1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề chế biến rượu tại thôn trương xá xã toàn thắng huyện kim động tỉnh hưng yên

103 775 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 483,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghề chế biến rượu Trương Xá có vai trò rất lớn, góp phần tiêu thụ mộtlượng lớn lúa gạo trong và toàn xã, tạo công ăn việc làm tại chỗ, nâng cao thunhập, đời sống cho người dân, thúc đẩy

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các nội dungnghiên cứu và kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa hề được sửdụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đãđược cảm ơn và các thông tin được trích dẫn trong khóa luận này đã được chỉ rõnguồn gốc

Hà Nội, ngày 28 tháng 11 năm 2014

Sinh viên

Trần Thị Vân

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bài khoái luận này, ngoài sự nỗ lực của bản than, tôi đãnhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình từ các cá nhân trong vàngoài trường

Trước tiên tôi xin cám ơn: Ban giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhệmkhoa Kinh tế & PTNT, Bộ môn Phân tích định lượng cùng các thầy giáo, cô giáo

đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập vàrèn luyện tai trường Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam

Đặc biệt với tình cảm trân thành và lòng bết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọngcảm ơn cô giáo TS Lê Thị Long Vỹ đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trongsuốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này

Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn các cô chú làm việc tại UBND xã ToànThắng, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, đặc biệt là bác Nguyễn Văn Rồng,trưởng thôn thôn Trương Xá đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quátrình nghiên cứu và hoàn thành đề tài

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên vàkhích lệ tôi hoàn thành khóa luận này

Xin chân thành cảm ơn!

Hà nội, ngày 28 tháng 11 năm 2014

Sinh viên

Trần Thị Vân

Trang 3

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

Nghề nấu rượu tại thôn Trương Xá là một trong những làng nghề truyềnthống của Việt Nam đang phát triển, được hình thành hơn 200 năm nó gắn liềnvới đời sống của người dân nơi đây Được UBND tỉnh Hưng Yên công nhận làlàng nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vào thàng 12/2005 Trung bình mỗingày, các hộ nấu rượu ở Trương Xá cung cấp ra thị trường trên 1000 lít rượuđược nấu theo phương pháp thủ công

Nghề chế biến rượu Trương Xá có vai trò rất lớn, góp phần tiêu thụ mộtlượng lớn lúa gạo trong và toàn xã, tạo công ăn việc làm tại chỗ, nâng cao thunhập, đời sống cho người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của toàn vùng.Tuy nhiên theo thời gian số hộ nấu rượu trong toàn thôn ngày một giảm, nhiều

hộ cũng đã chuyển từ nấu rượu truyền thống sang nấu rượu theo hướng côngnghiệp, chất lượng kém, hiện tượng rượu cồn, rượu lậu cũng xuất hiện đã làmảnh hưởng không nhỏ đến tình hình phát triển nghề nấu rượu truyền thống thônTrương Xá Việc phát triển nghề còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố vì vậy hiệu quảmang lại không được ổn định Chính vì vậy tôi lựa chọn tiến hành thực hiện đề

tài: “ Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề chế biến rượu tại thôn Trương Xá xã

Toàn Thắng huyện Kim Động tỉnh Hưng Yên” làm đề tai thực tập tốt nghiệp

với mục tiêu chung là đánh giá hiệu quả kinh nghề chế biến rượu, nhằm giữvững và nâng cao hiệu quả nghề chế biến rượu tại làng nghề thôn Trương Xá, xãToàn Thắng, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên

Đề tài sử dụng phương pháp thu thập thông tin qua phỏng vấn bằng bảnghỏi đối với các đối tượng nghiên cứu, sử dụng phương pháp phân tích thông tin

và hệ thống các chỉ tiêu như: Chỉ tiêu phản ánh hoạt động sản xuất, chỉ tiêu phản

Trang 4

Qua quá trình nghiên cứu, điều tra, thu thập và xử lý thông tin đã thu đượcmột số kết quả sau:

Tìm hiểu và phân tích thực trạng sản xuất và tiêu thụ rượu của hộ tại thônTrương Xá như: sản lượng sản xuất, chi phí sản xuất, nguyên liệu đầu vào, tìnhhình sử dụng lao động trong nghề, kênh tiêu thụ sản phẩm rượu Qua đó tiếnhành đánh giá hiệu quả kinh tế, hiệu quả về mặt xã hội và môi trường mà nghềsản xuất rượu mang lại đối với người dân thôn Trương Xá

Từ quá trình nghiên cứu tổng hợp được các yếu tố thuận lợi như: kinhnghiệm sản xuất, kỹ thuật, công nghệ chế biến, vị trí địa lý, lao động v.v và khókhăn trong sản xuất và tiêu thụ như: thông tin, thi trường tiêu thụ, giá bán v.v.Đồng thời cũng đưa ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội trong nghề sản xuấtrượu có ảnh hưởng đến quá trình phát triển của nghề

Qua quá trình nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sảnxuất, tiêu thụ, nâng cao hiệu quả của nghề như: Đảm bảo chất lượng sản phẩmrượu truyền thống của thôn, không pha tạp chất cũng như sử dụng men TrungQuốc vào sản xuất rượu; phát triển thương hiệu rượu Trương Xá, xây dựng nhãnhiệu, cải thiện mẫu mã; đẩy mạnh mở rộng thị trường tiêu thụ; mở rộng quy môsản xuất nâng cao sả lượng và chất lượng rượu; tăng cường sự quan tâm củachính quyền địa phương; xử lý chất thải nhằm nâng cao hiệu quả môi trường

Trang 5

2013 30Bảng 3.2 : Dân số và lao động tại xã Toàn Thắng trong 3 năm 2011-2013 32Bảng 3.3 Cơ sở hạ tầng kinh tế - xă hội xã Toàn Thắng 33Bảng 3.4 Kết quả sản xuất kinh doanh của xã qua 3 năm 2011-2013 36Bảng 3.5 Quy mô sản xuất rượu của các hộ điều tra 53

Trang 6

Bảng 4.1 Tình hình sản xuất rượu của các hộ trong thôn Trương Xá qua 3 năm

(2011 - 2013 ) 47

Bảng 4.2: Tình hình cơ bản của các hộ điều tra 49

Bảng 4.3 Thu nhập của hộ năm 2013 51

Bảng 4.4 Trang thiết bị đầu tư cho sản xuất rượu của hộ 52

Bảng 4.5 Tình hình vốn phục vụ cho chế biến rượu của hộ 53

Bảng 4.6 Tình hình sản xuất năm 20131 54

Bảng 4,7 Tình hình đầu tư chi phí cho chế biến rượu tính trên 100 lít rượu 60

Bảng 4,7 Tình hình đầu tư chi phí cho chế biến rượu tính trên 100 lít rượu…61 Bảng 4.9 Nguyên liệu đầu vào chính trong sản xuất rượu năm 2013 62

Bảng 4.10 Tình hình sử dụng lao động trong sản xuất rượu của hộ năm 2013 64

Bảng 4.11 Kết quả và hiệu quả sản xuất rượu của hộ năm 2013 67

Bảng 4.12 Lượng xỉ than tại thôn Trương Xá năm 2013 7.1 Bảng 4.13 Thuận lợi và khó khăn trong sản xuất rượu năm 2013 của hộ .7.2 Bảng 4.14 Thuận lợi và khó khăn trong tiêu thụ rượu năm 2013 của hộ 7.3

Trang 7

DANH MỤC HÌNH/SƠ ĐỒ

Hình 2.1 Sản phẩm rượu làng Vân 21 Hình 2.2 Sản phẩm rượu Bầu Đá 23

Hình 2.3 Sản phẩm rượu Gò Đen 25

Sơ đồ 4.1 Quy trình sản xuất rượu gạo của người dân thôn Trương Xá ……56

Sơ đồ 4.2 Kênh tiêu thụ rượu tại thôn Trương Xá 65

Trang 9

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Tiểu thủ công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy phát triểnkinh tế xã hội , góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệphóa- hiện đại hóa Với việc ban hành Nghị định số 134/2004/NĐ –CP(9/6/2004) về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn của Chính phủthì tốc độ phát triển mở rộng của các nghề tiểu thủ công nghiệp diễn ra khámạnh

Nghề rượu tại thôn Trương Xá là một trong những làng nghề truyền thốngcủa Việt Nam đang phát triển Nghề chế biến rượu không được nhà nướckhuyến khích phát triển, tuy nhiên nghề rượu tại thôn Trương Xá đã hình thànhtrên 200 năm, nó gắn liền với đời sống của người dân nơi đây.Việc phát triển vàduy trì làng nghề nơi đây góp phần bảo tồn những nét văn hóa, truyền thốngcủa con người Viêt Nam nói chung và người dân Trương Xá nói riêng Bêncạnh đó nghề chế biến rượu tại thôn còn tạo ra công ăn việc làm, tạo thu nhậpgóp phần cải thiện điều kiện kinh tế, nâng cao đời sống, vật chất của các hộ dân

và góp phần cải thiện các yếu tố xã hội của toàn thôn

Thôn Trương Xá thuộc xã Toàn Thắng nằm bên con sông Cửu Yên cónghề truyền thống nấu rượu Tháng 12/2005, Trương Xá chính thực được UBNDtỉnh Hưng Yên công nhận là làng nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Hiệntại xã Toàn Thắng có khoảng trên 300 hộ làm men, nấu rượu, trong đó tập trungchủ yếu ở thôn Trương Xá Trung bình mỗi ngày, các hộ nấu rượu ở Trương Xácung cấp ra thị trường trên 1000 lít rượu, hộ nấu nhiều khoảng 50 -60 lít, hộ nấu

ít cũng sản xuất từ 10 - 15 lít rượu/ngày Việc nấu rượu của các hộ sản xuất ở

Trang 10

Theo thời gian số hộ nấu rượu trong thôn ngày một giảm, nhiều hộ cũng

đã chuyển từ nấu rượu truyền thống sang nấu rượu theo hướng công nghiệp, chấtlượng kém, hiện tượng rượu cồn, rượu lậu cũng xuất hiện đã làm ảnh hưởngkhông nhỏ đến tình hình phát triển nghề nấu rượu truyền thống thôn Trương Xá.Việc đánh giá hiệu quả của nghề chế biến rượu về mặt kinh tế, xã hội, môitrường là cần thiết, song vấn đề này chưa được nghiên cứu làm rõ

Thực tế cho thấy làng nghề chế biến rượu thôn Trương Xá đóng vai trò rấtlớn, góp phần tiêu thụ một lượng lớn lúa gạo trong và toàn xã, tạo công ăn việclàm tại chỗ, nâng cao thu nhập, đời sống cho người dân, thúc đẩy phát triển kinh

tế, xã hội của toàn vùng… Tuy nhiên việc phát triển nghề còn phụ thuộc vàonhiều yếu tố khác như: trình độ kỹ thuật, vốn, các chính sách của chính phủvàđặc biệt là trong cạnh tranh tiêu thụ sản phẩm, vì vậy hiệu quả mà làng nghềmang lại không được ổn định Nhằm đánh giá hiệu quả nghề chế biến rượu củathôn để từ đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị góp phần phát triển nghề và

nâng cao hiệu quả của nghề, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Đánh giá

hiệu quả kinh tế nghề chế biến rượu tại thôn Trương Xá xã Toàn Thắng huyện Kim Động tỉnh Hưng Yên”, làm đề tài tốt nghiệp Nhằm tìm hiểu rõ

thực trạng sản xuất, hiệu quả, đồng thời đánh giá đúng vai trò, tác động của nghềchế biến rượu đến kinh tế, xã hội và môi trường thôn Trương Xá

1.2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề chế biến rượu nhằm giữ vững và nâng caohiệu quả nghề chế biến rượu tại thôn Trương Xá, xã Toàn Thắng, huyện KimĐộng, tỉnh Hưng Yên

Trang 11

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế

- Phân tích thực trạng, đánh giá hiệu quả kinh tế của nghề chế biến rượu

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới nghề chế biến rượu trên địa bàn nghiêncứu

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội và môi trườngnghề chế biến rượu tại làng nghề

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các hộ nông dân chế biến rượu gạo trên địa bàn thôn Trương Xá và cácbên liên quan đến hoạt động chế biến rượu gạo của các hộ gia đình

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung:

Trên địa bàn toàn thôn Trương Xá hiện nay có nhiều loại rượu đang được sảnxuất như: rượu gạo, rượu dừa, rượu ba kích và các loại rượu ngâm táo mèo,chuối khô v.v Trong đó rượu gạo là loại rượu sản xuất chính tại thôn, được sảnxuất theo quy trình nấu rượu truyền thống Vì vậy trong đề tài rượu gạo đượcchon để nghiên cứu và đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường tại thôn

- Phạm vi không gian : Đề tài nghiên cứu trên địa bàn thôn Trương Xá, xãToàn Thắng, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên

- Phạm vi thời gian :

 Thời gian sử dụng số liệu: 2011- 2013

 Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 6/2014 đến tháng 11/2014

Trang 12

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Hiệu quả

Quá trình sản xuất là sự liên hệ và gắn bó mật thiết giữa các yếu tố đầu vào

và đầu ra.Sự biểu hiện kết quả của các quan hệ trên thể hiện tính hiệu quả củasản xuất Vì vậy, hiệu quả là một phạm trù trọng tâm rất cơ bản của khoa họckinh tế và khoa học quản lý, hơn nữa việc xác định nâng cao hiệu quả, đánh giá

Trang 13

hiệu quả là vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp, mà nhiều vấn đề về lý luận vàthực tiễn chưa được giải quyết tốt Các nhà kinh tế đã đưa ra nhiều quan điểmkhác nhau về hiệu quả, có thể tóm tắt như sau:

Trong kinh tế học tân cổ điển hiệu quả ngụ ý sử dụng tối ưu kinh tế, tậphợp các nguồn lực đạt được mức phúc lợi vật chất cao nhất cho người tiêu dùngcủa một xã hội nói chung theo một tập hợp giá nguồn lực và giá đầu ra nhấtđịnh

Hiệu quả theo nghĩa phổ thông trong cách nói của mọi người “ kết quả theoyêu cầu của việc làm mang lại hiệu quả” Có quan điểm lại cho rằng, hiệu quả làthước đo độ hữu ích của sản phẩm được sản xuất ra, tức là thước đo giá trị sửdụng chứ không phải giá trị

Ngoài ra, có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả

Theo quan điểm triết học Mác-xít thì bản chất của hiệu quả là thực hiện yêucầu của quy luật tiết kiệm thời gian, biểu hiện trình độ sử dụng nguồn lực xã hội.Mác cho rằng quy luật tiết kiệm thời gian là quy luật có tầm quan trọng đặt biệt,tồn tại trong nhiều phương hướng sản xuất, mọi hoạt động của con người đềutuân theo quy luật đó, nó quyết định động lực phát triển của lực lượng sản xuất,tạo điều kiện nâng cao đời sống con người và phát triển của văn minh nhân loại(Các Mác Tư Bản, 1962)

Các nhà khoa học kinh tế Samuelson- Nordhuas cho rằng: “hiệu quả cónghĩa là không lãng phí” Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xem xét đến chi phí

cơ hội “ Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng hàng hóanày mà không cắt giảm hàng hóa khác Mọi nền kinh tế có hiệu quả nằm trênđường giới hạn khả năng sản xuất của nó” (Samuelson – Nordhuas, 1999)

Trang 14

Quan điểm hiệu quả trong điều kiện hiện nay theo chúng tôi là phải thỏamãn về vấn đề tiết kiệm thời gian lao động xã hội, tài nguyên nguồn lực trongsản xuất mang lại lợi ích xã hội và bảo vệ môi trường Hiệu quả của một quátrình nào đó cần phải được đánh giá toàn diện cả ba khía cạnh, hiệu quả kinh tế,hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.

2.1.1.1 Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế ( HQKT) của một hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu

đề cập đến lợi ích kinh tế sẽ thu được trong hoạt động đó HQKT là một phạmtrù phản ánh chất lượng của các hoạt động kinh tế Nâng cao chất lượng hoạtđộng kinh tế nghĩa là tăng cường trình độ lợi dụng các nguồn lực sẵn có trongmột hoạt động kinh tế Đây là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xãhội do nhu cầu vật chất của cuôc sống con người ngày càng tăng Nói một cáchbiện chứng thì chính là do yêu cầu của công việc quản lý kinh tế thấy cần thiếtphải đánh giá nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động kih tế làm xuất hiệnphạm trù HQKT

Là phạm trù kinh tế chung nhất liên quan trực tiếp đến sản xuất hàng hóa

và tất cả các phạm trù, các quy luật kinh tế khác HQKT được biểu hiện ở mức

độ đặc trưng quan hệ so sánh sánh giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra Trongphân tích kinh tế, HQKT được phản ánh thông qua các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế

kỹ thuật, xác định bằng các tỷ lệ so sánh giữa đầu vào và đầu ra của hệ thốngsản xuất xã hội, phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực vào việc tạo ra lợi íchnhằm đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội HQKT luôn gắn với nền sản xuất xãhội, nó là khâu trung tâm có vai trò quyết định đối với các loại hiệu quả khác(iệu quả về xã hội, hiệu quả về môi trường ) HQKT có thể lượng hóa được thểhiện bằng hệ thống các chỉ tiêu kinh tế.Khi xác định HQKT phải xem xét đầy đủ

Trang 15

các mối quan hệ, kết hợp chặt chẽ giữa đại lượng tương đối và đại lượng tuyệtđối Bàn về khái niệm HQKT, các nhà kinh tế của nhiều nước và nhiều lĩnh vực

có quan điểm nhìn nhận khác nhau, trong đó có ba quan điểm chính

• Quan điểm thứ nhất

Theo quan điểm này HQKT được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được

và chi phí bỏ ra ( các nguồn nhân, vật lực, tiền vốn ) để đạt được kết quả đó

Công thức biểu diễn: H = Q/C

Trong đó: H là hiệu quả kinh tế

Q là kết quả sản xuất

C là chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuấtQuan điểm này cho rằng: “ Hiệu quả sản xuất là kết quả của một nền sảnxuất nhất định, chúng ta sẽ so sánh kết quả với chi phí cần thiết để đạt kết quả

đó Khi lấy tổng sản phẩm chia cho vốn sản xuất chúng ta được hiệu suất vốn,tổng sản phẩm chia cho số vật tư được hiệu suất vật tư, chia cho số lao độngđược hiệu suất lao động” Tuy nhiên nếu xét rộng ra, với các đơn vị sản xuấtchịu nhiều tác động của điều kiện tự nhiên thì không thể biết được ảnh hưởngcủa tự nhiên đến HQKT như thế nào, vì những tác động của tự nhiên không thểtính ra được bằng tiền Do vậy, các đơn vị sản xuất kinh doanh ở các địa điểmkhông gian và thời gian khác nhau sẽ cho HQKT khác nhau cho dù chi phí sảnxuất như nhau

• Quan điểm thứ hai

Trang 16

Theo Nguyễn Đình Hợi cho rằng hiệu quả kinh tế được đo bằng hiệu sốgiữa giá trị được đo bằng hiệu số giữa giá trị sản xuất đạt được và số lượng chiphí bỏ ra để đạt được kết quả đó (Nguyễn Đình Hợi, 1995).

Công thức biểu diễn: H = Q – C

Theo quan điểm này ta có thể xác định được quy mô của HQKT song lạikhông thể so sánh được HQKT giữa các đơn vị sản xuất có quy mô khác nhau.Theo quan điểm này, giữa 2 đơn vị sản xuất đạt được hiệu số của kết quả trừ đichi phí là như nhau ta không thể xác định được hao phí lao động xã hội trongsản phẩm, và năng suất lao động

Tác giả Đỗ Khắc Thịnh cũng cho rằng: Thông thường HQKTđược biểuhiện như một số giữa kết quả và chi phí Tuy nhiên trong nhiều trường hợpkhông thực hiện được phép trừ hoặc phép trừ không có ý nghĩa Do vậy nói mộtcách linh hoạt hơn hiệu quả là kết quả tốt phù hợp với mong muốn và hiệu quả

có ý nghĩa và không lãng phí

• Quan diểm thứ ba

Các nhà khoa học theo quan điểm thứ ba xem xét HQKT theo lý thuyếtcận biên tức là xem xét tỷ số của sự gia tăng kết quả và gia tăng chi phí

Công thức biểu diễn: HCB = ΔQ/ΔC

Trong đó: HCB là hiệu quả kinh tế cận biên;

ΔQ là phần tăng thêm của kết quả sản xuất;

ΔC là phần tăng thêm của chi phí sản xuất

Trang 17

Theo quan điểm này HQKT được phân tích theo chiều sâu Việc tính toánHQKT cận biên cho người quản lý thấy được có nên mở rộng sản xuất haykhông.Nếu phần tăng kết quả lớn hơn phần tăng chi phí (ΔQ/ΔC >1) thì nên đầu

tư mở rộng sản xuất và ngược lại Trong phân tích kinh tế, các chỉ tiêu cận biên

có ý nghĩa rất quan trọng nhất là trong thời kỳ đổi mới đất nước như ở nước tahiện nay.Quá trình sản xuất của con người muốn phát triển được phải thực hiệntái sản xuất mở rộng, bao gồm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng,hiệu quả kinh tế cận biên chính là HQKT xét riêng cho phần tái sản xuất mởrộng đó

Ngoài những quan điểm trên, còn có những ý kiến, quan điểm nhìn nhậnHQKT khác nhau như: “HQKT là một chỉ tiêu tổng hợp về chất lượng sử dụngcác nguồn lực”, đây là quan điểm mới về phạm trù hiệu quả kinh tế Một số tácgiả khi nghiên cứu HQKT cho rằng: “ HQKT là một chỉ tiêu tổng hợp về chấtlượng của sản phẩm kinh doanh”; “HQKT là một phạm trù phản ánh tổng hợptrình độ sủ dụng các nguồn lực của một quá trình sản xuất” hay “ HQKT là mộtphạm trù phản ánh tổng hợp trình độ sử dụng các nguồn lực để sản xuất ranhững sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng của cácthành viên trong xã hội”

Tóm lại, qua phân tích ở trên cho thấy có nhiều quan điểm khác nhau vềHQKT, nhưng các quan điểm đều thống nhất nhau ở bản chất của nó Người sảnxuất muốn thu được kết quả thì phải bỏ ra những chi phí nhất định như nhân lực,vật lực, vốn v.v So sánh kết quả đạt được với chi phi bỏ ra để đạt đượckết quả

đó thì sẽ có HQKT

Trang 18

2.1.1.2 Hiệu quả xã hội

Trong điều kiện hiện nay, đối với các nghành sản suất khi đánh giá hiệuquả sản xuất kinh doanh không chỉ nhìn nhận đơn thuần về mặt kinh tế mà cònchú ý đến việc hài hòa lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường

Hiệu quả xã hội là tương quan so sánh giữa kết quả của các lợi ích xã hội

và tổng chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Hiệu quả xã hội có quan hệ mậtthiết đến hiệu quả kinh tế, thể hiện mục tiêu hoạt động của con người Hiệu quả

xã hội thường không lượng hóa được rõ ràng, mà chỉ đánh giá mang tính chấtđịnh tính như: cải thiện điều kiện làm việc, điều kiện sống, giải quyết vấn đềviệc làm, giải quyết thỏa đáng giữa các lợi ích xã hội, nâng cao dân trí v.v

Mọi hoạt động của con người đều có mục đích nhất định Tuy nhiên kếtquả của các hoạt động đó không chỉ duy nhất đạt được về mặt kinh tế mà đồngthời tạo ra nhiều kết quả liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội của con người.Nâng cao hiệu quả của các lợi ích xã hội đều dựa trên cơ sở nâng cao hiệu quảkinh tế Việc giải quyết các vấn đề xã hội đều dựa trên cơ sở nâng cao hiệu quảkinh tế Vì vậy, hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có liên quan mật thiết vớinhau, là tiền đề thức đẩy nhau cùng phát triển Trong sản xuất giải quyết thỏađáng mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội là vô cùng cần thiết

để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế

2.1.1.3 Hiệu quả môi trường

Hiện nay hiêu quả môi trường đang được nhiều nhà quản lý quan tâm chú

ý Một hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả thì hoạt động đó phải không

có ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái Nếu chỉ quan tâm đến hiệu quả kinh

tế mà không chú ý đến hiệu quả môi trường đôi khi sẽ dẫn đến những mất mátlớn hơn nhiều so với lợi ích kinh tế mang lại

Trang 19

Hiệu quả môi trường là những hiệu quả của việc làm thay đổi môi trường

do các tác động kinh tế gây ra Cũng giống như hiệu quả xã hội, hiệu quả môitrường cũng rất khó lượng hóa được, chủ yếu cũng chỉ đánh giá mang tính chấtđịnh tính như: phủ xanh đất chống đồi núi trọc, chống ô nhiễm môi trường đất,nước, không khí mà hoạt động sản xuất có thể gây nên, cải thiện môi trường đã

bị ô nhiễm,…

2.1.2 Đặc điểm nghề chế biến rượu

Rượu là đồ uống có cồn thực phẩm Rượu được sản xuất từ quá trình nênmen, có hoặc không chưng cất từ tinh bột, các loại ngũ cốc, dịch đường của câyhoa quả hoặc pha chế từ cồn thực phẩm

Rượu trên thị trường rất đa dạng về chủng loại như rượu trắng, rượu đế,rượu ngang, rượu gạo, rượu chưng, rượu quốc lủi…Phần lớn các vùng vẫn gọitên rượu theo cách gằn với địa phương sản xuất, đã tạo lên những thương hiệurượu địa phương nức danh trong và ngoài nước (rượu Kim Sơn, rượu Bầu Đá,rượu Xuân Thạch, rượu Gò Đen, rượu Làng Vân) Ngoài ra, cũng thường thấyrượu được gọi theo tên của nguyên liệu chính được sử dụng nấu rượu (như rượunếp cái hoa vàng, rượu ba trăng, rượu ngô Bắc Hà, rượu nếp cẩm, rượu nếphương, rượu mầm thóc v.v.)

Nguyên liệu nấu rượu rất đơn giản gồm các loại ngũ cốc và mem rượu.Các loại ngũ cốc có hàm lượng tinh bột cao như gạo tẻ, gạo nếp, gạo lứt, gạonương, ngô sắn v.v Tuy một số vùng miền có những nguyên liệu đặc trưng (nhưmầm thóc, ngô, hạt mít, hạt dẻ v.v.), nhưng nói chung các loại gạo nếp cho thànhphẩm rượu được ưa chuộng nhất trong cộng đồng tại khắp các vùng miền do gạorất thơm và rượu có độ ngọt nhất định Các loại gạo nếp như nếp cái hoa vàng,nếp bông chát, nếp ruồi, nếp mỡ, nếp mường, nếp sáp, nếp thơm, nếp hương,

Trang 20

nếp ngự, nếp quạ, nếp cái, nếp tiêu, nếp sột soạt, nếp ba tháng v.v được sử dụngnấu rượu cho thấy sự đa dạng và đôi khi, là sự kén chọn hết sức cầu kỳ tại cácgia đình nghệ nhân làm rượu Rượu nấu bằng các loại gạo tẻ thường mang tínhphổ thông, vùng miền nào cũng có thể sản xuất và tiêu thụ được, tuy có một sốloại gạo tẻ ngon được lựa chọn nấu rượu như gạo cúc, gạo co, gạo trì, gạo batrăng, gạo trăng biển, gạo tứ quý, gạo nhe, gạo bắc thơm, gạo tám, gạo nànghương v.v vẫn cho những chén rượu quý ngọt ngào hương vị Men rượu đượcchế từ nhiều loại thảo dược (thuốc Nam, thuốc Bắc) như cam thảo, quếchi,gừng, hồi, thạch xương bồ, bạch chỉ, xuyên khung, rễ ớt v.v theo những bíquyết, công thức riêng của từng gia đình mà có những kỹ thuật ủ men khácnhau Ban đầu nhào trộn hỗn hợp với bột gạo, thậm chí cả bồ hóng và ủ cho bộthơi nở ra sau đó vo, nắm từng viên quả nhỏ để lên khay trấu cho khỏi dính Đemphơi thật khô và cất dùng dần Men rượu có vai trò rất quan trọng quyết địnhđến chất lượng thành phẩm của rượu.

Ban đầu nguyên liệu chính sẽ được làm chín, đánh tơi và trộn với men đãđược nghiền nhỏ Đem hỗn hợp ủ trong chỗ ấm trong khoảng thời gian từ 2 đến

4 ngày cho sản phẩm lên men chuyển hóa thành tinh bột Sau đó cho hỗn hợpvào nồi chưng cất để thu rượu quá trình này diễn ra từ 3 đến 5 tiếng Kết thúcquá trình chưng cất sẽ thu được rượu thành phẩm

Đối với những người làm nghề nấu rượu cần phải có tay nghề và nhữnghiểu biết về nghề như vậy mới có thể thu được hiệu quả

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Chủ trương chính sách của chính phủ đối với ngành sản xuất rượu

Rượu là một loại hàng hóa đặc biệt thuộc nhóm hàng hoá nhà nước hạnchế kinh doanh Việc sản xuất kinh doanh loại hàng hóa này chỉ được thực hiện

Trang 21

khi có giấy phép do cơ quan có thẩm quyền cấp và phải tuân thủ các quy địnhcủa pháp luật Để giúp cho làng nghề phát triển tốt, cũng như quản lý tốt về tìnhhình sản xuất, kinh doanh mặt hàng rượu và kiểm soát chất lượng một cách tốtnhất nhà nước đã ban hành nhiều chủ chương, chính sách.

Theo quy định, các tổ chức, cá nhân khi tham gia hoạt động sản xuất, kinhdoanh rượu, cồn rượu và các hoạt động khác liên quan đến sản xuất, kinh doanhrượu và cồn rượu trên lãnh thổ Việt Nam phải được cơ quan nhà nước có thẩmquyền cấp phép theo quy định Các hộ gia đình nấu rượu nhỏ lẻ, các làng nấurượu truyền thống sẽ phải đăng ký với UBND xã nơi sản xuất và phải có nhãnmác đầy đủ Doanh nghiệp sản xuất rượu công nghiệp được tổ chức phân phối,bán buôn rượu do doanh nghiệp sản xuất, chỉ được phép bán lẻ sản phẩm rượutrực tiếp tại hệ thống cửa hàng trực thuộc của doanh nghiệp theo đúng quy định

mà không phải đề nghị cấp giấy phép kinh doanh phân phối sản phẩm rượu Tổchức, cá nhân sản xuất rượu thủ công nhằm mục đích kinh doanh được tham giahiệp hội làng nghề sản xuất rượu nếu thuộc địa phận có làng nghề; được tổ chứcphân phối, bán buôn rượu do tổ chức, cá nhân sản xuất, chỉ được phép bán lẻ sảnphẩm rượu trực tiếp tại hệ thống cửa hàng trực thuộc của tổ chức, cá nhân theođúng quy định mà không phải đề nghị cấp giấy phép kinh doanh phân phối, bánbuôn, bán lẻ sản phẩm rượu; được phân phối rượu do tổ chức, cá nhân sản xuất

ra để bán cho các doanh nghiệp có Giấy phép kinh doanh phân phối, bán buônsản phẩm rượu; tổ chức, cá nhân sản xuất rượu thủ công không được nhập khẩusản phẩm rượu, rượu bán thành phẩm, cồn thực phẩm và phụ liệu rượu để phachế thành rượu thành phẩm Sản phẩm rượu sản xuất để tiêu thụ trong nước vàsản phẩm rượu nhập khẩu để tiêu thụ tại Việt Nam phải dán tem trên bao bì sảnphẩm theo quy định của Bộ Tài chính Tem sản phẩm rượu sản xuất, nhập khẩu

Trang 22

xuất rượu, Giấy phép kinh doanh phân phối sản phẩm rượu Các thông tin trênđược quy định trong Nghị định 94/2012/NĐ – CP về sản xuất, kinh doanh rượu(Nghị định được thay thế cho Nghị định số 40/2008/NĐ –CP ngày 07/4/2008của Chính phủ về sản xuất, kinh doanh rượu) Ngày 12/11/2012, Bộ CôngThương đã ban hành thông tư số 39/2012/TT-BCT quy định chi tiết một số điềucủa Nghị định 94/2012/NĐ-CP

2.2.2 Tình hình sản xuất rượu và tiêu thụ rượu ở một số nước trên thế giới

và tại Việt Nam

2.2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rượu trên thế giới

• Tổng quan trên thế giới

Theo hãng nghiên cứu thị trường nổi tiếng MarketLine, tổng giá trị ngành

đồ uống có cồn trên thế giới sẽ vượt mức 1.000 tỷ USD sau năm 2014 Trong đógiá trị thị trường bia thế giới, tăng khoảng 6% trong 5 năm, tiêu thụ vượt ngưỡng

148 tỷ lít trong năm 2009 và sẽ vượt 160 tỷ lít (2014) với tốc độ phát triển là8% Châu Âu là thị trường bia lớn nhất thế giới, chiếm 48% thị phần Cũng theobáo cáo của Global Industry Analysts, sản lượng tiêu thụ rượu vang thế giới đến

2014 sẽ vượt mốc 26 tỷ lít Các thị trường có tiềm năng phát triển nhanh nhất làcác quốc gia đang phát triển như Ấn Độ, Trung Quốc và Nga Về rượu mạnh,tốc độ tăng trưởng trong 5 năm gần nhất đạt 17%, sản lượng tiêu thụ đạt 19 tỷ lít(2010) Dẫn đầu thị trường là whiskey (26% thị phần), ngoài ra còn phải kể đếnDiageo (5% thị phần)… Châu Âu vẫn là thị trường tiêu thụ số một của mặt hàngnày, chiếm 48% thị trường thế giới Nhu cầu về bia và rượu mạnh tại châu Âu sẽgiảm nhưng lại tăng lên ở châu Mỹ Latinh, châu Á Thái Bình Dương và TrungĐông Để giải quyết bài toán này, các nhà sản xuất cần tập trung tiếp thị cho cácsản phẩm ít cồn đa hương vị để khách hàng thưởng thức tại nhà Các thị trường

Trang 23

mới nổi hiển nhiên là có tiềm năng tăng trưởng lớn nhất, ví dụ như châu Phi đốivới bia và Ấn Độ, Trung Quốc đối với rượu mạnh (Quang Nhật, 2014).

• Sản xuất rượu một số nước

- Rượu gạo truyền thống Hàn Quốc Makgeolli

Makgeolli là một loại rượu truyền thống là một sản phẩm thân thiện vớimôi trường.Makgeolli có màu trắng đục giống nước vo gạo và nồng độ khá thấp,chỉ từ 6 đến 7 độ Để làm rượu, người Hàn hấp chín gạo hoặc lúa mì rồi để choráo nước, sau đó trộn cùng với men và nước rồi ủ cho lên men.Cả quá trình đóchỉ mất khoảng trên dưới 10 ngày, nên những thành phần dưỡng chất củanguyên liệu gần như vẫn còn tươi nguyên Đặc trưng của loại rượu này là có sựcân bằng giữa vị ngọt, vị chua và vị đắng Thật ra khi mới uống rượu này, NAcảm thấy rượu gạo Makgeolli giống như thể được kết hợp từ sữa với nước ngọt

có ga Loại rượu này đặc biệt thích hợp với phụ nữ vì chỉ có nồng độ cồnkhoảng 6 độ và không gây đau đầu Chính vì vậy bản thân Makgeolli có nghĩa là

“loại rượu lọc qua” Từ lâu, Makgeolli đã trở thành thứ uống yêu thích củangượi nông dân Makgeolli được làm từ gạo còn có giá trị dinh dưỡngcao.Makgeolli được đánh giá là loại rượu rất tốt choi sức khỏe, lượng tiêu thụ vàxuất khẩu ngày càng tăng mạnh.Đặc biệt, các nhà sản suất đã cố gắng nghiêncứu và phát triển kỹ thuật nhằm tăng hương vị và tăng thời gian bảo quản củaMakgeolli Chính điều này đã góp phần quyết định cho việc tăng lượng tiêu thụrượu Makgeolli Tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu: 15,7% năm 2006, 16% năm 2007,52,5% năm 2008 Thị trường xuất khẩu chủ yếu là Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc

và 18 nước khác trên thế giới.Thực tế công nghệ chế biến, ủ giúp cải thiệnhương vị rượu Makgeolli và công nghệ bảo quản được nâng cấp, bao bì đượcthiết kế tinh tế hấp dẫn hơn.Năm 2010, Makgeolli là sản phẩm duy nhất của Hàn

Trang 24

quốc tế các ngành công nghệ và khoa học thực phẩm Theo thông tin của Tổngcục thuế Hàn Quốc, trong 10 tháng đầu năm 2011, Hàn Quốc đã xuất khẩukhoảng 37 nghìn tấn rượu gạo Makgeolli, thu về gần 45,3 triêu USD, tăng gần2,4 lần sao với cùng kì năm ngoái về khối lượng và gấp 3 lần về doanh thu Đếncuối năm 2011 kim ngạch xuất khẩu rượu gạo Makgeolli ước tính đạt khoảng 50triệu USD (KBS, 2011).

- Rượu Sake của Nhật Bản

Sake một loại rượu truyền thống, người Nhật bắt đầu làm rượu Sake vàokhoảng thời gian sau khi người ta bắt đầu trong lúa nước vào thế kỷ thứ 3 trướccông nguyên Tài liệu đầu tiên viết về việc uống rượu Sake là vào khoảng năm

300 sau công nguyên Trong thời cổ Nhật Bản, việc sản xuất Sake có liên quanmật thiết tới cung đình và những đền thờ Đó là lý do tại sao Sake thường kếthợp với những nghi thức và lễ hội tôn giáo Ngay cả ngày nay, Sake vẫn được sửdụng trong các nghi thức truyền thống tại Nhật Sake đối với người Nhật cònhơn là một thức uống.Ngay từ thời cổ Sake đã được trân trọng cao độ Nhữngmón đồ sứ đầy trang trí nghệ thuật hoặc những món đồ bằng gỗ dùng để uốngrượu đã cho thấy giá trị mà người Nhật đặt lên loại thức uống này (Ẩm thựcNhật, 2014)

Rượu sake ngon, chất lượng cao phải là sự pha trộn giữa 5 vị: ngọt, chua,cay, đắng và se, hương thơm dịu Chính nhờ hương vị đặc biệt rượu sake đã trởthành thức uống của thế giới với các nhà máy sản xuất đặt ở Trung Quốc, Nam

Á, Nam Mỹ, Bắc Mỹ và Úc Nhiều nhà máy còn quay lại sản xuất theo phươngpháp sản xuất truyền thống, một quy trình sản xuất không đổi trong suốt 400năm qua Theo thống kê của bộ tài chính Nhật Bản (2013), xuất khẩu Sake đã

Trang 25

tăng gấp đôi trong thập kỷ qua và đã chạm mốc 14 triệu lít (mức tiêu thụ trongnước là trên 600 lít) với doanh thu 110 triệu USD (Diễn đàn nông nghiệp, 2014).

Sake là một phần của các nghi lễ Thần Giáo, trong lễ cưới, cô dâu và chú

rễ cùng nhau uống 09 ly rượu Sake như là lời ước nguyện trăm năm Trong hầuhết các vật dụng để uống rượu Sake đều có hình mặt trăng, là một trong nhữngbiểu tượng quan trọng của Thần Giáo.Sake thường được uống trước bữa ăn.Người Nhật Bản thường không ăn các món ăn làm từ gạo nếu trong bữa đã dùngrượu Sake Một nguyên tắc quan trọng là khi uống Sake là người uống không tựrót rượu.Thay vì vậy, một người trong bàn rót rượu cho mọi người hay mọingười rót rượu cho nhau Người rót cầm bình bằng hai tay và người nhận nâng

ly bằng một tay, tay kia đỡ nhẹ đáy ly Người ta có thể uống Sake ấm, uống nónghay uống lạnh tuỳ theo khẩu vị hay theo thời tiết, uống riêng hoặc thậm chí cóthể pha với nhiều loại thức uống khác như rượu gin, bia, nước ép hoa quả Điều quan trọng là không có nguyên tắc nào trong việc pha chế hay uống nónghoặc uống lạnh

2.2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rượu trong nước

a Sơ lược sự phát triển ngành rượu Việt Nam

Cũng giống như các quốc gia khác trên thế giới, người Việt Nam đã biếtnấu rượu và uống rượu từ xa xưa.Đối với người Việt Nam, rượu ngoài là mộtdạng đồ uống thực phẩm còn là một vị thuốc chữa bệnh (rượu ngâm, rượuthuốc)

Nguyên liệu nấu rượu tại Việt Nam thường là gạo, ngô, sắn và bánh menthuốc bắc cổ truyền Ở một số vùng núi còn sử dụng các loại men từ lá cây vớisản phẩm truyền thống là rượu Cần Với công nghệ thủ công truyền thống,

Trang 26

chúng ta cũng đã có một số sản phẩm rượu nổi tiếng như rượu làng Vân, Bàu

Đá, Kim Sơn, rượu Cần

Triển vọng đối với ngành rượu của Việt Nam khá sáng sủa, có tốc độ tăngtrưởng nhanh Theo thống kê của Hiệp hội rượu bia nước giả khát năm 2012,tổng lượng rượu công nghiệp của cả nước đạt 130 triệu lít/năm, rượu thủ côngđược cung ứng ra ước tính lên đến 350 triệu lít/năm Người Việt Nam uống rượuvào loại nhiều so với các nước

Bảng 2.1: Doanh thu và doanh số các loại đồ uống có cồn tại Việt Nam gia

(Nguồn: Bộ công nghiệp)

b Các cơ sở sản xuất rượu

Các cơ sở sản xuất rượu chủ yếu ở Việt Nam bao gồm: các công ty rượuquốc doanh, các doanh nghiệp rượu có vốn đầu tư nước ngoài, các cơ sở tư nhân

và cổ phần, rượu ngoại nhập, rượu do dân tự nấu…Nước ta hiện nay có 28 đơn

vị sản xuất rượu quốc doanh nhưng do công nghệ thiết bị lạc hậu, không đượcđầu tư nâng cấp nên sản lượng hàng năm chỉ đạt khoảng 50 – 60% công suấtthiết kế Chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp này chỉ đạt mức trung bình

và sản xuất theo thời vụ, chủ yếu vào dịp tết

Trang 27

Trong tổng số 63 cơ sở sản xuất rượu công nghiệp trên cả nước, có 8doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Số vốn đầu tư của 8 doanh nghiệp nàygấp 7 lần 28 doanh nghiệp quốc doanh trong nước và gấp 51 lần các doanhnghiệp tư nhân và cổ phần công Theo thống kê số liệu năm 1998, cả nước có 2doanh nghiệp sản xuất rượu có 100% vốn nước ngoài là: Rượu Sake – Công tythực phẩm Huế (công suất thiết kế 0,5 triệu lít/năm, vốn đầu tư 64,4 tỷ đồng) vàrượu Champargnen – Maxcova (công suất thiết kế 3,75 triệu lít/năm, vốn đầu tư128,9 tỷ đồng) Tổng công suất của 6 doanh nghiệp liên doanh còn lại là 17,168triệu lít/năm và tổng vốn đầu tư là 355,081 tỷ đồng Số liệu thống kê của BộCông nghiệp cho thấy, cả nước có 27 cơ sở tư nhân và cổ phần tham gia sản xuấtrượu Hầu hết công suất của các cơ sở đều nhỏ hơn 1 triệu lít/năm, tổng côngsuất đạt 4,55 triệu lít/năm, tổng vốn đầu tư gần 7 tỷ đồng Các cơ sở này chủ yếuhoạt động theo thời vụ, đặc biệt vào dịp tết đến (Hoàng Thị Thu Hằng, 2013).

Ngoài các cơ sở sản xuất rượu công nghiệp trên phải kể đến các cơ sở sảnxuất rượu thủ công do dân tự nấu ở các làng nghề hoặc hộ gia đình Rượu do dân

tự nấu có sản lượng thực tế lớn nhất, chiếm tới 91,7% lượng rượu tiêu thụ trêntoàn quốc, tổng sản lượng ước tính khoảng 250 triệu lít/năm

c Một số thương hiệu trong nước

Trang 28

Dưới các triều đại phong kiến, rượu làng Vân được dâng lên vua, rồi thườngxuyên xuất hiện trong các buổi yến tiệc linh đình.Năm Chính Hòa thứ 24 (1703),

vua Trần Hy Tông đã sắc phong bốn chữ vàng “Vân hương mỹ tửu” cho rượu

làng Vân Sách Đại Nam Nhất thống chí của quốc tử quán nhà Nguyễn viết : “Phố chợ Vạn Phúc, Yên Viên, Dĩnh Kế và Bát Tràng, thuyền bè tụ họp, ngườibuôn bán qua lại , cũng là đất đô hộ”, “ chợ Yên Viên nấu rượu trắng rất ngon”(Rượu Làng Vân, 2012)

Rượu được nấu bằng gạo nếp cái hoa vàng - thứ nếp đặc biệt thơm ngon,hòa cùng men rượu bí truyền của làng Vân được chế biến từ 36 vị thuốc Bắc quýhiếm và phải ngâm ủ đủ 72 giờ Với nghệ thuật nấu rượu tài tình của người làngVân đã tạo ra một thứ nước trong văn vắt với hương vị êm dịu, lắng đọng đãchinh phục cả những vị khách khó tính nhất Từ hàng chục thế kỷ qua, hương vịđặc biệt của rượu làng Vân luôn được nhiều du khách chọn mua về làm quà khilên vùng Kinh Bắc tại cổng làng Vân cho đến nay vẫn khắc hai câu đối:

"Vân hương mỹ tửu lừng biển Bắc Chiến công Như Nguyệt rạng trời Nam"

Vào những năm 30, một nhà tư bản Pháp cùng ông Nguyễn Lễ ( ngườiĐáp Cầu ) đã đầu tư vốn xây dựng tại làng Vân một nhà máy rượu với số thợ lênđến 300 người ngày đêm sản xuất Tại đây đã lắp đặt một dây truyền sản xuất cótháp nước, có điện và 72 bếp, hơn 140 lò nấu rượu Khi rượu được chưng cấtxong sẽ được đưa lên những con tàu, xuôi theo dòng sông Cầu và chở về nướcPháp tiêu thụ Rượu nếp cái hoa vàng làng Vân theo đó mà đi muôn phương

Trang 29

Hình 2.1 Sản phẩm rượu làng Vân(Nguồn: http://ruoungon.com/ruou-lang-van-ct.html)Ông Nguyễn Văn Tường chủ nhiệm Hợp tác xã rượu Vân Hương nói: “nghềnấu rượu ở đây hiện được mở rộng cả về quy mô và số lượng, đồng thời cũngtrên đường tìm tòi mọi cách thức nâng cao hơn nữa về chất lượng Đây cũng lànghề thu hút và giải quyết được nhiều việc làm cho người lao động Năm 1988,

có 260 chủ hộ đăng ký nấu rượu với số lao động tham gia là 520 người; năm

1995, là 600 hộ Sản lượng bình quân đạt 30 nghìn lít/ tháng Hiện nay, có 700

hộ nấu rượu, thu hút 1.700 lao động, bình quân sản lượng đạt 42 nghìn lít/tháng.Trong đó 10% là rượu gạo, còn lại là rượu sắn.Thu nhập bình quân của mỗi hộ

từ việc nấu rượu và chăn nuôi sau khi đã trừ các khoản chi phí là 2 triệu đồng/tháng” (Nguồn: Diêm Đăng Linh, 2011)

Trang 30

Rượu làng Vân, một thứ đặc sản không thể thiếu vào các dịp lễ hội, tết haylàm quà biếu Rượu uống êm, vị đậm, uống xong có cảm giác lâm li hương vịđặc biệt trong họng và không đau đầu Khi cầm chai rượu lắc mạnh, ngay lập tức

có rất nhiều bọt tăm li ti nổi lên rồi tan dần như pháo bông, pháo hoa Tất cả tạonên nét riêng có của loại rượu mang thương hiệu làng Vân vốn tồn tại từ hàngchục thế kỷ qua, được mọi người trong và ngoài nước biết đến

• Rượu Bầu Đá Bình Định

Rượu Bầu Ðá là một sản phẩm truyền thống của Bình Ðịnh đã nổi tiếng từrất lâu Tương truyền, từ nhiều thế kỷ trước, những người dân nghèo ờ gò CùLâm, thôn Bàu Ðá, xã Nhơn Lộc, huyện An Nhơn, trong khi tìm kế sinh nhai đãnấu rượu và sử dụng nguồn nước ngầm rỉ ra từ bàu đá tại thôn Bàu Ðá Khôngngờ những mẻ rượu được nấu từ nguồn nước này lại có một mùi hương rất đặcbiệt, và nếu uống một cách điều độ mỗi ngày chỉ một, hai cốc nhỏ sẽ cho cảmgiác thoải mái, dễ chịu, trị được chứng đau lưng, nhức mỏi, giúp cho quá trìnhtiêu hóa tốt hơn, cơ thể khỏe mạnh, cường tráng hơn Và thế là từ đó, rượu Bầu

Ðá trở thành một thứ “ngự tửu” được dùng để tiến vua, là loại rượu thường đượcdùng trong các buổi yến tiệc của vua chúa

Ở xóm Bàu Đá (Nhơn Lộc - An Nhơn), hầu như nhà nào cũng nấu rượu,trong đó riêng thôn Cù Lâm có đến 95% hộ dân nấu rượu.Họ vừa để đáp ứngnhu cầu thị trường, vừa tận dụng hèm (bã rượu) để nuôi heo Các hộ gia đìnhnấu rượu ở xóm Bàu Đá hầu hết đều kế thừa nghề truyền thống của cha ông đểlại, rượu ngon hay dở còn tùy thuộc vào kinh nghiệm và tay nghề người nấu.Đưa lên rót, tiếng rượu thánh thót trong veo, hơi rượu nồng dịu, trong như pha

lê Rượu rót ra chén sủi tăm, ngát hương, uống vào có cảm giác lâng lâng, baybổng Chính nhờ đặc trưng này mà rượu Bầu Đá mà danh tiếng đã được vang xa,

Trang 31

không chỉ trong nước mà còn có mặt ở nhiều thị trường thế giới như Mỹ, Anh,Pháp, Ấn Độ…

Hình 2.2 Sản phẩm rượu Bầu Đá(Nguồn: https://dacsanbinhdinh.com)Tại thôn Cù Lâm, mỗi ngày có hàng trăm lít rượu được xuất xưởng nhưngvẫn không đủ để đáp ứng nhu cầu của thị trường Mặc dù nấu rượu theo quy mô

hộ không đem lại hiệu quả cao nhưng các hộ đã sử dụng hèm làm thức ăn chănnuôi và đã đem lại hiệu quả kinh tế Theo thống kê của phòng Công nghiệphuyện An Nhơn, thôn Cù Lâm có 31 hộ thì có 29 hộ nấu rượu, trong đó có trên

15 hộ nấu ruwouj có truyền thống lâu năm và đạt chất lượng Tính trong toàn xãNhơn Lộc thì có khoảng 300 hộ nấu rượu, mỗi hộ nấu từ 7-10 lít rượu/ ngày,

Trang 32

riêng trong dịp lễ tết có thể tăng lên 500 hộ với lượng nấu tăng lên 12-17lít/ngày.

Bên cạnh những cơ hội và thuận lợi có được trong quá trình phát triển củarượu Bầu Đá thì trên thị trường hiện nay đang xuất hiện nhiều sản phẩm hànggiải, hàng nhái ăn theo thương hiệu Bầu Đá Do vậy danh tiếng và uy tín củarượu Bầu Đá đang bị mất dần, chính vì vậy việc giải quyết vấn đề hàng giải,hàng nhái là vô cùng cần thiết, nếu không thực hiện thì sẽ không thể cạnh tranhđươch với các nhãn rượu khác trên thị trường Và điều này cũng ảnh hưởngkhông nhỏ đến các hộ nông dân nấu rượu tại thôn Cù Lâm

• Rượu Gò Đen ở Long An

Làng rượu Gò Đen tại thị tứ Gò Đen, xã Phước Lợi, huyện Bến Lức nổi

tiếng hàng trăm năm nay

Trang 33

Hình 2.3 Sản phẩm rượu Gò Đen

(Nguồn: http://blogvietluan.blogspot.com)

“ Ăn nem Thủ Đức, uống rượu Bến Lức Gò Đen”

Đó là câu nói cửa miệng của dân nhậu miền Nam.Gò Đen là một địa danhnổi tiếng ở huyện Bến Lức, tỉnh Long An Rượu đế Gò Đen có từ thời Phápthuộc, rượu có hương vị độc đáo nhờ có cách chọn nguyên liệu từ các loại gạonếp như: nếp mỡ, nếp mù u, nếp hương, nếp thổ địa, nếp than đen tuyền cả hạt.Rượu đế Gò Đen xếp hàng đệ nhất tửu Chọn nếp là bước quan trọng đầu tiên.Dân nấu rượu Gò Đen xưa thường chọn những loại nếp hạt tròn, mẩy, có mùi

Trang 34

thơm trắng đục đều Sau khi chọn nếp ngon nấu thành cơm nếp, để nguội thì rắcmen vào ủ bằng loại men mài rễ thảo mộc hoặc men bí truyền chế từ các vịthuốc bắc: quế khâu, đinh hương, trần bì, quế chi, đại hồi cộng thêm nhãn lồng,trầu hương Sau ba đêm tiếp tục chan nước rồi để ba đêm sau nữa nấu.Chỉ riêngkhâu ủ men truyền thống đã mất gần một tuần (trong khi ủ bằng men TrungQuốc chỉ mất ba ngày) Đặc biệt hơn nữa, cái thứ chắt lọc tinh túy của thời gian,men nồng, nếp thơm, lửa đượm này phải được chan bằng nước Gò Đen, nấutrong không khí Gò Đen mới có mùi vị đặc sắc Nếu rượu để thưởng thức sẽđược cho vào hũ sành, bịt kín lại rồi ngâm xuống ao khoảng 100 ngày mới manglên uống.Rượu đế Gò Đen dễ nhận biết Rượu ngon khi lắc chai sẽ nổi bọt vàphân thành 3 tầng rõ rệt, chậm tan (Nguồn:Làng Nghề Long An,2013)

Cũng giống như rựou Làng Vân, rượu Bầu Đá, rượu Gò Đen cũng đangphải đối mặt với nguy cơ rượu giả, rượu nhái Theo thống kê từ ba xã tronghuyện Bến Lức cho thấy trong số 412 hộ nấu rượu thì chỉ có một hộ bán sảnphẩm đóng chai nhựa, nhãn hiệu Gò Đen được in đen trắng., không có cơ sở nào

có quy mô công ty hay xí nghiệp sản xuấ mặt hàng này, chỉ có 4 hộ là sản xuấtthường xuyên, còn lại 408 hộ chỉ nấu vào thời gian nông nhàn, tiêu thụ với hìnhthức bán lẻ cho những người tiêu dùng trong vùng Chính vì vậy rượu Gò Đen

đã tran lan khắp trên thị trường đặc biệt là thị trương TP Hồ Chí Minh Đầu năm

2006, tỉnh Long An đã quyết tâm vào cuộc để bảo vệ lấy danh hiệu rượu GòĐen, kiểm soát chặt chẽ hàng giải, hàng nhái bằng pháp luật Sở Khoa học vàCông nghệ tỉnh đã chi hơn 1 tỷ đồng để Trung tâm Khuyến nông tỉnh kết hợpvới tỉnh Bến Lức thực hiện điều tra đến từng hộ

Trang 35

PHẦN III.ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Xã Toàn Thắng nằm ở phía Bắc huyện Kim Động tỉnh Hưng Yên, cách trungtâm tỉnh 20km, cách thị trấn Lương Bằng 6km Xã có địa giới hành chính nhưsau:

- Phía Bắc giáp xã Việt Hòa, huyện Khoái Châu

- Phía Nam giáp xã Phạm Ngũ Lão, huyện Kim Động

- Phía Đông giáp xã Nghĩa Dân, huyện Kim Động

- Phía Tây giáp xã Vĩnh Xá, huyện Kim Động

Xã Toàn Thắng có vị trí địa lý thuận lợi với tuyến đường 39A, Quốc lộ 38 vàTỉnh lộ 208 chạy qua là điều kiện tốt để phát triển kinh tế, giao lưu, buôn bán,trao đổi hàng hóa với thị trường bên ngoài

3.1.1.2 Địa hình, đất đai

Xã Toàn Thắng nằm trong vùng Đồng bằng sông Hồng nên có địa hìnhtương đối bằng phẳng, cao độ trung bình là 3 m (cao nhất 3,5 m, thấp nhất 2,5m), hầu hết diện tích trong xã đều có độ dốc nhỏ thuận lợi cho việc cơ giới hóa,thủy lợi hóa phát triển nông nghiệp Toàn xã có diện tích đất tự nhiên là 725,98

ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 505,56 ha Đất đai của xã thuộc đất phù

xa khồn được bồi Đặc điểm của loại đất này là có màu nâu tươi, hàm lượngdinh dưỡng từ trung bình đến khá, thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng, độdày mặt đất canh tác từ 15-20 cm Tạo điều kiện thuận lợi cho phát tiển sản xuất

Trang 36

3.1.1.3 Khí hậu và thủy văn

Hưng Yên nói chung và xã Toàn Thắng nói riêng đều nằm trong khu vựcđồng bằng Bắc Bộ nên khí khậu đặc trưng là khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiếttrong năm chia làm 2 mùa rõ rệt:

- Mùa hè: Từ tháng 5 đến tháng 10 có nhiệt độ trung bình từ 24-27oC, thờitiết nóng ẩm và mưa ngâu

- Mùa đông: từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, có nhiệt độ trung bình năm

từ 18-24oC, thời tiết lạnh, hanh khô

Lượng mưa trung bình năm: 1680- 1730 mm, nhưng phân bố không đồngđều trong năm, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mưa nhiều nhất vào tháng 7

và tháng 8 lượng mưa chiếm 84% tổng lượng mưa của cả năm Nguồn nước mặtcung cấp cho cây trồng và phát triển của toàn xã Toàn Thắng chủ yếu là nguồnnước ở sông Nghĩa Trụ và các nguồn nước trữ lại trong các hệ thống kênhmương, ao hồ

Độ ẩm không khí trung bình năm là 86%, cao nhất là 92% (tháng 3), thấpnhất là 75% (tháng 12)

Điều kiện khí hậu đã tạo thuận lợi cho các ngành sản xuất của toàn xãphát triển đặc biệt là phát triển nền nông nghiệp lúa nước, góp phần cung cấpnguồn nguyên liệu rồi rào cho nghành sản xuất rượu của toàn xã

Trang 37

3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

3.3.2.1 Tình hình sử dụng đất

Trong những năm gần đây, xã Toàn Thắng đã có những thay đổi rõ rệt tìnhhình sử dụng đất đai Điều này được thể hiện trong bảng 3.1 về tình hình sửdụng đất đai của xã trong 3 năm

Qua bảng số liệu cho thấy diện tích đất tự nhiên của toàn xã năm 2013 là725,98 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 495,86 ha, chiếm 68,30% giảm0,37% so với năm 2012 (498,53 ha) và 0,67% so với năm 2011( 500,72 ha).Diện tích đất phi nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao thứ hai trong tổng diện tích đất tựnhiên với 29,51% năm 2011 và qua các năm đều có xu hướng tăng, năm 2013đạt 30,36% Diện tích đất nuôi trồng thủy sản qua các năm cũng có sự biếnđộng: Năm 2011 diện tích đất nuôi trồng thủy sản là 10,06 ha chiếm 2,00% diệntích đất nông nghiệp tính đến năm 2013 là 9,70 ha chiếm 1,96%, giảm 0,04% sovới năm 2011

Qua các số liệu cho ta thấy cơ cấu sử dụng đất trong các ngành đang có sựchuyển dịch, sản xuất nông nghiệp đang có xu hướng giảm, thay vào đó sản xuấtphi nông nghiệp đang tăng lên mỗi năm Điều đó chứng tỏ các ngành sản xuấtphi nông nghiệp đang dần khẳng định được vai trò trong phát triển kinh tế, xãhội của toàn xã

Trang 38

Bảng 3.1.Tình hình sử dụng đất đai của xã Toàn Thắng qua 3 năm ( 2011-2013)

SL (ha)

CC(%) SL (ha) CC(%) SL (ha) CC(%) 12/11 13/12 BQ

Tổng diện tích 725,98 100,00 725,98 100,00 725,98 100,00 100,00 100,00 100,00 I.Đất nông nghiệp 500,72 68,97 498,53 68,67 495,86 68,30 99,57 99,46 99,52

1.Đât sản xuât nông

Trang 39

( Nguồn: Ban thống kê xã Toàn Thắng)

Trang 40

lệ cao hơn hẳn so với lao dộng làm phi nông nghiệp Tuy nhiên qua 3 năm số laođộng làm nông nghiệp có xu hướng giảm, cụ thể năm 2013 số lao động làmnông nghiệp là 3629 người chiếm 64,6% trong tổng số lao động giảm 2,97% sovới năm 2011, bình quân số lao động nông nghiêp mỗi năm giảm 1,49% Do quátrình tách hộ nên số hộ qua các năm đều tăng năm 2013 có 2819 hộ, bình quânmỗi năm tăng 8,13%

Qua đây cho thấy xã Toàn Thắng đang trên đường đổi mới, thực hiện côngnghiệp hóa, hiện đại hóa Ngành nông nghiệp vẫn là ngành chủ đạo của xã, vìvậy cần có những giải pháp nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả của ngành nôngnghiệp như nâng cấp mở rộng hệ thống thủy lợi, đẩy mạnh tiến bộ kỹ thuật vàosản xuất, đào tạo để nâng cao kiến thức sản xuất cho người dân Đồng thời cũng

có các chính sách phát triển các nghành phi nông nghiệp nhằm thu hút lao động,góp phần nâng cao thu nhập và đời sống của người dân thay đổi cơ cấu lao động

Ngày đăng: 21/07/2017, 05:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo “Thực trạng phát triển truyền thống sản xuất rượu và các nghành nghề Tiểu thủ công nghiệp của làng Trương Xá, xã Toàn Thắng”,2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng phát triển truyền thống sản xuất rượu và các nghànhnghề Tiểu thủ công nghiệp của làng Trương Xá, xã Toàn Thắng
2. Bộ công nghiệp – Tổng công ty bia rượu nước giải khát Việt Nam, “Dự án quy hoạch tổng thể phát triển nghành Rượu – Bia- Nước gải khát và Bao bì Việt Nam đễn năm 2020, Hà Nội 1999” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự ánquy hoạch tổng thể phát triển nghành Rượu – Bia- Nước gải khát và Baobì Việt Nam đễn năm 2020, Hà Nội 1999
2. Diêm Đăng Linh, 2011, Đi tìm “ thương hiệu” rượu làng Vân;http://dulichbacgiang,gov,vn/index,php?option=com_content&view=article&id=156:ru-lang-van&catid=59:dac-san-bac-giang&Itemid=113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: thương hiệu
1. Ẩm thực Nhật, Rượu Sake truyền thống của Nhật Bản, http://www.amthucnhat.org/ruou-sake-truyen-thong-nhat-ban.html Link
3. Diễn đàn nông nghiệp, 2014, Kinh tế Nhật trông chờ vào rượu Sake, http://japan-danang.org/index.php/vi/tin-tuc-viet-nam-nhat-ban/151-kinh-te-nhat-ban-trong-cho-vao-ruou-sake Link
4. Hoàng Thị Thu Hằng (2013), Nghiên cứu xử lý dịch hèm sản xuất rượu Khác
5. Nguyễn Đình Hợi (1995) Kinh tế tổ chức và sản xuất kinh doanh nông nghiệp, Nxb Thống kê, Hà Nội Khác
6. Samuelson – Nordhuas, Kinh tế học, Viện quan hệ quốc tế và Bộ Ngoại Giao, Hà Nội, 1999 Khác
7. Nguyễn Thanh Tùng (2011), Tìm hiểu tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm rượu cần của đồng bào Mường tại xã Dân Hòa – huyện Kỳ Sơn – tỉnh Hòa Bình Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.2. Sản phẩm rượu Bầu Đá (Nguồn: https://dacsanbinhdinh.com) - Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề chế biến rượu tại thôn trương xá xã toàn thắng huyện kim động tỉnh hưng yên
Hình 2.2. Sản phẩm rượu Bầu Đá (Nguồn: https://dacsanbinhdinh.com) (Trang 31)
Hình 2.3. Sản phẩm rượu Gò Đen (Nguồn: http://blogvietluan.blogspot.com). - Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề chế biến rượu tại thôn trương xá xã toàn thắng huyện kim động tỉnh hưng yên
Hình 2.3. Sản phẩm rượu Gò Đen (Nguồn: http://blogvietluan.blogspot.com) (Trang 33)
Bảng 3.1.Tình hình sử dụng đất đai của xã Toàn Thắng qua 3 năm ( 2011-2013) - Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề chế biến rượu tại thôn trương xá xã toàn thắng huyện kim động tỉnh hưng yên
Bảng 3.1. Tình hình sử dụng đất đai của xã Toàn Thắng qua 3 năm ( 2011-2013) (Trang 38)
Bảng 3.4 Kết quả sản xuất kinh doanh của xã qua 3 năm 2011-1013 - Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề chế biến rượu tại thôn trương xá xã toàn thắng huyện kim động tỉnh hưng yên
Bảng 3.4 Kết quả sản xuất kinh doanh của xã qua 3 năm 2011-1013 (Trang 44)
Bảng 4.1 Tình hình sản xuất rượu của các hộ trong thôn Trương Xá - Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề chế biến rượu tại thôn trương xá xã toàn thắng huyện kim động tỉnh hưng yên
Bảng 4.1 Tình hình sản xuất rượu của các hộ trong thôn Trương Xá (Trang 54)
Bảng 4.2: Tình hình cơ bản của các hộ điều tra - Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề chế biến rượu tại thôn trương xá xã toàn thắng huyện kim động tỉnh hưng yên
Bảng 4.2 Tình hình cơ bản của các hộ điều tra (Trang 56)
Bảng 4.3 Thu nhập của hộ năm 2013 - Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề chế biến rượu tại thôn trương xá xã toàn thắng huyện kim động tỉnh hưng yên
Bảng 4.3 Thu nhập của hộ năm 2013 (Trang 58)
Bảng 4.4 Trang thiết bị đầu tư cho sản xuất rượu của hộ - Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề chế biến rượu tại thôn trương xá xã toàn thắng huyện kim động tỉnh hưng yên
Bảng 4.4 Trang thiết bị đầu tư cho sản xuất rượu của hộ (Trang 59)
Bảng 4.5 Tình hình vốn phục vụ cho chế biến rượu của hộ - Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề chế biến rượu tại thôn trương xá xã toàn thắng huyện kim động tỉnh hưng yên
Bảng 4.5 Tình hình vốn phục vụ cho chế biến rượu của hộ (Trang 60)
Bảng 4.6 Tình hình sản xuất năm 2013 - Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề chế biến rượu tại thôn trương xá xã toàn thắng huyện kim động tỉnh hưng yên
Bảng 4.6 Tình hình sản xuất năm 2013 (Trang 61)
Sơ đồ 4.1 Quy trình sản xuất rượu gạo của người dân thôn Trương Xá - Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề chế biến rượu tại thôn trương xá xã toàn thắng huyện kim động tỉnh hưng yên
Sơ đồ 4.1 Quy trình sản xuất rượu gạo của người dân thôn Trương Xá (Trang 63)
Bảng 4.10 Tình hình sử dụng lao động trong sản xuất rượu của hộ - Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề chế biến rượu tại thôn trương xá xã toàn thắng huyện kim động tỉnh hưng yên
Bảng 4.10 Tình hình sử dụng lao động trong sản xuất rượu của hộ (Trang 71)
Sơ đồ 4.2 Kênh tiêu thụ rượu tại thôn Trương Xá - Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề chế biến rượu tại thôn trương xá xã toàn thắng huyện kim động tỉnh hưng yên
Sơ đồ 4.2 Kênh tiêu thụ rượu tại thôn Trương Xá (Trang 72)
Bảng 4.12 Lượng xỉ than tại thôn Trương Xá năm 2013 - Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề chế biến rượu tại thôn trương xá xã toàn thắng huyện kim động tỉnh hưng yên
Bảng 4.12 Lượng xỉ than tại thôn Trương Xá năm 2013 (Trang 77)
Bảng 4.14  Thuận lợi và khó khăn trong tiêu thụ rượu năm 2013 của hộ - Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề chế biến rượu tại thôn trương xá xã toàn thắng huyện kim động tỉnh hưng yên
Bảng 4.14 Thuận lợi và khó khăn trong tiêu thụ rượu năm 2013 của hộ (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w