1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Thực trạng nhiễm ký sinh trùng đường ruột ở bệnh nhi tại bệnh viện nhi hải dương từ tháng 4 2015 – 6 2015

71 430 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiễm ký sinh trùng đường ruột KSTĐR, đặc biệt là nhiễm các loại giun sán còn rất phổ biến ở hầu hết các nước đang phát triển.. Bệnh do giun thường gặp như giun đũa, giun tóc và giun móc

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT Y TẾ HẢI DƯƠNG

NGUYỄN THỊ HẰNG

THỰC TRẠNG NHIỄM KÝ SINH TRÙNG ĐƯỜNG RUỘT

Ở BỆNH NHI TẠI BỆNH VIỆN NHI HẢI DƯƠNG

TỪ THÁNG 4/2015 – 6/2015

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP: CỬ NHÂN XÉT NGHIỆM Y HỌC

HẢI DƯƠNG, NĂM 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT Y TẾ HẢI DƯƠNG

NGUYỄN THỊ HẰNG

THỰC TRẠNG NHIỄM KÝ SINH TRÙNG ĐƯỜNG RUỘT

Ở BỆNH NHI TẠI BỆNH VIỆN NHI HẢI DƯƠNG

TỪ THÁNG 4/2015 – 6/2015

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP: CỬ NHÂN XÉT NGHIỆM Y HỌC

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TH.S NGUYỄN THỊ THANH HẢI

HẢI DƯƠNG, NĂM 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh Hải - Trưởng bộ môn Ký sinh trùng, khoa Xét nghiệm trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương Các số liệu, kết quả trong đề tài là hoàn toàn trung thực và đề tài này không trùng với bất cứ đề tài nào đã công bố

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nội dung khoa học của đề tài này

Hải Dương, ngày tháng 7 năm 2015

Sinh viên

Nguyễn Thị Hằng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên cho em xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể Ban Giám hiệu,

phòng Đào tạo, khoa Xét nghiệm cùng các thầy cô giáo trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ em

Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới

Giảng viên hướng dẫn Thạc sỹ Nguyễn Thị Thanh Hải - người đã dành

nhiều thời gian, tâm huyết và trách nhiệm của mình giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu để em có thể hoàn thành khóa luận một cách tốt nhất

Em xin cảm ơn Ban giám đốc, khoa Xét nghiệm cùng các khoa khám và

điều trị của bệnh viện Nhi Hải Dương đã hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi

cho em thực hiện đề tài này Đồng thời tại đây em xin cảm ơn các phụ huynh

bệnh nhi đã đồng ý tham gia và giúp đỡ em thu thập số liệu thuận lợi

Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng cảm ơn tới gia đình, bạn bè - những

người luôn động viên, khích lệ và ủng hộ em trong suốt thời gian qua

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do thời gian có hạn, trình độ và kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế nên đề tài khóa luận tốt nghiệp của em không thể tránh khỏi những sai sót Rất mong sự đóng góp, chỉ bảo của các thầy cô và các bạn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hải Dương, ngày tháng 7 năm 2015

Sinh viên

Nguyễn Thị Hằng

Trang 5

DANH MỤC VIẾT TẮT

1 AIDS Acquired Immuno Deficiency Syndrome (Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)

2 BN Bệnh nhân

3 Cs Cộng sự

4 E.histolytica Entamoeba histolytica

5 ELISA Enzyme-Linked ImmunoSorbent Assay

6 G.lamblia Giardia lamblia

7 GTQĐ Giun truyền qua đất

8 HIV Human Immunodeficiency Virus

(Virus gây suy giảm miễn dịch ở người)

Trang 6

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Ký sinh trùng đường ruột 3

1.1.1 Giun ký sinh đường ruột 3

1.1.2 Sán ký sinh đường ruột 5

1.1.3 Đơn bào gây bệnh đường ruột 9

1.1.4 Nấm đường tiêu hóa 11

1.2 Tình hình nghiên cứu về tình trạng nhiễm KSTĐR 12

1.2.1 Trên thế giới 12

1.2.2 Tại Việt Nam 13

CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

2.1 Đối tượng nghiên cứu 15

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 15

2.3 Phương pháp nghiên cứu 15

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: 15

2.3.2 Cỡ mẫu: 15

2.3.3 Kỹ thuật thu thập số liệu: 16

2.3.4 Công cụ thu thập số liệu: 18

2.4 Biện pháp hạn chế sai số 18

2.5 Xử lý và phân tích số liệu 18

2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 18

2.7 Biến số 18

2.8 Bảng tóm tắt nội dung nghiên cứu 20

2.9 Một số khái niệm 20

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21

3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 21

3.2 Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột ở đối tượng nghiên cứu 24

Trang 7

3.3 Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ nhiễm KSTĐR ở bệnh nhi 26

CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN 34

4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 34

4.2 Tỷ lệ nhiễm KSTĐR ở bệnh nhi 35

4.3 Một số yếu tố liên quan tới tỷ lệ nhiễm KSTĐR ở bệnh nhi 37

4.3.1 Tuổi, giới tính và nơi ở của bệnh nhi 37

4.3.2 Mối liên quan với nghề nghiệp, trình độ văn hóa của cha/ mẹ 38

4.3.3 Mối liên quan với thói quen ăn uống và thói quen rửa tay 39

KẾT LUẬN 41

KHUYẾN NGHỊ 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1.Tuổi và giới tính của bệnh nhi 21

Bảng 3.2 Nơi ở của gia đình và nghề nghiệp của cha/mẹ bệnh nhi 22

Bảng 3.3 Trình độ học vấn của cha/ mẹ bệnh nhi 22

Bảng 3.4 Thói quen ăn uống của gia đình bệnh nhi 23

Bảng 3.5 Thói quen rửa tay của gia đình bệnh nhi 23

Bảng 3.6 Tỷ lệ nhiễm các loại KSTĐR theo từng thành phần ở bệnh nhi 25

Bảng 3.7 Tỷ lệ nhiễm KSTĐR ở bệnh nhi theo nghề nghiệp của cha/ mẹ 30

Bảng 3.8 Tỷ lệ nhiễm KSTĐR ở bệnh nhi theo thói quen ăn uống của gia đình 32

Bảng 3.9 Tỷ lệ nhiễm KSTĐR ở bệnh nhi theo thói quen rửa tay 33

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ nhiễm KSTĐR ở bệnh nhi 24

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ nhiễm KSTĐR ở bệnh nhi theo tuổi 26

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ nhiễm các loại KSTĐR ở bệnh nhi theo tuổi 27

Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ nhiễm các loại KSTĐR ở bệnh nhi theo giới tính 28

Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ nhiễm KSTĐR ở bệnh nhi theo nơi ở 29

Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ nhiễm KSTĐR ở bệnh nhi theo trình độ học vấn của cha/ mẹ 31

