1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình nông dân tỉnh hải dương hiện nay

117 276 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bình đẳng giới là khái niệm biểu đạt sự đối xử như nhau của xã hội đối với nam và nữ; là trạng thái hay tình hình xã hội trong đó phụ nữ và nam giới có vị trí như nhau, có các cơ hội như

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

PHẠM THỊ THẮM

THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH NÔNG DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY

Ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Mã số: 60 22 03 08

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS Đỗ Thị Thạch

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

Tôi xin cam đoan công trình trên là do chính tôi thực hiện với sự hướng dẫn của PGS, TS Đỗ Thị Thạch Các số liệu, tài liệu

trong khóa luận là hoàn toàn trung thực

Tác giả

Phạm Thị Thắm

Trang 3

Chương 1: BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH NÔNG DÂN Ở

TỈNH HẢI DƯƠNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 9

1.1 Quan niệm về bình đẳng giới và tầm quan trọng của bình đẳng giới trong gia đình nông dân hiện nay 9

1.2 Những yếu tố tác động đến việc thực hiện bình đẳng giới trong gia đình nông dân Hải Dương hiện nay 25

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH NÔNG DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 44

2.1 Thực trạng thực hiện bình đẳng giới trong gia đình nông dân Hải Dương hiện nay 44

2.2 Những vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện bình đẳng giới trong gia đình nông dân tỉnh Hải Dương hiện nay 73

Chương 3: NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH NÔNG DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY 82

3.1 Phương hướng cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện bình đẳng giới trong gia nông dân ở tỉnh Hải Dương hiện nay 82

3.2 Giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện bình đẳng giới trong gia đình nông dân ở tỉnh Hải Dương hiện nay 90

KẾT LUẬN 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

PHỤ LỤC 111

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Con người phát triển toàn diện là mục tiêu, xu hướng phát triển tất yếu của lịch sử xã hội loài người Sự tiến bộ của con người được xem là tiêu chuẩn cao nhất cho sự đánh giá sự phát triển của một xã hội nói chung Đây cũng là xu hướng tất yếu của cách mạng XHCN

Bình đẳng giới là khái niệm biểu đạt sự đối xử như nhau của xã hội đối với nam và nữ; là trạng thái (hay tình hình) xã hội trong đó phụ nữ và nam giới có vị trí như nhau, có các cơ hội như nhau để phát hiện đầy đủ tiềm năng của mình, sử dụng nó cho sự phát triển của xã hội và được hưởng lợi từ kết

quả của sự phát triển đó Luật Bình đẳng giới (2006), điều 5 ghi rõ “Bình đẳng giới là việc nam nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và

cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”

Mục tiêu của bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam và nữ và thiết lập, củng cố mối quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình

Ở Việt Nam, tư tưởng bình đẳng giới được thể hiện trong nhiều tác phẩm của Hồ Chí Minh và các văn kiện Đảng, Nhà nước Trong Chánh cương Vắn tắt của Đảng đã khẳng định thực hiện nguyên tắc “nam nữ bình quyền” Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1946) ghi rõ: phụ

nữ và nam giới được bình đẳng với nhau trên mọi phương diện Từ đó đến nay tư tưởng bình đẳng giới - bình đẳng nam nữ, tiếp tục được Đảng, Nhà nước tích cực chỉ đạo, triển khai mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực của đời sống Nhờ đó, vị trí, vai trò của phụ nữ Việt Nam đã có những thay đổi cơ bản theo

Trang 5

hướng ngày càng bình đẳng hơn so với nam giới Tuy nhiên, trên thực tế, bất bình đẳng giữa nam và nữ vẫn còn tồn tại khá rõ nét Thực hiện bình đẳng giới là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp và lâu dài trong nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay Cơ hội để phụ nữ tham gia vào các lĩnh vực học tập, lao động, chính trị đều còn hạn chế, trong đó, sự bất bình đẳng trong gia đình diễn ra với nhiều hình thức và mức độ khác nhau Vai trò vị trí của nam giới vẫn tiếp tục được khẳng định, đề cao, được coi trọng hơn phụ nữ Thực tế này vẫn đang diễn ra ở hầu hết các gia đình thành thị, nông thôn; các giai cấp, tầng lớp công nhân, trí thức nông dân Việt Nam

Bình đẳng giới trong gia đình là một trong những lĩnh vực quan trọng góp phần thúc đẩy bình đẳng giới trong xã hội trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng; thực hiện công bằng, bình đẳng, văn minh của đất nước

Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ Đại hội XI của Đảng đề ra: “xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; thực hiện tốt bình đẳng giới, sự tiến

bộ của phụ nữ”, tỉnh Hải Dương đã từng bước thực hiện được nhiều thành tựu quan trọng về bình đẳng giới, bên cạnh đó cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết trong thời gian tới

Hải Dương là tỉnh nằm trong khu vực Đồng bằng sông Hồng, giữ vị trí trung chuyển quan trọng trong vùng tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Với điều kiện địa lý, tự nhiên thuận lợi, nhiều tiềm năng về tài nguyên, lợi thế về địa kinh tế khu vực, phù hợp với sản xuất hàng hóa, có giá trị kinh tế cao, trong những năm qua Đảng bộ và chính quyền tỉnh Hải Dương đã quán triệt các quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực bình đẳng giới và triển khai vào đời sống xã hội của địa phương nên bình đẳng giới trong gia đình nông dân đã có bước tiến

bộ lớn

Trang 6

Nông dân ở tỉnh Hải Dương là bộ phận quan trọng chiếm trên 70% dân

số, có đóng góp tích cực trong việc xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến

bộ, hạnh phúc góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Những gương mặt

và hộ gia đình nông dân tiến bộ gương mẫu trong xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng gia đình văn hóa trên địa bàn tỉnh ngày càng nhiều, tạo đòn bẩy để xây dựng đời sống văn hóa gia đình trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên cơ cấu kinh

tế của tỉnh sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm đa số Các gia đình nông dân sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa và hoa màu Với đặc điểm kinh tế nông nghiệp, trình độ dân trí chưa cao, cơ hội tiếp cận những nguồn thông tin mới của người nông dân còn hạn chế, tư tưởng còn lạc hậu Tư tưởng gia trưởng cùng những sự biến đổi chậm chạp của ý thức xã hội, các thiên kiến về giới vẫn bám rễ lâu đời của các tầng lớp dân cư nên tình trạng bất bình đẳng giới ở nơi đây vẫn diễn ra phổ biến, nhất là trong gia đình Tình trạng bạo lực, bạo hành trong gia đình nông dân còn diễn ra thường xuyên Vì vậy, bình đẳng giới trong gia đình nông dân tỉnh Hải Dương rất cần được quan tâm nghiên cứu

Nhằm góp phần đánh giá đúng thực trạng, tìm ra những giải pháp thích hợp hạn chế bất bình đẳng trong gia đình nông dân vì sự tiến bộ của nông dân

trong tỉnh, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình nông dân tỉnh Hải Dương hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp, mong

muốn góp phần nhỏ bé vào nhiệm vụ xây dựng gia đình văn hóa, xây dựng nông thôn tiến bộ về kinh tế, xã hội

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Về bình đẳng giới

Thực hiện bình đẳng giới hiện nay là một trong những vấn đề quan trọng trong góp phần phát triển bền vững đất nước Thực tiễn cho thấy vấn đề gia đình và thực hiện bình đẳng giới luôn thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của

Trang 7

nhiều nhà khoa học xã hội và các nhà quản lý ở Việt Nam Đến nay có rất nhiều công trình của tập thể tác giả cũng như cá nhân được công bố như:

Trung tâm Nghiên cứu gia đình và phụ nữ (1998 - 2000) “Điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Đề tài chỉ sự biến đổi các mối quan hệ cha

mẹ, vợ chồng, con cái Qua đó phân tích, làm rõ quan hệ bình đẳng giới trong gia đình có sự chuyển biến tích cực Người phụ nữ trong gia đình được nâng cao địa vị, có tiếng nói tham gia quyết định công việc lớn trong gia đình, có

sự độc lập và vai trò lớn trong việc nâng cao thu nhập trong gia đình do thành tựu mà công nghiệp hóa, hiện đại hóa mang lại

Nguyễn Linh Khiếu (2003), “ Nghiên cứu phụ nữ, giới và gia đình”,

Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Tác giả đã phân tích, chỉ rõ vai trò của phụ nữ cũng như quan hệ giới trong gia đình đặc biệt là phụ nữ nông thôn miền núi Công trình đặt ra nhiều vấn đề cho những nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách đối với phụ nữ và gia đình

Vũ Tuấn Huy (2004) “ Xu hướng gia đình ngày nay” (một vài đặc điểm

từ nghiên cứu thực nghiệm tại tỉnh Hải Dương) Công trình nghiên cứu đã phân tích về sự biến đổi về gia đình ngày nay Tác giả nhấn mạnh đến sự biến đổi cơ cấu kinh tế - xã hội, các ảnh hưởng yếu tố thị trường, công nghệ - khoa học, sự di cư và biến đổi của định hướng giá trị đã tác động đến sự hình thành hôn nhân, quan hệ giữa các thế hệ, phân công lao động gia đình, số con và khoảng cách sinh con

PGS, TS Phan Thanh Khôi, PGS, TS Đỗ Thị Thạch (chủ biên) (2007)

“Những vấn đề về giới: từ lịch sử đến hiện đại”, Nxb Lý luận chính trị, Hà

Nội Công trình đi sâu phân tích quan điểm giới, vấn đề giới trong tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh; địa vị người phụ nữ trong gia đình, xã hội có đối kháng giai cấp, áp bức bất công Tác giả cũng đi

Trang 8

sâu phân tích quan điểm giới, bình đẳng giới trong đường lối, pháp luật của Đảng, Nhà nước

Về bình đẳng giới trong gia đình nông dân

Nội dung bình đẳng giới trong gia đình nông dân đã được tìm hiểu ở nhiều khía cạnh khác nhau Có nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới bình đẳng giới trong nông thôn về lao động, việc làm; về phân công lao động trong gia đình và ngoài xã hội Đây là những nguồn tài liệu quan trọng cho tác giả nghiện cứu chủ đề về: Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình nông dân Hải Dương hiện nay Tiêu biểu phải kể đến:

TS Hoàng Bá Thịnh (2002) “Vai trò của người phụ nữ nông thôn trong công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn”, Nxb Chính trị Quốc gia,

Hà Nội Công trình này đã trình bày lý luận về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế- xã hội ở khu vực nông thôn Đồng thời nêu kiến nghị giải pháp chủ yếu về phát triển chuyên môn - kỹ thuật, nâng cao sức khỏe cho phụ nữ nông thôn

Chu Thị Thoa (2002), “Bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn đồng bằng sông Hồng”, Luận án tiến sĩ triết học, Học viện chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh, Hà Nội Tác giả làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng, nguyên nhân, giải pháp thực hiện bình đẳng giới trong gia đình nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng mà trong đó có tỉnh Hải Dương

TS Chu Thị Thoa (Chủ nhiệm đề tài) (2010), Vai trò Hội Phụ nữ tham gia giải quyết vấn đề lao động, việc làm ở nông thôn trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại tỉnh Bắc Ninh hiện nay Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Công trình đã chỉ ra vai trò quan trọng của Hội Phụ nữ trong việc tìm kiếm, giới thiệu việc làm và đào tạo nghề cho phụ nữ nông thôn của tỉnh Bắc Ninh hiện nay

Các nghiên cứu liên quan đến bình đẳng giới, gia đình ở Hải Dương

Trang 9

Báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hải Dương từ 2005 - 2010 và 3 năm thực hiện kế hoạch 5 năm 2011 - 2015

Báo cáo tình hình 5 năm thực hiện Luật Bình đẳng giới 2011 - 2015 Báo cáo việc thực hiện chính sách, pháp luật về Bình đẳng giới trên địa

bàn tỉnh Hải Dương 2011 - 2013 (Báo cáo phục vụ kế hoạch giám sát của Ban Văn hoá xã hội - HĐND tỉnh)

Báo cáo tình hình triển khai chương trình bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2011 - 2013

Bên cạnh đó có nhiều bài báo, báo mạng, tạp chí của tỉnh đề cập những vấn đề nảy sinh trong gia đình liên quan trực tiếp tới vấn đề giới, bình đẳng giới của tỉnh

Những công trình, tài liệu nghiên cứu kể trên là những tư liệu tham khảo có giá trị lớn cho việc nghiên cứu bình đẳng giới trong gia đình nông dân Các kết quả nghiên cứu của các nhóm đề tài, công trình khoa học trên đã

đề cập đến vấn đề giới, vai trò của bình đẳng giới đối với sự phát triển xã hội nói chung, ở các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, gia đình Nhưng do mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu khác nhau, vì vậy chưa có một công trình nghiên cứu, phân tích một cách toàn diện, hệ thống thực hiện vấn đề bình đẳng giới hay bất bình đẳng giới đối với phụ nữ trong gia đình nông dân ở

tỉnh Hải Dương Do vậy, tác giả chọn đề tài: “Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình nông dân tỉnh Hải Dương hiện nay” Đây là một vấn đề cần

được giải quyết hoàn toàn mới mẻ để góp phần nâng cao sự bình đẳng giới trong gia đình nông dân của tỉnh, góp phần vì sự tiến bộ phát triển của phụ nữ tỉnh Hải Dương nói chung và phụ nữ trong gia đình nông dân nói riêng

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích

Trang 10

Trên cơ sở phân tích làm rõ thực trạng việc thực hiện bình đẳng giới ở gia đình nông dân của tỉnh Hải Dương, luận văn đề xuất các giải pháp chủ yếu góp phần thúc đẩy việc thực hiện bình đẳng giới nhằm xây dựng gia đình văn hóa trên địa bản tỉnh Hải Dương hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Luận văn nghiên cứu mối quan hệ giới trong gia đình, gồm: giữa vợ - chồng, con trai - con gái Cụ thể mối quan hệ giới trong: Thực hiện chức năng gia đình; trong tiếp cận, kiểm soát các nguồn lực gia đình

- Luận văn tập trung nghiên cứu mối quan hệ giới trong gia đình nông dân của Hải Dương trong giai đoạn từ năm 2006 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và nhà nước về bình đẳng giới và gia đình

Luận văn nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời sử dụng một số phương pháp cụ thể: Phân tích - tổng hợp, lịch sử - lôgic, phân tích tài liệu, khảo sát thực tiễn…

6 Đóng góp mới của luận văn

Trang 11

Luận văn góp phần làm rõ thực trạng quan hệ giới trong gia đình nông dân ở Hải Dương hiện nay

Luận văn góp phần đề xuất giải pháp nhằm khắc phục bất bình đẳng giới trong gia đình nông dân của Hải Dương

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Luận văn góp phần xây dựng căn cứ thực tiễn cho việc xây dựng chính sách đối với bình đẳng giới ở gia đình nông dân của Hải Dương

- Luận văn làm tài liệu tham khảo cho công tác xây dựng gia đình văn hóa ở địa phương

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 3 chương 6 tiết

Trang 12

Để nhìn nhận về mối quan hệ bình đẳng giới trong gia đình nông dân ở tỉnh Hải Dương cần tiếp cận từ cơ sở lý luận và thực tiễn sau:

1.1.1 Quan niệm về bình đẳng giới và bình đẳng giới trong gia đình nông dân

1.1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về bình đẳng giới

Thứ nhất, khái niệm về giới

Con người luôn vươn tới khát vọng về một xã hội bình đẳng, trong đó

có bình đẳng giới, nhưng thế nào là bình đẳng giới là một nội dung quan trọng

Trang 13

Giới (Gender) là khái niệm khoa học ra đời từ môn nhân chủng học, chỉ

sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt xã hội Nói về giới là nói về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quan niệm hay quy định cho nam và nữ

Theo điều 5 của Luật Bình đẳng giới của Việt Nam đã chỉ rõ “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội”

Vai trò, trách nhiệm và quyền lợi đó thể hiện trước hết ở sự phân công lao động, phân chia các nguồn của cải vật chất tinh thần, tức là cách đáp ứng nhu cầu của cả nam và nữ trong xã hội Tuy nhiên, để làm rõ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt xã hội, phải dựa trên sự khác biệt về giới tính và mối quan hệ giữa hai giới Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến quá trình tái sản xuất ra con người, di truyền nòi giống Con người khi sinh ra đã có đặc điểm giới tính

Giới tính nói lên tính ổn định trong tương quan giữa nam và nữ trong

quá trình sinh sản, chức năng sinh sản của nam và nữ không thể thay đổi, chuyển dịch cho nhau Chức năng này hầu như bất biến về thời gian và không gian Chẳng hạn phụ nữ mọi thời đại, mọi chế độ chính trị, mọi nền văn hóa đều giống nhau ở khả năng mang thai và sinh con; nam giới cũng

đều giống nhau ở chức năng sinh sản Còn Giới thì luôn biến đổi, vị trí xã

hội của phụ nữ so với nam giới luôn phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế, chính trị, phong tục, tập quán, tôn giáo trong từng giai đoạn lịch sử, từng quốc gia, từng vùng miền… Bất bình đẳng giới thể hiện đa dạng về tính chất, mức độ ở các cộng đồng xã hội khác nhau

Giới tính là tiền đề sinh học của sự khác biệt giữa nam và nữ, còn nội

dung của sự khác biệt này lại do xã hội quy định Chính quy định của xã hội

đã làm cho người ta tin rằng nam giới có ưu thế hơn hẳn phụ nữ Niềm tin này thường mạnh hơn các luận chứng khoa học

Trang 14

Từ mối quan hệ giữa giới và giới tính cho thấy giữa nam và nữ có những đặc trưng hết sức khác nhau cả về mặt tự nhiên và xã hội Sự khác biệt

tự nhiên giữa nam và nữ mang tính bẩm sinh, không thể thay đổi được và cũng không cần thay đổi, đó là sự hài hoà mà tạo hoá đã ban cho loài người

để bảo tồn nòi giống Ngược lại, sự khác biệt xã hội giữa nam và nữ do xã hội

đã tạo ra, sự khác biệt đó đã đưa tới sự bất bình đẳng giữa nam và nữ Do vậy,

sự bất bình đẳng giới thực chất là sự bất bình đẳng giữa nam và nữ về mặt xã hội, xoá bỏ bất bình đẳng giới là rất cần thiết nhằm thay đổi tương quan địa vị

xã hội giữa nam và nữ

Thứ hai, khái niệm về bình đẳng giới

Con người luôn mong muốn được sống trong một xã hội bình đẳng,

trong đó có bình đẳng nam và nữ, nhưng thế nào là bình đẳng và thế nào là bình đẳng nam nữ (bình đẳng giới) là một nội dung quan trọng về mặt nhận

thức cần phải làm rõ Hiện nay có hai cách hiểu khác nhau về bình đẳng giới:

Một là, từ quan niệm bình đẳng (chính trị) là sự được đối xử như nhau về

các mặt chính trị, văn hóa, kinh tế… không phân biệt địa vị, thành phần, giai cấp trong xã hội, trước tiên nó thể hiện trong bình đẳng trước pháp luật

Từ đó bình đẳng giới được hiểu là việc đối xử như nhau giữa nam và

nữ trên mọi lĩnh vực không tính đến sự khác biệt về sinh học và tự nhiên của nam giới và nữ giới Đây là quan điểm không khoa học vì nó không xuất phát

từ những cơ sở dựa trên phân tích khoa học về hai giới

Tuy nhiên quan điểm này lại ảnh hưởng, tác động to lớn tới nhận thức hành động của nhiều người dân nói chung trong nhận thức và hành động Họ cho rằng bình đẳng như vậy là không thể thực hiện được và vô lý Khi mới nghe nói tới “bình đẳng giới” nhiều người nghĩ ngay tới cách hiểu này

Hai là, theo từ điển Tiếng Việt thì bình đẳng là ngang hàng nhau về địa

vị và quyền lợi

Trang 15

Bình đẳng là khái niệm hàm chứa ý nghĩa xã hội to lớn, là quyền cơ

bản của con người Bình đẳng xã hội bao gồm các nội dung: Bình đẳng giữa các giai cấp, các dân tộc, tôn giáo, các tầng lớp dân cư, các nhóm tuổi… các quốc gia Cách mạng tư sản Pháp với tư tưởng: tự do, bình đẳng, bác ái Bản

Hiến pháp đầu tiên của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ với tuyên bố: Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng

Tuyên bố chung về nhân quyền của Liên hợp quốc cũng khẳng định:

Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng

Trong Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định quyền bình đẳng của dân tộc, nhân dân Việt Nam với nhân dân và các dân tộc trên thế giới Và Người còn chỉ rõ: Mục

đích của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: Chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy bình quyền, bình đẳng, trai gái đều ngang quyền như nhau

Bình đẳng giới là khái niệm biểu đạt sự đối xử như nhau của xã hội đối

với nam và nữ; là trạng thái (hay tình hình) xã hội trong đó phụ nữ và nam giới có vị trí như nhau, có các cơ hội như nhau để phát hiện đầy đủ tiềm năng của mình, sử dụng nó cho sự phát triển của xã hội và được hưởng lợi từ kết

quả của sự phát triển đó Luật Bình đẳng giới (2006), điều 5 ghi rõ “Bình đẳng giới là việc nam nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và

cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó” [38, 9]

Mục tiêu của bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam và nữ và thiết lập, củng cố mối quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình

Trang 16

Để đạt được sự bình đẳng giới, phụ nữ phải được tạo điều kiện và cơ hội như nam giới trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình Song có

lẽ như thế vẫn chưa đủ để phụ nữ được bình đẳng thực sự Ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, mặc dù Hiến pháp đã ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ trên mọi phương diện, thế nhưng phụ nữ vẫn chưa

có được bình đẳng thực sự Cũng là con người như nam giới nhưng phụ nữ lại

có những đặc tính hết sức riêng biệt (do đặc trưng sinh học và đặc trưng xã hội quy định hay chi phối), cho nên nếu chỉ thực hiện sự đối xử như nhau (căn

cứ vào cái chung) mà không chú ý đến cái riêng để có các đối xử đặc biệt thì

sẽ không có bình đẳng thực sự

Cho nên, bình đẳng giới không chỉ là việc thực hiện sự đối xử như nhau giữa nam và nữ trên mọi lĩnh vực xã hội, theo phương châm phụ nữ có thể và có quyền làm tất cả những gì nam giới có thể và có quyền làm Bình đẳng giới còn

là quá trình khắc phục tình trạng bất bình đẳng giữa hai giới nhưng không triệt tiêu những khác biệt tự nhiên giữa họ, thông qua các đối xử đặc biệt với phụ nữ

Đối xử đặc biệt không chỉ căn cứ vào sự khác biệt giữa nam và nữ, quá trình bình đẳng giới còn phải chú ý sự khác biệt ngay trong giới nữ, thể hiện qua các nhóm phụ nữ khác nhau: giữa thành thị và nông thôn, giữa công nhân

và nông dân, trí thức, giữa phụ nữ giàu và phụ nữ nghèo…

Như vậy, đối xử như nhau giữa các bộ phận xã hội không giống nhau

sẽ không thể đạt tới bình đẳng, điều kiện để đạt tới bình đẳng chính là các đối

xử đặc biệt dành cho các nhóm xã hội yếu thế Đối xử đặc biệt sẽ chấm dứt ngay sau khi bình đẳng giới được thực hiện Kéo dài quá mức các biện pháp đặc biệt khó tránh khỏi hậu quả là làm tái hiện tình trạng bất bình đẳng Luật Bình đẳng giới gọi đó là biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới, trong đó ghi rõ:

Biện pháp nhằm đảm bảo bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa

Trang 17

nam và nữ về vị thế, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam

và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được

Như vậy, bình đẳng giới là khái niệm hàm chứa ý nghĩa xã hội to lớn Trong khi thực hiện bình đẳng giới chúng ta cần lưu ý một số điểm sau:

Một là, bình đẳng giới không có nghĩa là cần thực hiện một sự ngang

nhau giữa nam và nữ theo phương châm nam giới làm gì thì nữ giới cũng phải làm và ngược lại Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã phê phán gay gắt

quan điểm này Người viết “Nhiều người lầm tưởng đó là một việc dễ chỉ hôm nay anh nấu cơm rửa bát, quét nhà, hôm sau em quét nhà, nấu cơm, rửa bát thế là bình đẳng, bình quyền Lầm to” [15, 31]

Hai là, bình đẳng giới phải là sự khắc phục tình trạng bất bình đẳng

nhưng không dẫn tới sự triệt tiêu những khác biệt tự nhiên giữa hai giới, hơn nữa còn tôn trọng sự khác biệt đó

Bất bình đẳng giới là một khái niệm đối lập với bình đẳng giới đó là sự khác biệt về địa vị xã hội giữa nam và nữ và chủ yếu dựa trên các quan niệm sai lầm, phiến diện và sự đối xử thiếu công bằng giữa nam và nữ Hậu quả của

nó làm hạn chế hoặc loại trừ các cơ hội, điều kiện phát triển của phụ nữ hay nam giới Bất bình đẳng giới là một rào cản kìm hãm sự phát triển tiến bộ xã hội loài người nói chung, xã hội Việt Nam nói riêng

Sự phát triển bền vững lấy con người là mục tiêu và là động lực Trong quá trình phát triển sẽ diễn ra chậm chạp nếu như một nửa nhân loại là phụ nữ

bị hạn chế hoặc loại trừ của khỏi quá trình phát triển Chính vì nhận thức được điều này mà vấn đề bình đẳng giới đang là vấn đề có tình quốc tế, là mối quan tâm của toàn nhân loại Năm 1979, Liên hợp quốc đã thông qua Công

Trang 18

ước quốc tế về “Xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ” còn gọi là công ước CEDAW Lần đầu tiên các quyền con người của phụ

nữ được đề cập một cách toàn diện nhất trong công pháp quốc tế

Theo tinh thần của công ước CEDAW, nội dung bình đẳng giới bao gồm các lĩnh vực:

- Quyền tham gia xây dựng và thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, tham gia công tác quản lý các cấp chính quyền

- Quyền được tham gia các tổ chức chính trị xã hội của quần chúng, các

tổ chức nghề nghiệp nhằm mang lại lợi ích cho bản thân, phù hợp với sự phát triển đất nước

- Quyền khiếu nại, tố cáo

+ Bình đẳng trong lĩnh vực kinh tế và việc làm được thể hiện trên một

số nội dung sau:

- Quyền được làm việc và được hưởng cơ hội có việc làm như nhau;

- Quyền được tự do lựa chọn nghề nghiệp, việc làm, quyền được đề bạt làm lãnh đạo, được học tập nâng cao trình độ về mọi mặt để được thăng tiến;

- Quyền được trả lương như nhau, được đối xử đánh giá như nhau khi làm những việc có giá trị ngang nhau;

- Quyền được bảo vệ sức khoẻ, được đảm bảo an toàn lao động, bảo vệ chức năng sinh đẻ;

Trang 19

- Quyền được vay vốn ngân hàng, tham gia các dịch vụ tín dụng;

- Quyền được ra quyết định trong việc mua bán những tài sản có giá trị trong gia đình;

- Bình đẳng trong việc hưởng quyền thừa kế tài sản

+ Bình đẳng trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ:

- Phụ nữ được tạo điều kiện để hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ,

kể cả dịch vụ kế hoạch hoá gia đình;

- Bảo đảm cho phụ nữ có những dịch vụ thích hợp liên quan đến thai nghén, sinh đẻ, chăm sóc sau khi đẻ, chăm sóc con cái khi ốm đau

+ Bình đẳng trong vấn đề hôn nhân và gia đình:

- Nam nữ được tự do kết hôn, hôn nhân trên tình yêu chân chính, hôn nhân tự nguyện, được quyền tự do kết hôn và ly hôn;

- Nam nữ có quyền và trách nhiệm như nhau trong vai trò làm cha mẹ, trong việc chăm sóc, nuôi dạy con cái;

- Nam nữ có quyền và trách nhiệm như nhau trong việc sở hữu, kiểm soát, quản lý, sử dụng, hưởng thụ và định đoạt những tài sản của gia đình;

- Nam nữ có quyền và trách nhiệm như nhau trong thời gian hôn nhân cũng như khi hôn nhân bị thủ tiêu

Tuỳ theo đặc điểm của mỗi quốc gia mà có các thứ tự ưu tiên khác nhau Để đảm bảo thực hiện đầy đủ, đúng đắn nội dung bình đẳng giữa hai

Trang 20

giới nam và nữ vốn chưa bình đẳng, cần thực hiện các yêu cầu và nguyên tắc cơ bản sau:

1- Bình đẳng về cơ hội và điều kiện;

2- Bình đẳng trong quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ;

3- Bình đẳng về kiểm soát và ra quyết định

Việt Nam là quốc gia thứ 6 ký công ước CEDAW (1979), cho đến nay Việt Nam là một trong các quốc gia tích cực thực hiện các cam kết của mình nhằm thúc đẩy sự nghiệp giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ Với quan điểm thừa nhận sự khác biệt giới và giới tính giữa nam và nữ, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện tốt công ước CEDAW, đặc biệt là điều 4 của Công ước, thực hiện đối xử đặc biệt dành cho phụ nữ Quan điểm thực hiện đối xử đặc biệt với phụ nữ trên mỗi lĩnh vực đã được cụ thể hoá trong các chính sách, các chương trình, dự án phát triển ở Việt Nam, đặc biệt trong kế hoạch hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, Nhà nước cũng cho rằng, những đối xử đặc biệt với phụ nữ sẽ chấm dứt khi đạt tới bình đẳng giới thực sự

Trên cơ sở cam kết thực hiện công ước CEDAW nội dung bình đẳng giới được cụ thể hoá trong Luật Bình đẳng giới của Việt Nam gồm các điểm sau:

- Bình đẳng về chính trị;

- Bình đẳng trong lĩnh vực kinh tế;

- Bình đẳng trong lĩnh vực lao động;

- Bình đẳng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo;

- Bình đẳng trong lĩnh vực khoa học và công nghệ;

- Bình đẳng trong lĩnh vực văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao;

- Bình đẳng trong lĩnh vực y tế;

- Bình đẳng trong vấn đề hôn nhân và gia đình

Trang 21

Bình đẳng giới không chỉ có ý nghĩa đối với phụ nữ mà còn đem lại ý nghĩa lớn lao đối với sự phát triển của xã hội:

- Đối với phụ nữ, bình đẳng giới làm thay đổi vị thế của họ, tạo ra cơ hội để họ thoát khỏi những cản trở, đem hết khả năng của mình cống hiến cho

sự phát triển của gia đình và xã hội

- Đối với xã hội, bình đẳng giới góp phần tạo điều kiện cho sự phát triển hài hoà của gia đình vì lợi ích, tiến bộ của xã hội trong đó có cả nam giới, bởi con người (gồm cả nam và nữ) thực sự được xem là mục tiêu và động lực của sự phát triển

1.1.1.2 Nội dung thực hiện bình đẳng giới trong gia đình nông dân Thứ nhất, quan niệm về gia đình

Vấn đề gia đình được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Chủ nghĩa xã hội khoa học đề cập đến vấn đề này như một vấn đề lý luận không thể thiếu được trong toàn bộ học thuyết về sự phát sinh và phát triển của xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa

Khi nói về gia đình, C.Mác và Ph.Ăng ghen cho rằng: “hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người còn tạo ra những người khác, sinh sôi, nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha, mẹ và con cái, đó là gia đình” [23, 288] Như vậy ta có thể hiểu:

Gia đình là nhóm xã hội đặc biệt, được hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân (giữa vợ và chồng) và quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó (giữa cha mẹ và con cái, giữa ông bà và các cháu, giữa anh chị em với nhau) Pháp luật của nhà nước Việt Nam cũng thừa nhận trong gia đình

còn có các thành viên do quan hệ nuôi dưỡng mà phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với nhau (con nuôi)

Gia đình - nhóm xã hội đặc biệt, vốn có vị trí cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của xã hội, nhưng trên thực tế sự bất bình đẳng về giới vẫn đang tồn tại

Trang 22

khá phổ biến trong gia đình, đây thực sự là thiệt thòi cho xã hội, cho cá nhân và đặc biệt là đối với phụ nữ Trong mối quan hệ với xã hội, gia đình là yếu tố hạt nhân, vì vậy xã hội muốn đạt tới bình đẳng về giới phải chú ý giải quyết tốt mối quan hệ về giới ngay từ trong gia đình Tình hình thực tế hiện nay càng đặc biệt chú ý đến giải quyết tốt mối quan hệ về giới trong gia đình nông dân

Thứ hai, quan niệm về nông dân

Hiện nay nông dân Việt Nam chiếm gần 70% dân số và hơn 50 % lực lượng lao động xã hội

Nông dân là một thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến trong cuộc sống Tùy theo từng trường hợp, có lúc nông dân dùng để chỉ một con người cụ thể; có lúc lại được dùng để chỉ hình thức, phong cách của người nào đó; có lúc lại được dùng để chỉ cả một giai cấp trong xã hội Do đó, thuật ngữ nông dân được hiểu

và định nghĩa theo nhiều cách tùy thuộc vào nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá mà có những quan điểm khác nhau về nông dân

Tác giả luận văn quan niệm: nông dân là những người lao động cư trú chủ yếu ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai Tùy từng giai đoạn lịch sử nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất Họ hình thành nên giai cấp nông dân có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội

Trang 23

Từ những cơ sở lý luận ở trên luận văn sẽ tiếp cận nội dung bình đẳng giới trong gia đình nông dân gồm nội dung sau:

Dù chỉ là một cấp độ của bình đẳng giới (trong phạm vi gia đình) nhưng bình đẳng giới trong gia đình lại thể hiện các khía cạnh rất phong phú thông qua quan hệ giữa nam và nữ trong:

- Thực hiện các chức năng trong gia đình

- Việc tiếp cận, kiểm soát các nguồn lực gia đình

- Việc tham gia giải quyết các công việc gia đình

Các khía cạnh trên được giải quyết trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng nhau giữa các thành viên trong gia đình Luật Bình đẳng giới nêu rõ nội dung bình đẳng giới trong gia đình như sau:

- Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình

- Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình

- Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc quyết định lựa chọn

và sử dụng biện pháp kế hoạch hóa gia đình phù hợp, sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con cái ốm theo quy định của pháp luật

- Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển

- Các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình [38,17-18]

Từ cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu, luận văn sẽ tiếp cận nội dung bình đẳng giới trong gia đình nông dân gồm những nội dung sau:

Trang 24

- Phân công lao động theo giới trong sản xuất và trong các công việc của gia đình Phân công lao động giữa vợ và chồng, giữa nam và nữ trong gia

đình cũng như ngoài xã hội

Sự tham gia của phụ nữ vào công việc ra quyết định, tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực Các quyết định trong gia đình được phân chia thành hai loại: quyết định trong công việc sản xuất và quyết định sinh sản và trong sinh hoạt hàng ngày Việc tham gia vào các quyết định trong gia đình phản ánh mối tương quan quyền lực giữa nam và nữ

Các nội dung trên sẽ làm nhận diện sự bình đẳng giới trong gia đình nói chung và gia đình nông dân nói riêng, đồng thời tìm ra các nguyên nhân căn bản của tình trạng đó, từ đó đưa ra các giải pháp tác động làm giảm dần, tiến tới xóa bỏ sự bất bình đẳng giới trong gia đình

1.1.2 Vai trò của bình đẳng giới trong gia đình nông dân

Gia đình là tế bào của xã hội Gia đình đóng vai trò rất quan trọng trong mỗi đời sống của con người Là cái nôi nuôi dưỡng con người Gia đình là một hình ảnh vô cùng thân thương, gắn bó và ấm áp nghĩa tình, là nơi trú ngụ bình yên nhất, vững chắc nhất của mỗi người

Gia đình và xã hội luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau Trong mối quan hệ với xã hội, gia đình là nhân tố tích cực thúc đẩy sự phát triển xã hội thông qua việc thực hiện các chức năng của mình Mặt khác sự phát triển của

xã hội cũng trực tiếp tác động đến phát triển của gia đình cả về kết cấu, chức năng, đời sống vật chất và đời sống tinh thần , đặc biệt quan hệ giới

Nông dân là bộ phận đông đảo - lực lượng quan trọng góp phần xây dựng và làm chủ xã hội hiện nay, việc xóa bỏ tình trạng bất bình đẳng về giới trong gia đình nông dân sẽ góp phần thúc đẩy nhanh sự phát triển phồn vinh của đất nước Do vậy, thực hiện bình đẳng giới trong gia đình nông dân rất cần thiết, nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, là cơ sở

Trang 25

động lực để xây dựng gia đình văn hóa góp phần thực hiện tốt chiến lược bình đẳng giới góp phần giải phóng phụ nữ Điều này xuất phát từ những lý do sau:

1.1.2.1 Xuất phát từ vị trí quan trọng của gia đình đối với phát triển cá nhân và xã hội

Gia đình là một phạm trù xuất hiện sớm trong lịch sử xã hội loài người

và đã không ngừng biến đổi cùng với bước tiến của nền văn minh nhân loại

Gia đình không tồn tại một cách cô lập mà luôn có mối quan hệ với xã hội, gia đình tốt thì xã hội tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt hơn Trong mối quan hệ với xã hội, gia đình là nhân tố tích cực thúc đẩy sự phát triển xã hội thông qua việc thực hiện các chức năng trọng đại: tái sản xuất ra con người, là đơn vị sản xuất và tiêu dùng của xã hội, nơi trực tiếp thực hiện mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; gia đình còn là nơi bảo lưu truyền thụ nền văn hóa dân tộc Mặt khác sự phát triển của xã hội cũng tác động trực tiếp đến phát triển của gia đình cả về kết cấu, chức năng, đời sống vật chất và tinh thần , đặc biệt quan hệ giới

Quan hệ giữa gia đình với xã hội là quan hệ giữa cái bộ phận và cái toàn thể Dù ở bất kỳ ở giai đoạn lịch sử nào thì gia đình vẫn giữ một vị trí quan trọng đối với cá nhân và xã hội

Đối với cá nhân, gia đình là cái nôi nuôi dưỡng con người từ thủa lọt

lòng cho tới lúc về già Gia đình là tổ ấm mang lại hạnh phúc cho con người Trong gia đình, con người được đảm bảo về vật chất, giáo dục, tình cảm trẻ

em có điều kiện an toàn để khôn lớn, người già có nơi nương tựa, an ủi, người lao động được quan tâm chăm sóc sức khỏe và thoải mái về tinh thần Có rất nhiều vấn đề ngoài môi trường gia đình không tổ chức nào có thể đáp ứng và giải quyết có hiệu quả, do đó khó sống trong một gia đình đầm ấm, bình đẳng, hạnh phúc cá nhân mới có điều kiện để phát huy hết những khả năng của mình

Trang 26

góp phần phát triển xã hội Có thể nói một trong những bất hạnh lớn nhất của con người là lâm vào tình cảnh “vô gia cư ”, gia đình bất hòa, đổ vỡ, ly tán

Đối với xã hội, thực tiễn đời sống đã chứng minh gia đình là một thiết

chế xã hội đặc biệt mà khó có thể thiết chế nào thay thế được Gia đình là đơn

vị cơ sở của xã hội Trong quá trình vận động, gia đình vừa tuân thủ những quy luật và cơ chế chung của xã hội vừa theo quy định và tổ chức riêng của mình Gia đình còn là cầu nối mọi thành viên trong gia đình với xã hội Xã hội tác động đến con người thông qua gia đình Ngược lại, xã hội (Nhà nước,

cơ quan, bạn bè) cũng có thể nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn về một con người khi nhận rõ hoàn cảnh gia đình của người ấy Nhiều nội dung quản lý

xã hội không chỉ thông qua hoạt động của các thiết chế xã hội mà còn thông qua hoạt động của gia đình để tác động đến con người, nghĩa vụ và quyền lợi của con người được thực hiện dưới sự hợp tác chung của các thành viên trong gia đình, qua đó ý thức công dân của cá nhân được nâng cao và sự gắn bó giữa gia đình và xã hội có nội dung xác thực Và bởi thế, gia đình giữ một vai trò đặc biệt quan trọng sự phát triển kinh tế xã hội nói chung Gia đình là tế bào của xã hội

Trong mối quan hệ với xã hội gia đình là yếu tố hạt nhân, vì vậy xã hội muốn đạt tới bình đẳng giới phải chú ý giải quyết tốt mối quan hệ về giới ngay từ trong gia đình Ngày nay, việc xây dựng gia đình “ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” là nhằm góp phần làm cho “tế bào” xã hội lành mạnh Gia đình tiến bộ trên cơ sở tiến bộ của mọi thành viên và không tách rời sự tiến bộ của xã hội Sự tiến bộ của các thành viên trong gia đình được thể hiện bởi trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ nhận thức các vấn đề văn hóa, chính trị - xã hội ngày càng được nâng cao Đó vừa

là kết quả của sự tiến bộ xã hội, đồng thời cũng là điều kiện thúc đẩy sự phát triển của xã hội

Trang 27

Trải qua quá trình phát triển của xã hội loài người, từ xa xưa cho tới nay tình trạng bất bình đẳng giới trong gia đình vẫn luôn diễn ra Hướng tới mục tiêu bình đẳng giới trong gia đình là góp phần bảo đảm cho gia đình phát triển bền vững, hài hòa

1.1.2.2 Xuất phát từ vị trí, vai trò của nông dân đối với phát triển xã hội

Là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam hiện nay nông dân vẫn chiếm gần 70% dân số Nông dân hiện nay dám nghĩ, dám làm, mạnh dạn tham gia các phong trào phát triển kinh tế - xã hội của địa phương để từ đó vươn lên thoát nghèo, làm giàu; là lực lượng ủng hộ và thực hiện hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Nhiều nông dân đã tích cực tiếp thu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng - vật nuôi và sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Nông dân là lực lượng quan trọng, đông đảo đảm nhiệm phần lớn công việc sản xuất và đời sống ở nông thôn Nông dân tích cực tham gia thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, tích cực tham gia thực hiện các chương trình xóa đói giảm nghèo, đi đầu trong việc thực hiện ba mục tiêu về dân số, sức khỏe, môi trường góp phần xây dựng nông thôn mới, đem lại cho nông thôn một diện mạo mới nhiều khởi sắc

Nông dân là lực lượng xung kích góp phần giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở nông thôn Nhiều nông dân ý thức được vai trò trách nhiệm của mình, tham gia tích cực vào xây dựng Đảng, quan tâm đến những vấn đề chính trị - xã hội của địa phương Là lực lượng quan trọng giữ vững và bảo tồn những giá trị văn hóa dân tộc, góp phần tích cực vào việc xây dựng đời sống văn hóa mới Tích cực tham gia các hoạt động xã hội, nhân đạo, từ thiện, ủng hộ chia sẻ khó khăn mất mát của đồng bào bị lũ lụt, nạn nhân chất độc màu da cam

Trang 28

Số lượng gia đình nông dân chiếm 2/3 số gia đình ở Việt Nam Gia đình nông dân cung cấp nguồn nhân lực chủ yếu cho xã hội hiện nay Nông dân là đối tượng lao động cung cấp nguồn hàng lương thực xuất khẩu chủ lực trong sản phẩm nông nghiệp Trong tình trạng khủng hoảng kinh tế gần đây, nguồn hàng nông nghiệp xuất khẩu đã giúp làm cân đối cán cân xuất nhập khẩu của nước ta Một bộ phận lớn gia đình nông dân hiện nay đi đầu trong nhiều lĩnh vực: kinh tế, dân số kế hoạch hóa gia đình Nhiều gia đình có khát vọng, nhạy bén nắm bắt cái mới, loại bỏ cái nghèo làm giàu đi lên từ chính mảnh đất của mình Trong những năm gần đây xuất hiện nhiều tấm gương nông dân tiêu biểu trong thời kỳ đổi mới Hiện nay gia đình nông dân đã và đang thực hiện nếp sống mới trong cưới xin, ma chay, lễ, tết, hội hè, đồng thời đấu tranh xóa bỏ các hủ tục lạc hậu, các tệ nạn xã hội, nhất là tệ rượu chè,

cờ bạc, ma túy, mại dâm

Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình nông dân chính là khơi dậy tiềm năng sẵn có trong nông dân để tạo điều kiện tốt nhất cho việc phát triển kinh tế - xã hội Việc nhận thức đúng đắn mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình là tiền đề để các thành viên có sự nhận thức được quyền của mình trong việc bàn bạc, quyết định mọi việc chăm lo phát triển kinh tế gia đình Trên cơ sở đó họ được nhận từ gia đình những quyền lợi về vật chất và tinh thần mà gia đình tạo dựng nhờ sự nỗ lực của mọi thành viên Việc xây dựng gia đình bình đẳng tạo điều kiện cho phụ nữ và nam giới phát huy tốt nhất vai trò của mình trong gia đình cũng như ngoài xã hội

1.2 Những yếu tố tác động đến việc thực hiện bình đẳng giới trong gia đình nông dân ở tỉnh Hải Dương hiện nay

Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, tồn tại xã hội như thế nào thì ý thức xã hội như thế ấy, khi tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội thay đổi Ngày nay hiện tượng bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại phổ biến trên thế giới,

Trang 29

đó là sự phân biệt đối xử với phụ nữ, song tính chất, mức độ bất bình đẳng lại không giống nhau giữa các thời đại lịch sử; giữa các nền kinh tế, văn hóa; giữa các chế độ xã hội, giữa các quốc gia; thậm chí các vùng khác nhau trong một quốc gia Điều này cho thấy khi nghiên cứu vấn đề bình đẳng giới trong gia đình nông dân ở tỉnh Hải Dương hiện nay cần nghiên cứu đặt trong điều kiện kinh tế, tự nhiên, văn hóa, xã hội của khu vực này

1.2.1 Yếu tố tự nhiên, kinh tế của tỉnh Hải Dương

1.2.1.1 Điều kiện tự nhiên:

Hải Dương là một tỉnh thuộc Đồng Bằng sông Hồng, lại nằm trong địa bàn kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Với diện tích 1662 Km2, Hải Dương là một trong 7 tỉnh, thành thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Hải Dương tiếp giáp với các vùng phía Đông giáp Thành phố Hải Phòng, phía Tây giáp tỉnh Hưng Yên, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình, phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang

Hải Dương có 12 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: Thành phố Hải Dương, thị xã Chí Linh và 10 huyện: Nam Sách, Kinh Môn, Kim Thành, Thanh Hà, Ninh Giang, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Thanh Miện, Cẩm Giàng và Bình Giang

Hải Dương là điểm chung chuyển giữa Thủ đô Hà Nội và tỉnh Hải Phòng, Quảng Ninh tạo mối giao lưu giữa các vùng kinh tế khác trong nước cũng như khu vực và thế giới Đây cũng là vùng dân số đông, là thị trường tiêu thụ rộng rãi các sản phẩm nông nghiệp của tỉnh Đồng thời cũng là nơi cung cấp máy móc, trang thiết bị kỹ thuật để phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn của tỉnh

Với điều kiện thuận lợi đặc biệt về vị trí địa lý như trên, Hải Dương đã

và đang phát huy lợi thế đó trong phát triển kinh tế, đặc biệt trong phát triển nông nghiệp của tỉnh, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, phát triển nông nghiệp của tỉnh theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế của

Trang 30

tỉnh góp phần nâng cao thu nhập và nâng cao đời sống nhân dân nói chung nông dân nói riêng

Tỉnh Hải Dương được chia làm 2 vùng: vùng đồi núi và vùng đồng bằng Vùng đồi núi nằm ở phía bắc tỉnh, chiếm 11% diện tích tự nhiên gồm

13 xã thuộc huyện Chí Linh và 18 xã thuộc huyện Kinh Môn; là vùng đồi núi thấp, phù hợp với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu mỡ, thích hợp với nhiều loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm

Với điều kiện tự nhiên như trên tỉnh Hải Dương với 89% là đồng bằng dân số 81 % sống ở nông thôn thuận lợi phát triển nông nghiệp được nhiều sự ưu đãi của tự nhiên

Tuy nhiên, địa hình nghiêng và thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Phía đông của tỉnh có địa hình trũng, thường chịu ảnh hưởng của thủy triều và ngập nước vào mùa mưa

Hải Dương nằm gần trung tâm của đồng bằng sông Hồng nên khí hậu mang tính nhiệt đới gió mùa ẩm có mùa đông lạnh Trong năm tỉnh chịu sự thống trị của hai hoàn lưu gió mùa: gió mùa mùa hè và gió mùa mùa đông đã phân hóa khí hậu thành hai mùa rõ rệt Nhân tố hoàn lưu gió mùa đã làm nên

tính chất thất thường của khí hậu

Hải Dương nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,30C, giờ nắng trung bình hàng năm là 1524 giờ, lượng mưa trung bình hàng năm 1.300 - 1.700 mm, độ ẩm trung bình là 85 - 87%

Với đặc điểm khí hậu này có những thuận lợi nhất định cho sản xuất nông nghiệp của người nông dân Tuy nhiên cũng có những ảnh hưởng tới việc sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm của người dân nói chung của người nông dân nói riêng

Trang 31

1.2.1.2 Điều kiện kinh tế:

Năm 2013, tăng trưởng kinh tế của tỉnh ước tính 9 tháng đầu năm, GDP tăng khoảng 5,1%, bằng tốc độ tăng cùng kỳ năm trước Cả năm, tổng sản phẩm trong nước tăng 5,3-5,4% so với năm 2012, thấp hơn kế hoạch đề ra là 5,5% nhưng cao hơn tốc độ tăng của năm 2012

Trong 11 tháng của năm 2013 kim ngạch xuất khẩu của tỉnh ước đạt 2.2230 triệu USD, bằng 119% kế hoạch năm (kế hoạch năm 2013: 1860 triệu USD)

Tính đến nay trên địa bàn tỉnh có 254 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến từ 23 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng vốn đầu tư đăng ký là

5.811,7 triệu USD (trong Khu công nghiệp là 129 dự án với số vốn 2.556,5 triệu USD, ngoài Khu công nghiệp là 125 dự án với số vốn 3.255,2 triệu USD) Tổng vốn đầu tư thực hiện của các Doanh nghiệp FDI tại địa bàn đạt

khoảng 2.700 triệu USD, chiếm 46,4% tổng vốn đầu tư đăng ký; thu hút trên 128.000 lao động trực tiếp tại các Doanh nghiệp cùng hàng ngàn lao động gián tiếp khác Thu hút 151,4 triệu USD, tăng 70,7% so với cùng kỳ năm

Với chính sách thông thoáng, ưu đãi các nhà đầu tư trong và ngoài nước, với lợi thế vị trí thuận lợi, Hải Dương đã thu hút nhiều nhà đầu tư vào khu công nghiệp Theo số liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hải Dương, tính đến hết ngày 31/3/2013, trên địa bàn tỉnh Hải Dương có 247 dự

Trang 32

án đầu tư nước ngoài đến từ 23 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng vốn đầu

tư đăng ký là 5.693,7 triệu USD; tổng vốn đầu tư thực hiện của các doanh nghiệp FDI đạt 2.505,9 triệu USD

Hiện nay, ngành nông nghiệp của tỉnh Hải Dương đang thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư từ trong nước và ngoài nước Năm 2012, tổng số vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngành nông nghiệp là 623,383 triệu đồng Tuy nhiên, số vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản của ngành nông nghiệp vẫn rất thấp chiếm 8,3 %, dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào ngành nông nghiệp ngày càng tăng năm 2012 là 1,5 triệu USD

Trong những năm qua, tình hình nông nghiệp, nông dân, nông thôn trên địa bàn tỉnh đã có bước phát triển nhanh và đạt nhiều thành tựu quan trọng, góp phần và sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội chung toàn tỉnh Cơ cấu kính

tế nông, lâm nghiệp, thủy sản – công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp

và dịch vụ, từ 23,1% - 45,4% - 31,5% (năm 2010) lên 18,7% - 48,8% - 32,5% (năm 2013) Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã đạo điều kiện thúc đẩy, phân công lại lao động xã hội Các hình thức tổ chức sản xuất kinh tế hợp tác tiếp tục được đổi mới, kết cấu hạ tầng kinh tế nông thôn ngày càng được tăng cường, tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập cho nông dân, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đại bộ phận dân cư nông thôn, đặc biệt tạo sự chuyển biến mạnh trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo

Thị trường tiêu thụ rộng lớn, bao gồm thị trường trong tỉnh và thị trường ngoài tỉnh Thị trường trong tỉnh, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao, cơ sở hạ tầng khá phát triển, nền nông nghiệp đang phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa nên trao đổi hàng hóa trở nên khá sôi động Hải Dương giáp với 3 đô thị lớn: Hà Nội, Hải phòng, Quảng Ninh đây là thị trường tiêu thụ rộng lớn Tuy nhiên các thị trường ngày

Trang 33

càng đòi hỏi cao về sự đa dạng và chất lượng của sản phẩm nông nghiệp;

đó là động lực giúp nông nghiệp của tỉnh phát triển với cơ cấu đa dạng và không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm Qua đó tạo điều kiện cho nông nghiệp của tỉnh phát triển, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân

Tuy nhiên cùng với sự phát triển của các khu công nghiệp, quá trình

đô thị hóa của tỉnh cũng đã và đang gây ảnh hưởng tiêu cực cho người nông dân: Ruộng đất bị thu hẹp làm tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm gia tăng; đất đai và nguồn nước bị ô nhiễm do nước thải chưa được xử lý

an toàn; khói và nước thải các nhà máy làm phát sinh nhiều bệnh tật nguy hiểm; tệ nạn xã hội phát triển phức tạp, nhiều tội phạm nguy hiểm gia tăng

Hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh, nhìn chung hầu hết các xã trong huyện, tỉnh đều có một trạm bơm khá kiên cố, hệ thống mương nội đồng thường xuyên được nạo vét thuận lợi tưới tiêu Ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nhiều máy móc đã được sử dụng vào tất cả các khâu quá trình sản xuất Đặc biệt trong hoạt động sản xuất nông nghiệp của nông dân hiện nay đã được cơ giới hóa trong tất cả các khâu sản xuất, chế biến: máy cày, máy gặt, máy bơm, máy tuốt, xay xát, xấy khô Bên cạnh đó nhiều giống cây trồng, vật nuôi mới cho năng xuất cao, chất lượng tốt, giá trị cao đưa vào sản xuất Công tác bảo vệ thực vật đã được thực hiện hiệu quả, xác định được sâu bệnh, dịch hại làm tăng giá trị và chất lượng của nông dân, bảo vệ môi trường

Tỉnh Hải Dương có hệ thống cơ sở hạ tầng khá hoàn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển Mạng lưới giao thông vận tải của Hải Dương khá hoàn chỉnh với đầy đủ các loại hình giao thông, bao gồm cả đường bộ, đường thuỷ, đường sắt Giao thông phân bố hợp lý, giao lưu rất thuận lợi tới các tỉnh Đường bộ có 4 tuyến đường quốc lộ qua tỉnh dài 99 km,

Trang 34

đều là đường cấp I, cho 4 làn xe đi lại thuận tiện Đường sắt tuyến Hà Nội - Hải Phòng chạy song song với quốc lộ 5, đáp ứng vận chuyển hàng hoá, hành khách qua 7 ga trong tỉnh Tuyến Kép - Bãi Cháy chạy qua huyện Chí Linh, là tuyến đường vận chuyển hàng lâm nông thổ sản ở các tỉnh miền núi phía Bắc

ra nước ngoài qua cảng Cái Lân, cũng như hàng nhập khẩu và than cho các tỉnh Đường thuỷ: với 400 km đường sông cho tầu, thuyền 500 tấn qua lại dễ dàng Cảng Cống Câu công suất 300.000 tấn /năm và hệ thống bến bãi đáp ứng về vận tải hàng hoá bằng đường thuỷ một cách thuận lợi

Đặc điểm này có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung và tạo điều kiện cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn phát triển nói riêng Hệ thống giao thông trên bảo đảm cho việc giao lưu kinh tế từ Hải Dương đi cả nước và nước ngoài rất thuận lợi Đặc biệt là việc vận chuyển các sản phẩm nông nghiệp đến thị trường tiêu thụ đảm bảo chất lượng sản phẩm

Trong cơ cấu các ngành công nghiệp, cơ sở công nghiệp chế biến nông sản chiếm trên 9% Tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp của tỉnh là 22,7% Các công ty chế biến sản phẩm nông nông sản của tỉnh có quy mô lớn, mức tăng trưởng cao, thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó, công nghiệp chế biến thức ăn gia súc sản lượng phát triển mạnh đa dạng về chủng loại

Hệ thống khuyến nông được tăng cường và hoàn thiện để giúp các hộ nông dân nâng cao trình độ kỹ thuật, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Chi cục bảo vệ thực vật, Chi cục thú y, Trung tâm giống cây trồng

đã hoạt động tích cực góp phần đáng kể giúp cho phong trào sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp của người nông dân phát triển

Là vùng đồng bằng đất chật, người đông, diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp Đứng trước thực trạng đất đai ngày càng bị thu hẹp, người

Trang 35

nông dân gần như vắt kiệt đất thông qua hệ số sử dụng 1,9 lần (trung bình cả nước 1,56 lần), đồng thời áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất để không ngừng tăng năng suất và sản lượng Đến tháng 11 năm 2013, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ đông 2014 của toàn tỉnh là 20.319 ha, bằng 90,3% kế hoạch Sơ bộ năng suất lúa vụ mùa năm 2013 đạt 54,51 tạ/ha, giảm 6,03% so cùng kỳ năm 2012 (-3,5 tạ/ha) Theo nhận định của những nhà kinh

tế, năng suất và sản lượng trên đã đạt gần tới mức tới hạn tự nhiên, muốn tăng hơn rất khó Bài toán kinh tế công nông dân Hải Dương không chỉ trông vào cây lúa mà phải phát triển ngành nghề để giải phóng sức lao động, tăng thu nhập, xóa đói nghèo, vươn lên làm giàu

Với điều kiện kinh tế, tự nhiên như trên vừa tạo ra những cơ hội, vừa đặt ra những thách thức đối với sự phát triển gia đình nói chung, quan hệ giới trong gia đình nông dân trong tỉnh nói riêng

1.2.2 Yếu tố xã hội, văn hóa của Hải Dương

1.2.2.1 Đặc điểm xã hội:

Theo điều tra dân số năm 2012, Hải Dương có hơn 1.723.335 người Mật độ dân số trung bình: 1.045.26 người/km2 Dân số thành thị: 334.930 người và dân số nông thôn: 1.399.405 người Dân số phân theo giới tính bao gồm: nam: 839.459 người và nữ: 880.033 người Năm 2012 theo Bản đồ dân

số Việt Nam dựa trên số liệu của Tổng cục thống kê dân số Hải Dương chiếm khoảng 2% dân số của cả nước Trong đó có 1.097.976 người trong độ tuổi lao động (59,7% lao động tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp)

Lao động của tỉnh Hải Dương có truyền thống cần cù, sáng tạo, giàu kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp Dân số đông, lực lượng lao động dồi dào và trình độ ngày càng nâng cao Đây là một thế mạnh lớn của tỉnh trong

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đây là một tiềm năng thế mạnh phát triển kinh tế - xã hội cho tỉnh Số lao động nông nghiệp và nông dân chiếm đa

Trang 36

số lao động của tỉnh kết hợp với những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp như trên làm cho đời sống vật chất và tinh thần của nông dân phát triển ngày càng cao

Tuy nhiên mục tiêu phấn đấu nâng cao chất lượng dân số nói chung và trình độ lao động của người nông dân nói riêng là một yêu cầu lớn đối với sự nghiệp công nghiệp, hóa hiện đại hóa của tỉnh Mục tiêu giảm lao động chân tay, lao động thủ công tăng lao động trí óc, lao động có trình độ khoa học, kỹ thuật, có chuyên môn biết áp dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật vào trong sản xuất

Toàn tỉnh đến nay có 100% xã, phường đạt tiêu chuẩn xóa mù chữ, 97,3% dân số 15 tuổi trở lên biết chữ, cao hơn cả nước và vùng đồng bằng Sông Hồng Tỷ lệ trẻ em nữ đến trường đúng độ tuổi ở các cấp học khá cao: tiểu học đạt 100%, Trung học cơ sở đạt 100%, Trung học phổ thông đạt 81,2%

Tỉnh đã có đề án "Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế ở cơ sở tỉnh Hải Dương giai đoạn 2001-2010" trong đó hầu hết các mục tiêu của giai đoạn

2001-2005, giai đoạn 2006-2010 được lồng ghép vào chương trình hành động

Vì sự tiến bộ của phụ nữ về lĩnh vực y tế

Ngành y tế đã thực hiện chủ trương của tỉnh đưa bác sĩ về tuyến xã, đồng thời thường xuyên phối hợp với các ngành, đoàn thể tổ chức tốt việc chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân trong đó có phụ nữ: Đã chú trọng nâng cao chất lượng khám và điều trị ở các tuyến y tế nhất là tuyến cơ sở, tạo điều kiện cho 100% phụ nữ được tiếp cận với các dịch vụ y tế, đảm bảo 100% trạm y tế

xã, phường, thị trấn có nữ hộ sinh (y sỹ sản nhi); hàng năm tổ chức khám sức khoẻ cho trên 40.000 lượt phụ nữ, trên 7.000 lượt trẻ em; hỗ trợ kinh phí và cấp thuốc miễn phí cho phụ nữ nghèo và trẻ em khó khăn trên 47 triệu đồng

Trang 37

Các ngành, đoàn thể hàng năm đã phối hợp với ngành Y tế, Uỷ ban Dân số - Gia đình và Trẻ em tổ chức truyền thông kiến thức và tham gia các chiến dịch truyền thông lồng ghép với dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình; tổ chức

tư vấn tuyên truyền chăm sóc sức khoẻ cho phụ nữ, trẻ em; đồng thời phối hợp với các ngành tích cực tham gia các hoạt động phòng chống HIV/AIDS làm tốt công tác y tế dự phòng; tuyên truyền vận động phụ nữ có thai đi khám

đủ 3 lần đạt 100% Với sự chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho phụ nữ, tuổi thọ bình quân của phụ nữ tỉnh lên tới 77 tuổi (vượt so với chỉ tiêu quốc gia 4 tuổi)

Nhiều địa phương nông dân còn nạn rượu chè, cờ bạc, tệ mê tín dị đoan Về giáo dục ở nhiều xã, huyện, vùng đồng bào dân tộc còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục còn yếu Trong lĩnh vực Y tế, đội ngũ cán bộ y tế còn mỏng, trình độ và y đức còn tồn tại nhiều điểm yếu Nhìn chung cở sở vật chất trang thiết bị của hai ngành giáo dục và y tế còn hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu cho học tập, khám chữa bệnh cho người dân

Năm 2011 có 138 nạn nhân của bạo lực gia đình được phát hiện và được tư vấn về pháp lý và sức khoẻ, 103 người gây bạo lực được tư vấn Các cấp, hội và Sở lao động thương binh và xã hội đã tham mưu với Uỷ ban nhân dân tỉnh các giải pháp chỉ đạo nhằm thực hiện các mục tiêu chiến lược về bình đẳng giới như: đẩy mạnh công tác tư vấn, hoà giải; nhân rộng các mô hình phòng chống bạo lực gia đình ra 30% số xã trong toàn tỉnh, nâng cao chất lượng đường dây nóng tư vấn về hôn nhân gia đình, bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình của tỉnh và nhân rộng ra các huyện, thành phố Xây dựng các địa chỉ tin cậy tại cộng đồng và đẩy mạnh việc tập huấn công tác tư vấn, hoà giải, trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình

Trang 38

Phong trào xây dựng làng, khu dân cư văn hóa trong thời gian qua được các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, ngành đoàn thể quan tâm phối hợp chỉ đạo, được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng tích cực Tính đến nay, toàn tỉnh có 994 làng, khu dân cư đạt danh hiệu làng, khu dân cư văn hóa Kết quả của việc xây dựng làng, khu dân cư văn hóa đã góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng nông thôn mới toàn diện về văn hóa - xã hội, kinh tế - chính trị, an ninh quốc phòng; góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đời sống tinh thần phong phú ở cơ sở, góp phần giữ vững kỷ cương pháp luật, thúc đẩy kinh tế phát triển Tuy nhiên, việc xây dựng làng, khu dân cư văn hóa vẫn còn tồn tại một số hạn chế như phong trào xây dựng làng, khu dân cư văn hóa còn chưa đi vào chiều sâu, nhiều đơn vị còn chạy theo thành tích, chủ quan, trông chờ, ỷ lại vào sự quan tâm của cấp trên, một số địa phương người dân không còn mặn mà với phong trào

Tỷ lệ hộ nghèo trong tỉnh đã giảm rõ rệt: năm 2005 là 17,93% đến năm

2012 chỉ còn 7,26% Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở đã được các cấp, ngành, đoàn thể và quần chúng nhân dân tích cực hưởng ứng Đề án “Tuyên truyền giáo dục lối sống trong gia đình” và kế hoạch tổ chức thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình giai đoạn 2009-

2015 của tỉnh đã được triển khai có hiệu quả; các câu lạc bộ “Gia đình phát triển bền vững” được nhân dân tích cực hưởng ứng Năm 2001 tỷ lệ hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa là 60%, năm 2012 là 83,4%; nâng tổng

số làng, khu dân cư văn hóa từ 186 lên đến 994 làng, khu dân cư văn hóa, đạt

tỷ lệ 69,46%

Việc phát triển kinh tế ở các làng, khu dân cư văn hóa được cán bộ và nhân dân đặt biệt quan tâm chú trọng và tìm nhiều biện pháp để thực hiện có hiệu quả như chuyển giao kinh nghiệm sản xuất, đẩy mạnh phát triển ngành nghề, phát triển nông sản hàng hóa, 100% hộ có nhà mái bằng, nhà xây kiên

Trang 39

cố Các ngành nghề phụ, ngành nghề truyền thống ở nhiều làng, khu dân cư

văn hóa được khôi phục và phát triển, đã có nhiều làng nghề truyền thống được công nhận mới Hạ tầng giao thông được nâng cấp trải nhựa và bê tông đạt cao

Làm tốt công tác hòa giải ở cơ sở, 100% các làng đều có tổ hòa giải, hàng năm đều có báo cáo sơ kết về công tác hòa giải trong hội nghị tổng kết

làng, khu dân cư văn hóa hàng năm Trong những năm qua đã có 816 làng, khu dân cư được công nhận là an toàn về an ninh trật tự

Như vậy, có thể nói phong trào xây dựng Làng, Khu dân cư văn hóa tỉnh Hải Dương đã tác động mạnh mẽ sâu rộng đến các lĩnh vực của đời sống

xã hội và thực sự phát huy vai trò tự quản của cộng đồng Hình thành nếp sống văn minh, đấu tranh bài trừ các tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan và các hủ tục lạc hậu Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đời sống tinh thần phong phú ở nông thôn, góp phần giữ vững kỷ cương pháp luật, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Hải Dương ngày càng phát triển

Trong những năm gần đây, các hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, xã hội của tỉnh đã có sự phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên quan hệ xã hội, đặc điểm

xã hội, văn hóa của người nông dân và gia đình nông dân trong tỉnh Hải Dương có nhiều điểm đặc trưng khác biệt với giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội Điều này đã và đang ảnh hưởng tới các quan hệ xã hội nói chung quan hệ

về giới và bình đẳng giới trong gia đình nông dân ở tỉnh nói riêng

Nông dân ở tỉnh Hải Dương sống tập trung chủ yếu ở nông thôn và đặc điểm chung của nông thôn đồng bằng Bắc Bộ nói chung và tỉnh Hải Dương nói riêng đều sống quần tụ thành từng làng Trong lịch sử, tổ chức làng được hình thành rất sớm, với nhiều mối quan hệ đan xen như quan hệ huyết thống, quan hệ nghề nghiệp, quan hệ cố kết để sản xuất Ở đó lối sống của người dân

Trang 40

ngưng đọng của nền kinh tế tự cấp tự túc, cuộc sống thay đổi chậm Các thành viên trong gia đình có mối quan hệ ràng buộc với họ hàng, gia tộc, làng xóm; con người luôn hiện diện như một thành viên của cộng đồng chứ chưa phải là một cá thể định hình, xa lạ với khái niệm công dân Trong trật tự phân vị trên dưới, trai gái, nội ngoại, không thể nói đến bình đẳng giữa các thành viên, càng không có bình đẳng nam nữ Mỗi cá nhân hòa tan vào cộng đồng, thân phận phụ nữ càng bị lệ thuộc, ràng buộc chặt chẽ hơn

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, địa vị xã hội của người lao động, đặc biệt với phụ nữ đã từng bước đứng lên làm chủ xã hội, làm chủ đời sống của mình Cơ chế thị trường tác động sâu sắc tới quan hệ xã hội nông dân, nông thôn đồng thời cũng tác động dữ dội vào lề thói gia trưởng áp đặt trong quan hệ gia đình Đòi hỏi con người phải xử lý mọi vấn đề căn cứ vào thực lực về vật chất, kinh nghiệm, tri thức, bản lĩnh bên cạnh đó, yêu cầu về tự do phát triển nhân cách, về dân chủ, công bằng bình đẳng trong xã hội đã và đang tác động mạnh mẽ đến những quan hệ trong gia đình, làng xóm

Gia đình Việt Nam nói chung, gia đình nông dân ở tỉnh Hải Dương nói riêng đang trong thời kỳ quá độ chuyển từ nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, mang nặng tính tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa, quá trình thực hiện công nghiệp hóa Trong giai đoạn này mỗi thành viên, mỗi gia đình không tránh khỏi những đấu tranh giằng xé giữa cái cũ và cái mới, cái tiến bộ và cái lạc hậu điều này cũng ảnh hưởng mạnh mẽ đến quan hệ về giới trong gia đình Quá trình đổi mới làm cho xã hội nông thôn không còn thuần nhất bên cạnh giai cấp nông dân xuất hiện tầng lớp tiểu chủ, tiểu thương, đội quân làm thuê; giai cấp nông dân không còn thuần túy sản xuất nông nghiệp mà có sự kết hợp với công nghiệp, dịch vụ Phân hóa giàu nghèo trong nông dân ngày

Ngày đăng: 20/07/2017, 17:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Nghị quyết số 04/NQ-TW của Bộ Chính trị về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 04/NQ-TW của Bộ Chính trị về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1993
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Chỉ thị số 37/CT-TW ngày 16 tháng 5 của Ban Bí thư về công tác cán bộ trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 37/CT-TW ngày 16 tháng 5 của Ban Bí thư về công tác cán bộ trong tình hình mới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1994
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Chỉ thị số 49/CT-TW ngày 21 tháng 12 của Ban Bí thư về xây dựng gia đình thời kỳ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 49/CT-TW ngày 21 tháng 12 của Ban Bí thư về xây dựng gia đình thời kỳ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
12. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 52, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
13. Đảng bộ tỉnh Hải Dương (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2010-2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Hải Dương
Năm: 2010
14. Trần Thanh Hiển, Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình nông dân ở đồng bằng Sông Cửu Long hiện nay, Chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học. Mã số: 60.22.85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình nông dân ở đồng bằng Sông Cửu Long hiện nay
15. Hồ Chủ tịch với vấn đề giải phóng phụ nữ (1970), Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chủ tịch với vấn đề giải phóng phụ nữ
Tác giả: Hồ Chủ tịch với vấn đề giải phóng phụ nữ
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1970
16. Lê Thị Thanh Hương (2009), “Một số biểu hiện bất bình đẳng giới liên quan đến việc làm trong gia đình Việt Nam hiện nay”, Tâm lý học, (1), tr.24-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biểu hiện bất bình đẳng giới liên quan đến việc làm trong gia đình Việt Nam hiện nay”, "Tâm lý học
Tác giả: Lê Thị Thanh Hương
Năm: 2009
18. Trần Thị Quốc Khánh (2006), “Bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, xã hội”, Lao động xã hội, (282), tr.24-25,12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, xã hội”, "Lao động xã hội
Tác giả: Trần Thị Quốc Khánh
Năm: 2006
19. Phan Thanh Khôi, Đỗ Thị Thạch (đồng chủ nhiệm) (2007), Những vấn đề giới: từ lịch sử đến hiện đại, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề giới: từ lịch sử đến hiện đại
Tác giả: Phan Thanh Khôi, Đỗ Thị Thạch (đồng chủ nhiệm)
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2007
20. Đặng Thị Linh, Tập bài giảng Lý luận về giới và bình đẳng giới, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng Lý luận về giới và bình đẳng giới
21. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, tập 38, Nxb Tiến bộ, Mátxơcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1977
22. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, tập 40, Nxb Tiến bộ, Mátxơcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1977
23. C.Mác - Ph.Ăngghen (2005), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
24. C.Mác - Ph.Ăngghen (2005), Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w