Việc đánh giá mức độ phù hợp của giả da khi sử dụng làm lót giầy là cần thiết nhằm khuyến các nhà sản xuất lựa chọn đúng chủng loại giả da để đạt được chất lượng lót giầy theo yêu cầu..
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan toàn bộ nội dung được trình bầy trong luận văn này
đều do tác giả thực hiện dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của TS Vũ Mạnh Hải cùng
với Quý thầy cô Viện Dệt May – Da Giầy và Thời Trang Các số liệu và kết quả
trong luận văn là những số liệu thực tế thu được sau khi tiến hành thực nghiệm tại
Trung tâm thí nghiệm Vật liệu Dệt may, phòng thí nghiệm hóa dệt của Viện Dệt
May – Da Giầy và thời trang, Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội và Phòng Thí
nghiệm của Viện Dệt May – Bộ Công thương (TRI) Tác giả cam đoan kết quả
nghiên cứu đảm bảo chính xác, trung thực, không có sự sao chép từ các luận văn
khác
Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung, hình ảnh cũng như kết quả
nghiên cứu được trình bày trong luận văn
Người cam đoan
Phạm Kim Thúy
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Vũ Mạnh Hải, người
đã tận tâm chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Em xin gửi lời cảm ơn tới Quý thầy cô Viện Dệt May – Da giầy và thời
trang, Viện đào tạo sau đại học đã giảng dạy truyền đạt những kiến thức mới và sâu
về chuyên môn cũng như giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu
Em xin gửi lời cảm ơn tới Trung tâm thí nghiệm vật liệu Dệt May, phòng thí
nghiệm Hóa dệt thuộc Viện Dệt may – Da giầy và Thời trang - Trường Đại Học
Bách khoa Hà Nội, phòng thí nghiệm Viện Dệt May - Bộ Công Thương đã tạo điều
kiện và giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu Em xin cám ơn tới Công
Ty TNHH Ladoda đã cung cấp các mẫu vật liệu, tài liệu nghiên cứu để hoàn thành
luận văn
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, cơ quan công tác, đồng
nghiệp, bạn bè đã động viên về vật chất và tinh thần trong thời gian học tập và làm
luận văn này
Một lần nữa em chân thành biết ơn!
Trân trọng kính chào./
Hà Nội, ngày 16 tháng 4 năm 2015
Học viên
Phạm Kim Thuý
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 0
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DANH SÁCH CÁC KÝ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
LỜI MỞ ĐẦU 9
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 10
1.1 Các loại vật liệu sử dụng làm lót giày 10
1.1.1 Da thuộc 10
1.1.1.1 Giới thiệu về Da thuộc 10
1.1.1.2 Thành phần hóa học của da thuộc 11
1.2.1.3 Các tính chất của da thuộc 13
1.2.1.4 Một số loại da 15
1.1.2 Giả da 16
1.1.2.1 Đặc điểm của lớp tráng phủ 18
1.1.2.2 Đặc điểm của lớp cốt nền 27
1.1.3 Nhựa 31
1.1.4 Keo dán 32
1.2.Một số tính chất cơ bản của vải giả da 33
1.2.1.Khả năng hút ẩm: 33
1.2.2 Độ bền: 33
1.2.3 Độ giãn: 34
1.2.4 Độ bền mài mòn 34
1.3 Các phương pháp sản xuất vải giả da 34
1.3.1 Phương pháp tráng phủ dùng dao gạt 34
1.3.2 Phương pháp tráng phủ chuyển 36
1.3.3 Phương pháp tráng phủ cán 37
1.4.Yêu cầu đối với vải giả da dùng làm lót giầy 41
1.5.Kết luận chương 1 45
Trang 5CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 46
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 46
2.2 Đối tượng nghiên cứu 46
2.3 Nội dung nghiên cứu 47
2.4 Phương pháp nghiên cứu 48
2.4.1 Phương pháp khảo cứu tài liệu: 48
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 48
2.4.2.1 Xác định loại vật liệu giả da bằng phương pháp hóa học 49
2.4.2.2 Phương pháp quang học 49
2.4.2.3 Phương pháp xác định độ dày của vật liệu 49
2.4.2.4 Phương pháp xác định độ bền xé 50
2.4.2.5 Phương pháp xác định độ bền kéo đứt và độ giãn đứt 51
2.4.2.6 Phương pháp xác định độ bền mài mòn 52
2.4.2.7 Phương pháp xác định độ thấm nước 54
2.4.2.8 Xác định độ ổn định kích thước: 54
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 56
3.1 Kết quả xác định cấu trúc của vật liệu giả da 56
3.2 Kết quả xác định độ bền kéo và độ giãn đứt của vật liệu giả da 61
3.3 Kết quả xác định độ bền xé 63
3.4 Kết quả xác định độ bền mài mòn 65
3.5 Kết quả xác định độ bền thấm nước toàn phần: 66
3.6 Kết quả xác định độ ổn định kích thước 67
3.7 Kết luận chương 3 67
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 6DANH SÁCH CÁC KÝ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Cấu trúc của da động vật 10
Hình 1.2 Công thức chung của aminoaxit (a) và mạch polypeptit (b) 13
Hình 1.3 Sơ đồ định hướng các chùm xơ ở các phần khác nhau của con da 13
Hình 1.4 Các mẫu giả da 17
Hình 1.5 Cấu tạo của polyvinylclorua 18
Hình 1.6 Cấu tạo của PAN 24
Hình 1.7 Vải dệt thoi vân điểm 28
Hình 1.8 Kiểu dệt vân đoạn 1:4 28
Hình 1.9 Kiểu dệt vân chéo 29
Hình 1.10 Kiểu dệt vải dệt kim 30
Hình 1.11 Ngoại hình vải không dệt Camprrela 30
Hình 1.12 Các vị trí của con dao gạt 35
Hình1.13 Thiết bị tráng phủ dùng dao gạt 36
Hình 1.14 Phương pháp tráng phủ chuyển 37
Hình 1.15 Sơ đồ phương pháp tráng phủ cán 38
Hình 1.16 Các cấu hình của trục cán 38
Hình 1.17 Tráng phủ cán kiểu Nip coating: (1) Vải tráng phủ, (2) Trục cấp polymer, (3) vải nền 39
Hình 1.18 T ráng phủ một mặt: (1)Trục ép, (2) Vải nền, (3) vải tráng phủ 39
Hình 1.19 Tráng phủ cán màng: (1) Màng polymer, (2) vải nền (3) cặp truc cán 40 Hình 1.20 Tráng phủ cán dùng băng thép: (1)Băng thép (2) trục gia nhiệt, (3) trục tạo sức căng, (4, 5) trục dẫn, (6, 7, 8) Gia nhiệt bằng hồng ngoại (9, 11)màng polymer (10) Vải nền 41
Hình 1.21 Tráng phủ polymer đàn tính cao: 41
Hình 2.1 Máy đo độ dày 49
Hình 2.2 Hình dạng và kích thước của mẫu thử xác định độ bền xé 50
Hình 2.3 Máy TENSILON xác định độ bền xé, độ giãn và độ bền kéo đứt 51
Hình 2.4 Hình dạng và kích thước của mẫu thử 52
Trang 8Hình 2.5 Máy mài mòn Martindale 53
Hình 2.6 Mặt mài - Vải nền có sợi thủy tinh 53
Hình 2.7 Hình dạng và kích thước của mẫu thử 54
Hình 3.1 Hình ảnh mẫu D1 bị kéo đứt, kéo giãn 62
Hình 3.2 Hình ảnh mẫu D2 bị kéo đứt, giãn 62
Hình 3.3 Mẫu D1 bị xé 64
Hình 3.4 Hình ảnh mẫu D3 bị xé 64
Hình 3.5 Hình ảnh kết quả các mẫu bị mài mòn 65
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU, BẢNG
Bảng 1.1 Yêu cầu đối với các chi tiết làm lót giầy 43
Bảng 2.1 Các mẫu da 46
Bảng 2.2 Sơ đồ các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 48
Bảng 3.1 Kết quả xác định thành phần của vật liệu giả da 56
Bảng 3.2 Cấu trúc của vật liệu giả da 59
Bảng 3.3 Kết quả đo độ bền kéo và độ giãn đứt của vật liệu giả da 61
Bảng 3.4 Kết quả đo độ bèn xé 1 cạnh của vật liệu 63
Bảng 3.5 Kết quả đo độ thấm nước của vật liệu giả da 66
Bảng 3.6 Kết quả đo độ ổn định của vật liệu giả da 67
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
Trong sản xuất sản phẩm da giầy sử dụng nhiều loại nguyên vật liệu: da
thuộc, da nhân tạo, vải, cao su, chất dẻo v.v Da nhân tạo ngày càng được sử dụng
nhiều trong sản xuất giầy và các sản phẩm da như túi, cặp, ví v.v… do sản lượng da
thuộc không đáp ứng được nhu cầu tăng mạnh về sản phẩm da giầy Mặt khác sự
phát triển của công nghiệp hóa chất, công nghiệp tạo xơ, sợi vải đã tạo điều kiện
phát triển sản xuất da nhân tạo có chất lượng tốt, giá thành rẻ Một số loại da nhân
tạo từ xơ vi mảnh có các tính chất gần đạt như da thuộc
Trong lĩnh vực sản xuất giầy, hầu hết các nghiên cứu về nguyên liệu tập
trung vào các vùng chính của giầy đế, mũi giầy, không nhiều các nghiên cứu chú ý
tới những phần như lót giầy Trong khí đó lót giầy đóng một vai trò quan trọng
trong việc tạo cảm giác thoải mái cho bàn chân khi vận động Đa phần vật liệu dùng
làm lót giầy sử dụng da nhân tạo nhằm làm hạ giá thành sản phẩm Việc đánh giá
mức độ phù hợp của giả da khi sử dụng làm lót giầy là cần thiết nhằm khuyến các
nhà sản xuất lựa chọn đúng chủng loại giả da để đạt được chất lượng lót giầy theo
yêu cầu
Đề tài lựa chọn “Nghiên cứu đánh giá vật liệu giả da dùng làm lót giầy tại
Việt Nam”, với mục tiêu xác định, đánh giá một số tính chất cơ lý và so sánh với
các tiêu chuẩn nhằm đánh giá chất lượng của vải giả da sử dụng làm lót giầy Trong
phạm vi của luận văn chỉ nghiên cứu một số mẫu tiêu biểu được sử dụng sản xuất
tại công ty Ladoda và trên thị trường
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 1.1 Các loại vật liệu sử dụng làm lót giày
1.1.1 Da thuộc [2,3]
1.1.1.1 Giới thiệu về Da thuộc[2]
Hình 1.1 Cấu trúc của da động vật
Da thuộc – lớp bì của da động vật, là một dạng vật liệu bền và dẻo được chế
biến thông qua quá trình thuộc da của da động vật, như da bò, trâu, dê, cừu non, nai,
cá sấu, đà điểu, v.v , nhưng thông dụng nhất là da bò Da thuộc có thể được sản
xuất bằng nhiều phương pháp khác nhau, ở quy mô lớn hay nhỏ, từ thô sơ cho tới
cầu kỳ
Trang 12Bộ da động vật cấu tạo từ lớp lông phủ, lớp biểu bì, lớp bì và lớp thịt dưới da
(bạc nhạc)
- Lớp biểu bì: là lớp bề mặt phân bổ trực tiếp dưới lớp lông phủ và cấu tạo từ
một số dãy tế bào sừng Biểu bì không có ranh giới rõ ràng với lớp bì
- Lớp bì: là lớp chính của con da nằm ngay dưới lớp biểu bì, được tạo thành
bởi sự đan xen phức tạp của các xơ collagen, xơ đàn hồi, có lượng không lớn các
loại protit, không có cấu trúc xơ
- Lớp mỡ (bạc nhạc) dưới da: nằm dưới lớp bì và cấu tạo từ các xơ collagen
dày, xốp phân bố nằm ngang và các xơ đàn hồi, giữa chúng có nhiều mạch máu
- Để tạo ra da thuộc phải qua giai đoạn sơ chế chuẩn bị cho tấm da sạch,
mềm, và dễ thẩm thấu các chất hóa học hay tự nhiên sẽ được sử dụng để biến tấm
da sống thành da thuộc để dùng trong thời trang, may mặc, và các ngành công
nghiệp khác Trước tiên, da được lọc cẩn thận khỏi các thớ thịt và mỡ, rồi được
phân loại cẩn thận theo chủng loại da và chất lượng Sau đó da được ngâm để giũ
sạch các chất bẩn Tiếp theo, 1 loại vôi nước được sử dụng để tẩy lông đồng thời
loại bỏ 1 số chất đạm, sợi trong da và thay đổi ít nhiều cấu trúc của da để da sẽ thẩm
thấu tốt hơn những hóa chất sẽ được sử dụng trong công đoạn kế tiếp Tùy theo nơi
sản xuất, các chất hóa học hay các chiết xuất từ thiên nhiên sẽ được sử dụng để làm
da mềm hơn, dai bền hơn, chống thấm nước tốt hơn, và giữ không bị thối rữa theo
thời gian Sau đó da được phơi ráo nước, bôi dầu, phơi khô, nhào cho mềm và đều
dầu, cán phẳng, và nhuộm màu theo nhu cầu
1.1.1.2 Thành phần hóa học của da thuộc
Các thành phần cấu tạo nên da là các chất hữu cơ và vô cơ
- Chất vô cơ: Nước chiếm 60-70% và các chất khoáng 0.35-0.5%
- Chất hữu cơ: Các protit không có cấu trúc xơ (non structural protein ) như
các albumin, globumin và protit có cấu trúc xơ (structural protein)
Các chất protit chiếm khoảng 80% toàn bộ các chất khô của da bao gồm:
collagen 50 ÷ 80%, các chất không phải protit collagen 20 ÷ 50% Trong lớp bì của
da nguyên liệu collagen chiếm hơn 80% Protít cấu tạo rất phức tạp, khi thủy phân
Trang 13protít thu được 20 aminoaxit khác nhau, mà trong thành phần collagen có 18
aminoaxit khác nhau Các aminoaxit liên kết với nhau và được định hình bởi các
mạch peptít của protít
Ngoài thành phần hóa học, cấu tạo mạch của collagen cũng không giống với
các protít khác, cấu trúc mạch không gian của collagen rất phức tạp gồm có 4 bậc
cấu trúc khác nhau Khoảng 700 ÷ 800 phân tử collagen tạo thành 1 xơ mịn đường
kính khoảng 100 nm, trong đó 200 - 1000 xơ mịn kết hợp lại thành các xơ thành
phần và từ 30 - 300 xơ thành phần này liên kết lại thành các xơ, và các xơ đan bện
với nhau tạo nên lớp bì của da nguyên liệu Mỗi phân tử collagen chứa 3 mạch
peptit và mỗi mạch peptit chứa khoảng 1052 phân tử aminoaxit
a)
Trang 14b)
Hình 1.2 Công thức chung của aminoaxit (a) và mạch polypeptit (b)
1.2.1.3 Các tính chất của da thuộc: [3]
Hình 1.3 Sơ đồ định hướng các chùm xơ ở các phần khác nhau của con da
Các tính chất của da phụ thuộc chủ yếu vào tính chất của collagen, và sự
định hướng của các chùm xơ collagen trên các phần của con da là tương đối khác
nhau (hình 1.3) Tính chất của collagen được xác định bởi cấu tạo hóa học, dạng và
các đặc điểm của các nhóm chức và các mối liên kết xuất hiện giữa chúng Tùy
thuộc vào loại da và chế phẩm khác nhau mà có tính chất khác nhau
Trang 15- Da có thể hấp thụ nước từ 20 ÷ 60 % Khả năng hút nước tốt của da là do
trong xơ collagen có chứa nhiều nhóm –NH2 và -COOH có khả năng hút nước Da
có thể chịu được axit vô cơ hữu cơ yếu, khi tăng nồng độ kết hợp nhiệt độ thì da sẽ
bị phá hủy Da sau thuộc bền hơn dưới tác dụng của axit, độ bền với axit của các
con da phụ thuộc vào loại da, hóa chất thuộc và cách thuộc chúng
- Da kém bền trong môi trường kiềm hơn môi trường axit Trong môi trường
kiềm kết hợp nhiệt độ da sẽ bị phá hủy Da chưa thuộc trong dung dịch NaOH 5%
đã bị phá hủy, tuy nhiên da sau khi thuộc độ bền với kiềm cao hơn rất nhiều so với
da trước khi thuộc
- Độ bền với kiềm của các con da phụ thuộc vào loại da, hóa chất thuộc và
cách thuộc chúng
- Da có độ bền cơ học cao Da cật có khả năng chịu mài mòn cao chịu lực
kéo tốt Da cật có độ bền cơ học tốt hơn da váng Tùy loại da và phương pháp thuộc
mà cho tính chất cơ học khác nhau
- Độ bền kéo giãn: Từ 8-10 đến 30-40 N/mm2 tùy thuộc vào các loại
(nguyên liệu và sản xuất, độ ẩm )
- Khả năng chịu nhiệt: Da đều có tính chất chung là khi gặp nhiệt độ cao thì
co và biến dạng Các loại da khác nhau có nhiệt độ biến dạng khác nhau, nhiệt độ
mà đa số da có thể chịu được mà không bị biến dạng là 78o
C Da thuộc có khả năng chịu nhiệt độ đến 200°C (cao hơn nhiệt độ này da bị nhiệt phân) Khi tiếp xúc với
khoảng nhiệt độ từ 130o đến 170 °C trong hàng chục phút chưa xuất hiện thay đổi
nhiều trong cấu trúc da Để kháng nhiệt tốt hơn, da cần được xử lý đặc biệt
- Độ giãn: Dao động lớn, phụ thuộc vào nguyên liệu và sản xuất, độ ẩm
- Khả năng lơi: Quá trình chuyển dần dần của hệ từ trạng thái không cân
bằng do tác động của các nguyên nhân bên ngoài về trạng thái cân bằng Khả năng
làm trung hòa được sức căng tạo được hình dạng và tính ổn định
+ Lơi biến dạng: còn lại đặc trưng cho tính dẻo của da Khả năng nhận được
hình dạng cần thiết khi sản xuất sản phẩm da Độ giãn đàn hồi- độ đàn hồi của da(
khả năng duy trì hình dạng nhận được trong quá trình sử dụng)
Trang 16+ Lơi ứng lực: có liên quan đến khả năng của da duy trì hình dạng nhận được
trong quá trình định hình
- Độ thông khí: Phụ thuộc vào da nguyên liệu, mức độ phân tách cấu trúc xơ
của da trong quá trình sản xuất, sự lấp đầy da bởi chất thuộc, dầu mỡ và các chất
phủ mặt…Các lớp phủ mặt da làm giảm độ thông khí
- Hơi ẩm truyền qua vật liệu bằng không khí, qua các khe hở giữa các phân
tử của vật liệu, qua đường truyền ẩm
- Độ thông hơi: Phụ thuộc vào độ thông khí và tính mao dẫn của da Là khả
năng của vật liệu cho hơi ẩm thông qua khi có độ chênh lệch giữa hai bề mặt Độ
thông hơi của da phụ thuộc vào đặc trưng của lớp màng phủ mặt Da lợn cho khả
năng thông hơi tốt hơn các da khác
VD: Độ thông hơi của da thuộc crom có lớp phủ mặt casein đạt
4-7mg/cm2.h, phủ mặt bằng nhựa acrylic thấp hơn hai lần, phủ bằng nitroxenllulo thấp
hơn 3 lần
- Độ hút nước: Khả năng của da hút nước khi một mặt hoặc hai mặt được
nhúng (tiếp xúc) với nước sau 2 hoặc 24 giờ Độ hút nước của da rất khác nhau
Sau 2 giờ độ hút nước của da làm lót giầy đạt 50 - 60%
1.2.1.4 Một số loại da
- Da váng: có cấu tạo từ các chùm xơ collagen mỏng đan xen vào nhau nên
rất mềm mại, khả năng thẩm thấu không khí và hơi nước tốt, độ bền đứt kém, dễ
bẩn, khó vệ sinh
- Da bò: là loại da nguyên liệu chính, chiếm khoảng 70% thị phần da nguyên
liệu
- Da lợn có cấu tạo rất đặc thù, lớp biểu bì liên kết yếu với lớp lông tương
đối cứng và chiếm 2-5% độ dày của lớp bì, da lợn có lớp bề mặt xốp và sần sùi nên
có độ bền mài mòn, độ thông hơi tốt
Trang 171.1.2 Giả da
Vải giả da hay còn gọi là vải tráng phủ là vật liệu nhân tạo được tạo bởi việc
kết hợp một lớp vải nền hoặc lớp đệm xơ với lớp tráng phủ bên trên.Vải nền là vải
dệt, lớp vải nền có thể là vải dệt kim, dệt thoi thô hoặc vải láng (dệt chéo), vải
không dệt, được tạo bởi nguyên liệu tự nhiên hoặc nguyên liệu tổng hợp Lớp đệm
xơ thường là từ xơ tổng hợp như polyesste Nhựa tráng phủ trên lớp nền hoặc kết
dính xơ của lớp đệm xơ và tạo nên lớp màng tráng phủ là một lớp nhựa tổng hợp
PVC hoặc PU Để tăng thẩm mỹ cho vải giả da, người ta có thể tạo ra nhiều sản
phẩm giả da khác nhau bằng cách tạo nhiều hoa văn và màu sắc, cũng có thể ép vân
hình để tạo cho da hình thức đẹp đáp ứng nhu cầu của khách hàng
Vải giả da rất đa dạng và tùy thuộc vào thành phần nguyên liệu được sử
dụng Màng polyme và lớp phủ mặt cho da nhân tạo có cấu trúc đặc (chặt chẽ), đặc
– xốp và xốp với các lỗ kín hoặc hở Màng polyme được cấu tạo từ một số lớp vật
liệu polyme được liên kết với nhau bằng các phương pháp khác nhau Các polyme
tạo màng có nguồn gốc thiên nhiên, nhân tạo và tổng hợp như polyvinylclorua(da
PVC), polyamid(da nhân tạo Polyamid), polyuretan(da PU), polyetylen,
polypropilen, các loại cao su, copolyme , sử dụng các chất phụ gia như dung môi,
chất làm mềm, làm dẻo, chất ổn định, chất lão hóa…
Cấu tạo của da nhân tạo đặc trưng bởi lớp nền, đó là vật liệu dạng màng hoặc
vải dệt Nếu nền vật liệu dạng màng thì đặc trưng cấu tạo của da nhân tạo là thành
phần hóa học và cấu tạo của vật liệu dạng màng: đặc, đặc – xốp, xốp Chất độn có
thể là collagen, xenlulo và các loại xơ thiên nhiên và hóa học khác cũng như các
vật liệu khác Nếu nền là vải dệt thì đặc trưng cấu tạo là các chỉ số tính chất tương
ứng của vải dệt cũng như dạng và số lượng lớp keo [3]
Trang 18Hình 1.4 Các mẫu giả da
* Tính chất của giả da:
- Độ đàn hồi kém da thuộc, phụ thuộc vào lớp nền và màng polymer tráng
phủ
- Độ bền đứt và giãn đứt tùy thuộc nhiều vào thành phần tạo lớp nền và lớp
phủ mặt, độ giãn đứt cao
- Độ bền mài mòn phụ thuộc nhiều vào lớp tráng phủ
- Độ hút ẩm, hút nước, độ thông hơi, thông khí kém da thuộc, có tính vệ sinh
kém
Trang 191.1.2.1 Đặc điểm của lớp tráng phủ
a PVC- polyvinylclorua
Polyvinyl clorua (PVC) có lịch sử phát triển hơn 100 năm qua Năm 1835
lần đầu tiên Henri Regnault đã tổng hợp được vinylclorua, nguyên liệu chính để tạo
nên PVC Polyvinyl clorua được quan sát thấy lần đầu tiên 1872 bởi Baumann khi
phơi ống nghiệm chứa vinylclorua dưới ánh sáng mặt trời [14]
Hình 1.5 Cấu tạo của polyvinylclorua
Tính chất của PVC
+ Độ ẩm 5%
+ PVC không tan trong nước, dù là nước nóng 70 – 75o
C hoặc nhiệt độ sôi
vì mạch phân tử của nó không chứa nhóm chức ưa nước Ở nhiệt độ cao PVC chỉ bị
mềm hóa và biến dạng
+ Dung dich PVC không màu, trong suốt
+ Dung dich PVC cho màng polymer đàn tính cao và độ bền cao
+ PVC không độc, nó chỉ độc bởi phụ gia, monome VC còn dư, và khi gia
công chế tạo sản phẩm có sự tách thoát HCl PVC chịu va đập kém Để tăng cường
độ bền va đập cho PVC thường dùng chủ yếu các chất sau: MBS, ABS, CPE, EVA
với tỉ lệ từ 5 - 15% PVC là loại vật liệu cách điện tốt, các vật liệu cách điện từ PVC
thường sử dụng thêm các chất hóa dẻo tạo cho PVC này có tính mềm dẻo cao hơn,
dai và dễ gia công hơn
+ Tỉ trọng của PVC vào khoảng từ 1,25 đến 1,46 g/cm3 (chất dẻo chìm trong
nước), cao hơn so với một số loại chất dẻo khác như PE, PP, EVA (chất dẻo nổi
trong nước)
Trang 20+ Khối lượng riêng: 1,45 - 1,50 g/cm3
+ Độ bền kéo đứt: 500 – 700 kg/cm2
+ Độ bền uốn: 800 – 1200 kg/cm2
+ Độ bền nén: 800 – 1600 kg/cm2
+ Độ thấm nước (ASTM): 0.04-0.4
+ Mô đun đàn hồi: 4000 - 10.000 kg/cm2
+ Độ giãn dài khi đứt: 10 - 25%
+ Hệ số giãn nở dài: 0,00006 - 0,00007
+ Độ dẫn nhiệt: 3,8 - 4.10-4
cal/cm.s.oC + Nhiệt độ nóng chảy: 80oC
+ Nhiệt độ mềm hóa: 85oC
Phản ứng trùng hợp của PVC
b PU- Polyuretan
Polyuretan (PUR và PU) là một polyme bao gồm một chuỗi các hóa học hữu
cơ đơn vị tham gia carbamate (urethane) liên kết Trong khi hầu hết polyuretan
được polymer nhiệt rắn không tan chảy khi bị nung nóng, polyuretan nhiệt dẻo cũng
có sẵn
Polyme polyuretan được hình thành bởi phản ứng của một Isocyanate với
một polyol Cả isocyanat và polyol sử dụng để làm polyuretan có trung bình hai
hoặc nhiều nhóm chức năng mỗi phân tử Sản phẩm polyuretan thường được gọi
đơn giản là "urethane", nhưng không nên nhầm lẫn với ethyl carbamate, còn được
gọi là urethane
Trang 21PU có độ bền cao, độ cứng cao, mô-đun đàn hồi cao, tính kháng mài mòn,
tính uốn dẻo và tính kháng với nhiều hóa chất
Phản ứng tổng quát của PU
c Polyetylen – PE
Polyetylen là một Polymer gồm nhiều nhóm etylen CH2-CH2 liên kết với
nhau Polyetylen được điều chế bằng phản ứng trùng hợp các monomer etylen
(C2H4)
Polyetylen màu trắng, hơi trong, không dẫn điện và không dẫn nhiệt, không
cho nước và khí thấm qua
Tùy thuộc vào loại PE mà chúng có nhiệt độ hóa thủy tinh Tg ≈ -100 °C
và nhiệt độ nóng chảy Tm ≈ 120 °C
Polyetylen có tính chất hóa học như hydrocacbon không no như không tác
dụng với các dung dịch axít, kiềm, thuốc tím và nước brôm
Ở nhiệt độ cao hơn 70oC PE hòa tan kém trong các dung môi như
toluen, xilen, amilacetat, tricloetylen, dầu thông, dầu kháng… Dù ở nhiệt độ cao,
PE cũng không thể hòa tan trong nước, trong các loại rượu béo, aceton,
etylic, glicerin và các loại dầu thảo mộc
Trang 22
d Polyaramid – PA
- Polyaramid- PA: là polymer chứa các monomer, là các amide nối với nhau
bằng liên kết peptit Các polyamide có thể được tổng hợp tự nhiên (tơ và len) hoặc
nhân tạo ví dụ như nylon, aramid…
- Tính chất nhiệt: PA có độ bền nhiệt phụ thuộc vào các biến thể PA có thể
chịu được nhiệt độ từ 80o
đến 120oC, một số biến thể ổn định có thể được sử dụng trong một thời gian ngắn với nhiệt độ lên tới 200o
C
Hầu hết các biến thể PA là dễ cháy và bắt đầu phân hủy ở trên 300o
C Trên
450oC đến 500oC đốt trở nên tự duy trì và PA sẽ tiếp tục đốt cháy khi nguồn phát
lửa được lấy ra Khi cháy ngọn lửa có màu xanh và có mùi của sừng đốt
* Sợi polyamide
- Sợi polyamide có độ bền cơ học cao
- Polyamide là nhựa nhiệt dẻo, nên sợi polyamide bị biến dạng nhiệt độ cao
- Độ bền với tác nhân hóa học
Sợi polyamide tương đối bền với kiềm sợi polyamide lại kém bền với axit
mà đặc biệt là axit khoáng và ở nhiệt độ cao Sợi polyamide nhạy cảm với tác dụng
của chất oxy hóa vì thế những chất oxy hóa mạnh vẫn thường dùng trong công
nghiệp Khi tiếp xúc với ngọn lửa thì sợi polyamide bị chảy mềm thành hạt trắng,
sau đó cháy chậm Sợi polyamide có tính chất lưỡng tính, nghĩa là dưới tác dụng
của axit và bazơ nó sẽ tạo thành muối, kém đồng nhất về thành phần hóa học (mạch
phân tử không đều) do đó ảnh hưởng không tốt tới độ bền màu của sợi khi nhuộm
* Aramid
Aramid hay aromatic polyamide là xơ dệt thuộc dòng PA Xơ Aramid là xơ
biến tính từ PA thay vì nhóm -CH2- trong mạch của Aramid có chứa nhân thơm
- Cấu trúc hóa học:
Trang 23Polyacryonitrile còn được gọi là Creslan 61, là một tổng hợp emicrystalline
polymer nhựa nhiệt dẻo, không tan trong điều kiện thường
Trang 24Hầu hết các loại nhựa polyacrylonitrile là copolymer được làm từ hỗn hợp
của monomer với acrylonitrile, là một polymer linh hoạt PAN có màu trắng hoặc
hơi vàng đục, mật độ 1.18g/ml, PAN khó hòa tan và rất khó nhuộm Nhiệt độ làm
mềm và phân hủy cao Ở nhiệt độ trên 200oC không bị nóng chảy, chỉ bị biến màu,
nóng chảy ở 317oC
Sợi PAN bắt đầu nghiên cứu trong những năm 1930, theo luật pháp Đức vào
năm 1931, lần đầu tiên được sản xuất polyacrylonitrile của Công ty (PAN), nhưng
vì polyme không hòa tan trong các dung môi hữu cơ nhất là vô cơ, và nhiệt độ nóng
chảy là cao hơn nhiệt độ phân hủy, nó không được sử dụng nhiều Vào những năm
1940 sợi PAN lần đầu tiên được sản xuất bởi DuPont Sợi polyacrylonitrile được
kéo thành sợi với hơn 85% thành phần của một copolymer Xu hướng nghiên cứu
và phát triển sợi polyacrylonitrile có thể được tóm tắt trong hai khía cạnh, một là
một nghiên cứu quá trình hình thành sợi mới, chẳng hạn như phương pháp sử dụng
chất làm dẻo, tổng hợp poly-acrylonitrile copolymer, để làm giảm sự tương tác giữa
các đại phân tử polyacrylonitrile do đó làm giảm nhiệt độ nóng chảy của polymer để
tăng của quá trình tan chảy kéo sợi hoặc khô phun quá trình quay ướt, nồng độ bùn
quay, sợi hình thành để cải thiện các tính chất cơ học sau khi mục đích sợi thô Thứ
hai, là nghiên cứu về các tính chất mới của sợi polyacrylonitrile, chẳng hạn như
polyacrylonitrile chống cháy, sợi polyacrylonitrile đàn hồi cao, sợi polyacrylonitrile
Trang 25chống tĩnh điện, sợi có độ mảnh cao, sợi polyacrylonitrile kháng khuẩn, sợi
polyacrylonitrile có khả năng khử mùi, độ bền cao và sợi polyacrylonitrile mô đun
cao
Sợi PAN là tiền thân hóa học của cacbon, lần đầu tiên nhiệt oxy hóa trong
không khí ở 230o để tạo thành sợi PAN oxy hóa và sau đó hóa than trên 1000o trong
môi trường khí trơ để làm cho sợi cacbon
Hình 1.6 Cấu tạo của PAN
Do sự hình thành các liên kết hóa học mạnh mẽ giữa các nitrile (-CN) các
nhóm, các polymer phân tử chống lại hầu hết các dung môi hữu cơ và không tan
chảy mà không bị phân hủy
f Cao su [5]
Cao su tự nhiên có nguồn gốc từ nhựa cây cao su, trải qua phản ứng trùng
hợp tạo thành isopren với đôi chút tạp chất Điều này giới hạn các đặc tính của cao
su Thêm vào đó, những hạn chế còn ở tỷ lệ các liên kết đôi không mong muốn và
tạp chất phụ từ phản ứng trùng hợp mủ cao su tự nhiên Vì những lý do trên, các chỉ
số đặc tính của cao su tự nhiên bị suy giảm ít nhiều mặc dù quá trình lưu hóa có
giúp cải thiện trở lại
- Cao su tự nhiên: Là một loại chất có tính đàn hồi và tính bền thu được từ
mủ ( latex) của nhiều loại cây cao su, đặc biệt là loại cây Hevea brasiliensis
Mủ cao su thiên nhiên là dạng nhũ tương trong nước của các hạt cao su với
hàm lượng phần khô từ 28% - 40% Kích thước hạt cao su rất nhỏ, cỡ khoảng
0,05-3μm và có hình quả trứng gà Trong 1 gam mủ cao su với hàm lượng phần khô 40%
Trang 26có 5000 hạt với đường kính trung bình 0,26μm, tất cả các hạt này đều ở trạng thái
chuyển động Browner Cách khác để sản xuất cao su thiên nhiên là các lá cao su
được ép trong một khuôn với áp lực 35kg/cm2
trong nhiều giờ tạo thành các khối cao su
* Cấu tạo hóa học
Về mặt hóa học, cao su thiên nhiên là polyisopren - polyme của isopren
Mạch đại phân tử của cao su thiên nhiên được hình thành từ các mắt xích isopren
đồng phân cis liên kết với nhau ở vị trí 1,4
Ngoài đồng phân cis 1,4 trong cao su thiên nhiên còn có khoảng 2% mắt xích liên
kết với nhau ở vị trí 3,4
* Tính chất của cao su thiên nhiên
Ở nhiệt độ thấp, cao su thiên nhiên có cấu trúc tinh thể CSTN kết tinh với
Trang 27Nửa chu kỳ kết tinh ở -25°C: 2÷4 giờ N tinh thể nóng chảy ở 40°C
Ở nhiệt độ -30oC nó trở nên dễ gãy, ở trên 80oC mềm dẻo, ở nhiệt độ 230o
C
nó phân hủy
Cao su thiên nhiên tan tốt trong các dung môi hữu cơ mạch thẳng, mạch
vòng và CCl4 Tuy nhiên, CSTN không tan trong rượu và xê tôn Cao su là một loại
vật liệu polymer vừa có độ bền cơ học cao và có khả năng biến dạng đàn hồi lớn
- Cao su sống: là cao su chưa được qua các công đoạn chế biến gia công, nó
ít được sử dụng do đặc tính của nó
- Hợp chất cao su: cao su thiên nhiên khi cán luyện được cho thêm các hóa
chất và hốn luyện nhằm làm thay đổi tính chất của nó - sản phẩm tạo ra được gọi là
hợp chất cao su
Cao su tổng hợp được tạo ra từ phản ứng trùng ngưng các cấu trúc đơn bao
gồm isopren (2-methyl-1, 3-butadien), 1,3-butadien,
cloropren(2-cloro-1,3-butadien) và isobutylen (methylpropen) với một lượng nhỏ phần trăm isopren cho
liên kết chuỗi Thêm vào đó, các cấu trúc đơn này có thể trộn với các tỷ lệ mong
muốn để tạo phản ứng đồng trùng hợp mà kết quả là các cấu trúc cao su tổng hợp có
các đặc tính vật lý, cơ học và hóa học khác nhau
Cao su tổng hợp có khả năng co giãn tốt, là vật liệu có đặc tính cơ học, chịu
được sức ép thay đổi hình dạng hơn phần lớn các vật chất khác và vẫn phục hồi
hình dạng cũ Cao su tổng hợp được dùng thay thế cao su thiên nhiên trong rất
nhiều ứng dụng khi mà những đặc tính ưu việt của nó phát huy tác dụng
Ethylene – Propylene cao su và chất đàn hồi (EPDM và EPM) là một trong
những cao su tổng hợp được sử dụng rộng rãi và phát triển rất nhanh Cao su
ethylenme – propylene có giá trị cho sức đề kháng với nhiệt, quá trình ôxy hóa
* Tính chất : Cao su tổng hợp bền nhiệt, bền hóa chất (chịu được nhiệt độ cao,
chịu được các dung môi, tuổi thọ cao…)
- Trọng lượng: 45-80% KL
- Độ cứng: 30A-95A
- Độ bền kéo: MPa7-21
Trang 28- Độ giãn dài: 100-600%
- Độ nén: 20-60%
- Khả năng mài mòn kháng tốt
- Khả năng phục hồi tốt
- Chảy ở nhiệt độ cao
Cao su butadiene styrol: Cao su này thu được nhờ phản ứng polymer hóa
butadiene với styrol, cao su này không tan trong xăng, benzene, khi được độn bằng
than đen cao su có độ bền mài mòn rất cao
Cao su izopen: thu được nhờ phản ứng polymer hóa với izopen trong môi
trường hữu cơ với xúc tác lập thể
Cao su etylen propylene thu được nhờ phản ứng polymer hóa etylen và
propylene, chúng mềm ở nhiệt độ thấp, tỷ trọng thấp 860g.m-3 …
1.1.2.2 Đặc điểm của lớp cốt nền
a Vải dệt thoi: là loại vải do hai hệ thống sợi đan thẳng góc với nhau tạo
nên Hệ thống sợi nằm dọc theo chiều dài tấm vải gọi là sợi dọc, hệ thống sợi nằm
theo chiều ngang tấm vải gọi là sợi ngang
Tính chất của vải dệt thoi:
- Vải có cấu trúc tương đối bền, tốt
- Bề mặt vải khít, độ giãn dọc và giãn ngang ít, dễ bị nhàu
- Vải không bị quăn mép, không bị tuột vòng
- Đa dạng và phong phú về kiểu dệt, chất liệu
* Vải dệt trơn ( kiểu dệt vân điểm): là kiểu dệt đơn giản nhất sợi ngang và sợi dọc
đan nhau 1 trên và 1 dưới
+ Vải thô: Sợi ngang là sợi xe thô, sợi dọc là sợi cotton hoặc nilon Vải bạt
được làm từ sợi cotton xe đôi, nhuộm nhiều mầu
Trang 29Hình 1.7 Vải dệt thoi vân điểm
- Vải dệt kiểu vân đoạn: Mặt vải nhẵn và hơi bóng, mềm mại, tạo vải dệt
kiểu này kém bền chắc và các sợi đan tết với nhau lỏng lẻo kéo giãn ra dễ dàng
Hình 1.8 Kiểu dệt vân đoạn 1:4
Trang 30- Vải dệt vân chéo: là kiểu dệt mà sợi dọc và sợi ngang được đan nhau tối
thiểu ở dưới hoặc ở trên có 2 sợi bên cạnh, vải dệt này thường mềm và co giãn tốt
Kiểu dệt vân chéo 1:2 Kiểu dệt vân chéo 1:3
Hình 1.9 Kiểu dệt vân chéo
Vải flanen là loại vải mềm và ấm được chải ở cả hai mặt, đại đa số khi dệt
người ta thường tạo lông
b Vải dệt kim: là vải dệt hình thành bởi hệ một sợi có thể ngang hoặc dọc các
sợi hình thành các mắt lưới đan sợi này móc vào sợi kia Khi dệt sợi được uốn cong
thành những vòng sợi Các vòng sợi sắp xếp định hướng thành hàng ngang (hàng
vòng), và cột dọc (cột vòng)
Tính chất của vải dệt kim:
- Bề mặt thoáng, mềm, xốp
- Giữ nhiệt, thẩm thấu tốt
- Ít nhầu, dễ bảo quản và giặt sạch
- Vải dễ bị quăn mép và dễ tuột vòng
- Vải dệt kim có độ dãn lớn hơn vải dệt thoi
Vải tricot không thấm nước, vải bonekan là một loại vải dệt kim lông
Trang 31Hình 1.10 Kiểu dệt vải dệt kim
c Vải không dệt: là loại vải mà các sợi được xử lý bằng nhiệt,cơ khí và hóa
chất để kết lại với nhau Vải không dệt nhẹ, ấm nhưng kém bền, độ giãn lớn và sự
không đồng đều về tính chất
Vải không dệt Camprrela là loại vải được làm từ 100% polypropylene (PP)
có khối lượng từ 15-260g/m2 Vải được sản xuất theo phương pháp ép –gia nhiệt,
vải có khả năng thông hơi tốt, nhưng có độ kháng thấm nước cao, có độ bền kéo
giãn cao, mềm mại, không độc,nhẹ,chống tĩnh điện, kháng khuẩn, là loại vật liệu
thân thiện với môi trường
Hình 1.11 Ngoại hình vải không dệt Camprrela
Trang 321.1.3 Nhựa [ 1]
Nhựa là các chất cao phân tử được sản xuất bằng cách nối các phân tử đơn
thành mạch móc xích vào nhau Nhờ tính chất dễ biến chuyển trạng thái nên chúng
được sử dụng nhiều trong công nghệ sản xuất giày
Nhựa nhiệt dẻo: Là loại nhựa dưới tác dụng của nhiệt chúng mềm ra và dễ
đúc, sau khi làm lạnh chúng trở lại trạng thái ban đầu, giá trị của chúng chính là khả
năng tái sản xuất
Nhựa nhiệt cứng: Là loại nhựa dưới tác dụng của nhiệt độ chúng thay đổi
cấu trúc hóa học và trở thành chất không tan chảy và không hòa tan trong dung môi,
không thể hóa dẻo lại và không thể tái sản xuất được
Nhựa PVC là vật liệu nhựa quan trọng nhất, chúng được sản xuất bằng cách
trùng hợp vinylclorit, sản phẩm thu được ở dạng bột không tan trong nước, dầu và
các hydrocacbon mạch thẳng Ở nhiệt độ 80oC nó vẫn giữ được tính chất cơ lý của
nó Nhựa PVC chỉ cháy trong ngọn lửa, trọng lượng riêng của nó lớn hơn nước Có
độ bền cơ học và hóa học cao, tính cách điện tốt
Nhựa PVC rất rẻ, có hai loại nhựa PVC: PVC cứng là hỗn hợp PVC không
chứa chất hóa dẻo trong thành phần chỉ có chất ổn định và chất độn Nhựa PVC
mềm là hỗn hợp PCV với các chất hóa dẻo, nhờ đó nhiệt độ chảy nhớt giảm dễ gia
công thành sản phẩm
- Nhựa polystyrene (PS): Nhựa PS được sản xuất bằng cách trùng hợp
vinylbenzen (Styren) Nhựa cứng và giòn dễ vỡ Ở nhiệt độ 80oC – 100oC nhựa PS
sẽ mềm ra, PS không tan trong nước và bền với các axit hữu cơ và axit vô cơ, chúng
hòa tan trong các hydrocacbua thơm Để sử dụng trong công nghiệp giày người ta
trùng hợp nó với butadiene nhằm biến tính dễ giòn gẫy của nó
- Nhựa Polyetylen (PE):
Vật liệu này được làm bằng cách trùng hợp etylen, chúng có tỉ trọng thấp
hơn so với nước, nhìn giống paraffin khi cháy có ngọn lửa nhỏ màu xanh và tan
chảy nhỏ giọt như nến
Trang 33- Nhựa polyeretan (PU): là nhựa có độ bền cao, độ mài mòn rất tốt Chúng
được sản xuất bằng phản ứng kết hợp các diol cao phân tử với di-izoxianat
- Cao su nhựa nhiệt dẻo: là một nhóm các vật liệu mà ngày càng được sử
dụng nhiều trong sản xuất giày Nó có tính chất dễ gia công của chất dẻo và có tính
đa dạng của cao su nên có thể phun, đúc như chất dẻo mà không cần lưu hóa Thành
phần của những vật liệu này rất khác nhau nhưng đại đa số là polystyrene-
butadiene hoặc hệ thống polyolefin
1.1.4 Keo dán [1]
- Keo dán có độ bền nhất định trong thời gian bảo quản và sử dụng, keo
không có mùi khó chịu, không gây dị ứng, không chứa chất độc hại cho cơ thể
người, thuận tiện về mặt công nghệ thời gian bắt đầu ngưng kết ngắn đảm bảo sự
định vị các chi tiết cần dán, khô nhanh dưới tác động của nhiệt độ và tia hồng ngoại,
bền nhiệt trong khoảng nhiệt độ cần thiết
- Keo liên kết một cấu tử polycloropren với mối dán vĩnh viến để dán đế với
da, cao su, giả da nhân tạo… Có độ bám dính ban đầu cao và chịu nhiệt tốt
- Keo liên kết hai cấu tử polycloropren để dán đế cao su xốp, đúc, đế kếp,
cao su nhiệt dẻo
- Keo polyuretan dán đế da, giả da PU, PVC cũng như các loại đế cao su
halogen hóa và cao su nhiệt dẻo nhờ gia nhiệt, có thể sử dụng như keo một cấu tử
hoặc hai cấu tử với tác nhân D
Keo phân tán PU dán đế không cần pha dung môi nhờ gia nhiệt
Qua quá trình nghiên cứu các loại vật liệu làm lót giày cho thấy vật liệu làm
lót giày rất đa dạng và phong phú về chủng loại trên thị trường Để đáp ứng nhu cầu
thị hiếu người tiêu dùng, đảm bảo tính tiện nghi sinh thái, vệ sinh, giảm chi phí giá
thành Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn lựa chọn vật liệu làm lót giày là giả
da để tiến hành nghiên cứu khảo sát, đánh giá
Trang 341.2 Một số tính chất cơ bản của vải giả da
1.2.1 Khả năng hút ẩm:
- Độ hút ẩm: Là khả năng hút ẩm của vật liệu từ môi trường không khí xung
quanh và lưu giữ trong các điều kiện xác định Độ hút ẩm được xác định bằng tỷ số
khối lượng ẩm vật liệu hấp thụ được từ không khí có độ ẩm tương đối và nhiệt độ
xác định với khối lượng vật liệu khô và tính phần trăm
Độ hút ẩm phụ thuộc vào cấu trúc mật độ, độ dày, độ hút ẩm ảnh hưởng đến
tính vệ sinh của giầy
- Độ hút nước của vải phụ thuộc vào độ dày và cấu trúc của vải Nó ảnh
hưởng đến tính vệ sinh của giầy
- Độ thẩm thấu nước là khả năng vật liệu cho phép nước xuyên qua Độ thẩm
thấu của vật liệu phụ thuộc vào kiểu dệt, độ dày, mật độ của lớp cốt nền
- Độ thẩm thấu hơi nước là khả năng của vật liệu cho phép ẩm ở dạng hơi
nước đi qua
- Vật liệu làm lót giầy phải có thẩm thấu và hút ẩm thật tốt
- Để đảm bảo tính vệ sinh và sự thoải mái cho đôi chân, vật liệu phải có độ
hút ẩm tối thiểu là 4mg.cm -2 .(8h) -1 [13]
Vải không dệt được tráng phủ một lớp nhựa polyvinylclorua hay polyuretan
thì độ thẩm thấu bị giảm đi
Vải giả da phủ lên bề 1 lớp nhựa Polyuretan (PU) để tạo cảm giác mềm mại,
trơn trượt, và dễ lau chùi, giúp cho sản phẩm dễ dàng lưu thông không khí, không bị
đọng nước, mồ hôi
1.2.2 Độ bền:
Vật liệu làm lót giầy phải có độ bền kéo đứt, độ bền xé tốt
Độ bền của vật liệu phụ thuộc vào loại sợi, độ nhẵn, quăn, độ bền của xơ,
sợi và mật độ xơ sợi Về lý thuyết độ bền của vật liệu bằng tổng độ bền kéo của tất
cả các loại xơ sợi Độ bền kéo giảm khoảng 10% theo hướng dọc và khoảng 15%
theo hướng ngang khi dệt (do sự biến dạng của các xơ sợi)
Trang 35Độ bền đứt của vật liệu có tầm quan trọng rất lớn khi vật liệu được kéo trong
quá trình gia công
- Độ bền giãn của vải được xác định trên thang tương ứng của máy kéo đứt
khi tiến hành kéo giãn các mẫu thử có kích thước phần làm việc là 50mm
- Độ giãn đứt tùy thuộc nhiều vào thành phần tạo lớp nền và lớp phủ mặt, độ
giãn đứt cao
1.2.4 Độ bền mài mòn
Vải giả da có độ bền mài mòn tương đối tốt Độ bền mài mòn phụ thuộc vào
tính chất của lớp tráng phủ bề mặt
Vật liệu giả da có thể tạo được nhiều màu sắc đẹp, lạ, vân và hoa văn in trên
da cũng phong phú và đa dạng Ít bị bạc màu bởi tia UV
1.3 Các phương pháp sản xuất vải giả da
1.3.1 Phương pháp tráng phủ dùng dao gạt
Đây là phương pháp lâu đời nhất Lớp vải nền được đưa vào trục tráng phủ
bằng dao gạt Vật liệu tráng phủ được đổ vào bằng thùng rót hoặc bằng máy bơm
trên toàn bộ chiều rộng của lớp nền Lớp nền chuyển động và dưới tác dụng của dao
gạt, lớp màng polymer tráng phủ đều trên toàn bộ bề mặt lớp nền Hầu hết các máy
có độ rộng vải từ 1,5 – 2,0m Vải tráng sau đó được đi qua các lò sấy, tỷ lệ bay hơi
của dung môi quyết định tốc độ vận chuyển của vải và cả tốc độ tráng phủ Độ dày
của lớp tráng phủ được điều khiển bởi kẽ hở giữa dao gạt và trục dẫn vải nền [7]