Sự vừa vặn của trang phục đang là vấn đề quan tâm của nhiều người tiêu dùng, nhà bán lẻ và nhà sản xuất ở các nước đang phát triển, ảnh hưởng đến nó chính là sự đa dạng vóc dáng hình thể
Trang 1-
HOÀNG THỊ ÁI NHÂN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NHẬN THỨC VÓC DÁNG TỚI SỰ LỰA CHỌN KIỂU DÁNG TRANG PHỤC CƠ BẢN CỦA NỮ NHÂN VIÊN VĂN PHÒNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Công nghệ Vật liệu Dệt may
LUẬN VĂN THẠC SĨ KĨ THUẬT
Hà Nội – Năm 2016
Trang 2-
HOÀNG THỊ ÁI NHÂN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NHẬN THỨC VÓC DÁNG TỚI SỰ LỰA CHỌN KIỂU DÁNG TRANG PHỤC CƠ BẢN CỦA NỮ NHÂN VIÊN VĂN PHÒNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Công nghệ Vật liệu Dệt may
LUẬN VĂN THẠC SĨ KĨ THUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TRẦN THỊ MINH KIỀU
Hà Nội – Năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn của
TS.Trần Thị Minh Kiều Kết quả nghiên cứu được thực hiện tại các công ty trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn Luận văn không có sự sao chép từ các luận văn khác về những nội dung, hình ảnh cũng như các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn
Người thực hiện
Hoàng Thị Ái Nhân
Trang 4Em xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo của công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Thương Mại và Dịch Vụ Nhất Minh Nguyên Địa chỉ: 87 hồ Văn Huê, phường 9, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho em thu thập thuận lợi bảng thông số của khách hàng công ty Đồng thời em cũng xin chân thành cảm ơn đến Ban lãnh đạo cùng các Chị nhân viên của các Công ty ở quận 1, quận 9, quận
10, quận 11, quận Thủ Đức, quận Bình Thạnh, quận Phú Nhuận, Ban lãnh đạo cũng như Quý thầy cô là giảng viên khoa Mỹ thuật trường đại học Văn Lang thành phố
Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho em được khảo sát, thu thập số đo, đánh giá chuyên gia cũng như nghiên cứu hoàn thành tốt luận văn
Trong quá trình thực hiện luận văn, em không ngừng học hỏi trau dồi kiến thức, tích cực tìm hiểu tài liệu kết hợp với kiến thức các thầy cô đã truyền đạt về lý thuyết và thực hành Tuy nhiên trong một khoảng thời gian ngắn và bản thân còn nhiều hạn chế trong quá trình nghiên cứu, em rất mong được sự góp ý của các thầy
cô giáo và các bạn
Người thực hiện
Hoàng Thị Ái Nhân
Trang 5MỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN 1
L ỜI CẢM ƠN 2
M ỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 7
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU……….9
PH ẦN M Ở ĐẦU……… 11
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 14
1.1 Phân loại vóc dáng 14
1.1.1 Phân chia nhóm tuổi trong nghiên cứu nhân trắc 14
1.1.2 Phân lo ại hình dạng cơ thể nữ 15
1.1.2.1 M ột số phương pháp phân loại hình dạng cơ thể 16
1.1.2.2 Hình d ạng cơ thể lý tưởng 20
1.1.2.3 M ột số phân loại nhóm hình dạng cơ thể phổ biến 22
1.1.2.4 Phân lo ại hình dạng cơ thể trong các nghiên cứu trước 26
1.2 Sở thích trang phục 28
1.2.1 L ựa chọn trang phục theo vóc dáng 28
1.2.2 Các y ếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn trang phục 29
1.3 Nhận thức hình thể 29
1.4 Độ vừa vặn của trang phục 30
1.5 Phom dáng trang phục 34
1.5.1 Sự phát triển của phom dáng trang phục 35
1.5.2 Phom dáng trang phục cơ bản hiện nay 37
1.5.3 Phom dáng tran g phục cơ bản phù hợp cho năm vóc dáng người 41
1.6 Phương pháp xử lý số liệu 44
1.6.1 Phương pháp phân tích phân cụm K-mean 44
1.6.2 Phương pháp phân tích biệt số 45
1.6.3 Phương pháp phân tích phương sai ANOVA 47
1.6.4 Phương pháp xử lý số liệu thống kê 47
Trang 61.7 Kết luận phần tổng quan 48
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN C ỨU 50
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 50
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 50
2.1.2 Ph ạm vi nghiên cứu 51
2.1.2.1 Ph ạm vi thu thập dữ liệu nhân trắc và phạm vi khảo sát 51
2.1.2.2 Xác định cỡ mẫu nghiên cứu 51
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 53
2.2.1 N ội dung 1: Phân loại vóc dáng 53
2.2.2 N ội dung 2: Thiết kế công thức phân loại vóc dáng 54
2.2.2.1 Phương pháp thiết kế công thức phân loại vóc dáng 54
2.2.2.2 Thi ết kế bảng Excel xác định vóc dáng cho từng đối tượng muốn xác định vóc dáng 55
2.2.3 N ội dung 3: khảo sát và đánh giá về mức độ quan tâm, sự tự nhận thức hình th ể và mức độ hài lòng đối với hình thể 56
2.2.4 N ội dung 4: phương pháp Đánh giá nhận thức vóc dáng 58
2.2.4.1 S ự tự đánh giá về vóc dáng 58
2.2.4.2 Thu th ập số đo cơ thể các đối tượng tham gia khảo sát về nhận thức vóc dáng 58
2.2.4.3 Đánh giá nhận thức vóc dáng 62
2.2.5 N ội dung 5: Đánh giá sự lựa chọn phom dáng trang phục cơ bản theo vóc dáng 62
2.2.5.1 Đối tượng thực nghiệm 63
2.2.5.2 Các bước tiến hành thực nghiệm, đánh giá 63
2.2.5.3 Đánh giá lựa chọn phom dáng trang phục của người mặc 64
2.2.5.4 S ự phù hợp phom dáng trang phục theo vóc dáng theo đánh giá của chuyên gia 67
2.2.5.5 So sánh k ết quả đánh giá lựa chọn phom dáng trang phục giữa người mặc và chuyên gia 69
Trang 72.3 Kết luận chương 70
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 71
3.1 Kết quả phân tích vóc dáng 71
3.1.1 Mô t ả dữ liệu thu thập được 71
3.1.2 K ết quả lựa chọn thành phần chính 72
3.1.3 K ết quả phân tích phân nhóm dạng người 73
3.1.3.1 K ết quả phân tích cụm, phân tích biệt số lựa chọn phân nhóm hình d ạng 73
3.1.3.2 K ết quả phân tích so sánh Anova cho ba nhóm 76
3.2 Kết quả xây dựng công thức phân loại vóc dáng 78
3.2.1 K ết quả phân tích biệt số và biện luận, xây dựng công thức 78
3.2.2 Xây d ựng bảng xác định vóc dáng cho người mẫu 80
3.3 Kết quả phân tích về mức độ quan tâm và độ hài lòng về hình dạng cơ thể 81
3.4 Kết quả so sánh giữa tự nhận thức với hình dạng cơ thể thực tế 83
3.4.1 Mô t ả số liệu nhân trắc của 107 mẫu khảo sát tự nhận thức vóc dáng 83
3.4.2 Đánh giá sự tự nhận thức vóc dáng của 107 mẫu khảo sát 83
3.5 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nhận thức vóc dáng đến sự lựa chọn phom dáng trang phục cơ bản 84
3.5.1 Kết quả chọn người mẫu 84
3.5.2 Kết quả may mẫu thực nghiệm 85
3.5.3 Kết quả lựa chọn phom dáng trang phục cơ bản của người mặc theo vóc dáng 91
3.5.3.1 Kết quả lựa chọn phom dáng trang phục cơ bản của 107 mẫu trước khi thực nghiệm đánh giá mẫu 91
3.5.3.2 Kết quả lựa chọn phom dáng trang phục cơ bản của 6 mẫu sau khi mặc thử trang phục thực nghiệm 92
3.5.3.3 Nhận xét sự tự lựa chọn phom dáng trang phục của người khảo sát trước và sau khi mặc thử 93
Trang 83.5.4 Kết quả lựa chọn phom dáng trang phục cơ bản theo vóc dáng của chuyên
gia 95
3.5.5 So sánh k ết quả sự lựa chọn phom dáng trang phục cho mỗi phân dạng vóc dáng 97
3.5.5.1 Kết quả so sánh lựa chọn phom dáng trang phục trước khi mặc mẫu thực nghiệm của 107 mẫu so với chuẩn đánh giá của chuyên gia 97
3.5.5.2 Kết quả so sánh lựa chọn phom dáng trang phục sau khi mặc mẫu thực của 6 người mẫu so với chuẩn đánh giá của chuyên gia 99
3.6 Nhận xét về sự ảnh hưởng của nhận thức vóc dáng đến sự lựa chọn phom dáng trang phục 100
K ẾT LUẬN 102
ĐỀ XUẤT HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 103
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 104
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình1: Phân loại vóc dáng theo BMI tăng dần 17
Hình 2: Mô phỏng dáng người của ba tỉ lệ chiều cao 21
Hình 3: Phân loại theo tám nhóm hình dạng 22
Hình 4: Phân loại theo bảy nhóm hình dạng 23
Hình 5: Phân loại theo năm nhóm hình dạng 23
Hình 6: Đặc điểm hình dạng đồng hồ cát 24
Hình 7: Đặc điểm hình dạng tam giác 24
Hình 8: Đặc điểm hình dạng tam giác ngược 25
Hình 9: Đặc điểm hình dạngchữ nhật 25
Hình 10: Đặc điểm hình dạng hình tròn 25
Hình 11: Phom dáng trang phục qua 34
Hình 12: Áo nịt ngực, váy lót 35
Hình 13: Phom dáng 35
Hình 14: Phom dáng trang phục thập niên 20, tạp chí “Delineator” 35
Hình 15: Phom dáng tiêu biểu của thập niên 30 “Patterns from 1930s” 36
Hình 16: Phom dáng trang phục từ năm 1940 đến năm 1953 (Được vẽ bởi Pauline Weston Thomas) 36
Hình 17: Phom dáng tiêu biểu của thập niên 50 36
Hình 18: Phom dáng trang phục thập niên 1960 37
Hình 19: Phom dáng trang phục thập niên 80 37
Hình 20: Một số phom dáng trang phục thập niên 1980 37
Hình 21: Một số phom dáng trang phục thập niên 90 37
Hình 22: Phom dáng chữ X, phom dáng ôm sát dành cho dạng người chữ X 41
Hình 23: Phom dáng chữ X, phom dáng chữ A, phom dáng chữ V (hình nêm) dành cho dạng người chữ A 42
Hình 24: Phom dáng chữ X, phom dáng chữ A, dành cho dạng người chữ V 42
Hình 25: Phom dáng chữ H, phom dáng chữ A, phom chữ X dành cho dạng người chữ H 43
Trang 10Hình 26: Phom dáng chữ A nhẹ nhàng, phom dáng ôm ngực xòe nhẹ phần dưới dành
cho dạng người chữ O 44
Hình 27: Sơ đồ quy trinh tiến hành phân tích cụm 45
Hình 28: Thước đo chiều cao 60
Hình 29: Thước dây 59
Hình 30: Các mốc đo cơ thể 61
Hình 31: Biểu đồ phân tán của năm nhóm hình dạng cơ thể 73
Hình 32: Biểu đồ phân tán của bốn nhóm hình dạng cơ thể 74
Hình 33: Biểu đồ phân tán mẫu của ba nhóm hình dạng 75
Hình 34: So sánh kết quả ba dạng cơ thể 77
Hình 35: Sơ đồ so sánh kết quả tự nhân thức và thực tế kiểm nghiệm của 107 mẫu 84 Hình 36: So sánh kết quả ba dạng cơ thể có vòng ngực bằng nhau 85
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Mô tả tỉ lệ chiều cao (Lyle & Brinkley, 1983:63) 20
Bảng 2: Bảng kết quả năm hình dạng người cho phụ nữ Việt Nam trong độ tuổi từ 35 đến 55 27
Bảng 3: Phom dáng cơ bản của áo, quần, váy, đầm 38
Bảng 4: Phom dáng biến thể cơ bản từ áo, váy, quần, đầm 39
Bảng 5: Phom dáng của một bộ trang phục cơ bản 40
Bảng 6: Thang đo linkert 5 48
Bảng 7: bảng phân tích thống kê mô tả số đo chiều cao đứng cơ thể 52
Bảng 8: Phiếu khảo sát sự tự nhận thức vóc dáng hình thể và mức độ hài lòng về cơ thể 56
Bảng 9: Mốc đo, đường nhân trắc và cách xác định 60
Bảng 10: Các kích thước cần đo và cách xác định 61
Bảng 11: Phiếu đo 62
Bảng 12: Sở thích lựa chọn trang phục 64
Bảng13: Phiếu đánh giá chủ quan của người mặc 66
Bảng 14: Phiếu đánh giá ngoại quan dành cho chuyên gia 68
Bảng 15: Bảng thống kê mô tả các thống số đo530 mẫu 71
Bảng 16: Kết quả phân tích ANOVA của ba nhóm 76
Bảng17: Bảng xác định vóc dáng 80
Bảng 18: Kết quả phân tích mô tả mức độ quan tâm và mức độ hài lòng về hình dạng cơ thể 81
Bảng 19: Mô tả số đo thu thập được của 107 mẫu 83
Bảng 20: Hình chụp các phom dáng trang phục cơ bản trên người mẫu vóc dáng chữ X 86
Bảng 21: Hình chụp các phom dáng trang phục cơ bản trên người mẫu vóc dáng chữ H 88
Bảng 22: Hình chụp các phom dáng trang phục cơ bản trên người mẫu vóc dáng chữ A 90
Trang 12Bảng 23: Kết quả lựa chọn phom dáng trang phục cơ bản của 107 mẫu khảo sát 92
Bảng 24: Bảng tổng hợp kết quả đánh giá chủ quan của người mặc 92
Bảng 25: Bảng tổng hợp kết quả đánh giá chuyên gia 95 Bảng 26: Kết quả so sánh chọn lựa phom dáng trang phục của 107 mẫu so với phom dáng phù hợp của mỗi nhóm vóc dáng 98
Trang 13PH ẦN M Ở ĐẦU
Lý do chọn đề tài: Trong tình hình kinh tế hội nhập hiện nay khi kinh tế
phát triển, người ta bắt đầu chú trọng hơn về trang phục, nhất là đối với phái nữ Cùng với xu thế phát triển của ngành may mặc nói chung và ngành công nghiệp thời trang nói riêng, thời trang trong nước cũng phát triển hội nhập nhiều xu hướng khác nhau Tuy nhiên việc chú trọng đến nhận thức vóc dáng để lựa chọn kiểu dáng trang phục sao cho phù hợp vẫn chưa được nhà sản xuất cũng như người tiêu dùng quan tâm
Do vóc dáng cơ thể của phụ nữ đa dạng cùng với nhiều nhu cầu, nhiều phong cách cho các hoạt động khác nhau nên họ quan tâm đến các ý nghĩa về sự phù hợp quần áo hơn so với nam giới Nữ nhân viên văn phòng thường bận rộn và có yêu cầu cao hơn về sự phù hợp vóc dáng cũng như tính tiện nghi của trang phục Đây cũng là lực lượng có tiềm năng phục vụ cao, họ sẵn sàng bỏ tiền để đầu tư tìm được phong cách và trang phục phù hợp nhất với mình
May mặc nhập khẩu có thể hấp dẫn người tiêu dùng về hình ảnh xuất hiện, chất lượng may, thiết kế đa dạng theo xu hướng chung của thị trường, chất lượng vải sử dụng, nhưng vấn đề của sự phù hợp vóc dáng với người phụ nữ Việt Nam vẫn còn tồn tại Thông thường thời trang nhập khẩu giá thành cao nên người tiêu dùng nữ Việt Nam sẽ tốn kém hơn cho những trang phục đó mặc dù chúng không đạt yêu cầu về sự phù hợp cho cơ thể mình
Phụ nữ Việt Nam chưa lưu tâm đến sự phù hợp giữa hình thể thực tế với kiểu dáng trang phục để tạo nên phong cách riêng mà vẫn phù hợp cho mình đồng thời cũng theo xu hướng thời trang Nhà sản xuất kinh doanh thời trang trong nước cũng chưa chú trọng đưa ra những cơ sở để tư vấn cho khách hàng, mà thường sản xuất theo yêu cầu của khách hàng và thị trường chung Sự vừa vặn của trang phục đang
là vấn đề quan tâm của nhiều người tiêu dùng, nhà bán lẻ và nhà sản xuất ở các
nước đang phát triển, ảnh hưởng đến nó chính là sự đa dạng vóc dáng hình thể mà chúng ta chưa nhận thức một cách đầy đủ Một thiết kế đẹp phải có sự kết hợp giữa vải và tay nghề của thợ may giỏi, những điều đó sẽ bị mất đi giá trị nếu sản phẩm
Trang 14đưa ra không phù hợp với người tiêu dùng
Một thực trạng nữa cho thấy, ngay cả trong các trường đào tạo về Thiết Kế Thời Trang, nơi sẽ sản sinh ra những người đi đầu và dẫn dắt cho sự phát triển của nền công nghiệp thời trang trong nước, phần lớn tập trung về đào tạo thiết kế về mặc ý tưởng, rất ít trường thật sự chú trọng vào việc đào tạo về việc phân tích vóc dáng, hiểu rõ về các vóc dáng phổ biến của người Việt Nam và tầm quan trọng của
sự hiểu biết đó đối với sự phát triển của thời trang như thế nào Đồng thời cần xác định việc giáo dục nhận thức cho người tiêu dùng hiểu đúng về vóc dáng cơ thể mình để lựa chọn trang phục phù hợp chính là gốc rễ của sự phát triển lâu bền nhất của một ngành thời trang cũng như công nghiệp may mặc nội địa Tuy nhiên cho đến nay nghiên cứu trong nước quan tâm đến vấn đề này còn hạn chế.[10]
Chính vì vậy việc nghiên cứu xây dựng hệ thống tài liệu về nhận thức hình thể, nhận dạng vóc dáng đóng vai trò quan trọng, phục vụ cho sự phát triển thời trang trong nước và định hướng cho nhu cầu măc đẹp của phụ nữ Việt Nam hiện nay Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khách hàng trước bối cảnh cạnh tranh khốc liệt của hàng may mặc nội địa với ngoại địa, trong phạm vi luận văn này tác giả chọn đề tài “N ghiên cứu ảnh hưởng của nhận thức vóc dáng tới sự lựa chọn kiểu dáng trang phục cơ bản của nữ nhân viên văn phòng thành phố
đó đưa ra quyết định lựa chọn trang phục phù hợp với hình thể của mình; đưa ra được quy luật phân loại hình dạng cơ thể để từ đó có thể lựa chọn phom dáng trang phục phù hợp đối với mỗi hình dạng
Mục tiêu nghiên cứu: Tìm hiểu sự nhận thức vóc dáng và sở thích kiểu
dáng trang phục cơ bản của khách hàng, từ đấy đưa ra được quy luật phân loại hình dạng cơ thể để định hướng lựa chọn phom dáng trang phục phù hợp với hình thể đối với nữ nhân viên văn phòng
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Nữ nhân viên văn phòng thành phố Hồ
Chí Minh, tập trung vào các trường học và cơ quan nằm trong quận 1, quận 9, quận
10, quận 11, quận Thủ Đức, quận Bình Thạnh, quận Phú Nhuận
Trang 15Tóm tắt cô đọng các luận điểm cơ bản:
- Nghiên cứu tổng quan về đặc điểm cơ thể học ảnh hưởng đến mỹ thuật trang phục, từ dó cho thấy việc đánh giá đúng về mặc vóc dáng hình thể có vai trò rất lớn trong việc mặc đẹp của chị em phụ nữ cũng như phát triển của ngành may mặc
- Phân loại vóc dáng khách hàng và đưa ra quy luật nhận dạng vóc dáng
- Nghiên cứu và đánh giá nhận thức hình thể của khách hàng, thực nghiệm đánh giá phom dáng trang phục cơ bản trên các nhóm vóc dáng, từ đấy rút ra kết luận về các phom dáng trang phục phù hợp cho mỗi loại vóc dáng và ảnh hưởng của nhận thức hình thể với sự lựa chọn trang phục
Phương pháp nghiên cứu:
Khảo cứu tài liệu làm cơ sở cho phần lựa chọn phân nhóm phân dạng vóc dáng hình thể nữ
Thu thập số liệu nhân trắc để phân tích phân nhóm, tính chênh lệch số đo vòng, phân tích nhân tố, phân tích phương sai ANOVA phân tích biệt số, xây dựng công thức phân loại vóc dáng hình thể nữ
Khảo sát thực tế tại một số cơ quan, phân tích số liệu, phân tích tương quan, phân tích phân loại nhóm cho các đối tượng khảo sát
May mẫu, thử mẫu thực nghiệm, đánh giá so sánh kết quả nghiên cứu khách quan chuyên gia và chủ quan người mặc trên cơ sở khoa học
Sử dụng phần mềm SPSS Statictics V22.0 để xử lý số liệu thực nghiệm, phân
tích số liệu
Đóng góp của tác giả: Kết quả nghiên cứu của tác giả góp phần giúp cho
việc phân loại vóc dáng một cách dễ dàng và nhanh nhất, hỗ trợ cho việc đánh giá vóc dáng hình thể, từ đó có thể lựa chọn phom dáng trang phục thích hợp Đồng thời đề tài cũng đã đưa ra được mức độ quan tâm cũng như nhận thức vóc dáng của
nữ nhân viên văn phòng, làm tiền đề cho việc nghiên cứu khách hàng cũng như tầm quan trọng của việc giáo dục nhận thức vóc dáng hình thể, nhằm xây dựng ngành may mặc Việt Nam ngày một phát triển hơn
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU
1.1 Phân lo ại vóc dáng
Trong kết cấu dân số theo độ tuổi người ta phân chia theo hai cách với việc
sử dụng các thang bậc khác nhau: [44]
- Độ tuổi có khoảng cách đều nhau Sự chênh lệch về tuổi giữa 2 độ tuổi kế
tiếp nhau có thể là 1 năm, 5 năm hay 10 năm (người ta thường sử dụng khoảng cách 5 năm) Cách này được dùng để phân tích, dự đoán các quá trình dân số
- Độ tuổi có khoảng cách không đều nhau Thông thường người ta chia thành 3 nhóm tuổi: (theo: luật số 10/2012/QH, quy định về số tuổi lao động có hiệu
lực từ ngày 01.05.2013)
• Dưới độ tuổi lao động (0-14 tuổi)
• Trong độ tuổi lao động (15-59 tuổi)
• Trên độ tuổi lao động (từ 60 tuổi trở lên)
- Cách này nhằm đánh giá những chuyển biến chung về kết cấu dân số
Theo Atlat nhân trắc học của người Việt Nam trong lứa tuổi lao động (1986)[5], đã phân nhóm đối tượng khảo sát giới hạn từ 17 đến 55 tuổi Trong giai đoạn này, vào tuổi 17 nhìn chung hình thái cơ thể đã phát triển đầy đủ và tiến tới ổn định, tuổi 50 đến 55 là giai đoạn cuối của tuổi lao động, hình thái và tầm vóc cơ thể
trong giai đoạn này chưa có sự suy giảm lão hóa
Cách phân chia này theo hệ thống 0 đến 9 (10 năm một nhóm) Vậy đối tượng nghiên cứu được chia thành các nhóm như sau: 17 đến 19 tuổi, 20 đến 29
tuồi, 30 đến 39 tuổi, 40 đến 49 tuổi, 50 đến 55 tuổi Nhóm tuổi 17 đến 19 không theo hệ thống nhưng qua nghiên cứu cho biết không có những khác biệt thống kê tin
cậy giữa từng năm một, nhóm tuổi 50 đến 55 ứng với tuổi nghỉ lao động của nữ
giới
Trang 171.1.2 Phân lo ại hình dạng cơ thể nữ
Hình dạng cơ thể phụ nữ là sự khác nhau về tỉ lệ, thay đổi theo thời gian và
giữa các quần thể, là kết quả của chế độ dinh dưỡng, lối sống, văn hóa dân tộc, tuối tác, quan niệm lý tưởng về cái đẹp… của các nền văn hóa khác nhau Theo nghiên
cứu cho thấy rằng hình dạng cơ thể thay đổi không chỉ ở các Quốc Gia khác nhau
mà còn ở từng vùng trong một nước Những sự khác biệt này ảnh hưởng rất lớn đến
việc xây dựng sự phù hợp của trang phục [16]
Xác định hình dạng cơ thể giúp cho người tiêu dùng có được tiêu chuẩn để đưa ra yêu cầu với bên sản xuất Tại Mỹ, việc phân loại hình dạng cơ thể chỉ thực
sự được chú trọng nghiên cứu khoảng năm 2000 để làm cơ sở cho việc thiết kế và
sản xuất quần áo may sẵn [20]
Phân loại hình dạng cơ thể có ý nghĩa rất quan trọng đối với ngành sản xuất may mặc Thiết kế sản xuất trang phục dựa trên sự hiểu biết về sự biến đổi của hình
dạng cơ thể và kích thước Nhiều nhà thiết kế có xu hướng xây dựng sản phẩm xung quanh hình dạng lý tưởng, người tiêu dùng bình thường có hình dạng cơ thể cân đối Tuy nhiên khi làm vậy, họ sẽ bỏ qua nhiều hình dạng cơ thể quan trọng tồn tại trên
thị trường [16]
Sự khác biệt về hình dạng cơ thể phát sinh từ những thay đổi trong từng kiểu
cơ thể, tư thế, kích thước cơ thể, sự phân bố trọng lượng trên khung xương tạo thành hình dạng cơ thể Cơ thể có thể được coi là kết quả của hệ thống các kích thước (số đo), mà trong đó phần trên chứa nhiều chi tiết hơn phần dưới của cơ thể Như một cấu trúc của thị giác, Cơ thể được tạo thành từ các đơn vị trực quan mà chỉ
có thể được phân biệt rõ ràng khi nhìn từ phía trước, phía sau và mặc nghiêng [16]
Việc ước tính chính xác hình dạng cơ thể và kích cỡ của từng nhóm đối tượng mục tiêu rất cần thiết cho tất cả các quốc gia và thậm chí là từng khu vực của
một quốc gia Thiết lập hệ thống cỡ số cho từng quốc gia dựa trên các mục tiêu dân
số là rất quan trọng [16]
Trang 181.1.2.1 M ột số phương pháp phân loại hình dạng cơ thể
Trong cuốn “Atlas của người đàn ông” Sheldon (1954) xác định ba loại hình
dạng cơ thể: gầy, trung bình, béo Ông đưa tính cách cá nhân vào hình dạng cơ thể nhưng chưa đưa ra được cách kiểm tra tính cách để hỗ trợ ý tưởng của mình về mặc
thống kê Lý thuyết của ông chịu ảnh hưởng nghiên cứu trong nhiều thập kỷ nhưng thiếu hỗ trợ thống kê dẫn đến độ tin tưởng không cao
thể, xây dựng tư thế liên quan đến kết quả độ vừa vặn cơ bản của trang phục với hình dạng cơ thể Sử dụng hình ảnh ngược sáng của đối tượng nghiên cứu dưới hình
dạng lưới và phân tích hình dạng của mỗi bộ phận liên quan đến việc xây dựng trang phục
BMI là chỉ số trọng lượng (kg) chia cho bình phương chiều cao cơ thể (mét), dùng để xác định mức độ béo hay gầy
Năm 1988 nhóm chuyên gia về nhu cầu năng lượng (gồm James W.P.T, Ferro-Luzzi và Waterlow J.C) đã đề nghị thang phân loại BMI như sau:
- BMI ≥40: béo phì độ III
(CED: Chronic Energy Defficiency = thiếu năng lượng trường diễn.)
Năm 2000, Hội Đái Tháo Đường Châu Á đã đưa ra thang phân loại BMI của người Châu Á như sau:
- BMI < 16: CED độ 3
- 16 ≤ BMI < 17: CED độ 2
Trang 19Tác giả sử dụng những hình ảnh trực quan để nhận biết và phân loại hình
- Theo tỉ lệ vai/eo/ hông
- Theo lưng/ vòng ngực/ vòng ngực trên
- Theo tương quan giữa vòng bụng và vòng đùi
- Theo dáng đứng
Là phương pháp phận loại hình dạng cơ thể người theo tỉ lệ các số đo đặc
biệt là tỉ lệ số đo vai / ngực / eo / mông / chiều cao và chênh lệch các số đo vòng
ngực, vòng eo và vòng mông Một số phân loại hình dạng theo phương pháp này:
Trang 20 Phân lo ại hình dạng cơ thể theo định nghĩa FFIT “Female Figure
vừa vặn cho sản phẩm may mặc FFIT được thiết kế xây dựng vào năm 2002
tại Mỹ và chỉ dành riêng cho phụ nữ Mỹ, với mục đích làm cơ sở cho việc xây dựng phần mềm nhận định và phân loại dạng người phụ nữ từ dữ liệu 3D
thu được bao gồm số đo, tỉ lệ, và hình ảnh 3 chiều
Phân lo ại theo tỉ lệ vai/ eo / mông của BSAS: [11] tỉ lệ này bị ảnh hưởng bởi các yếu tố về dân tộc, lứa tuổi và tư thế Theo hệ thống phân cỡ cơ thể người BSAS©, vóc dáng của cơ thể phụ nữ thường được phân nhóm dựa vào mối tương quan giữa các số đo vòng ngực, vòng eo, vòng mông với nhau Số đo được trích xuất từ máy quét 3D sau đó được tính toán theo tỉ lệ “vòng mông: vòng eo”, “vòng ngực: vòng eo” để phân nhóm vóc cơ thể Các dạng người được đề cập đến theo tiêu chí này: dạng đồng hồ cát, dạng hình chữ nhật,
dạng hình oval, dạng hình tam giác ngược
ISO/TR 10652 – 1991: [3] phân loại hình dạng cơ thể nữ tùy theo độ chênh
lệch mông – ngực Phân thành ba dạng với độ chênh lệch “mông – ngực”:
dạng người chữ A (9÷17cm), dạng người chữ M (4÷8cm) và dạng người chữ
H (-3 ÷4cm) Hệ thống phân dạng theo ISO này được sử dụng tham khảo
rộng rãi trên 140 quốc gia
KS K 0051:2004 (Hàn Qu ốc): [12] phân loại hình dạng cơ thể nữ theo độ chênh lệch “mông – ngực”: dạng người H (-14 đến 3cm), dạng người N (3
đến 9cm), dạng người A (9 đến 21cm)
JIS L 4005:2001 (Nh ật): [12] phân loại hình dạng cơ thể nữ theo độ chênh
lệch “mông – ngực”: dạng người Y (<4cm), dạng người AB (4÷8 cm) và
dạng người B (>8cm)
GB/T 1335.2 – 1997 (Trung Qu ốc): [12] phân loại hình dạng cơ thể nữ theo độ chênh lệch “mông – eo”: dạng người A (14 đến 18cm), dạng người B (9 đến 13cm), dạng người C (4 đến 8cm), dạng người Y (19 đến 24cm)
Trang 21Phân lo ại hình dạng theo phân tích nhân số, thống kê và xử lý số liệu: [10]
là phương pháp vận dụng phần mềm thống kê và xử lý số liệu vào thống kê, phân tích dữ liệu khảo sát từ đó đưa ra các nhóm hình dạng cơ thể
Một số đề tài sử dụng phần mềm SPSS như:
- “Somatotype Analysis and Torto Pattern Development for Vietnamese
one-way ANOVA trong phần mềm SPSS để phân tích và xử lý số liệu nghiên cứu vóc dáng của 927 phụ nữ Việt Nam ở độ tuổi 30, kết quả cho ra
bốn nhóm hình dạng cơ thể: dạng chữ A (37.86%), dạng chữ X (24.7%),
dạng chữ X mặt dưới (19.52%), dạng chữ H (17.91%)
- “Anthropometric Data Analysis for Body Shape Modeling in Korean” [10] tác
giả nghiên cứu 360 phụ nữ Hàn Quốc từ 20-60 tuổi, trong đó có 140 người
độ tuổi 20 và 220 người tuổi trung niên Dựa trên giá trị drop của số đo vòng
ngực và vòng mông, kết quả có ba nhóm hình dạng cơ thể: N 6cm-10cm (bình thường) đây được xem là dáng chuẩn của phụ nữ Hàn Quốc; H 1cm-6cm (hông nhỏ, ngực lớn); A 10cm-16cm (mông to)
- “Nghiên c ứu đặc điểm kích thước phần thân dưới cơ thể phụ nữ thành phố
giữa các kích thước phụ thuộc so với các kích thước chủ đạo như chiều cao đứng, chiều cao bụng, vòng bụng và vòng mông
Ngày nay các nhà nghiên cứu đã sử dụng các công nghệ mới nhất trong lĩnh
vực ba chiều (3D) quét toàn bộ cơ thể để có được số đo chính xác và cung cấp hình ảnh cơ thể ba chiều, luận văn tiến sĩ của tác giả Trần Thị Minh Kiều (2012)
“Somatotype Analysis and Torto Pattern Development for Vietnamese Women in
số đo Simmons et al (2004) và Connell et al (2006) đã sử dụng công nghệ này để phát triển phần mềm để phân loại hình dạng cơ thể, phân loại chính xác hình dạng
cơ thể kết hợp với mong muốn cá nhân để cung cấp sản phẩm may mặc phù hợp và
Trang 22cung cấp thông tin quan trọng cho việc phát triển may mặc trong một phân khúc thị trường cụ thể [20]
Hình dạng cơ thể lý tưởng có thể khác nhau hoặc là thay đổi theo ý tưởng, xu hướng của thời trang, quan niệm của các nền văn hóa khác nhau Hầu hết các nghiên cứu xác định hình dạng cơ thể lý tưởng là một cấu trúc con người hoàn hảo, hình dạng cân bằng, thường được sử dụng làm tiêu chuẩn hoặc là mô hình phù hợp
Cơ thể hoàn hảo sẽ cung cấp một hình dạng mong muốn của tất cả mọi người, nhưng trong thực tế chính nó phủ nhận cơ hội nhìn lại hình dạng bản thân mình một cách hợp lý Vì vậy cần có sự hiểu biết sâu sắc về tính thẩm mỹ của trang phục, cái nhìn sâu sắc và kiến thức về mối quan hệ tỉ lệ thuận với những con số lý tưởng của các thành phần cơ thể Điều này cung cấp một số hình dạng tiêu chuẩn để kiểm tra
bất kỳ hình dạng cơ thể khác [16]
Tỉ lệ hoặc các mối quan hệ của một đoạn cơ thể được sử dụng để mô tả hình
dạng lý tưởng Chiều cao của hình lý tưởng được chia thành bốn phần bằng nhau,
hông được xem như là trung điểm của tổng chiều cao cơ thể, vòng eo là điểm giữa đường ngang hông và nách, đầu gối là điểm giữa hông và bàn chân Nếu bất kỳ bốn điểm chiều dài của con số không phân phối đều như hình lý tưởng thì hình dạng cơ
thể được mô tả là eo cao, hông cao, eo ngắn hoặc hông thấp, tùy thuộc vào các điểm
so với chiều cao và điểm chốt trên mô hình lý tưởng (bảng 1 và hình 2)
Ng ực Đườđường ngang ngực lý tưởng ng ngang ngực cao hơn Đường ngang ngực nằm ở giữa đường ngang vai và đường ngang eo Đường ngang ngực nằm ở dưới đường ngang ngực lý tưởng
Eo Đường ngang eo cao hơn
đường ngang eo lý tưởng Đường ngang eo nằm ở giữa đường ngang ng ực và đường ngang mông Đường ngang eo nằm ở dưới đường ngang eo lý tưởng Mông
Đường ngang mông cao hơn
đường ngang mông lý tưởng
ho ặc điểm giữa của chiều
Trang 231.lý tưởng 2 Chân dài Eo ngắn 3 Chân ngắn, hông thấp
- Trọng lượng chỉ đủ che xương và hốc của cơ thể một cách nhẹ nhàng và trơn tru
- Khối lượng cơ thể được phân bố đồng đều từ lõi trung tâm của cơ thể hoặc
cột sống, thông qua các hình dạng mặt trước, mặt sau và bên hông
- Chiều rộng ở vai và hông gần bằng nhau, với ngực trung bình, eo nhỏ, bụng hơi cong (hầu như là bằng phẳng), mông cong vừa phải và đùi mỏng
- Đó là mô hình khá cân bằng, không cơ sự nổi bật về bất kỳ phần nào của cơ
thể, vòng eo nhỏ hơn so với vòng mông khoảng 26cm
Ở Châu Âu hình dạng lý tưởng thường xuất hiện trên các sàn diễn thời trang
với thân hình mỏng Hầu hết các ngành công nghiệp dệt may và các nhà thiết kế sử
dụng các con số của thân hình mỏng đó để may mẫu và mặc thử Vì vậy nó cho thấy
rằng các tiêu chí sử dụng để lựa chọn ra những con số lý tưởng của ngành công nghiệp là chưa rõ ràng
Ở Châu Phi có quan điểm ngược lại, họ mô tả cơ thể lý tưởng của người phụ
nữ như hình bầu dục, hình quả trứng từ đầu cho đến chân: đầu mang hình dạng quả
trứng, thân cũng phải có hai hình bầu dục phía trên và dưới thắt lưng, đùi đến đầu
gối tạo thành hình bầu dục và đầu gối đến chân cũng tạo thành hình bầu dục Với vòng mông lớn, eo nhỏ, vòng ngực trung bình
Trang 24Các hình dạng cơ thể lý tưởng là cơ sở để sản xuất hàng may mặc Theo Helen Armstrong [7] (Mỹ) một thân hình lý tưởng trở thành một cơ sở mà từ đó giải quyết các hình dạng khác, các độ lệch đối xứng và giống hệt nhau trên cả hai bên
của cơ thể Cơ thể cân đối hài hòa giữa các phần khác nhau cũng như trong toàn bộ
cấu tạo của cơ thể
Sự nhấn mạnh phân loại hình dạng cơ thể trong sản xuất hàng may mặc có
thể làm thay đổi nhận thức về cơ thể của người tiêu dùng, điều đó sẽ nâng cao cảm giác thoải mái, tính thẩm mỹ cũng như sự hài lòng của phụ nữ Hầu hết các nước phát triển đã phân loại hình dạng cơ thể phụ nữ để cung cấp trang phục phù hợp hơn Nhưng ở các nước đang phát triển thì hầu như không có sự phân loại này và
hầu hết đều đang dựa vào hình dạng cơ thể được thành lập của phương tây
Trong phân loại hình dạng cơ thể các nhà nghiên cứu nhân trắc học hiện nay phân loại thành các nhóm như sau:
- Thân hình mảnh (Petite)
- Hình trụ (Column)
- Đồng hồ cát mảnh (Neat Hourglass)
- Đồng hồ cát đầy đặn (Full Hourglass)
- Hình tam giác (Pear)
- Hình hình tròn, hình quả táo (Round/Apple)
- Hình tam giác ngược (Inverted Triangle)
- Hình chữ nhật hay còn gọi là hình thỏi (Rectangle)
Trang 25Đây là hình thức phân loại phổ biến nhất trong may mặc mà chúng ta có thể
gặp ở rất nhiều tài liệu về phân loại vóc dáng hiện nay
Với cách phân loại này người ta nhóm hình dạng đồng hồ cát mỏng và dày thành một nhóm và hình trụ cùng với hình chữ nhật thành một nhóm, nhằm rút gọn hơn về loại hình dáng nhưng cũng không bỏ qua sự chênh lệch quá lớn của chúng
Trang 26Đặc điểm chính của từng loại vóc dáng trong phân loại này như sau:[16]
Hình d ạng đồng hồ cát (Hourglass): (hình 6)
Hay còn gọi là hình chữ “X”, số 8
Đặc điểm của hình dạng này là:
- Vai và hông thẳng hàng, với vòng eo
nhỏ rõ rệt
- Trọng lượng phần trên và phần dưới
của hình chữ nhật cơ thể được phân bố
đồng đều Hình 6 : Đặc điểm hình dạng đồng hồ cát [16]
- Nhìn từ bên hông, hình dạng này xuất hiện như hình chữ “P” nổi bật ở phần
trên và chữ “d” ở phần dưới (mông)
Hình d ạng tam giác (Triangle): (hình 7)
Hay còn gọi là hình chữ “A”, hình quả
lê, hình chuông, hình cây thông Hình
dạng này cho thấy các đặc điểm sau:
- Phần dưới nặng hơn so với phần trên
Điều này có nghĩa là vai nhỏ, vòng
ngực nhỏ, eo khá lớn, phần hông và
đùi lớn Hình 7: Đặc điểm hình dạng tam giác [16]
- Mặt trước và mặt sau như một hình tam giác, phần rộng hơn rơi vào phần
hông và đùi tạo cảm giác vòng eo nhỏ
- Mặt nghiêng ta có thể thấy xuất hiện chữ “d” ở phần dưới, điều này có nghĩa
là mông nhô ra và hông nặng
- Vai và ngực tương đối nhỏ hơn nhiều so với hông và đùi
- Trọng lượng cơ thể tập trung ở phần dưới của hình chữ nhật (hông và đùi)
Hình d ạng tam giác ngược (Inverted Triangle): (hình 8)
Hay còn gọi là hình dạng chữ “V” Thường có các đặc điểm sau:
Trang 27- Phần thân trên rộng, đặc biệt nổi bật
Hình 8 : Đặc điểm hình dạng tam giác ngược [16]
- Trọng lượng cơ thể tập trung ở phần trên của hình chữ nhật
Hay còn gọi là hình chữ “O”, hình oval,
hình quả táo, hình kim cương Thông
thường hình dạng này cho thấy các đặc
điểm sau:
- Mang trọng lượng từ vai đến hông
- Mặc trước, mặc sau, măc Hình 10 : Đặc điểm hình dạng hình tròn [16]
nghiêng mang hình dạng tròn vai, ngực, eo và mông
- Phần eo có thể lớn hơn phần hông
Trang 28- Trọng lượng phần trên và dưới của hình chữ nhật cơ thể được phân bố đồng đều
nhiều dạng người khác nhau thì sẽ phân thành ba dạng A (gầy), B (trung bình), C (béo)
Theo đề tài “An explication of the problems with apparel fit experienced by
đề tài đã tiến hành thu thập số đo của 123 nữ Nhân viên văn phòng có độ tuổi từ 22 đến 55 tại Kenya Nghiên cứu trên năm loại hình dạng cơ thể phổ biến đó là: hình dạng đồng hồ cát, hình dạng tam giác xuôi, hình dạng tam giác ngược, hình dạng hình chữ nhật, hình dạng quả táo Trong nghiên cứu này hình dạng cơ thể được xác định dựa vào các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất của chênh lệch số đo vòng mông – eo và ngực – eo Đề tài đã cho ra kết quả như sau:
- Hình dạng tam giác và tam giác ngược dựa vào các giá trị của chênh lệch số
đo vòng mông – ngực trong đó: hình dạng tam giác có 14cm ≤giá trị trung bình (mean) + độ lệch chuẩn (SD) ≤ 26cm (giá trị lớn nhất) Hình dạng tam giác ngược có -8cm (giá trị nhỏ nhất) ≤ giá trị trung bình (mean) - độ lệch chuẩn (SD) ≤ 3,2cm
- Hình dạng quả táo, hình dạng đồng hồ cát và hình dạng hìnhchữ nhật dựa vào các giá trị của chênh lệch số đo vòng ngực – eo trong đó: hình dạng quả táo -13cm ≤ chênh lệch ngực – eo ≤ 4,7cm Hình dạng hìnhchữ nhật 4,7cm ≤ chênh lệch ngực – eo ≤ 23cm Hình dạng đồng hồ cát 23cm ≤ ngực – eo ≤ 36cm (giá trị lớn nhất)
Theo đề tài “Nghiên cứu xây dựng bộ mẫu kỹ thuật chuẩn cho sản phẩm
kết quả cho ra năm nhóm hình dạng người cho phụ nữ
Việt Nam trong độ tuổi từ 35 đến 55: A, V, I, X chuẩn, Xmông Tác giả đưa ra kết
luận rằng “cần phải kết hợp 3 yếu tố: “độ chênh lệch mông - ngực”, “tỉ lệ mông:
Trang 29eo”, “tỉ lệ ngực: eo” mới thiết lập được dạng người phù hợp với dáng vóc đa dạng
hiện nay của phụ nữ Việt Nam trong độ tuổi 35-55” Sử dụng mối tương quan 3 số
đo trong phần mềm Nhân trắc 2.0 để phân vùng các dạng người phụ thuộc vào 3
yếu tố: chênh lệch mông - ngực, tỉ lệ ngực: eo, tỉ lệ mông: eo Kết quả 5 dạng người được trình bày tóm tắt trong bảng 2 sau:
(5.59%)
I (14.41%)
A (9.49%)
(32.20%)
X Mông (38.31%)
Chênh l ệch mông-ngực -10 ~ -3 -3 ~ 4 4 ~ 17 -3 ~ 10 4 ~ 17
T ỉ lệ Mông:Eo <1.20 <1.20 >1.20 1.20~ 1.40 >1.30
T ỉ lệ Ngực:Eo >1.18 <1.18 <1.18 1.18~ 1.32 >1.18
Đề tài “Thiết lập công thức thiết kế mẫu cơ sở chân váy dáng thẳng cho
tác
giả nghiên cứu trên 306 nữ sinh, kết quả cho ra ba nhóm hình dạng Nhóm 1: dạng người eo to, mông thấp và phẳng, bụng lồi, dáng người béo, mình dày, số lượng 49 người, chiếm 16,01% Nhóm 2: dạng người eo trung bình, mông cao và cong, bụng
lồi ít, dáng người trung bình, số lượng 154 người, chiếm 50.% Nhóm 3: dạng người
eo nhỏ, mông thấp và cong, bụng phẳng, dáng người mảnh khảnh, số lượng 103 người, chiếm 33.6%
Đề tài “Nghiên cứu số hạng điều chỉnh thiết kế áo cơ sở nữ Việt Nam theo
tác giả nghiên cứu trên 67 nữ sinh, kết quả cho ra bảy nhóm hình dạng Nhóm 1:
dạng tam giác 1, số lượng 8 người, chiếm 11,94% Nhóm 2: dạng hình muỗng, số lượng 5 người,chiếm 7,46% Nhóm 3: dạng đồng hồ cát dưới 1, số lượng 4 người, chiếm 5,97% Nhóm 4: dáng hình chữ nhật 1, số lượng 30 người, chiếm 44,78% Nhóm 5: dạng hình chữ nhật 2, số lượng 10 người, chiếm 14,93% Nhóm 6: dạng đồng hồ cát dưới 2, số lượng 1 người, chiếm 1,49% Nhóm 7: dạng tam giác 2, số lượng 9 người, chiếm 13,43%
đến 55 [11]
Trang 30Đề tài “Thiết lập công thức thiết kế mẫu cơ sở chân váy dáng thẳng cho
Quần áo thường được sử dụng cho nhiều lý do: thể hiện cá tính, thông điệp văn hóa xã hội, quảng cáo, nâng cao hình ảnh thời trang và hấp dẫn giới tính, vv
Sự khác biệt văn hóa, dân tộc và sở thích trang phục cũng là yếu tố quyết định đến
lựa chọn trang phục của mỗi cá nhân Sở thích về sự phù hợp trang phục thường
được xác định bởi mỗi người tiêu dùng, họ muốn có những bộ trang phục phù hợp
với hình dạng của cơ thể [20]
Một số người dùng quần áo để che giấu những khiếm khuyết hình thể hoặc
tự nhận stylish làm mới phong cách thời trang dựa trên sở thích và sự am hiểu về
thời trang Một số khác lại lựa chọn quần áo dựa trên sở thích để tôn lên một số điểm cụ thể Theo Shim và Bickle (Anh, 1994) trang phục giúp cải thiện bản thân,
hấp dẫn giới tính, địa vị uy tín xã hội, và hình ảnh thời trang Rudd và Lennon (Mỹ, 2001) cho rằng lý tưởng văn hóa là nền tảng của sự hiểu biết để các nhà thiết kế sáng tạo và đối chiếu kết quả [16]
Trong thời đại tiêu dùng điều khiển sản xuất (Capraro et al 2003), các công
ty nên nhắm vào việc quản lý sự hài lòng của người tiêu dùng bằng cách sản xuất
những sản phẩm được thiết kế để phù hợp với sở thích và vóc dáng của người tiêu dùng Thách thức đối với ngành công nghiệp dệt may không phải là cho khách hàng thêm lựa chọn, mà là để nâng cao sự phù hợp với hình thể cá nhân của khách hàng.[17]
Trang 311.2.2 Các y ếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn trang phục
Kiểm tra nhận thức của người tiêu dùng về các vấn đề về sự vừa vặn của
sản phẩm dệt may sẽ tạo điều kiện cho sự hiểu biết sâu hơn về độ hài lòng của người tiêu dùng với quá trình tìm kiếm kích cỡ và phong cách phù hợpvới họ Trong bối cảnh “tiêu dùng quyền” Liên Hiệp Quốc (1985), giáo dục người tiêu dùng có giá trị trên toàn thế giới Kỷ luật của khoa học giáo dục người tiêu dùng có
ý nghĩa thực tế với tinh thần trách nhiệm của người tiêu dùng Người làm trong lĩnh vực dệt may cố gắng giáo dục người tiêu dùng và hỗ trợ họ với thông tin liên quan đến sản phẩm để họ có thể đưa ra quyết định mua thích hợp
Sự thiếu hiểu biết của người tiêu dùng về các thông tin về kích cỡ và độ vừa
vặn (các thuật ngữ được sử dụng trên nhãn kích thước / thẻ và ý nghĩa của các biểu tượng trên nhãn) được coi là một vấn đề cần được quan tâm
Nâng cao hiểu biết của người tiêu dùng về các thông tin sản phẩm có giá trị
về mặt giáo dục người tiêu dùng và tạo thuận lợi cho ngành công nghiệp may mặc trong việc cung cấp các mặt hàng may mặc đạt yêu cầu
Hiểu được sở thích về sự vừa vặn trang phục của khách hàng nữ, hiểu được
mối liên quan giữa các sở thích với đặc điểm cơ thể sẽ giúp nhà sản xuất xác định
sự phù hợp của sản phẩm may mặc, từ đó các công ty dệt may sản xuất trang phục phù hợp và vừa vặn với các thông số, phù hợp với mong muốn của người tiêu dùng Nếu các nhà sản xuất dệt may không quan tâm đến mối liên quan giữa sở thích với đặc điểm cơ thể của người tiêu dùng thì các sản phẩm sẽ được mua dựa trên tính khả dụng hơn là thỏa mãn mong muốn và phù hợp với khách hàng
1.3 Nh ận thức hình thể
Nhận thức hình thể được định nghĩa là mức độ hài lòng hoặc không hài lòng
với cơ thể hoặc một bộ phận cơ thể và cũng được coi là cảm xúc tích cực hay tiêu
cực đối với cơ thể hoặc bộ phận cơ thể (Secord và Jourard, 1953) Nhận thức hình
thể trước tiên phải hiểu về hình thể của mình như thế nào, từ đó có thể đánh giá và
Trang 32đưa ra phương pháp để cải thiện nó Nhận thức hình thể là một khái niệm không thể thiếu đối với hình dạng cơ thể và được xem như là một phần tự nhận thức của người tiêu dùng [20]
Khi quần áo không phù hợp, hầu hết họ có xu hướng đổ lỗi cho bản thân và
có những cảm xúc tiêu cực đối với cơ thể của mình hơn là hướng tới cách lựa chọn
quần áo (Labat và DeLong 1990) Theo McVey (1984), khi cơ thể của họ không
vừa vặn với các mặc hàng thời trang có thương hiệu, họ sẽ thấy rằng cơ thể mình ít được lý tưởng Vì vậy sự vừa vặn rất quan trọng đối với lòng trung thành của khách hàng Nhiều công ty cũng đã tập trung vào việc tìm hiểu nhu cầu về sự vừa vặn của khách hàng [20]
1.4 Độ vừa vặn của trang phục
Có rất nhiều định nghĩa về sự vừa vặn trang phục, nhưng chưa có một định nghĩa nào được xem là đại diện Một số định nghĩa hiện có là:
Sự vừa vặn của trang phục là sự phù hợp của trang phục với người thật trực
tiếp mặc trang phục, khi mặc trang phục đó trên cơ thể phải phù hợp về kích thước và không có vị trí nào nhăn dúm, co kéo hay bùng rộng hơn Cơ thể khi hoạt động nhẹ cảm giác thoải mái, cử động dễ dàng [23]
- Sự vừa vặn được định nghĩa là mối quan hệ giữa kích thước của quần áo, kích thước ba chiều của cơ thể và hình thể / hình dạng (Kadolph 1998, Keiser and Garner 2003, Solomon and Rabolt 2004) Vấn đề phù hợp được xem như
là những biện pháp được thực hiện bởi ngành công nghiệp may mặc, để đạt được sự vừa vặn may mặc cho các thị trường mục tiêu của các hình dạng cơ
thể và kích cỡ Tuy nhiên, hình dạng cơ thể phụ nữ có tỷ lệ khác nhau và thay đổi theo thời gian giữa các quần thể Những khác biệt này có tác động đến việc xây dựng độ vừa vặn của trang phục may sẵn cũng như may đo (Winks 1997, Ashdown 1998, Simmons and Istook 2003) [17]
- Độ vừa vặn của trang phục là sự tổ hợp của năm yếu tố: độ cử động, độ lệch
trục, đường canh sợi vải, đường cân bằng ngang và sự ráp nối (Erwin and Kinchen) [10]
Trang 33Áo quần được xem là vừa vặn khi có sự gọn gàng, êm, phẳng và tạo được tối
đa sự thoải mái, đảm bảo được sự vận động lúc mặc (Shen and Huck) [16]
- Độ vừa vặn đó là sự đánh giá mức độ tương quan giữa trang phục, tính chất
vải và cơ thể [10]
Trang phục được xem là vừa vặn khi nó phù hợp với cơ thể, môi trường, đặc điểm xã hội [10]
Một nghiên cứu của Kurt Salmon Associates báo cáo rằng 50 phần trăm phụ
nữ phàn nàn rằng họ không thể tìm thấy trang phục có độ vừa vặn phù hợp [23]
Gần đây, các vấn đề của sự vừa vặn của quần áo làm sẵn đã đạt được rất nhiều sự chú ý khi nhu cầu về sự vừa vặn của trang phục tăng (Ashdown 1998, Shin and Istook 2007) Vấn đề về sự vừa vặn của trang phục đang là vấn đề của nhiều người tiêu dùng, nhà bán lẻ và nhà sản xuất ở các nước đang phát triển [17]
Mối quan hệ giữa cơ thể và quần áo rất phức tạp và thường không rõ ràng, sự
vừa vặn trong may mặc là một khái niệm khó để nghiên cứu và phân tích Các phương pháp khách quan hiện nay dùng để phân tích sự vừa vặn liên quan đến việc
so sánh các số đo thành phẩm và số đo cơ thể sử dụng mối quan hệ tuyến tính và đồng hồ đo áp suất để đo áp lực sản phẩm may trên một vị trí cụ thể nào đó
Phương pháp mặc thử và đánh giá người mặc, chuyên gia rất hữu ích cho
việc đánh giá các vấn đề đơn giản về sự vừa vặn của trang phục Khi nghiên cứu các
vấn đề phức tạp về mối quan hệ tồn tại giữa cơ thể và quần áo người ta còn sử dụng phương pháp 3D
Công nghệ quét 3D cơ thể thu thập dữ liệu có thể được phân tích bằng các
biện pháp phi tuyến tính như diện tích bề mặt, thể tích hoặc dữ liệu từ các lát cắt cơ
thể để xác định khoảng cách từ bề mặt cơ thể đến mặt trong của trang phục nhằm
cải thiện độ vừa vặn trang phục một cách nhanh chóng và kinh tế [10]
Các vấn đề liên quan đến sự vừa vặn của trang phục bắt nguồn từ nhiều yếu
tố: cơ sở dữ liệu nhân trắc lỗi thời, thiếu phân loại hình dạng cơ thể, mối quan hệ
giữa định cỡ và độ vừa vặn, không quản lý các tiêu chuẩn phù hợp và chất lượng
Trang 34giữa các ngành công nghiệp may mặc (Salusso-Deonier, 1989; Chun-Yoon & Jasper, 1996; Holzman, 1996; Winks, 1997; Desmarteau, 2000; Ashdown, 2000)
Ashdown (2000) xác định được hệ thống định cỡ là điểm tập trung tất cả các
yếu tố khác liên quan đến kích thước và sự vừa vặn Các yếu tố chính ảnh hưởng đến hệ thống định cỡ và sự vừa vặn của hàng may mặc là: hệ thống số đo nhân trắc (kích thước cơ thể), các tính năng thiết kế (công thức thiết kế quần áo), các vấn đề phù hợp (quản lý chất lượng phù hợp), các thông tin kích thước và sự vừa vặn (kích thước ghi nhãn) Những yếu tố này được xác định là vấn đề trong quá trình sản xuất
từ giai đoạn bắt đầu cho đến thành phẩm
Vấn đề vừa vặn của trang phục còn có thể do các yếu tố bên ngoài khâu sản
xuất như: kiến thức của người tiêu dùng về sự phù hợp của kích thước với sở thích (Mason, De Klerk, Sommervile & Ashdown, 2008)
Một điểm khởi đầu cho việc đánh giá phù hợp của sản phẩm may mặc là các
yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến độ vừa vặn, sự ảnh hưởng của các hình dạng cơ thể (Salusso-Deonier, 1989; Gersak, 2002; Ashdown, Loker & Adelson, 2004; Kwong Fan et al., 2004) Hình dạng cơ thể là một khuôn khổ của sản phẩm dệt may (Sallusso-Deonier, 2005), nó ảnh hưởng đến tất cả bốn yếu tố được nhấn mạnh trong mô hình của Ashdown (2000):
- Kích thước cơ thể đòi hỏi phải đo một cách cụ thể, làm cơ sở để phân loại hình dạng cơ thể và phản ánh chính xác các đặc điểm cơ thể ba chiều khi
sử dụng các mô hình và hình thức ăn mặc, nên phù hợp với hình dạng cơ thể
của thị trường mục tiêu
Thông tin của kích thước và sự vừa vặn đòi hỏi kích thước và hình dạng cơ
thể ghi trên nhãn phản ánh bức tranh thực sự của thị trường mục tiêu
Trang 35Đánh giá độ vừa vặn của trang phục: [14] [19]
Đánh giá sự vừa vặn của trang phục phải kể đến yếu tố sức căng của vải với
bề mặt cơ thể, hoặc sự êm phẳng của sản phẩm Trang phục đảm bảo sự vừa vặn với
cơ thể con người là một trong các tiêu chí đánh giá chất lượng sản phảm may:
- Trên cơ thể người có rất nhiều khu vực lồi lõm khác nhau, tại những vị trí này sức căng của vải khác nhau
- Vùng vừa vặn của trang phục tiếp xúc trực tiếp với bề mặt cơ thể và đáp ứng
độ thoải mái của trang phục
- Khi đánh giá sự vừa vặn tức là cho người thật mặc và chuyển động ở mọi tư
thế vẫn thấy thoải mái, không xảy ra hiện tượng chật, gây khó chịu cho người mặc, đồng thời vẫn giữ được kiểu dáng của trang phục
Sự vừa vặn chính là khi hình dáng kích thước sản phẩm phù hợp với yêu cầu người tiêu dùng Hình dáng kích thước của trang phục phải kể đến sóng vải (hay còn gọi là độ gia giảm cử động), trong quá trình cử động của cơ thể tại
những vị trí cử động mạnh hoặc do tính thời trang của sản phẩm có thể tạo các sóng vải (độ xòe, độ rộng của trang phục)
Trang 361.5 Phom dáng trang ph ục
Phom dáng trang phục thường mang tính thời trang, thay đổi theo mùa (trong khoản thời gian nhất định), chuẩn mực về văn hóa và phương tiện truyền thông (Jung and Lennon 2003, Seifert 2005) [16]
Ấn tượng đầu tiên của một bộ trang
phục được hình thành bởi phom dáng, cái
nhìn đầu tiên là hình dáng tổng thể sau đó
mới đến chi tiết khác như vải hoặc các kết
cấu của hàng may mặc [21]
Trong các loại thiết kế, hình dạng
và phom dáng trang phục được coi là yếu
tố trong thời trang và thay đổi theo thời
gian (hình 11) [41]
Phom dáng của một bộ trang phục
là đường nét hay hình dạng của nó Hình 11: Phom dáng trang phục qua
Phong cách của một bộ trang phục các thập niên [29]
hoặc một phần của bộ trang phục được tạo bởi phom dáng của nó và đặc điểm nhận
dạng của nó “phong cách đặc biệt của một bộ quần áo thường nói đến kết cấu đường cắt trong một kiểu dáng đã được công nhận, chấp nhận và được đặt tên” (Davis, 1996) Phom dáng và phong cách là khía cạnh quan trọng của chất lượng vì chúng có mối quan hệ mạnh mẽ đến thẩm mĩ Phom dáng khác nhau mang lại phong cách khác nhau [8]
Phom dáng trang phục là điểm cơ bản đầu tiên khi muốn nhấn mạnh phần nào của cơ thể và tỷ lệ của một bộ trang phục được phát triển từ phom dáng Nếu phom dáng trang phục là hình dạng tổng thể thì tỷ lệ các đường may phân chia như
thế nào, hay là thông qua các đường kẻ (ngang, dọc, chéo hoặc cong), các khối màu
sắc hoặc vải. [21]
Trang 371.5.1 S ự phát triển của phom dáng trang phục
Về mặc lịch sử [21], quần áo thời trang được thiết kế để tăng cường và lý tưởng hóa phom dáng tự nhiên của con người bằng cách phóng đại các phần của cơ
thể Hình dạng cơ thể lý tưởng vẫn tiếp tục được dựa trên “hình dạng đồng hồ cát”
Đầu thế kỷ 16: áo nịt ngực chui đầu có dây xiết được sử dụng Bên cạnh đó
ngày càng xuất hiện nhiều phụ kiện thay thế khác nhau để thêm vào áo nịt ngực
nhằm phóng đại hông và mông theo nhiều cách khác nhau
Váy lót, váy phồng, váy lưới, miếng độn, là các phụ kiện thời trang tại các
thời điểm khác nhau trong năm trăm năm qua để nhấn mạnh đường khuôn của cơ
thể con người và để lý tưởng phom dáng cả nữ và nam (hình 12, 13)
với trước đó, phụ nữ được yêu cầu phải làm phẳng ngực với phom hình trụ (chữ
Trang 38Nh ững năm đầu thập niên 30: phom dáng trang phục vẫn có phần kế thừa
những năm cuối thập niên 20, tuy nhiên những năm cuối thì lại bắt đầu thắt phần eo cao hơn và đẩy mạnh nhấn phom ở phần vai (hình 15)
phần hông có xu hướng đẩy xòe ra (hình 16)
tiêu biểu cho việc đổi mới hình ảnh của người phụ nữ sau những năm chiến tranh,
thể hiện tính nữ tính mạnh qua phom dáng thắt chặt phần eo với phần thùng váy xòe
rộng được độn lên ở phần hông Phom dáng này được sử dụng trong suốt thập niên
1950 Trang phục thời này được may bằng cách các loại vải sang trọng, tạo vẻ quý phái cho người mặc (hình 17)
Hình 17: Phom dáng tiêu bi ểu của
Hình 15: Phom dáng tiêu bi ểu
c ủa thập niên
30 “Patterns from 1930s” [31]
Trang 39Th ập niên 60, 70: phom dáng đã theo xu hướng nam tính hơn Phụ nữ tóc
ngắn, ngực bằng phẳng, vai hẹp và độn hông để mặc váy ngắn và đầm (hình 18)
nhằm làm tăng tính mạnh mẽ Phom dáng lúc này đồng nghĩa với sức mạnh, quyền
lực của chủ nghĩa tư bản (hình 19, 20, 21)
Ngày nay hầu hết quần áo theo hình dạng vốn có của cơ thể và việc phóng đại phom dáng ít hơn so với trước đây Loại bỏ các phụ kiện như áo nịt ngực hoặc
những phụ liệu khác làm thay đổi hình dạng cơ thể vốn có bằng cách sống lành
mạnh hoặc sử dụng phẫu thuật thẩm mỹ Sự tiến hóa của phom dáng cũng liên quan đến việc thay đổi xu hướng xã hội và văn hóa
Phom được xác định bởi số lượng và vùng bao phủ của quần áo Phom dáng
tổng quát của một bộ trang phục có thể được tạo bởi sự kết hợp của nhiều kiểu dáng
Trang 40đơn lẻ, ví dụ như: áo kết hợp với váy, áo kết hợp với quần, áo liền váy (đầm), phom
áo liền quần (jumpsuit), … vv [8]
Kiểu dáng cơ bản của áo, quần, váy, đầm được mô tả trong bảng 3 [8] [18] [6]
Áo cơ bản: phom áo ôm sát cơ thể, có
bâu và tay hoặc không có bâu và tay, được nhấn ben (darts) để tạo độ ôm theo đường cong cơ thể
Váy cơ bản: phom ôm phần eo và sườn buông thẳng nhẹ nhàng từ mông đến lai, phần eo được nhấn ben để tạo
độ ôm ở eo-hông
Quần cơ bản: phom ôm phần eo và có ống suông đến mắt cá chân, phần eo được nhấn ben để tạo độ ôm ở eo-hông
Đầm cơ bản: phom ôm từ trên vai xuống hông và đường sườn buông thẳng nhẹ nhàng từ mông đến lai, được nhấn ben để tạo độ ôm
Bảng 3: Kiểu dáng cơ bản của áo, quần, váy, đầm [8][18][6]