Mục đích nghiên cứu của luận văn, đối tượng, phạm vi nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của luận văn là: Thiết lập được ảnh hưởng của các yếu tố công nghệ chính là nhiệt độ sấy màng keo,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến độ bền mối dán phần mũ
giầy với phần đế giầy bảo vệ cho công nhân ngành thép
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Công nghệ Vật liệu Dệt may (ghi chuyên ngành của học vị được công nhận)
Hà Nội – Năm 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
Họ và tên tác giả luận văn TRẦN THỊ NHUẦN
TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến độ bền mối dán phần mũ giầy với
phần đế giầy bảo vệ cho công nhân ngành thép
Chuyên ngành : Công nghệ Vật liệu Dệt may
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Công nghệ Vật liệu Dệt may (ghi chuyên ngành của học vị được công nhận)
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
1 TS Bùi Văn Huấn
Hà Nội – Năm 2012
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
Họ và tên tác giả luận văn TRẦN THỊ NHUẦN
TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến độ bền mối dán phần mũ giầy với
phần đế giầy bảo vệ cho công nhân ngành thép
Chuyên ngành : Công nghệ Vật liệu Dệt may
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Công nghệ Vật liệu Dệt may (ghi chuyên ngành của học vị được công nhận)
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
1 TS Bùi Văn Huấn
Hà Nội – Năm 2012
Trang 4NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
TS Bùi Văn Huấn
Hà Nội – Năm 2012
Trang 5TRẦN THỊ NHUẦN 1 LUẬN VĂN CAO HỌC
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 3 LỜI CẢM ƠN 4 Danh sách các ký hiệu, các từ viết tắt 5
Danh mục các hình vẽ, đồ thị 6
Danh mục các biểu bảng 8
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 13
1.1 Bản chất dán trong sản xuất giầy 13
1.2 Các loại keo dán đế giầy 27
1.3.2 Quét keo chi tiết 39
1.4 Đặc điểm môi trường lao động ngành thép và yêu cầu đối với mối dán đế
Trang 6TRẦN THỊ NHUẦN 2 LUẬN VĂN CAO HỌC
2.2 Nội dung nghiên cứu 51
2.2.2 Nghiên cứu khảo sát miền biến thiên của các thông số 52
2.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng đồng thới của các yếu tố đến độ bền mối
dán keo
54
2.3 Phương pháp nghiên cứu 56
2.3.3 Chuẩn bị mẫu thí nghiệm 59
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 63
3.3 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng đồng thời của các yếu tố đến độ bền mối
dán keo vật liệu đế giầy
68
3.3.1 Kết quả thí nghiệm theo quy hoạch thực nghiệm 68
3.3.3 Các thông số công nghệ tối ưu 74
Tài liệu tham khảo 81
Phụ lục 83
Trang 7TRẦN THỊ NHUẦN 3 LUẬN VĂN CAO HỌC
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Tiến
sỹ Bùi Văn Huấn Kết quả nghiên cứu được thực hiện tại Phòng thí nghiệm của
Viện Dệt May – Da giầy & Thời Trang Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội
Tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn Luận văn
không có sự sao chép từ các luận văn khác về nội dung, hình ảnh cũng như các kết
quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn
Người thực hiện
Trần Thị Nhuần
Trang 8TRẦN THỊ NHUẦN 4 LUẬN VĂN CAO HỌC
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Tiến sỹ Bùi Văn Huấn,
người đã tận tâm chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Em xin gửi lời cảm ơn tới Thầy Cô Viện Dệt May – Da giầy & Thời Trang
đã giảng dạy, truyền đạt những kiến thức mới và sâu về chuyên môn cũng như giúp
đỡ em trong quá trình em học tập và nghiên cứu
Em xin gửi lời cảm ơn tới Công ty TNHH Giầy da Ninh Cường – Cổ Loa –
Đông Anh – Hà Nội, Phòng thí nghiệm Vật liệu Dệt của Viện Dệt May – Da giầy &
Thời Trang và Viện Đào tạo Sau đại học Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội đã tạo
điều kiện thuận lợi cho em học tập nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Trong quá trình thực hiện luận văn, em đã không ngừng học hỏi trau dồi kiến
thức, tích cực thu thập tài liệu, tổng hợp các kiến thức cả lý thuyết và thực hành
Tuy nhiên vì thời gian có hạn và bản thân còn có nhiều hạn chế, vậy em rất mong
được sự góp ý của thầy cô giáo và các bạn
Trang 9TRẦN THỊ NHUẦN 5 LUẬN VĂN CAO HỌC
Danh sách các ký hiệu, các từ viết tắt
PU: Poliuretan
PVC: Polyvinyl clorua
TEP: Thermoplastic polymer
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
Trang 10TRẦN THỊ NHUẦN 6 LUẬN VĂN CAO HỌC
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
Hình 3 Sơ đồ thấm ướt (a) và không thấm ướt (b) bề mặt rắn bởi chất lỏng 21
Hình 4 Sơ đồ xác định góc cạnh thấm ướt trên lớp phân cách chất lỏng và vật rắn 21
Hình 7 Sơ đồ bộ gá vào máy kéo đứt để xác định độ bền mối dán keo đế giầy 22
Hình 9 Máy ép PPP–5–0 để dán đế giầy 43
Hình 13 Sơ đồ dán đế có mép cao trong khuôn ép dạng buồng 45
Hình 14 Mô hình thực nghiệm xác định loại keo dán phù hợp 52
Hình 15 Mô hình thực nghiệm xác định miền biến thiên của các thông số công
nghệ
53
Hình 16 Mô hình thực nghiệm xác định ảnh hưởng của các thông số công nghệ 56
Hình 17 Vị trí của miếng mẫu thử trong ngàm kẹp 57
Hình 18 Ví dụ về đồ thị lực/độ biến dạng 57
Hình 20 Thiết bị thử độ bền mỏi của mẫu dán keo đế 58
Hình 21 Các mẫu chuẩn bị thí nghiệm 59 Hình 22 Trang thiết bị chuẩn bị mẫu thí nghiệm 61
Hình 24 Bảng số liệu thí nghiệm theo quy hoạch thực nghiệm trên phần mềm
Design expert
70
ý nghĩa của các hệ số trên phần mền Design Expert
70
và kiểm tra ý nghĩa của các hệ số trên phần mền Design Expert
70
Trang 11TRẦN THỊ NHUẦN 7 LUẬN VĂN CAO HỌC
Hình 29 Biểu đồ thể hiện mối quan hệ tương tác giữa nhiệt độ sấy
74
Hình 30 Biểu đồ thể hiện mối quan hệ tương tác giữa nhiệt độ sấy và áp suất ép
75
Hình 31 Biểu đồ thể hiện mối quan hệ tương tác giữa nhiệt độ sấy và thời gian ép
75
Hình 32 Biểu đồ thể hiện mối quan hệ tương tác giữa nhiệt độ sấy và thời gian ép
76
Hình 33 Biểu đồ thể hiện mối quan hệ tương tác giữa áp suất ép dán và thời gian
76
Hình34 Biểu đồ thể hiện mối quan hệ tương tác giữa áp suất ép dán và thời gian ép
77
Trang 12TRẦN THỊ NHUẦN 8 LUẬN VĂN CAO HỌC
Danh mục các biểu, bảng
Bảng 1 Độ bám dính của keo PU với cao su trên cơ sở các loại cao su nguyên
liệu khác nhau
18
Bảng 3 Thành phần keo policloropren, phần khối lượng 30
Bảng 4 Các thông số đế giầy được lựa chọn nghiên cứu 49
Bảng 5 Các thông số của da được lựa chọn nghiên cứu 50
Bảng 6 Các đặc trưng cơ lý của da làm mũ giầy bảo vệ 50
Bảng 7 Các phương án thí nghiệm theo quy hoạch thực nghiệm 55
Bảng 9 Kết quả thí nghiệm xác định độ bền mối dán đế 64
Bảng 10 Bảng mã hóa các thông số công nghệ 68 Bảng 11 Kết quả thí nghiệm theo quy hoạch thực nghiệm 68
Trang 13TRẦN THỊ NHUẦN 9 LUẬN VĂN CAO HỌC
LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài: Lắp ráp các chi tiết phần đế giầy với phần mũ giầy (hay
còn gọi là ráp đế giầy) là công đoạn quan trọng trong quy trình công nghệ sản xuất
giầy Việc lắp ráp không chính xác hoặc mối ráp nối đế giầy với mũ giầy có độ bền
kém làm giảm đáng kể chất lượng và tuổi thọ của giầy
Trong quá trình sử dụng, dưới tác động của bàn chân (bẻ uốn nhiều lần) mối
ráp đế giầy cũng chịu tác động ép nén, bẻ uốn lặp lại Ngoài ra mối ráp nối này chịu
tác động đáng kể của các yếu tố cơ, lý nhiệt, hóa từ môi trường bên ngoài Các tác
động này làm cho mối ráp nối nhanh chóng bị giảm độ bền và dẫn đến bị phá hỏng
Trong môi trường lao động nặng nhọc và nóng nhiệt như trong ngành thép mối ráp
đế giầy bảo vệ chịu các tác động mạnh mẽ hơn và nhanh bị giảm bền Do vậy, việc
lựa chọn phương pháp ráp đế giầy phù hợp cũng như tối ưu hóa các thông số công
nghệ để đảm bảo độ bền tốt nhất cho mối ráp đế giầy là công việc quan trọng cần
phải tiến hành khi sản xuất giầy bảo vệ
đế giầy bằng công nghệ dán keo được sử dụng phổ biến nhất Trên 90 % số lượng
giầy thông dụng được sản xuất bằng công nghệ dán keo đế giầy Giầy bảo vệ cho
lao động ngành thép sử dụng các loại da thuộc làm mũ giầy và lót mũ giầy, đế giầy
từ cao su lưu hóa, pho mũi thép chống va đập và ép nén, lót thép chống đâm xuyên
theo toàn bộ bề mặt đế giầy nên việc áp dụng phương pháp ráp đế giầy bằng công
nghệ dán keo để sản xuât loại giầy này là phù hợp nhất
Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ vật liệu và công
nghệ hóa học đã sản xuất ra các loại keo có độ bền dán rất tốt cho tất cả các loại vật
liệu Tuy nhiên, dán keo là quá trình hóa lý phức tạp và chịu ảnh hưởng của nhiều
nhóm yếu tố: tính bám dính của chất dán, cấu trúc mối dán, công nghệ dán và điều
kiện sử dụng sản phẩm
Trong số các yếu tố này, có các yếu tố đã được quy định trong hướng dẫn sử
dụng keo dán hoặc quy định bởi nhà sản xuất ví dụ như nồng độ keo, mục đích sử
dụng cho các loại vật liệu dán, chất xử lý bề mặt vật liệu đi kèm khi sử dụng keo
Trang 14TRẦN THỊ NHUẦN 10 LUẬN VĂN CAO HỌC
dán, nhiệt độ, thời gian sấy trung bình v.v Các yếu tố công nghệ dán phụ thuộc
nhiều vào đặc điểm của các vật liệu làm giầy (mũ giầy và đế giầy), ví dụ cùng là đế
cao su lưu hóa nhưng thành phần hỗn hợp nguyên liệu cao su có thể rất khác nhau
và yêu cầu các thông số công nghệ dán khác nhau để đạt được mối dán có độ bền
cao Ngoài ra, các yếu tố công nghệ còn tùy thuộc vào công nghệ dán, ví dụ khi sử
dụng công nghệ sấy tự nhiên (với nhiệt độ phòng trong thời gian dài từ 30 phút đến
60 phút), cần phải hoạt hóa màng keo trước khi dán và độ bền mối dán bị ảnh
hưởng nhiều bởi thời gian và nhiệt độ hoạt hóa màng keo Khi sử dụng công nghệ
sấy tăng cường trong thời gian 3 đến 5 phút ở nhiệt độ 70 ÷ 80 °C thì không cần
phải hoạt hóa màng keo v.v
Với các lý do nêu trên, việc “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến độ
bền mối dán phần mũ giầy với phần đế giầy bảo vệ cho công nhân ngành thép”
nhằm thiết lập được công nghệ dán đế tối ưu đảm bảo chất lượng mối dán là việc
làm cần thiết và có tính thực tiễn cao Đây cũng là một phần nghiên cứu thuộc đề tài
“Nghiên cứu quy trình thiết kế và chế tạo giày cao cổ có tính năng bảo vệ cao sử
dụng trong một số môi trường khắc nghiệt” Mã số: 01C-01/02-2010-2
Lịch sử nghiên cứu: Việc nghiên cứu về giầy bảo hộ lao động đã được
nhiều nước trên thế giới tiến hành và đã chế tạo được rất nhiều loại giầy bảo vệ có
chất lượng cao trang bị cho quân đội, cho công nhân các ngành công nghiệp khác
nhau [10-12, 21] Các nghiên cứu tập trung vào chế tạo các loại nguyên phụ liệu
mới có chức năng bảo vệ cao, nghiên cứu các công nghệ ráp đế cho các loại giầy
chuyên dụng, chế tạo các loại keo dán và chất xử lý bề mặt để nâng cao chất lượng
mối dán đế Ngoài ra nhiều nghiên cứu quan tấm đến việc ứng dụng keo dán không
có dung môi hữu cơ độc hại trong sản xuất giầy nhằm giảm độc hại cho người và
tác động môi trường [10]
Ở nước ta, ngành công nghiệp da giầy còn khá non trẻ, các nghiên cứu về
giầy thông dụng nói chung [1], giầy bảo vệ nói riêng còn nhiều hạn chế Đã có một
vài đề tài nghiên cứu sản xuất giầy, ủng bảo vệ, sản xuất các chi tiết (đế giầy, pho
mũi v.v.) cho giầy bảo vệ [2, 3], về độ bền đường may mũ giầy [4, 6], và về giầy
Trang 15TRẦN THỊ NHUẦN 11 LUẬN VĂN CAO HỌC
bảo vệ cho lao động ngành thép [5 ÷ 8] Tuy nhiên chưa có đề tài nào quan tâm đến
công nghệ dán keo đế giầy nói chung, dán đế giầy giầy bảo vệ nói riêng Các
phương pháp thử nghiệm độ bền mối dán keo đế giầy chưa được quan tâm nghiên
cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn, đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của luận văn là: Thiết lập được ảnh hưởng của các
yếu tố công nghệ chính là nhiệt độ sấy màng keo, áp suất và thời gian ép dán đến độ
bền mối dán đế giầy cao su chịu nhiệt chịu dầu với da thuộc làm mũ giầy bảo vệ (độ
bền mối dán sau dán và độ bền mối dán đế sau bẻ uốn nhiều lần), từ đó đưa ra được
các thông số công nghệ tối ưu đảm bảo cho mối dán đế giầy bảo vệ đáp ứng được
yêu cầu sử dụng trong môi trường khắc nghiệt như của ngành thép
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Mối dán keo vật liệu đế cao su chịu
nhiệt, chịu dầu với da thuộc làm mũ giầy bảo vệ cho lao động ngành thép, sử dụng
các loại keo khác nhau (keo polyuretan và keo policlopren)
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu các thông số công nghệ chính có ảnh
hưởng lớn đến chất lượng mối dán đế giầy: nhiệt độ sấy màng keo, áp suất và thời
gian ép dán đế giầy
Tóm tắt cô đọng các luận điểm cơ bản:
Từ đặc điểm môi trường và đặc trưng nghề nghiệp ngành thép đưa ra được
các yêu cầu đối với mối ráp đế giầy bảo vệ, phương pháp xác định độ bền mối dán
đế giầy
Từ nghiên cứu bản chất dán keo đế giầy, các yếu tố ảnh hưởng đến chất
lượng mối dán đế, lựa chọn được các loại keo dán để nghiên cứu cũng như các
thông số công nghệ chính cần nghiên cứu đó là nhiệt độ sấy màng keo, áp suất và
thời gian ép dán đế giầy
