1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận môn các đảng chính trị trên thế giới đảng cộng sản cu ba, cơ cấu, phương thức hoạt động và các chính sách cơ bản

32 853 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 291,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Quan hệ Việt Nam Cuba là mối quan hệ song phương giữa hai nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Cuba, được thiết lập ngày 2121960 giữa Chính phủ Cộng hoà Cuba và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việt Nam và Cuba đang hợp tác kinh tế song phương trong nhiều lĩnh vực dựa vào thế mạnh của mỗi nước. Đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, dầu khí, viễn thông, giáo dục và y tế. Việt Nam cùng Cuba tiến hành các dự án bảo đảm an ninh lương thực cho người dân Cuba cũng như cho Cuba vay vốn và mua gạo trả chậm. Petro Việt Nam đang có các dự án thăm dò khai thác dầu khí tại Cuba. Tổng kim ngạch thương mại hai chiều của Việt Nam Cuba đạt mức 250 triệu USD vào năm 2010 Trong quá trình thành lập khu chế xuất thương mại tự do ZEDM tại cảng biển Mariel, Cuba ưu tiên chọn Việt Nam là điểm đầu tiên để tham khảo kinh nghiệm thu hút các loại vốn đầu tư nước ngoài Hai nước đã có mối quan hệ chính trị sâu sắc và gắn kết vững bền kể từ năm 1960 đến nay. Cả hai nước đều ủng hộ nền tảng tư tưởng MácLênin. Tượng đài Hồ Chí Minh đã được khánh thành tại thủ đô Lahabana (năm 2003), trường Hồ Chí Minh (cấp II) ở tỉnh Jarugo (năm 1974), trường Bác Hồ (cấp I) ở Lahabana (năm 1976). Với những vấn đề nêu trên, tôi chọn đề tài: “Đảng Cộng sản CuBa, cơ cấu, phương thức hoạt động và các chính sách cơ bản” làm tiểu luận của mình. 2. Tình hình nghiên cứu Thực hiện đường lối đa dạng hóa, đa phương hóa trên phương diện lý luận theo tinh thần đại hội X của Đảng, đồng thời nhằm góp phần vào việc nghiên cứu, giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra trong công cuộc đổi mới đất nước, trong những năm gần đây đã có rất nhiều các công trình của các nhà nghiên cứu trong nước vì CuBa nói chung và vì Đảng Cộng sản CuBa nói riêng, tiêu biểu là:

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quan hệ Việt Nam - Cuba là mối quan hệ song phương giữa hai nước Cộnghòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Cuba, được thiết lập ngày 2/12/1960giữa Chính phủ Cộng hoà Cuba và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Việt Nam và Cuba đang hợp tác kinh tế song phương trong nhiều lĩnh vựcdựa vào thế mạnh của mỗi nước Đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, dầu khí,viễn thông, giáo dục và y tế Việt Nam cùng Cuba tiến hành các dự án bảo đảm anninh lương thực cho người dân Cuba cũng như cho Cuba vay vốn và mua gạo trảchậm Petro Việt Nam đang có các dự án thăm dò khai thác dầu khí tại Cuba Tổngkim ngạch thương mại hai chiều của Việt Nam - Cuba đạt mức 250 triệu USD vàonăm 2010 Trong quá trình thành lập khu chế xuất thương mại tự do ZEDM tạicảng biển Mariel, Cuba ưu tiên chọn Việt Nam là điểm đầu tiên để tham khảo kinhnghiệm thu hút các loại vốn đầu tư nước ngoài[

Hai nước đã có mối quan hệ chính trị sâu sắc và gắn kết vững bền kể từ năm

1960 đến nay Cả hai nước đều ủng hộ nền tảng tư tưởng Mác-Lênin Tượng đài

Hồ Chí Minh đã được khánh thành tại thủ đô Lahabana (năm 2003), trường Hồ ChíMinh (cấp II) ở tỉnh Jarugo (năm 1974), trường Bác Hồ (cấp I) ở Lahabana (năm1976)

Với những vấn đề nêu trên, tôi chọn đề tài: “Đảng Cộng sản Cu-Ba, cơ cấu, phương thức hoạt động và các chính sách cơ bản” làm tiểu luận của mình.

