Trên thực tế huyện Mường Ảng là một trong những huyện có tỉ lệ hộ nghèo vào loại cao nhất của tỉnh Điện Biên, để khắc phục những hạn chế về kinh tế của huyện và thúc đẩy sự phát triển ki
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
HIỆN TRẠNG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thuộc nhóm ngành: Xã hội
Sơn La, năm 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
HIỆN TRẠNG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thuộc nhóm ngành: Xã hội
Lớp: K55 ĐHSP Địa lý Khoa: Sử - Địa
Năm thứ : 3/ Số năm đào tạo: 4
Ngành học: Sư phạm Địa lý
Sinh viên chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thị Huệ
Người hướng dẫn: ThS Bùi Thị Hoa Mận
Sơn La, năm 2017
Trang 3Lời cảm ơn!
Sau một thời gian nghiên cứu, tìm tòi với sự cố gắng của nhóm tác giả cùng với
sự giúp đỡ của thầy, cô giáo Đề tài hoàn thành dưới sự hướng dẫn của Ths Bùi Thị Hoa Mận Chúng em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn chân thành đến cô giáo đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn để chúng em hoàn thành tốt đề tài
Chúng em xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu, Phòng quản lý khoa học và Quan hệ quốc tế, Thư viện Trường Đại học Tây Bắc, Bộ môn Địa lý kinh tế - xã hội, UBND huyện Mường Ảng, đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ chúng em hoàn thành đề tài
Đề tài của chúng em chắc chắn còn nhiều thiếu sót rất mong nhận được sự góp
ý chân thành của các thầy, cô giáo và các bạn để đề tài của chúng em được hoàn thiện hơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 06 năm 2017
Nhóm sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Huệ Bạc Thị Huế Phùng Mùi Ghến
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của đề tài 5
7 Kết cấu của đề tài 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 6
1.1.Cơ sở lý luận 6
1.1.1 Đói nghèo 6
1.1.2 Xóa đói giảm nghèo 13
1.2 Cơ sở thực tiễn 16
1.2.1 Khái quát thực trạng xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam 16
1.2.2 Khái quát thực trạng xóa đói giảm nghèo ở trung du miền núi Bắc Bộ 23
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO VÀ CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN MƯỜNG ẢNG – TỈNH ĐIỆN BIÊN 27
2.1 Khái quát chung về huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên 27
2.1.1 Vị trí địa lí 27
2.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 27
2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 30
2.2 Thực trạng công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Mường Ẳng 35
2.2.1 Thực trạng đói nghèo và nguyên nhân của đói nghèo ở huyện Mường Ảng 35
2.2.2 Tình hình xóa đói giảm nghèo ở huyện Mường Ảng 42
2.3 Đánh giá chung về kết quả của công tác xóa đói, giảm nghèo 48
2.3.1 Những thành tựu đạt được 48
2.3.2 Những hạn chế, tồn tại trong việc xóa đói giảm nghèo 52
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN MƯỜNG ẢNG – TỈNH ĐIỆN BIÊN 54
3.1 Định hướng về công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Mường Ảng 54
3.1.1 Quan điểm chung về công tác xóa đói giảm nghèo 54
Trang 53.1.2 Định hướng và mục tiêu xóa đói giảm nghèo đối với huyện Mường Ảng 573.2 Các giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Mường Ảng 593.2.1 Xây dựng chương trình xóa đói nghèo sát với điều kiện cụ thể của huyện Mường Ảng 593.2.2 Giải pháp về cơ chế, chính sách nhất là các chính sách về đất đai, tài chính và tín dụng 603.2.3 Đẩy mạnh công tác đào tạo, tập huấn cho người nghèo 613.2.4 Giải pháp về các chính sách xã hội 613.2.5 Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo việc làm cho người lao động 653.2.6 Huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển 663.2.7 Các chính sách liên kết 663.2.8 Khai thác và sử dụng tài nguyên hợp lý để bảo vệ môi trường bền vững và giảm nghèo 67
KẾT LUẬN 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 6KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình
KT-XH Kinh tế xã hội
LĐNT Lao động nông thôn
LĐTB&XH Lao động thương binh và xã hội
MTQG Mục tiêu quốc gia
NSTW Ngân sách trung ương
PTNT Phát triển nông thôn
TDTT Thể dục thể thao
XĐGN Xóa đói giảm nghèo
XKLĐ Xuất khẩu lao động
Trang 7DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 1.1 Tỷ lệ hộ nghèo Việt Nam giai đoạn 1998 - 2015 18
2 Bảng 1.2 Dự báo dân số và lao động huyện Mường Ảng đến
năm 2020
20
gia Dự án Giảm nghèo tỉnh Điện Biên, giai đoạn 2010-2015
36
4 Bảng 2.2 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu của Đề án giảm
nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30a/CP trên địa bàn huyện Mường Ảng năm 2015
48
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên được thành lập theo Nghị định 135/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/4/2007 Huyện nằm ở phía Đông của tỉnh Điện Biên Phía Đông giáp huyện Tuần Giáo, phía Tây giáp huyện Điện Biên, phía Nam giáp huyện Thuận Châu (tỉnh Sơn La) và huyện Điện Biên Đông, phía Bắc giáp huyện Tuần Giáo và huyện Mường Chà Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 44.352,2 ha, dân số trung bình của huyện là 46.507 người (năm 2016) Huyện có 13 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó có 4 dân tộc chính
là Thái, Kinh, Mông, Khơ mú và một số dân tộc khác
Mường Ảng có trung tâm huyện lỵ là thị trấn Mường Ảng (nằm dọc theo quốc
lộ 279) cách thành phố Điện Biên Phủ khoảng 45 km về phía Tây Mường Ảng có vị trí khá quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh Điện Biên Đây là vùng đất màu mỡ, phù hợp với việc phát triển nhiều loại cây trồng vật nuôi, đặc biệt là các loại cây công nghiệp dài ngày cùng đàn gia súc và gia cầm các loại Mặt khác, đây cũng là khu vực có khả năng phát triển các vùng nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến nông lâm sản thuộc khu vực phía Đông của tỉnh Điện Biên
Trên thực tế huyện Mường Ảng là một trong những huyện có tỉ lệ hộ nghèo vào loại cao nhất của tỉnh Điện Biên, để khắc phục những hạn chế về kinh tế của huyện và thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung cho toàn tỉnh, UBND tỉnh Điện Biên rất chú trọng đến việc hỗ trợ để huyện Mường Ảng từng bước ổn định tình hình kinh tế chính trị -
xã hội Một trong những chính sách đó là triển khai hàng loạt những đề án, chương trình về xóa đói, giảm nghèo của quốc gia, của tỉnh tại huyện Mường Ảng, đặc biệt từ sau những năm 2010
Công cuộc xóa đói giảm nghèo của huyện Mường Ảng trong giai đoạn từ 2010 – 2015 đã có rất nhiều bước tiến vượt bậc, đáng ghi nhận nhưng bên cạnh đó cũng có những hạn chế, khó khăn, bất cập trong quá trình triển khai, ảnh hưởng không nhỏ đến
sự bền vững của các chương trình xóa đói giảm nghèo
Xuất phát từ những lý do trên nhóm tác giả quyết định chọn đề tài “Hiện trạng
vấn đề xóa đói giảm nghèo huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên” làm đề tài nghiên cứu
khoa học và công nghệ cấp trường của sinh viên năm 2016 – 2017
Trang 92 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề đói nghèo và xóa đói giảm nghèo từ lâu là mối quan tâm hàng đầu của các nước trên thế giới Vì vậy nó được các tổ chức và nhiều nhà khoa học nghiên cứu Hằng năm Liên hợp quốc, Ngân hàng Thế giới,… thường công bố các nghiên cứu về tình trạng đói nghèo trên thế giới trong đó có Việt Nam Năm 2000, WB chính thức
công bố “Báo cáo về tình hình phát triển thế giới – tấn công nghèo đói” ở tầm vĩ mô
Ngoài thông tin về số lượng người nghèo trên thế giới, báo cáo thể hiện những luận điểm, cách tiếp cận, đánh giá trên nhiều phương diện của đói nghèo, nâng vấn đề của đói nghèo trở thành vấn đề cấp thiết của nhân loại
Từ những năm đầu của thập niên 90, vấn đề nghèo và giảm nghèo được quan tâm trên cả phương diện nghiên cứu lí luận, nhận thức và triển khai hành động trong thực tiễn Những cuộc hội thảo khoa học và nghiên cứu thực tế do các cơ quan nghiên cứu thuộc trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội (Bộ LĐTB&XH), các tổ chức quốc tế ở Việt Nam… đã dần phác họa
bức tranh toàn cảnh về nghèo đói ở Việt Nam “Việt Nam đánh giá đói nghèo và chiến
lược” của WB vào tháng 1/1995 đã xem xét tình trạng đói nghèo của nước ta trong bối
cảnh kinh tế - xã hội khi vừa kết thúc chiến tranh và tiến hành đổi mới
Đánh giá tổng quan và diễn biến đói nghèo của nước ta thể hiện rõ thông qua
Hội nghị các nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam “Báo cáo phát triển Việt Nam
năm 2000 – Tấn công nghèo đói” Những nghiên cứu cho thấy, đói nghèo là vấn đề
nhức nhối trong xã hội Báo cáo đặc biệt hữu ích khi đưa ra cách tiếp cận để giải quyết nghèo khổ bền vững với 3 trụ cột: tạo cơ hội, đảm bảo sự bình đẳng, giảm bớt nguy cơ
bị tổn thương Tài liệu này cung cấp nguồn tư liệu phong phú liên quan đến giảm nghèo rất hữu ích cho người nghiên cứu
Nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo nói chung ở Việt Nam đã có rất nhiều
những đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này như: Luận văn thạc sĩ “Xóa đói giảm nghèo ở
khu vực miền Trung” của Lê Đức An năm 2011 So với cả nước thì khu vực duyên hải
miền Trung vẫn còn chậm phát triển, chưa tương xứng với yêu cầu tăng trưởng của đất nước Địa hình khó khăn chủ yếu ở khu vực này khiến cho tốc độ phát triển nông nghiệp thấp, trong khi đó thiếu cơ sở hạ tầng và dịch vụ khuyến nông cũng như thiếu các phương tiện thị trường, kém phát triển công nghệ và rủi ro là nguyên nhân chính dẫn tới tốc độ tăng trưởng thấp Những nhân tố này cũng dẫn tới mức độ đầu tư thấp từ
Trang 10khu vực tư nhân để tạo thêm việc làm và thu nhập cho người dân Chính vì vậy, quá trình giảm nghèo vẫn còn chậm ở nhiều tỉnh trong khu vực và có sự khác biệt giữa các nhóm dân cư, sự khác biệt về vùng và phân bổ nguồn lực Do đó, việc thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo ở khu vực duyên hải miền Trung để góp phần thu hẹp khoảng cách với các vùng trong cả nước cũng là một vấn đề quan trọng Thực hiện tốt công tác xoá đói giảm nghèo trong phạm vi cả nước nói chung và khu vực duyên hải miền Trung nói riêng là một trong những yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững và qua đó thực hiện được mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh” Nghiên cứu tài liệu này để có cái nhìn tổng quan về nghèo đói của Việt Nam
Trong phạm vi khu vực nghiên cứu, vào năm 2009 Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên đã phê duyệt đề án Phát triển kinh tế xã hội nhằm giảm nghèo nhanh và bền vững của huyện Mường Ảng Sau khi được các Bộ ngành Trung Ương cùng Uỷ ban Nhân dân tỉnh thẩm định, ngày 02/12/2009, UBND tỉnh đã ra Quyết định 2113/QĐ-UBND phê duyệt đề án giảm nghèo của huyện với tổng nhu cầu vốn trong cả giai đoạn 2009-
2020 là 5.622,424 tỷ đồng
“Dự án giảm nghèo tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 – 2015” được đầu tư cho
vùng kinh tế khó khăn, đầu tư cho người nghèo và đặc biệt là dân tộc thiểu số Thực trạng kinh tế xã hội các tỉnh miền núi hiện nay nói chung là nguồn lực đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội còn thiếu rất nhiều, vai trò của người phụ nữ còn rất mờ nhạt, sản xuất chủ yếu là nông nghiệp nhỏ lẻ, dịch vụ và công nghiệp gần như chưa có mà trong sản xuất nông nghiệp thì người phụ nữ miền núi được xem như là lao động chính Trong bối cảnh đó, dự án giảm nghèo được đầu tư nhiều hạng mục từ cơ sở hạ tầng, đào tạo, sinh kế, ưu tiên quan tâm nhiều đến vai trò, nguyện vọng của phụ nữ nên dự
án này sẽ có tác động rất nhiều mặt tới xã hội Đánh giá tác động của dự án tới đời sống xã hội là một việc làm hết sức cần thiết Đây là cơ sở quan trọng để nhóm đề tài
có thể thực hiện công tác nghiên cứu của mình
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu: Nghiên cứu hiện trạng xóa đói giảm nghèo của huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp góp phần xóa đói giảm nghèo hiệu quả cho huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên
- Nhiệm vụ: Để hoàn thành mục đích trên cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
Trang 11+ Tổng hợp kế thừa có chọn lọc cơ sở lý luận và thực tiễn về đói nghèo và xóa đói giảm nghèo, từ đó vận dụng linh hoạt trong nghiên cứu đề tài
+ Đưa ra bức tranh toàn cảnh về hiện trạng đói nghèo ở Mường Ảng
+ Đề xuất một số giải pháp giảm nghèo bền vững ở Mường Ảng và tầm nhìn tới năm 2030
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng và biện pháp xóa đói giảm nghèo của huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên
- Phạm vi: Toàn bộ huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên
+ Không gian: Toàn huyện Mường Ảng (với 9 xã và 1 thị trấn)
+ Thời gian: giai đoạn 1998 – 2016
+ Giải pháp: đề xuất đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, xử lí tài liệu, số liệu: Sử dụng phương pháp này trong
việc thu thập thông tin, xử lí các số liệu, tài liệu khác nhau như: các văn kiện, nghị quyết Đảng bộ các cấp; các sách, tài liệu nghiên cứu lí luận về đói nghèo, các tài liệu thống kê của huyện, các số liệu có được từ nhiều nguồn… liên quan tới đề tài nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sử dụng để phân tích các số liệu, tài liệu
thu thập được trên cơ sở đó tổng hợp, khái quát hóa rút ra các kết luận, các nhận định khoa học, biểu đồ… phục vụ mục đích nghiên cứu tình trạng đói nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo của huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên
- Phương pháp sử dụng và ứng dụng công nghệ thông tin: Là phương pháp và
cũng là công cụ quan trọng trong nghiên cứu Địa lý Các biểu đồ là hình ảnh trực quan sinh động được xây dựng trên cơ sở các bảng số liệu Sử dụng công nghệ thông tin nhằm để xây dựng các biểu đồ liên quan tới hiện trạng xóa đói giảm nghèo trên địa bàn nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát thực địa: Được tiến hành theo một số tuyến và điểm trên địa bản huyện Mường Ảng nhằm kiểm tra đánh giá và thu thập bổ sung các tư liệu, số liệu, hình ảnh về thực trạng nghèo và giảm nghèo của huyện
- Phương pháp điều tra xã hội học: Phương pháp này nhằm mục đích thu thập
số liệu, quan điểm,… trên một đối tượng nào đó về một vấn đề liên quan đến đói nghèo để có thể phán đoán, tìm ra nguyên nhân, biện pháp giải quyết vấn đề đặt ra
Trang 12Giúp đề tài nhìn nhận và đánh giá tác động của các chính sách xã hội của huyện Mường Ảng đến xóa đói giảm nghèo và ý nghĩa của nó trong việc cải thiện và nâng cao mức sống của người dân
6 Đóng góp của đề tài
Nghiên cứu tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về đói nghèo và xóa đói giảm nghèo trên thế giới và Việt Nam để vận dụng nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo vào địa bàn toàn huyện Mường Ảng Góp phần bổ sung cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về vấn đề xóa đói giảm nghèo
Là tài liệu tham khảo quý báu cho các nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách ở Điện Biên; Giáo viên Địa lý giảng dạy phần địa lý Điện Biên,
Nghiên cứu thực trạng và tình hình đói nghèo trên địa bàn huyện Mường Ảng Tìm hiểu những nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp về công tác xóa đói giảm nghèo của huyện Mường Ảng
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận Nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về đói nghèo và xóa đói giảm nghèo Chương 2 Thực trạng đói nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Mường Ảng – tỉnh Điện Biên
Chương 3 Định hướng và các giải pháp chủ yếu đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Mường Ảng - tỉnh Điện Biên
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÓI NGHÈO
VÀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Đói nghèo
1.1.1.1 Quan niệm và thước đo
a Quan niệm về đói nghèo
- Quan niệm về đói nghèo trên thế giới
Với phương châm “coi đấu tranh chống đói nghèo là sứ mệnh, là trọng tâm”,
WB đã hoàn thành “Báo cáo về tình hình phát triển thế giới – Tấn công nghèo đói, năm 2000” Bản báo cáo này ra đời trong một đóng góp thiết thực vào cuộc tranh luận
về giàu nghèo trong xã hội Điểm đáng ghi nhận là báo cáo này đã mở rộng quan niệm
về đói nghèo khi tính đến cả nguy cơ dễ bị tổn thương, dễ gặp rủi ro của người nghèo
Báo cáo diễn giải, nghèo có nghĩa là “Không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường”, “người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự biểu hiện bất lợi nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ Họ thường bị các thể chế của nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt ra rìa và không có tiếng nói quyền lực trong các thể chế đó”
Để đánh giá rõ hơn mức độ nghèo, người ta chia nghèo ra thành hai loại: Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối
Nghèo tuyệt đối (hay nghèo thu thập) được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa như sau: “Một người là nghèo khổ khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa thu nhập bình quân đầu người hàng năm của quốc gia” Họ còn nhận định, nghèo thu nhập
“là sự đo lường mức chi tiêu cần thiết để đảm bảo một người có thể mua được một lượng lương thực, thực phẩm tương đương 2100 – 2300 Kcal/người/năm”
Với cách nhìn tổng quan hơn về vấn đề này, Robert Mc Namara - khi còn là giám đốc của WB đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối: “Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới tri thức chúng ta”
Trang 14Khái niệm của Robert chỉ ra mức nghèo tận cùng của một bộ phận dân cư khi điều kiện sống của họ chỉ đảm bảo cho sự tồn tại, ngoài việc sử dụng thu nhập hay tiêu dùng để xác định và đo lường đói nghèo thì có nhiều yếu tố khác quyết định đến tình trạng sống của con người mà tình trạng này được gọi là nghèo tương đối (hay nghèo
về con người) Theo đó, nghèo tương đối có thể xem như là mức độ sống thấp hơn của một số tầng lớp xã hội trong mối tương quan so sánh với sự sung túc của xã hội đó Ranh giới nghèo tuyệt đối có thể được xác lập cụ thể Ngược lại, ranh giới của nghèo tương đối rất khó xác định bởi nó không có tiêu chuẩn chung nào áp dụng Nó phụ thuộc chủ yếu vào tình hình phát triển khinh tế - chính trị - xã hội của từng quốc gia và mức độ quan tâm, điều chỉnh của chính quốc gia đó
Những tiêu chí đánh giá nghèo đói, dù xuất phát từ tổ chức nào và ở thời điểm nào thì về cơ bản cũng đều có sự thống nhất về ba khía cạnh của người nghèo như: không được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu, có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư, thiếu cơ hội lựa chọn trong quá trình phát triển
- Quan niệm về đói nghèo ở Việt Nam:
Các tài liệu và công trình nghiên cứu của hầu hết các tác giả Việt Nam đều thống nhất với định nghĩa chung về đói nghèo do Ủy ban KT - XH Châu Á và Thái Bình Dương của Liên Hợp Quốc (ESCAP) đưa ra tại hội nghị Bangkok - Thái Lan vào tháng 9 năm 1993
Ngoài định nghĩa chung về đói nghèo, Việt Nam còn sử dụng rộng rãi hai định nghĩa mà về cơ bản cũng đều bắt nguồn từ WB
+ Nghèo đói lương thực, thực phẩm (tương đương với nghèo tuyệt đối, nghèo
về thu nhập của WB): được xác định bằng số tiền chi phí cho nhu cầu thiết yếu để duy trì sự sống với năng lượng 2100 Kcal/người/ngày
+ Nghèo đói chung (tương đương với nghèo tương đối, nghèo về con người): được xác định bằng số tiền chi phí để mua đủ một lượng hàng hóa lương thực, thực phẩm tương đương với mức tiêu dùng năng lượng 2100 Kcal/người/ngày và một số mặt hàng phi lương thực, thực phẩm…
Về khái niệm nghèo của Việt Nam thì cơ bản thống nhất với khái niệm nghèo đói của ESCAP Đói là tình trạng của một bộ phận cư dân nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ bảo đảm nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống
Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ một đến hai tháng, thường vay
Trang 15mượn của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả cho cộng đồng Đói là nấc thang thấp nhất của nghèo, đây vốn thuần tuý là đói ăn, nằm trọn trong phạm trù kinh tế vật chất
và khác với đói thông tin, đói hưởng thụ văn hoá, thuộc phạm trù văn hoá tinh thần
Khái niệm đói cũng có hai dạng: đói kinh niên và đói cấp tính (đói gay gắt): + Đói kinh niên: là bộ phận dân cư đói nhiều năm liền cho đến thời điểm đang xét + Đói cấp tính: là bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói đột xuất do nhiều nguyên nhân như gặp tai nạn, thiên tai, rủi ro khác tại thời điểm đang xét
Ngoài ra còn có:
+ Hộ đói: là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái không được học hành đầy đủ, ốm đau không có tiền chữa bệnh, nhà cửa rách nát…
+ Hộ nghèo: là hộ đói ăn nhưng không đứt bữa, mặc không đủ lành, không đủ
ấm, không có khả năng phát triển sản xuất
+ Xã nghèo: là xã có tỷ lệ nghèo cao, (có tỷ lệ nghèo từ 25% trở lên) không có hoặc rất thiếu những cơ sở hạ tầng thiết yếu như: điện, đường, trường, trạm y tế, nước sạch, trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao
+ Vùng nghèo: là địa bàn tương đối rộng, nằm ở những khu vực khó khăn hiểm trở, giao thông không thuận tiện, có tỷ lệ xã nghèo, hộ nghèo cao
WB sau nhiều cuộc điều tra trên toàn cầu đã đưa ra ngưỡng nghèo chung (theo PPP): + Đối với các nước thu nhập thấp : <1 USD/người/ngày
+ Đối với các nước thu nhập trung bình thấp: <2USD/người/ngày
Ngoài ra còn một số chuẩn nghèo khuyến nghị cho các quốc gia
+ Đối với các nước chậm phát triển: 0,5 USD/người/ngày
+ Đối với các nước đang phát triển: 1 USD/người/ngày
+ Đối với các nước châu Mỹ và các nước đang phát triển ở mức khá: 2 USD/người/ngày
+ Đối với các nước châu Âu: 4 USD/người/ngày
Trang 16+ Đối với các nước công nghiệp: 14 USD/người/ngày
- Chỉ tiêu dinh dưỡng
Nhu cầu về dinh dưỡng là một trong những nhu cầu cơ bản và tối thiểu của con người để tồn tại, hoạt dộng và tái tạo sức lao động Trong nhiều năm các nhà dinh dưỡng của WHO, FAO, các cơ quan quốc gia và quốc tế đã đưa ra mức dinh dưỡng tối thiểu, cần thiết cho mỗi cơ thể theo thể trạng con người là 2100 Kcal mà WHO đưa ra
đã dựa trên nhiều lần, đánh giá và kiểm nghiệm
WB xây dựng ngưỡng nghèo trên cơ sở xác định nhu cầu tiêu dùng về lương thực của con người Cụ thể như sau:
+ Ngưỡng nghèo thứ nhất: lầ số tiền cần thiết để mua một số lương thực Lương thực này phải đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng 2100 Kcal cho mỗi con người mỗi ngày (gồm khoảng 40 loại sản phẩm), được gọi là ngưỡng nghèo lương thực
+ Ngưỡng nghèo thứ hai: bao gồm chi tiêu cho sản phẩm lương thực và phi lương thực, gọi là ngưỡng nghèo chung
Ước tính nghèo đói trên chỉ có tác dụng là những dự báo về diễn biến toàn cầu Còn đối với từng khu vực, từng vùng, căn cứ vào thu nhập và mức sống cụ thể mà mỗi nước tự xây dựng những ngưỡng nghèo đặc thù riêng, phản ánh được tình trạng đói nghèo trong hoàn cảnh trước đó
Nghèo đói chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố như kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa… Để đánh giá mức độ giàu nghèo của một quốc gia, Liên Hợp Quốc đã
sử dụng chỉ số đói nghèo HPI (Human Poverty Index) Cách tính HPI dành cho các nước đang phát triển HPI-1 dựa vào chỉ số phát triển con người HDI Giá trị HPI càng cao thì mức độ nghèo khổ càng lớn và ngược lại
Chỉ số HPI được tính theo công thức:
vững với nguồn nước sạch (1) và tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng (2), (Giá trị bình quân
phi gia truyền = ½ tỷ lệ (1) + ½ tỷ lệ (2))
Trang 17* Thước đo đánh giá đói nghèo ở Việt Nam
Nhóm nghiên cứu liên bộ: Bộ LĐTB&XH, TCTK đã đưa ra chỉ tiêu để đánh giá đói nghèo là thu nhập, giáo dục, sức khỏe, nhà ở,… Trong đó chỉ tiêu thu nhập được coi là chỉ tiêu hàng đầu, đồng thời cũng là chỉ tiêu đang được sử dụng để xác định số lượng người nghèo và hoạch định chính sách XĐGN
Ở nước ta, trong điều kiện giá cả không ổn định và có sự chênh lệch giữa các vùng miền, bên cạnh việc thu nhập được tính toán bằng tiền, còn tồn lại giữa cách tính truyền thống của người nông dân – tức quy ra gạo
Tùy vào từng thời kỳ và từng vùng phát triển của đất nước mà các cơ quan liên
bộ ngành và các cơ quan thường trực trong việc tổ chức thực hiện XĐGN đã đưa ra những mức xác định khác nhau về nghèo
- Chuẩn nghèo quốc gia của Bộ LĐTB&XH ban hành
Bộ LĐTB&XH đưa ra chuẩn đói nghèo chủ yếu dựa vào số liệu thu thập của hộ gia đình Các tiêu chí này thay đổi theo thời gian điều tra cùng với sự thay đổi mặt bằng thu nhập quốc gia Cụ thể như sau:
- Chuẩn nghèo của TCTK
Về cơ bản, chuẩn nghèo của TCTK được xác định dựa trên cách tiếp cận của
WB, gồm hai mục: mức nghèo lương thực, thực phẩm và mức nghèo chung
Mức nghèo lương thực, thực phẩm: đây là chuẩn nghèo tính theo thu nhập bình quân theo người/tháng
Mức nghèo chung: dựa trên mức chỉ tiêu bình quân đầu người/tháng làm căn cứ đánh giá chuẩn nghèo
Trang 18+ Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản:
Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin
Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận dịch vụ y tế; BHYT; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin
Điều 2 Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho
giai đoạn 2016 – 2020
Hộ nghèo:
+ Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
Có mức thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống
Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 – 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
+ Khu vực thành thị: là hộ đáo ứng một trong hai tiêu chí sau:
Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống
Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 – 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
Trang 19Hộ cận nghèo:
+ Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 – 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản
+ Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000
- 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản
1.1.1.2 Những ảnh hưởng của đói nghèo đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
- Ảnh hưởng đến phát triển kinh tế:
+ Nghèo đói đi liền với lạc hậu, chậm phát triển, là trở ngại lớn đối với sự phát triển kinh tế Nói cách khác, xóa đói giảm nghèo là tiền đề của sự phát triển Sự phát
triển KT - XH vững chắc gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội là nhân tố đảm
bảo thành công cho công tác xóa đói giảm nghèo
+ Nghèo đói làm lực lượng sản xuất chậm phát triển, kỹ thuật lạc hậu, phân công lao động xã hội có trình độ thấp kém dẫn đến năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế luôn ở mức thấp
+ Thiếu thu nhập cho chi dùng vật chất tối thiểu, nhu cầu văn hóa tinh thần dẫn đến thiếu điều kiện tái sản xuất lao động xã hội, từ đó thiếu nguồn nhân lực có chất lượng, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao vì lao động khiếm khuyết về mọi mặt (trình độ chuyên môn, trình độ văn hóa, thể lực, kinh nghiệm…)
+ Nước nghèo luôn thua thiệt trong cạnh tranh kinh tế khi sản phẩm làm ra chất lượng thấp, giá thành cao, hàng xuất khẩu hầu hết là sản phẩm thô, lợi nhuận thấp
+ Những nước nghèo tăng trưởng kinh tế với tốc độ rất chậm nên không có vị thế trong đàm phán và ký kết với các nhà đầu tư nước ngoài
Trang 20Từ đó nước nghèo trở nên bị lệ thuộc và thua thiệt về kinh tế, tiếng nói và vai trò của nước nghèo trên diễn đàn quốc tế ít được chú ý
- Ảnh hưởng đến văn hóa:
Từ nghèo đói kinh tế dẫn đến nghèo đói về văn hóa
+ Thứ nhất, do nghèo đói, thiếu thu nhập mà người nghèo chỉ quan tâm chủ yếu đến các nhu cầu thiết yếu như ăn, mặc, ở… cho nên thiếu sự quan tâm, thiếu điều kiện để tiếp cận với các dịch vụ văn hóa, giải trí, các chương trình biểu diễn văn nghệ
Từ đó dẫn đến đời sống tình thần giảm sút Vấn đề giáo dục ít được các gia đình chú trọng, con em buộc phải nghỉ học đi làm để tăng thêm thu nhập cho gia đình
+ Thứ hai, cũng vì nghèo nên mục tiêu phấn đấu là đạt tới sự giàu có Nhưng
sự giàu có chỉ đơn thuần về vật chất, kinh tế mà thiếu đi sự quan tâm đến văn hóa, tinh thần sẽ dẫn tới nguy cơ lao vào lối sống thực dụng, sùng bái đồng tiền, tăng nguy cơ
phát triển cái ác, cái xấu, làm nghèo nàn, biến dạng đi cái chân - thiện - mỹ Nếu tình
trạng này xảy ra ở giới trẻ thì nó sẽ tạo ra một lớp người lố lăng, lai căng, nghèo nàn, cằn cỗi về văn hóa và nhân cách
Do đó, trong quá trình thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo cần phải chú trọng đến nguy cơ và tác hại của đói nghèo tới văn hóa
- Ảnh hưởng đến chính trị - xã hội:
Nghèo đói về kinh tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các mặt của xã hội và chính trị, từ
đó tác động xấu trở lại đến kinh tế Nghèo đói làm cho con người ta lâm vào ngõ cụt, từ
đó phát sinh ra những hiện tượng trộm cắp, cướp giật, ma túy, mại dâm… đạo đức bị suy thoái, an ninh xã hội không được đảm bảo tới một mức độ sẽ dẫn đến rối loạn xã hội Vấn
đề đói nghèo không được chú trọng giải quyết, tỷ lệ và cấp độ nghèo đói ngày càng tăng cao, người nghèo sẽ bất mãn với chế độ, chính quyền, từ đó sinh ra bạo loạn, dẫn đến khủng hoảng chính trị, trật tự an toàn xã hội không được đảm bảo
Có thể nói rằng nghèo đói và lạc hậu là hai bạn đồng hành, là xiềng xích trói buộc các nước nghèo, là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay mà mỗi quốc gia, dân tộc và cộng đồng quốc tế cần phải hợp lực để cùng nhau giải quyết
1.1.2 Xóa đói giảm nghèo
1.1.2.1 Định nghĩa
Chính sách xóa đói giảm nghèo là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, giải pháp
và công cụ mà nhà nước sử dụng để tác động đến các chủ thể kinh tế xã hội nhằm giải
Trang 21quyết vấn đề nghèo đói thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, từ đó xây dựng một xã hội tốt đẹp
1.1.2.2 Xóa đói giảm nghèo và an sinh xã hội
Mối quan hệ giữa XĐGN với ASXH thể hiện qua 4 yếu tố sau:
- Thứ nhất, xóa đói giảm nghèo là một phần quan trọng nằm trong chính sách
ASXH mỗi quốc gia Cùng với bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội, các chương trình xóa đói giảm nghèo tạo ra một tấm lưới toàn diện bảo vệ cho các thành viên trong xã hội Nếu như BHXH hướng tới đối tượng là người lao động, cứu trợ xã hội hướng tới những người khó khăn và bị tổn thương trong cuộc sống, ưu đãi xã hội hướng tới những người có công với nước thì xóa đói giảm nghèo hướng tới một diện bảo vệ quan trọng dễ bị tổn thương nhất trong cuộc sống đó là tất cả người nghèo
- Thứ hai, xóa đói giảm nghèo góp phần đảm bảo ASXH một cách lâu dài và
bền vững Mặc dù BHXH là một chính sách ASXH lớn nhưng thực tế cho thấy đối tượng được hưởng lợi từ bảo hiểm xã hội chủ yếu là tầng lớp dân cư có thu nhập bậc trung chứ không phải người nghèo Còn với chính sách cứu trợ xã hội, mặc dù người nghèo là một trong những diện được hưởng nhiều nhưng các trợ giúp này( trừ một số trợ cấp dài hạn) thường có tính chất tức thì và ngắn hạn
- Thứ ba, xóa đói giảm nghèo, xét về lâu dài góp phần làm giảm gánh nặng cho
hệ thống ASXH thông qua việc thu hẹp đối tượng cần trợ cấp ASXH Khi tỉ lệ người nghèo giảm xuống tất yếu sẽ có ít người hơn cần trợ giúp của chính sách ASXH
- Cuối cùng, xóa đói giảm nghèo tạo điều kiện cho chính sách ASXH tăng chất
lượng hoạt động thông qua việc tăng mức trợ cấp ASXH Khi đói nghèo giảm và xã hội giàu có hơn, các quỹ ASXH sẽ dồi dào hơn trong khi các đối tượng cần trợ cấp ASXH cũng giảm Vì vậy, người nghèo nói riêng và những người gặp khó khăn nói chung có điều kiện để nhận mức trợ cấp ASXH tốt hơn
1.1.2.3 Các chương trình xóa đói giảm nghèo
Các chương trình xóa đói giảm nghèo có thể chia ra làm 3 nhóm chính:
- Nhóm các biện pháp tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất tăng thu nhập:
+ Tín dụng ưu đãi cho người nghèo
+ Hỗ trợ đất sản xuất
+ Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu
+ Chương trình khuyến nông, lâm, ngư
Trang 22+ Các chương trình hỗ trợ khác (tùy điều kiện cụ thể của mỗi nước)
- Nhóm các biện pháp tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản:
+ Hỗ trợ về y tế cho người nghèo
+ Hỗ trợ người nghèo vè giáo dục
+ Hỗ trợ người nghèo về nhà ở
+ Hỗ trợ các dịch vụ về nước sạch và vệ sinh
- Nhóm các biện pháp mở rộng mạng lưới ASXH đến với người nghèo
1.1.2.4 Nguồn tài chính XĐGN
Nguồn tài chính xóa đói giảm nghèo thông thường bao gồm:
- Ngân sách nhà nước (ngân sách trung ương và ngân sách sách địa phương): Phần chi tiêu này của ngân sách nhà nước là chi tiêu công Đây là một trong những can thiệp quan trọng của nhà nước nhằm làm giảm bất cập của kinh tế thị trường là sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo, đảm bảo công bằng xã hội
- Huy động cộng đồng: Nguồn tài chính này có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây Nó thể hiện tính cộng đồng và tình tương thân tương ái giữa các thành viên trong xã hội
- Huy động quốc tế: Trong nền kinh tế mở toàn cầu hóa, xóa đói giảm nghèo không phải chỉ là việc riêng của các nước nghèo, đang phát triển, mà là nhiệm vụ toàn cầu
- Vốn tín dụng: Đây chính là các khoản vay vốn tín dụng ưu đãi cho người nghèo, để người nghèo có các khoản vốn để đầu tư sản xuất, có điều kiện nâng cao thu nhập và thoát nghèo
Tùy vào điều kiện cụ thể của từng nước mà vai trò của từng nguồn vốn là khác nhau Nhưng nhìn chung ngân sách nhà nước và vốn tín dụng là nguồn tài chính chủ yếu của chính sách xóa đói giảm nghèo Cùng với đó sự giúp đỡ của cộng đồng và quốc tế cũng góp phần không nhỏ vào việc xóa đói giảm nghèo giúp cho những người nghèo có cơ hội thoát nghèo
1.1.2.5 Mục tiêu Thiên niên kỷ và XĐGN
Tuyên bố Thiên niên kỷ với 8 mục tiêu:
- Xóa bỏ tình trạng cùng cực và thiếu đói
- Đạt phổ cập giáo dục tiểu học
- Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế phụ nữ
- Giảm tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh
- Tăng cường sức khỏe bà mẹ
Trang 23- Phòng chống bệnh HIV/AISD, sốt rét và các bệnh khác
- Đảm bảo bền vững môi trường
- Thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu vì mục đích phát triển
Những mục tiêu Thiên niên kỷ này mang kết quả trực tiếp và gián tiếp xóa đói giảm nghèo một cách bền vững bởi nguy cơ đói nghèo, tái đói nghèo đều có thể xảy ra trong những biến cố của môi trường thiên nhiên, của quá trình hội nhập và phát triển Một quốc gia khi không giải quyết dứt điểm xóa đói giảm nghèo thì luôn ẩn chứa nguy
cơ phát triển không bền vững dẫn đến những hậu quả bất ổn định kinh tế - xã hội
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Khái quát thực trạng xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
Việt Nam được xếp vào nhóm các nước nghèo trên thế giới Báo cáo do Diễn đàn kinh tế Thế giới (WEF) công bố cho thấy, dân số Việt Nam tính đến cuối năm
2010 đạt khoảng 89 triệu người và có tổng thu nhập quốc nội khoảng 103,6 tỷ USD, tương đương 0,37% GDP toàn cầu Tính trung bình thu nhập bình quân đầu người đạt 1.174 USD/năm Con số này được xem là một bước tiến lớn trong những năm gần đây khi giúp Việt Nam bước vào ngưỡng thu nhập trung bình Song Việt Nam vẫn nằm trong các nhóm nước thu nhập thấp ở Châu Á (theo đánh giá của IMF và WB) cùng với các nước như: Campuchia, Lào, Mông Cổ, Nê pan, Băng la đét
Theo tiêu chí của Ngân hàng thế giới, các quốc gia có thu nhập dưới 876 USD/người/năm thuộc nhóm “đáy”, từ 876 đến 3.465 USD là nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp Như vậy, việc Việt Nam vượt qua mốc 1000 USD/năm đó là ranh giới đầu tiên để khẳng định chúng ta đã vượt nhóm “đáy” - các nước nghèo nàn lạc hậu nhất thế giới - để bước vào nhóm thứ hai: Nhóm các nước có thu nhập trung bình
Nghèo đói phổ biến ở những vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa và những vùng đặc biệt khó khăn
Những năm gần đây công cuộc giảm nghèo đã có những thành tựu nhất định nhưng còn rất mong manh Thu nhập của đại bộ phận dân cư vẫn nằm giáp ranh mức nghèo vì vậy chỉ cần một điều chỉnh nhỏ về ngưỡng nghèo cũng làm họ rơi xuống ngưỡng nghèo và làm tăng tỉ lệ nghèo Phần lớn thu nhập của người nghèo là từ nông nghiệp Bên cạnh đó nông nghiệp lại mất mùa thất thường, chịu ảnh hưởng lớn của thời tiết
Đa số người nghèo sống ở khu vực khí hậu khắc nghiệt, tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn như vùng núi, vùng sâu, vùng xa như Tây bắc, Đồng Bằng Sông Cửu Long, Miền Trung do ảnh hưởng của thời tiết (bão, hạn hán, lũ lụt, lũ quét…) khiến cho đời
Trang 24sống của nhân trong quá trình sản xuất gặp nhiều khó khăn Đặc biệt với cơ sở hạ tầng kém phát triển của các vùng này khó khăn lại chồng lên khó khăn, từ đó dần dần các vùng này cũng có sự tách biệt với các vùng khác Năm 2000 khoảng 20 - 30% trong tổng số
1870 xã đặc biệt khó khăn chưa có đường dân sinh đến trung tâm xã, 40% số xã chưa đủ phòng học, 5% số xã chưa có trạm y tế, 55% số xã chưa có nước sạch, 40% số xã chưa có đường điện đến trung tâm xã, 20% chưa có chợ xã hoặc cụm xã Nghèo đói là hiện tượng phổ biến ở nông thôn, miền núi, có đến 90% số hộ nghèo sống ở nông thôn
Công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam: Số hộ nghèo còn nhiều và phần lớn ở vùng nông thôn, số hộ ở cận kề chuẩn nghèo còn đông Sự phân hóa giàu nghèo, giữa các khu vực nông thôn và thành thị, giữa các vùng kinh tế và giữa các đơn vị hành chính đang tồn tại với khoảng cách tương đối lớn, có xu hướng tăng Sự bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư khá rõ nét, các hộ nghèo ít có cơ hội tiếp nhận đối với giáo dục,
y tế, việc làm và các hoạt động văn hóa, tinh thần so với các hộ giàu Nghèo ở nước ta
do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu kiến thức, kinh nghiệm, bên cạnh đó còn do rủi ro và tệ nạn xã hội Với chủ trương, chính sách xóa đói giảm nghèo đúng đắn của Đảng và Nhà nước, việc thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo mang lại những kết quả to lớn, mang tính xã hội cao Giảm nghèo là một quá trình thường xuyên, liên tục, cần khắc phục những tồn tại, yếu kém chủ quan, đồng thời xác định và giải quyết những khó khăn trước mắt và lâu dài
Các giải pháp giảm nghèo cần đồng bộ, kết hợp hài hòa lợi ích của người nghèo, cộng đồng và đất nước Các giải pháp cần hướng tới giảm nghèo bền vững trên
cơ sở sự vận động của chính các hộ nghèo với sự trợ giúp và trách nhiệm của cộng đồng và xã hội
Thành tích xóa đói giảm nghèo mà Việt Nam đã đạt được: Tỷ lệ người nghèo, tính theo chuẩn nghèo quốc tế, đã giảm liên tục từ 60% năm 1990 xuống 58% năm
1993, 37% vào năm 1998, 32% năm 2000, 29% năm 2002 và còn 18,1% năm 2004 Năm 2006 có khoảng 10,8% số hộ được xếp vào loại thiếu ăn theo chuẩn quốc tế Căn
cứ vào chuẩn nghèo quốc gia do Bộ LĐTB&XH ban hành, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ hơn 30% năm 1990 xuống còn xấp xỉ 17% năm 2001 Số hộ nghèo của năm 2004 là 1,44 triệu hộ đến năm 2005 chỉ còn 1,1 triệu hộ Như vậy tỷ lệ hộ nghèo năm 2005 đã giảm khoảng 50% so với năm 2000 Tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam giảm nhanh, từ 17,2%
Trang 25năm 2001 xuống 6,3% năm, bình quân mỗi năm giảm được 30.000 hộ, đạt được mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng thứ VIII và IX đề ra
Những tồn tại trong công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam: Tốc độ giảm nghèo không đồng đều giữa các vùng, miền và đang có xu hướng chậm lại Bất bình đẳng trong thu nhập giữa các vùng Chênh lệch giữa các nhóm thu nhập giữa các nhóm giàu và nhóm nghèo có xu hướng gia tăng
1.2.1.1 Tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam giảm nhanh:
Ông Zia Qurechi, đặc phái viên của Ngân Hàng thế giới khẳng định, “Việt Nam
đã có tốc độ phát triển kinh tế đáng khâm phục và trở thành một quốc gia xuất sắc trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo”
Đó là những nhận xét được đưa ra tại Lễ công bố báo cáo giám sát toàn cầu ngày 19/5/2008 tại Hà Nội: Các mục phát triển Thiên nhiên kỷ và Môi trường do Ngân hàng thế giới tổ chức
Ước tính có khoảng 28 triệu người đã thoát nghèo trong hai thập kỉ qua Kết quả này đã giúp Việt Nam hoàn thành trước thời hạn một trong những mục tiêu phát triển thiên nhiên kỷ quan trọng nhất và do đó đã có được cộng đồng quốc tế ghi nhận
và đánh giá cao
Nhìn lại thời gian qua cho thấy những thành tựu đã đạt được trong công cuộc giảm nghèo tại Việt Nam thực sự là rất ấn tượng Tăng trưởng kinh tế bền vững trên diện rộng trong suốt hai thập kỷ qua đã cải thiện chất lượng cuộc sống cho hầu hết tất cả người dân Theo tính toán của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ nghèo tính theo chuẩn nghèo quốc tế đã giảm liên tục từ 58% năm 1993 xuống còn 37,4% năm 1998, 28,9% năm
2002, 16% năm 2006, 14,5% năm 2008 và đến năm 2011 tỷ lệ này chỉ còn lại 12%
Bảng 1.1 Tỉ lệ đói nghèo Việt Nam giai đoạn 1998-2015
Trang 26Căn cứ vào chuẩn nghèo quốc gia do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ năm 1998 đến 2004, đã giảm từ 15,6% xuống còn 8,3% (giảm 7,3% trong 6 năm) Trong các năm 2007 - 2009, cùng với sự khó khăn của nền kinh tế, tỷ lệ hộ nghèo có giảm chậm, cho đến năm 2009 cả nước Việt Nam hiện có khoảng 2 triệu hộ nghèo, chiếm 11% dân số và đến năm 2010 là 9,45%, năm 2015 là 4,5%
1.2.1.2 Tốc độ giảm nghèo không đồng đều
Theo chuẩn nghèo của chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia, đầu năm
2001 có khoảng 2,8 triệu hộ nghèo, chiếm 17,2% tổng số hộ nghèo cả nước, chủ yếu tập trung vào các vùng nông thôn Các vùng nông thôn miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỷ lệ nghèo cao hơn số trung bình này nhiều Có tới 64% số người nghèo tập trung ở vùng núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung Cũng theo chuẩn nghèo quốc gia năm 2002 còn 12,9% hộ nghèo và tỷ lệ nghèo lương thực ước lượng 10,87%
Mặc dù việc giảm nghèo diễn ra nhanh đối với cả hai nhóm dân cư ở nông thôn
và thành thị, song tỷ lệ nghèo ở nông thôn (66,4% năm 1993 và 3,3% năm 2008) vẫn cao hơn đáng kể so với tỷ lệ nghèo ở thành thị (25,1% năm 1993 và 3,3% năm 2008) Cũng có sự chênh lệch giữa các vùng miền, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng
là những nơi giảm nghèo diễn ra nhanh hơn hẳn so với các vùng khác, với kết quả là tỷ
lệ nghèo giảm xuống chỉ còn một con số là 3,5% ở Đông Nam Bộ và 8,1% ở Đồng bằng sông Hồng vào năm 2008 Giảm nghèo diễn ra chậm nhất ở vùng Tây Bắc là nơi
có nhiều người dân thuộc nhóm đồng bào người dân tộc thiểu số sinh sống và có mức
độ kết nối thấp với thị trường toàn quốc, dẫn đến tỷ lệ nghèo vẫn còn ở mức cao là 45,7% năm 2008, giảm từ mức 81% của năm 1993 Nằm giữa hai nhóm này là các vùng Đông Bắc, Tây Nguyên và Bắc Trung Bộ với tỷ lệ nghèo vào năm 2008 tương tự nhau (tương ứng là 24,35, 24,1% và 22,6%), và đều cao hơn đáng kể so với cùng Nam Trung Bộ (13,7%) Cũng vẫn còn có sự chênh lệch đáng kể trong nội bộ mỗi nhóm dân cư Cụ thể, trong nhóm đồng bào các dân tộc thiểu số, tỷ lệ nghèo vẫn còn ở mức cao tới 83,4% đối với đồng bào Kinh, Hoa
Đến năm 2011, toàn quốc có 2.580.885 hộ thuộc diện hộ nghèo, chiếm 11,76%; 1.530.925 hộ cận nghèo, chiếm 6,98%
Trang 27Bảng 1.2 Tỉ lệ hộ nghèo và cận nghèo các khu vực trên toàn quốc năm 2011
(Đơn vị: %)
1.2.1.3 Kết quả xóa đói giảm nghèo chưa bền vững
Cho đến năm 2009, theo chuẩn nghèo trên, cả nước Việt Nam hiện còn 2 triệu
hộ nghèo, chiếm 11% dân số Tuy nhiên, trên diễn đàn quốc hội Việt Nam rất nhiều đại biểu cho rằng tỉ lệ hộ nghèo giảm không phản ánh thực chất vì số nghèo trong xã hội không giảm, thậm chí còn tăng do tác động của lạm phát (khoảng 40% kể từ khi ban hành chuẩn nghèo đến nay) và do suy giảm kinh tế Chuẩn nghèo của Việt Nam hiện nay là gồm những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 - 260.000 đồng/người/tháng Mặc dù vậy, nhiều hộ gia đình vừa thoát nghèo vẫn rơi vào tình trạng nghèo đói
- Bất bình đẳng trong thu nhập: Tỷ lệ hộ nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu
số trong tổng số hộ nghèo của cả nước có chiều hướng tăng từ 21% năm 1992 lên 36% năm 2005 Tỷ lệ hộ nghèo tập trung chủ yếu ở những vùng khó khăn, có nhiều yếu tố bất lợi như điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, kết cấu hạ tầng kém, trình độ dân trí thấp, trình độ sản xuất manh mún, sơ khai Ngoài ra, xuất hiện một số đối tượng nghèo mới
ở những vùng đang đô thị hóa và nhóm lao động nhập cư vào đô thị, họ thường gặp khó khăn hơn và phải chấp nhận mức thu nhập thấp hơn lao động sở tại Đây là những điều kiện cơ bản làm gia tăng yếu tố tái nghèo và tạo ra sự không đồng đều trong tốc
độ giảm nghèo giữa các vùng
- Chênh lệch giữa các nhóm: thu nhập giữa các nhóm giàu và nhóm nghèo có
xu hướng gia tăng, trong những năm gầy đây, chênh lệch về thu nhập giữa 20% nhóm giàu và 20% nhóm nghèo từ 4,3 lần năm 1993 lên 8,14 lần năm 2002, tăng lên 13,5 lần năm 2004; Mức độ nghèo còn khá cao, thu nhập bình quân của nhóm hộ nghèo ở nông
Trang 28thôn chỉ đạt 70% mức chuẩn nghèo mới Sự gia tăng khoảng cách giàu - nghèo sẽ làm tình trạng nghèo tương đối trở nên gay gắt hơn, việc thực hiện các giải pháp để giảm nghèo sẽ càng khó khăn hơn
Phần đông người nghèo ở Việt Nam sống trong hoàn cảnh bị tách biệt về mặt địa lý, dân tộc, ngôn ngữ, xã hội và kinh tế Kinh nghiệm của các nước khác cho thấy rằng lợi ích thực sự của tăng trưởng kinh tế ít đến được với các nhóm người chịu thiệt thòi này Nghèo không chỉ đơn giản là mức thu nhập thấp mà còn thiếu thốn trong việc tiếp cận dịch vụ, như giáo dục, văn hóa thị trường kinh doanh thuận lợi Mức nghèo còn là tình trạng đe dọa bị mất những phẩm chất quý giá, đó là lòng tin và lòng tự trọng
Báo cáo quốc gia đầu tiên của Việt Nam về tiến độ thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, được công bố tháng 9 năm 2005 và phát biểu tại Hội Nghị Thượng Đỉnh thế giới năm 2005, cho thấy tình trạng chênh lệch và bất bình đẳng xã hội giữa các vùng, giới tính và nhóm dân cư đang ngày càng tăng
1.2.1.4 Tốc độ giảm nghèo của nhóm dân tộc thiểu số còn chậm
Theo thống kê, trong khi tỉ lệ nghèo chung đã giảm đáng kể từ 14,5% năm
2010, thì tốc độ giảm nghèo đáng kể ở các nhóm dân tộc thiểu số chậm hơn nhiều so với các nhóm dân tộc đa số Năm 2012, trên 50% người dân tộc thiểu số vẫn đang sống dưới chuẩn nghèo chung, trong đó có tới 31% nghèo về lương thực Tiến độ giảm nghèo ở dân tộc thiểu số trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, nước sạch, vệ sinh và nhà ở còn chậm so với mức bình quân cả nước
Trong vòng 15 năm, tỉ lệ nghèo đói của người Kinh giảm 5 lần, so với mức giảm chỉ 1,6 lần ở các dân tộc thiểu số Năm 1993, 22% người nghèo thuộc nhóm các dân tộc thiểu số không phải người Kinh; năm 2006, các dân tộc thiểu số chiếm 44% và 59% số người đói - tức là người sống dưới chuẩn nghèo theo thu nhập
Bất bình đẳng về tiêu dùng ngày càng tăng theo thời gian Năm 1998, mức tiêu dùng của người Kinh cao hơn 51% so với các dân tộc khác và khoảng cách này đã tăng lên 74% so với năm 2006 Khoảng cách này còn lớn hơn nữa ở các nấc thang trên, những người rất giàu trước hết là người Kinh
1.2.1.5 Nguyên nhân dẫn tới đói nghèo ở Việt Nam
Có nhiều quan điểm về nguyên nhân gây ra nghèo đói ở Việt Nam nhưng nói chung nghèo đói ở Việt Nam có nhiều nguyên nhân khách quan và nguyên chủ quan
a Nguyên nhân khách quan:
Trang 29Thứ nhất, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, thiên tai thường xuyên xảy ra đặc biệt
là bão, lũ lụt, hạn hán, cháy rừng ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân Trung bình 10 cơn bão trên một năm lại thêm lũ lụt hạn hán, mưa đá, cháy rừng, những cơn lốc xảy ra thường xuyên ở nhiều vùng đã là nguyên nhân cơ bản làm cho khoảng 2 triệu người nghèo đói hàng năm Tác hại của của bão, lũ lụt, hạn hán là rất lớn, nó luôn là kẻ thù đồng hành với những người nghèo đói, nó có thể cướp đi cả tính mạng sống và tiền của con người Rất nhiều vùng và tỉnh đang trù phú nhưng chỉ sau một trận thiên tai gây ra như lụt bão thì hàng nghìn hộ lại rơi vào cảnh thiếu đói, các công trình công cộng, các cơ sở sản xuất và hạ tầng bị phá hỏng
Thứ hai, môi trường không thuận lợi, cơ sở hạ tầng kém nhưng không có thị
trường, thị trường hoạt động yếu ớt hay thị trường không đầy đủ cũng ảnh hưởng đáng
kể đến tình trạng đói nghèo của các hộ gia đình Những hộ ở đây không phải ai cũng được sử dụng điện Hệ thống tưới tiêu còn hạn chế, rất nhiều nơi chưa có trạm bơm Việc tiếp cận với nước sạch (nước máy) gần như không có, ngay cả nước giếng vẫn còn hạn hẹp, rất nhiều hộ còn đang dùng nước sông, suối, nước mưa… Trong sản xuất trồng trọt, khó khăn lớn nhất là hệ thống kênh mương chưa phát triển nên không đủ nước tưới cho cây trồng, đặc biệt là cho lúa và hoa mầu Hiện nay ở nhiều nơi hệ thống kênh mương, cống đập, trạm bơm chủ yếu vẫn còn tạm bợ, chưa kiên cố, có nơi xuống cấp nghiêm trọng tác động trực tiếp đến việc giảm sản lượng năng suất cây trồng
Về vấn đề cơ sở hạ tầng (như đường giao thông, điện, trường học, trạm y tế, bệnh viện, bưu điện, chợ huyện ), thị trường (lao động, vốn, hàng hoá) vẫn còn kém phát triển Đặc biệt là các nhóm dân tộc thiểu số càng có ít cơ hội tiếp cận với những dịch vụ trên ngân hàng Điều này có thể thấy rõ ở các vùng không có đường giao thông hoặc giao thông đi lại khó khăn thì hầu như chưa có thị trường hoặc thị trường hoạt động quá yếu ớt Nó đồng nghĩa với việc họ bị đặt ra ngoài quá trình phát triển kinh tế của đất nước
Thứ ba, Nhân tố chiến tranh có liên quan mật thiết đến yếu tố vị trí địa lý
Những vùng trước đây là chiến tranh tàn phá nặng nề thì môi trường sống ở đây vẫn chưa được phục hồi được hoàn toàn, đặc biệt các chất độc màu da cam, điôxin do đế quốc Mỹ sử dụng trong cuộc chiến tranh đã để lại di chứng nặng nề về môi trường và con người Việt Nam
b Nguyên nhân chủ quan:
Thứ nhất, sai lệch thống kê: do điều chỉnh chuẩn nghèo của Chính phủ lên cho
gần với chuẩn nghèo của thế giới (1 USD/ngày) cho các nước đang phát triển làm tỷ lệ nghèo tăng lên
Trang 30Thứ hai, Việt Nam là nước nông nghiệp đến năm 2015 vẫn còn 42,4% dân sống ở
nông thôn trong khi tỉ lệ đóng góp của nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc gia thấp
Thứ ba, hạn chế của chính sách giảm nghèo: Bên cạnh những thành tựu, chính
sách giảm nghèo vẫn còn nhiều hạn chế Điểm nổi bật thiếu vững chắc, tỷ lệ hộ nghèo, tái nghèo còn cao, đặc biệt là ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa Thu nhập của người nghèo chưa đáp ứng được nhu cầu mức sống tối thiểu Cách tiếp cận nghèo vật chất do đó các chính sách trong thời kỳ đầu thường theo cách tiếp cận nghèo vật chất
do đó các chính sách hỗ trợ giảm nghèo thiên về hỗ trợ trực tiếp bằng tiền mặt hoặc hiện vật hơn là tạo cơ hội và điều kiện để người nghèo tự nâng cao năng lực vươn lên thoát nghèo bền vững Cách tiếp cận đa chiều còn hạn chế do đó mức hỗ trợ về giáo dục, y tế đối với hộ nghèo còn nhỏ so với nhu cầu chi của hộ gia đình
Tác động của chính sách chưa thật sự đến được với tất cả người nghèo Một bộ phận hộ nghèo không được hưởng lợi từ các chính sách do bị hạn chế về điều kiên tham gia hoặc xác định sai, bỏ sót đối tượng hưởng
Thứ tư, việc phân phối lợi ích tăng trưởng trong các nhóm dân cư gồm cả các
nhóm thu nhập phụ thuộc vào đặc tính của tăng trưởng chưa hợp lý Thông thường, người giàu hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế nhiều hơn người nghèo và như vậy đã làm tăng thêm khoảng cách giàu nghèo giữa nội thành và ngoại thành là điều khó tránh khỏi Bên cạnh đó có sự chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng miền, giữa thành thị và nông thôn, các dân tộc thiểu số và dân tộc ít người cũng là một vấn đề nan giải cho công tác xóa đói giảm nghèo của nhà nước ta
Thứ năm, nền kinh tế phát triển không bền vững, tăng trưởng tuy khá nhưng
chủ yếu là do nguồn vốn đầu tư trực tiếp, vốn ODA, thu nhập từ dầu mỏ trong khi nguồn vốn đầu tư trong nước còn thấp Tín dụng chưa thay đổi kịp thời, vẫn còn ưu tiên cho vay các doanh nghiệp nhà nước có hiệu quả thấp, không thế chấp, môi trường
dễ bị hủy hoại, đầu tư vào con người ở mức cao nhưng hiệu quả còn hạn chế, số lượng lao động được đào tạo đáp ứng nhu cầu thị trường còn thấp
1.2.2 Khái quát thực trạng xóa đói giảm nghèo ở trung du miền núi Bắc Bộ
1.2.2.1 Thực trạng xóa đói giảm nghèo ở trung du miền núi Bắc Bộ
Vùng trung du miền núi Bắc Bộ bao gồm các tỉnh trung du và miền núi của hai vùng kinh tế: Vùng Đông Bắc Bắc Bộ và vùng Tây Bắc Với diện tích toàn vùng
Trang 31Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Ninh, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên và Hoà Bình
Theo kết quả điều tra sơ bộ của Bộ LĐTB&XH, đầu năm 2016 khu vực miền núi Tây Bắc có tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo cao nhất, chiếm tới 55%; tiếp đến là miền núi Đông Bắc có tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo là 29% Thu nhập bình quân của hộ nông thôn miền núi phía Bắc còn rất thấp (dù đã có sự tăng trưởng trong thời gian qua), chỉ đạt 2,32 triệu đồng/người/năm, bằng 65% so với mức bình quân cả nước
Mức sống trung bình của người nghèo trong vùng trung du miền núi Bắc Bộ thấp hơn nhiều so với chuẩn nghèo chung của cả nước hiện nay là 1.878.000 đồng/ người/năm So với chuẩn nghèo chung toàn quốc thì mức sống trung bình của người nghèo trong vùng chỉ bằng 45,8%, Như vậy khoảng cách nghèo tương đối so với vùng cần theo đuổi là 100.000 đồng, nhưng khoảng cách nghèo so với ngưỡng nghèo chung thì còn rất lớn, tới 54,2% tương đương 1.018.000 đồng Người nghèo vùng trung du miền núi Bắc Bộ đang sống dưới mức chuẩn nghèo quá nhiều Vì vậy đây là vấn đề cần quan tâm chung của cả quốc gia
Vùng núi trung du miền núi Bắc Bộ cơ bản được chia ra làm hai vùng Đông Bắc bộ và Tây Bắc Mức độ nghèo đói và tỷ lệ nghèo đói trong hai vùng này cũng có
Ở các vùng miền núi, nơi tỷ lệ đói nghèo còn rất cao, việc phát triển cây trồng đảm bảo an ninh lương thực của các hộ là vấn đề thiết yếu Nhờ sự hỗ trợ đầu tư của Nhà nước, của tỉnh nên tỷ lệ các hộ miền núi có thể tự túc lương thực chiếm khá lớn
Có tới trên 60% số hộ khảo sát có thể sản xuất lương thực để nuôi cả gia đình trong cả
năm Mặt khác, 11% cho rằng lương thực của họ chỉ đủ trong 6 tháng hoặc ít hơn
Trang 32Vùng có khoảng 30 dân tộc khác nhau sinh sống Các dân tộc ít người thường là các dân tộc có tỷ lệ nghèo đói cao Do tập tục sinh hoạt và sinh sống của các dân tộc thường là sống ở nơi heo hút ít người hoặc nơi có độ cao mà họ cho là phù hợp với văn hóa và đời sống của họ Song đó lại là nơi gây nhiều khó khăn cho họ trong việc cải thiện đời sống Có những dân tộc ít người sống tập trung trên một vùng sâu, đời sống của toàn bộ dân tộc trong tình trạng nghèo
1.2.2.2 Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo của một số tỉnh miền núi Bắc Bộ
a Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo ở Quản Bạ - Hà Giang
- Quản Bạ - Hà Giang đã quán triệt thực hiện tốt chương trình XĐGN giai đoạn
2006-2010, các chủ trương chính sách của tỉnh về XĐGN Tập trung chỉ đạo, thực hiện
có hiệu quả chương trình XĐGN trên địa bàn huyện, đặc biệt chú trọng tập trung ở các
xã có tỉ lệ cao, phấn đấu mỗi năm giảm 7% hộ nghèo; theo dõi đôn đốc các cơ quan chức năng, các xã, thị trấn triển khai chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt vào sản xuất, phát huy nội lực điều kiện tự nhiên kinh tế của từng địa bàn, tăng cường công tác thâm canh chuyển giao kĩ thuật vào sản xuất
- Chú trọng bồi dưỡng, tập huấn cho các bộ khuyến nông cơ sở, hoàn chỉnh mạng lưới khuyến nông thôn bản Tiếp tục duy trì và thực hiện chủ trương tri thức trẻ tình nguyện về các xã nghèo, tạo điều kiện thuận lợi để họ yên tâm công tác lâu dài tại địa phương
- Tiếp tục phát động mạnh mẽ sâu rộng phong trào đóng góp xây dựng quỹ XĐGN của huyện, ủng hộ quỹ “vì người nghèo”
- Đẩy mạnh công tác xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, triển khai thực hiện tốt
- Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức và trách nhiệm XĐGN trong các cấp, các ngành và chính bản thân người nghèo, các cách làm có hiệu quả với địa phương
Trang 33b Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo ở Yên Bái
Thành công trong công tác xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Yên Bái đã được Nhà nước cũng như nhiều tổ chức quốc tế ghi nhận, trong đó hiệu quả nhất là ở vùng sâu, vùng xa, những vùng người dân tộc thiểu số sinh sống Những bài học được rút ra từ thực tế công tác xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Yên Bái có thể tổng kết lại như sau:
- Thực hiện chủ trương tăng trưởng kinh tế đi đôi với xóa đói giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế nhanh để tạo nguồn lực tài chính cho công cuộc xóa đói giảm nghèo tại địa phương
- Đầu tư cho hệ thống cơ sở hạ tầng để góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân Xây dựng mới hoặc sửa chữa, kiên cố hóa đường giao thông để tạo thuận lợi cho việc đi lại của người dân và lưu thông hàng hóa Xây trường tiểu học, trung học cơ sở, thu hút trên 90% trẻ em tiểu học và 70% trẻ em trung học cơ sở trong
độ tuổi đến trường Trạm y tế từ cấp xã có y sỹ phục vụ khám chữa bệnh, trang thiết bị được đầu tư cơ bản, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân
- Xác định loại cây trồng mũi nhọn cho từng huyện, xã và khuyến khích bà con tận dụng, khai thác tối đa diện tích nương, bãi, đồi dốc thấp để mở rộng diện tích gieo trồng, từng bước hình thành các vùng chuyên canh
- Thực hiện dự án khuyến nông - lâm - ngư và phát triển sản xuất, ngành nghề xóa đói giảm nghèo, cán bộ nông nghiệp huyện xuống xã, thôn, bản tổ chức nhiều lớp tập huấn, gặp gỡ bà con, hướng dẫn kỹ thuật, giúp bà con từ bỏ tập quán canh tác cũ,
áp dụng kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp
- Đa dạng hóa và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư cho xóa đói giảm nghèo Cùng với các chương trình, dự án xóa đói giảm nghèo của Nhà nước, tỉnh Yên Bái còn chú trọng tới việc thu hút nguồn vốn từ các quốc gia, các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển châu Á, Tổ chức SIDA của Thụy Điển, JICA của Nhật Bản… Từ các nguồn vốn này, tỉnh Yên Bái chủ động tổ chức thực hiện theo hướng lồng ghép dự án, coi trọng tính hiệu quả đối với từng vùng, từng điều kiện mà người dân có thể tiếp cận được dễ dàng và nhanh chóng nhất
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO VÀ CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN MƯỜNG ẢNG – TỈNH ĐIỆN BIÊN
2.1 Khái quát chung về huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên
2.1.1 Vị trí địa lí
Huyện Mường Ảng được thành lập theo Nghị định 135/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ trên cơ sơ điều chỉnh một phần diện tích và dân số của huyện Tuần Giáo cũ và chính thức đi vào hoạt từ tháng 4 năm 2007 Là huyện có địa hình phức tạp, được hình thành bởi các các dãy núi cao, sườn dốc Các dãy núi này phần lớn là núi đá vôi, rải rác khắp địa bàn huyện, nằm xen với các dãy núi đá vôi này
là những thung lũng hẹp, khá bằng phẳng Huyện nằm ở phía Đông tỉnh Điện Biên,
Đông Phía Bắc giáp huyện Tuần Giáo-Mường Chà Phía Nam giáp tỉnh Sơn La và huyện Điện Biên Đông Phía Đông giáp huyện Tuần Giáo Phía Tây giáp huyện Điện Biên Tổng diện tích tự nhiên: 44.352,2 ha
2.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
a Đặc điểm địa hình
Là huyện có địa hình chia cắt phức tạp, được hình thành bởi các dãy núi cao, sườn dốc, phần lớn các đỉnh núi có độ cao từ 1.200 - 1.600 m so với mặt nước biển Nằm xen với các dãy núi đá vôi là những thung lũng hẹp, khá bằng phẳng phân bố trải dọc theo các sông, suối trên địa bàn Tuy nhiên chỉ có một số thung lũng có diện tích trên 100 ha, còn lại các thung lũng nhỏ, hẹp, quỹ đất ruộng của huyện chỉ có trên 1.000
ha Do đặc điểm về địa hình của huyện bị chia cắt khá phức tạp nên Mường Ảng được chia thành 9 xã và 1 thị trấn
Đặc điểm địa hình ảnh hưởng rất lớn đến công tác xóa đói giảm nghèo Do địa hình chủ yếu là núi cao nên dân cư phân bố dải rác, ảnh hưởng đến việc quy hoạch dân
cư, khó khăn trong việc tiếp nhận thông tin, chính sách về XĐGN ở địa phương và của Nhà nước ban hành…
b Khí hậu
Khí hậu mang đầy đủ những đặc điểm cơ bản của khí hậu vùng núi Tây Bắc Việt Nam, đó là khí hậu nhiệt đới núi cao, có hai mùa rõ rệt đó là mùa khô và mùa mưa Vào mùa khô thời tiết thường lạnh và khô hanh, ít mưa, thỉnh thoảng có gió Lào và sương muối với tần suất thưa, cường độ nhẹ và không ổn định, trong các
Trang 35tháng 12, tháng 01 và tháng 02 thường có các đợt rét đậm và rét hại Mùa mưa nóng ẩm, mưa nhiều Lượng mưa tập trung chủ yếu vào các tháng từ tháng 5 đến tháng 9 Vào mùa mưa thỉnh thoảng có xảy ra mưa đá và lốc lớn, lượng mưa trung bình cả năm đạt khoảng 1.750 - 2.000 mm, lượng mưa phân bố không đều trong các tháng Chế độ gió phụ thuộc vào cấu trúc địa hình theo mùa Mùa hè có gió tây nam, mùa đông có gió bắc
Điều kiện khí hậu thích hợp với một số loại cây trồng như: lúa, ngô, đậu tương, lạc, bông, cà phê, cao su, trầm hương và một số loại vật nuôi như: trâu, bò, lợn, gà, dê, ngựa và các loại thủy sản khác như tôm càng xanh, cá Đây là những điều kiện thuận lợi để dân cư trong huyện phát triển đa dạng các loại sản phẩm hàng hóa khác nhau, nâng cao chất lượng cuộc sống, tăng thu nhập Tuy nhiên khí hậu núi cao rất khắc nghiệt, mùa đông lạnh giá, sương muối, sương giá, rét đậm, rét hại,… ảnh hưởng rất lớn đến sinh hoạt và đời sống nhân dân, góp phần làm gia tăng
tỉ lệ hộ nghèo của huyện
c Tài nguyên đất
Tổng diện tích tự nhiên: 44.352,2 ha
Đất nông nghiệp: 11.692 ha
Đất lâm nghiệp: 30.811 ha
Đất chưa khai thác: 91 ha
Theo tài liệu đánh giá tài nguyên đất của tỉnh Lai Châu (cũ) do Viện quy hoạch
và thiết kế nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) lập năm 2000, khu vực huyện Tuần Giáo và Mường Ảng có các nhóm đất chủ yếu: Nhóm đất phù sa ven sông suối, nhóm đất Feralit đỏ vàng và vàng nhạt, nhóm đất nâu đỏ - nâu vàng, nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ
Nhóm đất phù sa ven sông suối: nằm trong khu vực thấp, địa hình phẳng sát bờ sông - bờ suối, diện tích nhỏ, không liên tục, tập trung tại: Búng Lao, Ẳng Tở, Ẳng Cang, Ẳng Nưa, và thị trấn Mường Ảng
Nhóm đất đỏ vàng - nâu vàng trên đá phiến thạch và đá vôi: loại đất này nằm ở
C, phân bố chủ yếu ở ven chân đồi núi Hiện nay phần lớn loại đất này đã và đang bị xói mòn nên tầng canh tác khá mỏng, bị bỏ hoang hoá nhiều Phần diện tích còn lại tập trung ở các khu vực ven chân đồi hoặc các khu đồi bát úp, số đất này có độ phì cao, có tầng đất dày, tơi xốp, dễ thấm nước và thoát nước nhanh, có cấu trúc bền vững, loại đất này rất
Trang 36thích hợp với nhiều loại cây trồng, đặc biệt là các loại cây công nghiệp ngắn và dài ngày, tập trung chủ yếu tại Thị trấn Mường Ảng, xã Ẳng Nưa, Ẳng Tở, Ẳng Cang
Nhóm đất nâu đỏ - vàng nhạt trên đá phiến thạch: đây là loại đất khá phổ biến ở Mường Ảng, phân bố rải rác ở nhiều xã trên địa bàn huyện Loại đất này có tầng canh tác khá dày, thích hợp với các loại cây lương thực, cây công nghiệp và cây lâm nghiệp, phân bố nhiều ở các xã: Ẳng Cang, Mường Đăng, Ngối Cáy, Thị trấn Mường Ảng
Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ: được phân bố khá đều ở các xã trong huyện, thích hợp với các cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày
Diện tích đất canh tác của huyện phân bố nhỏ lẻ do địa hình bị chia cắt, nên ảnh hưởng rất lớn đến việc quy hoạch sử dụng đất, ảnh hưởng đến việc canh tác của nhân dân địa phương, gây khó khăn cho việc phát triển KT – XH, đầu tư phát triển nông nghiệp ở huyện này
Công tác lâm nghiệp ngày càng được giữ vững và nâng lên, cụ thể: Năm 2007 tổng diện tích rừng hiện có: 13.678,8 ha; năm 2016 diện tích hiện có 10.620 ha Trồng mới rừng sản xuất năm 2007: 198,5 ha; năm 2016 trồng mới: 356,21 ha
Trong thời gian qua, việc phát triển tài nguyên rừng của huyện đạt tỷ lệ chưa cao, hầu hết diện tích đất có rừng hiện nay đều là rừng phòng hộ (diện tích cây phân tán chiếm tỷ lệ không đáng kể) Phần lớn rừng ở Mường Ảng hiện nay có chất lượng
và trữ lượng không cao, chỉ có tác dụng phòng hộ và cung cấp chất đốt, các loại gỗ quý như: lát, lim, nghiến, pơ mu, thông hiện nay còn không nhiều Các loại động vật quý hiếm đã bị suy giảm tới mức báo động
Đất rừng: Là một huyện vùng thấp của tỉnh Điện Biên mới được thành lập từ tháng 11/2006, Mường Ảng có diện tích đất lâm nghiệp tương đối thấp so với một số huyện khác như Mường Nhé, Mường Chà, Tủa Chùa, Tuần Giáo, Điện Biên với tổng diện tích đất lâm nghiệp của toàn huyện là 25.968,2 ha chiếm khoảng 3,1% so với tổng diện tích đất lâm nghiệp của toàn tỉnh Tiềm năng về đất để duy trì và phát triển rừng của Mường Ảng là không lớn, do vậy trong thời gian tới cần đẩy mạnh việc khoanh nuôi, bảo vệ, tu bổ diện tích rừng để từng bước nâng cao hiệu quả sử dụng đất
và tăng nhanh tỷ lệ che phủ của rừng nhằm thực hiện tốt chức năng phòng hộ và phục
vụ phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện
d Thủy văn và tài nguyên nước
Huyện có hệ thống sông và suối tương đối ít và khá đơn giản Trên toàn huyện không có sông lớn Hệ thống suối của Mường Ảng bao gồm 4 con suối chính đó là:
Trang 37Suối Nậm Lạn, Nậm Lịch, Nậm Cô và Nậm Ẳng Hệ thống suối của Mường Ảng đều bắt nguồn từ các đỉnh núi cao, có độ dốc lớn, do vậy về mùa mưa thường dễ gây lũ đột ngột Nhìn chung tài nguyên nước và tiềm năng về thuỷ năng ở Mường Ảng đảm bảo cung cấp đủ nước phục vụ cho đời sống sinh hoạt của người dân và đáp ứng được nhu cầu về nước cho phần lớn diện tích lúa nước ở trong vùng Tuy vậy tại một số khu vực như Ẳng Nưa, thị trấn Mường Ảng, Xuân Lao vẫn thiếu nước vào vụ đông xuân Hiện nay huyện đã và đang tiến hành xây dựng các công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ cùng việc kiên cố hoá hệ thống kênh mương, cùng hệ thống
hồ đập như hồ chứa Ẳng Cang, kè Búng Lao
g Tài nguyên khoáng sản
Nhìn chung Mường Ảng là huyện có ít tài nguyên khoáng sản, chỉ có một số loại chủ yếu như: Mỏ cát ở xã Búng Lao, mỏ đá ở Thị trấn Mường Ảng và xã Ẳng Nưa, đất sét làm gạch ngói ở khu vực Búng Lao, Thị trấn Mường Ảng và một số xã khác trên địa bàn Với nguồn tài nguyên khoáng sản như vậy, Mường Ảng ít có cơ hội
để phát triển mạnh các ngành công nghiệp khai khoáng và công nghiệp sử dụng tài nguyên khoáng sản trên địa bàn Do vậy định hướng phát triển kinh tế của huyện trong thời gian tới đối với ngành công nghiệp cần tập trung vào đầu tư phát triển công nghiệp chế biến nông lâm sản và một số ngành công nghiệp khác
h Đặc điểm về môi trường và thiên tai
Hiện nay môi trường của huyện Mường Ảng đang bị xâm hại, diện tích rừng bị suy giảm trong một thời gian dài, hiện tượng xói mòn, sạt lở đất đai thường xảy ra vào mùa mưa, gây thiệt hại lớn đến sản xuất và cơ sở hạ tầng trên địa bàn huyện Là một huyện vùng cao của khu vực Tây Bắc, Mường Ảng cũng như nhiều huyện khác thường xuyên chịu ảnh hưởng của hiện tượng dông, mưa đá, sương muối ảnh hưởng rất lớn đến sinh hoạt và đời sống của nhân dân, khó khăn trong việc xây dựng công tác XĐGN cho địa bàn huyện
2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.3.1 Dân cư và lao động
a Quy mô và tốc độ gia tăng dân số
Đến cuối năm 2016, tổng số dân của huyện Mường Ảng là 46.507 người, trong
đó nam là 23.325 người, nữ là 23.315 người Là huyện mới thành lập nên số lượng dân
cư ở các vùng chưa được ổn định, đặc biệt ở khu vực thị trấn Mường Ảng Hiện nay dân số thành thị của huyện chiếm tỷ lệ thấp (gần 10%) so với tổng số dân của toàn
Trang 38huyện Đây là chỉ tiêu phản ánh trình độ đô thị hoá của huyện còn khiêm tốn trong thời gian qua Mường Ảng là đơn vị hành chính mới thành lập trên cơ sở được tách ra từ huyện Tuần Giáo, nền kinh tế của huyện còn kém phát triển, điểm xuất phát còn khá thấp so với một số huyện khác trong tỉnh Điện Biên Sự phát triển dân số sẽ có tác động lớn đến quá trình phát triển kinh tế và ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người
dân trên địa bàn huyện
Do vậy để góp phần tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển một cách bền vững, ngay từ bây giờ Mường Ảng cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt việc sinh đẻ có kế hoạch, đồng thời phải tiến hành việc bố trí dân cư một cách hợp lý trên cơ sở gắn với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn Qua
đó, từng bước giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên, năm 2010 tỷ lệ tăng dân số ở mức từ 1,77 - 1,78%/năm (đạt tỷ lệ tăng dân số tự nhiên vào năm 2012 với mức 1,74 - 1,75% theo mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX) và đến năm 2020 sẽ đạt mức 1,63 - 1,65%/năm với qui mô dân số năm 2010 đạt khoảng 40 - 41 nghìn người, năm 2015 đạt khoảng 43 - 43,5 nghìn người và đến năm 2020 đạt mức 46 - 46,5 nghìn người
Trên cơ sở phát triển quy mô dân số ở từng giai đoạn, huyện cần có kế hoạch bố trí dân cư theo hướng tập trung có gắn với việc bố trí phát triển đô thị cùng các trung tâm thị trấn, thị tứ và các vùng sản xuất hàng hóa tập trung Đối với khu vực thị trấn Mường Ảng, đây là trung tâm đầu não của huyện, hiện nay đã được qui hoạch khá chi tiết, do vậy cần được triển khai và giám sát việc thực hiện theo qui hoạch một cách nghiêm túc ngay từ bây giờ đối với tất cả các lĩnh vực như: Bố trí tổ chức không gian lãnh thổ, bố trí các điểm dân cư, các cơ sở sản xuất, các cơ quan hành chính, khu vui chơi giải trí… Từ năm 2015 quy mô dân số của thị trấn sẽ đạt khoảng 6000 - 7000 người và đến năm 2025 quy mô dân số ở đây sẽ đạt khoảng 12.000 - 13.000 người Đối với các khu vực: thị tứ Búng Lao, khu vực Ngối Cáy cần phải có qui hoạch phát triển cụ thể ở từng thời kỳ để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển và tạo sự ổn định về đời sống cho người dân
Đến cuối năm 2016, mật độ dân số trung bình là 105 người/km² Tỷ lệ gia tăng dân số 1,85% Tổng số lao động có việc làm trên địa bàn huyện là 28.050 người, chiếm 60,31% tổng dân số Tổng số lao động qua đào tạo là 9.860 người Số lao động được tạo việc làm mới là 700 người, giúp nâng cao tay nghề lao động, tăng thu nhập,