Mục đích, phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu + Mục đích nghiên cứu: Đề tài khoa học nhằm góp phần đánh giá sự phát triển đặc điểm hình thể của trẻ em gái lứa tuổi tiểu học hiện nay phục
Trang 1Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
11
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ kết quả nghiên cứu được trình bày trong Luận văn
là do tôi nghiên cứu, do tôi tự trình bày, không sao chép từ các Luận văn khác Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về những nội dung, hình ảnh cũng như các kết quả nghiên cứu trong Luận văn
Hà Nội, ngày … tháng 09 năm 2012
Người thực hiện
Phạm Thị Kim Phúc
Trang 2Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
LỜI CẢM ƠN
Qua hai năm học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đến nay tôi đã hoàn thành khóa học của mình Nay tôi xin tỏ lòng biết ơn sự hướng
dẫn tận tình của TS Lã Thị Ngọc Anh, người thầy đã dành nhiều thời gian chỉ bảo,
hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình để tôi hoàn thành luận văn cao học này
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy cô giáo trong Viện Dệt may da giầy & thời trang, Viện đào tạo sau đại học trường Đại học bách Khoa Hà Nội đã dạy dỗ và truyền đạt những kiến thức khoa học trong suốt thời gian tôi học tập tại trường và luôn tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn cao học
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới BGH và tập thể các em học sinh trường Tiểu học Mai Động và trường Tiểu học Tây Sơn và các cộng sự đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát và lấy số liệu một cách hiệu quả nhất
Đặc biệt xin gửi lời cảm ơn và chia sẻ niềm vui đến gia đình, bạn bè cùng toàn thể những người thân đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Trang 3
Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU 5
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 6
DANH MỤC HÌNH VẼ 8
MỞ ĐẦU 10
CHƯƠNG I: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 13
1.1 Cơ sở lý luận 13
1.1.1 Nhân trắc học 13
1.1.2 Đặc điểm hình thái cơ thể trẻ em gái lứa tuổi tiểu học 16
1.1.3 Phương pháp nghiên cứu 22
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về đặc điểm hình thái cơ thể người 30
1.2.1 Tình hình nghiên cứu đặc điểm hình thái cơ thể người trên thế giới 30
1.2.2 Tình hình nghiên cứu đặc điểm hình thái cơ thể người ở Việt Nam 31
1.3 Những tồn tại và đề xuất hướng nghiên cứu 33
CHƯƠNG II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Đối tượng nghiên cứu 35
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 35
2.2.1 Xác định cỡ mẫu và số lượng đo 35
2.2.2 Xác định kích thước đo 36
2.2.3 Phương pháp đo 40
2.2.4 Quy định đối với quá trình đo 40
2.2.5 Xây dựng chương trình đo 42
2.2.6 Phương pháp xử lý kết quả đo 52
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 59
3.1 Xác định kích thước chính của phần trên cơ thể 59
3.1.1 Kích thước chính của phần trên cơ thể 59
Trang 4Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
3.1.2 Chứng minh phân bố của ba kích thước chính là phân bố chuẩn 59
3.2 Tương quan giữa các kích thước chính và các kích thước thứ cấp 85
3.3 Kết quả nghiên cứu và bàn luận hình dáng phần trên cơ thể trẻ em gái từ 7 đến 11 tuổi tại Hà Nội 87
3.3.1 Đặc điểm chiều cao và cân nặng 88
3.3.2 Đặc điểm phần cổ 92
3.3.3 Đặc điểm phần vai 93
3.3.4 Đặc điểm phần ngực, lưng 95
3.3.5 Đặc điểm phần bụng và mông 98
3.3.6 Đặc điểm kích thước tay 101
KẾT LUẬN CHUNG 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 1 108
PHỤ LỤC 2 113
PHỤ LỤC 3 118
PHỤ LỤC 4 123
Trang 5Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Trang 6Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 : Các mốc đo nhân trắc và cách xác định 38 Bảng 2.2: Các thông số kích thước cơ thể cần đo và kỹ thuật đo các thông số 43 Bảng 3.1: Đặc trưng của ba kích thước cơ thể TEG 7 tuổi 60
Trang 7Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
tuổi năm 2004 và 2011 91
Bảng 3.27: Giá trị trung bình của các kích thước Rộng vai, dài vai, chiều dài mỏm cùng vai, đoạn xuôi vai của trẻ em gái từ 7 -11 tuổi 94 Bảng 3.28: Giá trị trung bình các kích thước Vn, Rnn, Dl,Rngn, Dvv, Kcnv,Dve, Dvbl của trẻ em gái lứa tuổi từ 7-11tuổi 96 Bảng 3.29 Tỷ lệ kích thước Rộng lưng ngang nách / Rộng ngực ngang nách 97 Bảng 3.30: Giá trị trung bình kích thước Ve, Vm, De, Rne, Dh, Rnh, Cch, Cnhm
100 Bảng 3.33: Giá trị trung bình kích thước Dt, Dt-cđ, Dc7-t của TEG từ 7-11 tuổi 101 Bảng 3.34 Tỷ lệ kích thước chiều cao cơ thể / dài tay 102
Trang 8Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Các mốc đo trên cơ thể 40
Hình 2.2: Hình vẽ thể hiện các kích thước đo 51
Hình 2.3: Giao diện SPSS khi nhập xong số liệu 52
Hình 2.4: Giao diện SPSS thao tác đến lệnh Frequencies 53
Hình 2.5: Hình SPSS Frequencies 53
Hình 2.6: Hình SPSS Frequencies Statistics 54
Hình 2.7: Các kết quả đặc trưng thống kê trên SPSS 55
Hình 2.8: Giao diện SPSS thao tác đến lệnh Bivariate 57
Hình 2.9: Hình SPSS Bivariate correlations 57
Hình 2.10: Kết quả hệ số tương quan của các kích thước trên phần mềm SPSS 58
Hình 3.1: Biểu đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệmchiều cao cơ thể TEG 7 tuổi 62
Hình 3.2: Biểu đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm vòng ngực II TEG 7 tuổi 63
Hình 3.3: Biểu đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm vòng mông TEG 7 tuổi 64
Hình 3.4: Biểu đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệmchiều cao cơ thể TEG 8 tuổi 66
Hình 3.5: Biểu đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm vòng ngực II TEG 8 tuổi 68
Hình 3.6: Biểu đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm vòng mông TEG 8 tuổi 69
Hình 3.7: Biểu đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệmchiều cao cơ thể TEG 9 tuổi 71
Hình 3.8: Biểu đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm vòng ngực II TEG 9 tuổi 73
Hình 3.9: Biểu đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm vòng mông TEG 9 tuổi 74
Trang 9Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
cơ thể TEG 10 tuổi 76
Hình 3.11: Biểu đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệmvòng ngực II TEG 10 tuổi 78
Hình 3.12: Biểu đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệmvòng mông TEG10 tuổi 79
Hình 3.13: Biểu đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm chiều cao cơ thể TEG 11 tuổi 81
Hình 3.14: Biểu đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệmvòng ngực II TEG 11 tuổi 83