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh do ký sinh trùng đã và đang lan rộng, gây ảnh hưởng lớn đến đời sống sức khỏe con người Ký sinh trùng là một trong những nguyên nhân chính gây ra các bệnh rối loạn tiêu hóa cũng như các vấn đề khác về sức khỏe Nhiễm

ký sinh trùng đường ruột (KSTĐR), đặc biệt là nhiễm các loại giun sán còn rất phổ biến ở hầu hết các nước đang phát triển Theo tổ chức Y tế thế giới, khoảng 1/4 dân số thế giới bị nhiễm giun sán tùy từng vùng, từng khu vực mà

tỷ lệ nhiễm có khác nhau, dao động từ 25 - 29% và phụ thuộc nhiều vào yếu tố địa lý, khí hậu, tập quán vệ sinh, trình độ dân trí, điều kiện kinh tế [1] Ở các nước khí hậu nhiệt đới rất thuận tiện cho sự sinh trưởng, phát triển của giun truyền qua đất và các nước có kinh tế chậm phát triển, điều kiện vệ sinh môi trường, hơn nữa là tập tục ăn uống sinh hoạt thì tỷ lệ nhiễm càng cao hơn

Việt Nam là nước có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc lan truyền và phát triển bệnh KST Theo số liệu điều tra của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương năm 2006 có khoảng 34 triệu người nhiễm giun đũa (44,4%), 18 triệu người nhiễm giun tóc (23,1%) và 22 triệu người nhiễm giun móc (28,6%) [1] và năm 2007 có 95% người Việt Nam mắc bệnh giun sán [12] Khí hậu nhiệt đới cùng với ý thức vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường không đảm bảo và những thói quen sinh hoạt lạc hậu chính là điều kiện thuận lợi cho bệnh nhiễm KST phát triển

Nhiễm KSTĐR là tình trạng khá phổ biến ở trẻ em tại các nước đang phát triển trong vùng nhiệt đới khí hậu nóng ẩm như Việt Nam Bệnh do giun thường gặp như giun đũa, giun tóc và giun móc/mỏ; bệnh do đơn bào đường

ruột thường gặp như Entamoeba histolytica, Giardia instestinalis,…Hậu quả

của nhiễm KSTĐR là gây hại trực tiếp tới sức khỏe của trẻ, làm cho trẻ biếng

ăn, chậm lớn, suy dinh dưỡng, thiếu máu, ảnh hưởng đến phát triển trí tuệ và

có thể tử vong do các biến chứng nguy hiểm như tắc ruột, tắc ống mật chủ, viêm đường tiêu hóa, Như vậy, trẻ em - những mầm non của đất nước lại là

Trang 11

đối tượng dễ mắc những bệnh do ký sinh trùng nhất, mang mối nguy cơ đe dọa sức khỏe cả về tinh thần lẫn thể chất, thậm chí còn đe dọa tới tính mạng của trẻ Hiện cũng đã có nhiều cuộc điều tra, nghiên cứu về nhiễm ký sinh trùng đường ruột nhưng nghiên cứu ở đối tượng là trẻ em vẫn còn khá hạn chế Bệnh viện Nhi Hải Dương hàng ngày khám và điều trị cho nhiều bệnh nhi và

số lượng bệnh nhân vẫn đang tăng lên theo tình trạng bệnh lý rối loạn tiêu hóa

với nhiều nguyên nhân khác nhau Do vậy, em thực hiện đề tài: “Thực trạng nhiễm ký sinh trùng đường ruột ở bệnh nhi tại bệnh viện Nhi Hải Dương

Trang 12

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Bệnh ký sinh trùng đường ruột là bệnh do ký sinh trùng sống trong hệ tiêu hóa gây ra, chủ yếu chúng chiếm các chất dinh dưỡng, gây tổn thương, rối loạn chức phận hệ tiêu hóa và toàn thân Các ký sinh trùng sống trong hệ tiêu hóa rất đa dạng nhưng thường gặp hai nhóm là sán và giun Ngoài ra hiện nay nhóm đơn bào và nấm cũng có xu hướng tăng nhanh, đặc biệt là ở trẻ em

1.1 Ký sinh trùng đường ruột [2], [3]

1.1.1 Giun ký sinh đường ruột

1.1.1.1 Giun đũa

- Hình thể: Giun trưởng thành hình ống, màu trắng hoặc hồng Con đực dài 15 - 20 cm, con cái dài 20 - 25 cm Trứng giun màu vàng, vỏ dày, xù xì, hình bầu dục, kích thước 45 - 75 µm

- Chu kỳ phát triển: Giun đũa sinh sản hữu tính Sau khi thụ tinh giun cái

đẻ trứng Trứng theo phân ra ngoài gặp điều kiện thuận lợi phát triển thành trứng có ấu trùng Khi trứng có ấu trùng vào đường tiêu hóa, do tác dụng co bóp của dạ dày và ruột, tác dụng của dịch vị, ấu trùng thoát vỏ xâm nhập vào mao mạch ở ruột đến tĩnh mạch mạc treo, tới tĩnh mạch cửa vào gan, lên phổi, thay vỏ và dần phát triển thành giun trưởng thành ở ruột Thời gian hoàn thành giai đoạn chu kỳ trong cơ thể khoảng 60 - 75 ngày Tuổi thọ của giun đũa khoảng 12 - 13 tháng

- Bệnh học: Giun đũa chiếm thức ăn kéo dài gây suy dinh dưỡng chậm phát triển về thể chất và tinh thần Khi ký sinh giun đũa tiết ra độc tố ascaridol

ức chế một số men tiêu hóa gây chán ăn rối loạn tiêu hóa Ký sinh ở ruột non giun đũa kích thích gây đau bụng rối loạn tiêu hóa Tại phổi gây dị ứng quá mẫn ở giai đoạn ở phổi gây tổn thương cơ học thành phế nang và phản ứng dị ứng cục bộ làm xuất hiện hội chứng Loefler: người bệnh đau ngực, khạc đờm lẫn máu, hình ảnh X.Quang thâm nhiễm phổi Ở ruột có thể gây tắc ruột hoặc

Trang 13

giun phát tán ra ống mật chủ, lên gan gây viêm nhiễm đường mật, áp xe gan, viêm ruột thừa Đôi khi viêm phúc mạc, thủng ruột do giun đũa

- Chẩn đoán: xét nghiệm phân tìm trứng XN phân trực tiếp, kỹ thuật Kato và Kato – Katz, kỹ thuật phong phú Willis

1.1.1.2 Giun móc, giun mỏ

- Hình thể: Giun móc trưởng thành có màu trắng sữa, hồng, đỏ nâu, tùy theo tình trạng hút máu Con đực dài 6 - 11 mm, con cái dài 10 - 13 cm Trứng giun móc/ mỏ hình bầu dục, kích thước 40 x 60 µm, màu xám, vỏ mỏng bên trong là khối nhân có từ 2 - 4 múi nhân Trứng nở sau 24 giờ trở thành trứng có ấu trùng

- Chu kỳ phát triển: Giun giao hợp rồi đẻ trứng Trứng theo phân ra ngoài với nhiệt độ, độ ẩm thích hợp và đủ oxy trứng sẽ phát triển thành trứng có ấu trùng sau 24 giờ Sau đó ấu trùng thoát vỏ trở thành ấu trùng sống trong đất Sau 3 - 8 ngày thành ấu trùng có khả năng lây nhiễm Khi gặp vật chủ, ấu trùng xâm nhập qua da theo đường tĩnh mạch về tim rồi tới phổi Từ các phế nang ấu trùng lên hầu họng và nuốt xuống ruột Ấu trùng dừng lại ở tá tràng

ký sinh và phát triển thành giun trưởng thành

- Bệnh học: Ấu trùng xuyên qua da có thể gây ra hiện tượng viêm da, lở loét da Nhiễm giun móc/ mỏ mất máu gây thiếu máu, viêm loét hành tá tràng

- Chẩn đoán: Xét nghiệm phân tìm trứng Với các kỹ thuật như xét nghiệm phân trực tiếp, kỹ thuật Kato và Kato - Katz, kỹ thuật phong phú Willis

1.1.1.3 Giun tóc

- Hình thể: Giun đực dài 30 - 45 mm, giun cái dài 35 - 50 mm, màu trắng Trứng giun hình bầu dục, kích thước 22 x 50 µm, hai cực có hai nút trong, vỏ dày hai lớp màu vàng sẫm hoặc màu vàng nhạt, khối nhân sẫm có hạt

- Chu kỳ phát triển: Giun tóc sinh sản hữu tính Sau khi thụ tinh, giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoại cảnh gặp điều kiện thuận lợi sẽ phát triển thành

Trang 14

trứng có ấu trùng từ 17 - 30 ngày Nếu ăn phải trứng có ấu trùng vào ruột non, ấu trùng thoát vỏ rồi di chuyển xuống đại tràng phát triển thành giun trưởng thành Thời gian phát triển ấu trùng đến giun trưởng thành khoảng 1 tháng

- Bệnh học: Có thể gây hội chứng lỵ biểu hiện đau quặn, mót rặn, phân có máu và nếu hội chứng trên kéo dài có thể gây trĩ ngoại Với số lượng giun nhiều có thể gây thiếu máu nhược sắc hoặc viêm ruột thừa

- Chẩn đoán: Xét nghiệm phân trực tiếp, kỹ thuật Kato và Kato - Katz, kỹ thuật phong phú Willis

1.1.2 Sán ký sinh đường ruột [2], [3]

1.1.2.1 Sán lá gan nhỏ

- Hình thể: SLG C.sinensis có hình lá, thân dẹt, đỏ nhạt, dài 10 - 12 mm, rộng 2 - 4 mm Trứng sán rất nhỏ, kích thước 16 - 17 µm x 26 - 30 µm, hình bầu dục, một cực có nắp, một cực phình to hơn, vàng sẫm, vỏ mỏng nhẵn, có đường viền kép Trong là khối nhân có thể có ấu trùng

- Chu kỳ phát triển: Sán đẻ trứng tại các ống mật, trứng theo mật xuống ruột và theo phân ra ngoài Trong môi trường nước trứng phát triển thành ấu trùng lông và tìm tới một số loài ốc để ký sinh và phát triển thành ấu trùng đuôi sau khi vào ốc từ 21 - 30 ngày Sau đó ấu trùng đuôi rời khỏi ốc đến các loài cá nước ngọt để phát triển thành nang ấu trùng nằm trong thịt của cá, đây

là giai đoạn nhiễm bệnh Khi ăn cá sống hoặc cá nấu chưa chín ấu trùng sẽ theo thức ăn vào đường ruột sau 15 giờ chuyển tới ống mật lên gan và sau 24 ngày phát triển thành sán trưởng thành và gây bệnh

- Bệnh học: Khởi phát với biểu hiện rối loạn dạ dày, chán ăn không tiêu, đau âm ỉ vùng gan, có thể thấy phát ban nổi mẩn Toàn phát với đau vùng gan nhiều hơn kèm thiếu máu, vàng da và cổ chướng ở giai đoạn muộn, sốt

- Chẩn đoán: Xét nghiệm phân, dịch tá tràng tìm trứng

Trang 15

1.1.2.2 Sán lá gan lớn

- Hình thể: SLGL kích thước lớn 12 x 40 mm, hình lá, thân dẹt màu trắng hoặc đỏ xám Trứng sán có kích thước lớn 80 x 150 µm, một cực có nắp và một cực tròn Nhân là khối hạt chiết quang

- Chu kỳ phát triển: Tại nơi ký sinh ống mật chủ, sán trưởng thành đẻ trứng, trứng ra ngoài theo phân rồi rơi vào môi trường nước Trong môi trường nước ở nhiệt độ 23 - 26 độ C, trứng nở thành trùng lông rồi tìm đến ốc Limnae để ký sinh và phát triển thành nhiều trùng đuôi Trùng đuôi rồi ốc tìm đếm một số thực vật sống dưới nước thích hợp để bám vào rồi phát triển thành nang trùng Nếu ăn sống thực vật này thì ấu trùng sẽ thoát khỏi vỏ rồi chui qua ruột tìm đến ống dẫn mật của gan để ký sinh và phát triển thành sán trưởng thành sau 3 tháng Sán có thể di chuyển lạc chỗ nên có thể ký sinh nhiều bộ phận

- Bệnh học: Thường gặp như viêm nhiễm gan, đường mật, dấu hiệu nhiễm trùng nhiễm độc, vàng da, đau vùng gan, gan to, rối loạn tiêu hóa

- Chẩn đoán: Xét nghiệm phân, dịch tá tràng tìm trứng sán, ELISA

1.1.2.3 Sán lá phổi

- Hình thể: SLP hình giống như hạt cà phê, màu nâu đỏ Kích thước dài 8

- 16 mm, rộng 4 - 8 mm, dầy 3 - 4 mm Vỏ có những gai nhỏ Trứng hình bầu dục, kích thước 50 - 67 µm x 80 - 100 µm Một cực có nắp màu vàng sẫm Vỏ mỏng có đường viền kép Bên trong là khối nhân chiết quang

- Chu kỳ phát triển: SLP đẻ trứng trong các phế quản, trứng theo đờm hoặc theo phân ra ngoài Trong nước, ấu trùng lông sau khi ra khỏi trứng tìm đến những loài ốc giống Melania rồi thành ấu trùng đuôi và rời ốc đến ký sinh

ở tôm, cua để phát triển thành nang trùng có khả năng lây nhiễm Nếu ăn phải nang trùng chưa chết ấu trùng sẽ tới ruột, nang trùng xuyên qua ruột lên phổi

ký sinh Sau 26 ngày sẽ phát triển thành sán trưởng thành

Trang 16

- Bệnh học: Viêm phế quản, phổi (người bệnh ho khạc máu, đau ngực, X quang hình ảnh thâm nhiễm phổi) Sán trưởng thành vào máu do vỡ động mạch phổi, sán lên não gây động kinh, nhồi máu não, hôn mê, có thể tử vong

- Chẩn đoán: Xét nghiệm đờm, phân tìm trứng, ELISA

1.1.2.4 Sán lá ruột nhỏ

- Chu kỳ phát triển: Sán trưởng thành ký sinh ở ruột, đẻ trứng và trứng theo phân ra ngoài Khi trứng rơi vào môi trường nước, trứng nở ra ấu trùng đuôi Ấu trùng đuôi xâm nhập vào cá nước ngọt, rụng đuôi phát triển thành nang trùng rồi ký sinh ở trong thịt hoặc mang cá Người hoặc động vật ăn phải cá có ấu trùng nang chưa được nấu chín, ấu trùng này chui vào dạ dày, đến ruột phát triển thành sán trưởng thành và ký sinh tại đây

- Bệnh học: Chủ yếu sán lá ruột nhỏ chiếm thức ăn, gây rối loạn hấp thu

và rối loạn tiêu hóa

- Chẩn đoán: Xét nghiệm phân tìm trứng, chẩn đoán bằng huyết thanh học

1.1.2.5 Sán lá ruột lớn

- Hình thể: SLRL hình lá, dẹt, màu hồng đỏ, dài 30 - 70 mm, rộng 14 - 15

mm, dày 0,5 - 3 mm Trứng hình bầu dục, có kích thước 75 - 90 µm x 125 -

140 µm Một đầu có nắp nhỏ, màu vàng nhạt Vỏ có đường viền đơn, bên trong là khối nhân chiết quang

- Chu kỳ phát triển: SLRL đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài Ở môi trường nước thích hợp, trứng phát triển thành trứng có ấu trùng rồi phá vỏ về phía nắp trở thành tự do tìm các loài ốc để ký sinh Sau khi vào ốc, ấu trùng chuyển thành bào ấu trùng, có hàng loạt ấu trùng đuôi Ấu trùng đuôi rời ốc, bám vào một số cây thủy sinh Người ăn phải cây này đến tá tràng ấu trùng mất vỏ và xuống ruột non phát triển thành SLRL trưởng thành

Trang 17

- Bệnh học: Niêm mạc ruột non phù nề và viêm, có thể sùi Có thể viêm hạch mạc treo Khởi phát có triệu chứng nhẹ như mệt mỏi, sức khỏe giảm sút Giai đoạn toàn phát: rối loạn tiêu hóa, nhiễm độc do độc tố sán

- Chẩn đoán: Xét nghiệm phân tìm trứng, chẩn đoán bằng kháng nguyên

1.1.2.6 Sán dây lợn

- Hình thể: Sán dây lợn trưởng thành dài khoảng 1 - 3 m, có thể tới 8 m,

cơ thể có từ 700 - 1000 đốt Trứng sán dây hình tròn đường kính 30 - 50 µm, màu vàng xám Vỏ dầy gồm có 2 lớp, giữa 2 lớp có những đường khía ngang Bên trong là khối nhân có hạt, có thể thấy 6 móc chiết quang Ấu trùng sán dây lợn còn gọi là kén, nang Ấu trùng trong tổ chức cơ có đường kính 0,7 - 0,8 cm và dài 1,5 cm Hình dạng ấu trùng giống như hạt đu đủ, mọng nước, bên trong nang là đầu sán non và lệch về 1 phía

- Chu kỳ phát triển: Trứng sán theo đốt già rụng ra khỏi cở thể sán ra ngoài theo phân Khi người hoặc lợn ăn phải trứng, trứng sẽ vào ruột nở thành

ấu trùng Ấu trùng sán theo hệ bạch mạch hoặc xuyên qua các tổ chức để tìm đến ký sinh ở cơ rồi phát triển thành nang ấu trùng sán Lợn mang ấu trùng sán gọi là lợn gạo Sau 2,5 - 4 tháng phát triển ấu trùng có khả năng lây nhiễm Nếu người ăn phải kén sán chưa chết vào dạ dày, dưới tác dụng của dịch vị,

ấu trùng thoát vỏ kén để phát triển thành sán trưởng thành

- Bệnh học: Chủ yếu gây đau bụng vùng rốn, rối loạn tiêu hóa nhẹ, có thể gây thiếu máu Sán có thể gây tắc hoặc bán tắc ruột Thể bệnh dưới da, bắp cơ người bệnh đau cơ hoặc mệt mỏi hoặc co giật cơ Ở mắt, kén sán gây lồi nhãn cầu, giảm thị lực, có thể gây mù Ở não, kén sán gây động kinh, rối loạn tâm thần Ở tim gây rối loạn nhịp tim, có thể suy tim

- Chẩn đoán: Xét nghiệm phân tìm đốt sán, tìm trứng Sinh thiết tìm kén sán ở tổ chức dưới da, cơ nông Xét nghiệm miễn dịch ELISA

Trang 18

1.1.2.7 Sán dây bò

- Hình thể: Sán dây bò trưởng thành dài 4 - 12 m, phân sán gồm trên 1000 đốt, cấu tạo tương tự sán dây lợn Đốt trưởng thành dài 20 - 30 mm Trứng sán giống sán dây lợn, hình gần giống bầu dục, kích thước 20 - 30 µm x 30 -

40 µm Ấu trùng là một bọc chứa đầy chất lỏng, bên trong có đầu ấu trùng

- Chu kỳ phát triển: Đốt sán già sau khi rời khỏi thân sán tự bò ra hậu môn, phát tán ra ngoại cảnh hoặc theo phân ra ngoài Các đốt sán rơi vào ngoại cảnh và giải phóng hàng trăm ngàn trứng Nếu trâu, bò ăn phải đốt sán vào ruột thì trứng sán nở ra ấu trùng và xâm nhập hệ tuần hoàn về tim, đến các cơ vân để hình thành nang ấu trùng và gọi là gạo bò Sau 4 tháng phát triển, nang sán có khả năng lây nhiễm Người ăn thịt trâu, bò có nang ấu trùng sán dây bò chưa được nấu chín thì nang ấu trùng vào ruột người, ấu trùng sẽ thoát ra khỏi nang, phát triển thành sán trưởng thành trong khoảng từ 8 - 10 tuần

- Bệnh học: Rối loạn tiêu hóa, ỉa lỏng, suy nhược cơ thể, thiếu máu nhẹ; cảm giác bứt rứt, khó chịu khi đốt sán bò ra ngoài

- Chẩn đoán: Xét nghiệm phân tìm đốt sán, miễn dịch ELISA

1.1.3 Đơn bào gây bệnh đường ruột [2], [4]

1.1.3.1 Amip gây bệnh

- Hình thể: Thể hoạt động ăn hồng cầu kích thước từ 20 - 40 µm, có chân giả, cấu tạo gồm có nhân và nguyên sinh chất Nguyên sinh chất có hồng cầu, bạch cầu, vi khuẩn Nhân có 1 - 2 nhân, nằm lệch về một bên Thể hoạt động không ăn hồng cầu kích thước 10 - 12 µm, nhân 2 - 4 µm có nhiễm sắc ngoại

vi dài Nguyên sinh chất chỉ có vi khuẩn, cặn bã thức ăn, glycogen Thể bào nang: Hình tròn, màu trong, vỏ dày, đường kính 10 - 15 µm, có 1 - 4 nhân Bào nang non có 1 - 2 nhân

- Chu kỳ phát triển: Sau khi bào nang amip vào cơ thể, các dịch tiêu hóa làm tan vỏ, 4 nhân của bào nang phân chia cùng nguyên sinh chất để tạo

Trang 19

thành 8 amip nhỏ, đó là thể minuta Các amip này tiếp tục chia đôi hoặc có thể trở lại thành bào nang Các bào nang sẽ được ra ngoài theo phân Đó là những trường hợp nhiễm amip nhưng không mắc bệnh lỵ amip

- Chu kỳ gây bệnh: Những amip thể minuta khi gặp điều thuận lợi sẽ chuyển sang giai đoạn ăn hồng cầu gây bệnh Thể này có khả năng xâm nhập vào thành ruột gây viêm hoại tử, chúng nhân lên rất nhanh bằng cách phân đôi, tiết ra nhiều mem gây xuất huyết Từ thể này, amip có thể trở thành minuta rồi chuyển thành bào nang khi bệnh nhân được điều trị, khi môi trường ruột thay đổi hoặc ngẫu nhiên Thể này cũng có thể đi theo đường máu đến các cơ quan và gây bệnh hoặc bị tống vào lòng ruột theo phân ra ngoài và chết rất nhanh

- Bệnh học: Amip ở đường tiêu hóa gây hội chứng lỵ (đau quặn, mót rặn, phân nhầy máu mũi) Amip gây biến chứng thủng ruột, các u amip, viêm đại tràng mãn tính Bệnh amip ở gan, phổi, màng phổi và cơ quan khác

- Chẩn đoán: Xét nghiệm tìm amip (soi tươi tìm amip hoạt động hoặc bào nang), xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang, ELISA

1.1.3.2 Trùng roi đường tiêu hóa

- Hình thể: Thể hoạt động hình bầu dục đối xứng có hai nhân Kích thước dài 10 - 20 µm, rộng 6 - 10 µm, có 8 roi đi về phía sau, các roi xuất phát từ 2 hạt gốc roi Có sống thân, nguyên sinh chất có nhiều hạt nhỏ Bào nang hình bầu dục, dài 8 - 12 µm, rộng 7 - 10 µm, thường có 2 - 4 nhân, hai lớp vỏ, có thể thấy vệt roi dọc giữa bào nang

- Chu kỳ phát triển: Trùng roi bám vào niêm mạc và có thể luồn sâu vào cuống ruột, lớp dưới niêm mạc ruột Sinh sản chủ yếu là vô tính Bào nang được bào xuất ra ngoài theo phân Người ăn phải bào nang vào cơ thể gặp điều kiện thuận lợi phát triển thành thể hoạt động và ngược lại

- Bệnh học: Viêm ruột, rối loạn tiêu hóa, gây viêm túi mật hoặc gan, suy dinh dưỡng ở trẻ em

Trang 20

- Chẩn đoán: Soi tươi phân tìm trùng roi thể hoạt động hoặc bào nang, ELISA

vô tính, phát sinh trở thành thể phân liệt Khi thể phân liệt bị phá vỡ, cho ra những mảnh trùng có hình dạng tự do trong lòng ruột Sau 2 hoặc nhiều chu

kỳ vô tính, mảnh trùng sẽ biệt hóa thành thể hữu giới là các giao bào Sự phối hợp giữa giao tử đực và cái cho ra 1 hợp tử Hợp tử tiết ra 1 bao dày trở thành kén hợp tử Có 2 loại kén hợp tử được sản xuất Kén hợp tử có thành dày được đào thải ra ngoài từ vật chủ, kén hợp tử có thành mỏng tham gia vào quá trình tự miễn

- Bệnh học: Viêm dạ dày ruột với tiêu chảy 5 - 10 lần/ ngày, thường chảy nước với chất nhầy Người suy giảm miễn dịch (AIDS) biểu hiện tiêu chảy nặng và kéo dài, xen kẽ táo hoặc bình thường

- Chẩn đoán xét nghiệm phân, miễn dịch huỳnh quang,…

1.1.4 Nấm đường tiêu hóa [12]

Nấm đường tiêu hóa là sự phát triển của nấm trong hệ thống đường tiêu hóa khi cơ thể có sức đề kháng yếu Trẻ em bị nhiễm nấm tiêu hóa, theo các chuyên gia tiêu hóa loại nấm gây bệnh trong đường tiêu hóa thường gặp nhất hiện nay là nấm Candida

- Hình dạng nấm: Nấm men hình bầu dục, có chồi, có thể có sợi nấm giả

Trang 21

- Bệnh học: Khi sự cân bằng thay đổi thì nấm Candida có thể phát triển, phát tán ra các độc tố trong cơ thể và dẫn đến nhiều triệu chứng khó chịu

- Chẩn đoán: Soi phân trực tiếp, nuôi cấy định danh

1.2 Tình hình nghiên cứu về tình trạng nhiễm KSTĐR

1.2.1 Trên thế giới

Theo một báo cáo của tổ chức Y tế tế giới năm 1987, trên thế giới có

900 - 1000 triệu người nhiễm giun đũa, 500 - 700 triệu người nhiễm giun móc

và giun tóc, tình trạng nhiễm 3 loại giun trên cũng tăng đáng kể theo nhịp độ tăng dân số của thế giới [22]

Ở các nước Châu Âu sau chiến tranh thế giới thứ hai, tình hình nhiễm giun cũng rất nghiêm trọng, đặc biệt là trẻ em Kết quả điều tra ở Italia cho thấy ở Rofrano tỷ lệ nhiễm là 75%, Naples 40%, Sanmarino 12% Ở Bồ Đào Nha tỷ lệ nhiễm là 40% - 80 % Nam Tư tỷ lệ trẻ em nhiễm là 20% Ở nông thôn Hà Lan tỷ lệ trẻ nhiễm là 45% Cộng hòa liên bang Đức tỷ lệ nhiễm là 52% Ở pháp tỷ lệ nhiễm là 17,8% Châu Á có tỷ lệ nhiễm giun đũa cao nhất, khoảng 70% Châu Phi có 480 triệu người thì có 155 triệu người nhiễm giun đũa, chiếm tỷ lệ 32,3% Trong đó có khảng 54 triệu trẻ em dưới 15 tuổi nhiễm giun, chiếm 11,3% Các nước Châu Mỹ có tỷ lệ nhiễm khoảng 8% Tình trạng nhiễm giun đũa ở trẻ em tại một số nước Đông Nam Á Thủ đô Kuala Lumpur

có tỷ lệ nhiễm 15,5%, ở Sulawesi có tỷ lệ nhiễm 59,8%, Sukaraja có tỷ lệ nhiễm 44%, Philippin có tỷ lệ nhiễm 70,6% [18]

Năm 1997 tại Ấn Độ, Awashi S và cs đã nghiên cứu 1061 trẻ em từ 1,5 đến 3,5 tuổi thấy tỷ lệ nhiễm KSTĐR là 17,5%, trong đó giun đũa chiếm 68,1% [21] Cùng thời điểm trên, Ananthakrian cũng nghiên cứu tại Ấn Độ thấy tỷ lệ nhiễm GTQĐ ở trẻ em là 5% - 76% [16]; Hadijaja P nghiên cứu tại Indonesia thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa ở trẻ em là 60% - 90%, sau khi can thiệp

tỷ lệ này giảm còn 40,6% [17] Tại Kenya, Olsel A và cs cho thấy 16% trẻ nhiễm giun đũa, 63% nhiễm giun móc và 24% nhiễm giun tóc [20],

Trang 22

Kightlinger L.K nghiên cứu tại Madagasca trên 667 trẻ em thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa là 93%, giun móc 27%, giun tóc 55% [19]

1.2.2 Tại Việt Nam

Nghiên cứu:“ Tình hình nhiễm giun sán đường ruột tại 4 tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Hòa Bình và Bắc Giang năm 2013” của Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự được tiến hành năm 2013 với điều tra ngang và chọn ngẫu nhiên mỗi tỉnh 1 huyện, mỗi huyện 5 xã Tổng số 4118 người tham gia nghiên cứu với kết quả thu được là: Tỷ lệ nhiễm giun tại Thanh Hóa 41,2%, Nghệ An 37,6%, Hòa Bình 35,6% và Bắc giang 30,8% Tỷ lệ nhiễm sán tại Thanh Hóa 0,3%, Nghệ An 0,3%, Hòa Bình 27,7% và Bắc Giang 16,5% Tỷ lệ nhiễm sán ở nam giới cao hơn nữ giới (47,7% so với 32,0%) [7]

Một điều tra ngang nhiễm giun đường ruột của Hán Đình Trọng và cs được tiến hành vào tháng 4 và tháng 5 năm 2010 tại 4 xã thuộc 4 huyện của tỉnh Lào Cai cho thấy tỷ lệ nhiễm giun chung là 56,41% trong đó tỷ lệ nhiễm giun đũa là 36,7%, tỷ lệ nhiễm giun móc là 19,85%, tỷ lệ nhiễm giun tóc là 13,58% Tỷ lệ này có liên quan với các yếu tố nguy cơ thuộc hành vi như: đi chân đất ra đồng (đối với giun móc), không rửa tay trước khi ăn và sau khi đi ngoài, tình trạng không có nhà vệ sinh và hiểu biết của người dân về bệnh

giun đường ruột và cách phòng tránh [15]

Một nghiên cứu cắt ngang mô tả của Nguyễn Thị Hồng Liên và cs đã tiến hành xác định nhiễm KSTĐR trên học sinh tiểu học tại một số quận, huyện, thành phố Hà Nội, 2011 - 2012 với 1288 mẫu phân Kết quả là đã phát hiện 3 loài giun đường ruột là giun đũa (2,72%), giun tóc (3,57%) và giun

móc/mỏ (6,68%) và 5 loài đơn bào E.coli (2,25%), E.histolytica (1,55%), G.lamblia (1,16%), E.harmani (0,47%) và E.nana (0,08%) và không có ca

nào nhiễm sán Tỷ lệ nhiễm đơn bào đường ruột chung là 5,12%, tỷ lệ nhiễm giun đường ruột chung là 6,68% [10]

Trang 23

“Nghiên cứu thực trạng nhiễm giun truyền qua đất ở học sinh hai trường mầm non tại Thái Nguyên và kết quả tẩy giun bằng thuốc Albendazol” của Khúc Thị Tuyết Hường năm 2009 cho kết quả tỷ lệ nhiễm giun chung ở trẻ

em 2 trường mầm non Hóa Thượng và Hoàng Văn Thụ là 59,5% Tất cả những trẻ XN phân (+) đều bị nhiễm giun đũa (59,5%), tỷ lệ nhiễm giun tóc là 22,6% và giun móc là 3,3% Trẻ ở nhóm tuổi 37 - 60 tháng bị nhiễm giun cao hơn nhóm trẻ 18 - 36 tháng (47,9%) Không có sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm các loại giun giữa trẻ trai và trẻ gái, giữa dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số [9]

Lê Quốc Hùng và cs đã tiến hành “Kiểm soát nhiễm Ký sinh trùng đường ruột

ở trẻ em dưới 15 tuổi tại một xã dân tộc miền núi tỉnh Bình Thuận, miền Nam Việt Nam”, cho kết quả tháng 4/1997 trong đợt đầu tiên trong tổng số 230 mẫu phân xét nghiệm có 65 trẻ em (28,3%) nhiễm KSTĐR gồm 4 loại giun móc 22,6%; giun đũa 0,4%; giun kim 0,8%; giun tóc 2,2% và sán dải lùn 2,2% [8]

Tỷ lệ nhiễm cao bệnh sán lá gan đã được thông báo tại một số tỉnh ở Việt Nam Trong điều tra về tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm, các yếu tố nguy cơ nhiễm bệnh sán lá gan nhỏ tại miền Bắc Việt Nam của Đặng Thị Cẩm Thạch và cs có

1155 người dân ở 2 xã thuộc miền Bắc đã được phỏng vấn và xét nghiệm phân

để xác định sự có mặt của trứng sán lá gan nhỏ Tỷ lệ nhiễm là 26%, và nam giới gấp 3,6 lần nữ giới [13]

Vũ Thị Bình Phương và cs đã tiến hành đề tài nghiên cứu:“Thực trạng nhiễm Ký sinh trùng đường ruột trên bệnh nhân xét nghiệm tại khoa Vi - Ký sinh trùng bệnh viện đại học Y Thái Bình từ 2008 - 2010” Khi tiến hành nghiên cứu 6570 bệnh nhân có dấu hiệu lâm sàng đến khám và điều trị tại bệnh viện, cho kết quả tỷ lệ nhiễm KSTĐR là 44,2% Trong đó, nhiễm nấm ĐR cao nhất

21,2%, tiếp theo là E.histolytica 20,7%, nhiễm giun với 2,4% và thấp nhất là

nhiễm sán và trùng roi với 0,6% và 0,8% Tỷ lệ nhiễm cao nhất ở trẻ em <6 tuổi với 14,3% và thấp nhất là nhóm tuổi từ 6 - 15 với tỷ lệ nhiễm 1,9% [11]

Trang 24

CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhi (dưới 15 tuổi) được chỉ định xét nghiệm phân tại bệnh viện Nhi Hải Dương từ tháng 4/2015 - 6/2015 và cha/

mẹ bệnh nhi

- Tiêu chuẩn chọn mẫu :

+ Bệnh nhi dưới 15 tuổi được chỉ định xét nghiệm phân bằng XN trực tiếp (soi tươi, nhuộm soi và XN phân phong phú) tìm Ký sinh trùng tại bệnh viện + Cha mẹ BN đồng ý tham gia nghiên cứu và trả lời câu hỏi theo mẫu

- Tiêu chuẩn loại trừ:

+ Bệnh phẩm của BN không đạt yêu cầu (bệnh phẩm lẫn đất cát, nước tiểu hoặc hóa chất hoặc để quá 2 giờ sau khi lấy mới chuyển tới phòng XN) + Đối tượng không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: Khoa Xét nghiệm bệnh viện Nhi Hải Dương

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4/2015 đến tháng 6/2015

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

2.3.2 Cỡ mẫu: Toàn bộ bệnh nhi được chỉ định xét nghiệm phân tại bệnh

viện Nhi Hải Dương kèm theo một số thông tin cha/ mẹ bệnh nhi từ tháng

4/2015 đến 6/2015

Trang 25

2.3.3 Kỹ thuật thu thập số liệu:

Thu thập thông tin liên quan đến bệnh nhi từ cha/ mẹ bằng phương pháp phỏng vấn với bộ câu hỏi thiết kế sẵn

Xác định tỷ lệ nhiễm KST bằng thực hiện các XN trực tiếp (soi tươi, nhuộm soi và XN phân phong phú) tìm ký sinh trùng trong bệnh phẩm phân của bệnh nhi

 Kỹ thuật lấy bệnh phẩm phân [5]

 Chuẩn bị:

- Dụng cụ: Lọ đựng phân bằng thủy tinh hoặc nhựa hình trụ cao 5 - 6

cm, đường kính miệng lọ 2,5 - 3 cm, đáy bằng; que tre hoặc que gỗ dài 15 -

- Khối lượng phân lấy thường từ 5 - 7 g (bằng đầu ngón tay út người lớn)

để làm được nhiều phương pháp

- Sau khi lấy phân vào lọ, cần phải dán nhãn ghi rõ tên, tuổi và địa chỉ của bệnh nhân và thời gian lấy bệnh phẩm

- Thời gian làm xét nghiệm: Nên làm xét nghiệm càng sớm càng tốt Làm

XN trong vòng 2 giờ sau khi lấy mẫu

 Kỹ thuật xét nghiệm phân phong phú Willis [5]

 Chuẩn bị:

- Dụng cụ: Lọ thủy tinh sạch, que tre hoặc que thủy tinh, lam kính, lamen

sạch, pipet nhỏ giọt, bút ghi kính

- Hóa chất: Dung dịch nước muối bão hòa tỷ trọng 1,150

- Bệnh phẩm: Lấy khoảng 2 - 3 gam phân

Trang 26

 Quy trình kỹ thuật:

- Bước 1: Lấy 2 - 3 gam phân vào lọ đã đánh dấu phù hơp với phiếu xét nghiệm

- Bước 2: Nhỏ nước muối bão hòa vào 1/3 lọ, dùng que quấy kỹ phân trong nước muối, cho thêm nước muối bão hòa gần đầy lọ, dùng que vớt những bã phân nổi trong lọ rồi dùng pipet nhỏ dần nước muối cho đến khi đầy miệng lọ

- Bước 3: Đặt lam kính đã đánh dấu lên miệng lọ sao cho dung dịch phân

dính đều vào lam kính Để thời gian 5 - 10 phút

- Bước 4: Nhấc nhẹ lam kính lên sao cho còn 1 giọt nước phân dính vào lam, lật nhanh lam kính Đậy lamen lên

- Bước 5: Soi kính hiển vi vật kính x 10

- Bước 6: Cho thêm nước muối sinh lý vào lọ rồi đặt lam kính thứ 2 như trên

- Bước 7: Nhận định và ghi kết quả vào phiếu xét nghiệm

- Dụng cụ: Kính hiển vi, lam kính, giá đựng lam kính, que tăm bông,…

- Hóa chất: Methanol, Carbon - fuchsin, acid Chlorhydric, cồn 95°, xanh Malachit 1% hoặc; Methylen 1%

- Bệnh phẩm phân

 Quy trình nhuộm:

- Bước 1: Làm phết phân mỏng trên lam kính, để khô ngoài không khí Cố định bằng Methanol trong 5 phút, để khô ngoài không khí

- Bước 2: Nhuộm với Carbon - fuchsin trong 5 phút, rửa với nước

- Bước 3: Tẩy màu bằng cồn - acid Chlorhdric cho tới khi màu không trôi

ra nữa, rửa nước dưới vòi chảy

Trang 27

- Bước 4: Nhuộm tiêu bản với 1 % xanh Malachit 30 giây, rửa tiêu bản dưới vòi nước rồi để khô

- Bước 5: Quan sát tiêu bản với vật kính x 40, bên trong nang có thể thấy

4 thoa trùng

- Bước 6: Nhận định và ghi kết quả vào phiếu xét nghiệm

 Đánh giá kết quả: Có đơn bào không ? loại đơn bào nào ?

2.3.4 Công cụ thu thập số liệu: Bộ câu hỏi và các vật liệu nghiên cứu

2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

- Nghiên cứu được tiến hành sau khi được sự cho phép của bệnh viện Nhi Hải Dương và sự đồng ý của cha/ mẹ bệnh nhân nhi

- Tuân thủ nghiêm ngặt các quy định trong nghiên cứu Y sinh học Trước khi lấy mẫu bệnh phẩm đối tượng nghiên cứu được thông báo và nói rõ mục đích nghiên cứu Giữ bí mật về tình trạng sức khỏe của người tham gia nghiên cứu

Trang 28

- Tỷ lệ nhiễm sán

- Tỷ lệ nhiễm nấm

2.7.3 Các yếu tố liên quan tới tỷ lệ nhiễm KSTĐR của bệnh nhi

- Nghề nghiệp của cha/ mẹ bệnh nhi

- Trình độ học vấn của cha/ mẹ bệnh nhi

- Thói quen rửa tay của gia đình bệnh nhi

- Thói quen ăn uống của gia đình bệnh nhi

Trang 29

2.8 Bảng tóm tắt nội dung nghiên cứu

Mục tiêu

nghiên cứu Nội dung nghiên cứu

Phương pháp thu thập số liệu

- Đặc điểm đối tượng nghiên cứu:

tuổi, giới tính, nơi ở,…

- Công cụ thu thập số liệu: các vật liệu nghiên cứu

4 2 Mô tả một số

yếu tố liên quan

tới tỷ lệ nhiễm

KSTĐR ở bệnh

nhi tại bệnh viện

Nhi Hải Dương từ

- Thói quen ăn uống của gia đình

- Thói quen rửa tay của gia đình

- Thu thập thông tin liên quan từ cha/ mẹ bằng phương pháp phỏng vấn

- Công cụ thu thập số liệu là bộ câu hỏi

2.9 Một số khái niệm

- Mức độ ăn thức ăn sống/ tái, uống nước lã là số lần ăn trong một tháng: + Thỉnh thoảng ăn thức ăn sống/ tái, uống nước lã là ăn dưới 1 lần/tháng + Thường xuyên ăn thức ăn sống/ tái, uống nước lã là ăn trên 1 lần/tháng

Trang 30

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1.Tuổi và giới tính của bệnh nhi

Nhận xét: Qua bảng 3.1 cho thấy trong tổng số bệnh nhi được làm XN

phân, trẻ trai chiếm tỷ lệ (52,8%) cao hơn trẻ gái (47,2%) và trẻ dưới 1 tuổi

chiếm phần lớn (77,2%)

Trang 31

Bảng 3.2 Nơi ở của gia đình và nghề nghiệp của cha/mẹ bệnh nhi Kết quả

Trang 32

Bảng 3.4 Thói quen ăn uống của gia đình bệnh nhi

Kết quả

Thói quen ăn uống

Số lượng Tỷ lệ (%)

Thỉnh thoảng ăn thức ăn sống/ tái, uống nước lã 204 52,8 Thường xuyên ăn thức ăn sống/ tái, uống nước lã 64 16,6

Nhận xét: Qua bảng 3.4 cho thấy thói quen ăn thức ăn sống/ tái, uống nước

lã của gia đình bệnh nhi phần lớn ở mức độ thỉnh thoảng (52,8%), ở mức thường xuyên là thấp nhất (16,6%)

Bảng 3.5 Thói quen rửa tay của gia đình bệnh nhi

Kết quả Thói quen rửa tay

Số lượng

Tỷ lệ (%) Rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh 157 40,7 Chỉ trước khi ăn hoặc chỉ sau khi đi vệ sinh mới rửa tay 116 30,0 Không rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh 113 29,3

Nhận xét: Qua bảng 3.5 cho thấy tỷ lệ gia đình có thói quen rửa tay trước

khi ăn và sau khi đi vệ sinh là cao nhất (40,7%) và ngược lại tỷ lệ gia đình không có thói quen rửa tay là thấp nhất (29,3%)

Trang 33

3.2 Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột ở đối tượng nghiên cứu

22.3%

77.7%

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ nhiễm KSTĐR ở bệnh nhi

Nhận xét: Bệnh nhi bị nhiễm KSTĐR là 86/386, tương ứng 22,3%

Trang 34

Bảng 3.6 Tỷ lệ nhiễm các loại KSTĐR theo từng thành phần ở bệnh nhi Bệnh nhân

(n=386)

Nhiễm KSTĐR

Có nhiễm KSTĐR

Không nhiễm KSTĐR

Nhận xét: Qua bảng 3.6 cho thấy:

- Trẻ nhiễm đơn bào và nấm ĐR với tỷ lệ cao (12,18% và 10,36%); tỷ lệ nhiễm giun ĐR thấp (3,89%) và không có trường hợp nào nhiễm sán

- Trẻ nhiễm giun đũa (2,33%) cao hơn giun móc (1,04) và giun tóc (0,52%)

- Trong số trẻ bị nhiễm đơn bào ĐR, đa phần là nhiễm Amip gây bệnh (9,07%), thấp nhất là Coccidia (0,52%)

- Tỷ lệ trẻ nhiễm phối hợp đơn bào và nấm là 4,15%

Trang 35

3.3 Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ nhiễm KSTĐR ở bệnh nhi

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ nhiễm KSTĐR ở bệnh nhi theo tuổi

Nhận xét: Qua biểu đồ 3.2 cho thấy, tỷ lệ nhiễm KSTĐR ở bệnh nhi tăng

theo dần nhóm tuổi từ nhóm <1 tuổi tới nhóm >6 – 15 tuổi Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p <0,05

Ngày đăng: 20/07/2017, 17:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
19. Kightlinger L. K, Seed J. R., Kightlinger M. B. (1998), “Ascaris lumbricoides intensity in relation to environmental, socioeconomic, and behavioral determinat of exposure to infection in children from Southeast Madagascar” J- Parasitol, 84, pp. 480 - 484 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ascaris lumbricoides intensity in relation to environmental, socioeconomic, and behavioral determinat of exposure to infection in children from Southeast Madagascar” "J- Parasitol
Tác giả: Kightlinger L. K, Seed J. R., Kightlinger M. B
Năm: 1998
20. Olsen A. (1998), “The proportion of helminth infection in community in western Kenya which would be treated by mass chemotherapy of schoolchildren”, Trans - R - Soc - Trop - Med - Hyg, 92, pp. 144 - 148 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The proportion of helminth infection in community in western Kenya which would be treated by mass chemotherapy of schoolchildren”, "Trans - R - Soc - Trop - Med - Hyg, 92
Tác giả: Olsen A
Năm: 1998
21. Pande V. K. Awshi (1997), “Prevalence of malnutrion and intestinal parasites in preschool slum children in Lucknow”, Indian - Pediatr, 34, pp.599 - 605 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence of malnutrion and intestinal parasites in preschool slum children in Lucknow”, "Indian - Pediatr, 34
Tác giả: Pande V. K. Awshi
Năm: 1997
22. WHO (1987), “Prevention and control of intestinal parasitic inection” Report of WHO expert commite; technical report series, Vol.86 (749), pp. 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevention and control of intestinal parasitic inection
Tác giả: WHO
Năm: 1987
18. Harinasuta C. (1980), Current chemotherapy of Soil-transmitted helminthiasis. Collected papers on the control of Soil-transmitted helminthiasis by the APCO research group Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm