 27

b Các cơ vùng đùi sau:

Gồm ba cơ ụ ngồi cẳng chân là cơ bán màng, bán gân và cơ nhị đầu đùi có nhiệm vụ duỗi đùi và gấp cẳng chân Dây thần kinh chi phối cho các cơ vùng đùi sau là các nhánh của dây thần kinh ngồi

c Hố khoeo:

Là 1 hố hìmh trám 4 cạnh nằm phía sau khớp gối chứa bó mạch và thần kinh vùng kheo Bốn cạnh là:

 Trên trong là cơ bán gân và bán màng

 Trên ngoài là cơ nhị dầu đùi

 Hai cạnh dưới là hai đầu của cơ bụng chân

Trong hố khoeo có thần kinh chày, động mạch khoeo, tĩnh mạch khoeo, một

số mạch máu, thần kinh khác và các nốt bạch huyết nông của vùng khoeo, trong đó đặc biệt có hai dây thần kinh nông là dây thần kinh bì bắp chân trong tách từ dây dây thần kinh chày và dây thần kinh bì bắp chân ngoài tách từ thần kinh mác chung Tĩnh mạch nông đặc biệt có tĩnh mạch hiển bé đi từ cung tĩnh mạch mu chân lên đến khoeo thì đi vào sâu để đổ vào tĩnh mạch khoeo, tĩnh mạch hiển bé là tĩnh mạch hay bị bệnh giãn tĩnh mạch

Trang 28

1.2.1.4 Cẳng chân

a Xương cẳng chân:

Gồm hai xương: Xương chầy và xương mác

 Xương chầy là một xương khỏe, thân hình chữ S hơi vặn

 Xương mác là một xương mảnh, dài, hình trụ tam giác hơi vặn

Hình 1.9 Xương cẳng chân [19]

b Cơ vùng cẳng chân:

Cẳng chân được giới hạn phía trên bởi đường vòng qua dưới lồi củ chày, ở phía dưới bởi đường vòng qua hai mắt cá Các cơ vùng cẳng chân được chia thành hai vùng:

Các cơ vùng cẳng chân trước: do dây thần kinh mác chung chi phối vận động

có nhiệm vụ duỗi ngón chân, xoay ngoài bàn chân và gấp mu bàn chân Các cơ này được chia thành hai khu:

 Cơ khu cơ trước: do dây thần kinh mác sâu chi phối vận động Các cơ là

cơ chày trước, cơ duỗi ngón cái dài, cơ duỗi các ngón chân dài và cơ mác

Trang 29

Các cơ được chia làm 2 lớp bởi mạc cẳng chân sâu:

 Lớp nông: cơ tam đầu cẳng chân và cơ gan chân

 Lớp sâu: cơ khoeo, cơ gấp ngón cái dài, cơ chày sau và cơ gấp các ngón chân dài

1 Cơ chày trước

2 Cơ duỗi các ngón dài

3 Cơ duỗi dài ngón cái

4 Cơ tam đầu

5 Cơ mác dài

6 Cơ mác ba

Trang 30

b Gan chân:

Da dày, dính chặt với tổ chức dưới da, có nếp vân da, mỡ dưới da dày, nhất

là ở vùng gót, có các động mạch, tĩnh mạch, thần kinh, các cơ và mạch máu

1.2.2 Đặc điểm tâm sinh lý

Độ tuổi 25 – 45 là tuổi trưởng thành, thời kỳ cuối của tuổi thanh niên bước sang thời kỳ đầu tuổi trung niên Giữa hai giai đoạn không có bức tường ngăn cách

Trang 31

nào kín, mà các nét tâm lý khác nhau có thể pha trộn, làm cho tính đặc thù của giai đoạn này giai đoạn khác rõ nét Đây là thời kỳ tinh lực dồi dào nhất của một đời người, là những năm tháng đáng kiêu hãnh nhất của một con người Đến tuổi trưởng thành, “bản kế hoạch” lý tưởng đã được triển khai, con đường đời đã được khai phá Người ở tuổi trưởng thành là phần tử trung kiên của xã hội, là hạt nhân của gia đình Tuổi trưởng thành là thời kỳ làm việc (làm nên sự nghiệp) có hiệu quả nhất của một đời người Người ta làm thống kê theo tuổi những người đoạt giải Nôben vật lý, nhỏ nhất 23 tuổi, lớn nhất 56 tuổi, bình quân 35 – 36 tuổi, trong đó từ 35 tuổi trở xuống

là 44,4%, 36 – 45 tuồi là 23,4%, 46 – 50 tuổi 14,8%, 51 trở lên 4,7% Giải Nôben hóa học tuổi bình quân là 39 Giải sinh lý và y học bình quân là 41 [17]