2 Tình hình nghiên cứu

Thực hiện đường lối đa dạng hóa, đa phương hóa trên phương diện lý luậntheo tinh thần đại hội X của Đảng, đồng thời nhằm góp phần vào việc nghiên cứu,

Trang 2

trong những năm gần đây đã có rất nhiều các công trình của các nhà nghiên cứutrong nước vì Cu-Ba nói chung và vì Đảng Cộng sản Cu-Ba nói riêng, tiêu biểu là:

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: nghiên cứu về Đảng Cộng sản Cu-Ba

- Phạm vi: nghiên cứu về cơ cấu, phương thức hoạt động và các chínhsách của Đảng cộng sản Cu-Ba

4 Chức năng và nhiệm vụ

+ Chức năng : Tiểu luận “ Đảng cộng sản Cu-Ba, cơ cấu, phương thức hoạt

động và các chính sách cơ bản” nhăm nghiên cứu về cơ cấu , phương thức hoạtđộng cà các chính sách cơ bản của một chính Đảng cộng sản Cu-ba để từ đó liện hệvới thực tiễn lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình công nghiệphóa và hiện đại hóa đất nước

+ Để thực hiện những chức năng đó tiểu luận phải thực hiện những nhiệm

5 Phương pháp nghiên cứu

Tiểu luận sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử củaChủ nghĩa Mác – Lênin Ngoài ra, để thực hiện mục tiêu nghiên cứu của tiểu luậncũng như việc triển khai nội dung, tiểu luận kết hợp sử dụng các phương pháplogic – lịch sử và một số phương pháp cụ thể như: tra cứu, phân tích tài liệu,phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thu thập và xử lý thông tin

Trang 3

6 KẾT CẤU CỦA TIỂU LUẬN

Tiểu luận bao gồm: Phần mở đầu, 3 chương, kết luận, danh mục tài liệutham khảo và phần phụ lục

Trang 4

CHƯƠNG 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẢNG CHÍNH TRỊ VÀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN CU-BA

Theo học thuyết người Mỹ Steffen, “đảng chính trị là một nhóm người được

tổ chức lại nhằm giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử, để giành quyền điều hành chính phủ và quyết định chính sách công” Định nghĩa này đúng với trường

hợp ở Mỹ, nơi nào àm tổ chức đảng rất lỏng lẻo và các đảng đều có xu hướng thựcdụng hơn là nhấn vào vấn đề hệ tư tưởng và mục tiêu lớn nhất của các đảng làgiành phiếu bầu cử của cử tri để trở thành đảng cầm quyền

Theo Anthong Down, trong một nền chính trị dân chủ, mục đích duy nhấtcủa một đảng chính trị là giành quyền lực và quyền thực thi quyền lực nhà nước.Quan điểm này xuất phát từ mục đích căn bản trước hết của các đảng chính trị làvấn đề chính quyền Nếu một đảng không đưa ra mục đích giành quyền lực nhànước thì đảng đó khó có thể lôi kéo được quần chúng ủng hộ Và nếu trong một

Trang 5

thời kỳ dài, đảng luôn thất bại trong tranh cử, không thể giành được quyền lực thìđảng đó cũng có khả năng mất dần những cử tri đã từng gắn bó với họ.

Khác với quan niệm của các học giả phương Tây, quan điểm của Chủ nghĩaMác – Lênin chỉ rõ bản chất giai cấp của các đảng chính trị, với tư cách là tổ chứcchính trị đại diện lợi ích giai cấp, thể hiện lợi ích căn bản của giai cấp trong cươnglĩnh cũng như trong hoạt động của mình Lênin đã chỉ ra rằng: “ Để nhận ra đượccuộc đấu tranh của các đảng, thì không nên tin ở lời nói, mà nên nghiên cứu lịch sửthực sự của đảng, nghiên cứu chủ yếu là việc họ làm, chứ không phải là những lờinói về bản thân họ, xem họ giải quyết vấn đề chính trị như thế nào, xem thái độ của

họ thế nào trong những vấn đề có liên quan đến lợi ích thiết thân của các giai cấpkhác nhau trong xã hội: địa chủ, tư bản, nông dân, công nhân.Tiêu biểu cho quanniệm vì đảng chính trị theo quan điểm chính trị Mác xít, từ điểm bách khoa triết

học (Liên Xô) định nghĩa Đảng chính trị là tổ chức chính trị thể hiện những lợi ích của một giai cấp hay của một tầng lớp xã hội, liên kết những đại diện ưu tú nhất của giai cấp để lãnh đạo giai cấp đạt tới những mục đích và lý tưởng nhất định.

Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng nhìn chung chúng ta cóthể đưa ra một số đặc trưng nổi bật về đảng chính trị như sau:

- Là tổ chức chính trị đại diện cao nhất cho lợi ích của một giai cấp,một tầng lớp, một nhóm hoặc một lực lượng nào đó

- Là các nhóm chính trị được tổ chức chủ yếu nhằm giành quyền lựcnhà nước

- Là tổ chức chính trị của những người có đảng chính kiến, quan điểm,

mà trước hết là vì các chính sách công

Trang 6

quyền lực thực thi được quyền lực, chừng nào trong quá trình thực hiện các lợi íchcủa các giai cấp thì đồng thời phải thực hiện các lợi ích của cộng đồng, xã hội ởmức độ nhất định Đảng phải biến ý chí của bộ phận thành ý chí của cả dân tộc,quốc gia C.Mác cũng nhấn mạnh: thực hiện chức năng xã hội, lợi ích xã hội là cơ

sở cảu sự thống trị chính trị và sự thống trị chính trị cũng chỉ kéo dài chừng nào đócần thực hiện chức năng xã hội Mục tiêu của đảng chính trị trước hết là giànhchính quyền lực nhà nước và sử dụng quyền lực đó cho các mục tiêu lợi ích củađảng Khi giành được quyền lực nhà nước, đảng đó trở thành đảng cầm quyền Ýchí của đảng cầm quyền trở thành ý chí của chính quyền, ý chí của xã hội

Trong xã hội dân chủ, đảng chính trị phải là đảng hợp pháp, được pháp luậtthừa nhận vì tổ chức và được hoạt động chính trị theo khuôn khổ của pháp luật Từnhững đặc trưng trên của đảng chính trị có thể đưa ra một quan niệm chung vềđảng chính trị như sau: Đảng chính trị hay còn gọi là chính đảng, là một tổ chứcchính trị đại diện của một giai cấp, một lực lượng xã hội, có (hoặc không có) tưcách pháp nhân, gồm những người có cùng chứng kiến, tự nguyện tham gia hoạtđộng liên tục, nhằm thực hiện mục tiêu giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước

Trang 7

Trong trường hợp không chiếm được đa số ghế trong nghị viện thì một số đảngliên minh với nhau lập chính phủ liên hợp, tức là các đảng liên minh cầm quyền.

Trong xã hội hiện đại, vai trò của các đảng chính trị đối với sự phát triển của

xã hội ngày càng lớn Hoạt động của các đảng chính trị ngày càng chủ yếu là hoạtđộng nghị trường để giành lấy đa số phiếu trong quốc hội, phấn đấu trở thành đảngcầm quyền và chi phối sự hoạt động của xã hội

Trong hệ thống nghị viện, đảng cầm quyền là đảng chính trị hoặc liên minhchính trị chiếm đa số ghế trong nghị viện Trong hệ thống Tổng thống, ứng cử viênTổng thống của đảng nào được dân lựa chọn thông qua bầu cử, thì đảng đó đượcgọi là đảng cầm quyền

Đảng cầm quyền cũng là thuật ngữ dùng để chỉ các đảng cộng sản ở nhữngnước có duy nhất một đảng cầm quyền, đảng nắm chính quyền để lãnh đạo cáchmạng của các nước đó, như đảng cộng sản Trung Quốc (dù nhiều đảng nhưng thựcchất là đảng cầm quyền), Đảng cộng sản Việt Nam,… Như vậy đảng cầm quyềnđược hiểu theo các nghĩa sau:

- Một là, nói tới đảng cầm quyền là nói tới vị thế của đảng trong sự sosánh với các đảng chính trị khác – những đảng không cầm quyền

- Hai là, đảng cầm quyền là đảng nắm giữ những vị trí chủ chốt của bộmáy nhà nước để kiểm soát quá trình hoạch định và thực thi chính sách quốc gia

- Ba là, đảng cầm quyền là đảng lãnh đạo người của mình trong bộ máynhà nước, thực hiện các mục tiêu phát triển của đảng thông qua chính sách của nhànước

Như vậy, khái niệm “Đảng cầm quyền” dung chứa trong nó cả “Đảng lãnhđạo”, đảng lãnh đạo thuận lợi hơn, có công cụ mạnh mẽ hơn trong điều kiện đảng

Trang 8

chất là mang nghĩa lãnh đạo Khái niệm đảng cầm quyền, được dùng như là đảnglãnh đạo và “Nội dung và phương thức cầm quyền của đảng” Vì vậy cũng đượcdùng như là nội dung và phương thức lãnh đạo của đảng đối với nhà nước và xãhội.

2. Lịch sử hình thành và giai đoạn phát triển đến trước chiến tranh thế giới thứ hai đến nay.

Cuba đã có một số tổ chức cộng sản và theo chủ nghĩa vô chính phủ từ thờiban đầu của nước cộng hòa Đảng Cộng sản Cuba "quốc tế hóa" ban đầu đượcthành lập vào thập niên 1920 Những người sáng lập gồm có Blas Roca, AnibalEscalante, Fabio Grobart và Julio Antonio Mella Là một thành viên của Quốc tế

thứ ba, đảng này sau này đã được đổi tên thành Đảng Xã hội Nhân dân vì lý do bầu

cử Đảng đã ủng hộ chính phủ của Fulgencio Batista, và có một số thành viên thamgia với cương vị quốc vụ khanh Đảng Xã hội Nhân dân ban đầu ban đầu kịch liệtphê phán Fidel Castro Sau cuộc cách mạng đô thị dẫn đến việc Fidel Castro lênnắm quyền vào ngày 1 tháng 1 năm 1959, thủ tướng Liên Xô Nikita Khrushchev

đã hỏi ý kiến các cố vấn của ông về động cơ và lý lịch của Castro Những người cố

vấn này đã báo cáo rằng Castro là một đại diện của "haute bourgeoisie" (tư bản) và

có khả năng đang làm cho CIA.[1]

Bất chấp điều này, sự hợp tác giữa Liên Xô và Cuba gia tăng Theo đó, vaitrò của những người cộng sản trong cuộc sống chính trị Cuba cũng được ủng hộ

tương tự Tháng 7 năm 1961, hai năm sau cuộc cách mạng năm 1959, Các tổ chức Cách mạng Hợp nhất (ORI) đã được thành lập thông qua việc hợp nhất Phong trào

26 tháng 7 của Fidel Castro và Đảng Xã hội Nhân dân do Blas Roca lãnh đạo và Hội đồng Cách mạng 13 tháng 3 do Faure Chomón lãnh đạo Ngày 26 tháng 3 năm

1962, ORI đã trở thành Đảng Thống Nhất Cách mạng Xã hội Chủ nghĩa Cuba

(PURSC) và sau đó trở thành Đảng Cộng sản Cuba vào ngày 3 tháng 10 năm

Trang 9

1965 Đảng này vẫn là đảng chính trị được công nhân duy nhất ở Cuba Các đảngphái khác, dù hiện là bất hợp pháp, không thể thực hiện vận động hay các hoạtđộng khác ở quốc gia nếu không sẽ bị xem là "phản cách mạng".

Trong 10 năm đầu tồn tại chính thức, Đảng Cộng sản Cuba khá ít hoạt độngbên ngoài Bộ Chính trị 100 ủy viên Ban Chấp hành trung ương hiếm khi hội họp

và 10 năm sau thành lập thì Đại hội đảng lần đầu mới được tổ chức Năm 1969,đảng này chỉ có 55.000 đảng viên, chiếm 0,7% dân số, khiến đây là đảng cộng sảncầm quyền nhỏ nhất thế giới Thập niên 1970, bộ máy của đảng này bắt đầu pháttriển Tại đại hội đảng năm 1975, Đảng Cộng sản Cuba đã có 200.000 đảng viên vàBan Chấp hành Trung ương đã hội nghị thường lệ và tổ chức bộ máy Đến năm

1980, đảng này có 430.000 đảng viên và năm 1985 có 520.000 đảng viên

Cuộc khủng hoảng do sự sụp đổ của Liên Xô đã dẫn đến đại hội đảng lầnthứ 4 năm 1991 là một sự cởi mở và tranh luận chưa có tiền lệ do cấp lãnh đạo cốtạo ra một sự nhất trí của công chúng để phản ứng lại "Giai đọan đặc biệt" Ba triệudân đã tham gia vào các cuộc tranh luận và thảo luận trước đại hội đảng về các chủ

đề như cơ cấu chính trị và chính sách kinh tế Đại hội năm 1991 đã định nghĩa lạiđảng này là "đảng của đất nước Cuba" thay vì "đảng của giai cấp công nhân" Việccấm các tín đồ tôn giáo vào đảng đã được dỡ bỏ Ngoài ra, José Martí đã đượcnâng lên tầm Karl Marx và Lenin trong các hình tượng lý tưởng của đảng này

Trang 10

CHƯƠNG 2:

PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG VÀ CÁC CHÍNH SÁCH CƠ BẢN

CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN CU BA.

