Góp phần vào sự phát triển của ngành công nghiệp may thời trang Việt Nam tôi lựa chọn đề tài: '' Xây dựng mô hình 3D mô phỏng hình dạng, cấu trúc, kích thước cơ thể và hình trải bề mặt
Trang 1-
ĐINH MAI HƯƠNG
X¢Y DùNG M¤ H×NH 3D M¤ PHáNG H×NH D¹NG, CÊU TRóC, KÝCH TH¦íC C¥ THÓ Vµ H×NH TR¶I BÒ MÆT C¥ THÓ Tõ 3D SANG 2D
§èI T¦îNG HäC SINH N÷ TIÓU HäC §ÞA BµN THµNH PHè Hµ NéI
Sö DôNG TRONG THIÕT KÕ C¤NG NGHIÖP MAY
CHUYÊN NGÀNH: CÔNG NGHỆ VẬT LIỆU DỆT MAY
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với PGS.TS Phan Thanh Thảo,
người đã tận tâm hướng dẫn, khích lệ, dìu dắt tôi trên con đường khoa học, giúp tôi
hoàn thành luận án thạc sỹ khoa học này
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các Thầy giáo, Cô giáo Viện Dệt May –
Da giầy và Thời trang, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã giảng dạy, truyền
đạt cho tôi những kiến thức khoa học trong quá trình học tập và quá trình thực hiện
luận văn
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Tiểu học Mai Động, nhóm
cộng sự cùng các em học sinh của Trường đã không quản ngại, nhiệt tình giúp tôi
thực hiện công việc đo đạc, thu thập số liệu một cách thuận lợi và chính xác
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn gia đình, các đồng nghiệp, bạn bè đã động
viên, giúp đỡ tôi trong thời gian qua
Hà Nội, ngày 10 tháng 9 năm 2012
Đinh Mai Hương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn thạc sỹ khoa học " Xây dựng mô hình 3D mô
phỏng hình dạng, cấu trúc, kích thước cơ thể và hình trải bề mặt cơ thể từ 3D sang
2D đối tượng học sinh nữ tiểu học địa bàn thành phố Hà Nội sử dụng trong thiết
kế công nghiệp may" là công trình nghiên cứu, tìm hiểu của bản thân tôi do PGS
TS Phan Thanh Thảo hướng dẫn
Những số liệu sử dụng được chỉ rõ nguồn trích dẫn trong danh mục tài liệu
tham khảo
Kết quả nghiên cứu này là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ
công trình nghiên cứu nào
Hà Nội, ngày 10 tháng 9 năm 2012
Đinh Mai Hương
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
LỜI CAM ĐOAN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU 5
DANH MỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ 6
MỞ ĐẦU 9
CHƯƠNG I NGHI N C U T NG QUAN 11
1.1 KỸ THUẬT MÔ PHỎNG 3D 11
1.1.1 Công nghệ tái tạo 11
1.1.2 Kỹ thuật quét 3 chiều sử dụng trong công nghệ tái tạo hình ảnh cơ thể người 12
1.1.2.1 Kỹ thuật chụp ảnh 2 chiều 13
1.1.2.2 Kỹ thuật quét bằng Lazer 14
1.1.2.3 Kỹ thuật quét sử dụng ánh sáng trắng 16
1.1.2.4 Ứng dụng của công nghệ quét 3D trong ngành công nghiệp may và thời trang 18
1.1.3 Phần mềm xử lý dữ liệu quét 3D Rapid Form XO Redesign (XOR3) 21
1.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG HÌNH TRẢI BỀ MẶT CƠ THỂ NGƯỜI 23
1.2.1 Cơ sở lý thuyết xây dựng hình trải bề mặt cơ thể người 23
1.2.2 Xây dựng hình trải bề mặt cơ thể người bằng phương pháp tiếp xúc 26
1.2.3 Một số công trình nghiên cứu xây dựng hinh trải bề mặt cơ thể người bằng phương pháp không tiếp xúc ứng dụng trong thiết kế trang phục 29
1.2.4 Phần mềm thiết kế theo tham số Pro – Engineer 37
KẾT LUẬN PHẦN T NG QUAN 39
CHƯƠNG 2 NGHI N C U THỰC NGHIỆM 41
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHI N C U 41
Trang 52.2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHI N C U 41
2.2.1 Xây dựng mô hình 3D mô phỏng hình dạng, cấu trúc, kích thước cơ thể học sinh nữ tiểu học địa bàn thành phố Hà Nội 41
2.2.1.1 Lựa chọn đối tượng trẻ em nữ có thông số kích thước cơ thể phù hợp với cỡ số chuẩn 41
2.2.1.2 Thực nghiệm quét 3D cơ thể người và xây dựng bộ dữ liệu số hóa 3D tái tạo mô hình cơ thể nữ học sinh nghiên cứu 45
2.2.1.3 Xây dựng mô hình 3D mô phỏng hình dạng, cấu trúc và kích thước cơ thể trẻ em nữ lứa tuổi tiểu học địa bàn thành phố Hà Nội 50
2.2.2 Xây dựng hình trải 2D từ mô hình 3D cho sản phẩm áo bó sát trẻ em nữ 56
2.2.3 Thiết kế phát triển mẫu mới sản phẩm áo váy trực tiếp trên mô hình 3D ảo mô phỏng cơ thể trẻ em nữ 65
KẾT LUẬN PHẦN NGHI N C U THỰC NGHIỆM 74
CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHI N C U VÀ BÀN LUẬN 75
3.1 KẾT QUẢ XÂY DỰNG MÔ HÌNH 3D ẢO MÔ PHỎNG HÌNH DẠNG, CẤU TRÚC, KÍCH THƯỚC CƠ THỂ HỌC SINH NỮ TIỂU HỌC ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 75
3.2 KẾT QUẢ XÂY DỰNG HÌNH TRẢI TỪ 3D SANG 2D CHO SẢN PHẨM THÂN ÁO BÓ SÁT TRẺ EM NỮ 79
3.3 KẾT QUẢ THIẾT KẾ PHÁT TRIỂN MẪU MỚI SẢN PHẨM ÁO VÁY 3D TRỰC TIẾP TRÊN MÔ HÌNH 3D ẢO MÔ PHỎNG CƠ THỂ NGƯỜI 83
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 1 94
PHỤ LỤC 2 101
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Phân bố cỡ số trong hệ thống cỡ số quần áo cơ thể học sinh nữ tiểu học
6-11 tuổi 42
Bảng 2.2 Bảng lựa chọn 8 cỡ số tối ưu 42
Bảng 2.3 Bảng kích thước chủ đạo và khoảng cỡ 43
Bảng 2.4 Danh sách 43 đối tượng trẻ em lựa chọn theo bảng 8 cỡ số chuẩn 44
Bảng 2.5 Thông số kỹ thuật của máy quét NX-16 3D Body Scanner 46
Bảng 2.6 Bộ dữ liệu số đo cơ thể theo tiêu chuẩn ASTM 1999 48
Bảng 2.7 Công thức thiết kế khối SEV (được thể hiện trong bảng 3.5 phần phụ lục) 65 Bảng 2.7: Bảng điều chỉnh thông số ma-nơ-canh trong Avatar của phần mềm VStitcher theo thông số mô hình mô phỏng cơ thể người 3D ảo của luận văn 73
Bảng 3.1: Danh sách 8 em học sinh nữ có thông số kích thước cơ thể phù hợp với 8 cỡ số chuẩn được chọn để mô phỏng 75
Bảng 3.2: Đánh giá sai số kích thước của mô hình 3D xây dựng 78
Bảng 3.2: Bảng so sánh kích thước diện tích và chu vi bề mặt 2D so với 3D 82
Bảng 3.3 So sáng kích của mẫu 2D được trải từ bề mặt cơ thể với mẫu thiết kế theo công thức khối SEV (phụ lục 2) 83
Bảng 3.4 Bảng phân loại hình quét 94
Bảng 3.5 công thức thiết kế dựng hình kết cấu cơ bản của khối SEV 99
Trang 7DANH MỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Sơ đồ bố trí hệ thống Lass 13
Hình 1.2 Nguyên lý đo tọa độ trong máy quét lazer 14
Hình 1.3 Sơ đồ máy quét 3D của ModelMaker 15
Hình 1.4 Các ví dụ chiếu ánh sáng 16
Hình 1.5 Dãy chiếu của mã nhị phân 17
Hình 1.6 Các hệ thống quét sử dụng ánh sáng trắng 17
Hình 1.7 Ví dụ của hệ thống tự động trích xuất kích thước cơ thể 19
Hình 1.8 Ví dụ một số ma-nơ-canh nhân trắc trên thị trường 19
Hình 1.9 Ví dụ về giải pháp thử ảo Vidya của hãng Assyst-Bullmer GmbH (Đức) 20
Hình 1.10 Ví dụ của phần mềm trang điểm của Stellure (New Zealand) 21
Hình 1.11 Ví dụ về các bề mặt có thể trải phẳng 24
Hình 1.12 Ví dụ về các bề mặt không thể trải phẳng 25
Hình 1.13 Trải phẳng bề mặt mô hình bằng phương pháp mặt phẳng cát tuyến 26
Hình 1.14 Trải phẳng bề mặt mô hình bằng Phương pháp đường nhân địa 27
Hình 1.15 Trải phẳng bề mặt mô hình bằng phương pháp đường nhân địa 28
Hình 1.16 Trải phẳng bề mặt mô hình bằng phương pháp định vị 29
Hình1.17 a) Sơ đồ các điểm đặc trưng 29
b) Các đường cong đặc trưng 29
c) Mô hình khung lưới bề mặt cơ thể người 30
Hình 1.18 Hình minh họa kết quả cắt lưới 31
Hình 1.19 Quá xây dựng hình trải từ 3D sang 2D 31
Hình 1.20 a Dữ liệu quét 3D của Manơcanh bất đối xứng 31
b Đường thiết kế trên mô hình 3D của Manơcanh 32
Hình 1.21 Mẫu áo thân trên với 22 chi tiết cho trang phục nữ bó sát hình dạng bất đối xứng 33
Hình 1.22 Mẫu áo thân trên với 17 chi tiết có đường may 33
Hình 1.23 Áo váy bó sát cho manơcanh nữ bất đối xứng 34
Hình 1.24 Thuật toán trải phẳng bằng lưới tam giác 36
Hình 1.25 a Lưới bề mặt 3D; b Nguyên tắc biến đổi hình học 37
Hình 2.1 Buồng quét gồm 16 cảm biến 46
Hình 2.2 Hình minh họa tư thế đứng trong buồng máy 47
Trang 8Hình 2.3 Ví dụ minh họa dữ liệu quét 3D 47
Hình 2.4 a Điểm mốc đo nhân trắc theo tiêu chuẩn ASTM 1999 47
b Sơ đồ lấy số đo theo tiêu chuẩn ASTM 1999 48
Hình 2.5 a Dữ liệu đám mây điểm ban đầu của mô hình 50
b Mô hình bề mặt lưới sau khi loại bỏ điểm lóa, nhòe 51
Hình 2.6 Hình minh họa nhóm dữ liệu sau khi được liên kết 51
Hình 2.7 a Dịch chuyển mô hình để tạo sự cân xứng theo trục dọc cơ thể 52
b Xoay mô hình để tạo sự cân đối giữa phần thân trên và thân dưới 52
Hình 2.8 Quá trình xây dựng bề mặt, làm mịn hóa 53
Hình 2.9 Chia mô hình thành hai phần 54
Hình 2.10 Tạo đối xứng mô hình 54
Hình 2.11 Cắt bỏ tay của mô hình 55
Hình 2.12 Mô hình đã bỏ phần chân 55
Hình 2.13 Hệ thống lò xo trọng lượng tam giác 56
Hình 2.14 a Chiều cao mặt cắt 59
b Chu vi mặt cắt ngang qua cơ thể 59
Hình2.15 Mô hình khung lưới bề mặt 60
Hình 2.16 Quá trình bề mặt hóa mô hình 60
Hình 2.17 Đặt tên cho từng bề mặt nhỏ của mô hình 61
Hình 2.18 Quá trình trải phẳng bề mặt 62
Hình 2.19 Quá trình ghép nối các chi tiết phẳng của nẹp áo thân trước 63
Hình 2.20 Quá trình thực hiện việc xuất File CAD cho các phần mềm chuyên dụng 2D 64
Hình 2.21 Sơ đồ hướng dẫn đo kích thước 65
Hình 2.22 a Đường viền chu vi vòng bụng, vòng mông cơ thể người 3D ảo 66
b Kết hợp đường viền vòng bụng và vòng mông 67
Hình 23 Mô hình khung lưới bề mặt sản phẩm áováy 67
Hình 2.24 Mô hình bề mặt mịn hóa sản phẩm áo váy thiết kế 68
Hình 2.25 Đường kết cấu cơ bản của sản phẩm mới 69
Hình 2.26 Chia nhỏ bề mặt sản phẩm 69
Hình 2.27 Trải phẳng các bề mặt thân trước 70
Hình 2.28 Ghép nối các các chi tiết phẳng của chi tiết thân trước áo váy 70
Hình 2.29 Nhập dữ liệu vào hệ thống Accumark PDS của phần mềm Geber (Ảnh chụp từ màn hình) 71
Trang 9Hình 2.30 Quy định vải và đường may ráp 72
Hình 2.31 Điều chỉnh thông số ma-nơ-canh trong phần mềm VStitcher 72
Hình 2.32 Mặc thử mẫu lên ma-nơ-canh 73
Hình 3.1 Dữ liệu số hóa 3D (Ảnh chụp từ màn hình Rapidform) 76
Hình 3.2 Mô hình 3D ảo mô phỏng cơ thể trẻ em nữ nghiên cứu (Ảnh chụp từ màn hình Rapidform) 77
Hình 3.3 Mặt cắt và kích thước đo một số vị trí trên mô hình 78
Hình 3.4 Thang màu sắc xác định dung sai bề mặt trong khoảng ± 0.25mm 79
Hình 3.5 a Sơ đồ mặt trước mô hình khung lưới 79
b Sơ đồ mặt sau mô hình khung lưới; c Sơ đồ mô hình khung lưới bề mặt (Ảnh chụp từ màn hình của phần mềm Rapidform) 80
Hình 3.6 Mô hình bề mặt hóa sản phẩm áo (Ảnh chụp từ màn hình của phần mềm Rapidform) 80
Hình 3.7 Kết quả trải phẳng mô hình 3D cơ thể người sang mẫu thiết kê 2D, thu được 7 mảnh chi tiết (Ảnh chụp từ màn hình của phần mềm AutoCad) 81
Hình 3.8 Sơ đồ đo diện tích của mô hình 2D 81
Hình 3.9 a Sơ đồ mặt trước mô hình khung lưới 83
b.Mô hình bề mặt hóa sản phẩm áo váy (Ảnh chụp từ màn hình của phần mềm Rapidform) 84
Hình 3.10 Thiết kế đường kết cấu, trang trí của sản phẩm trên mô hình sản phẩm áo váy 3D (Ảnh chụp từ màn hình của phần mềm Rapidform) 84
Hình 3.11.Mặt cắt ngang bụng của của mô hình người mô phỏng và sản phẩm áo váy 85
Hình 3.12 Chia nhỏ bề mặt sản phẩm để trải phẳng (Ảnh chụp từ màn hình của phần mềm Rapidform) 85
Hình 3.13 Bộ mẫu thiết kế áo váy trẻ em (Ảnh chụp từ màn hình của hệ thống Accumark PDS của phần mềm Geber) 86
Hình 3.14 Mẫu áo váy được mặc trên người mẫu 3D ảo của phần mềm VStitcher 86 Hình 3.15 Biểu đồ xác định áp lực của vải lên cơ thể khi mặc thử mẫu áo váy trên người mẫu 3D ảo của phần mềm Vstitcher 87
Hình 3.16 Kết cấu cơ bản phần trên trang phục áo nữ 107
Trang 10MỞ ĐẦU
Ngành công nghiệp Dệt may có bề dày lịch sử phát triển, đóng góp quan
trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Là một ngành quan
trọng trong nền kinh tế của nước ta vì nó phục vụ nhu cầu thiết yếu của con người,
giải quyết được nhiều việc làm cho xã hội, sản phẩm dệt may của Việt Nam được
xuất đi rất nhiều nơi và Việt Nam có tên trong top 10 nước xuất khẩu dệt may lớn
nhất thế giới
Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng vẫn đang là vấn đề lớn đặt ra đối với
ngành Dệt May Việt Nam Các sản phẩm cao cấp chậm được cải tiến, giải quyết
được việc làm cho nhiều lao động nhưng tỷ lệ lao động có tay nghề cao, có kỹ năng
kỹ xảo còn thấp, công nghiệp phụ trợ ngành may chưa phát triển, mặc dù đã có
nhiều nỗ lực trong nhiều năm Đây là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến hiệu quả
sản xuất kinh doanh ngành Dệt May còn thấp Vì vậy, muốn nâng cao chất lượng,
tăng sức cạnh tranh thì ngành Dệt may phải phát huy vai trò động lực của khoa học
công nghệ trong sản xuất kinh doanh, muốn làm được điều đó thì ngành cần phải
đầu tư cho đổi mới công nghệ
Thiết kế sản phẩm đảm bảo sự vừa vặn, thoải mái cho người mặc là mục tiêu
quan trọng của ngành công nghệ may thời trang Hiện nay, chúng ta đang sử dụng
các phương pháp thiết kế chính là: thiết kế theo phương pháp tính toán và phương
pháp thiết kế trên mô hình ma-nơ-canh Tuy nhiên, vẫn chưa có hệ thống công thức
thiết kế phù hợp và việc thiết kế vẫn dựa trên kinh nghiệm Ngành công nghiệp may
và thời trang Việt Nam hiện nay chủ yếu sử dụng ma-nơ-canh có xuất xứ từ Trung
Quốc, Đài Loan và Nhật Bản…, các phần mềm hỗ trợ thiết kế đang sử dụng là của
nước ngoài, vì vậy các ma-nơ-canh và các mô hình 3D ảo mô phỏng cơ thể người
của các phần mềm hỗ trợ thiết kế có nhiều điểm khác biệt so với đặc điểm cơ thể
người Việt Nam, các mẫu thiết kế trên những ma-nơ-canh này thường không đảm
bảo sự phù hợp với người tiêu dùng trong nước
Trang 11Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ thông tin việc thiết kế có sự hỗ trợ
của máy tính đã trở thành một trong những yếu tố không thể thiếu trong các ngành
công nghiệp may hiện đại Góp phần vào sự phát triển của ngành công nghiệp may
thời trang Việt Nam tôi lựa chọn đề tài: '' Xây dựng mô hình 3D mô phỏng hình dạng,
cấu trúc, kích thước cơ thể và hình trải bề mặt cơ thể từ 3D sang 2D đối tượng học sinh
nữ tiểu học địa bàn thành phố Hà Nội sử dụng trong thiết kế công nghiệp may ''
Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn sẽ tiến hành nghiên cứu những nội
dung sau:
- Xây dựng mô hình 3D ảo mô phỏng hình dạng, cấu trúc, kích thước cơ thể học
sinh nữ tiểu học địa bàn thành phố Hà Nội
- Xây dựng hình trải 2D từ mô hình 3D cho sản phẩm áo bó sát trẻ em nữ
- Thiết kế phát triển mẫu mới sản phẩm áo váy trực tiếp trên mô hình 3D ảo mô
phỏng cơ thể trẻ em nữ
Trang 12CHƯƠNG I: NGHIÊN C U T NG QUAN
1.1 KỸ THUẬT MÔ PHỎNG 3D
1.1.1 C n n hệ o
Ngày nay với sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại, quá trình sản
xuất ngày càng được chuyên môn hoá, việc chế tạo ra sản phẩm được chia tách
thành nhiều công đoạn riêng biệt nhưng có quan hệ mật thiết với nhau theo tiêu
chuẩn chung thống nhất hợp thành quy trình sản xuất Trong lĩnh vực sản xuất, để
chế tạo ra sản phẩm thông thường phải xuất phát từ ý tưởng thiết kế (của nhà thiết
kế hoặc của khách hàng), nhà thiết kế xây dựng bản vẽ phác thảo sơ bộ sản phẩm
Bản vẽ phác thảo này sẽ được tính toán, phân tích, kiểm tra các thông số kỹ thuật,
công nghệ Sau quá trình thử nghiệm sẽ được tối ưu hoá và đưa ra bản vẽ thiết kế
hoàn chỉnh Tiếp theo qua các bước chuẩn bị công nghệ, lập trình gia công, mô
phỏng và chế tạo thử mẫu sản phẩm bằng phương pháp tạo mẫu nhanh hoặc trên
các máy công cụ, máy CNC Mẫu sản phẩm chế thử này sẽ được đem đi kiểm tra
thực tế xem có thoả mãn các yêu cầu đặt ra hay không, cho tới khi mẫu sản phẩm
đạt yêu cầu thì mới đưa vào sản xuất Quy trình này còn được gọi là công nghệ sản
xuất thuận (Forward Engineering)
Trong những năm trở lại đây với sự phát triển của của khoa học công nghệ,
xuất hiện một dạng sản xuất theo một chu trình mới, đi ngược với sản xuất truyền
thống, đó là chế tạo ra sản phẩm theo hoặc dựa trên một sản phẩm có sẵn, quy trình
này được gọi là công nghệ thiết kế ngược (Reverse Engineering) hay cũng được
hiểu là công nghệ tái tạo hay công nghệ chế tạo ngược Xuất phát điểm là từ một
mẫu sản phẩm thực tế, mẫu sản phẩm thực này được số hoá và xử lý bằng các thiết
bị và phần mềm chuyên dụng để đưa ra mô hình CAD cụ thể Sau khi có được mô
hình CAD cho sản phẩm rồi thì các công đoạn tiếp theo cũng giống như chu trình
sản xuất thuận trải qua các bước tính toán, phân tích, tối ưu hoá trên các phần mềm,
chuẩn bị công nghệ, gia công tạo mẫu nhanh hoặc lập trình gia công trên các máy
CNC hay các máy công cụ khác, kiểm tra thực tế cuối cùng mới đưa vào sản xuất
đại trà
Trang 13Trên phạm vi rộng công nghệ tái tạo được định nghĩa là hoạt động bao gồm
các bước phân tích để lấy thông tin về một sản phẩm đã có sẵn (bao gồm thông tin
về chức năng các bộ phận, đặc điểm về kết cấu hình học, vật liệu, tính công nghệ)
sau đó tiến hành khôi phục lại mô hình cho chi tiết hoặc phát triển thành sản phẩm
mới, sử dụng để tối ưu thiết kế để chế tạo sản phẩm
Công nghệ tái tạo ra đời dựa trên nhu cầu sản xuất thực tế, khi cần chế tạo
sản phẩm theo những mẫu có sẵn mà chưa hoặc không có mô hình CAD tương ứng
như các chi tiết là đồ cổ vật, những chi tiết đã ngừng sản xuất từ lâu, những chi tiết
không rõ xuất xứ, những phù điêu, bộ phận cơ thể con người… Để tạo được mẫu
của những sản phẩm này, trước đây người ta phải đo đạc rồi vẽ phác lại hoặc dựng
sáp, thạch cao để in mẫu Các phương pháp này cho độ chính xác không cao, tốn
nhiều thời gian và công sức, đặc biệt là đối với những chi tiết phức tạp Ngày nay
người ta đã sử dụng máy quét hình để số hoá hình dáng của chi tiết sau đó nhờ các
phần mềm CAD chuyên dụng để xử lý dữ liệu số hoá cuối cùng sẽ tạo ra được mô
hình 3D mô phỏng chi tiết với độ chính xác cao [9]
1.1.2 Kỹ thuật quét 3 chiều sử dụng trong công nghệ tái tạo hình ảnh
cơ thể n ười
Các công nghệ quét cơ thể sử dụng các thiết bị quang học là phương pháp
cho phép đo không tiếp xúc, trước khi phát triển các phương pháp 3D, các phương
pháp chụp ảnh 2D thường được sử dụng để mô tả biên dạng của vật thể phức tạp
Từ những năm 1980, công nghệ quét cơ thể 3D đã phát triển nhanh chóng gồm có:
kỹ thuật ánh sáng trắng , laser, hồng ngoại và quang trắc Công nghệ quét 3D là một
phương pháp được sử dụng để xây dựng một bản sao kỹ thuật số 3D của một bề mặt
vật lý Khó khăn chính nằm trong việc có được hình dạng thực tế của bề mặt vật thể
chiếm trong không gian Trong quá trình quét 3D, máy ảnh hoặc máy quét thu được
dải hình ảnh rất giống như bản đồ đường đồng mức Sau đó được xử lý bởi phần
mềm mô hình hóa và chuyển đổi thành đám mây điểm ảnh trong không gian
Những thiết bị khác sử dụng bộ cảm biến máy tính điều khiển Công nghệ này cũng
Trang 14có thể có được về thông tin màu sắc của các kết cấu cơ thể, quá trình đo được thực
hiện mà không cần tiếp xúc trong một khoảng thời gian ngắn [23]
1.1.2.1 Kỹ thuật chụp ảnh 2 chiều
Một trong những hệ thống quét cơ thể người đầu tiên được phát triển bởi Đại
học Loughborough Anh, hệ thống LASS (Loughborough Anthropometric Shadow
Scanner ) chụp bằng phương pháp: Cho một người đứng yên khi các dải ánh sáng
được chiếu lên cơ thể và đo bằng máy ảnh truyền hình Quá trình này được lặp đi
lặp lại 150 lần trong khi đối tượng được xoay 3600 Bốn dải ánh sáng được sử dụng
cho phép hiệu chỉnh cho bất kỳ chuyển động nào Các dải được chiếu ở một góc, do
đó độ lệch quan sát được tại bất kỳ điểm nào phụ thuộc vào bán kính của cơ thể tại
thời điểm đó Bán kính chính xác sau đó có thể được tính toán, hệ thống Lass được
hiển thị dạng biểu đồ trong hình.1.1
Hình 1.1 Sơ đồ bố trí hệ thống Lass [23]
Quy trình xử lý đường cong cơ thể của Loughborough là sử dụng các mặt cắt
ngang, mỗi mặt cắt trong số đó có thể được chỉnh sửa trong 2D Mười sáu điểm dữ
liệu được lắp đặt xung quanh mỗi mặt cắt và quá trình được lặp đi lặp lại cho 32
Trang 15mặt cắt, mỗi mặt cắt tương ứng với một dấu mốc giải phẫu cụ thể Bề mặt cơ thể 3D
sau đó có thể được tái tạo, công đoạn cuối cùng là chỉnh sửa cánh tay và làm mịn bề
mặt [23]
1.1.2.2 Kỹ thuật qu t ằng Lazer
Laser là loại ánh sáng có đặc tính đặc biệt, là loại sóng điện từ nằm trong dãy
ánh sáng có thể nhìn thấy được Bản chất của chùm tia laser là chùm ánh sáng đơn
sắc có bước sóng xác định và góc phân kỳ rất nhỏ Bước sóng phụ thuộc vào vật
liệu phát ra tia laser
* Nguyên tắc cơ ản
Máy quét chiếu một đường ánh sáng laser lên xung quanh vật thể, Laser
được phản xạ tới các máy ảnh đặt ở mỗi đầu quét Dữ liệu được thu được bằng cách
sử dụng phương pháp tam giác, trong đó dải ánh sáng được phát ra từ điốt laser lên
bề mặt của các đối tượng quét, và sau đó chụp lại Nhìn từ một góc, các tia laser
xuất hiện bị biến dạng bởi hình dạng của đối tượng Cảm biến CCD ghi lại các biến
dạng và tạo ra một hình ảnh số hóa của đối tượng Các máy ảnh định vị trong mỗi
đầu quét di chuyển dọc theo chiều dài của vật thể quét Máy quét laser tạo ra các giá
trị màu RGB, và sử dụng một quá trình xác định ranh giới mã màu để khai thác dữ
liệu [23]
Hình 1.2 Nguyên lý đo tọa độ trong máy quét lazer [9]
Trang 16Độ chính xác và tốc độ đo của máy quét Laser là điểm khác biệt khi so sánh
với các thiết bị đo toạ độ cầm tay khác Bởi người sử dụng có thể nhanh chóng thực
hiện các phép đo với ít nguyên công nhất và thời gian ngắn nên máy quét laser là
một trong những thiết bị đo được sử dụng phổ biến
Hình 1.3 Sơ đồ máy quét 3D của ModelMaker [23]
- Các máy quét laser có thể đo các vật từ gần tới xa 35 mét
- Để đảm bảo không vô hại cho con người người ta sử dụng laze an toàn đối
với mắt
* Thiết bị sử dụng trong công nghệ quét 3D Lazer
- Đèn lazer tạo ra vạch lazer trong quá trình quét
- Máy ảnh (camera) để thu lại được hình ảnh từ quá trình quét có thể dùng 1
hay 2 camera
- Màn thu (tùy theo yêu cầu thiết bị)
- Máy tính trang bị các phần mềm điều khiển thiết bị
Giá thành sản xuất các bộ phận phần cứng của công nghệ quét laze là một
nhược điểm đáng kể của công nghệ này Cùng với laze, các cảm biến ánh sáng và
hệ thống quang học, các động cơ điện chính xác đều cần phải có trong máy quét
laze Ngoài ra, hệ thống quét hoàn chỉnh cần được hiệu chỉnh do vậy việc bố trí
hình học của tất cả các bộ phận cần được xác định rất chính xác Nhược điểm thứ
hai của phương pháp này là thời gian cần thiết để số hóa các bề mặt lớn Đây không
phải là vấn đề lớn khi đo các bộ phận chân tay của cơ thể bởi vì các bộ phận này
có thể giữ cố định trong một số giây Nhưng khi đo phần đầu hoặc toàn bộ cơ thể,
Trang 17thì điều này thực tế là không thể giữ cho các bộ phận này cố định trong nhiều giây
Các chuyển động không kiểm tra được như thở hoặc co cơ có thể tạo nên lỗi khi đo
1.1.2.3 Kỹ thuật qu t sử dụng ánh sáng trắng
Ánh sáng trắng là loại ánh sáng mắt người nhìn thấy được có bước sóng
400nm - 700nm Khi ánh sáng truyền qua vật sẽ truyền một năng lượng nhiệt trên
bề mặt tiếp xúc và để lại bóng hình vật Năng lượng hấp thụ của vật tùy thuộc vào
màu sắc và độ dày của vật, vật có màu sáng và mỏng dể hấp thụ năng lượng ánh
sáng hơn những vật có màu tối và dày
* Nguyên lý hoạt động
Kỹ thuật quét sử dụng ánh sáng trắng là một trong những ứng dụng của công
nghệ đo không tiếp xúc Thay cho sự chuyển động của máy quét, người ta chiếu
chùm tia sáng lên trên cơ thể người hoặc vật cần đo, chùm tia sáng được phản xạ lại
từ bề mặt vật thể cần đo được cảm ứng đo thu lại đưa vào bộ phận biến đổi của máy
đo Các vạch ánh sáng trắng sẽ được đo bằng cách sử dụng các tam giác ánh sáng,
với sự hỗ trợ của máy tính và phần mềm điều khiển đo cho ra kết quả của chi tiết đo
dưới dạng đám mây điểm Thông thường hệ thống mã hóa nhị phân được sử dụng
để xác định thành phần của các dải sáng đơn sắc [15]
Hình 1.4 Các ví dụ chiếu ánh sáng
Từ trái qua phải: các dải sáng dọc của 3D-Shape GmbH (Đức), các dải
ngang của Wicks and Wilson Ltd (Anh), mã hóa màu của Sanyo Electric Co.Ltd
(Nhật) [15]
Trang 18Hình 1.5 Dãy chiếu của mã nhị phân [15]
* Thiết bị sử dụng trong công nghệ quét sử dụng ánh sáng trắng :
Thiết bị quét thường bao gồm bộ phận chiếu các dải sáng và cảm biến ánh
sáng Nhiều hệ thống sử dụng hai hoặc 3 cảm biến ánh sang, sự bố trí và số lượng
các cảm biến được sử dụng và các máy chiếu cũng rất đa dạng và phụ thuộc vào vật
thể cần đo Ví dụ, máy quét khuôn mặt của hãng Breuckmann (hình 1.6a) bao gồm
một mãy chiếu và hai camera chũng ghi nhận từ hai cạnh khuôn mặt con người Ví
dụ thứ hai về máy quét khuôn mặt của hãng IVB Jena (hình 1.6.b) trong trường
hợp này, hệ thống gương được sử dụng để chiếu các dải ánh sáng từ 5 hướng sử
dụng một máy chiếu đơn; 5 camera sẽ ghi nhận các ảnh khác nhau Ví dụ cuối cùng
là máy quét toàn bộ cơ thể người của hãng InSpeck (hình 1.6.c): hệ thống quét bao
gồm 3 cột, mỗi cột có 2 máy quét, mỗi máy quét bao gồm một camera và một máy
chiếu [15]
Hình 1.6 Các hệ thống quét sử dụng ánh sáng trắng [15]
Trang 19Sự khác biệt cơ bản của phương pháp này với phương pháp quét laze là ở chỗ
quá trình đo diễn ra trong thời gian ngắn và kết quả số hóa được toàn bộ các phần
bề mặt, quá trình diễn ra trong thời gian ngắn (thường dưới 1 giây), do vậy hạn chế
được độ sai lệch sinh ra bởi sự đung đưa (lắc lư) của cơ thể người được đo cho ra
hình ảnh 3 chiều (3D) sắc nét Hệ thống quét cơ thể người 3 chiều sử dụng kỹ thuật
quét ánh sáng trắng là công nghệ an toàn cho người đo
* Nhận xét:
Mỗi hệ thống đều có những ưu và nhược điểm riêng, tùy theo tiêu chí sử
dụng để lựa chọn hệ thống cho phù hợp
- Xét về mục đích sử dụng: để đo toàn bộ cơ thể, đầu, mặt, bàn chân, bàn tay, da,
lưng, vòng ngực, các phần chung… có những thiết bị phù với kích thước cơ thể đo
- Về chất lượng và độ chính xác: Những hệ thống ứng dụng nguồn sáng trên
đã được xây dựng nhưng chưa thấy hệ thống nào nổi trội hơn về độ chính xác Hệ
thống quét laser thường được sử dụng quét các vật thể lớn như ô tô xe máy…
- Về thời gian quét và xử lý: Thời gian quét của phương pháp quét ánh sáng
trắng nhanh hơn so với quét lazer nên hạn chế được độ sai lệch sinh ra bởi sự đung
đưa (lắc lư) của cơ thể người được đo
- Về kinh tế : Hệ thống laser có thể được tạo ra với chi phí thấp hơn
- Xét về độ an toàn: Sử dụng phương pháp quét ánh sáng trắng hoàn toàn an
toàn đối với cơ thể người
- Kết quả quét hình bằng các phương pháp trên đều cho dữ liệu là đám mây
điểm ảnh
1.1.2.4 Ứng dụng của công nghệ quét 3D trong ngành công nghiệp may
và thời trang
a Trích xuất số đo cơ thể
Hệ thống quét toàn thân 3 chiều luôn được đính kèm các giải pháp phần
mềm phục vụ cho từng mục đích sử dụng Hình 1.7 chỉ ra vài ví dụ của nhiều giải
pháp khác nhau, một số hệ thống làm việc hoàn toàn tự động trích xuất kích thước
cơ thể người phục vụ cho may đo, một số khác cho phép lấy được số đo của các
Trang 20phần đặc biệt Các giải pháp được cân nhắc đặc biệt theo từng dạng thông tin theo
yêu cầu của người sử dụng [15]
Hình 1.7 Ví dụ của hệ thống tự động trích xuất kích thước cơ thể.[15]
Từ trái qua phải: các điểm mốc được nhận dạng tự động từ máy BL Manager
của Hamamatsu Photonics K.K (Nhật); đo các kích thước cơ thể từ máy Vitus của
Vitronic GmbH (Đức); tự động trích xuất ra kích cỡ cơ thể từ máy DigiSize của
Cyberware Inc (Mỹ); lấy số đo kỹ thuật số do máy Voxelan 3D Measure Workshop
của Hamano Engineering Co.Ltd.(Nhật); trích xuất ra kích cỡ cơ thể từ máy
BodyFit 3D của GFaI e.V (Đức), trích xuất vóc dáng và số đo cơ thể từ máy NX-16
của [TC]2
Các giải pháp phần mềm hoàn thiện cho hệ thống máy quét toàn thân 3
chiều tăng vọt trong nhiều năm qua, đặc biệt có nhiều sự quan tâm nghiên cứu phục
vụ cho lĩnh vực may thời trang
b Xây dựng ma-nơ-canh ứng dụng trong Thiết kế Thời trang [15]
Kỹ thuật quét 3 chiều có thể đáp ứng được nhu cầu xây dựng man-nơ-canh
của riêng một cá nhân theo đúng số đo hình thể hoặc theo yêu cầu của khách hàng
Hình 1.8 Ví dụ một số ma-nơ-canh nhân trắc trên thị trường
Trang 21Từ trái qua: 1 Alvaform của Alvanon Inc (Mỹ) được bọc bởi vải canvas mềm; 2
các vị trí vòng đo tiêu chuẩn của man-nơ-canh; 3 Lineforms của Shapely Shadow
Inc (Mỹ)
c Thử trang phục ảo
Giải pháp thử ảo trở nên quan trọng trong vài năm gần đây trong những lĩnh
vực khác nhau của công nghiệp thời trang Các giải pháp thử ảo mô phỏng số hóa
các hành vi vải trên cơ thể con người Bằng cách này, chúng cho phép mô phỏng ảo
các mặt hàng quần áo trên các mô hình số hóa con người, các thiết bị mô phỏng 3D
quần áo được ứng dụng để xác định chính xác xem các mặt hàng quần áo sẽ thể
hiện thế nào trên mô hình cơ thể được số hóa [15]
Hình 1.9 Ví dụ về giải pháp thử ảo Vidya của hãng Assyst-Bullmer GmbH (Đức)
Trái: các mẫu 2D các phần khác nhau của mẫu quần áo Giữa: các phần khác
nhau được đưa vào môi trường 3D xung quanh mô hình cơ thể người số hóa và
may lại với nhau Phải: kết quả cuối cùng của mô phỏng
Các giải pháp thử ảo được quan tâm ứng dụng trong nhiều phần của công
nghiệp thời trang Người thiết kế thời trang có thể sử dụng các hệ thống này để tạo
được các kết quả quan sát sự sáng tạo của họ mà không cần phải sản xuất các mẫu
thực ban đầu Người mua quần áo có thể xem các mẫu quần áo từ rất xa Những
chuyên gia bán hàng có thể giới thiệu cho khách hàng sản phẩm của họ sẽ trông
như thế nào trước khi họ mua quần áo mới Một số nhà bán hàng qua mạng internet
cũng khai thác công nghệ này để giới thiệu các mẫu quần áo của họ trên manocanh 3D
Trang 22d Trang điểm ảo (Virtual-make-over) [15]
Các chuyên gia tư vấn phong cách đặc biệt là khuôn mặt sẽ thích thú với
phần mềm này vì nó cho phép thay đổi kiểu tóc trang điểm, trang sức, kiểu dáng
kính đeo mắt, …
Hình 1.10 Ví dụ của phần mềm trang điểm của Stellure (New Zealand)
1.1.3 Phần mềm xử lý dữ liệu quét 3D Rapid Form XO Redesign
(XOR3) [28]
Phần mềm Rapid Form XO Redesign là phần mềm chuyên dụng xử lý dữ
liệu số hóa 3D thu được từ hệ thống máy quét, cung cấp các chức năng để mô hình
hoá và tối ưu hoá các đa giác và tạo ra các tham số dạng CAD từ cơ sở từ dữ liệu
quét 3D, cho kết quả ngay tức thì và được sử dụng liên tục trong quá trình sản xuất
Cho phép người dùng tạo các tham số CAD từ các dữ liệu quét 3D bằng việc sử
dụng kiểu khối đặc tiêu chuẩn
- Chức năng hiệu chuẩn :
Chia miền : Tự động hoặc tác động chia mô hình lưới thành các miền trên cơ
sở các vùng feature
Căn chỉnh : Tìm ra các hệ toạ độ chính của mô hình
Làm sạch lưới : Làm sạch các khuyết tật và tạo các mô hình lưới kín
- Mô hình hoá CAD :
Khai triển thông số thiết kế : Nhận dạng và định nghĩa các tham số mô hình
hoá feature
Mô hình hoá feature : Thiết kế mô hình CAD bằng việc xây dựng các feature
tham số từ mô hình lưới
Kiểm tra độ chính xác : Accuracy analyzer cho phép phân tích sai số của
toàn bộ quá trình xử lý thiết kế, đảm bảo mô hình CAD nằm trong miền dung sai
cho phép
Trang 23Điều chỉnh các bề mặt trên lưới : Tự động tạo nhanh hoặc chính xác các bề
mặt chất lượng cao, bề mặt Nurbs với lưới đường cong người dùng định nghĩa
- Mô hình hoá lưới :Mô hình hoá & tối ưu hoá lưới
- Xuất dữ liệu gia công :
Chuyển đổi dữ liệu sang các hệ CAD : Xuất các mô hình solid tham số được
tạo ra sang nhiều ứng dụng CAD
Tương thích với tất cả các hệ CAD lớn bao gồm Catia, Pro/E, USG,
Solidworks…
Xuất dữ liệu ra máy gia công như: Máy gia công, máy in 3D, tạo mẫu nhanh
Các định dạng file hỗ trợ : XRL, XDL, MDL, FCS, iCF, RPS, STL, OBJ,
PLY, 3DS, WRL (VRML), iGES, STEP, VDAS
- Tinh chỉnh lưới :
Tự động chỉnh sửa và làm sạch
Chỉnh sửa mặt lưới nâng cao
Điều khiển độ phân giải chi tiết (giảm đi và chia nhỏ)
Điều khiển độ trơn nhẵn của mặt lưới (toàn bộ và từng vùng)
Tự động chia lại lưới cho mô hình của chức năng CAE
Nâng cao khả năng mô hình hoá và tối ưu hoá dữ liệu lưới
- Trợ giúp thiết kế
Sử dụng lưới như là các tham số thiết kế ngược
Tạo các biên dạng phác thảo từ các mô hình lưới
Tự động rút ra các feature thiết kế từ dữ liệu lưới
- Sự đồng bộ hoá từ dữ liệu Scan sang CAD
Cập nhật mô hình CAD gốc để thực hiện các thay đổi của chi tiết
Nhập dữ liệu CAD trong nhiều định dạng file CAD
Nhanh chóng và tự động liên kết toạ độ của mô hình CAD và lưới
Lắp lại các mô hình CAD vào các mô hình lưới
- Các công cụ tạo đường cong hoặc sketch hoàn chỉnh
Tự động rút ra các biên dạng sketch và các đường cong đặc trưng từ dữ liệu lưới
Trang 24Tự động gán kích thước và các ràng buộc
Các công cụ thiết kế đường cong 3D hoàn chỉnh
Thiết kế lưới các đường cong trên cơ sở độ cong
- Phân tích độ chính xác
Thiết kế lại với miền dung sai người sử dụng định nghĩa
Tự động và tính toán lỗi để xử lý
Nhiều công cụ phân tích đối tượng khác nhau
- Chuyển đổi dữ liệu
Chuyển mô hình sang hệ CAD khác, xuất mô hình sang các định dạng khác
1.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG HÌNH TRẢI BỀ MẶT CƠ
THỂ NGƯỜI
1.2.1 Cơ sở lý thuyết xây dựng hình trải bề mặt cơ thể n ười
a Khái niệm
Về mặt hình học, vấn đề cơ bản của việc xây dựng hình trải bề mặt của một
vật thể khối là phải xác định kích thước và hình dạng hình trải hợp lý để đảm bảo 2
yêu cầu sau:
- Độ sai lệch diện tích mặt trải so với bề mặt khối là nhỏ nhất và số lượng đường
ráp nối trên hình trải là ít nhất để việc phủ hình trải đó lên bề mặt vật thể khối đã cho
bằng phương pháp đơn giản
- Khi phủ hình trải lên bề mặt vật thể khối sẽ phủ kín, hình trải không bị biến
dạng và không có các nếp gấp [5]
b Nguyên tắc chung khi triển khai hình trải bề mặt cơ thể người [9]
Bề mặt cơ thể người là bề mặt của một khối phức tạp, để có thể xây dựng
được hình trải bề mặt của một khối phức tạp thông thường người ta quy khối đó
thành các khối đơn giản có khả năng trải phẳng
Bề mặt của mọi vật thể có hình khối đều có thể được chia làm hai loại:
* Loại thứ nhất: Các bề mặt có khả năng trải phẳng
Đây là những bề mặt trong không gian có thể đem trải ra trên mặt phẳng mà
không bị bất cứ một sai lệch nào, không bị đứt quãng, không bị gẫy hay xếp nếp
Trang 25Khi trải bề mặt này trên mặt phẳng ta thu được mặt trải có cùng kích thước
với bề mặt ban đầu khi đang còn trong không gian; khi đó kết quả thu được sẽ là:
+ Đường thẳng của bề mặt trong không gian sẽ là đường thẳng trên mặt phẳng
+ Đường cong vẫn giữ nguyên kích thước ban đầu
+ Góc trên mặt phẳng sẽ bằng với góc trong không gian giữa các cạnh tương ứng
+ Diện tích một vùng nào đó trên bề mặt không gian sẽ giũ nguyên giá trị
trên bề mặt trải
Tồn tại 2 dạng bề mặt có thể triển khai trải phẳng là mặt cong hay chính là
bề mặt tiếp tuyến với đường cong trong không gian và bề mặt quay (hình trụ hay
hình nón)
Độ cong của bề mặt trong không gian được biểu thị bằng “K” (trong toán
học được gọi là độ cong Gaisov)
K = 1/R1R2
Trong đó R1R2 là bán kính các đường cong cơ bản của bề mặt
Đối với các bề mặt có thể trải phẳng thì K = 0, các cạnh tạo nên chúng là
đường thẳng Ta xem đường thẳng như cung của các đường tròn có bán kính R = ∞
→ K = 1/R1R2 = 1/∞R2= 0 (Hình 1.11) Kết luận là, mọi bề mặt có thể trải phẳng
sẽ cho mặt trải chính xác trên mặt phẳng mà không hề bị một biến dạng nào
C1
Trang 26ے C1 = ے C; ,
S Δ A1B1C1 = ,
S ΔABC )
+ Loại thứ hai: Các bề mặt không thể trải phẳng là các bề mặt có cả hai bán
kính cơ bản của 2 mặt cong không phải vô tận (R1≠ ∞ ; R2≠ ∞), vì vậy K ≠ 0 Các
bề mặt này không thể trải ra trên mặt phẳng một cách hoàn toàn chính xác mà chỉ
cho có thể nhận được kết quả gần đúng
Hình 1.12 Ví dụ về các bề mặt không thể trải phẳng
Xem bề mặt không giống như một vật thể cứng, mà như một vỏ bọc từ chất
dẻo mềm có khả năng đàn hồi, có thể trải nó trên mặt phẳng nếu ta làm biến dạng
c Các phương pháp xây dựng hình trải bề mặt cơ thể người
Hiện nay, có 2 nhóm phương pháp nghiên cứu hình dạng bề mặt của vật thể
khối, đó là: nhóm phương pháp tiếp xúc và nhóm phương pháp không tiếp xúc
- Trong nhóm phương pháp tiếp xúc, người ta nghiên cứu hình dạng bề mặt
vật thể khối nhờ sự tiếp xúc cơ học một cách trực tiếp của đầu đo của dụng cụ hay
là bằng sự sao chép lại hình dạng của vật thể nhờ chất dẻo
- Phương pháp không tiếp xúc được sử dụng chủ yếu nhờ thiết bị đặc biệt,
dùng sóng ánh sáng hay sóng điện từ trường
R 2
R 2
Trang 271.2.2 Xây dựng hình trải bề mặt cơ thể n ười bằn phươn pháp tiếp xúc
[5]
a Phương pháp mặt phẳng cát tuyến
Trong hình học, tất cả những bề mặt cong được chia thành hai dạng: hình
học và phi hình học Trong đó chỉ những bề mặt cong dạng hình học mới cho hình
trải chính xác trên mặt phẳng, ví dụ như: mặt phẳng, mặt đa diện, mặt cong hình trụ,
hình nón, hình nón cụt
Hình 1.13 Trải phẳng bề mặt mô hình bằng phương pháp mặt phẳng cát tuyến
Bề mặt cơ thể con người là bề mặt cong phức tạp dạng phi hình học, vì vậy
không thể nhận được hình trải chính xác bằng phương pháp hình học được Để trải
gần đúng bề mặt của cơ thể người hay ma-nơ-canh, người ta sử dụng phương pháp
mặt phẳng cát tuyến Theo phương pháp này thì bề mặt của ma-nơ-canh được chia
Trang 28cắt bằng những mặt phẳng (mặt phẳng ngang ngực, ngang eo, ngang hông, mặt
phẳng nghiêng của chân cổ, mặt phẳng đối xứng và mặt phẳng chính diện) sao cho
các phần bề mặt ma-nơ-canh ở giữa những mặt phẳng cát tuyến có hình dạng gần
với dạng hình học Khi đó, hình trải bề mặt của ma-nơ-canh sẽ là tập hợp các hình
trải của các phần bề mặt nói trên
b Phương pháp đường nhân địa
Người ta cho rằng hình trải bề mặt của ma-nơ-canh như là một lớp vỏ bó sát
từ vải Để vải ở trạng thái cân bằng khi phủ lên bề mặt của ma-nơ-canh thì các sợi
dọc và sợi ngang của vải phân bố trùng với những đương nhân trắc vuông góc trên
bề mặt của ma-nơ-canh Đường nhân trắc là đường nằm trên bề mặt của một vật thể
khối, đi qua 2 điểm cho trước trên bề mặt và chiều dài cung nối giữa 2 điểm này là
ngắn nhất
Hình 1.14 Trải phẳng bề mặt mô hình bằng Phương pháp đường nhân địa
x1 y1
1
Trang 29Chính vì vậy, để xây dựng hình trải người ta vẽ lên bề mặt của ma-nơ-canh
các đường trắc địa bằng cách sử dụng một thước ê-ke vuông Sau đó người ta xác
định chiều dài và khoảng cách giữa các đường trắc địa và dựng lại vị trí các đường
này lên mặt phẳng giấy Tập hợp các đường trắc địa vừa xác định được trên mặt
phẳng chính là hình trải nhận được
c Phương pháp lưới
Vải sử dụng để thiết kế quần áo thường được tạo thành từ hai hệ thống sợi
dọc và sợi ngang đan vuông góc với nhau Góc giữa sợi dọc và sợi ngang thay đổi
khi vải bị kéo hoặc bị nén theo các đường may khi mặc trên cơ thể người
Theo phương pháp lưới, người ta sẽ dùng một tấm vải lưới và trùm lên bề
mặt của ma-nơ-canh rồi tiến hành sắp xếp lưới sao cho lưới tiếp xúc với bề mặt của
ma-nơ-canh và biến dạng của góc giữa sợi dọc và sợi ngang là ít nhất Vị trí các
đường may và các nếp gấp trên lưới được ghim và đánh dấu lại Biến dạng của góc
giữa sợi dọc và sợi ngang và chiều dài của các đường cắt và đường may cũng được
đo và ghi lại Cuối cùng tháo lưới ra khỏi ma-nơ-canh và sao lại các đường đánh
dấu trên lưới lên giấy Bản vẽ nhận được chính là hình trải bề mặt của ma-nơ-canh
Hình 1.15 Trải phẳng bề mặt mô hình bằng phương pháp đường nhân địa
0
o
x 0
Trang 30d Phương pháp định vị
- Phương pháp định vị là phương pháp đồ thị để xác định hình trải bề mặt
của vật thể Phương pháp này được xây dựng dựa trên cơ sở phân chia bề mặt cong
phức tạp của vật thể thành một mặt đa diện trong đó mỗi diện tích nhỏ là một hình
tam giác mà các đỉnh của nó nằm trên bề mặt của vật thể Khi đó thấy rằng những
cung trên bề mặt cong phức tạp của ma-nơ-canh có thể được coi gần đúng là những
đoạn thẳng Nếu độ cong này càng lớn thì độ chính xác của hình trải sẽ càng nhỏ
Do vậy, tính chính xác của hình trải phụ thuộc rất nhiều vào việc chọn các điểm làm
đỉnh của mặt đa diện Thông thường người ta chọn các đỉnh của mặt đa diện là
những điểm nhân chủng học và một số điểm trung gian trên bề mặt của ma-nơ-canh
1
Hình 1.16 Trải phẳng bề mặt mô hình bằng phương pháp định vị
- Hình trải của các diện tích hình tam giác sẽ được vẽ nối tiếp nhau tạo thành
hình trải bề mặt của ma-nơ-canh
1.2.3 Một số công trình nghiên cứu xây dựng hinh trải bề mặt cơ thể
n ười bằn phươn pháp kh n tiếp xúc ứng dụng trong thiết kế trang phục
Thiết kế quần áo thực chất là việc xác định hình dạng và kích thước các chi
tiết của quần áo sao cho khi ráp nối chúng với nhau và khoác lên bề mặt cơ thể
người hoặc ma-nơ-canh thì quần áo sẽ có hình dạng khối như mong muốn Như vậy,
hình trải của các phần bề mặt cơ thể người là cơ sở ban đầu cho việc xác định hình
3 2
4 2
2
Trang 31dạng và kích thước các chi tiết của quần áo [5] Nhiều năm qua, những nhà say mê
thời trang đã nghiên cứu phát triển những phương pháp xây dựng hình trải bề mặt
cơ thể người bằng phương pháp không tiếp xúc nhằm mục đích ứng dụng trong
thiết kế trang phục
1.2.3.1 Đề tài “CAD Tools in Fashion/Garment Design”, Tác giả Charlie
C L Wang (2010) [13]
Trong bài báo này, tác giả Charlie C L Wang đã nghiên cứu nhằm hỗ trợ sự
phát triển các công cụ CAD trong thiết kế thời trang may mặc, các nội dung nghiên
cứu gồm:
- Giới thiệu phương pháp tái tạo mô hình 3D cơ thể người
- Giới thiệu kỹ thuật hỗ trợ quá trình thiết kế
- Phát triển thuật toán làm phẳng để chuyển đổi mô hình 3D cơ thể người
sang bản vẽ 2D
a Tái tạo mô hình3D cơ thể người: Sử dụng hệ thống quét 3D thu được
dữ liệu quét 3D cơ thể người dưới dạng các đám mây điểm ảnh Tập hợp các đám
mây điểm ảnh này thường bị lóa, nhòe Tác giả đã sử dụng thuật toán lọc để xóa bỏ
những điểm ảnh nhiễu không thuộc khối bề mặt cơ thể, đồng thời xác định:
+ Xác định các điểm đặc trưng hay còn gọi là mốc đo nhân trắc quan trọng
+ Xác định các đường đặc trưng
Các điểm đặc trưng và các đường cong đặc trưng được liên kết tạo thành
khung lưới bề mặt cơ thể người
Hình1.17 a) Sơ đồ các điểm đặc trưng, b) Các đường cong đặc trưng, c) Mô hình
khung lưới bề mặt cơ thể người
Trang 32b, Tạo mẫu thiết kế 3D trên mô hình khung lưới bề mặt 3D cơ thể người:
Các tác giả đã sử dụng mô hình khung lưới bề mặt 3D cơ thể người để tạo mẫu thiết
kế 3D cho các chủng loại trang phục khác nhau trên cơ sở sử dụng các điểm đặc
trưng, các đường đặc trưng và khung lưới bề mặt cơ thể Đồng thời sử dụng công cụ
tạo hình của phần mềm chuyên dụng để thiết kế trên mô hình khung lưới bề mặt cơ thể
người để dựng các đường, các mảng miếng chi tiết tạo nên các chi tiết của mẫu thiết kế
Hình 1.18 Hình minh họa kết quả cắt lưới
c, Trải phẳng bề mặt mô hình 3D cơ thể người thành bản vẽ 2D: Tác giả
đã áp dụng thuật toán làm phẳng bề mặt dựa vào quá trình giải phóng năng lượng
của hệ thống lò xo để thu được mẫu thiết kế 2D từ bề mặt lưới mô hình 3D
Hình 1.19 Quá xây dựng hình trải từ 3D sang 2D
Trang 331.2.3.2 Công trình nghiên cứu “3D Pattern Development of Tight-fitting
Dress for an Asymmetrical Female Manikin”, tác giả Soyoung Kim, Yeonhee
Jeong, Yejin Lee and Kyunghi Hong [16]
Các tác giả đã nghiên cứu xây dựng bản vẽ thiết kế 2D cho sản phẩm váy bó
sát từ mô hình 3D ảo của cơ thể phụ nữ có cấu trúc không đối xứng, đây là điểm
khác biệt so với các công trình nghiên cứu trước cho cơ thể đối xứng Mẫu thiết kế
được xây dựng trên cơ sở vải không co giãn
- Mô hình 3D ảo của phụ nữ bất đối xứng thu được từ dữ liệu số hóa 3D
bằng phương pháp quét 3D Lazer
- Ứng dụng tính năng vẽ của phần mềm RapidForm để thiết kế, các tác giả
đã chia mô hình 3D cơ thể người thành 22 khối chi tiết bộ phận, số lượng các khối
chi tiết bộ phận phụ thuộc vào chủng loại quần áo, độ phức tạp của bề mặt cong của
cơ thể và tính chất của vải sử dụng Thường xác định đường đặc trưng là các đường
ranh giới khi bề mặt cơ thể thay đổi độ cong
Hình 1.20 a Dữ liệu quét 3D của Manơcanh bất đối xứng
b Đường thiết kế trên mô hình 3D của Manơcanh
- Sau đó, các tác giả đã tiến hành trải phẳng bề mặt cho 22 khối chi tiết bộ
phận và sử dụng phần mềm Yuka CAD để xây dựng bản vẽ thiết kế 2D sử dụng
trong quá trình sản xuất công nghiệp
Trang 34Hình 1.21 Mẫu áo thân trên với 22 chi tiết cho trang phục nữ bó sát hình dạng
bất đối xứng
Hình 1.22 Mẫu áo thân trên với 17 chi tiết có đường may
Trang 35- Từ bản vẽ thiết kế 2D trên mặt phẳng 2 chiều , nhóm tác giả đã xây dựng
bản vẽ thiết kế có tính đến các lượng dư công nghệ để phục vụ trong quá trình sản
xuất công nghiệp, kết quả được thể hiện trên hình 1.23
Hình 1.23 Áo váy bó sát cho manơcanh nữ bất đối xứng
1.2.3.3 Công trình nghiên cứu “ Xây dựng mô hình 3D mô phỏng hình
dạng, cấu trúc và kích thước cơ thể trẻ em nam lứa tuổi tiểu học địa bàn thành
phố Hà Nội”, tác giả Nguyễn Quốc Toản, luận văn thạc sĩ khoa học, trường
ĐHBK Hà Nội [9]
Tác giả đã ứng dụng công nghệ quét 3D để xây dựng bộ dữ liệu 3D dưới
dạng đám mây điểm, tiếp đó ứng dụng phần mềm thiết kế ngược để tái tạo mô hình
3D ảo mô phỏng cơ thể người, trên cơ sở mô hình cơ thể người thu được tác giả xây
dựng cấu trúc sản phẩm lên mô hình 3D và ứng dụng phần mềm chuyên dụng để
trải phẳng bề mặt sản phẩm 3D sang 2D Tác giả đã đưa được giữa liệu dạng 2D
chính xác với kích thước cơ thể người, sản phẩm được thiết kế trực tiếp trên mô
hình mô phỏng cơ thể người Việc thiết kế như vậy được coi là sản phẩm bó sát
nhất cơ thể người, nhưng trong thực tế quần áo chỉ ôm lấy hình dáng cơ thể ở những
phần lồi của bề mặt cơ thể, còn phần sống lưng, khoảng giữa 2 bầu ngực thì quần
áo chỉ phủ nhẹ nhàng không bám trên bề mặt cơ thể, phương pháp thiết kế như vậy
chỉ phù hợp khi xây dựng hình trải của bề mặt cơ thể
1.2.3.4 Một số công trình nghiên cứu khác được trích dẫn trong [22]
- Theo tác giả Cho được trích dẫn trong công trình nghiên cứu “Computer
Aided Technical Design” của nhóm tác giả Jung Hyun Park và Hoon Joo Lee [22]:
Trang 36Bằng cách sử dụng phần mềm chuyên dụng để xây dựng mô hình bề mặt lưới, bề
mặt mịn hóa để thu được mô hình 3D ảo mô phỏng cơ thể người hoàn chỉnh Từ
đây, sử dụng phần mềm chuyên dụng để phát triển các mô hình 3D cơ thể người
tương tác bằng việc nhập các giá trị số đo vòng như: vòng ngực, vòng eo, vòng
mông…và các số đo chiều dài như chiều dài thân …để tạo ra các mô hình cơ thể
người khác nhau Tuy nhiên phương pháp này chỉ giới hạn trong việc phát triển mô
hình 3D cơ thể người cho một số cơ thể có cùng hình dạng và cấu trúc, sẽ không
chính xác khi phát triển cho các cơ thể có hình dạng và cấu trúc khác nhau
- Theo tác giả Kang và Kim được trích dẫn trong [22] đã phát triển mô hình
3D ảo mô phỏng cơ thể người, họ đã tạo ra mẫu thiết kế 3D ngay trên mô hình 3D
cơ thể người ảo Khi đó, hình dạng quần áo thường bao phủ và có hình dạng theo bề
mặt cơ thể người, đồng thời có phần khoảng cách giữa bề mặt cơ thể và bề mặt quần
áo, phương pháp này áp dụng cho quần áo bó sát cơ thể Theo tác giả Kim và
Park được trích dẫn trong [22] đã nghiên cứu phát triển tạo mẫu thiết kế quần áo
3D trực tiếp trên mô hình 3D cơ thể người, các sản phẩm quần áo được tạo thành
gồm 2 phần:
+ Phần ôm sát bề mặt cơ thể như ngực, eo, lưng
+Phần thời trang theo các chủng loại sản phẩm khác như chân váy xòe
rộng…phần này thường tạo ra các song vải, nếp gấp
- Để biến đổi bề mặt 3D sang 2D phục vụ cho sản xuất, một số nhà nghiên
cứu đưa ra phương pháp xây dựng lưới bề mặt, có 2 cách tạo lưới căn bản: cách
thứ nhất là chia bề mặt cơ thể thành nhiều đường quy định (đường trung tâm,
đường vòng ngực…) và sau đó mỗi phần được chia thành các mảnh nhỏ, trong
phương pháp khác bề mặt được chia hoàn toàn thành các miếng nhỏ Đường phân
chia có thể được sử dụng như đường chiết hoặc đường thiết kế như đường dọc và
đường ngang
- Khi trải phẳng một khối vật thể 3D sang mặt phẳng 2D thường có sai số do
biến dạng vấn đề quan trọng là làm thế nào để giảm thiểu sự biến dạng trong quá
trình làm phẳng Theo tác giả Kang và Kim được trích dẫn trong [22] đã giới thiệu
Trang 37thuật toán trải phẳng sinh ra chiết bằng cách sử dụng các yếu tố tam giác có nguồn
gốc từ sự phân chia theo đường chéo các hình chữ nhật Hình tam giác có ưu điểm
hơn so với hình chữ nhật vì hình dạng có thể được xác định với chỉ ba độ dài Vì
vậy, khi sử dụng cấu trúc hình tam giác, nó có thể để giảm số lượng các yếu tố kiểm
soát xem xét để phát triển một thuật toán và thực hiện một thuật toán không phức
tạp Khi các yếu tố hình tam giác được kết hợp một hình một, các yếu tố tiếp theo
buộc phải đính kèm các yếu tố bên cạnh cho đến khi sự khác biệt giữa góc trước và
sau khi biến dạng không vượt quá giá trị cho phép cắt được xác định trước Nếu sự
khác biệt vượt quá dung sai, chiết được hình thành bởi các yếu tố tách (hình 1.24),
thuật toán này tạo ra chiết theo hướng vuông góc với các đường biên của các mẫu
Hình 1.24 Thuật toán trải phẳng bằng lưới tam giác
- Yunchu & Weiyuan (2007) được trích dẫn trong [22] đã phát triển một
phương pháp trải phẳng bằng cách sử công cụ lưới bề mặt ba chiều Đầu tiên một
nửa bề mặt cơ thể 3D được chia thành 10 khu vực trong không gian theo các đặc
trưng hình học của bề mặt, để trải phẳng bề mặt 3D thành 2D, mỗi khu vực được
chia theo chiều ngang hoặc theo chiều dọc, chủ yếu là hình tứ giác dài (Hình 1.25a)
Khung lưới bề mặt 3D được sắp xếp như cấu trúc các đường được biến đổi sang 2D
bằng phương tiện hình học Đường xác định vị trí giới hạn thường là các đường giữa
phía trước, đường giữa lưng và vòng ngực, mỗi phần tử tứ giác được làm phẳng theo
nguyên tắc: Trong trường hợp của một tứ giác, nếu vị trí của hai đường cạnh được
xác định thì giao điểm của vòng cung được vẽ bởi hai đường còn lại trở thành điểm
cuối cùng của tứ giác (Hình 1.25b), phương pháp này có khả năng ứng dụng rộng rãi
để trải phẳng mô hình 3 D sang 2D
Trang 38a b
Hình 1.25 a Lưới bề mặt 3D; b Nguyên tắc biến đổi hình học
1.2.4 Phần mềm thiết kế theo tham số Pro – Engineer
Pro-Engineer là phần mềm của hãng Prametric Technology, Corp Một phần
mềm thiết kế theo tham số, có nhiều tính năng trong lĩnh vực CAD/CAM/CAE, nó
mang lai cho chúng ta các khả năng như:
- Mô hình hóa trực tiếp vật thể rắn
- Tạo các môdun bằng các khái niệm và phần tử thiết kế
- Thiết kế thông số
- Sử dụng cơ sở dữ liệu thống nhất
- Có khả năng mô phỏng động học, động lực học kết cấu cơ khí
Phần mềm Pro/Engineer có các module sau: [29]
Pro/DETAIL: Module tạo trực tiếp mô hình 3D của các bản vẽ thiết kế chuẩn
cho phân xưởng và chế tạo trong đó đảm bảo liên kết 2 phía giữa các bản vẽ và
modun 3D
Pro/ASSEMBLY: Tạo điều kiện thiết lập dễ dàng chi tiết vào hệ thống và
dưới hệ thống Nó hỗ trợ cho phần lắp ráp và lắp ráp nhóm, giải quyết tình huống
xung đột, thiết kế thay đổi…
Pro/SHEETMETAL: Module hỗ trợ thiết kế những chi tiết có dạng tấm, vỏ
Pro/SURFACE: Module hỗ trợ vẽ, tạo các mặt tự do( Free Form), xử lý các
mặt cong và bề mặt phức tạp
Trang 39Pro/MANUFACTURING: Bao gồm dữ liệu NC, mô phỏng, format dư liệu
CL, thư viện các phần tử
Pro/MESH: Hỗ trợ tái tạo mạng lưới cho việc phân tích phần tử hữu hạn
(FEA), xác định điều kiện biên, gắn liền với ANSYS, PATRAN, NASTRAN,
ABAQUS, SUPERTAB và COSMOS/M
Pro/MECHANICA: Mô phỏng động học, kiểm nghiệm ứng suất, chuyển vị,
biến dạng tuyến tính và phi tuyến, xác định và dự đoán khả năng phá hủy vật liệu…
Pro/INTERFACE: Tạo điều kiện gắn với các hệ CAD khác như: igs, dxf,
vdafs, render, SLA…
Pro/PROJECT: Xác định để điều khiển dự án thiết kế và tổ hợp một số đội
thiết kế và lập dư án
Pro/FEATURE: Mở rộng khả năng thiết lập những phần tử thiết kế bằng thư
viện của các bộ phận, nhóm, tái tạo các hình dạng chuẩn và dưới nhóm
Pro/DESIGN: Hỗ trợ thành lập mô hình 3D, sơ đồ khối, xây dựng kế hoạch
thiết kế và mối quan hệ phụ thuộc, giúp cho sự phân tích nhanh và hiệu quả và sắp
xếp phương án
Pro/LIBRARY: Module chứa thư viện rộng lớn của các phần tử trên chuẩn (chi
tiết, phần tử thiết kế tiêu chuẩn, dụng cụ, khớp nối…), có thể bổ sung hoặc hiệu chỉnh
Pro/VIEW: Module tạo điều kiện kiểm tra mô hình hóa chi tiết và hệ thống từ
một hướng quan sát bất kì
Pro/DRAFT: Module hỗ trợ biểu diễn 2D, tạo điều khiện đọc bản vẽ của các
hệ CAD khác và bổ sung môdun 3D về thiết kế thông số
Pro/MOLD: Module thiết kế khuôn
Pro/DEVELOP (Pro/PROGRAM): Module hỗ trợ việc lập trình ứng dụng
riêng Chứa các thư viện của hàm số C, thư viện chương trình con của ngôn ngữ lập
trình FORTRAN và đặc biệt tiếp cận được với cấu trúc thiết lập các hệ thống và cấu
trúc dữ liệu của hệ thống
Với những tính năng đã giới thiệu ở trên cho thấy: “Pro/Engineer là một
phần mềm CAD/CAM/CAE rất mạnh, có khả năng mô hình hóa các chi tiết phức
Trang 40tạp như các loại máy xúc, máy đào đất, ô tô, các biên dạng vỏ tàu thủy… khả năng
lắp ráp lớn và rất tối ưu trong thiết kế”
KẾT LUẬN PHẦN T NG QUAN
Kích thước và hình dạng cơ thể khác nhau theo từng cá nhân, người có cùng
một kích thước vòng ngực, vòng eo thì kích thước vòng mông của họ có thể khác
nhau Thậm chí nếu họ có cùng một số đo các phần chính của cơ thể, độ cong từng
bộ phận và diện tích tiết diện ngang có thể sẽ là khác nhau Như vậy nếu sử dụng hệ
công thức thiết kế 2 chiều để sản xuất cho toàn bộ các cơ thể khác nhau thì không
đáp ứng được nhu cầu về sự vừa vặn cho mọi đối tượng Mặt khác, việc thiết kế
thực hiện bằng phương pháp tính toán sử dụng hệ thống kích thước và cỡ vóc chuẩn
của người Việt Nam theo lứa tuổi, vùng miền Nhưng hệ thống này không được cập
nhật kịp thời để phù hợp với tốc độ phát triển của cơ thể người Việc thiết kế trên
ma-nơ-canh đem lại sự vừa vặn, nhưng hiện nay ngành may thời trang Việt Nam sử
dựng chủ yếu ma-nơ-canh ngoại nhập có cấu trúc và hình thái có nhiều điểm khác
biệt so với cơ thể người Việt Nam Vì vậy, các mẫu thiết kế quần áo công nghiệp
thường không đảm bảo sự phù hợp với người tiêu dùng nội địa
Cơ thể con người là một tác phẩm nghệ thuật của tạo hóa, vốn có hình dạng,
cấu trúc và kích thước phức tạp Việc tái hiện các đường cong, các khối cơ bắp và tỉ
lệ cấu trúc các phần của cơ thể là một việc khó khăn đối với kỹ thuật thiết kế thông
thường, truyền thống Với sự phát triển của khoa học công nghệ, cùng với việc sử
dụng các thiết bị quét 3D hiện đại và sự trợ giúp của các phần mềm chuyên dụng,
chúng ta có thể xây dựng được các bộ dữ liệu số hóa 3D tái tạo mô hình vật thể nói
chung và cơ thể người nói riêng với độ chính xác cao, tiết kiệm được thời gian và
công sức
Qua tìm hiểu, các công trình nghiên cứu của thế giới đã giải quyết những vấn
đề sau:
- Xây dựng mô hình 3D cơ thể từ dữ liệu quét 3D
- Tạo mẫu thiết kế 3D sản phẩm quần áo trên mô hình 3D cơ thể người ảo