1.2.2.1 Đặc điểm tâm lý

Hoạt động tâm lý là hoạt động tư duy của con người phản ánh thế nào và đối

xử thế nào đối với thế giới khách quan Mỗi người đều có hoạt động tâm lý, cá thể khác nhau sẽ sinh ra hoạt động tâm lý khác nhau với cùng một hiện thực khách quan giống nhau, Đó là do khác nhau về duy truyền, hoàn cảnh, trình độ học tập hiểu biết, tu dưỡng đạo đức, độ chín chắn… Cũng vẫn một người nhưng trong thời

kỳ khác nhau cũng nảy sinh những họat động tâm lý khác nhau với cùng hiện tượng khách quan như nhau

Người phụ nữ tuổi này, đã đến độ chín về mặt sinh lý là cơ sở sinh vật học của độ chín tâm lý, nhưng độ chín tâm lý còn có cơ sở là sinh họat xã hội, từng trải

xã hội nên độ chín tâm lý có thể thống nhất với độ chín sinh lý, cũng có thể không

Có một số người tuy thân thể phát triển đầy đủ, nhưng về mặt tâm lý vẫn chưa nhận thức được tương xứng, thậm chí những số người cho đến hết đời (cuối đời) vẫn không đạt tới

Người phụ nữ tuổi này, còn có độ chín tâm lý về cơ bản có đặc điểm như sau: Một là, trí lực phát triển đến đỉnh điểm, có thể phán đoán sự việc bằng lý trí, tư duy logic, có khả năng giải quyết vấn đề một cách độc lập Hai là, không nhất thiết phải dựa vào răn dạy và che chở của bật cha anh, có thể tiến hành tư duy quan sát một cách độc lập tự chủ, quyết định mục tiêu và đường đi cho đời mình, bất kể

Trang 32

thuận lợi hay khó khăn đều có lòng tin và năng lực đi đến cùng Ba là, ý thức được bản thân một cách đúng đắn, hiểu rõ khả năng và chỗ đứng của mình trong xã hội,

có quyết tâm dồn sức cho mục tiêu đã chọn, gặp khó khăn thua thiệt không tránh né,

có sức chịu đựng và ý chí, có sức vượt qua khó khăn đạt được mục tiêu Bốn là, tính tình luôn ổn định, có khả năng kiềm chế và điều chỉnh được tính tình và tình cảm Năm là, những hành vi xã hội như cư xử và giao tiếp đều luôn thỏa đáng, thích ứng được hoàn cảnh (môi trường sống) và nắm được hoàn cảnh, biết tiếp nhận phê bình

và theo đó đều chỉnh được hành vi của mình Nói tóm lại, người tuổi này có hệ thống thần kinh phát triển hoàn hảo, có thể thường xuyên tổng kết kinh nghiệm sống của bản thân, cộng với kinh nghiệm đời sống xã hội, người tuổi trưởng thành

có đời sống phân tích, năng lực lý giải cao đối với sự vật quanh mình, năng lực và

tư duy logic mạnh, những xung đột tình cảm giảm dần, tính ổn định đi dần đến ôn hòa

Nhưng ở tuổi trung niên, nhận thức thành nếp đối với sự thận khó sửa đổi, tính cố chấp ngày một tăng, hễ xảy ra điều oán ghét sự vật hoặc người nào thường lưu lại trong suy nghĩ và trí nhớ của mình Ở lứa tuổi trung niên, sức nhớ giảm rõ rệt, chức năng sinh lý giảm sút, lần lần xuất hiện những đổi thay rất đặt trưng cho tuổi về già Có một số người cảm thấy khả năng công tác giảm sút hoặc dễ kích động, bực bội, đa sầu, đa cảm, ủ dột, đa nghi Ngay như một việc nhỏ có đôi chút thương tâm cũng có thể xảy ra phản ứng hết sức mãnh liệt không dễ gì kiềm nén được, ví dụ nổi nóng ầm ĩ, hoặc nước mắt đầm đìa, hoặc ỉu xìu lặng lẽ v.v…Ở cuối tuổi trung niên, có một số người ngày càng thấy rõ là lực bất tòng tâm Cần hiểu thấu đặc điểm tâm lý của người trung niên, xã hội, đoàn thể và gia đình cần có sự quan tâm và thông cảm [17]