2.1 Phương thức hoạt động và lãnh đạo của đảng cộng sản cu-ba.

Mặc dù Đại hội thành lập được tổ chức vào ngày 3 tháng 10 năm 1965,nhưng mãi đến tháng 12 năm 1975, Đảng Cộng sản Cuba mới tổ chức Đại hộiĐảng lần đầu tiên Từ đó đến nay, đã diễn ra 6 kỳ Đại hội vào các năm 1975, 1980,

1986, 1991, 1997 và 2011

 Đại hội I: Tháng 12, 1975 (La Habana)

 Đại hội II: Tháng 12, 1980 (Santiago de Cuba)

 Đại hội III: Tháng 2, 1986 (Santiago de Cuba)

 Đại hội IV: Tháng 10, 1991 (Santiago de Cuba)

 Đại hội V: Tháng 10, 1997 (La Habana)

 Đại hội VI: Tháng 4, 2011 (La Habana)

Cơ cấu

 Đại hội (Congreso) được xác định là cơ quan tối cao của đảng, bầuchọn ra các Ủy viên Trung ương, phê duyệt điều lệ và các nghị quyết của đảng.Đại hội thành lập năm 1965 quy định các kỳ đại hội họp định kỳ mỗi 5 năm, hoặckhi Ủy ban Trung ương triệu tập Đại hội bất thường Tuy nhiên, mãi đến năm

1975, Đại hội đầu tiên mới được tổ chức Kỳ Đại hội VI cũng được hoãn nhiều lần

và chỉ được tổ chức vào tháng 4 năm 2011, sau 14 năm gián đoạn kể từ Đại hội V

 Ủy ban Trung ương (Comité Central) là cơ quan điều hành hoạt độngcủa đảng giữa các kỳ đại hội, quyết định số lượng và bầu chọn thành viên của BộChính trị, bầu Bí thư thứ nhất và thứ hai, thực hiện các nghị quyết, chính sách và

Trang 11

chương trình mà Đại hội đã thông qua Ủy ban Trung ương họp định kỳ mỗi năm 1lần và đột xuất theo triệu tập của Bộ Chính trị Ủy ban Trung ương được thiết lậpđầu tiên ngay trong Đại hội thành lập vào năm 1965, với 225 thành viên, đã bầuFidel Castro làm Bí thư thứ nhất và em trai Raul làm Bí thư thứ hai Tại Đại hội V,

số thành viên Ủy ban đã giảm xuống còn 150 Tại Đại hội VI, Fidel rút khỏi BộChính trị, Raul Castro được bầu làm Bí thư thứ nhất và José Ramón MachadoVentura được bầu làm Bí thư thứ hai

 Bộ Chính trị (Buró Político) là cơ quan quản lý cao nhất, quyết địnhđường lối của đảng, thực hiện các nghị quyết của Đại hội và Ủy ban Trung ương.Thời kỳ đầu, Bộ Chính trị chỉ có vài thành viên, gồm Bí thư thứ nhất và thứ haicùng các Ủy viên Hội đồng Nhà nước Năm 1991, Bộ Chính trị sát nhập với Ban

Bí thư để trở thành Bộ Chính trị mở rộng gồm 24 thành viên Năm 2006, lại táchthành 2 cơ quan riêng biệt

 Ban Bí thư (Secretariado) là cơ quan giúp việc cho Bộ Chính trị, gồmcác thành viên là những người đứng đầu Ban Thường trực của Ủy ban Trung ương.Năm 1991, được sát nhập với Bộ Chính trị để trở thành Bộ Chính trị mở rộng.Năm 2006, Ban Bí thư được thiết lập trở lại với vai trò như là một cơ quan thừahành ở cấp chính phủ của đảng

Các tổ chức trực thuộc

 Hội Liên hiệp Thanh niên Cộng sản (Unión de Jóvenes Comunistas UJC), thành lập năm 1962, là cơ quan hậu bị của đảng, được tổ chức theo mô hình

-Komsomol ở Liên Xô

 Công đoàn Trung ương Cuba (Central de Trabajadores de Cuba CTC), thành lập năm 1961

Trang 12

- Liên đoàn Phụ nữ Cuba (Federación de Mujeres Cubanas - FMC),thành lập năm 1960.