Hình 3.15: Biểu đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệmvòng mông TEG 11 tuổi 84
Hình 3.16 Biểu đồ sự phát triển cân nặng của TEG từ 7 11 tuổi 89
Hình 3.17 Biểu đồ sự phát triển chiều cao TEG từ 7 11 tuổi 90
Hình 3.18 So sánh sự phát triển về chiều cao của trẻ em gái từ 7 11 tuổi năm 2004 và 2011 91
Hình 3.19 So sánh sự phát triển về cân nặng của TEG từ 7 11 tuổi năm 2004 và 2011 91
Hình 3.20 Biểu đồ sự phát triển kích thước vòng cổ TEG từ 7 11 tuổi 93
Hình 3.22 Biểu đồ tỷ lệ kích thước Rộng lưng ngang nách / Rộng ngực ngang nách 97
Hình 3.23 Biểu đồ tỷ lệ kích thước Rộng ngang eo / Dày eo 100
Hình 3.24 Biểu đồ tỷ lệ kích thước Rộng ngang hông / Dày hông 100
Hình 3.25 Biểu đồ tỷ lệ kích thước Chiều cao cơ thể / Dài tay 102
Trang 10Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong điều kiện kinh tế xã hội ngày càng phát triển, văn hóa xã hội và giao lưu văn hóa càng ngày càng mở rộng kèm theo đó là sự phát triển của khoa học kỹ thuật làm cho đời sống con người thay đổi về mọi mặt Đời sống xã hội ngày càng được nâng cao, điều kiện vật chất gần như đáp ứng thỏa mãn nhu cầu của con người, đó là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển về mặt hình thái và thể chất Chính
sự thay đổi quá nhanh của điều kiện cuộc sống tạo nên sự thay đổi nhanh chóng về hình thái cơ thể người Việt Nam hiện nay Các sự tác động của cuộc sống, của môi trường đến hình thái cơ thể người diễn ra liên tục do đó làm cho hình dáng cơ thể luôn có sự thay đổi, biến động trong suốt cuộc đời
Ở Việt Nam hiện nay việc nghiên cứu hình thái cơ thể người vẫn còn hạn chế, chưa đầy đủ về nội dung và các vùng sinh thái, những công trình có giá trị nhưng quá cũ về thời gian nên ít nhiều không còn phù hợp với thực tế trẻ em hiện nay Nhận thấy được điều đó việc nghiên cứu đặc điểm hình thái cơ thể người là việc rất quan trọng trong quá trình xây dựng hệ thống cỡ số phục vụ thiết kế trang phục
Trong các giai đoạn phát triển hình thái cơ thể người thì giai đoạn lứa tuổi tiểu học có thể chất và cơ thể con người thay đổi với tốc độ nhanh Nhu cầu may mặc được gia đình và xã hội quan tâm để đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng về cả mặt thẩm mỹ lẫn kinh tế
Xuất phát từ thực tế nêu trên tôi đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Nghiên
cứu đặc điểm hình thái phần trên cơ thể trẻ em gái lứa tuổi tiểu học trên địa bàn
thành phố Hà Nội ” Nhằm góp phần đánh giá sự phát triển hình thái cơ thể người
lứa tuổi tiểu học đồng thời góp phần xây dựng hệ thống cỡ số quần áo phục vụ thiết
kế cho học sinh tiểu học trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 11Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
2 Mục đích, phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
+ Mục đích nghiên cứu:
Đề tài khoa học nhằm góp phần đánh giá sự phát triển đặc điểm hình thể của
trẻ em gái lứa tuổi tiểu học hiện nay phục vụ cho công tác xây dựng cỡ số quần áo
và thiết kế trang phục cho học sinh tiểu học trên địa bàn thành phố Hà Nội
+ Phạm vi nghiên cứu: Học sinh các trường tiểu học trên địa bàn thành phố
Hà Nội
+ Đối tượng nghiên cứu: Trẻ em gái lứa tuổi tiểu học
3 Tóm tắt các nội dung chính và đóng góp mới của tác giả
Chương I: Nghiên cứu tổng quan
Trình bày lịch sử và quá trình phát triển của nghiên cứu nhân trắc học trong
và ngoài nước Nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lý của đối tượng điều tra khảo sát
Chương II: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Đưa ra phương pháp đo, phương pháp nghiên cứu, xác định các mốc đo và các kích thước cần đo Lập nên quy trình đo và các tiêu chuẩn kiểm tra khi đo Nêu lên phương pháp xử lý kết quả đo: loại số thô, số lạc, thống kê các số liệu và tính tương quan các kích thước
Chương III: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chứng minh ba kích thước Chiều cao cơ thể, vòng ngực II, vòng mông là phân bố chuẩn Nghiên cứu từng bộ phận của phần trên cơ thể: Chiều cao, cổ, vai, ngực + lưng, bụng + mông, tay
Điểm mới của luận văn: Kết quả nghiên cứu của đề tài có giá trị ở cả hai lĩnh vực khoa học và thực tiễn Cụ thể là:
- Chọn được kích thước chính là chiều cao cơ thể, vòng ngực II, vòng mông
- Xây dựng được các phương trình hồi quy tuyến tính thể hiện tương quan giữa các kích thước chính và kích thước phụ thuộc
Trang 12Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
- Đánh giá được đặc điểm hình dáng các bộ phận: cổ, vai, ngực, lưng, bụng, mông và tay của trẻ em gái lứa tuổi tiểu học
4 Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp điều tra cắt ngang
Trang 13Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
CHƯƠNG I: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Nhân trắc học
1.1.1.1 Lịch sử phát triển nhân trắc học
Ngay từ ngàn xưa những khái niệm về hình thái và thể lực cơ thể thực chất
đã được hình thành Những khái niệm này ngày càng được nghiên cứu đầy đủ và toàn diện hơn để trở thành những bộ phận chủ yếu cấu thành môn nhân trắc học
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển con người mới chỉ làm nhân trắc tùy hứng tự phát, coi đó là tự nhiên là mặc định chứ không coi trọng nó nên nhân trắc học lúc này chưa trở thành một môn khoa học thật sự Đến đầu thể kỷ XX nhà khoa học R.A.Fisher bước đầu đã xây dựng được môn thống kê toán học ứng dụng vào y học Khi đó mọi người mới hiểu được tầm quan trọng của nhân trắc học vào phục vụ đời sống, phục vụ cho những sáng tạo khoa học
Từ đó đến nay thì nhân trắc học đã có những bước tiến đáng kể với sự áp dụng những kỹ thuật hiện đại của các ngành khoa học khác nhau, Các nhà khoa học nghiên cứu vấn đề này trên thế giới ngày càng tăng [10]
Vào những năm 20 của thế kỷ XX, Rudolf Martin một nhà nhân trắc học người Đức Ông đã đề xuất một hệ thống các phương pháp và dụng cụ để đo đạc kích thước cơ thể con người và vẫn được áp dụng đến ngày nay đó là bộ thước đo Martin Ngoài ra ông đã xuất bản 2 cuốn sách “Giáo trình về nhân học” (1919) và Cuốn “Chỉ nam đo đạc cơ thể và xử lý thống kê” Hai cuốn sách này của ông được coi là định hướng cho nhân trắc học và ông được coi là người đặt nền móng cho môn khoa học nhân trắc học hiện đại [7]
Năm 1964, nhà nghiên cứu nhân trắc học BaLan đã nhận định khi đi sâu nghiên cứu sự liên hệ giữa hình thể cơ thể và chức năng cơ thể tỉ lệ thuận với nhau, quá trình hình thành phát triển cơ thể chịu ảnh hưởng của lao động Đó chính là giá trị cơ bản hình thành quan điểm ngành công nghiệp may khi nghiên cứu các dạng hình thể cơ thể người: các kích thước cơ bản, các kích thước phụ thuộc và các dạng hình thái cơ thể [6]
Trang 14Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Cũng trong năm 1964 một thầy thuốc người Bỉ ông F.Vandervael đã viết cuốn giáo khoa về nhân trắc học Trong đó ông đưa ra những nhận xét toàn diện về các quy luật phát triển thể lực theo giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp và xây dựng các thang phân loại thể lực với các đặc trưng thống kê như trung bình (M) và độ lệch chuẩn (σ) [7]
Năm 1971, với mục đích thống nhất hệ thống cỡ số phục vụ cho sản xuất quần áo may sẵn, các khối SEV đã mở rộng chương trình đo Kết quả nghiên cứu trên của khối SEV đã xây dựng hệ thống tiêu chuẩn cỡ số cơ thể nam giới, nữ giới
và trẻ em [10]
Ngày nay nhờ vào sự hỗ trợ của thiết bị đo cơ thể người 3D, ứng dụng công nghệ chụp hình toàn bộ cơ thể người bằng tia lazer, thực hiện tính toán xử lý số liệu bằng máy tính trong một chu trình khép kín nên việc ứng dụng nhân trắc để nghiên cứu đặc điểm hình dáng cơ thể người trên cơ sở đó xây dựng hệ thống cỡ số càng có những bước tiến vượt bậc và cho kết quả tính toán nhanh và chính xác
1.1.1.2 Ứng dụng nhân trắc học vào ngành May
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu phát triển mạnh, nhu cầu làm đẹp ngày càng tăng lên, các công ty may và cơ sở may công nghiệp nở
rộ, hàng quần áo may sẵn phục vụ nội địa được mở rộng với kiểu dáng phong phú, chủng loại đa dạng tràn ngập thị trường Việt Nam giờ đây đang là một trong những nước có tốc độ phát triển kinh tế cao, ngành công nghiệp May trong lĩnh vực xuất khẩu nói chung và thị trường nội địa nói riêng cũng phát triển mạnh mẽ Việc nghiên cứu đặc điểm hình thái cơ thể người để xây dựng hệ thống cỡ số quần áo từ năm 1994 đã trở nên quá lạc hậu, mặt khác từ sau khi gia nhập WTO sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp May trong nước và giữa các doanh nghiệp may ở nước ta với các doanh nghiệp may ở nước ngoài càng trở lên khốc liệt Một trong những vấn đề tồn tại lớn nhất của ngành công nghiệp may vẫn là chưa xây dựng mới hệ thống cỡ
số trang phục phù hợp với sự thay đổi kích thước hình thái cơ thể người Việt Nam hiện nay
Việc ứng dụng nhân trắc ở Việt Nam đã có hơn 30 năm nay nên việc ứng
Trang 15Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
dụng nhân trắc để thiết kế các sản phẩm tiêu dùng đã đạt nhiều kết quả có giá trị và ngày càng phát triển
Năm 1945 – 1954, GS Đỗ Xuân Hợp cùng một số bác sĩ và sinh viên đã tiến hành nghiên cứu nhân trắc học trên thanh niên để phục vụ cho việc tuyển quân và may quân trang cho bộ đội Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam ứng dụng nhân trắc vào xây dựng hệ thống cỡ số
Năm 1966, Ủy ban KH & KT Nhà nước đã đánh dấu sự phát triển trong nghiên cứu ứng dụng nhân trắc vào xây dựng hệ thống cỡ số ở Việt Nam bằng việc xây dựng, ban hành 02 tiêu chuẩn cỡ số đầu tiên có ứng dụng số đo nhân trắc Hai tiêu chuẩn này đã đưa ra 15 cỡ số cho áo sơ mi và 3 cỡ số cho quần âu nam
Năm 1994, tiêu chuẩn VN - 5781, 5782 về phương pháp đo cơ thể người và
hệ thống cỡ số tiêu chuẩn quần áo cho đối tượng từ trẻ sơ sinh; nam và nữ tuổi học sinh; nam và nữ tuổi trưởng thành đã được ban hành đánh dấu một bước phát triển cho ngành May Việt Nam [28], [29]
Năm 1999, Đề tài KH "Xây dựng hệ thống cỡ số quần áo nam nữ trong độ tuổi lao động trên cơ sở đo nhân trắc cơ thể người" – Đề tài cấp Tổng công ty Dệt May Bộ Công nghiệp
Năm 2000-2003, Đề tài KH "Xây dựng hệ thống cỡ số quân trang bằng phương pháp đo nhân trắc" – Đề tài cấp Bộ Quốc phòng
Năm 2007-2008, Đề tài KH "Xây dựng hệ thống cỡ số quần áo nam, nữ, trẻ
em trên cơ sở số đo nhân trắc người Việt Nam", Viện Dệt May
Năm 2009, Đề tài KH "Xây dựng hệ thống cỡ số quần áo nữ trên cơ sở số đo nhân trắc người Việt Nam", Viện Dệt May
Nhìn chung việc ứng dụng nhân trắc học để xây dựng hệ thống cỡ số ở nước
ta còn hạn chế vì chưa có thiết bị đo hiện đại nên vẫn sử dụng phương pháp đo truyền thống là chủ yếu Trong khi đó, ở các nước phát triển trên thế giới việc ứng dụng nhân trắc để xây dựng hệ thống cỡ số đã có những bước tiến vượt bậc đó là nhờ sự hỗ trợ của thiết bị đo cơ thể người 3D và thực hiện tính toán xử lý số liệu các kích thước bằng máy tính trong một chu trình khép kín cho kết quả rất nhanh và
Trang 16Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
chính xác
1.1.2 Đặc điểm hình thái cơ thể trẻ em gái lứa tuổi tiểu học
1.1.2.1 Đặc điểm tâm sinh lý
a Đặc điểm về hoạt động và môi trường sống
Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đến tuổi tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập Tuy nhiên, song song với hoạt động học tập ở các
em còn diễn ra các hoạt động khác như: Hoạt động vui chơi, hoạt động lao động,
- Trong gia đình: các em luôn cố gắng là một thành viên tích cực, có thể
người lớn để bắt chiếc để thể hiện mình
- Trong nhà trường: do nội dung, tích chất, mục đích của các môn học đều thay đổi so với bậc mầm non nên đã kéo theo sự thay đổi ở các em về phương pháp, hình thức, thái độ học tập Các em đã bắt đầu tập trung chú ý và có ý thức học tập tốt
- Ngoài xã hội: các em đã tham gia vào một số các hoạt động xã hội mang tính tập thể Đặc biệt là các em muốn thừa nhận mình là người lớn, muốn được
b Sự phát triển của quá trình nhận thức
Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát,
điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học
có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi … Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ
bị phân tán trong quá trình học tập
Ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kỹ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của
mình Chú ý có chủ định phát triển dần dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực
Trang 17Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
về ý chí trong hoạt động học tập…Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định
Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ, Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc
Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi (tuy vậy so với
Nét tính cách của trẻ đang dần được hình thành, đặc biệt trong môi trường
Nhìn chung việc hình thành nhân cách của học sinh tiểu học mang những đặc điểm cơ bản sau: Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng; nhân cách của các
em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng lực, tố chất của các em còn chưa
1.1.2.2 Đặc điểm tăng trưởng của cơ thể học sinh tiểu học [4]
a Đặc điểm về cấu trúc cơ thể học sinh tiểu học [4]
- Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân, xương
tay đang trong thời kỳ phát triển nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập, Vì thế mà trong các hoạt động vui chơi cần phải chú ý quan tâm, hướng các em tới các hoạt động vui chơi lành mạnh, an toàn
- Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơi
vận động như chạy, nhảy, nô đùa, Vì vậy nên đưa các em vào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự an toàn cho trẻ
- Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy
của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng Do đó, các
Trang 18Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vui trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ, Dựa vào cơ cấu sinh lý này mà các nhà giáo dục nên cuốn hút các em với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em
b Các thời kỳ phát triển [17]
Về mặt hình thái cũng như về mặt sinh lý và bệnh lý, trẻ em có đặc điểm riêng của từng lứa tuổi, khác với của người lớn Nhất là về mặt hình thái, một trẻ em không phải là một người lớn thu nhỏ lại Vì vậy một người thường cũng có thể nhìn một em bé và đoán được em đó ở khoảng lứa tuổi nào, chính vì ở mỗi thời kỳ các
em có một đặc điểm hình thái nhất định, khác với các em ở lứa tuổi khác
Sự phân chia các thời kỳ phát triển đã được nhiều tác giả nêu ra Có tác giả phân chia theo sự phát triển toàn diện, có tác giả phân chia theo giai đoạn mọc răng
và phát triển xương…
Có thể chia làm 3 thời kỳ lớn:
- Thời kỳ phôi thai
- Thời kỳ cơ thể tăng trưởng
- Thời kỳ phát triển sau trưởng thành
Thời kỳ cơ thể tăng trưởng
Thời kỳ này bắt đầu từ lúc mới đẻ cho tới lúc trưởng thành, nghĩa là lúc cơ thể hầu như ổn định, ít thay đổi về hình thái cũng như sinh lý
Thời kỳ này chia ra làm 5 giai đoạn
- Giai đoạn thiếu nhi bé, bắt đầu từ lúc mới đẻ tới lúc 2 tuổi rưỡi
- Giai đoạn thiếu nhi trung bình bắt đầu từ 2 tuổi rưỡi tới 7 tuổi
- Giai đoạn thiếu nhi lớn bắt đầu từ 7 tuổi tới lúc xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên của tuổi dậy thì (10-11 tuổi đối với nữ và 12- 13 tuổi đối với nam ở trẻ em Việt Nam)
- Giai đoạn thiếu niên từ lúc bắt đầu dậy thì tới lúc hết dậy thì (15-16 tuổi đối với nữ, và 17-18 tuổi đối với nam)
- Giai đoạn thanh niên, từ lúc dậy thì xong tới lúc cơ thể hầu như hết lớn, nghĩa là tới lúc trưởng thành
Trang 19Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Đặc trưng của giai đoạn này là sự mất tính chất bụ bẫm và sự gần lại tính
người lớn của đứa trẻ Đứa trẻ “gầy” đi nhiều Lý do là vì ở thời kỳ này, đứa trẻ lớn nhiều về chi dưới và ít về bề ngang Kích thước đầu hầu như không tăng lên nữa trong giai đoạn này Trán không dô và bắt đầu hơi vát Tầng mặt giữa và dưới bắt đầu phát triển làm cho khuôn mặt có vẻ khôn ngoan và biết suy nghĩ hơn Đây là tuổi của “những câu hỏi tại sao? ” của đứa trẻ
Thân bắt đầu có dáng dấp người lớn: ngực không tròn mà bắt đầu bè ngang, bụng bé lại, vai nở ra, chi dưới dài ra
Tóm lại, hình thái đứa trẻ trong giai đoạn này là chuyển tiếp giai đoạn bụ bẫm ngây thơ của trẻ em sang giai đoạn cứng cáp biết suy nghĩ của người lớn
Có tác giả (Stratz, Pende) [19] chia giai đoạn này làm 2 kỳ: kỳ dậy thì bé từ lúc 6-7 tuổi và kỳ phát triển tương đối chậm về bề cao và mạnh về bề ngang, từ 7 tuổi trở đi Những công trình nghiên cứu ở trẻ Việt Nam ở Thái Bình (Đinh Kỷ và
chỉ tăng được 1,2 cm về chiều cao, trong khi đó ở các tuổi khác trung bình mỗi năm chiều cao tăng lên tới 3,4 cm
Nhịp độ tăng trưởng của cơ thể không đồng đều: những thời kỳ tăng trưởng nhanh kế tiếp những thời kỳ tăng trưởng chậm và ngược lại tạo thành dạng sóng của quá trình tăng trưởng
Sự tăng trưởng của các cơ quan khác trong cơ thể diễn ra không đồng đều và không đồng thời dẫn đến tỷ lệ cơ thể thay đổi theo lứa tuổi
Nhận xét: Ở giai đoạn tiểu học các em bắt đầu có sự thay đổi, đã ý thức được
việc học tập, giúp đỡ gia đình, tham gia những việc có ích ngoài xã hội Giai đoạn này các em bắt đầu phát triển chủ yếu về chiều cao còn chiều ngang phát triển ít, hệ
cơ, hệ xương phát triển nhanh trong giai đoạn tiểu học Các em cảm nhận và quan tâm đến cái đẹp, bắt đầu có nhu cầu độc lập trong đánh giá và thể hiện cái đẹp, sự vừa vặn của quần áo Vì vậy gia đình và xã hội cần quan tâm tạo ra các sản phẩm thời trang cho các bé đẹp, màu sắc đa dạng và phong phú, phù hợp với đặc điểm cơ thể, tâm sinh lý của lứa tuổi, đảm bảo sự vừa vặn tính tiện nghi cho các bé
Trang 20Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
1.1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của học sinh
Khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển của con người thì chúng ta thấy rằng có rất nhiều các yếu tố khác nhau bao gồm cả yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong, yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội Để có thể điều chỉnh quá trình phát triển cơ thể thì chúng ta phải nắm được các yếu tố này và điều tiết nó cho phù hợp
* Các yếu tố bên trong gồm:
Giới tính: Về cấu trúc hình thể của nam và của nữ là khác nhau do đó sự phát
triển của hai giới rất khác nhau Trong giai đoạn thay đổi hình dáng mạnh nhất này
cũng kết thúc sớm hơn
Di truyền: Người cùng điều kiện kinh tế xã hội và cùng mọi yếu tố khác thì
sự phát triển và quá trình diễn ra sẽ được quyết định bởi yếu tố di truyền Ví dụ như
bố mẹ to cao thì con cũng sẽ to cao
Chủng tộc, giống nòi: Các chủng tộc người khác nhau thì hình dáng cơ thể
cũng khác nhau do đó quá trình phát triển cũng khác Ví dụ như người châu Âu và người châu Á khác nhau Ngay cả trong một quốc gia thì các chủng tộc người khác nhau cũng phát triển khác nhau như Việt Nam chúng ta người dân tộc Kinh ở đồng bằng khác với người dân tộc thiểu số ở các vùng khác như Tây Nguyên
Gia đình: Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của mỗi con
người nhất là tuổi ấu thơ thì gia đình luôn là chiếc nôi ấp ủ cả thể chất lẫn tâm hồn Gia đình là môi trường sống, môi trường giáo dục suốt đời của sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi con người Tác động của con người rất to lớn đối với mỗi thành viên trong gia đình, nhất là đối với lứa tuổi học sinh tiểu học
* Các yếu tố bên ngoài gồm:
Môi trường và xã hội:: Yếu tố môi trường và xã hội có ảnh hưởng rất lớn đối
với sự phát triển thể lực trẻ em, đặc biệt là phát triển chiều cao Trẻ dễ bị suy dinh dưỡng thấp còi khi sống trong điều kiện kinh tế xã hội kém phát triển, môi trường
Trang 21Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
thiếu vệ sinh, không đủ nước sạch, thực phẩm không đảm bảo an toàn vệ sinh và chất lượng chăm sóc kém
Các Stress: Các ảnh hưởng về tâm lý hay là các sự căng thẳng tâm lý luôn
dẫn đến ảnh hưởng không có lợi cho quá trình phát triển
Điều kiện sống: Trẻ ở các gia đình có điều kiện kinh tế khá giả thì phát triển
mạnh mẽ hơn các em thuộc gia đình có nền kinh tế kém hơn Trẻ ở thành thị cũng phát triển tốt sớm hơn trẻ ở nông thôn
Môi trường học tập: Lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi hồn nhiên với tâm
hồn trong sáng, sẵn sàng và dễ dàng tiếp thu sự giáo dục của nhà trường Cơ chế của
sự phát triển tâm lý trẻ là thông qua hoạt động vui chơi, học tập Nắm được đặc điểm tâm lý và sự phát triển thể chất của học sinh tiểu học là nguyên tắc sư phạm quan trọng của nhà giáo dục Học sinh tiểu học hay bắt chước nên nhà giáo dục phải gương mẫu, phải giáo dục bằng tình cảm Tư duy của trẻ rất cụ thể nên khi dạy đạo đức phải nêu sự việc cụ thể, có điều kiện tiếp xúc thường xuyên với các em do đó việc tìm hiểu tâm sinh lí của các em, hiểu được hoàn cảnh sống của các em được tiến hành một cách dễ dàng, từ đó có biện pháp, phương thức giáo dục thích hợp
Thể dục thể thao: Tập luyện thể dục thể thao là nhân tố quan trọng trong
việc thúc đẩy sự phát triển của bộ xương trẻ Những đứa trẻ tích cực tham gia hoạt động thể thao thường cao hơn một chút so với những đứa trẻ không thích hoặc lười vận động Bởi vận động giúp hệ tuần hoàn ổn định, cải thiện và giúp xương phát triển tốt hơn Tuỳ theo từng lứa tuổi bạn nên lựa chọn cho trẻ những loại hoạt động phù hợp để trẻ phát triển một chiều cao lý tưởng
Tóm lại sự phát triển nhân cách và tâm lý của trẻ là thông qua hoạt động vui chơi, học tập Toàn bộ nhân cách trong quá trình phát triển thay đổi vì vậy phải thường xuyên quan tâm, giáo dục cho phù hợp trên cơ sở dựa vào tính tích cực, phát huy sự sáng tạo, biết điều chỉnh và tổ chức hoạt động tạo điều kiện phát triển tốt khả năng của các em Ngoài ra phải thường xuyên tổ chức cho các em vui chơi các môn thể thao lành mạnh để cân bằng sự phát triển cơ thể và giảm được các áp lực tâm lý trong học tập
Trang 22Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
1.1.3 Phương pháp nghiên cứu
1.1.3.1 Nguyên tắc cơ bản
a Nguyên tắc chọn mẫu:
cùng loại dùng cho nghiên cứu một quần thể hay đám đông Việc chọn mẫu nghiên cứu quyết định đến hiệu quả của công trình nghiên cứu Do vậy phải chọn mẫu sao cho đảm bảo được tính đại diện của nó
Những nguyên tắc cơ bản khi chọn mẫu trong nghiên cứu nhân trắc:
Theo thống kê, mỗi số liệu đo đều phải làm hàng loạt Muốn đảm bảo mức chính xác cần thiết, phải chọn mẫu theo nguyên tắc sau:
- Đối tượng đo phải tương đối thuần nhất Mức độ thuần nhất tùy theo mức
độ nghiên cứu Nhóm đối tượng đo càng thuần nhất nếu càng đảm bảo những điều kiện sau:
b Phương pháp chọn mẫu:
Có hai nhóm kỹ thuật chọn mẫu là: Chọn mẫu xác suất và phi xác suất
Chọn mẫu xác suất: Có 4 phương pháp chọn mẫu xác suất
* Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn:
Đây là loại mẫu được lập ra tùy theo hứng cảm quan của người nghiên cứu Mỗi đơn vị chọn mẫu mang số thứ tự tương ứng với một số ngẫu nhiên sẽ được chọn Mỗi lần chọn, mỗi đối tượng chưa được chọn trước đó đều có cơ hội được chọn bằng nhau
Ưu điểm: Đơn giản, nền tảng xác suất là cơ sở để so sánh với những kỹ thuật chọn mẫu khác
Trang 23Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
* Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống:
gồm n đối tượng, chia khung mẫu làm n nhóm, mỗi nhóm gồm k đối tượng, với
* Chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng:
Trước tiên phân chia tổng thể thành các tổ theo 1 tiêu thức hay nhiều tiêu thức có liên quan đến mục đích nghiên cứu Sau đó trong từng tổ, dùng cách chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản hay chọn mẫu hệ thống để chọn ra các đơn vị của mẫu Các phân tích thống kê được tính toán riêng cho mỗi tầng sau đó sẽ kết hợp lại trên
cơ sở kích cỡ của từng tầng để cho kết quả của toàn bộ quần thể
+ Nếu tính đồng nhất về yếu tố được chọn để phân tầng là cao trong mỗi
Trang 24Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
tầng, là thấp giữa các tầng thì kết quả nghiên cứu sẽ có độ chính xác cao
Nhược điểm: Danh sách các cá thể trong mỗi tầng phải được liệt kê và gắn số ngẫu nhiên Trong thực tế, điều đó thường khó thực hiện được
* Mẫu chùm:
Là mẫu đạt được bởi việc lựa chọn ngẫu nhiên các nhóm cá thể được gọi là chùm từ nhiều chùm trong một quần thể nghiên cứu Trong trường hợp này đơn vị mẫu là các chùm chứ không phải là các cá thể
Các bước:
1 Xác định các chùm thích hợp Chùm thường hình thành bởi tập hợp các
cá thể gần nhau (làng, xã, trường học…) do đó thường có chung một số đặc điểm Các chùm thường không có cùng kích cỡ
2 Lên danh sách tất cả các chùm và chọn xác suất một số chùm vào mẫu
3 Liệt kê danh sách các cá thể trong các chùm đã chọn, sau đó áp dụng cách chọn mẫu ngẫu nhiên đơn trong mỗi chùm để chọn các cá thể vào mẫu
Ưu điểm:
+ Có thể áp dụng trong điều tra có phạm vi rộng, độ phân tán cao
+ Điều tra dễ và nhanh vì đối tượng nghiên cứu được nhóm lại
+ Tiết kiệm kinh phí và thời gian
Nhược điểm:
+ Tính chính xác và tính đại diện thấp
+ Phân tích số liệu từ mẫu chùm thường phức tạp
+ Việc lựa chọn số chùm vào mẫu khó khăn, nhất là khi cỡ chùm không đều nhau
Chọn mẫu phi xác suất (mẫu kinh nghiệm):
Chọn mẫu phi xác suất là phương pháp chọn mẫu mà các đơn vị trong tổng thể chung không có khả năng ngang nhau để được chọn vào mẫu nghiên cứu
Mẫu được chọn thường dễ phạm vào những sai lệch, không có tính đại diện,
và không có cơ sở toán học để xác định độ tin cậy của kết quả nghiên cứu Chọn mẫu phi xác suất bao gồm:
Trang 25Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
- Chọn mẫu tiếp liền nhau
- Chọn mẫu tiện ích
- Chọn mẫu suy xét
c- Ước tính số lượng cỡ mẫu
Một công trình nghiên cứu thường dựa vào các mẫu thực nghiệm, kiểm tra
do đó trước khi tiến hành nghiên cứu người ta thường phải tính toán xem cần bao nhiêu mẫu hay bao nhiêu đối tượng thì đủ cho việc nghiên cứu
Ước tính số lượng đối tượng cỡ mẫu rất quan trọng trong việc thiết kế một nghiên cứu Nếu số lượng đối tượng không đủ thì kết luận rút ra từ công trình nghiên cứu kém chính xác Ngược lại, nếu số lượng đối tượng nhiều hơn số cần thiết thì tốn nhiều kinh phí và thời gian Do vậy, trước khi nghiên cứu phải ước tính được số đối tượng cho mục tiêu của nghiên cứu, sao cho kết quả nghiên cứu nằm trong khoảng tin cậy chấp nhận được và đặc trưng trung bình của mẫu đại diện được cho đặc trưng của tập hợp mẫu lớn với một độ chính xác nhất định Để xác định số lượng mẫu cần đo cho từng khối ta dựa theo công thức mô tả cắt ngang:
2 1 (
e
p p
2
) 1 (
(1.1) Như vậy, mức xác suất tin cậy càng cao thì n càng lớn, tính đại diện của mẫu càng tăng, lúc đó các đặc trưng thống kê của mẫu tiến gần hơn với các đặc trưng của tập hợp
1.1.3.2 Các phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu nhân trắc học có hai phương pháp nghiên cứu chủ yếu, đó
là phương pháp điều tra dọc và phương pháp điều tra cắt ngang
* Phương pháp điều tra dọc (phương pháp nghiên cứu cá thể)
Tiến hành nghiên cứu trên một nhóm người cùng tuổi và theo dõi các đặc điểm nghiên cứu của các đối tượng trong nhóm, theo từng năm một, trong suốt thời gian dài liên tục nhiều năm
- Ưu điểm:
+ Số lượng đối tượng nghiên cứu có thể ít hơn so với phương pháp
Trang 26Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
nghiên cứu ngang
+ Cho phép đánh giá tốc độ tăng trưởng trong quá trình phát triển từ lúc mới sinh ra cho đến lúc trưởng thành
- Nhược điểm:
+ Khó thực hiện
+ Tốn thời gian
+ Đòi hỏi người nghiên cứu phải kiên trì và nhẫn nại
* Phương pháp điều tra cắt ngang (phương pháp nghiên cứu tổng quát)
Thực hiện nghiên cứu trên nhiều đối tượng khác nhau cùng lứa tuổi trong cùng một thời điểm nhất định
- Ưu điểm:
+ Có thể thực hiện được nhanh
+ Tốn ít thời gian, không cần đợi thời gian theo dõi
1.1.3.3 Phương pháp đo
* Phương pháp đo trực tiếp
Tiến hành đo trực tiếp trên cơ thể người mẫu đã chọn bằng dụng cụ đo của quốc tế quy định đó là bộ thước đo Martin Trong đó bao gồm:
+ Thước đo chiều cao kiểu Martin sử dụng để đo chiều cao
+ Thước dây sử dụng để đo kích thước vòng và kích thước dài
+ Thước kẹp dùng để đo các kích thước rộng
+ Compa đo bề dày
Trên thực tế phương pháp này được sử dụng rất nhiều bởi giá thành thiết bị
đo thấp mà kết quả đo có độ tin cậy cao
Trang 27Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
* Phương pháp đo gián tiếp
Đây là phương pháp chụp ảnh tự động 3D bằng thiết bị điện tử sử dụng tia hồng ngoại, thực hiện tính toán xử lý số liệu các thông số kích thước bằng máy tính trong một chu kỳ khép kín
Tuy nhiên hạn chế của phương pháp này là giá thành của các thiết bị đo trên rất đắt tiền và rất khó lắp đặt
Hiện nay tại Viện kinh tế kỹ thuật Dệt - May tại Hà Nội có một máy quét cơ thể 3D Tuy nhiên để sử dụng thiết bị này có hiệu quả thì cần có một cơ cấu có thể lưu động thiết bị đến các địa điểm cần đo Chính vì vậy mà các công trình nghiên cứu ứng dụng phương pháp nhân trắc học cho ngành may hiện nay ở nước ta vẫn sử dụng phương pháp đo trực tiếp trên cơ thể người
1.1.3.4 Phương pháp xử lý số liệu
Để xây dựng hệ thống cỡ số phục vụ cho thiết kế may công nghiệp, phải xác định các đặc trưng thống kê của kích thước chủ đạo và các kích thước khác Việc xử
lý số liệu bằng phương pháp thống kê sinh học Các bước được tiến hành như sau:
- Tập hợp, sắp xếp các số đo thành dãy phân phối thực nghiệm từ nhỏ đến lớn
- Tìm số nhỏ nhất (Min) là số nhỏ nhất trong dãy phân phối và được xác
định bằng phần mềm Excel
Hàm Exel:
Min = Min({ dãy số }) (1.2)
- Tìm số lớn nhất (Max) là số lớn nhất trong dãy phân phối và được xác định
bằng phần mềm Exel
Hàm Exel: Max = Max ({ dãy số }) (1.3)
- Số trung bình cộng (M) là đặc trưng biểu hiện khuynh hướng trung tâm
của sự phân phối Nó là một đại lượng phổ biến nhất, điển hình nhất trong bất kỳ một thống kê nào
Nếu ta gọi M là số trung bình cộng; n là tổng số các số đo trong một phân
Trang 28Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
số của các số đo chia cho tổng số các số đo n
Phương này trên thực tế thường ít làm, nhất là những mẫu quá lớn nhưng trong quyển luận văn với lượng mẫu nhỏ và nhờ công cụ bảng exel thì luận văn sử dụng công thức này
n
x f n
x f x
f x f x f
Hàm excel: M = average ({ dãy số })
- Số trung tâm hay số trung vị (Me) là con số đứng giữa dãy số phân phối và
chia dãy đó thành hai phần bằng nhau
n K Me
Hàm excel: Me = median ({dãy số })
- Số trội (Mo) là giá trị phổ biến nhất, có tần số lớn nhất trong dãy phân phối
Trên đồ thị của dãy phân phối liên tục, trị số của Mo ứng với đỉnh của đường cong
f f x
Trang 29Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Hàm excel: Mo = mode ( { dãy số })
- Độ lệch chuẩn (σ) còn gọi là độ lệch trung bình bình phương Độ lệch
chuẩn là một đặc trưng thống kê cơ bản, được dùng để đánh giá độ tản mạn của một
- Hệ số biến sai (Cv): là tỉ lệ giữa độ lệch chuẩn (σ) và trung bình cộng (M),
Công thức tính Cv như sau:
Cv chính là tỷ lệ giữa σ và M Do đó, Cv không phụ thuộc vào đơn vị đo và trị
số của M và nói lên giá trị tương đối của độ sại lệch tiêu chuẩn so với số trung bình cộng Vì vậy, hệ số biến sai cho phép ta có thể so sánh mức độ tản mạn của hai phân phối thực nghiệm có số trung bình cộng khác nhau và đơn vị đo khác nhau
- Hệ số bất đối xứng (SK): thể hiện mức độ bất đối xứng của đồ thị phân
phối của dãy số so với đường cong phân phối chuẩn (SK = 0) Hệ số bất đối xứng của đồ thị phân phối chuẩn bao giờ cũng nhỏ hơn hệ số bất đối xứng giới hạn trên [S]
SK i
Hàm excel: SK = skew ({dãy số})
- Hệ số nhọn (KU): Thể hiện độ nhọn của đồ thị phân phối của dãy số so với
(1.7)
(1.9)
Trang 30Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
đường cong phân phối chuẩn (KU=0) Hệ số nhọn của đồ thị phân phối chuẩn bao
giờ cũng nhỏ hơn hệ số nhọn giới hạn [K]
Hàm excel: KU = kurt ({dãy số})
- Giới hạn trên [S] và [K] được tính theo công thức:
16
n n
n n n
2
M x e
1.2.1 Tình hình nghiên cứu đặc điểm hình thái cơ thể người trên thế giới
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ mà nhiều nước
trên thế giới đã sử dụng công nghệ tiên tiến máy quét cơ thể 3D để tiến hành các
cuộc điều tra nhân trắc học, hệ thống này đo cỡ người, hình dáng và thể tích theo
nhiều cách khác nhau và nhiều hướng khác nhau cho mỗi bộ phận quần áo thậm chí
(1.10)
Trang 31Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
có thể cho phép tạo trực tiếp những mẫu quần áo cho số liệu 3D, hạn chế việc lặp lại các phép đo và hình dáng Như vậy khi sử dụng phương pháp quét cơ thể 3D ta sẽ
có được những bản phân tích cơ thể 3D chính xác và tự động có thể sử dụng ngay trong công nghiệp thiết kế sản xuất quần áo Rất nhiều nước trên thế giới đã sử dụng phương pháp này và đạt được thành quả tốt
Nhật Bản là nước đầu tiên trên thế giới sử dụng máy quét cơ thể 3D để thực hiện một cuộc khảo sát lớn trên phạm vi toàn quốc gia Kết quả của cuộc khảo sát này được công bố trong “ Số liệu kích thước cơ thể Nhật Bản 1992 - 1994” do Viện nghiên cứu kỹ thuật con người cho chất lượng cuộc sống
Tại Nam Phi một chiếc máy quét toàn bộ cơ thể được đặt trong xe lưu động
di chuyển khắp đất nước để đo Yêu cầu từ ngành công nghiệp dệt may càng trở nên cấp thiết vì nhân khẩu tăng nhanh ở Nam Phi trong những năm gần đây do toàn cầu hóa, sự phát triển của thị trường không chính thức và sự cần thiết thông tin khách hàng mới Ngành công nghiệp Dệt May nhận thấy nhu cầu cần có một hệ thống cơ
sở dữ liệu nhân trắc học cho Nam Phi để đáp ứng vấn đề cung cấp quần áo vừa vặn cho nhiều đối tượng mặc
Từ sự thành công của máy quét cơ thể tại “Cỡ số Anh”, “Cỡ số Mỹ” được tiến hành bằng công nghệ tương tự với cuộc điều tra trên toàn nước Mỹ Cuộc điều tra hoàn thành ngày 16 tháng 12 năm 2003 với 10.800 mẫu quét Những sản phẩm quần áo từ kết quả “Cỡ số Mỹ” xuất hiện trên thị trường năm 2003
Như vậy ta thấy rằng hiện nay trên thế giới ở các nước phát triển hầu hết đã
sử dụng máy quét cơ thể 3D vào nghiên cứu nhân trắc vì các ưu điểm rất tốt của nó
Từ các số liệu hình dáng cơ thể chính xác có được người ta có thể sử dụng với nhiều hiệu quả khác nhau như nghiên cứu vấn đề tác động vào sự phát triển cơ thể ở Nhật Bản để đưa ra phương hướng cải thiện sự hình dáng cơ thể, hay ở Anh và Mỹ nghiên cứu hình dáng cơ thể và đưa ra những sản phẩm phù hợp nhất
1.2.2 Tình hình nghiên cứu đặc điểm hình thái cơ thể người ở Việt Nam
Ở Việt Nam nhân trắc học bắt đầu được chú ý từ những năm 30 của thế kỷ
20 Trong thời kỳ này, hầu hết các công trình nghiên cứu đều do một số bác sĩ
Trang 32Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
người Pháp và người Việt Nam thực hiện tại “Ban nhân học” thuộc viện Viễn đông Bác Cổ (École française d'Extrême-Orient viết tắt EFEO) và tại Viện Giải Phẫu Học thuộc trường Đại Học Y Khoa Hà Nội
Năm 1936-1944, những kết quả nghiên cứu về các kích thước cơ thể người các dân tộc Việt Nam được đăng tải trong 9 tạp chí “Công trình nghiên cứu Viện Giải Phẫu Học trường Đại học Y Khoa Đông Dương” do P.Hurad làm chủ biên Tuy nhiên phương pháp nghiên cứu còn thô sơ, xử lý thống kê toán học chưa triệt
để nên thiếu độ chính xác bởi vậy các kết quả nghiên cứu còn rất hạn chế
Năm 1945 – 1954 GS Đỗ Xuân Hợp nhà nhân trắc học đầu tiên của Việt Nam, đã cùng với một số bác sĩ và sinh viên tiến hành những công trình nghiên cứu nhân trắc học trên thanh niên phục vụ cho việc tuyển quân và may quần áo, giầy mũ cho bộ đội[16]
Năm 1967 và 1972 hai hội nghị hằng số sinh học người Việt Nam đã được tổ chức tại Hà Nội dưới sự chủ trì của giáo sư Nguyễn Tấn Di Trọng Rất nhiều công trình nghiên cứu về nhân trắc học đã được tập hợp để báo cáo trong hai hội nghị này
và được đăng trong cuốn “Hằng số sinh học ở Việt Nam” - 1975
Năm 1974 PGS- bác sĩ Nguyễn Quang Quyền cùng với GS Đỗ Xuân Hợp cho xuất bản cuốn “Nhân trắc học và ứng dụng nghiên cứu trên người Việt Nam” tập hợp những công trình nghiên cứu nhân trắc học của tác giả và các đồng nghiệp khác Cuốn sách đã trình bày khá đầy đủ những vấn đề cơ bản nhất trong lĩnh vực nghiên cứu nhân trắc học hiện nay và nêu lên các số liệu cùng các nhận định tiến hành nghiên cứu trên người Việt Nam.[17]
Năm 1986 cuốn “Altlas nhân trắc học người Việt Nam trong các lứa tuổi lao động” do Võ Hưng làm chủ biên cùng nhiều nhà khoa học nghiên cứu đã được xuất bản Cuốn sách này lần đầu tiên đã cung cấp khá đầy đủ các số liệu về hình thái cơ thể của người Việt Nam ở các lứa tuổi khác nhau và sống ở các vùng sinh thái khác nhau Đây cũng là dữ liệu đầy đủ nhất về các kích thước cơ thể người Việt Nam[1]
Cùng trong thời gian này, việc ứng dụng các phương pháp nghiên cứu nhân trắc vào tìm hiểu nguồn gốc các dân tộc và phát triển hình thái thể lực của các dân
Trang 33Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
tộc bắt đầu được đề cập tới Tiêu biểu là tác giả Nguyễn Đình Khoa, Võ Hưng Hai tác giả này đã có những công trình nghiên cứu về sự phát triển hình thái cơ thể và thể lực của nhóm dân tộc ít người ở miền núi và đã chứng minh ảnh hưởng của tình trạng suy dinh dưỡng đến sự phát triển hình thái thể lực của con người Các công trình này được công bố vào năm 1976,1980,1983
Năm 1991 PTS Đào Huy Khuê, – Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã bảo
vệ thành công luận án “Đặc điểm kích thước hình thái và sự tăng trưởng phát triển
cơ thể học sinh phổ thông” ở thị xã Hà Đông – Hà Sơn Bình Hạn chế của luận án là chỉ cho phép xác định mối liên quan chứ không xác định được nguyên nhân một cách chính xác và số lượng điều tra còn ít
Năm 2010, các tác giả như Vũ Thị Lan Hương, Trịnh Thị Thanh Hương, Lê Thúy Hằng đã bảo vệ thành công đề tài của mình Các đề tài này đã góp phần nghiên cứu đánh giá sự phát triển đặc điểm hình thái của các em đồng thời góp phần xây dựng hệ thống cỡ số, phục vụ thiết kế trang phục Tuy nhiên trong các luận văn này vẫn còn một số tồn tại như :
+ Số lượng mẫu nghiên cứu quá ít + Phạm vi nghiên cứu hẹp
+ Các khu vực nghiên cứu khá chênh lệch nhau về điều kiện sống Năm 2011, Nguyễn Thị Bích Thủy đã bảo vệ thành công luận văn "Xây dựng
hệ thống cỡ số quần áo và nghiên cứu đặc điểm kích thước hình thái của trẻ em tiểu học địa bàn thành phố Hà Nội” Luận văn đã nghiên cứu đặc điểm của các em đồng thời xây dựng hệ thống cỡ số quần áo trẻ em lứa tuổi tiểu học trên địa bàn thành phố
Hà Nội Tuy nhiên đề tài chỉ nghiên cứu đặc điểm hình thái của trẻ em trai, mặt khác đề tài không đi sâu vào quá trình nghiên cứu đặc điểm hình thái kích thước trẻ
em mà đi sâu vào quá trình xây dựng hệ thống cỡ số quần áo trẻ em lứa tuổi tiểu học
1.3 Những tồn tại và đề xuất hướng nghiên cứu
Sau khi nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu về nhân trắc học ở Việt Nam đã cho thấy :
Trang 34Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
+ Nhân trắc học Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về nhân trắc ở nước ta chủ yếu tập trung cho ngành Y, như về đặc điểm nhân chủng học, đánh giá tăng trưởng thể lực của cơ thể…và ứng dụng cho Ergonomi (nghiên cứu, đánh giá tầm vóc cơ thể người Việt Nam )
+ Đối với ngành May các công trình nghiên cứu về nhân trắc học ứng dụng cho ngành còn sơ khai, không mang tính liên tục
+ Việc ứng dụng thiết bị và công nghệ tiên tiến hiện đại vào quá trình đo đạc
và nghiên cứu cơ thể người ở Việt Nam còn chưa phổ biến
+ Việc khai thác sử dụng các phần mềm để xử lý số liệu đo đạc hay mô phỏng hình dáng cơ thể người chưa được đầu tư thích đáng
+ Đã có một số đề tài nghiên cứu đặc điểm hình thái cơ thể người nhưng đều tập trung chủ yếu ở đối tượng đã trưởng thành hoặc lứa tuổi phổ thông trung học
Với những tồn tại nêu trên và xuất phát từ những đòi hỏi của thực tế về việc
xây dựng hệ thống cỡ số quần áo cho trẻ em lứa tuổi tiểu học mà luận văn “Nghiên
cứu đặc điểm hình thái phần trên cơ thể trẻ em gái lứa tuổi tiểu học trên địa bàn thành phố Hà Nội” đã đi sâu nghiên cứu đặc điểm phát triển cơ thể học sinh nữ
nhằm đánh giá qui luật phát triển và làm cơ sở để nghiên cứu thiết kế quần áo cho trẻ em gái lứa tuổi tiểu học
Đề tài “Nghiên cứu đặc điểm hình thái phần trên cơ thể trẻ em gái lứa tuổi
tiểu học trên địa bàn thành phố Hà Nội ” cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
+ Lựa chọn đối tượng nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu điển hình
+ Xác định cỡ mẫu và số lượng đo thực tế trên địa bàn thành phố
+ Lựa chọn thiết bị và dụng cụ đo
+ Xác định các thông số kích thước cơ thể cần đo
+ Xác định các mốc đo nhân trắc, trạng thái và tư thế của người được đo + Xây dựng chương trình đo
+ Tiến hành đo
+ Xử lý kết quả đo
+ Đánh giá về đặc điểm hình dáng phần trên cơ thể người
Trang 35Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
CHƯƠNG II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm hình thái phần trên cơ thể để phục vụ xây dựng hệ thống cỡ số quần áo tại Việt Nam đã có từ lâu mà đặc biệt là hệ thống cỡ số đối với trẻ em bậc tiểu học Do điều kiện kinh tế và môi trường sống nên tầm vóc và thể lực của trẻ em thay đổi rất nhiều và rất nhanh, đặc biệt là đối với trẻ em thành phố Cùng với nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng thì thời trang trẻ em rất phong phú
và đa dạng Vì thế hệ thống cỡ số của trẻ em cần được tiến hành nghiên cứu và khảo sát Căn cứ vào điều kiện và môi trường sống, ta có thể chia hệ thống cỡ số của trẻ
em làm 2 loại, thành thị và nông thôn Do đó luận văn tiến hành cuộc khảo sát nhân trắc trẻ em nữ lứa tuổi tiểu học 7 - 11 tuổi địa bàn thành phố Hà Nội, nhằm xây dựng số liệu phục vụ thiết kế trang phục học sinh tiểu học trên địa bàn thành phố Hà Nội
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Xác định cỡ mẫu và số lượng đo
* Nguyên tắc xác định:
Việc lựa chọn cỡ mẫu một cách hoàn toàn ngẫu nhiên, lấy một số trong toàn bộ dân số ở lứa tuổi đó để đo Phần chọn ra đó gọi là mẫu và toàn thể dân số gọi là đám đông Muốn từ mẫu suy ra đám đông cần căn cứ theo 2 điều kiện:
- Việc lựa chọn mẫu phải tuân theo một nguyên tắc để đảm bảo hoàn toàn tính chất ngẫu nhiên của sự lựa chọn
- Đám đông phải có dạng phân phối xác định, nhóm đối tượng được đo càng thuần nhất, nếu đảm bảo được các điều kiện sau:
Trang 36Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
cắt ngang:
2 1 (
e
p p
2
) 1 (
(2.1) Đối với đa số nghiên cứu sinh học thì sử dụng mức xác suất là 95% , ứng với
) 95 0 1 ( 95 0
2
= 73 (mẫu)
Vậy số lượng tối thiểu cần đo của đề tài là: 73 x 5 = 365 (mẫu)
Số lượng mẫu đo thực tế về số lượng học sinh nữ của từng khối, tuổi dưới đây:
Qua tính toán số lượng mẫu tối thiểu, cộng các mẫu có thể sai số và điều kiện
về thời gian của đề tài tôi lựa chọn số lượng mẫu để đo kích thước là: 627 mẫu Như
2.2.2 Xác định kích thước đo
2.2.2.1 Cơ sở xác định các kích thước cần đo
Việc lựa chọn các thông số kích thước đo là vô cùng quan trọng vì nó không chỉ phục vụ cho việc nghiên cứu cơ bản đặc điểm người sử dụng, giới tính, sự phát triển cơ thể theo thời gian trong cùng một lứa tuổi mà còn góp phần xây dựng hệ
Trang 37Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
thống cỡ số phục vụ cho việc thiết kế quần áo công nghiệp
Các thông số kích thước ta lựa chọn phải phù hợp Sao cho các thông số thể hiện được những nghiên cứu cơ bản đặc điểm người sử dụng, giới tính và sự phát triển cơ thể theo thời gian của lứa tuổi tiểu học Ngoài những số đo cơ bản để thiết
kế ta cần đo một số thông số kích thước sử dụng để kiểm tra độ chính xác của việc thiết kế sản phẩm và để tạo dáng sản phẩm đẹp hơn Số lượng thông số kích thước càng nhiều và càng sát với vóc dáng cơ thể người sẽ giúp cho kết quả càng chính xác
Qua tham khảo các thông số kích thước cơ bản thiết kế công nghiệp của Nga, Mỹ, Úc, Anh, các tiêu chuẩn của các nước Căn cứ vào mục tiêu của đề tài, luận văn đã lựa chọn 34 thông số kích thước cơ thể để đo, cụ thể được trình bày tại bảng 2.2 Và đề xuất 5 nhóm kích thước cơ thể cần đo như sau:
+ Nhóm 1: Cân trọng lượng cơ thể
+ Nhóm 2: Các kích thước chiều cao
+ Nhóm 3: Các kích thước chiều dài
+ Nhóm 4: Các kích thước chiều rộng và chiều dày
+ Nhóm 5: Các kích thước vòng
2.2.2.2 Xác định các mốc đo nhân trắc, trạng thái và tư thế của người được đo
Xác định các mốc đo nhân trắc, nguyên tắc và tư thế khi đo của người được
đo thực hiện theo các tiêu chuẩn :
- ISO 3635 :1981 – ký hiệu cỡ số quần áo – định nghĩa và quy trình đo
- Theo TCVN 5781-1994 : phương pháp đo cơ thể người
- Các mốc đo nhân trắc được xác định là các vị trí đầu của mỗi khớp xương,
vị trí này giúp người đo dễ dàng xác định mốc đo trực tiếp trên cơ thể người được
đo, để các số đo được chính xác, giảm thiểu mức độ sai số khi đo
- Hầu hết các kích thước đều có mốc đo được xác định bằng các đặc điểm giải phẫu của xương hoặc cơ tương ứng
Trang 38Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Giao điểm của đường cạnh cổ với đường vai nằm trên mép ngoài đường chân cổ
nhất nằm giữa đường chân cổ phía trước
Trang 39Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
khuỷu khi tay duỗi thẳng
Điểm thấp nhất của nếp gấp nách sau, nếp gấp nách phía sau cao hơn phía trước
Điểm thấp nhất của phần xương chậu Điểm xác định giới hạn phía trên cùng của đũng quần
Khi cơ thể người ở tư thế đứng ta thấy đường mông phía sau có nếp lằn, điểm nếp lằn mông là điểm thấp nhất của nếp lằn mông phía sau
Giao điểm của đường giữa phía trước cơ thể với đường ngang eo, đường ngang eo
đi qua phần hẹp nhất của thân và nằm trên rốn khoảng 3 cm
đường viền bên hông cơ thể
thể với đường ngang eo
chân
2.3
Trang 40Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
2.2.3 Phương pháp đo
Trong luận văn này tôi sử dụng phương pháp đo trực tiếp Sử dụng các dụng
cụ đo, tiếp xúc trực tiếp vào vị trí, kích thước, vào vùng cần đo để đo và cho ra là các kết quả trực tiếp
Hình 2.1: Các mốc đo trên cơ thể
2.2.4 Quy định đối với quá trình đo