Trên cơ sở khảo sát các cơ sở sản xuất giầy bảo vệ, đã lựa chọn được phương
pháp và công nghệ thử nghiệm mối dán keo
Nghiên cứu khảo sát xác định loại keo phù hợp để dán đế giầy chịu nhiệt
chịu dầu cho lao động ngành thép
Trang 16TRẦN THỊ NHUẦN 12 LUẬN VĂN CAO HỌC
Nghiên cứu khảo sát xác định miền biến thiên của các thông số công nghệ
Theo mô hình tổ hợp quay trung tâm của Box-Willson đã tiến hành thí
nghiệm, xử lý số liệu trên phần mềm Design Expert 6.0 đã thiết lập được các hàm
hồi quy thể hiện ảnh hưởng của các thông số công nghệ: nhiệt độ sấy màng keo, áp
suất và thời gian ép dán đế giầy đến độ bền mối dán đế sau dán và sau bẻ uốn nhiều
lần
Thiết lập được các thông số công nghệ tối ưu đảm bảo chất lượng mối dán
Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu khảo cứu tài liệu đã công bố về công nghệ dán keo đế giầy, về
yêu cầu đối với mối dán đế giầy bảo vệ, các phương pháp và tiêu chuẩn đánh giá
chất lượng mối dán đế giầy làm cơ sở cho nghiên cứu thực nghiệm
Thí nghiệm xác định các độ bền mối dán đế theo các tiêu chuẩn trong nước
và quốc tế
Sử dụng quy hoạch thực nghiệm trong nghiên cứu ảnh hưởng đồng thời của
các yếu tố công nghệ đến độ bền mối dán đế giầy sau dán và sau bẻ uốn nhiều lần,
xác định công nghệ dán tối ưu
Sử dụng các phần mềm chuyên dụng để xử lý số liệu thí nghiệm
Đóng góp của tác giả: Đã thiết lập được các phương trình hồi quy thể hiện
ảnh hưởng của 3 thông số công nghệ dán keo đến độ bền mối dán keo đế giầy bảo
vệ cho lao động ngành thép và xác định được các thông số công nghệ tối ưu trên cơ
sở tiếp cận vấn đề một cách hệ thống: từ khảo sát loại keo dán, ảnh hưởng của từng
yếu tố cũng như ảnh hưởng đồng thời của các yếu tố đến độ bền mối dán đế Đã
phát triển phương pháp đánh giá độ bền mối dán đế sau bẻ uốn nhiều lần ở điều
kiện không khí nóng tương tự môi trường sử dụng giầy Kết quả đề tài là cơ sở khoa
học cho việc nghiên cứu nâng cao chất lượng dán keo đế giầy với các mục đích sử
dụng khác nhau Đề tài góp phần nghiên cứu sử dụng nguyên phụ liệu trong nước
nước để sản xuất giầy bảo vệ
Trang 17TRẦN THỊ NHUẦN 13 LUẬN VĂN CAO HỌC
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Bản chất dán trong sản xuất giầy
1.1.1 Các đặc điểm dán trong sản xuất giầy và đồ da
pháp chính để liên kết các chi tiết và lắp ráp sản phẩm Khác với các phương pháp
lắp ráp cơ học (dùng đinh, vít, chốt, chỉ), phương pháp dán không yêu cầu thiết bị
đắt tiền (có chi phí thiết bị thấp), việc liên kết tuần tự các chi tiết được thay thế bằng
liên kết song song (đồng thời) nên có năng suất cao hơn, mở ra khả năng to lớn để
cơ học hoá và tự động hoá các quá trình công nghệ
Điểm khác biệt của giầy dán là nhẹ, mềm uốn, cấu trúc đẹp, sự thay đổi mẫu
mốt tương đối nhanh chóng Phương pháp dán keo tạo khả năng lý tưởng cho việc
sử dụng các chi tiết đúc, được lắp ghép trước và các cụm chi tiết Với phương pháp
dán keo không có những đòi hỏi cứng nhắc (khắt khe) đối với độ dày và độ bền của
các chi tiết giầy, do vậy cho phép sử dụng các chi tiết có độ dày khác nhau, có các
tính chất cơ học khác nhau Điều này đặc biệt quan trọng trong các điều kiện ngày
càng xuất hiện các vật liệu nhân tạo mới rất đa dạng về các tính chất cơ học và độ
dày để làm giầy và sản phẩm da Với phương pháp dán keo, việc chuyển đổi sang
các vật liệu mới này không gặp khó khăn [21]
nghĩa là các trường hợp khi mà độ bền liên kết các chi tiết được đảm bảo chỉ bởi
mối dán keo Đối với các công đoạn này sử dụng các keo có độ bền cao, đàn hồi,
chịu nhiệt và nước: như keo PU, keo policlopren
Trang 18TRẦN THỊ NHUẦN 14 LUẬN VĂN CAO HỌC
cường như pho mũi, pho hậu, các chi tiết tăng cường mũ giầy và các chi tiết lót
Keo dán cho nhóm công đoạn này cần có độ bền đạt yêu cầu, rẻ và dễ mua Để cho
mục đích này sử dụng keo latex
Nhiệm vụ của các công đoạn dán phụ là tiền lắp ráp các chi tiết mà tiếp theo
chúng được gia cố bởi các phương pháp không dán, ví dụ, cố định tạm thời chi tiết
mũ giầy trước khi may chúng Để dán phụ sử dụng keo dung dịch từ cao su tự nhiên
(ở dạng 9 - 10 % trong dung môi xăng) Loại keo này cho độ dính nhớt cao của
màng keo đã sấy (các chi tiết dễ dàng dính với nhau thậm chí chỉ cần ép nhẹ) Độ
bền mối dán này không cao, nhưng các chi tiết cố định chính xác với nhau trước khi
may
1.1.2 Các cơ sở lý thuyết quá trình dán keo
1.1.2.1 Vai trò của tính bám dính trong dán keo
bám dính Bán dính – là hiện tượng tác động tương hỗ của các bề mặt không đồng
nhất khi tiếp xúc với nhau Sự xuất hiện mối liên kết bám dính diễn ra cơ bản nhờ
sự tác động lực giữa các phân tử Các nghiên cứu riêng rẽ cho thấy, các hiện tượng
điện bám dính, khuyếch tán, cũng như sự tác động tương hỗ hoá học và cơ học
thuần tuý xuất hiện khi có sự tác động bám dính lẫn nhau của các cặp vật liệu có ý
nghĩa quan trọng
Để xác định độ bám dính có thể sử dụng thiết bị đo độ bám dính Deriagin
(hình 1) Quét keo lên tấm kính có thể quay tròn Treo tải trọng bóc keo vào màng
keo đã sấy khô Với góc α xác định đánh dấu được trên bảng vạch, diễn ra sự bóc
màng keo khỏi tấm kính Công bám dính (J) trong trường hợp này được tính theo
công thức [22]
A = (M/b)(1 – cos α),
b - Chiều rộng dải keo, cm
Trang 19TRẦN THỊ NHUẦN 15 LUẬN VĂN CAO HỌC
Hình 1 Xác định độ bám dính nhờ thiết bị đo Deriagin:
1– Màng keo được sấy khô;
2– Tải trọng bóc;
3– Tấm kính quay tròn;
4 – Thang đo
Khi nghiên cứu quá trình dán, các vật liệu để dán được gọi là chất dán (hay
vật liệu dán), còn các vật liệu được dán gọi là vật được dán Thuật ngữ độ bám dính
(Autogezia) – là hiện tượng tác động lẫn nhau giữa hai lớp của cùng một loại vật
liệu khi tiếp xúc với nhau Thuật ngữ độ dính nội (Kogezia) – là hiện tượng sự tác
động tương hỗ giữa các phân tử bên trong vật liệu bất kỳ Tương ứng với các thuật
ngữ này có 3 cơ chế phá huỷ mối dán keo (hình 2) [22]
a b
c d
Hình 2 Các sơ đồ mối dán keo trước khi bị phá huỷ (a) và cơ chế phá huỷ bán dính (b), phá huỷ theo vật liệu dán hoặc vật liệu được dán (c); phá huỷ kết hợp (d):
Trang 20TRẦN THỊ NHUẦN 16 LUẬN VĂN CAO HỌC
(hình 2, d)
(kogezia), nó minh chứng cho chất lượng keo dán tốt Cho phép cơ chế phá huỷ kết
hợp, còn phá hủy bám dính hoàn toàn không cho phép, do keo có tính chất bám
dính kém (hoặc chúng không có)
Để giải thích hiện tượng bám dính, người ta đã đề xuất một số thuyết bám
dính xét từ các góc nhìn khác nhau khi giải thích hiện tượng bám dính: thuyết cơ
học, thuyết phân tử, thuyết hấp phụ, thuyết điện, thuyết điện tử, thuyết khuyếch tán,
thuyết hoá học, thuyết lưu biến v.v
Lần đầu tiên vào năm 1927 Mak–Bein đã công bố cái gọi là thuyết bám dính
“cơ học”, trong đó ông xem xét sự bám dính như là quá trình “tạo nêm” cơ học của
keo dán trong các lỗ hở của vật liệu được dán Sự tạo thành các “nêm”, “chốt” đa
dạng từ chất keo đóng cứng đảm bảo cho độ bền mối dán Để lấy ví dụ đã sử dụng
mối dán các vật liệu xốp tiêu biểu như gỗ, giấy [22]
liên quan đến cấu tạo hoá học của các chất Ví dụ, keo phân cực mạnh nitroxenlulo
dán rất tốt các vật liệu phân cực – gỗ và da thuộc, nhưng không dán được cao su
không phân cực Liên quan đến vấn đề này người ta bắt đầu nói đến sự bám dính
“đặc thù” Để giải thích nó đã đề xuất thuyết hấp phụ
Thuyết hấp phụ xem xét độ bám dính như là kết quả của sự xuất hiện các
lực tác động giữa các phân tử giữa các nhóm hoạt tính của vật liệu được dán và vật
liệu dán Điều quan trọng là keo dán và vật liệu được dán có các nhóm phân cực,
điều này đảm bảo cho sự hấp phụ của các nhóm phân cực ở các tâm hoạt tính của
vật liệu được dán Các liên kết bám dính do hấp phụ được tạo thành theo hai giai
đoạn:
chảy hoặc keo dung môi đến bề mặt vật liệu được dán
vật liệu được dán nhỏ hơn 0,5 nm (5 A°) bắt đầu tác dụng lực vandecvan dẫn đến
Trang 21TRẦN THỊ NHUẦN 17 LUẬN VĂN CAO HỌC
tạo thành các liên kết hấp phụ (có nghĩa là liên kết bám dính) giữa chúng
bền của từng liên kết và số lượng liên kết Số lượng liên kết phụ thuộc vào số lượng
nhóm hoạt tính trong phân tử keo dán và các tâm hoạt tính hấp thụ trên bề mặt vật
liệu dán, cũng như vào xác xuất gặp gỡ các tâm hoạt tính trong quá trình tạo thành
mối dán keo Sự trùng hợp hình học của các tâm hoạt tính các đại phân tử bề mặt
vật liệu dán và keo dán là một trong số các nguyên nhân có sự khác biệt giữa lý
thuyết và thực nghiệm độ bền của liên kết bám dính
giữa các phân tử Ví dụ, khi trong các phân tử chất dán và vật liệu được dán có các
nguyên tử ôxi không mang điện tích âm, nguyên tử nitơ, flo gần với các nguyên tử
hiđrô, có thể tạo thành các liên kết hiđro dạng H…O, H…N hoặc H…F, nhờ chúng
mà mối liên kết bám dính nhất định được hình thành Thông thường mối liên kết
hiđro được hình thành khi nguyên tử hiđro nằm giữa vật cho và nhận điện tử
Từ quan điểm cái gọi là thuyết bám dính “điện tích” các mối liên kết cho -
nhận điện tử cũng là một trong số các dạng liên kết giữa các phân tử Mối quan hệ
cho - nhận được hình thành khi phân tử cho các điện tử cho các phân tử nhận điện
tử Các vật nhận điện tử được hiểu là các nguyên tử hoặc các hệ phân tử chúng có
mức độ khuyết điện tử và có ái lực dương với điện tử Vật cho được hiểu là các
nguyên tử và các nhóm có các cặp điện tử tự do Khi tạo thành các mối liên kết cho
- nhận, các cặp điện tử tự do sẽ trở thành của chung đối với vật cho và vật nhận
Các khái niệm “vật cho” và “vật nhận” có thể là các nhóm chức xác định tham gia
vào hình thành mối liên kết bám dính Khi có sự tác động tương hỗ của các vật cho
và nhận mạnh thì độ bền của mối liên kết cho - nhận có thể sánh với độ bền các mối
liên kết hoá học [22]
phân tử polime có thể phân bố thành dãy, trong đó mỗi thành phần đứng trước là vật
Trang 22TRẦN THỊ NHUẦN 18 LUẬN VĂN CAO HỌC
Độ bám dính tăng lên theo chiều loại bỏ lẫn nhau các nhóm của các polime
tương ứng trong dãy cho - nhận
xét đến vị trí của chúng trong dãy cho - nhận, có thể đạt được độ bám dính cao, ví
su trên cơ sở các cao su khác nhau thể hiện trên bảng 1 Từ bảng này thấy rằng, độ
bám dính tăng lên theo chiều loại bỏ trong dãy cho - nhận của các nhóm chức của
keo PU (nhóm – OCONH) và các vật liệu được dán đã nghiên cứu
Bảng 1 Độ bám dính của keo PU với cao su trên cơ sở các loại cao su nguyên liệu
liệu được dán tạo thành các liên kết hoá học (liên kết hoá trị, liên kết ion và liên kết
phối trí) giữa các đại phân tử của chúng, điều này làm cho độ bám dính rất cao Các
tác động hoá học được xác lập trong các trường hợp dán các vật liệu khác nhau
bằng keo PU Có các mối liên kết sunfit xuất hiện giữa các phân tử cao su và kim
loại trong trường hợp lưu hoá cao su với kim loại Sự xuất hiện các mối liên kết hoá
học hoàn toàn có thể cả khi dán cao su có trong thành phần các nối đôi hoạt tính
về mặt kim loại thường được bao phủ bởi màng oxit hiđrat hoá, do vậy tạo thành
Trang 23TRẦN THỊ NHUẦN 19 LUẬN VĂN CAO HỌC
các liên kết hoá học theo sơ đồ sau:
–H2O Me–OH + HOOCR ––––––– Me–OOR
Cần phải chú ý là giữa các mối liên kết hoá học và liên kết giữa các phân tử
không có sự khác nhau về nguyên tắc và sự tạo thành loại này hoặc loại kia trong
vùng tiếp xúc của chất dán – vật liệu được dán đều có khả năng và mong muốn như
nhau Tuy nhiên các liên kết giữa các phân tử, xét từ quan điểm năng lượng học, thì
yếu hơn các liên kết hoá học, trong các hệ thực tế chúng nhiều hơn nhiều so với liên
kết hoá học Do vậy tổng năng lượng tác động tương hỗ giữa các phân tử có thể lớn
hơn năng lượng tác động tương hỗ của các liên kết hoá học, tuy bền chắc hơn
nhưng có số lượng ít hơn
Thuyết bám dính “khuyếch tán” xem xét đến vai trò của khuyếch tán trong
việc tạo thành hệ chất dán – vật liệu được dán Do các chất dán thường được quét ở
dạng lỏng nên các đại phân tử của chúng động hơn so với các phân tử vật liệu được
dán, và sự tác động qua lại trong hệ chất dán – vật liệu được dán diễn ra nhờ sự
khuyếch tán các đại phân tử chất dán (các đầu mạch hoặc các phần của chúng) qua
lớp giới hạn tiếp xúc vào vật liệu được dán Nếu vật liệu được dán có khả năng
trương nở trong dung môi, thì có thể có sự khuyếch tán các phân tử vật liệu được
dán vào chất dán Theo quan điểm thuyết khuyếch tán (và thuyết autogezia) cả hai
quá trình dẫn đến hình thành mối hàn (liên kết), do vậy hiện tượng bám dính cần
xem xét không như hiện tượng bề mặt mà như hiện tượng không gian Nhờ vậy mà
độ bền mối liên kết đánh giá bởi bản chất bám dính và bản chất tự dính (Kogezia)
Sự khuyếch tán trong trường hợp này có liên quan với sự bẻ uốn và khả năng
các mạch đại phân tử thay đổi hình dạng do chuyển động nhiệt Việc xâm nhập của
các đại phân tử hoặc các phần riêng rẽ của vật dán vào vật liệu dán và ngược lại (từ
vật liệu được dán vào vật dán) tăng đáng kể diện tích tác động qua lại giữa các đại
phân tử và tăng độ bền bám dính Các nghiên cứu cho thấy sự xâm nhập qua lớp
phân giới tiếp xúc của một mắt xích của đại phân tử keo policlopren có chiều dài
0,468 nm (4,68 °A) làm tăng diện tích tiếp xúc giữa các phân tử lên 3 lần Đây cũng
Trang 24TRẦN THỊ NHUẦN 20 LUẬN VĂN CAO HỌC
là nguyên nhân độ bám dính cao trong trường hợp dán các loại cao su không phân
cực hoặc phân cực yếu Thậm chí, khi không có các nhóm chức phân cực mạnh,
nhưng nhờ tăng diện tích tiếp xúc có thể nhận được độ bền bám dính cao, ví dụ,
trong trường hợp dán đế cao su không phân cực bằng keo không phân cực [22]
suất, nhiệt độ, thời gian – có ảnh hưởng tích cực đến sự tác động qua lại của chất
dán và vật liệu được dán Nhiệt độ, áp suất và thời gian tiếp xúc càng cao thì ảnh
hưởng của nó đến độ bền mối dán khi sử dụng các chất dán dạng dung dịch càng
cao Tất nhiên, khi thiết lập các chế độ dán (ví dụ, dán đế) người ta xác định các chế
độ tối ưu theo nhiệt độ, áp suất, thời gian ép đảm bảo độ bền tiêu chuẩn mối dán đế
giày
nên rõ ràng là việc sử dụng các loại keo dạng cao su có các nhóm chức phân cực
hoạt tính là thích hợp nhất
Trước tiên là các cao su clorpren và poliuretan là cơ sở tương ứng của các
loại keo policlopren và PU Nhờ có sự mềm uốn của các đại phân tử cao su tạo nên
sự xâm nhập lẫn nhau của các đại phân tử hoặc các phần (sector) của các đại phân
tử ở vùng tiếp xúc giữa keo dán và vật liệu được dán, đảm bảo cho mối dán keo có
độ bền vững với bẻ uốn, còn nhờ các nhóm chức phân cực mạnh mà tạo nên sự tác
động tương hỗ mạnh giữa các phân tử Ngoài ra khi sử dụng các keo PU có thể tạo
thành cả các mối liên kết hoá học trực tiếp giữa các phân tử keo dán và vật liệu
được dán, do vậy, về tổng thể, cho phép nhận được các mối dán bền chắc và tin cậy
Độ bám dính còn có mối liên quan nhất định với hiện tượng thấm ướt Giọt
chất lỏng hoặc giọt dung dịch keo dán được đưa lên bề mặt cứng, hoặc là chảy trên
bề mặt, hoặc là co cụm lại thành hình cầu (hình 3) Trường hợp đầu tiên (a) minh
chứng cho sự thấm ướt bề mặt bởi chất lỏng, cũng như minh chứng cho có sự bám
dính; trường hợp thứ hai (b), ngược lại minh chứng cho sự không thấm ướt bề mặt
và không bám dính Đối với các trường hợp tương tự độ bám dính của chất lỏng với
bề mặt (N/m) có thể tính theo công thức Dupre [22]:
Trang 25TRẦN THỊ NHUẦN 21 LUẬN VĂN CAO HỌC
lỏng và vật rắn Góc cạnh thấm ướt tỷ lệ nghịch với độ bám dính: góc cạnh thấm ướt càng
nhỏ, thì độ thấm ướt và giá trị độ bám dính càng lớn Đối với các loại keo sử dụng
trong ngành giầy thì góc cạnh thấm ướt tối ưu là 30 độ Góc thấm ướt nhỏ sẽ gây
lên sự chảy keo trên bề mặt và là điều không mong muốn để tránh làm bẩn chi tiết
Tăng góc thấm ướt dẫn đến làm giảm độ bám dính
1.1.2.2 Các yếu tố độ bền mối dán keo
Như đã trình bày ở trên, yếu tố xác định độ bền mối dán keo là độ bám dính
của keo dán với vật liệu được dán; không có nó, nói chung, không thể tạo thành mối
dán keo Tuy nhiên độ bền thực tế của mối dán keo chịu ảnh hưởng của một tập hợp
các yếu tố
Độ bền mối dán keo: Khả năng dán của các loại keo dán đế giầy chính
(Policlopren và PU) được xác định theo các mẫu chuẩn gồm các dải cao su màu xốp
(ví dụ cao su giả da) và vải (vải dày hai lớp) [21] Kích thước phần làm việc của
mẫu thử là 25x100 mm (hình 5) Quét keo hai lần lên các phần làm việc của dải cao
su và vải sau đó sấy trong vòng 90 phút ở nhiệt độ (20 ± 3) °C Trước khi dán tiến
hành hoạt hoá màng keo đã xấy khô ở nhiệt độ 85 – 100 °C trong vòng 20 - 30 s
Thời gian ép 30 s ở áp suất 0,3 – 0,35 Mpa Sau khi dán 24 giờ các mẫu thử được
kéo bóc trên máy kéo đứt Các đầu tự do mẫu được kẹp và các ngàm kẹp của máy
Trang 26TRẦN THỊ NHUẦN 22 LUẬN VĂN CAO HỌC
Độ bền dán keo (khả năng dán) trong trường hợp sử dụng keo policlopren cần
phải không dưới 2,7 kN/m, còn đối với keo PU – không dưới 4,0 kN/m
Độ bền mối dán đế giầy được xác định theo GOST 9292–82 của LB Nga Giầy
có phần đế đã bóc hoặc chưa dán được kẹp vào các dụng cụ chuyên dùng trên máy
(hình 7) kéo đứt
Hình 7 Sơ đồ bộ gá vào máy kéo đứt để xác định độ bền mối dán keo đế giầy:
1– ốc vít 2– kẹp 3– gia cố kẹp 4– xà (trụ) đỡ 5– trục 6– ốc 7– kẹp trên Khi kẹp bên dưới của máy kéo đứt chuyển động, đế lần lượt được bóc từ phần
mang đến phần mũi Theo các dấu trên đế xác định tải trọng bóc của 8 vùng rồi sau
Trang 27TRẦN THỊ NHUẦN 23 LUẬN VĂN CAO HỌC
và mang ngoài) Tính độ bền mối dán đế Q (kN/m) tương tự như công thức trên:
Q = Ptb/rtb Tiêu chuẩn độ bền được ấn định theo loại giầy, dạng và độ dày vật liệu đế Ví
dụ, đối với giầy nam có đế PU dày 5 mm, độ bền mối dán đế không dưới 4,4 kN/m
Theo tiêu chuẩn EN ISO 20345:2004 [17] độ bền mối dán keo được quy định là
không dưới 4 N/mm, trường hợp xé vật liệu đế giầy không dưới 3 N/mm Độ bền
mối dán đế được xác định theo EN ISO 20344: 2004 [18]
Độ bền mối dán các sản phẩm da phụ thuộc vào 4 nhóm yếu tố: khả năng bám
dính của vật liệu dán với vật liệu được dán, cấu trúc mối dán, công nghệ dán và yếu
tố sử dụng sản phẩm [22]
Các yếu tố khả năng bám dính có liên quan đến đặc điểm các tính chất bám dính
của keo dán và vật liệu được dán, sự tác động lẫn nhau của chúng; sự thay đổi các
tính chất bám dính trong quá trình sử dụng
Các yếu tố cấu trúc được quy định bởi đặc điểm kết cấu sản phẩm và mối dán
(kích thước hình học và đặc trưng liên kết các thành phần cấu trúc), cấu trúc và các
tính chất ban đầu của keo dán và vật liệu được dán (các tính chất bám dính và hoá
lý)
Nhóm yếu tố công nghệ đó là đặc trưng bề mặt vật liệu được dán sau khi tiền
xử lý; độ nhớt của keo dán và thời gian sấy màng keo; nhiệt độ và thời gian hoạt
hoá màng keo; thời gian và áp suất ép dán; thời gian để nghỉ và làm lạnh sau khi ép
v.v
Các yếu tố sử dụng bao gồm đặc trưng biến dạng tĩnh và động của mối dán
trong khi sử dụng sản phẩm, các tác động nhiệt độ và thời tiết, tác động của nước và
các hoá chất, thời gian sử dụng v.v
Như vậy, độ bền mối dán keo chịu ảnh hưởng của tập hợp các yếu tố, trong đó
ảnh hưởng của từng yếu tố mang tính đặc thù: mối liên hệ của một loạt các yếu tố
với độ bền mối dán keo đều có đặc trưng cực đại, ở một số khác đặc trưng bởi
đường cong phát triển lên, ở một số yếu tố khác đặc trưng bởi đường cong giảm
Trang 28TRẦN THỊ NHUẦN 24 LUẬN VĂN CAO HỌC
xuống Nhiệm vụ có liên quan đến việc tối ưu hoá tất cả các yếu tố để nhận được độ
bền tối đa của mối dán keo là rất phức tạp và ngày nay công việc này được tiến
hành có sử dụng các phương pháp tối ưu thống kê trên cơ sở lập kế hoạch thực
nghiệm và phân tích nhiều yếu tố [22]
1.1.2.3 Độ bền (tuổi thọ) của mối dán keo
Độ tin cậy và độ bền của giầy dán keo phụ thuộc rất nhiều vào độ bền của
mối dán keo, trước tiên là độ tin cậy của mối dán phần đế giầy Độ tin cậy và độ bền
mối dán keo giầy, như đã nói ở trên, phụ thuộc vào 4 nhóm yếu tố, mỗi nhóm có thể
có ảnh hưởng quyết định đến cả độ mỏi động học của mối dán keo giầy trong quá
trình sử dụng Ví dụ, độ bám dính không đầy đủ của keo dán với vật liệu được dán
có thể dẫn tới làm mất tất cả các ưu điểm còn lại của mối dán keo Độ bền nhiệt
thấp của mối dán keo có thể dẫn đến mất độ tin cậy của mối dán keo trong điều kiện
sử dụng [21]
Độ bền mỏi động của mối dán keo được quy định bởi khả năng chịu các tác
động cơ học từ bên ngoài khi sử dụng giầy Thời hạn sử dụng sản phẩm cho thấy,
sau mỗi chu kỳ biến dạng diễn ra sự thay đổi cố định (không thuận nghịch) các tính
chất, chúng tích tụ lại và dẫn đến làm hỏng mối dán keo
tuổi thọ của mối dán keo Nguyên nhân thứ nhất là sự lão hoá, có liên quan đến tác
động của các yếu tố bên ngoài (ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, ôxi v.v.), trong quá trình
sử dụng Chúng gây lên những thay đổi có hại không thuận nghịch các tính chất của
mối dán keo, hoặc có sự thay đổi trong thành phần và cấu tạo màng keo dẫn đến
đánh mất tính đàn hồi Nguyên nhân thứ hai là sự tác động các biến dạng cơ học lên
mối dán keo trong khi sử dụng giầy Quá trình xuất hiện và tích tụ các biến dạng
khác nhau trong mối dán keo (trong đó có biến dạng cơ học) khi chịu tác động cơ
học gọi là sự mỏi, còn tổng xác định các sự thay đổi tích tụ lại đến thời điểm xác
định và xác định sự giảm độ bền và khả năng làm việc của sản phẩm gọi là độ mỏi
Khả năng làm việc, nếu nó được thể hiện bằng đơn vị thời gian, gọi là tuổi
thọ (tĩnh và động), còn nếu nó thể hiện bằng số lượng chu kỳ – độ chịu đựng hay độ
Trang 29TRẦN THỊ NHUẦN 25 LUẬN VĂN CAO HỌC
bền mỏi Độ bền mỏi được đặc trưng bởi giá trị sức căng (chỉ số độ bền) tương ứng
với sự phá hủy sau số lượng chu kỳ mỏi cho trước
Khi nghiên cứu quá trình làm việc phức tạp của mối dán keo đế giầy khi đi
lại, có thể phân ra 3 loại biến dạng (ba yếu tố độ bền và tuổi thọ): bẻ uốn nhiều lần,
sự va chạm và ép nén nhiều lần
khi bị biến dạng bẻ uốn nhiều lần Các thử nghiệm tiến hành trên thiết bị thử độ bẻ
Các mẫu thí nghiệm có kích thước 190 x 25 mm, gồm các vật liệu tiêu biểu cho
mối dán đế giầy như trong bảng 2 được dán bằng keo policlopren Mép trên của
mẫu được cố định trên trống nhờ các kẹp, còn mép dưới – với các kẹp Các kẹp này
chuyển động tiến lùi nhờ cơ cấu trục khớp Vận tốc chuyển động tương ứng bước đi
– 90 lần/phút Bán kính của trống từ 15 đến 50 mm, tương ứng với bán kính bẻ uốn
tiêu biểu của đế giầy khi đi lại Sau thí nghiệm nhiều lần mẫu bị bóc tách Chỉ số độ
kháng bóc tách của các mẫu này so sánh với các chỉ số tương tự của các mẫu không
chịu biến dạng Kết quả thí nghiệm thể hiện trong bảng 2
Trang 30TRẦN THỊ NHUẦN 26 LUẬN VĂN CAO HỌC
Bảng 2 Thử nghiệm độ bền mỏi động của mối dán keo [22]
Độ bền bóc mẫu, kN/m Vật liệu được dán
Bán kính
bẻ uốn,
mm
Số lượng chu kỳ bẻ
dạng cao su có tính đàn hồi cao những không giảm mà một số chỗ còn tăng độ bền,
điều này rõ ràng có liên quan đến sự định hướng bổ xung cấu trúc phân tử keo dán ở
biến dạng cho trước [22]
Trang 31TRẦN THỊ NHUẦN 27 LUẬN VĂN CAO HỌC
1.2 Các loại keo dán đế giầy
Ngày nay trong sản xuất giầy người ta sử dụng rất nhiều loại keo, trong số
chúng để dán đế giầy sử dụng chủ yếu hai loại keo: policloropren (neopren) và
poliuretan (PU)
1.2.1 Keo policloropren (neopren)
Keo policlorpren chủ yếu được sử dụng để dán đế cao su và đế da Mối dán
đế có độ bền cao, mềm uốn, đàn hồi, chịu nước, chịu nhiệt vừa phải, bền vững với
oxi hoá [21, 22]
Cơ sở của các keo này là policloropren, hoặc, đôi khi còn gọi nó là cao su
cloropren, bởi vì theo cấu tạo chúng là cao su phân cực tiêu biểu:
ở giữa đảm bảo độ đàn hồi cho các đại phân tử và tương ứng là tính đàn hồi cho mối
dán Gốc clo tạo cho chất keo này tính chất phân cực và nhờ vậy mà tăng độ bám
dính với vật liệu làm giầy
Để làm keo người ta sử dụng cao su cloropren có nhiệt độ polime hoá thấp
về cơ bản là các mắt xích 1,4 –tran–policloropren (đến 90 %)
Cấu trúc tran được xác định bởi sự phân bố các thay thế theo hai bên tương
ứng với nối đôi, điều này quy định hình thù xác định của mạch đảm bảo tăng tính
Trang 32TRẦN THỊ NHUẦN 28 LUẬN VĂN CAO HỌC
thấp (polime hoá nhũ tương ở 5 °C) được bắt đầu ở Mỹ từ năm 1939 Chúng bắt đầu
được sản xuất với tên gọi “Neopren” (neopren AC, AD, AF) Các keo nhận được
trên cơ sở chúng có tên thương mại là keo Neopren [21]
Sau đó ở Êrevan LB Nga cũng sản xuất loại keo cao su clopren nhiệt độ thấp
tương tự với tên gọi là “Nairit” (nairit NT, NT–C, ONP, RNP, NT–N, NXK,
KRNT) Keo trên cơ sở các cao su này được gọi là keo Nairit
Ngày này sử dụng nhiều các loại keo của các hãng hoá chất khác nhau trên
thế giới như Baipren –330 (Đức), Skaipren G–40T (Nhật), Butaclor (Pháp) v.v Các
loại keo kể trên tương tự nhau về cấu tạo và tính chất, do vậy cho phép sử dụng
chúng với tỷ lệ pha trộn bất kỳ
polime hoá thấp có tốc độ và mức độ tinh thể hoá cao Nhiệt độ tinh thể hoá tối ưu
là 0°C, khi đó polime ở trạng thái tinh thể đến 80 %, đảm bao cho nó có độ bền cao
trong khi vẫn duy trì độ đàn hồi
Ở nhiệt độ 45 °C, cao su cloropren sẽ rã tinh thể hoá, bởi vì sự tinh thể hoá là
xu hướng thuận nghịch của các đại phân tử trong vùng tinh thể hoá, chúng dễ dàng
bị phá vỡ khi gia nhiệt, ví dụ, khi hoạt hoá màng keo Khi đó xuất hiện độ đàn hồi,
độ nhớt, sau đó là trạng trái nhớt để dán các chi tiết Quá trình đóng cứng sau khi
dán có thể xem như là kết quả của tinh thể hoá lặp lại màng keo khi làm lạnh nó
Ngoài ra, keo cao su cloropren có tốc độ tinh thể hóa cao, nhờ vậy mà chúng nhanh
chóng tạo được độ bền ban đầu cho mối dán Do vậy keo policloropren là keo đóng
cứng nhanh: chỉ cần ép 20 – 30 s là chúng có được độ bền ban đầu cần thiết cho mối
dán Việc tinh thể hoá hoàn toàn mối dán được hoàn tất sau khi làm lạnh vài giờ
Việc làm lạnh mối dán và giầy càng mạnh thì mối dán kết tinh hoá càng nhanh và
độ bền càng tăng Thông thường độ bền đầy đủ của mối dán keo được xác định sau
khi dán 24 giờ
Keo cao su cloropren như là các chất nhiệt dẻo tiêu biểu thay đổi thuận
nghịch độ bền khi tăng nhiệt độ Để nhận được mối dán có tính chịu nhiệt người ta
cho vào thành phần của keo các chất lưu hoá Khác với cao su butadien, butadien–
Trang 33TRẦN THỊ NHUẦN 29 LUẬN VĂN CAO HỌC
styrol và cao su thiên nhiên, cao su policloropren không lưu hoá được bằng lưu
huỳnh Do nguyên tử clo có kích thước hình học lớn che chắn các nối đôi Để lưu
hoá cao su cloropren người ta sử dụng chủ yếu là oxit của các kim loại nặng như
oxit kẽm [22]
Cơ chế lưu hoá trong trường hợp này như sau:
Để làm chất tăng cường lưu hoá sử dụng clorua sắt, clorit kẽm, cacbonnat
kẽm v.v Ở nhiệt độ 130 °C sự lưu hoá cloropren hoàn thành trong vòng 40 phút,
nhưng ở nhiệt độ 20 °C việc lưu hoá keo dài vài ngày và có thể không lưu hoá hoàn
toàn
Hoạt tính của izoxianat được quy ước bởi các nhóm –N=C=O, đảm bảo cho sự tác
động qua lại nhanh chóng với các nhóm –OH của cao su, cacboxil –COOH v.v Cao
su cloropren được lưu hoá nhờ sự tác động của các nhóm izoxianat với các nhóm
hiđroxin tạo thành do oxi hoá một phần cao su, cũng như là kết quả thuỷ phân số
lượng nhỏ nhóm clo nằm tương ứng với nối đôi ở các vị trí 1 và 2 Một trong số
izoxianat được sử dụng là poliizoxianat của (LB Nga) có ký hiệu là B Nó là hỗn
hợp các sản phẩm trong đó chủ yếu là difenylmetandiizoxianat Việc lưu hoá hiệu
quả cả ở trong điều kiện lạnh đạt được khi chỉ cần cho chúng vào keo với số lượng
3 – 8 % [22]
dính tốt cả với các cao su không phân cực và phân cực yếu, cả với các vật liệu phân
cực mạnh như da thuộc và vật liệu dệt Độ bám dính của chúng với các loại vật liệu
Trang 34TRẦN THỊ NHUẦN 30 LUẬN VĂN CAO HỌC
giầy khác nhau cũng khác nhau và không phải lúc nào cũng đạt yêu cầu Do vậy
người ta cho vào keo policloropren các loại nhựa bám dính–hoạt tính để tăng độ
bám dính của keo với vật liệu giầy như nhựa 101K (butylfenolformaldehit), nhựa
thông, trong đó loại đầu tiên để tăng độ bám dính với da thuộc, còn loại thứ hai –
với các loại cao su, và còn làm tăng độ nhớt của màng keo khô
Để tăng các tính chất bám dính cho keo policloropren và độ chịu nhiệt của
chúng người ta cho các phụ gia bám dính–hoạt tính như policloropren được clo hoá
(chứa tới 68 % số lượng clo, trong khi ở cao su cloropren bình thường chỉ chứa 36 -
37 % clo) Chất phụ gia này thường cho vào 10 phần khối lượng trên 100 phần khối
lượng cao su
Để hoà tan cao su cloropren người ta sử dụng toluol, metylenclorit,
tricloretylen, hỗn hợp xăng với etylaxetat Hỗn hợp dung môi sau cùng là ít độc
nhất bởi vậy được sử dụng trong các loại keo của Nga
Nga) thể hiện trong bảng 3
Bảng 3 Thành phần keo policloropren, phần khối lượng [22]
Đơn pha chế Chất thành phần
5,0 8,0
4,0 4,0
7,0 –
Trang 35TRẦN THỊ NHUẦN 31 LUẬN VĂN CAO HỌC
20 –
– –
Keo dán theo đơn điều chế A là tiêu biểu, được khuyến cáo sử dụng trong tất
cả các doanh nghiệp giầy của LB Nga
tạo cho nó hàng loạt các tính chất hữu ích khác Ví dụ, oxitmanhê tránh lưu hoá dở
trong khi điều chế và quấy trộn hỗn hợp keo trên máy Nhựa thông là nhựa bám
dính–hoạt tính làm tăng cường tác động của các chất lưu hoá Tiuram D là chất tăng
cường lưu hoá tránh lưu hoá dở hỗn hợp keo khi trộn trên máy Urotropin có tác
động tương tự
Hỗn hợp keo được thể hiện trong bảng 3 được pha loãng trong hỗn hợp xăng
– etylaxetat với tỷ lệ ngang nhau 50 : 50 để nhận được keo có nồng độ 20 ÷ 25 %
Trong trường hợp quét keo hai lần sử dụng để quét lần đầu keo nồng độ 8 ÷ 12 %,
lần hai 23 ÷ 25 %
Keo policloropren có thể sử dụng ở dạng một thành phần hoặc hai thành
phần Các đơn keo A, B, C trong bảng 3 là các loại keo tiêu biểu có các tính chất
bám dính vừa phải, trong khi trên thị trường có những dạng vật liệu đế cao su mới
có các tính chất bám dính thấp đòi hỏi phải có các loại keo tương ứng Ví dụ, đế cao
su màu đen có lượng lớn chất làm đầy được sản xuất trên cơ sở cao su bồ hóng dầu
thuận tiện cho tái xử lý, dẫn đến các tính chất bám dính thấp Để dán chúng sử dụng
keo hai thành phần (đơn keo D trong bảng 3) Năm thành phần đầu tiên hoà tan
trong hỗn hợp dung môi xăng – etylaxetat Đây gọi là thành phần thứ nhất của keo
có nồng độ 20 % Thành phần thứ hai là 20 % dung dịch poliizixianat B trong
etylaxetat Cho thành phần thứ hai vào thành phần thứ nhất với số lượng 5 % trực
tiếp tại chỗ làm việc khi quét keo đế giầy Không nên cho chúng vào trước (sớm)
bởi vì “thời gian sống – sử dụng tốt” của keo chỉ là từ 4 đến 6 giờ [21]
Trang 36TRẦN THỊ NHUẦN 32 LUẬN VĂN CAO HỌC
Keo hai thành phần nhờ có izoxianat siêu hoạt tính nên lưu hoá nhanh chóng
và đảm bảo độ bền cao cho mối dán thậm trí cả các vật liệu đế cao su khó dán
Chúng thậm chí còn rất hiệu quả khi dán các loại da đế được tẩm dầu mạnh (hàm
lượng dầu hơn 8 %)
1.2.2 Keo poliuretan (PU)
Việc ứng dụng trong sản xuất giầy các loại vật liệu tổng hợp mới phân cực
mạnh như đế PU và polivinylclorua (PVC), yêu cầu sử dụng các loại keo phân cực
mạnh tương ứng, bởi vì keo policloropren phân cực yếu không thể đảm bảo độ bền
mối dán cần thiết trong trường hợp này Loại keo phân cực mạnh mới này chính là
keo PU có độ bám dính cao và độ bền mối dán cao Cơ sở của loại keo này là
poliuretan, chứa trong mạch polime nhóm uretan hoạt tính và phân cực mạnh [22]
Để sản xuất keo PU cho sản xuất giầy, sử dụng các poliuretan mạch thẳng có
nhóm hidroxin (cao su uretan), chúng được tạo thành khi cho diol (polieste phức
hoặc đơn có các nhóm –OH ở đầu và cuối) tác dụng với diizoxianat, trong đó idiol
lấy dư:
Phản ứng diễn ra giữa các nhóm -OH và các nhóm izoxianat –NCO do có sự
đẩy nguyên tử hidro về phía nguyên tử nitơ
Trong sản xuất giầy sử dụng chủ yếu là keo PU hai thành phần, trong đó thành
phần đầu tiên là dung dịch 20 % cao su PU có chứa nhóm -OH hoà tan trong
etylaxetat, còn thành phần thứ hai là dung dịch 20 % di– hoặc triizoxianat tan trong
Trang 37TRẦN THỊ NHUẦN 33 LUẬN VĂN CAO HỌC
etylaxetat là chất khâu mạch cao su PU trong mối dán keo
Thường người ta sử dụng các loại cao su PU mạch thẳng có chứa nhóm -OH
của hãng “Baier” ở dạng hạt với tên gọi thương mại là “Desmokol” Đặc trưng quan
trọng của chúng là là khả năng kết tinh Theo khả năng này cao su PU chia ra thành
cao su kết tinh yếu (Desmokol 176), trung bình (Desmokol 400) và kết tinh mạnh
(Desmokol 500, 510, 530, 540) Như đã nói ở trên với keo policloropren, sự kết tinh
mạnh và vận tốc kết tinh cao tạo các điều kiện để nhận được các loại keo đóng cứng
(bám dính) nhanh có tính công nghệ cao đảm bảo thời gian ép dán ngắn (20 – 30 s)
và nhận được mối dán có độ bền cao
Việc sử dụng các loại cao su kết tinh yếu và trung bình đòi hỏi chế độ ép dán
dài hơn Ví dụ, keo trên cơ sở cao su PU kết tinh trung bình Desmokol 400 đòi hỏi
thời gian ép dán là 60 s, như vậy quá lâu và không thuận tiện về công nghệ Ngoài
ra độ bền mối dán nhận được thấp hơn so với cao su kết tinh mạnh
Việc sử dụng tác nhân khâu mạch – izoxianat đảm bảo độ bền cao (gấp 2 ÷ 3
lần so với không có izoxianat) và độ bền nhiệt cao cho mối dán mà vẫn duy trì được
tính đàn hồi cao
Để làm izoxianat hãng “Baier” khuyến cáo sử dụng triizoxianat:
trifenilmetantriizoxianat, chúng được sản xuất với tên gọi thương mại là Desmodur
(Desmodur –20) Để hạ giá thành keo ở LB Nga đã sử dụng sản phẩm poliizoxianat
nhãn hiệu B nó chính là hỗn hợp difenilmetandiizoxianat và poliizoxianat Các
nhóm hoạt tính chính là izoxianat –N=C=O [21]
Đặc điểm của keo PU hai thành phần là cả hai thành phần – các dung dịch PU
và izoxianat – được trộn với nhau trực tiếp trước khi quét keo lên đế giầy tại chỗ
làm việc với khối lượng 5 ÷ 10 % thành phần thứ hai (dung dịch izoxianat) vào
thành phần thứ nhất (dung dịch PU) Izoxianat khâu mạch nhanh chóng PU ở điều
kiện lạnh thậm chí cả trong dung dịch, nên “thời gian sống” của keo chỉ là từ 4 đến
6 giờ, do vậy không nên pha chế keo sớm
Quá trình khâu mạch các đại phân tử PU diễn ra trong mối dán keo sau khi dán
đế Phản ứng chủ yếu trong trường hợp này là sự tác động của các nhóm –OH ở các
Trang 38TRẦN THỊ NHUẦN 34 LUẬN VĂN CAO HỌC
đầu mạch đại phân tử PU với các nhóm izoxianat của izoxianat Ngoài ra có thể
xuất hiện các liên kết allofanat giữa các nhóm –NH nằm trong mạch đại phân tử PU
và các nhóm izoxianat của triizoxianat theo sơ đồ:
quá trình khâu mạch chỉ các đầu hai phân tử theo các nhóm hidroxin và tạo thành
các cầu nối poliuretan, cũng như khâu mạch một đầu của một phân tử với điểm giữa
của phân tử khác bằng cầu nối allofanat
Dù sử dụng loại nào thì toàn bộ các đại phân tử (của mối dán keo) được khâu
thưa bởi các liên kết bền vững, chúng cũng không làm giảm tính đàn hồi của hệ
Hoàn toàn có thể có sự tác động của các nhóm izoxianat với các nhóm khác của vật
liệu được dán, đặc biệt khi dán đế PU bằng keo PU hai thành phần Sự tạo thành các
mối liên kết hoá học trực tiếp giữa các phân tử keo dán với vật liệu được dán làm
cho mối dán có độ bền rất cao
Một trong số các nhược điểm của keo PU là tính độc hại có liên quan đến các
izoxianat siêu hoạt tính được sử dụng Việc sử dụng Desmodur và poliizoxianat của
Nga không bay hơi và như vậy tương đối an toàn Tuy nhiên trong bất kỳ trường
HO–…–OH + OCN–R–NCO + HO–… –OH
Poliuretan N Triizoxianat Poliuretan
Trang 39TRẦN THỊ NHUẦN 35 LUẬN VĂN CAO HỌC
hợp nào cũng không được để chúng rơi vào đồ ăn và nước uống Bởi vậy khi quét
loại keo này cần phải dùng găng tay cao su và rửa tay cẩn thận sau khi làm việc
Một trong những biện pháp làm giảm tính độc hại của keo PU là đóng khối
(bloc) chúng và kết quả là chúng trở lên không độc hại Đa số các izoxianat để bloc
PU nhận được khi cho izoxianat tác động với các hợp chất có chứa nguyên tử hidro
linh động (còn được gọi là tác nhân bloc) theo sơ đồ [22]:
Khi gia nhiệt mối dán keo trên 100 °C mối liên kết C–X bị phân rã và giải
phóng izoxianat hoạt tính, nó khâu nhanh cấu trúc cao su PU Ví dụ
difenilmetandiizoxianat được bloc bởi metylpirazol, phân rã ở nhiệt độ 130 ÷ 140
°C và tiến hành khâu mạch tích cực PU (nhiệt hoạt hoá màng keo diễn ra ở nhiệt độ
200 ÷ 250 °C)
Phương án khác để nhận được keo PU hai thành phần không độc là sử dụng cái
gọi là tác nhân khâu mạch “giấu” thay cho izoxoanat, ví dụ như dixiandiamit (của
LB Nga)
Chất này được sử dụng khi sản xuất thành phần thứ hai ở dạng dung dịch 20
% tan trong etyaxetat và axeton Tác nhân khâu mạch này phân huỷ và tác động
phản ứng khi gia nhiệt màng keo cao hơn 90 °C (nhiệt độ thường dùng để hoạt hoá
màng keo) Tuy nhiên các tác nhân khoá và giấu khâu mạch hiện chưa được sử
dụng trong ngành giầy vì không có độ tin cậy về sự phân rã của chúng với chế độ
hoạt hoá ngắn (3 ÷ 6 s ở nhiệt độ 200 ÷ 250 °C hoặc 20 ÷ 30 s ở nhiệt độ 80 ÷ 110
°C), khi mà màng keo có nhiệt độ thực chỉ là 55 ÷ 60 °C
Keo PU hai thành phần có thể sử dụng như keo đa năng để dán các loại đế
khác nhau: không chỉ các đế từ vật liệu phân cực mạnh như đế PU và PVC và cả đế
cao su và đế da Để dán đế cao su người ta khuyến cáo cho vào thành phần đầu tiên
R – N=C=O + HXR’ R–NH–CO–X–R’
NH
Trang 40TRẦN THỊ NHUẦN 36 LUẬN VĂN CAO HỌC
dung dịch 50 % cloropolicloprentan trong etylaxetat (hoặc tương tự cao su clo hoá)
với số lượng 3 ÷ 8 % Điều này đảm bảo mói dán tin cậy cho các loại đế cao su
Izoxianat có khả năng phản ứng cao được cho vào thành phần của keo hai
thành phần, nó không chỉ khâu mạch phân tử PU mà còn có khả năng tạo thành các
liên kết hoá học với cao su và kim loại Do vậy việc quét keo cơ học các loại keo
hai thành phần gặp khó khăn do dụng cụ (thiết bị) nhanh bị bẩn và khó vệ sinh Vấn
đề này phức tạp hơn khi sử dụng robot để quét keo tự động: chúng hiệu quả nhưng
có nguy cơ bị keo làm bẩn và dễ hỏng Do vậy người ta quan tâm nhiều đến keo PU
một thành phần không có izoxianat Các loại keo đặc biệt này có khối lượng phân tử
lớn (150.000 ÷ 200.000) được hãng “Baier” sản xuất, ví dụ cao su uretan Desmokol
530 Để dán đế giầy có thể sử dụng keo một thành phần có thành phần như sau (%)
tăng nhanh quá trình tinh thể hoá cao su uretan, tăng độ bền ban đầu và độ bền nhiệt
của mối dán keo Tất nhiên, độ bền của mối dán keo một thành phần thấp hơn keo
hai thành phần, nhưng ở trong giới hạn độ bền cho phép Keo một thành phần, chứ
không phải là keo hai thành phần sử dụng hợp lý chỉ trong trường hợp tự động hoá
quét keo chi tiết giầy Ngoài ra keo một thành phần thực tế không độc hại do không
có các izoxianat
Một vấn đề khác có liên quan đến sử dụng các thiết bị sấy hồng ngoại để sấy
màng keo trong vòng 3 ÷ 5 phút Khi sử dụng keo có các dung môi hoá học dễ xảy
ra hoả hoạn Với kỹ thuật sấy mới này nên sử dụng các keo phân tán, trong đó pha
lỏng là nước Trong trường hợp này việc sấy tăng cường ở nhiệt độ cao không nguy
hiểm Do vậy người ta quan tân đến keo PU phân tán trong nước