 Hội Nông dân Quốc gia (Asociación Nacional de AgricultoresPequeños - ANAP), thành lập năm 1961

 Đội Thiếu niên Tiền phong José Martí (Organización de Pioneros JoséMartí - OPJM) thành lập năm 1977

 Liên đoàn Học sinh Trung học (Federación Estudiantil de laEnseñanza Media - FEEM), thành lập năm 1970

 Liên đoàn Sinh viên Đại học (Federación Estudiantil Universitaria FEU), thành lập năm 1922 Đây là tổ chức chính trị lâu đời nhất còn hoạt động tạiCuba, do Julio Antonio Mella sáng lập

- Ủy ban Bảo vệ Cách mạng (Comités de Defensa de la Revolución CDR), thành lập năm 1960

- Hội Chiến binh Cách mạng Cuba (Asociación de Combatientes de laRevolución Cubana - ACRC), thành lập năm 1993

Thành viên Bộ Chính trị đương nhiệm

 Raúl Castro Ruz, Bí thư thứ nhất, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước

 José Ramón Machado Ventura, Bí thư thứ hai, Phó Chủ tịch Hội đồngNhà nước

 Julio Casas Regueiro, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Bộ trưởng

Bộ Các lực lượng vũ trang cách mạng

 Abelardo Colomé Ibarra, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Bộtrưởng Bộ Nội vụ

Trang 13

 Esteban Lazo Hernández, Bí thư Trung ương, Phó Chủ tịch Hội đồngNhà nước.

 Ricardo Alarcón de Quesada, Chủ tịch Hội nghị Quốc gia Sức mạnhNhân dân

 Leopoldo Cintra Frías, Ủy viên Hội đồng Nhà nước, Thứ trưởng thứnhất Bộ Các lực lượng vũ trang cách mạng

 Miguel Mario Díaz-Canel Bermúdez, Bộ trưởng Giáo dục Đại học

 Ramón Espinosa Martín, Thứ trưởng Bộ Các lực lượng vũ trang cáchmạng

 Álvaro López Miera, Ủy viên Hội đồng Nhà nước, Thứ trưởng BộCác lực lượng vũ trang cách mạng, kiêm Tổng Tham mưu trưởng

 Mercedes López Acea, Bí thư thứ nhất Thành ủy La Habana

 Marino Murillo Jorge, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng

 Ramiro Valdés Menéndez, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, PhóChủ tịch Hội đồng Bộ trưởng

 Salvador Valdés Mesa, Ủy viên Hội đồng Nhà nước, Tổng thư kýCông đoàn Trung ương

 Adel Yzquierdo, Bộ trưởng Bộ Kinh tế và Kế hoạch

Trang 14

2.2 Các chính sách cơ bản của đảng cộng sản cu-ba

2.2.1 Xã hội

Về lịch sử, Cuba từng có tỷ lệ giáo dục và biết chữ cao nhất Mỹ Latinh, cảtrước và sau thời kỳ cách mạng Giáo dục là miễn phí đối với mọi công dân Cubagồm cả giáo dục đại học Các định chế giáo dục tư nhân không được phép hoạtđộng Phổ cập giáo dục áp dụng với mọi đứa trẻ từ sáu tuổi tới hết mức giáo dụccấp hai căn bản (thường là 15 tuổi) và tất cả học sinh, không cần biết giới tính vàsắc tộc, đều mặc đồng phục của trường với màu sắc thể hiện cấp học

Giáo dục tiểu học kéo dài sáu năm, giáo dục trung học cơ sở được chia thànhmức căn bản và tiền đại học Giáo dục cao học được tiến hành tại các trường đạihọc, các viện, các viện sư phạm và các viện bách khoa Đại học La Habana đượcthành lập năm 1728 và có một số trường cao đẳng cũng như đại học khác Bộ Giáodục Cao học Cuba cũng điều hành chương trình Giáo dục Từ xa mở các lớp buổichiều và buổi tối tại các vùng nông thôn cho các lao động nông nghiệp Giáo dụcđược đề cao cả về mặt chính trị và ý thức hệ, và sinh viên bậc cao học được chờđợi sẽ là người thực hiện các mục tiêu do chính phủ Cuba đề ra

Chính phủ Cuba điều hành một mạng lưới y tế quốc gia và đảm trách tất cảcác nghĩa vụ thuế và hành chính đối với việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Vềlịch sử, Cuba từ lâu đã được xếp hạng một trong những quốc gia có số nhân viên y

tế cao và có nhiều đóng góp vào công cuộc chăm sóc sức khỏe cộng đồng thế giới

từ thế kỷ 19 Theo những con số thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tuổithọ và tỷ lệ tử vong trẻ em tại Cuba từng có thể so sánh với các nước công nghiệpphát triển theo các số liệu được thu thập lần đầu năm 1957 Khảo sát chi tiết hơn

Trang 15

của WHO về Cuba cho thấy chúng được chuẩn bị bởi mỗi chính phủ và luôn đượccông bố không thay đổi bởi WHO; vì thế đã có câu hỏi được đặt ra Nhánh cácbệnh viện dành cho các nhà ngoại giao và khách du lịch riêng biệt với nhánh trên.

Một số thống kê về Cuba được tờ Independent của Anh nêu ra về y tế CubaTuổi thọ bình quân: nam 75,11; nữ: 79,85 (Mỹ tương ứng là 75; 80,8)

 Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh: 6,22 ca tử vong trên 1.000 trẻ em (Mỹ là6,43)

 Tỷ lệ nhiễm HIV: dưới 0,1 phần trăm (Mỹ: 0,6 phần trăm)

 Số bác sĩ trên 1000 dân: 5,91 (Mỹ: 2,56)

 Số giường bệnh trên 10.000 dân: 49 (Mỹ: 33)

 25.000 bác sĩ Cuba đang làm nhiệm vụ nhân đạo tại 68 quốc gia Năm

2006, 1.800 bác sĩ từ 47 nước đang phát triển đã tốt nghiệp từ 21 trường y tế củaCuba Mỗi năm có hơn 5.000 "khách du lịch sức khỏe" đi du lịch tới Cuba, tạo rahơn 40 triệu USD cho nền kinh tế Cuba

 Số bác sỹ Fidel Castro được cung cấp để gửi sang Mỹ để giúp đỡ cácnạn nhân của cơn bão Katrina: 1.586

Chính phủ Cuba thường xuyên cử các đoàn y tế tới các khu vực có thiên tai,dịch bệnh trên thế giới (đặc biệt tại các nước nghèo) để hỗ trợ Kể từ khi Cuba cửmột nhóm bác sĩ đến giúp Chile khắc phục hậu quả của một trận động đất năm

1960, đến nay Cuba này đã gửi hơn 135.000 nhân viên y tế đến nhiều nơi trên thếgiới trong các sứ mệnh nhân đạo "Ngoại giao y tế" tạo ra lợi ích sức khỏe và cảithiện quan hệ giữa các quốc gia là nền tảng của chính sách đối ngoại Cuba trongsuốt hàng chục năm qua Bên cạnh những giá trị về nhân đạo và tạo lập hình ảnh

Trang 16

với các dịch vụ giáo dục, thể thao, việc cử các chuyên gia y tế ra nước ngoài làmviệc đưa về cho Cuba khoảng 10 tỷ USD hàng năm, trở thành nguồn thu nhập quantrọng nhất đối với hòn đảo này.

Ngày 1/7/2015, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) chính thức xác nhận Cuba trởthành quốc gia đầu tiên đã thành công trong việc ngăn chặn vi rút HIV truyền từ

mẹ sang con Theo Giám đốc WHO Margaret Chan, thành công của Cuba là mộttrong những thành tựu quan trọng nhất của hệ thống y tế toàn cầu, là chiến thắng yhọc rất vĩ đại của nhân loại trong cuộc chiến lâu dài với HIV/AIDS Một trongnhững yếu tố quan trọng là nhờ vào hệ thống chăm sóc y tế quốc gia toàn diện tậptrung vào sức khỏe sản phụ, Tại Cuba có đến 99% bà mẹ mang thai và 100% các

bé sơ sinh từ mẹ bị HIV đều được điều trị thuốc ngăn chặn phơi nhiễm HIV và cácloại thuốc này miễn phí hoàn toàn cho bệnh nhân, theo hướng dẫn của bác sĩ

2.2.2.Tôn giáo

Cuba có nhiều đức tin phản ánh sự đa dạng các yếu tố văn hóa trên hòn đảonày Theo khảo sát của Pew Research Center, năm 2010 Cuba có khoảng 59,2%dân số theo Kitô giáo (trong đó đa số là Công giáo Rôma), 23,0% không tôn giáo,17,4% theo các tín ngưỡng dân gian (như Santería) và còn lại 0,4% theo các tôngiáo khác Công giáo được đưa tới bởi người Tây Ban Nha hồi đầu thế kỷ 16 vàhiện là tôn giáo lớn nhất ở đây Sau cách mạng, Cuba đã chính thức trở thành mộtquốc gia vô thần và ngăn cấm hoạt động tôn giáo Từ Đại hội Đảng Cộng sản Cubalần thứ 4 năm 1991, các biện pháp hạn chế đã được nới lỏng và, theo NationalCatholic Observer, những vi phạm trực tiếp của các định chế nhà nước vào quyềntôn giáo đã được bãi bỏ,[61] dù giáo hội vẫn phải đối mặt với các hạn chế trong liênlạc thư từ và điện tử, và chỉ được nhận quà tặng từ các nguồn tài trợ được nhà nướccho phép Giáo hội Công giáo hiện diện thông qua Hội đồng Giám mục Công giáoCuba (COCC), do Hồng y Jaime Lucas Ortega y Alamino, Tổng Giám mục La

Ngày đăng: 21/07/2017, 16:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS Lưu Văn An ( 2008) Truyền thông đại chúng trong hệ thống tổ chức quyền lực chính trị ở các nước tư bản phát triển ( NXB.Lý luận chính trị , Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng trong hệ thốngtổ chức quyền lực chính trị ở các nước tư bản phát triển
Nhà XB: NXB.Lý luận chính trị
2. PGS.TS Vũ Hồng Anh : Chế độ bầu cử của một số nước trên thế giới ( NXB Lý luận Chính trị , Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ bầu cử của một số nước trên thế giới
Nhà XB: NXB Lý luận Chính trị
5. Chu Dương (2005) : Thể chế nhà nước các quốc gia trên thế giới ( NXB Tư pháp , Hà Nội ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể chế nhà nước các quốc gia trên thế giới
Nhà XB: NXB Tư pháp
6. TSKH. Lương Văn Kế ( 2009) Đảng chính trị phương Tây và cộng hòa Liên Bang Đức (NXB thế giới, Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng chính trị phương Tây và cộnghòa Liên Bang Đức
Nhà XB: NXB thế giới
7. GS.TS Dương Xuân Ngọc ( 2003): Thể chế chính trị thế giới đương đại, NXB chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể chế chính trị thế giới đươngđại
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia Hà Nội
8. PGS.TS Tô Huy Rứa ( 2008) : Mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị một số nước trên thế giới, NXB chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình tổ chức và hoạt động của hệthống chính trị một số nước trên thế giới
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia Hà Nội
9. TS Nguyễn Văn Sáu, TS Cao Đức Thái (2006) : Đảng Cộng Sản Cu Ba – Lịch sử , lý luận và kinh nghiệm thực tiễn , NXB chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử , lý luận và kinh nghiệm thực tiễn
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia Hà Nội
10. Ngô Đức Tính ( 2001) : Một số đảng chính trị trên thế giới, NXB chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đảng chính trị trên thế giới
Nhà XB: NXBchính trị quốc gia Hà Nội
11. Văn phòng chính phủ ( 2001) : các nước và một số lãnh thổ trên thế giới trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI, NXB chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: các nước và một số lãnh thổ trên thếgiới trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia Hà Nội
3. Cơ quan Báo chí và thông tin chính phủ cộng hòa Liên Bang Đức( 2004), Nước Đức quá khứ và hiện tại, NXB chính trị quốc gia Hà Nội Khác
4. PGS.TS Nguyễn Đăng Dung (2001) Giáo trình luật hiến pháp các nước tư bản ( NXB Đại học Quốc gia . Hà Nội) Khác
12. C.Mác và Ph.Ănghhen, toàn tập ( 1995), tập 1, NXB chính trị quốc gia Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w