1.2.2.2 Đặc điểm sinh lý

a Đặc điểm họat động của hệ thần kinh:

Khi trưởng thành con người đã tích lũy nhiều kinh nghiệm thực tiễn và tri thức, khả năng nhận thức, lý giả, suy lý, phán đoán, phân tích sự vật đều được nâng cao, khả năng tuy duy có tính sáng tạo cũng đạt tới giai đọan nở rộ nhất của một đời

Trang 33

người Người ở độ tuổi này sự hưng phấn và ức chế ở hệ thần kinh trung khu đều khá thăng bằng, tư duy và tình cảm khá bình ổn Khi môi trường sống gây khó chịu cho tình cảm thì khả năng gạt bỏ nó khá mạnh Những phản xạ có điều kiện mà họ

đã xác lập được không dễ bị nhiễu bởi các nhân tố mới nảy sinh Hiệu suất lao động trí óc và lao động chân tay của họ đều cao, có đặc điểm là dồi dào kinh nghiệm và tràn trề tinh lực Phản ứng với những kích thích tình cảm ở họ không mãnh liệt như

ở thanh thiếu niên

Khá thăng bằng trong hưng phấn và ứng chế, nên họ giữ được hưng phấn đầy

đủ lúc ban ngày và, ức chế đầy đủ về đêm Nhưng, cùng theo với tuổi, quá trình ức chế ở tuổi trung niên giảm dần, thời gian để ngủ giảm dần dễ tỉnh giấc Ở tuổi thanh niên là thời kỳ có trí nhớ tốt nhất nhưng khi qua tuổi trung niên, sức nhớ máy móc giảm dần, nhưng kinh nghiệm sống và tri thức mọi mặt phong phú nên khả năng lý giải tăng lên rất rõ rệt Loại ghi nhớ có chọn lọc này tăng lên đã bù đắp cho sức nhớ máy móc giảm súc Bởi vậy, người chăm suy nghĩ động não, khi bước vào tuổi trung niên không lộ ra sự sút kém sức nhớ Gần đây còn biết được sắc tố nâu của sản phẩm chuyển hóa ở tế bào não tăng lên theo tuổi, nên nó ảnh hưởng đến chức năng bình thường của tế bào não, dẫn đến năng lực trí óc giảm sút và những hiện tượng khác như giấc ngủ chập chờn v.v… 17]

b Đặc điểm chức năng mạch máu vùng tim:

Phụ nữ ở độ tuổi 25 – 45, chức năng của mạch máu vùng tim ở cuối kỳ thanh xuân đạt tới đỉnh cao nhất trong một đời người, sau đó yếu dần, lượng máu bơm qua tim từ tuổi 30 đến tuổi 80, yếu đi chừng 30% Người đứng tuổi khi vận động hoặc làm việc nặng nhọc khác thì độ tăng nhịp tim đập và lượng máu bơm qua tim đều kém hơn người trẻ tuổi, khi ngừng nghỉ thì thời gian hồi phục cũng dài hơn, sức chịu đựng và cường độ lao động ở người đứng tuổi đều thua thanh niên Có người đứng tuổi không biết đặc điểm này, nên có thể vì lao lực quá sức hoặc tinh thần căng thẳng cao độ, có thể làm tăng quá trình sự chuyển hóa ở cơ tim và lượng ôxi cần cho nó, động mạch vành cấp không đủ máu, nhịp đập tim bị lọan, có thể bị trụy tim đó là nguyên nhân quan trọng sinh ra đột tử ở người đứng tuổi Hàm lượng

Trang 34

canxi ở thành động mạch tăng lên theo tuổi, độ co giản của thành mạch kém đi, áp lực co rút từ sau tuổi trung niên sẽ tăng dần lên theo tuổi, trung bình cứ tăng lên 10 tuổi thì tăng cao 13,3kb tức 10mm cột thủy ngân, đây vẫn coi là hiện tượng sinh lý bình thường

M74 máu ở người đứng tuổi cũng tăng cao theo tuổi trong đông đảo những người khoảng 35 tuổi có đến 1/3 động mạch chủ của họ có những mẩn chun cứng xệt như cháo, đấy là chất mỡ vón đọng ở màng trong của động mạch Lao động trí

óc thì tỷ lệ phát sinh chứng hẹp động mạch vành cao gấp đôi những người lao động chân tay Trái tim nhờ động mạch hình chiếc vành cao gấp đôi những người lao động chân tay Trái tim nhờ động mạch hình chiếc vành cung cấp máu và dưỡng khí (oxi), khi động mạch vành bị hẹp hoặc do những mẫu mỡ rơi rụng trong mạch sẽ sinh đau quặn tim hoặc tim bị chẹn cứng Nếu những mẩu mỡ rơi rụng chẹn đừng máu ở não, sẽ làm tắc “đút nút” mạch máu não Bởi những đặc điểm ấy, tỷ lệ phát sinh bệnh tật về hệ mạch máu tim não ở người trung niên tăng cao, cần có sự quan tâm thích đáng [17]

c Đặc điểm của chức năng hô hấp và chức năng tiêu hóa:

Ở thời kỳ này, chức năng hô hấp ở số đông đều rất khỏe Theo tuổi đời, đường kính trước sau của lồng ngực cũng tăng dần, rồi họat động của lồng ngực dần dần bị hạn chế, tính đàn hồi của tổ chức phổi giảm dần, niêm mạc màng nhớt của đường hô hấp co rút dần, chức năng của đám lông nhung niêm mạc và tính nhạy cảm bảo vệ “phản xạ hắt hơi” cũng giảm sút, nước nhớt tiết ra ở khí quản bị ngưng trệ, nên dễ dẫn đến chứng viêm khí quản mãn tính Trong rèn luyện thể dục, lượng không khí của phổi có thể tăng từ vài đến mười mấy lần, thu nhận được nhiều dưỡng khí (O2) hơn, thải ra được nhiều thán khí (CO2) hơn, chức năng hô hấp do đó được cải thiện Bởi vậy, những người chăm rèn luyện thể dục chức năng tim phổi được tăng cường và thường là tình hình sức khỏe toàn thân đều tốt Khi bước vào tuổi trung niên thì phương thức lao động đã được định hình, các loại thức ăn và thức uống và số lượng của chúng ổ định Ở giữa thời kỳ trung niên, hóa trình chuyển hóa

Trang 35

hợp thành và chuyển hóa phân giải cũng đều ở trạng thái thăng bằng, chức năng của

dạ dày và ruột cũng ở tình trạng khá ổ định [17]

d Đặc điểm về trao đổi chất:

Khi bước vào tuổi 25 – 45 thì, chuyển hóa hợp thành (sức tiêu hóa, hấp thụ, chuyển vận chất dinh dưỡng của cơ thể và chuyển biết thành một phần tổ chức của

cơ thể) nhìn chung lớn hơn chuyển hóa phân giải (tổ chức tế bào phân giải, vận chuyển vật chất và, thải cặn bã ra ngoài cơ thể) Như thế, sự lớn lên và phát triển của cơ thể nhận được sự đảm bảo vật chất Khi gần bước vào tuổi trung niên, phân giải và hợp thành đi dần đến cân bằng Lúc này chức năng của các tổ chức, cơ quan

ở trạng thái tốt đẹp nhất, thể trạng khá ổn định, tinh lực khá dồi dào, thân cường tráng Rồi theo tuổi, nhất là thời kỳ có trung niên thì, chuyển hóa phân giải lớn hơn chuyển hóa hợp thành, và chuyển hóa cơ bản (cơ sở) tức năng lượng tiêu hao ở điều kiện tỉnh táo, nằm yên trống bụng và nhịp độ phòng ở chừng 200

C v.v…, bình quân suy giảm mỗi năm với tốc độ 0,5%, họat tính của các loại men (enzin oxi hóa) ảnh hưởng đến khả năng chuyển hóa sẽ theo tuổi mà giảm sút trong hầu hất các tổ chức

cơ thể Dễ thấy nhất là chức năng lá lách của tuyến tụy liên quan đến chuyển hóa đường, sẽ giảm đi theo tuổi Chức năng này giảm sút, kích tố do nó tiết ra ít đi, đường trong máu rất dễ cao lên

Chuyển hóa bị giảm sút có liên quan với kích tố của tuyến nội tiết, nhất là có

sự liên quan đến sự yếu kém khả năng họat động của tuyến giáp trạng và tuyến giới tính, cũng liên quan đến lượng kích tố trên vùng tế bào cũng suy giảm theo tuổi [17]

e Đặc điểm chức năng bài tiết và sinh dục:

Chức năng tiết niệu và sinh dục của cơ thể người tốt nhất ở tuổi thành niên

và sẽ giảm sút theo tuổi Theo nghiên cứu, ở người 40 tuổi trở lên, tỷ suất quan lọc của tiểu cầu thận (đây là chỉ tiêu quan trọng phản ảnh chức năng bài tiết nước tiểu) mỗi năm giảm chừng 1% Nữ ở tuổi 45 buồng trứng bắt đầu co nhỏ, kinh huyệt dần dần thất thường Lúc này, có đến 75% phụ nữ có hiện tượng mặt đỏ bừng từng lúc hâm hấp nóng, đổ mồ hôi, đau đầu, tê tay bực bội, huyết áp tăng cao v.v…, hiện

Trang 36

tượng này gọi là “các chứng bệnh chờ thời sang tuổi” Thường phải mất hai năm hiện tượng này mới mất đi, có người phải chịu đựng lâu hơn Kinh nguyệt thì từ chỗ không quy tắt, thời gian kéo dài, cho đến lúc ngưng hẳn, gọi là tuyệt kinh (tắt kinh) Như thế có nghĩa là buồn trứng thôi rụng trứng, hết khả năng sinh đẻ

Tuổi này với những đổi thay về sinh lý, dẫn đến đổi thay về tâm lý khiến nhiều chị em gặp khó khăn trong giao tiếp, khó giữ cân bằng trong tình cảm, dẫn đến gặp khó khăn trong công việc Vì thế, mỗi chị em cần hiểu về tình trạng sức khỏe và tâm lý của mình để vượt qua [17]

1.2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý của phụ nữ ở độ tuổi 25

- 45

Các yếu tố bên trong:

 Gia đình: Cùng trong một gia đình, thời kỳ này sự phát triển, suy giảm, tâm sinh lý của chị em phụ nữ không hoàn toàn giống nhau

 Giới tính: Phụ nữ thời kỳ này phát triển tâm sinh lý sớm hơn nam giới

 Di truyền: Phụ nữ thời kỳ này sinh con có nhiều vấn đề phát triển tâm sinh lý di truyền từ mẹ sang con

 Chủng tộc giống nòi: Phát triển tâm sinh lý không giống nhau

Các yếu tố bên ngoài:

 Khí hậu môi trường: Ảnh hưởng nhiều đến phát triển tâm sinh lý, người sống trong môi trường có khí hậu ôn hòa thuận lợi sẽ phát triển tâm sinh

lý tốt hơn người sống trong môi trường khí hậu khắc nghiệt

 Điều kiện sống: Gia dình hạnh phúc, công việc thuận lợi, thu nhập kinh tế cao, tập thể dục thường xuyên và có chế độ ăn uống khoa học v.v… phát triển tâm sinh lý tốt hơn người có điều kiện sống khó khăn [17]

1.2.2.4 Kết luận về đặc điểm tâm sinh lý

Nói tóm lại đây là thời kỳ ổn định và kiện toàn, nhưng sinh lý bắt đầu suy thoái phần lớn tùy thuộc có hay không có chú ý giữ gìn sức khỏe, chăm chỉ rèn luyện thể dục, có thể trì hoãn được sự suy thoái, nâng cao được các chức năng sinh

lý Tăng cường đọc sách, suy ngẫm và những hoạt động tư duy có tính sáng tạo,

Trang 37

cũng có thể trì hoãn sự suy thoái của óc Trì hoãn có hiệu quả sự suy thoái thể lực

và não lực, giúp ta sống những năm tháng quý báu nhiều ý nghĩa của tuổi thanh xuân một đời người

Phát triển tâm sinh lý tốt cần có chế độ nghỉ ngơi, tập luyện Ngoài chế độ ăn uống đủ dinh dưỡng, bổ sung các vi chất và khoáng chất, một chế độ nghỉ ngơi và tập luyện thể thao sẽ giúp tinh thần chị em sảng khoái hơn Với công việc cơ quan

và gia đình, chị em nên sắp xếp khoa học để có thể giải quyết hiệu quả, tránh để mình bị stress Cuối tuần, chị em nên dành ra một buổi đi chơi với chồng, con và người thân Hoặc giải trí bằng việc đi xem phim, mua sắm, đọc sách Riêng luyện tập thể thao, chị em không nên chọn những môn tập vận động nhiều, vận động mạnh mà nên chọn những môn tập nhẹ nhàng, uyển chuyển như dưỡng sinh, nhất là môn tập Yoga là rất phù hợp Tập môn Yoga này đem lại sự tĩnh lặng về tinh thần, giúp trấn tĩnh bản thân và làm cho tinh thần thanh thản, khỏe mạnh [17]

1.3 Đặc điểm kích thước phần thân dưới cơ thể phụ nữ Việt Nam khu vực phía nam độ tuổi 25-45

1.3.1 Chiều cao đứng

Chiều cao đứng là một trong những kích thước được phổ biến nhất trong hầu hết các cuộc điều tra cơ bản về hình thái học, nhân chủng học và y học Chiều cao biểu hiện tầm vóc con người, thường thay đổi theo chủng tộc, giới tính, và cũng chịu một phần ảnh hưởng của môi trường, hoàn cảnh sống, xã hội Chiều cao đứng còn là đặc điểm rất quan trọng trong ứng dụng nhân trắc học vào nghiên cứu thiết

Trang 38

Tính trung bình cho từng miền địa lý, số đo chiều cao đứng nữ giới đều cao dần từ miền bắc (150,9cm) đến miền trung (151,9cm) và miền nam (152,1cm), chiều cao đứng người lao động nữ giới ở miền bắc và miền trung sự khác biệt không lớn, nhưng miền bắc và miền nam mức chênh lệch đạt tới 1,2cm Khi so sánh chiều cao đứng theo lớp tuổi giữa ba miền địa lý, xu hướng tăng dần từ bắc vào nam, Sự khác biệt về chiều cao đứng giữa các lớp tuổi già và tuổi trẻ thể hiện đều khắp cả ba miền, mức chênh lệch ở nữ giới từ 1,6cm đến 1,9cm Quan sát chiều cao đứng qua từng lớp tuổi ở cả ba miền, có thể thấy sự khác biệt giữa hai lớp tuổi trẻ (17 - 19 và 20 - 29), và hai lớp tuổi già (40 - 49 và 50 - 55) so với lớp tuổi giữa (30 - 39) [1]

Bảng 1.2 Dấu hiệu nhân trắc chiều cao đứng từ 20 đến 49 tuổi [2]

n X σ m Percentil

1% 5% 95% 99%

Nữ Nam 20-29 400 152,65 4,82 0,24 141.40 144,72 160,58 163,90

30-39 444 152,64 5,88 0,28 138,81 142,97 162,31 166,37 40-49 240 151,71 4,07 0,26 142,42 145,3 158,39 161,18

Sự sai khác ở người Việt Nam trong thời gian qua cũng phù hợp với nhiều tài liệu bàn về sự gia bội (acceleration) về chiều cao đứng của nhiều quần thể người trên thế giới với mức trung bình dao động trong khoảng trên dưới 2cm trong vòng

15 – 20 năm [1]

Ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu chiều cao với những kết quả rất khác nhau Số liệu chiều cao của nữ giới trong cuốn “Hằng số sinh học người việt nam’’ (Nguyễn Tấn Ghi Trọng và CTV, 1975) ghi chiều cao nữ giới là 150,0cm Tác phẩm của Lê Gia Khải và Bùi Thụ (1983), Võ Hưng (1981) ghi chiều cao nữ giới là 150,5cm (Bảng 1.3)

Trang 39

Bảng1.3 Số đo trung bình của một số dấu hiệu nhân trắc theo các tác giả khác nhau

[1]

Dấu hiệu

Nữ Bắc

(cm)

Trung (cm)

Nam (cm)

Hằng số sinh học (1975) (cm)

Lê Gia Khải

Và Bùi Thụ (1983) (cm) Cao đứng

151,9 79,1 29,5 78,6 46,4 43,3

152,1 79,6 29,3 79,3 46,5 44,1

150,0 79,8 28,9

- 41,0 44,0

150,3 79,9 28,8

- 48,3 44,6

1.3.2 Chiều cao ngồi

Chiều cao ngồi cũng là một kích thước được dùng phổ biến sau chiều cao đứng

nó có ý nghĩa đối với việc tính toán thiết kế chỗ làm việc trong tư thế ngồi chiều cao ngồi còn được dùng để thay thế cho chiều dài phần thân trên khi cần so sánh với chiều dài phần thân dưới Tỷ lệ giũa hai phần thân trên và dưới phản ánh quy luật phát triển tỉ lệ của cơ thể trong các quần thể người Tính trung bình cho cả ba miền địa lý, thì chiều cao ngồi của nữ giới là 79,5cm

So với dẫn liệu trong “Hằng số sinh học người Việt Nam” (nam 84,1 cm, nữ 79,8 cm ) thì số trung bình của nam giới có cao hơn một chút còn số trung bình của

nữ thấp hơn không nhiều So với số liệu của Lê Gia Khải Bùi Thụ (1983: nam 85,5cm, nữ 79,6cm) thì số trung bình trong “Atlat nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động”, cả nam và nữ đều thấp hơn (Bảng 1.3)

So sánh số đo trung bình về chiều cao ngồi giữa ba miền thì miền Trung (nam 84,0 cm; nữ 79,1cm) thấp nhất, rồi đến miền Bắc (nam 84,4 cm nữ 79,5cm) và miền Nam (nam 84,9cm nữ 79,6cm) (Bảng 1.4)

Khi xét riêng từng miền theo lớp tuổi thì thấy lớp tuổi có chiều cao ngồi lớn nhất cũng chính là lớp tuổi có chiều cao đứng cao nhất và ngược lại Sự khác biệt về

Trang 40

chiều cao ngồi giữa các miền theo lớp tuổi không thể hiện giống như trường hợp chiều cao đứng mức khác biệt tin cậy thống kê của chiều cao ngồi giữa các miền cũng không rõ rệt bằng trường hợp của chiều cao đứng Trị số khác biệt tin cậy này xuất hiện giữa miền trung và miền nam nhiều hơn Ở nam giới rõ hơn ở nữ giới, và

rõ hơn cả là ở hai lớp tuổi 20 - 29 và 30 - 39

Sự khác biệt về chiều cao ngồi giữa ba miền và giữa các lớp tuổi có ý nghĩa lớn khi tính đến tỷ lệ của chiều cao đứng ( tức là chỉ số thân) và của phần thân dưới đối với phần thân trên ( tức là chỉ số skelie) Các chỉ số được tính theo số đo trung bình cho từng miền, và theo lớp tuổi Chỉ số thân nhằm đánh giá chiều dài thân hay phần thân trên Chỉ số Skelie nhằm đánh giá chiều dài chi dưới Ở nữ giới chỉ số thân trung bình cũng dao động từ 52,1 miền trung 52,3 miền nam và 52,7 miền bắc Mức dao động nằm trong giới hạn của loại người có thân dài trung bình (từ 51,0 đến 52,9) tuy có phần lệch về phía thân dài, trong đó người miền bắc có phần thân dài hơn cả

So với chỉ số thân, sự khác biệt về chỉ số Skelie có phần rõ hơn giữa miền bắc, chi dưới ngắn hơn cả (nam 90,5 cm nữ 89,8 cm) miền nam (90,7 và 91,9) miền trung có chi dưới dài hơn cả (92.8 và 92,0) Cũng như chiều cao ngồi, chỉ số thân và chỉ số Skelie không thể hiện rõ rệt các xu thế tăng giảm theo hướng bắc nam hoặc theo lớp tuổi già trẻ Qua số liệu tính toán có thể nhận xét: người miền trung có thân dài hơn cả, mặc dù không phải là nhóm người cao nhất So với miền bắc thì người miền nam có chiều cao lớn hơn và có tỷ lệ chân dài hơn [1]

Bảng 1.4 Chiều cao ngồi theo lớp tuổi giữa ba miền [1]

Lớp tuổi Bắc

(cm)

Trung (cm)

Nam (cm)

Trị số student Bắc - Trung Bắc - Nam Trung - Nam

20-29 79,7 79,4 80,0 2,86 0,54 2,74 30-39 79,2 79,3 79,5 0,57 1,79 0,82 40-49 79,3 78.8 79,6 2,12 0,65 2,21

Ngày đăng: 21/07/2017, 19:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. 1 Tập thể tác giả (1986) Atlat Nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: (1986) Atlat Nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội
2. 2Tập thể tác giả (2002) Atlat Nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động (Dẫn liệu nhân trắc tĩnh động), Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Atlat Nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động (Dẫn liệu nhân trắc tĩnh động)
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội
3. Tập thể tác giả (2008): Bài giảng giải phẫu học, Nhà xuất bản y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng giải phẫu học
Tác giả: Tập thể tác giả
Nhà XB: Nhà xuất bản y học Hà Nội
Năm: 2008
4. Tập thể người thực hiện (2010), Báo cáo tổng kết đề tài khoa học và công nghệ: Nghiên cứu xây dựng phân cấp các bảng cỡ số cho một số sản phẩm may dành cho phụ nữ. Bộ Công Thương, Viện Dệt May Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng phân cấp các bảng cỡ số cho một số sản phẩm may dành cho phụ nữ
Tác giả: Tập thể người thực hiện
Năm: 2010
5. Bùi Công Cường, Bùi Minh Trí (1997), Giáo trình xác xuất và thống kê ứng dụng; Nhà xuất bản Giao thông vận tải Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình xác xuất và thống kê ứng dụng
Tác giả: Bùi Công Cường, Bùi Minh Trí
Nhà XB: Nhà xuất bản Giao thông vận tải Hà Nội
Năm: 1997
6. Thẩm Thị Hoàng Điệp (1992), Đặc điểm hình thái và thể lực học sinh một trường phổ thông cơ sở Hà Nội, Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Y dược, Trường Đại học Y khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm hình thái và thể lực học sinh một trường phổ thông cơ sở Hà Nội
Tác giả: Thẩm Thị Hoàng Điệp
Năm: 1992
7. Nguyễn Phương Hoa (2008), Báo cáo kết quả đề tài: Xây dựng hệ thống cỡ số quần áo trẻ em nam trên cơ sở số đo nhân trắc, Bộ Công Thương, Viện Dệt May Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thống cỡ số quần áo trẻ em nam trên cơ sở số đo nhân trắc
Tác giả: Nguyễn Phương Hoa
Năm: 2008
8. Trần Thị Minh Kiều, Nguyễn Phương Hoa (2009), Nghiên cứu xây dựng bộ mẫu kỹ thuật chuẩn cho sản phẩm áo Vest nữ Việt Nam, Bộ Công Thương, Viện Dệt May Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng bộ mẫu kỹ thuật chuẩn cho sản phẩm áo Vest nữ Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Minh Kiều, Nguyễn Phương Hoa
Năm: 2009
9. Lê Thị Sim (2011): Nghiên cứu đặc điểm cấu tạo hình dáng phần dưới cơ thể học sinh nữ lứa tuổi 15 – 17 ở Hà Nội, Luận văn thạc sĩ khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm cấu tạo hình dáng phần dưới cơ thể học sinh nữ lứa tuổi 15 – 17 ở Hà Nội
Tác giả: Lê Thị Sim
Năm: 2011
10. Nguyễn Quang Quyền (1974), Nhân trắc học và sự ứng dụng nghiên cứu trên người Việt Nam, Nhà xuất bản Y Học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân trắc học và sự ứng dụng nghiên cứu trên người Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quang Quyền
Nhà XB: Nhà xuất bản Y Học Hà Nội
Năm: 1974
11. Bùi Thụ, Lê Gia Khải (1983), Nhân trắc ecgonomi, Nhà xuất bản Y Học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân trắc ecgonomi
Tác giả: Bùi Thụ, Lê Gia Khải
Nhà XB: Nhà xuất bản Y Học Hà Nội
Năm: 1983
12. Bùi Thụ, Lê Gia Khải, Phạm Quí (1973), Công trình nghiên cứu khoa học viện VSDTH: Một số đặc điểm hình thái và sinh lý của người Việt Nam lứa tuổi lao động, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm hình thái và sinh lý của người Việt Nam lứa tuổi lao động
Tác giả: Bùi Thụ, Lê Gia Khải, Phạm Quí
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1973
13. Nguyễn Thị Bích Thủy (2011), Xây dựng hệ thống cỡ số quần áo và nghiên cứu đặc điểm kích thước hình thái của trẻ em tiểu học địa bàn thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sĩ, Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thống cỡ số quần áo và nghiên cứu đặc điểm kích thước hình thái của trẻ em tiểu học địa bàn thành phố Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Thủy
Năm: 2011
14. Trần Sinh Vương (2005): Nghiên cứu một số đặc điểm cấu tạo hình thái, thể lực dinh dưỡng người Việt trưởng thành ở một số tỉnh đồng bằng bắc bộ, Luận án tiến sĩ y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm cấu tạo hình thái, thể lực dinh dưỡng người Việt trưởng thành ở một số tỉnh đồng bằng bắc bộ
Tác giả: Trần Sinh Vương
Năm: 2005
15. Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) 5781- 2009, Phương pháp đo cơ thể người Khác
17. Đặc điểm tâm lý ở tuổi trung niên.www.bachkhoatrithuc.vn 18. Re: Giải phẫu cơ thể người - Clubme.net Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm