1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt (tt)

27 565 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 603,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt (tt)Thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt (tt)Thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt (tt)Thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt (tt)Thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt (tt)Thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt (tt)Thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt (tt)Thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt (tt)Thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt (tt)Thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt (tt)Thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt (tt)Thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt (tt)Thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt (tt)Thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt (tt)Thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt (tt)Thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt (tt)Thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt (tt)Thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt (tt)

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRỊNH VIẾT TOÀN

THẾ GIỚI THỰC VẬT TRONG CA DAO

CỔ TRUYỀN NGƯỜI VIỆT

Chuyên ngành: Văn học dân gian

Mã số: 62.22.01.25

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Phản biện 2: PGS.TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG CHÂM

Phản biện 3: PGS.TS PHẠM THU YẾN

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội

hồi giờ ngày tháng năm 2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại:

Thư viện quốc gia

Thư viện Học viện Khoa học xã hội

Trang 3

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1 Trịnh Viết Toàn (2016), “Nghệ thuật ẩn dụ trong ca dao về thế giới thực vật”, Tạp chí Đại học Sài Gòn, Số 17 (42) – T6/2016, Trang 131-135

2 Trịnh Viết Toàn (2016), “Thủ pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao về thế giới thực vật”, Tạp chí Đại học Sài Gòn, Số 19(44) – T8/2016, Trang 42-46

3 Trịnh Viết Toàn (2016), “Biểu trưng hoa trong ca dao người Việt”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Số 387 - T9/2016, Trang 105-108

4 Trịnh Viết Toàn (2016), “Đặc điểm tính ngữ trong ca dao

về thế giới thực vật”, Tạp chí Ngôn ngữ & đời sống, Số 10 (252) – T10/2016, Trang 42-46

5 Trịnh Viết Toàn (2017), “Lối ứng xử với hệ sinh thái thực vật qua ca dao”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, Số 1 (539) - T1/2017, Trang 55-65

6 Trịnh Viết Toàn (2017), “Đặc điểm thời gian nghệ thuật trong ca dao về thế giới thực vật”, Tạp chí Lý luận Phê bình Văn học

- Nghệ thuật, Số 55 – T3/2017, Trang 57-61

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ca dao không chỉ phản ánh những tâm tư tình cảm của người Việt xưa mà còn là bức tranh sinh động phản ánh nhiều mặt của đời sống, mang đậm bản sắc Việt Nam Từ hình ảnh cây đa, bến nước, cánh đồng làng quê thân thuộc cho đến các quan hệ xã hội phức tạp; những truyền thống quý báu của dân tộc đều được người Việt phản ánh qua ca dao một cách hết sức sinh động Thông qua các hình ảnh, biểu tượng thực vật thể hiện trong ca dao, cần tìm hiểu và đánh giá sâu về các đặc điểm tâm lý, văn hóa của người Việt trong mối quan

hệ ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội

Chưa có một công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu một cách tổng thể các đặc trưng của toàn bộ thế giới thực vật trong trong ca dao cổ truyền người Việt Chính vì thế, việc nghiên cứu những đặc điểm biểu hiện và giá trị thẩm mĩ của thế giới thực vật trong ca dao

cổ truyền người Việt sẽ đem lại một cách nhìn có hệ thống, toàn diện

về một thực thể vật chất – tinh thần quan trọng, luôn đồng hành với con người trong suốt tiến trình của lịch sử tiến hóa, nhận thức Xuất phát từ những lí do trên, việc lựa chọn đề tài: “Thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt” làm đề tài nghiên cứu của luận án

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khảo sát kho tàng ca dao cổ truyền người Việt, thông qua công

trình Kho tàng ca dao người Việt, xây dựng các tiêu chí phân loại để

phân loại các dạng thức tồn tại của thế giới thực vật, qua đó thấy được tần số xuất hiện của thực vật trong ca dao; Lý giải các dạng thức tồn tại/biến thể của thực vật trong ca dao từ những cơ sở văn hóa, văn học

Trang 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án chọn thực vật và những biểu hiện của nó trong ca dao

cổ truyền làm đối tượng nghiên cứu

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án chọn Kho tàng ca dao người Việt, Nxb Văn hóa thông

tin, 2001, do các soạn giả Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật biên soạn làm phạm vi nghiên cứu

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Hướng tiếp cận liên ngành: PP NC văn bản Văn học dân gian;

PPNC Văn hóa dân gian; PPNC Lịch sử; PPNC Dân tộc học; Phương pháp nghiên cứu Nhân học văn hoá

- Thao tác khảo sát, thống kê; Thao tác so sánh, phân tích, tổng hợp

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án đã có một cái nhìn bao quát, đánh giá về tình hình tư liệu cũng như các nghiên cứu liên quan đến thế giới thực vật trong ca dao; khảo sát và chỉ ra được những dạng thức tồn tại của thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền, khẳng định sự phong phú, gắn bó của thực vật từ trong đời sống tự nhiên đối với đời sống con người và kiến giải việc thực vật đã đi vào đời sống văn hoá, tâm thức của người Việt: thực vật từ tự nhiên đến văn hóa; làm rõ: thông qua thế giới thực vật, người Việt đã thể hiện những lối ứng xử đậm chất cảm hứng từ thực vật Đây là cách kiến giải mới, có tính đóng góp của luận án; nghệ thuật biểu hiện trong da dao được tác giả dân gian lấy

từ nhiều cảm hứng khác nhau, trong đó, thực vật là một chất liệu quan trọng Luận án phân tích, kiến giải và chỉ ra được các giá trị nghệ thuật đặc sắc của ca dao từ nguồn cảm hứng và chất liệu này

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Về mặt lý luận: khẳng định hướng nghiên cứu văn hoá văn học

trong nghiên cứu folklore và thơ ca trữ tình dân gian; mối quan hệ giữa văn hoá và văn học: Ca dao người Việt gắn bó chặt chẽ với văn hoá dân tộc, kết tinh của văn hóa người Việt Về mặt thực tiễn: Luận

án góp thêm một tiếng nói vào bức tranh nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam; Bước đầu thể hiện được hướng tiếp cận sinh thái; Công trình là nguồn tài liệu tham khảo phục vụ học tập và nghiên cứu cho sinh viên và học viên sau đại học

Trang 6

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, Kết luận, TLTK, luận án có 4 chương: Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài; Chương 2: Các dạng thức biểu hiện của thế giới thực vật và lối ứng xử của con người với thực vật trong ca dao cổ truyền; Chương 3: Sự biểu hiện của thế giới thực vật qua cách sử dụng ngôn ngữ và thủ pháp nghệ thuật trong ca dao; Chương 4: Sự biểu hiện của thế giới thực vật qua kết cấu và không gian, thời gian nghệ thuật trong ca dao

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Lịch sử sưu tầm, nghiên cứu về ca dao

1.1.1.1 Những công trình bằng chữ Hán, chữ Nôm

1.1.1.2 Những công trình sưu tầm nghiên cứu bằng chữ Quốc ngữ

Trong phần này, luận án liệt kê các công sưu tầm, nghiên cứu về

ca dao bằng chữ Hán và Chũ Nôm từ trước đến nay Nhìn chung, các công trình này đã vận dụng các lý thuyết folklore để tiếp cận ca dao một cách khá bài bản

1.1.2 Vấn đề thực vật trong ca dao

Liên quan đến vấn đề này có những công trình đáng chú ý sau:

Luận án Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thẩm mỹ - không gian trong ca dao của Trương Thị Nhàn; Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Điệp với Luận án Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao truyền thống người Việt; Bài viết Một số biểu tượng trong ca dao, tác giả Nguyễn Xuân Kính; Luận án Thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt, có Luận án Thiên nhiên trong ca dao trữ tình Nam Bộ của Trần Thị Diễm Thúy; Trần Thị Kim Liên nghiên cứu về Tính thống nhất

và sắc thái riêng trong ca dao người Việt ở ba miền Bắc – Trung – Nam; Luận án Thiên nhiên trong ca dao trữ tình đồng bằng Bắc Bộ của Đặng Thị Diệu Trang; Luận án Thiên nhiên với văn hóa vùng trong ca dao trữ tình Trung bộ của tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân…

Nhìn chung, các công trình kể trên đã ít nhiều đề cập đến thế giới thực vật Đó có thể là hoa, cây với tư cách là biểu tượng; là sắc thái văn hoá vùng miền qua tự nhiên là cấu trúc của ca dao nhìn từ kết

Trang 7

cấu… Tuy vậy, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách

toàn diện về thế giới thực vật trong ca dao

1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

1.2.1 Khái niệm thực vật và “thế giới thực vật trong ca dao”

Theo từ điển bách khoa vi.wikipedia.org, thực vật là những sinh

vật có khả năng tạo cho mình chất dinh dưỡng từ những hợp chất vô

cơ đơn giản và xây dựng thành những phần tử phức tạp nhờ quá trình

quang hợp, diễn ra trong lục lạp của thực vật

1.2.2 Các khái niệm: hình ảnh, hình tượng, biểu tượng, biến thể,

biểu trưng

Theo Từ điển Tiếng Việt, Hình ảnh có hai nghĩa: (1) “Hình

người, vật, cảnh tượng thu được bằng khí quang học (như máy ảnh),

hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí (2) “Khả

năng gợi tả sinh động trong cách diễn đạt” Hình tượng “là sự phản

ánh hiện thực một cách khách quan bằng nghệ thuật dưới hình thức

những hình tượng cụ thể, sinh động, điển hình, nhận thức trực tiếp

bằng cảm tính Còn Biểu tượng (Symbole): (1) “Hình ảnh tượng

trưng Chim bồ câu là biểu tượng hòa bình” (2) “Hình thức của nhận

thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong

đầu óc sau khi tác động của sự vật vào trong giác quan đã chấm dứt”

Biểu trưng là một yếu tố hình thức mang tính nội dung sâu sắc, gắn

liền với đặc điểm văn hóa dân tộc, địa phương, biểu trưng gần như

đồng nghĩa với ẩn dụ, có nhiều trong các thể loại về văn học dân

gian, phổ biến nhất là trong ca dao, đặt biệt là trong ca dao về thế

giới thực vật

1.3 Cơ sở lý thuyết của đề tài

1.3.1 Cơ sở Văn hóa – văn học

+ Về mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên và môi trường văn hóa:

Trong ca dao, thế giới thực vật được phản ánh và lưu giữ ở nhiều

phương diện của giá trị văn hóa Việt Nam: văn hóa ứng xử với môi

trường tự nhiên, văn hóa ứng xử trong môi trường xã hội, chiều

hướng tâm lí, tâm linh, quan niệm nhân sinh của người Việt Những

công trình nghiên cứu về vấn đề văn hóa, văn học, đặc biệt là ca dao

đã chỉ ra một số khía cạnh trong giá trị văn hóa của thế giới thực vật

trong ca dao

+ Thực vật với tư cách là những mã văn hóa trong ca dao người

Việt: Mã văn hóa được hình thành trong môi trường tự nhiên và xã

hội Mã văn hóa có tính truyền thống, ổn định, là dấu hiệu đặc trưng

Trang 8

nhận diện Thực vật đi vào trong thế giới ca dao với tư cách là những tín hiệu thẫm mỹ gắn với đặc trưng văn hóa người Việt, có thể cảm nhận được bằng giác quan Do vậy, với tư cách là những mã văn hóa, thế giới thực vật gợi lên những hình ảnh ước lệ, tượng trưng mang chiều sâu triết lý của văn hóa người Việt

+ Thiên nhiên và thế giới thực vật trong truyền thống văn học:

Khi tìm hiểu các giá trị của hệ thống hình tượng liên quan đến “thế giới thực vật” trong ca dao, chúng ta nên chú ý đến mối quan hệ giữa bình diện văn hóa và bình diện văn học, những điểm đồng nhất và độ chênh giữa hai bình diện này trong những biểu hiện cụ thể của thế giới thực vật trong các bài ca dao cụ thể cũng như các kiểu bài ca dao nhất định Trong phạm vi nghệ thuật nói chung và ca dao nói riêng, các mã văn hóa chung trở thành các mã nghệ thuật, các biểu tượng văn hóa trở thành biểu tượng, hình tượng nghệ thuật, được cấu tạo bởi các chất liệu đặc trưng

1.3.2 Cơ sở biểu tượng học

Có thể nói có bao nhiêu nhà nghiên cứu về biểu tượng thì có bấy

nhiêu khái niệm Có thể xác định qua một số đặc tính sau: có tính thống nhất giữa cấp độ bản thể và cấp độ biểu hiện Đây chính là

mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt có tính thống nhất

giữa vật chất và tinh thần; tính quy ước và võ đoán của biểu tượng

Đây thực chất là mối quan hệ giữa mặt vật biểu và mặt hàm biểu của

sự vật hiện tượng; tính đa nghĩa và linh hoạt Sự khác nhau giữa tín

hiệu và biểu tượng là tín hiệu đơn nghĩa, còn biểu tượng thì đa nghĩa

và tồn tại trên nhiều bình diện khác nhau

Biểu tượng văn hóa có tính chất sống động, khó nắm bắt, khó

xác định nhưng lại vừa có tính chất ổn định tương đối, nếu luôn thay

đổi sẽ không còn mang tính chất biểu tượng Biểu tượng văn hóa và biểu tượng nghệ thuật cũng có sự khác biệt nhất định Thường trong

quá trình phát triển, biểu tượng văn hóa có sự bổ sung ý nghĩa, nhưng

sau một thời gian ý nghĩ đó trở nên cố định Biểu tượng nghệ thuật ca dao có những nét riêng, được xây dựng bằng ngôn từ nói và viết với

những quy ước của cộng đồng, đó chính là những kí hiệu ngôn từ được lặp đi lặp lại nhiều lần, có khả năng biểu hiện những ý nghĩ sâu

xa từ những hình ảnh, sự kiện về thế giới tự nhiên và xã hội đã được dân gian chọn lọc và sử dụng từ thế hệ này qua thế hệ khác

Trang 9

1.3.3 Cơ sở thi pháp học

Thi pháp là hệ thống những nguyên tắc, cách thức xây dựng hình tượng, tổ chức tác phẩm, lựa chọn và sử dụng, tổ chức các

phương tiện ngôn ngữ để làm nên tác phẩm văn học Thi pháp là một

hệ thống những yếu tố hình thức có quan hệ chặt chẽ với nhau để

cùng tạo nên một thế giới nghệ thuật nhất định, do vậy ta nói thi pháp

có tính hệ thống Thế giới nghệ thuật trong tác phẩm văn chương bao gồm: Con người, không gian và thời gian, sự kiện, ngôn ngữ, kết cấu,

thư pháp… và trong hệ thống thi pháp còn có cả quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn Tóm lại: Vận dụng lý thuyết về thi pháp và tiếp cận thi pháp ca dao là dựa trên các nguyên tắc và đặc trưng thể loại để tìm hiểu các vấn đề: nhân vật trữ tình, ngôn ngữ; không gian và thời gian nghệ thuật; kết cấu ca dao và các biểu tượng, hình ảnh trong ca dao

Chương 2: CÁC DẠNG THỨC BIỂU HIỆN CỦA THẾ GIỚI THỰC VẬT VÀ LỐI ỨNG XỬ CỦA CON NGƯỜI VỚI THỰC VẬT TRONG CA DAO CỔ TRUYỀN

2.1 Khảo sát phân loại

2.1.1 Nguyên tắc khảo sát

Về đối tượng khảo sát: Thực vật và các dạng thức của thực vật;

Phạm vi khảo sát: Kho tàng ca dao người Việt; Phân chia các loại

biểu hiện: Về các biểu hiện của thực vật, chúng tôi chia ra các biểu

hiện cụ thể, bao gồm: cây; hoa; lá; cành; củ/quả/hạt; Về môi trường

sống của thực vât, chúng tôi chia ra hai môi trường cụ thể: Trên cạn

và dưới nước; Về tính chất của loại thực vật, chúng tôi chia làm hai

loại: thiên nhiên tạo và nhân tạo

2.1.2 Kết quả khảo sát phân loại

Kết quả khảo sát sự biểu hiện của thực vật như sau:

(Xin xem phần Phụ lục: Bảng thống kê thực vật trong ca dao)

Trang 10

Bảng 2.1: Tần số xuất hiện của thực vật qua các dạng thức cụ thể

Tổng số lần thực vật xuất hiện

Thực vật trên cạn

Thực vật dưới nước

248/267 92,88%/B

19/267 07,12%/B Dạng

293 9,61%

117 3,84%

632 20,74%

2.2 Biểu hiện của thực vật trong ca dao qua lối ứng xử của con người

2.2.1 Lối ứng xử với hệ sinh thái thực vật qua ca dao nhìn từ phương diện vật chất: khả năng tận dụng, tối ưu hóa các dạng thức của thực vật phục vụ đời sống

Cây lúa: Còn nhỏ là cây mạ, lớn lên là lúa, ngọn lúa đâm bông gọi là đòng; hạt lúa nếp non rang lên là cốm, hạt lúa già là thóc; bông lúa gặt về thì phần còn lại ngoài đồng là rạ, đập tách hạt thóc ra rồi thì phần còn lại của bông lúa là rơm; sau khi xay giã xong thì hạt thóc chia thành gạo, cám, trấu, gạo gãy gọi là tấm; gạo nấu lên thành cơm, xôi, nấu cho nhiều nước thành cháo, chế biến thành món quà là bỏng… Các dạng thức từ cây lúa: Hạt thóc sau khi tách vỏ, ngoài gạo

ra sẽ có, trấu, cám Những phế phẩm tưởng chừng như bỏ đi này lại được con người tận dụng Nếu cám được dùng trong chăn nuôi thì

trấu lại được con người tận dụng để làm chất đốt Tâm thành đốt một đống rơm/ Khói lên nghi ngút, chẳm thơm chút nào/ Khói lên đến tận thiên tào/ Ngọc Hoàng phán hỏi: “Mụ nào đốt rơm” Rơm rạ đã trở

thành cảm hứng biểu hiện cho tình yêu và thân phận của những người

dân: Nhớ ai bổi hổi bồi hồi/ Như đứng đống lửa như ngồi đống rơm;

Trang 11

gọi là dái mít, hay được trẻ con hái ăn với muối Lớn lên một chút, gọi là mít non, dùng để luộc ăn với mắm nêm Mít non cũng có thể

dùng làm trộn gỏi hoặc nấu canh với cá, với lá lốt: Ai về nhắn với bạn nguồn/ Mít non gửi xuống cá chuồn gửi lên Cây mít đã đi vào trong

ca dao với đầy đủ các dạng thức của nó Đó là cách người xưa chiêm nghiệm về lối sống, tình cảm hay đơn giản chỉ là một cách ứng xử

thông thường: Trách ai ăn mít bỏ xơ/ Ăn cá bỏ lờ, ở dạ bạc đen…

Cây tre được sử dụng rất nhiều trong đời sống của con người

Đầu tiên phải kể đến măng, tức cây tre lúc còn nhỏ Ở dạng thức này,

tre chủ yếu dùng để làm thực phẩm: Măng non nấu với gà đồng/ Chơi nhau một trận xem chồng về ai; Bột sam nấu với măng vòi/ Bún tàu lại nấu với cá mòi nhãi ranh…; Tre từ góc đến ngọn đều được sử dụng: Tre già anh để pha nan/ Lớn đan nong né, bé đan giần sàng/ Gốc thì anh để kê giường/ Ngọn ngành anh để cắm giàn trầu, dưa.…

Người Việt đã tận dụng, tối ưu hóa các dạng thức của thực vật để phục vụ đời sống của mình một cách linh hoạt vừa mang lại tính thực dụng đồng thời thể hiện một nét tâm lý văn hóa trong cách ứng xử với môi trường thực vật

2.2.2 Lối ứng xử với hệ sinh thái thực vật qua ca dao nhìn từ phương diện tinh thần

2.2.2.1 Lối ứng xử trân trọng, linh thiêng hóa thực vật

Tín ngưỡng cây lúa còn thấy ở lễ hội đền Hùng, ở dấu tích trên

trống đồng Trong ca dao và tục ngữ cũng rất đề cao cây lúa: Bảo nhau gặt lúa vội vàng/ Mang về nhặt lúa, luận bàn thóc đôi; Cây đa

được coi là nơi trú ngụ của các vị thần linh hay ma quỷ Vì thế, trong

dân gian có câu: Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề; Ở cho phải phải phân phân/ Cây đa cậy thần, thần cậy cây đ; Cây thị cáo ma, cây đa có thần…; Người Việt có tục thờ cây mía vào ngày tết: Mẹ già như chuối bà hương/ Như xôi nếp một, như đường mía lau; Mẹ em đi chợ đường ngoài/ Mua em cây mía vừa dài vừa cong…;

Một dạng thức khác của thực vật cũng được người Việt linh thiêng, thờ cúng đó là các loài hoa và quả Biểu hiện rõ nét nhất của tục thờ này là mâm ngũ quả và các loài hoa được chưng trong ngày

tết trên 3 miền của đất nước Phật thủ nhiều ngón nàng ơi/ Thanh yên anh để thảnh thơi trong nhà/ Quả hồng thờ mẹ kính cha/ Quả cau làm lễ cưới ta với mình

Trang 12

2.2.2.2 Sử dụng thực vật làm vật gợi hứng trong sáng tác ca dao

a Thực vật và cảm hứng thẩm mĩ người Việt trong ca dao

Đầu tiên có thể kể đến quan niệm về vẻ đẹp ngoại hình của

người con gái: Trúc xinh trúc mọc đầu đình/ Em xinh em đứng một mình cũng xinh/ Trúc xinh trúc mọc bờ ao/ Em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh Một cách ẩn dụ, hình dáng người thiếu nữ mang một vẻ đẹp hao gầy nhưng cũng cứng cáp, nên thơ: Hoa lí hoa lịch là hoa lí linh/ Con gái Đình Bảng vừa xinh vừa giòn

b Thực vật và cảm hứng thân phận của con người trong ca dao

Đó là những thân phận bạc bẽo, hẩm hiu, chịu nhiều thua thiệt của số phận Số phận và hạnh phúc của người phụ nữ phụ thuộc vào

kẻ khác: Thân em như miếng cau khô/ Người thanh chuộng mỏng, người khô tham dày Trong cảm hứng thân phận, nếu tiếng nói than

thân, trách phận chủ yếu thuộc về người phụ nữ thì tiếng nói của

những mối tình bị phụ bạc lại đến từ cả hai giới: Công anh đắp đập trồng chanh/ Chẳng được hái quả vin cành cho cam;

2.2.2.3 Sử dụng thực vật trong lối ứng xử đậm nghĩa tình và đúc kết tri thức dân gian

Lối ứng xử giàu tính triết lý của người xưa cũng được đúc kết từ việc dự trữ lương thực trong năm và được khái quát lên thành lẽ

sống, lối ăn ở trong đời: Được mùa chớ phụ ngô khoai/ Đến khi Thân, Dậu lấy ai bạn cùng Vẻ đẹp trong lối ứng xử phép tắc, gia giáo cũng được thể hiện qua câu chuyện của cô gái đi hái dâu: Sáng ngày tôi đi hái dâu/ Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn/ …./ Thưa rằng bác mẹ tôi răn/ Làm thân con gái chớ ăn trầu người Trọng

tình, trọng nghĩa là một nét đẹp trong văn hóa người Việt Tư tưởng này dù thời kỳ nào đi nữa, nó vẫn được ngợi ca trong lối ứng xử giữa

con người với con người: Cây đa cũ bến đò xưa/ Bộ hành có nghĩa nắng mưa cũng chờ

2.3 Biểu hiện của thực vật qua một số biểu tượng trong ca dao

2.3.1 Một số biểu tượng cây

2.3.1.1 Biểu tượng Trầu - Cau

a Trầu cau biểu tượng cho lối ứng xử giao tiếp giữa các mối quan hệ trong đời sống xã hội

Trầu cau cũng là duyên cớ để người ta quen biết, giao thiệp,

thậm chí thành bạn bè, tri kỉ: Xưa kia ai biết ai đâu/ Chỉ vì điếu thuốc, miếng trầu nên thương Qua miếng trầu và cách mời trầu, người xưa

đã gửi gắm các cung bậc tình cảm: yêu hay ghét, xã giao hay chân

Trang 13

tình một cách tế nhị Khi vui, miếng trầu là chốn hội ngộ, là niềm

vui gặp gỡ: Gặp nhau ăn một miếng trầu/ Còn hơn đám cưới mổ trâu

ăn mừng

b Trầu cau biểu tượng cho tình yêu đôi lứa, tình nghĩa vợ chồng Trầu cau biểu tượng cho tình yêu đôi lứa: “Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng/ Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?” Song khi đã gắn

với trầu cau, người trao và người nhận đều hiểu là vấn đề tình cảm đang được đặt ra một cách nghiêm túc, xác định để đi đến hôn nhân:

“Bây giờ trầu gặp lại cau/ Cũng mong ta ở với nhau một nhà ”; Trầu cau biểu tượng cho tình nghĩa vợ chồng: Khi đã là vợ chồng, họ

thuộc tính nết, sở thích của nhau và phần chăm chút cho cuộc sống thường nghiêng về phía người vợ Bởi vậy mà có người vợ khẳng

định: Tôi đã biết tính chồng tôi/ Cơm thôi đến nước, nước thôi đến trầu…

c Trầu cau biểu tượng cho vẻ đẹp và phẩm hạnh của người têm trầu

Đối với người Việt, têm trầu là cả một nghệ thuật Người con gái xưa hầu như ai ai cũng phải biết têm trầu và thể hiện tài nữ công gia chánh của mình bằng việc têm trầu Nhìn miếng trầu được têm người thưởng thức không chỉ hiểu rõ tình cảm của người mời trầu mà

còn đánh giá được sự khéo tay của người têm trầu: “Trách người quân tử vô tâm/ Trầu têm lá lốt cũng cầm mà ăn”

2.3.1.2 Cây lúa - biểu tượng của nền văn minh nông nghiệp lúa nước Theo thống kê của chúng tôi, “lúa” xuất hiện 105 lần …Thân

em như chẽn lúa đòng đòng/ Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai” Trong nhiều câu ca dao, vẻ đẹp của người con gái qua hình ảnh lúa còn được biểu trưng bởi tính giá trị và phẩm hạnh: “Thân em như lúa nếp tơ/ Xanh cây tốt rễ, phởn phơ phơi màu”

2.3.1.3 Biểu tượng cây đa

Cây đa là biểu tượng cho tình yêu, sự mong ước bền vững lứa đôi Sự trưởng thành của con người, sự trường tồn của làng quê, đất

nước: “Nào khi ngồi cội cây đa/ Người thương có nhớ chăng là người thương” Biểu tượng cây đa cũ tượng trưng cho truyền thống gắn kết muôn thuở, tình nghĩa vợ chồng keo sơn gắn bó: “Cây đa cũ, con yến

cũ, cây đa tàn/ Bao nhiêu lá rụng thương nàng bấy nhiêu”; Biểu tượng cây đa trốc gốc tạo hình tượng sẻ chia để lại sự lưu luyến tiếc

thương, những tình cảm tốt đẹp không thể phai mờ cho người ở lại:

Cây đa trốc gốc trôi rồi/ Đò đưa bến khác em ngồi đợi ai?

2.3.1.4 Biểu tượng cây tre

Ngày đăng: 20/07/2017, 15:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm