1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt (LA tiến sĩ)

172 491 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 172
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người ViệtThế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người ViệtThế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người ViệtThế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người ViệtThế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người ViệtThế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người ViệtThế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người ViệtThế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người ViệtThế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người ViệtThế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người ViệtThế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người ViệtThế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người ViệtThế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người ViệtThế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người ViệtThế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người ViệtThế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người ViệtThế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người ViệtThế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người ViệtThế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRỊNH VIẾT TOÀN

THẾ GIỚI THỰC VẬT TRONG CA DAO

CỔ TRUYỀN NGƯỜI VIỆT

Chuyên ngành: Văn học dân gian

Mã số : 62.22.01.25

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1 PGS.TS Nguyễn Viết Ngoạn

2 GS.TS Nguyễn Xuân Kính

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, bản luận án tiến sĩ: Thế giới thực vật trong ca dao

cổ truyền người Việt

Là do tôi viết và đảm bảo việc trích dẫn tài liệu đều có xuất xứ rõ ràng Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Hà Nội, ngày 29/8/2016

Tác giả luận án

Trịnh Viết Toàn

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 7

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7

1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 13

1.3 Cơ sở lý thuyết của đề tài 16

Chương 2: CÁC DẠNG THỨC THỂ HIỆN CỦA THẾ GIỚI THỰC VẬT TRONG CA DAO 33

2.1 Khảo sát phân loại 33

2.2 Biểu hiện của thực vật trong ca dao qua lối ứng xử của con người 42

2.3 Biểu hiện của thực vật qua một số biểu tượng trong ca dao cổ truyền 67

Chương 3: SỰ BIỂU HIỆN CỦA THẾ GIỚI THỰC VẬT QUA CÁCH SỬ DỤNG NGÔN NGỮ VÀ THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT TRONG CA DAO 94

3.1 Cách sử dụng ngôn ngữ thể hiện thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt 94

3.2 Sử dụng thủ pháp nghệ thuật ẩn dụ và thủ pháp nghệ thuật so sánh 109

Chương 4: KẾT CẤU, KHÔNG GIAN - THỜI GIAN NGHỆ THUẬT VÀ THẾ GIỚI THỰC VẬT TRONG CA DAO CỔ TRUYỀN NGƯỜI VIỆT 124

4.1 Kết cấu ca dao có chứa thành tố là thế giới thực vật 124

4.2 Không gian và thời gian nghệ thuật có chứa thế giới thực vật 135

KẾT LUẬN 152

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC 155

TÀI LIỆU THAM KHẢO 156

Trang 4

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngay từ thuở sơ khai, con người đã biết dựa vào thiên nhiên để duy trì sự sống Trong tiến trình lịch sử ấy, thực vật đóng vai trò rất quan trọng Đó là cơm ăn, áo mặc,

là những ngôi nhà che mưa nắng hay rất nhiều những vật dụng khác Ngay cả thực phẩm, thuốc chữa bệnh ngày nay, con người lại tìm về với các thảo dược thiên nhên nhằm hỗ trợ sức sống, kéo dài tuổi thọ, tăng vẻ đẹp bản thân Còn các vật dụng trong gia đình cũng tìm về với những sản phẩm thủ công mỹ nghệ được làm từ những nguyên liệu là cỏ cây, hoa lá

Việt Nam là quốc gia có khí hậu nhiệt đới gió mùa, do vậy thực vật hết sức phong phú về chủng loại, khi đánh giá về vấn đề này, tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Sử dụng thực vật phục vụ cho đời sống con người chính là một nội dung quan trọng bậc nhất của văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của người dân Việt Nam

và Ðông Nam Á” [143] Không chỉ xuất hiện và có vai trò quan trọng trong đời sống vật chất, các loại thực vật từ những đối tượng tự nhiên cụ thể đã đi vào trong đời sống văn hóa của người Việt một cách hết sức tự nhiên, phong phú và trở thành đối tượng nhận thức thẩm mĩ, làm chất liệu biểu hiện quan trọng trong các loại hình văn hóa, đặc biệt là văn hóa dân gian Việt Nam Tuy nhiên, trong mỗi loại hình văn hóa, mỗi thể loại nhất định, giá trị thẩm mĩ của thế giới thực vật không hoàn toàn đồng nhất mà luôn có những biến thái đa dạng Về loại hình văn học dân gian, thế giới thực vật đã được biểu hiện rất phong phú ở tất cả các mảng, nhằm phản ánh các đặc thù tâm lí, văn hóa, xã hội của người Việt trong quan hệ với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội

Ca dao là bộ phận quan trọng trong kho tàng văn học dân gian nói riêng và văn hóa của dân tộc nói chung Ca dao không chỉ phản ánh những tâm tư tình cảm của người Việt xưa mà còn là bức tranh sinh động phản ánh nhiều mặt của đời sống, mang đậm bản sắc Việt Nam Từ hình ảnh cây đa, bến nước, cánh đồng làng quê thân thuộc cho đến các quan hệ xã hội phức tạp; những truyền thống quý báu của dân tộc đều

Trang 5

2

được người Việt phản ánh qua ca dao một cách hết sức sinh động Có thể nói, ca dao là kết tinh của những nét đẹp văn hóa, của tinh thần và tính cách người Việt

Thông qua các hình ảnh, biểu tượng thực vật thể hiện trong ca dao, cần tìm hiểu

và đánh giá sâu về các đặc điểm tâm lý, văn hóa của người Việt trong mối quan hệ ứng

xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Đây cũng là điều kiện tốt giúp chúng

ta có dịp tìm hiểu thêm về mối liên hệ giữa ca dao với các thể loại văn học khác

Đã có nhiều công trình đề cập đến một số đặc điểm, giá trị văn hóa, giá trị thẩm

mĩ của một số loài thực vật trong các loại hình văn hóa nghệ thuật và trong ca dao nhưng chưa một công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu một cách tổng thể các đặc trưng của toàn bộ thế giới thực vật trong một phạm vi thể loại văn hóa, văn học Chính vì thế, việc nghiên cứu những đặc điểm biểu hiện và giá trị thẩm mĩ của thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt sẽ đem lại một cách nhìn có hệ thống, toàn diện về một thực thể vật chất – tinh thần quan trọng, luôn đồng hành với con người trong suốt tiến trình của lịch sử tiến hóa, nhận thức

Xuất phát từ những lí do trên, việc lựa chọn đề tài: “Thế giới thực vật trong ca dao

cổ truyền người Việt” làm đề tài nghiên cứu của luận án là một việc cần thiết

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Thông qua thế giới thực vật trong ca dao, thấy được cách ứng xử văn hóa của người Việt với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội; Bước đầu chỉ ra các đặc trưng trong lối sống, ứng xử văn hóa cũng như các hoạt động canh tác, phong tục tập quán của người Việt

Trang 6

3

Thấy được các giá trị biểu trưng của thực vật; sự sáng tạo trong việc sử dụng thực vật với tư cách là những phương tiện nghệ thuật ở thể ca dao

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để hoàn thành mục đích nghiên cứu, luận án phải thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:

Khảo sát toàn bộ kho tàng ca dao cổ truyền người Việt, cụ thể là thông qua

tuyển tập Kho tàng ca dao người Việt (Nxb Văn hóa thông tin, 2001) do các soạn giả

Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật chủ biên, xây dựng các tiêu chí phân loại để phân loại các dạng thức tồn tại của thế giới thực vật, qua đó thấy được tần số xuất hiện của thực vật trong ca dao

Lý giải các dạng thức tồn tại cũng như các biến thể thực vật trong ca dao từ những cơ sở văn hóa, văn học

Bước đầu so sánh và thấy được những tương đồng và dị biệt của thế giới thực vật qua ca dao ba miền

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án chọn thực vật và những biểu hiện của nó trong ca dao cổ truyền làm đối tượng nghiên cứu

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Ca dao người Việt rất phong phú, do vậy cho đến nay đã có hàng trăm công

trình và soạn giả sưu tầm, biên soạn, xuất bản về ca dao Tuy vậy, công trình Kho tàng

ca dao người Việt, Nxb Văn hóa thông tin, 2001, do các soạn giả Nguyễn Xuân Kính

và Phan Đăng Nhật biên soạn được giới nghiên cứu đánh giá là công trình quy mô nhất về ca dao tính cho đến thời điểm hiện tại Luận án chọn công trình này làm phạm

vi nghiên cứu

Ngoài ra, trong quá trình triển khai, chúng tôi cũng sẽ khảo sát các công trình mang tính địa phương, vùng miền khác nhằm có được cái nhìn so sánh, đối chiếu

Trang 7

4

4 Phương pháp và thao tác nghiên cứu

4.1 Sử dụng nhiều phương pháp theo hướng nghiên cứu, tiếp cận liên ngành

Luận án sử dụng hướng tiếp cận này với mục đích nhìn nhận đối tượng trong mối liên hệ giữa văn học dân gian với văn hóa dân gian, lịch sử, dân tộc học nhằm xem xét đối tượng một cách đa chiều, trên nhiều phương diện khác nhau Cụ thể là các phương pháp cơ bản sau:

- Phương pháp nghiên cứu văn bản văn học dân gian;

- Phương pháp nghiên cứu văn hóa dân gian;

- Phương pháp nghiên cứu lịch sử;

- Phương pháp nghiên cứu dân tộc học

Trong đó phương pháp nghiên cứu văn học dân gian, văn hóa dân gian là trọng tâm Ngoài ra, luận án cũng vận dụng thêm phương pháp nhân học văn hóa trong quá trình nghiên cứu thực vật trong ca dao

4.2 Thao tác khảo sát, thống kê

Đây là các thao tác được sử dụng trong quá trình thống kê các bài ca dao có chứa hình tượng thực vật và các nguồn tài liệu có liên quan khác

4.3 Thao tác so sánh, phân tích, tổng hợp

Luận án sử dụng các thao tác này nhằm đối chiếu, so sánh một số bài ca dao của các vùng miền; tiến hành mổ xẻ đối tượng để làm rõ vấn đề, sau đó tổng hợp, lý giải trên cơ sở kết quả của so sánh phân tích

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Nghiên cứu đề tài thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt, luận án

dự kiến đóng góp những vấn đề sau:

Thứ nhất, trên cơ sở hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về ca dao, luận án

đã có một cái nhìn bao quát, đánh giá về tình hình tư liệu cũng như các nghiên cứu liên quan đến thế giới thực vật trong ca dao

Trang 8

5

Thứ hai, luận án khảo sát và chỉ ra được những dạng thức tồn tại của thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền, khẳng định sự phong phú, gắn bó của thực vật từ trong đời sống tự nhiên đối với đời sống con người và kiến giải việc thực vật đã đi vào đời sống văn hoá, tâm thức của người Việt: thực vật từ tự nhiên đến văn hóa

Thứ ba, nghiên cứu về thực vật trong ca dao, luận án đã làm rõ: thông qua thế giới thực vật, người Việt đã thể hiện những lối ứng xử đậm chất cảm hứng từ thực vật Đây là cách kiến giải mới, có tính đóng góp của luận án

Thứ tư, nghệ thuật biểu hiện trong da dao được tác giả dân gian lấy từ nhiều cảm hứng khác nhau, trong đó, thực vật là một chất liệu quan trọng Luận án phân tích, kiến giải và chỉ ra được các giá trị nghệ thuật đặc sắc của ca dao từ nguồn cảm hứng

và chất liệu này

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Về mặt lý luận: Luận án khẳng định nghiên cứu văn học dân gian nói chung

và nghiên cứu thơ ca trữ tình dân gian nói riêng cần nghiên cứu theo hướng liên ngành, trong đó nghiên cứu văn hóa văn học là hướng nghiên cứu phù hợp; Khẳng định thêm mối quan hệ giữa văn hóa và văn học được thể hiện qua ca dao dân ca; Làm sáng tỏ tính đặc trưng trong phương thức biểu hiện cũng như các giá trị nghệ thuật của

ca dao người Việt; Ca dao người Việt gắn bó chặt chẽ với văn hóa dân tộc, kết tinh của văn hóa người Việt

- Về mặt thực tiễn: Luận án góp thêm một tiếng nói vào bức tranh nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam nói chung; Bước đầu thể hiện được hướng tiếp cận sinh thái qua việc chỉ ra cách ứng xử với môi trường tự nhiên là thực vật trong ca dao; Công trình là nguồn tài liệu tham khảo phục vụ học tập và nghiên cứu cho sinh viên và học viên sau đại học

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục công trình nghiên cứu của tác giả có

liên quan đến đề tài luận án, Tài liệu tham khảo, nội dung chính được triển khai trên 4

chương:

Trang 9

6

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ

LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Chương 2: CÁC DẠNG THỨC THỂ HIỆN CỦA THẾ GIỚI THỰC VẬT VÀ LỐI ỨNG XỬ CỦA CON NGƯỜI VỚI THỰC VẬT TRONG CA DAO

Chương 3: SỰ BIỂU HIỆN CỦA THẾ GIỚI THỰC VẬT QUA CÁCH SỬ

DỤNG NGÔN NGỮ VÀ THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT TRONG CA DAO

Chương 4: KẾT CẤU, KHÔNG GIAN - THỜI GIAN NGHỆ THUẬT VÀ

THẾ GIỚI THỰC VẬT TRONG CA DAO CỔ TRUYỀN NGƯỜI VIỆT

Trang 10

7

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Như chúng tôi đã trình bày ở phần trên, ca dao dân ca có một vị trí rất quan trọng trong đời sống của người dân Việt, do vậy mà việc sưu tầm và nghiên cứu về thể loại trữ tình dân gian này đã sớm được giới nghiên cứu quan tâm Sau đây là tổng quan

về tình hình tư liệu nghiên cứu của những người đi trước liên quan đến đề tài luận án

Luận án Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thẩm mỹ - không gian trong ca

dao (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1, 1995) của Trương Thị Nhàn cho rằng: Đặc

tính của ca dao là mang tính khái quát cao, thể hiện rõ cách miêu tả Ca dao không đi sâu vào miêu tả nhằm tái hiện hiện thực mà tập trung cho mục đích biểu trưng Để miêu tả, chỉ cần sử dụng một số yếu tố có tính khuôn mẫu nhất định Luận án khẳng định: Ngôn ngữ ca dao gần với ngôn ngữ tục ngữ ở tính khái quát và gần với ngôn ngữ thơ ở tính cảm xúc, dù là cảm xúc khái quát hóa, không phải là cá thể, riêng biệt như thơ Tính khái quát đi liền với tính cảm xúc làm nên đặc trưng riêng của ca dao so với tục ngữ và thơ Ca dao là sáng tác của quần chúng vừa dễ đọc dễ nhớ, vừa có khả năng tồn tại lâu dài với lịch sử dân tộc, có khả năng đi vào lòng người ở mọi lúc mọi nơi Điều đó liên quan một phần lớn bởi đặc tính khái quát của ngôn ngữ ca dao [111; 152]

Bài viết Ý nghĩa biểu trưng của hình tượng thiên nhiên trong ca dao Nam Bộ

(1999) của Trần Văn Nam cho rằng: Biểu trưng trong ca dao là lấy một sự vật, hiện tượng này để biểu hiện có tính chất tượng trưng một cái khác, thường mang tính trừu tượng Biểu trưng chính là yếu tố trong thi pháp ca dao, một yếu tố hình thức mang tính nội dung sâu sắc Bên cạnh vai trò nhất định của nó trong việc thể hiện nội dung bài ca dao, hệ thống các biểu trưng còn gắn với đặc điểm văn hóa dân tộc địa phương [87]

Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Điệp trong Luận án Biểu tượng nghệ thuật trong ca

dao truyền thống người Việt (Trường ĐHSP TP.HCM, 2002) khi khảo sát về hệ thống

biểu tượng tồn tại trong ca dao người Việt đã đề cập đến một nhóm biểu tượng thực

Trang 11

8

vật Tác giả viết: “Thực vật trở thành biểu tượng trong ca dao có khi ở dưới dạng chung của từng loại lớn: cây, kiểng, hoa, trái…; có khi ở dưới dạng cụ thể của từng loài vật: về cây quế, trúc, mai, đào, liễu, đa, ngô đồng, trầu, cau, về hoa có lan, bưởi, nhài, huệ, sen, hồng….; về trái có mận, đào, lê, lựu, hồng ngâm, chanh, khế, cam sành… ” [29; 118] Từ việc nhận định này, tác giả tiến hành phân tích các phạm trù

biểu tượng của thực vật trong ca dao như: Phạm trù tính chất-trạng thái; phạm trù

hương vị; phạm trù màu sắc; phạm trù đặc điểm môi trường sinh trưởng Luận án khái

quát: “Các biểu tượng cây, kiểng, hoa, trái thực sự đã làm nên một khuôn mặt rất riêng cho ca dao với số lượng phạm trù phong phú Dân gian đã phát hiện nhiều nét tương đồng tinh tế giữa thế giới cỏ cây và thế giới con người nhờ vào sự quan sát trực tiếp và thường xuyên trong đời sống hàng ngày” [29; 123] Những khảo sát và nhận định trên của Nguyễn Thị Ngọc Điệp là một gợi ý rất quan trọng cho chúng tôi trong quá trình khai thác các giá trị biểu đạt nghệ thuật của thực vật trong ca dao người Việt

Luận án Sự chuyển đổi thi pháp từ ca dao cổ truyền đến ca dao hiện đại của

Nguyễn Hằng Phương, Trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn Hà Nội, 2004 đã

đi sâu tìm hiểu về thi pháp, thi pháp học, thi pháp văn học dân gian Tác giả đã nghiên cứu về sự chuyển đổi đề tài, chuyển đổi về cảm hứng chủ đạo, chuyển đổi về nhân vật trử tình và chuyển đổi về ngôn ngữ từ ca dao cổ truyền đến ca dao hiện đại Luận án đã

có đóng góp mới trên cả 2 phương diện lý luận và thực tiễn, đặc biệt đã chú trọng tới yếu tố thi pháp diễn xướng trong ca dao, tác giả cho rằng nếu không khai thác được phương thức diễn xướng, câu ca dao sẽ có thể thiếu đi cái phần hồn và trở thành một loại tác phẩm văn bản hóa [125]

Dưới góc nhìn ngôn ngữ - văn hóa, tác giả Hoàng Thị Kim Ngọc đã khảo sát

các kiểu So sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ tình của người Việt (Viện Ngôn Ngữ học,

2004) [95] Mặc dù không trực tiếp đề cập đến thực vật như một đối tượng nghiên cứu, song qua việc khảo sát phép so sánh (chương 2) và phép ẩn dụ (chương 3), luận án đã

đề cập đến nhiều bài cao dao mà thực vật là đối tượng của phép so sánh, ẩn dụ Đặc

biệt, trong chương 4, Trầm tích văn hóa qua so sánh, ẩn dụ trong ca dao trữ tình

người Việt, tác giả đã có những phân tích hết sức thú vị và thuyết phục về vấn đề mối

Trang 12

9

quan hệ văn hóa, môi trường qua ca dao Đây sẽ là những gợi ý cho chúng tôi khi khai thác các bài ca dao dưới góc nhìn văn học – văn hóa

Luận án Tri thức dân gian về ứng xử với môi trường tự nhiên trong đời sống vật

chất người Việt vùng U Minh Thượng (Viện Nghiên cứu văn hóa, 2009) của Nguyễn

Diệp Mai đã làm nổi bật được nét đặc thù trong lối ăn, ở, mặc và đi lại thích ứng với môi trường tự nhiên rừng U Minh Thượng của cư dân bản xứ Tác giả đã mô tả, phân tích kỹ lưỡng những kinh nghiệm khai thác động vật, thực vật theo loài, theo mùa và cách thức chế biến các sản phẩm đó thành thực phẩm phục vụ đời sống hàng ngày của người là bản địa [85]

Bài viết Một số biểu tượng trong ca dao, tác giả Nguyễn Xuân Kính đề cập đến

cây trúc, cây mai, hoa nhài của thế giới thực vật và con bống, mèo của thế giới động vật Tác giả khẳng định: “Trong ca dao, dân ca, “trúc”, “mai” thường được dùng với ý nghĩa tượng trưng cho đôi bạn trẻ, cho tình duyên” [67; 83], và “hoa nhài trong ca dao

là một thứ hoa đẹp, hoa quý Qua các ý nghĩa của hoa nhài, chúng ta thấy rõ quan niệm thẩm mĩ, đồng thời cũng là quan niệm đạo đức của quần chúng cần lao Họ ca ngợi những gì là thủy chung, tình nghĩa, thích cái đẹp, cái duyên bên trong hơn là những gì

ồn ào chốc lát, phô trương bên ngoài” [67; 86] Về vấn đề này, Tạ Đức Hiền cũng có

bài viết Chẳng thơm cũng thể hoa nhài đã đề cập tới việc tác giả dân gian đã dùng biện

pháp ước lượng so sánh và khẳng định để nói về đặc trưng riêng của hoa nhài rất thơm

và người Tràng An có phong cách sống thanh lịch Phan Thị Thanh Nhàn – Hoa bưởi

trong ca dao [112] đề cập sự tinh khiết, trong sạch, ngát hương thơm của hoa bưởi gắn

bó rất nhiều với con người, nhất là trong tình yêu đôi lứa: “Tâm hồn Việt Nam trong

sạch thơm tho như hoa bưởi để có thể đưa hoa ấy vào rất nhiều trong ca dao: “Hoa

nhài hoa sói hoa ngâu/ Không bằng hoa bưởi thơm lâu dịu dàng”(Ca dao Việt Nam)

Tác giả Nguyễn Thị Hiền trong Biểu tượng của hoa trong ca dao cho rằng văn

học Việt Nam từ xưa đến nay sử dụng rất nhiều biểu tượng, đặc biệt trong ca dao thì hoa là hình ảnh biểu tượng điển hình Trong bài viết, tác giả đã đề cập đến rất nhiều biểu tượng các loài hoa trong cao dao như: hoa nhài, hoa bưởi, hoa lí, hoa sen, hoa đào, hoa mận… mỗi hoa có một hương sắc riêng, đặc trưng cho một tính cách riêng

của con người Nguyễn Phương Châm cũng có bài viết Biểu tượng cây đa, tác giả cho

Trang 13

10

biết khi thống kê bộ Kho tàng ca dao người Việt của Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng

Nhật, 1995 (chủ biên), Nxb VHTT, Hà Nội “cây đa xuất hiện trong 58 lời ca dao với 3 phạm trù ý nghĩa: gợi hứng bắt vần, biểu vật và biểu tượng” [172] Ngoài ra còn có nhiều bài viết khác cũng nói về hình tượng, biểu tượng các loài hoa như: Hình tượng

hoa sen trong văn hóa Việt Nam của Thanh Nguyên [165]; Biểu trượng hoa hồng

trong ca dao (2001) [13] của Nguyễn Thị Phương Châm; Hàm ý biểu trưng của từ chỉ hoa và tên hoa trong ca dao (2002), [54] của Hà Thị Quế Hương…

Các công trình nghiên cứu chuyên sâu hơn có liên quan nhiều đến Luận án Thế

giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt, có Luận án Thiên nhiên trong ca dao trữ tình Nam Bộ của Trần Thị Diễm Thúy, ĐHQG TP.HCM, (2002) [140] đã khảo sát

khá chi tiết hệ thống hình tượng thiên nhiên trong ca dao dân ca Nam Bộ, nêu lên tính chất phong phú, đa dạng và sự xuất hiện không đồng đều ở các hệ thống đề tài Tác giả luận án đã đặt thiên nhiên trong quan hệ với các đề tài cơ bản của ca dao như: đề tài phong cảnh, đề tài lao động sản xuất, đề tài tình yêu nam nữ, hôn nhân gia đình và cuối cùng, phân tích thiên nhiên trong thế giới nghệ thuật của ca dao Nam Bộ, nêu bật vai trò của thiên nhiên trong các hình tượng so sánh, ẩn dụ, biểu tượng, thiên nhiên và không gian, thời gian nghệ thuật, thiên nhiên và ngôn ngữ, kết cấu trong ca dao Nam

Bộ Đây là luận án chứa đựng nhiều tư liệu phong phú về thiên nhiên trong ca dao vùng đất mới, vùng đất phía Nam của nước ta là nguồn tư liệu bổ ích cho luận án của chúng tôi

Tác giả Trần Thị Kim Liên nghiên cứu về Tính thống nhất và sắc thái riêng

trong ca dao người Việt ở ba miền Bắc – Trung – Nam (Luận án TS Ngữ văn, ĐH

KHXH&NV HN, 2005), trong mục Tính thống nhất và sắc thái riêng trong ca dao

người Việt ở ba miền qua các nội dung phản ánh đã có những kiến giải khá thú vị về

việc phản ánh các sản vật của ba miền Tác giả viết: “Người dân Hà Tây yêu mến, tự

hào về thắng cảnh chùa Hương nổi tiếng với Nam thiên đệ nhất động nhộn nhịp tưng bừng vào ngày trẩy hội đầu xuân: “Ai đi trẩy hội chùa Hương/ Làm ơn gặp khách thập

phương hỏi dùm/ Mớ rau sắng, quả mơ non/ Mơ chua sắng ngọt biết còn thương chăng? (Ca dao Việt Nam) Sản vật “rau sắng”, “mơ non” làm nên một nét riêng biệt,

sâu đậm của quê hương để nhớ, để thương mãi với người xa quê Hương vị của món

Trang 14

11

ăn dân dã đã gợi nhớ trong họ hình ảnh quê hương gần gũi, thân thương Tình cảm của người nông dân gắn bó với những gì bình dị, chất phác nhất” [76; 49] Trong khi đó, ở

miền Nam, cách thể hiện niềm tự hào về sản vật của họ cũng hết sức thú vị: “Rau đắng

nấu với cá trê/ Ai đến lục tỉnh thì mê không về” Luận án khái quát: “Nhìn chung, ở

mảng nội dung này, ca dao ba miền có sự thống nhất cao độ bởi một nét tâm lí mang tính phổ biến là người dân nơi đâu cũng luôn tự hào, yêu mến và gắn bó với mảnh đất quê hương mình Nhưng cũng chính trong sự thống nhất về nội dung đó mà sắc thái riêng, nét đặc trưng riêng của từng vùng cũng được thể hiện Bởi lẽ, người ta thường

“khoe” những đặc sản, những danh thắng độc đáo, những tên riêng lâu đời của địa phương mình mà nơi khác không thể có được” [76; 52] Như vậy, thực vật với tư cách

là những sản vật địa phương một lần nữa được nhắc đến trong ca dao và đây cũng là một trong những cách thức xác định tính vùng miền mà luận án đề cập Ngoài ra, một điểm rất đáng lưu ý nữa là tác giả đã đề cập đến tính thống nhất trong môi trường văn hóa của ca dao Đây là những vấn đề mà luận án của chúng tôi sẽ hết sức lưu ý trong quá trình tìm hiểu về thế giới thực vật trong ca dao ở ba miền

Với luận án Thiên nhiên trong ca dao trữ tình đồng bằng Bắc Bộ, (Viện Nghiên

cứu Văn hóa dân gian, 2006) tác giả Đặng Thị Diệu Trang đã khảo sát một cách khá công phu về các chủ đề của ca dao Bắc Bộ như: Chủ đề đất nước, con người; Chủ đề sinh hoạt lao động sản xuất; Chủ đề chống phong kiến thực dân; Chủ đề tình yêu nam

nữ Trong đó, thiên nhiên nói chung và thực vật nói riêng được tác giả phân tích với tư cách là một đối tượng biểu đạt cho những tư tưởng ngợi ca, phản ánh của mỗi chủ đề

đó Bên cạnh những cảnh, vật, các địa danh thì thực vật với tư cách là các sản vật địa phương cũng được nhắc đến như những đơn vị giàu tính biểu đạt Luận án viết:

“những hình ảnh như: ngọn đa, cây cau, ngọn cỏ, quả cà là sản phẩm thiên nhiên gần gũi với cuộc sống người nông dân đồng bằng Bắc Bộ Song ở đây nó không đơn thuần tồn tại như một dạng vật chất vốn có mà trở thành những yếu tố được vận dụng mềm mại và uyển chuyển, thể hiện ý thức của con người trong sự cân bằng giữa thế giới tự nhiên và môi trường xã hội, cũng như thế ứng xử của con người trước những tác động của môi trường xung quanh” [151; 77] Đặc biệt, trong chương 3, tác giả luận án qua

những phân tích và dẫn chứng cụ thể đã khẳng đinh: Thiên nhiên là yếu tố để tạo nên

Trang 15

12

thế giới nghệ thuật trong ca dao Bắc Bộ qua các mục: Thiên nhiên với nghệ thuật so

sánh, ẩn dụ - biểu tượng, với ngôn ngữ - kết cấu… Nhìn chung, công trình này nghiên

cứu về thiên nhiên, tức là bao gồm toàn bộ thế giới tự nhiên cảnh và vật (sự vật, con vật) Trong cảnh thì cũng bao gồm cả các hiện tượng như trăng sao, sông, núi… Mặc

dù đối tượng nghiên cứu của đề tài này rộng hơn, song tác giả cũng đã đề cập đến một phần thiên nhiên với tư cách là thực vật trong ca dao

Luận án Thế giới động vật trong ca dao cổ truyền người Việt (Trường ĐHSP

Hà Nội, 2010) của Đỗ Thị Hòa đã miêu tả, khảo sát đặc điểm của hình thức biểu hiện, cách ứng xử với môi trường xã hội và tự nhiên, giá trị biểu trưng của thế giới động vật trong ca dao, tác giả rút ra: “Hình ảnh của các loài động vật được phản ánh vào ca dao

là một cách thức quan trọng để người Việt tự ý thức, khám phá và biểu hiện chính mình trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội Thế giới muôn màu muôn vẻ của các loài vật, không chỉ là các hình thái hiện hữu sinh động và đa dạng của tự nhiên mà còn

là tính đa diện, đa chiều, phức tạp của thế giới nhân sinh” [51; 4] Luận án đi sâu nghiên cứu tìm hiểu về giá trị biểu trưng, các hình thức biểu hiện và cách ứng xử môi trường tự nhiên, xã hội của thế giới động vật trong ca dao cổ truyền người Việt, đây chính là nguồn tư liệu đáng quý cho người đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu mảng còn lại của thiên nhiên, đó là thế giới thực vật trong ca dao

Luận án Thiên nhiên với văn hóa vùng trong ca dao trữ tình Trung bộ, Viện Văn

học, (2012) [89], tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân lại nhấn mạnh đến vai trò của thiên nhiên trong tâm thức người miền Trung Ở đó, thực vật cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện bản sắc văn hóa vùng miền Tác giả khẳng định nghiên cứu thiên nhiên trong ca dao không chỉ tạo cơ hội để khám phá nội dung tinh thần và tình cảm con người được thể hiện trong đó, mà còn tạo thêm cơ hội để hiểu thêm tư duy nghệ thuật và thi pháp ca dao qua việc xem xét cách cảnh vật thiên nhiên bước vào ca dao như thế nào, cách thiên nhiên trở thành nguồn nguyên liệu để xây dựng hình tượng trong ca dao ra sao Luận án đã có sự khảo sát nghiêm túc và có cơ sở khoa học, là nguồn tư liệu có ích đối với người nghiên cứu văn học dân gian nói riêng và sáng tác dân gian nói chung Cùng với những cuốn sách và nhiều công trình nghiên cứu dành

cho đề tài thiên nhiên trong ca dao Bắc Bộ và ca dao Nam Bộ, Luận án Thiên nhiên với

Trang 16

13

văn hóa vùng trong ca dao trữ tình Trung Bộ đã có sự đóng góp vào việc nghiên cứu

thiên nhiên trong ca dao người Việt ở cả ba vùng miền, đồng thời góp phần làm rõ hơn những nét riêng của vùng văn hóa miền Trung, dù chỉ là dưới góc độ của sáng tác trữ tình dân gian Đây cũng là vấn đề đang thu hút sự quan tâm không chỉ của những nhà làm phân vùng văn hóa mà cả những người làm văn hóa dân gian ở nước ta

Bên cạnh nhiều tác giả đề cập đến thực vật trong ca dao còn có tác giả nghiên cứu

về thực vật trong nghệ thuật khác Chẳng hạn, Triệu Thế Hùng với Luận án Hình tượng

thực vật trong nghệ thuật tạo hình truyền thống của người Việt (Viện Văn hóa Nghệ

thuật Việt Nam, 2009) nêu lên các khái niệm về hình tượng, biểu tượng thực vật Tác giả cho rằng “Thực vật là loại hình sinh vật có cấu trúc cơ thể đã nhân hóa thành thân,

rễ, quả, hoa, lá Bộ phận lá dùng để quang hợp với ánh sáng mặt trời tạo ra sự trao đổi chất” [53;23] Luận án đã nêu bật được giá trị của “thế giới thực vật” trong đời sống văn hóa Việt Nam, nêu ra bài học về giá trị truyền thống của hình tượng thực vật trong nền mỹ thuật cũng như các ngành nghệ thuật khác, đây cũng là một trong những

cơ sở để chúng tôi tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu trong luận án sắp tới

Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước, luận án

sẽ tập trung làm nổi bật hình ảnh và giá trị của thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt

1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

1.2.1 Khái niệm thực vật và “thế giới thực vật trong ca dao”

Theo từ điển bách khoa vi.wikipedia.org, thực vật là những sinh vật có khả năng tạo cho mình chất dinh dưỡng từ những hợp chất vô cơ đơn giản và xây dựng thành những phần tử phức tạp nhờ quá trình quang hợp, diễn ra trong lục lạp của thực vật Aristotle phân chia sinh vật ra thành thực vật, nói chung là không di chuyển được,

và động vật [175] Như vậy, khái niệm thực vật và sinh vật không trùng nhau Nói chính xác hơn, thực vật có dấu hiệu đặc trưng là không có khả năng chuyển động và có khẳ năng tự dưỡng, có diệp lục (diệp lục có ở tất cả các loài thực vật chứ không có ở động vật) bao gồm các loại như cây gỗ, cây hoa, cây cỏ, dương xỉ hay rêu

Trang 17

14

Có thể hiểu, thế giới thực vật là tất cả những thực vật với những đặc điểm khu biệt nêu trên Qua khảo sát bước đầu chúng tôi nhận thấy, trong ca dao thế giới thực vật rất phong phú Tất nhiên, thực vật khi đi vào trong ca dao không hề ngẫu nhiên và

vô lý mà nó phải có dụng ý phản ánh hoặc thể hiện một tâm tư, tình cảm hay phương diện đời sống nào đó của con người Đây là quá trình chuyển hóa từ những hình ảnh vật chất cụ thể của thực vật sang một dạng hình ảnh biểu trưng, biểu tượng mang tính

tinh thần Trong quá trình triển khai, luận án sẽ khai thác cả hai mặt này

1.2.2 Các khái niệm: hình ảnh, hình tượng, biểu tượng, biến thể, biểu trưng

Theo Từ điển Tiếng Việt, Hình ảnh có hai nghĩa: (1) “Hình người, vật, cảnh

tượng thu được bằng khí quang học (như máy ảnh), hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí (2) “Khả năng gợi tả sinh động trong cách diễn đạt” [121 (sđd);

tr.425] Trong khi đó, Hình tượng “là sự phản ánh hiện thực một cách khách quan

bằng nghệ thuật dưới hình thức những hình tượng cụ thể, sinh động, điển hình, nhận thức trực tiếp bằng cảm tính [121 (sđd); tr.425]

Còn Biểu tượng (Symbole) cũng có hai nghĩa như sau: (1) “Hình ảnh tượng

trưng Chim bồ câu là biểu tượng hòa bình” (2) “Hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào trong giác quan đã chấm dứt” [121 (sđd); tr.67-68] Theo Jean Chevalier thì

“từ biểu tượng được dùng với những biến đổi đáng kể về ý nghĩa” và đôi khi mang tính cá nhân [57; XV] Ban đầu, biểu tượng là một vật được cắt làm đôi, bẻ làm hai, hai người (anh và em, vợ và chồng, chàng trai và cô gái, hai người bạn sắp sửa có cuộc phân li…) mỗi bên giữ một nửa Sau này nhờ ráp hai mảnh, hai nửa của vật đó lại với nhau mà họ có thể nhận ra nhau để có thể nối lại mối thân tình ngày nào, tình bạn ngày xưa Dần dần về sau từ biểu tượng được mở rộng nghĩa để “chỉ mọi dấu hiệu tập hợp, các điềm triệu hay quy ước Biểu tượng chia ra và kết lại với nhau, nó chứa đựng hai ý tưởng phân ly và tái hợp; nó gợi lên ý một cộng đồng đã bị chia tách và có thể tái hình thành Mọi biểu tượng đều chứa đựng dấu hiệu bị đập vỡ; ý nghĩa của biểu tượng bộc

lộ ra trong cái vừa là gãy vỡ, vừa là nối kết những phần của nó bị vỡ ra” [57; XXIII]

Trang 18

15

Một trong những dấu hiệu đặc trưng của biểu tượng là tính “hai mặt” Tính chất đặc biệt giữa hai vế, hai nửa tham dự vào sự hình thành biểu tượng đã được Pierre manuel chỉ ra như sau: “Biểu tượng định hình thành một vế rõ ràng có thể nắm bắt được, gắn liền với vế khác không nắm bắt được” [57; XXIV] Một đặc trưng khác của biểu tượng là mang tính ký hiệu Nhưng không giống với các ký hiệu thông thường, biểu tượng mang tính ký hiệu thẩm mỹ, nó “rộng lớn hơn cái ý nghĩa được gán cho nó một cách nhân tạo”… “hiệu lực của nó vượt ra ngoài ý nghĩa Nó đầy gợi cảm và năng động, nó không chỉ vừa biểu hiện theo một cách nào đó vừa tháo dỡ ra”…, “cái được biểu đạt dồi dào hơn cái biểu đạt” [57; XXVII]

Như vậy, giữa hình ảnh, hình tượng và biểu tượng có mối quan hệ khá gần gũi

với nhau Tuy nhiên, so với hình ảnh, thì hình tượng có nghĩa rộng hơn và mang tính nghệ thuật Còn đối với biểu tượng thì hình ảnh là vật môi giới Hiểu một cách đơn giản, trong quá trình nhận thức thế giới, con người cố gắng tri giác một sự vật hiện tượng nào đó nhưng không thể tri giác được nên phải thông qua một vật môi giới, cái

đó là biểu tượng Nói cách khác, biểu tượng là những hình ảnh, sự vật hiện tượng của đời sống trải qua một quá trình, được tích đọng những ý nghĩa mà cộng đồng, dân tộc hay giai cấp chấp nhận Những hình ảnh, sự vật hiện tượng đó phải luôn có một ý nghĩa cố định và hàm trữ những khả năng mở ra các ý nghĩa mới trong sự cảm nhận của con người

Nếu hình ảnh chỉ là sự tái hiện (chụp lại) một cách hoàn toàn khách quan thì hình tượng cũng có sự tái hiện, nhưng bằng sự tưởng tượng, chủ quan của người nghệ

sĩ Nói cách khác, hình tượng nghệ thuật là sự kết hợp giữa hai nhân tố nhận thức -

khách thể (tinh thần) và sáng tạo chủ thể Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “hình

tượng nghệ thuật chính là các khách thể đời sống được nghệ sỹ tái hiện bằng tưởng tượng sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật” [136; 147] là “kết quả của hoạt động tưởng tượng, nhằm tạo ra một thế giới ứng với những nhu cầu và định hướng về tinh thần của con người, ứng với hoạt động có chủ đích, với lý tưởng của con người” [134; 42]

Biểu trưng Khi đề cập đến biểu trưng, các nhà nghiên cứu khoa học đã đưa ra

nhiều ý kiến khác nhau Bùi Khắc Viện trong bài: Về tính biểu trưng của thành ngữ

Trang 19

16

trong Tiếng Việt cho biểu trưng thể hiện ở chổ: “hình ảnh, sự việc hoặc sự vật cụ thể

được miêu tả trong tự nhiên là nhằm nói về ý niệm khái quát” [157 (sđd); tr 28] Hà Công Tại thì cho rằng: “Nói đến biểu trưng là nói đến hình ảnh cảm tính về hiện thực khách quan Đó là hình ảnh sao chép lại nguyên sơ các hiện tượng do cảm giác khác nhau như thị giác, thính giác góp phần tạo nên Khác với cảm giác đem lại cho ta từng đặc điểm cụ thể riêng biệt của hiện thực, biểu trưng cho ta đặc điểm chung nhất” [157

(sđd); tr65] Nguyễn Văn Nở trong “Biểu trưng trong tục ngữ Người Việt” giải thích:

“Biểu tượng (symbole: tiếng Pháp; symbol: tiếng Anh) là một khái niệm quen thuộc và được sử dụng trong nhiều ngành khoa học Nó có nguồn gốc tiếng Latin (symbolus) nghĩa là dấu hiệu Ở Việt Nam, thuật ngữ này được dịch là biểu trưng hay biểu tượng Theo chúng tôi biểu trưng và biểu tượng không đồng nhất Nghĩa biểu trưng mang tính lâm thời, nghĩa là ở những ngữ cảnh khác nhau nó có thể có nghĩa khác nhau; còn biểu

tượng có tính cố định” [157 (sđd); tr.41] Trong “Từ kí học đến thi pháp học”, Hoàng

Trinh cũng nêu lên quan niệm của mình: “Biểu trưng là một vật mang tính chất thông điệp được dùng để chỉ ra một cái ở bên ngoài, theo một quan niệm ước lệ, tức võ đoán

(không tất yếu) giữa sự vật trong thông điệp và sự vật bên ngoài” [152 (sđd); tr.84]

Tìm hiểu về vấn đề này, chúng tôi thiết nghĩ: Biểu trưng là một yếu tố hình thức mang tính nội dung sâu sắc, gắn liền với đặc điểm văn hóa dân tộc, địa phương, biểu trưng gần như đồng nghĩa với ẩn dụ, có nhiều trong các thể loại về văn học dân gian, phổ biến nhất là trong ca dao, đặt biệt là trong ca dao về thế giới thực vật Trong biểu trưng có sự so sánh dựa trên sự giống nhau về màu sắc, hình dáng, tính chất, chức năng của đối tượng này để nói về đối tượng kia, theo nguyên tắc đối chiếu ngầm để bộc lộ những nội dung trữ tình Trong ca dao về thế giới thực vật, tác giả dân gian có

sự lựa chọn các đặc điểm, tính chất có tính ổn định của hình tượng thiên nhiên: cây cỏ, hoa lá làm điểm tựa để biểu đạt bức tranh đời sống tình cảm của con người Việt Nam,

để xây dựng hình tượng biểu trưng

Biến thể (d) là thể đã biến đổi ít nhiều so với thể gốc [121; 64] Như vậy, có thể

hiểu biến thể về danh xưng là các tên gọi khác của cùng một đối tượng hay những đối

tượng có cùng một thể gốc, nay được gọi bằng nhiều tên khác nhau Chúng có mối liên hệ với nhau về tính chất hoặc một vài đặc điểm chung nào đó

Trang 20

17

1.3 Cơ sở lý thuyết của đề tài

1.3.1 Cơ sở văn hóa – văn học

+ Về mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên và môi trường văn hóa

Môi trường không những là một khái niệm sinh thái học, nó còn là một phạm trù triết học, bao gồm môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường văn hóa Nếu môi trường tự nhiên là tập hợp các yếu tố bên ngoài hệ thống xã hội, thì môi trường văn hóa là tập hợp các yếu tố bên trong hệ thống xã hội

Môi trường văn hóa gần như đồng nhất với môi trường xã hội, ngoài ra nó còn

là bộ phận quan trọng của sự phát triển văn hóa “So với môi trường xã hội, khái niệm môi trường văn hóa thường được dùng với nghĩa kém xác định hơn, với ngoại diên là

toàn bộ đời sống con người và nội hàm là mặt văn hóa, hay khía cạnh văn hóa” [124 (sđd)] Khi con người sống trong môi trường tự nhiên, cải tạo tự nhiên để tạo thành

môi trường xã hội thì bản thân môi trường văn hóa đó luôn mang dấu ấn của môi trường tự nhiên xung quanh nó

Trong ca dao Việt Nam, những thực thể tự nhiên tồn tại trong môi trường sống bao gồm các hiện tượng tự nhiên, thế giới thực vật, thế giới động vật, thâm nhập vào đời sống tinh thần của chủ thể văn hóa (con người Việt Nam) và chuyển hóa thành các giá trị văn hóa Trong ca dao, thế giới thực vật được phản ánh và lưu giữ ở nhiều phương diện của giá trị văn hóa Việt Nam: văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên, văn hóa ứng xử trong môi trường xã hội, chiều hướng tâm lí, tâm linh, quan niệm nhân sinh của người Việt Những công trình nghiên cứu về vấn đề văn hóa, văn học, đặc biệt là ca dao, dân ca đã chỉ ra một số khía cạnh trong giá trị văn hóa của thế giới thực vật trong ca dao

+ Thực vật với tư cách là những mã văn hóa trong ca dao người Việt

Mã văn hóa là một khái niệm nằm trong môi trường văn hóa Mã văn hóa được hình thành trong môi trường tự nhiên và xã hội Mã văn hóa có tính truyền thống, ổn định, là dấu hiệu đặc trưng nhận diện Theo Nguyễn Bích Hà, “Mã văn hóa (cultural code) là kết tinh của các giá trị văn hóa, là phần nổi trội nhất, cơ bản nhất, có tính ổn định tương đối của cộng đồng Nó biểu hiện ra ngoài bằng các tín hiệu văn hóa, biểu

Trang 21

18

tượng văn hóa, chìm sâu bên trong là vô vàn lớp nghĩa luôn đòi hỏi giải mã thì mới có

thể hiểu được con người và cộng đồng đó” [40]

Cũng theo Nguyễn Bích Hà, Tín hiệu, kí hiệu văn hóa: “là những quy ước

chung, khá đơn giản Để được coi là tín hiệu, kí hiệu văn hóa, nó phải thỏa mãn những điều kiện: Là cái có thể cảm nhận được bằng giác quan; Phải có tính thẩm mĩ (gắn với đặc trưng văn hóa); Có ý nghĩa, đại diện cho một yếu tố văn hóa nào đó khác với chính

nó [40] Thực vật đi vào trong thế giới ca dao với tư cách là những tín hiệu thẫm mỹ

gắn với đặc trưng văn hóa người Việt, có thể cảm nhận được bằng giác quan Do vậy, với tư cách là những mã văn hóa, thế giới thực vật gợi lên những hình ảnh ước lệ, tượng trưng mang chiều sâu triết lý của văn hóa người Việt

Để tìm hiểu tổng thể những giá trị văn hóa của thế giới thực vật trong ca dao, theo chúng tôi, cần phải xét đến mối quan hệ hữu cơ giữa các bình diện: môi trường tự nhiên – con người – giá trị văn hóa Môi trường tự nhiên bao gồm một cơ cấu các thực thể mà sự sinh tồn của thực thể này liên quan chặt chẽ đến thực thể khác, chế ngự, hỗ trợ, quy định lẫn nhau tạo nên một hệ sinh thái Con người là một mắt xích, một thực thể có ý thức, một thực thể văn hóa Vì vậy, những thực thể của môi trường tự nhiên, dưới sự ảnh hưởng, tác động, tiếp nhận của con người, thông qua cả quá trình nhận thức và hành động ứng xử cụ thể, đều có xu hướng trở thành những thực thể văn hóa:

“Khi con người tác động vào tự nhiên, họ tạo ra thiên nhiên thứ hai, cái thiên nhiên không còn hoang sơ, thô mộc mà là thiên nhiên đã được gọt tỉa, uốn nắn theo những mục đích mà con người đặt ra từ trước khi tác động vào nó Thiên nhiên đó mang tính

ý thức Cây vốn tồn tại trong tự nhiên, nhưng khi con người mang cây về trồng, họ đã tính toán trước xem cái cây ấy nên trồng ở đâu, để làm gì, trồng như thế nào?… Đó là kết quả của tư duy, có tính mục đích Đó là sản phẩm văn hóa” [40]

+ Thiên nhiên nói chung và thế giới thực vật trong truyền thống văn học

Trong phạm vi các bài ca dao, hệ thống biểu tượng văn hóa được chuyển hóa vào các hiện tượng, hình ảnh cụ thể Sự chuyển hóa này chính là quá trình sản sinh của các mã văn hóa cơ sở (mẫu gốc, biểu tượng) Theo quan điểm của C.Jung, hình tượng trong các tác phẩm văn học có thể có quan hệ với các mẫu gốc văn hóa (các biểu

Trang 22

19

tượng nguyên khởi, xuất hiện sớm nhất, có khả năng sản sinh ra các biểu tượng khác):

“Tác phẩm hiện ra trước chúng ta là hình tượng được chế tác, hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ này Hình tượng này có thể phân tích được chừng nào chúng ta có khả

năng nhận biết biểu tượng trong nó Dịch sang ngôn ngữ tâm lí học, vấn đề hàng đầu

của ta được đặt ra như sau: có thể đưa hình tượng được triển khai trong tác phẩm đến

nguyên sơ tượng (mẫu gốc) nào của vô thức tập thể” [51 (sđd); tr.83]

Tất nhiên không phải hình tượng, hình ảnh nào trong tác phẩm cũng xuất phát từ các mã văn hóa mang tính bền vững, phổ quát, nhưng với những hình tượng, hình ảnh

có liên quan đến mã văn hóa, vấn đề là phải giải thích được mối quan hệ này, dựa trên những biểu hiện cụ thể của hình tượng, hình ảnh trong tác phẩm văn học

Khi tìm hiểu các giá trị của hệ thống hình tượng liên quan đến “thế giới thực vật” trong ca dao, chúng ta nên chú ý đến mối quan hệ giữa bình diện văn hóa và bình diện văn học, những điểm đồng nhất và độ chênh giữa hai bình diện này trong những biểu hiện cụ thể của thế giới thực vật trong các bài ca dao cụ thể cũng như các kiểu bài ca dao nhất định Trong phạm vi nghệ thuật nói chung và ca dao nói riêng, các mã văn hóa chung trở thành các mã nghệ thuật, các biểu tượng văn hóa trở thành biểu tượng, hình tượng nghệ thuật, được cấu tạo bởi các chất liệu đặc trưng

Mặc dù các từ ngữ gọi tên thế giới thực vật trong ca dao thường có xu hướng biểu trưng hóa nhưng mức độ biểu trưng hóa của các yếu tố không đồng nhất Có thể dựa trên sự phân chia hai dạng văn bản chủ yếu: văn bản tạo hình (mang nghĩa cơ sở, trực tiếp) và văn bản biểu hiện (hàm ẩn, nghĩa tượng trưng, ẩn dụ…) để xác định ý nghĩa, giá trị biểu đạt của những hình tượng, hình ảnh thế giới thực vật trong ca dao Mặt khác, các tầng nghĩa khác nhau có thể cùng được biểu đạt trong một cấu trúc nhất định, đồng thời, sự thay đổi một yếu tố nào đó, dù rất nhỏ, cũng có thể làm biến đổi cơ cấu ý nghĩa, giá trị của văn bản

1.3.2 Cơ sở biểu tượng học

Nếu quan niệm, biểu tượng là những thứ được một nhóm người đồng ý rằng nó

có nhiều hơn một ý nghĩa đại diện cho chính bản thân nó (Dictionary of symbols) thì

nội hàm của khái niệm biểu tượng không đơn thuần như trong khái niệm ở từ điển

Trang 23

20

tiếng Việt mà chúng tôi đã nêu ở phần trên Trong công trình Man and his symbol,

Carl Gustav Jung cũng cho rằng, “Biểu tượng là một từ, một, một cái tên, một sự kiện, một hình ảnh nói lên ý nghĩa mà ta quen thuộc trong đời sống hàng ngày Tuy nhiên, ngoài nghĩa ước định hiển nhiên, nó còn gợi lên những nghĩa khác, nhưng lại mờ mịt,

xa lạ với nhiều người” [177; 17] Ở một công trình khác, khi nói về biểu tượng, Jung cho biết thêm: “Nó giống như mũi tên bay mà không bay, đứng im lại vừa biến ảo, hiển nhiên mà lại không nắm bắt được”… “không thể cho một biểu tượng một định nghĩa võ đoán hay phổ quát, phải cắt nghĩa nó theo tình trạng tâm lý toàn diện của một

cá nhân sử dụng nó” [178; 142]

Dưới góc nhìn của ký hiệu học, nhà nhân học người Mỹ, Leslie White đã đồng nhất biểu tượng với hành vi của con người, ông cho rằng, “mọi hành vi của con người đều chứa đựng những biểu tượng và những hành vi chứa đựng biểu tượng chính là hành vi của con người Biểu tượng chính là hành vi vũ trụ của nhân loại” [102; 122] Cùng hướng tiếp cận này, Levi Strauss cũng cho rằng, “Mọi nền văn hóa đều có thể xem như tập hợp các hệ thống biểu tượng, trong đó xếp ở hàng đầu là ngôn ngữ, các quy tắc hôn nhân, các quan hệ kinh tế, nghệ thuật, khoa học và tôn giáo” [57; 23] Cũng xem biểu tượng là một loại ký hiệu, song A.A Radughin không xem biểu tượng

là một loại ký hiệu thông thường mà là loại ký hiệu đặc biệt Ông cho rằng, loại ký hiệu đặc biệt này dẫn tới “thế giới các ý niệm, của tâm hồn và gắn bó mọi người theo kiểu cảm nhận thống nhất đối với thế giới và bản thân mình” [1; 25]

Tính chất mờ mịt, xa lạ, võ đoán, hiển nhiên và biến ảo mà Jung nói đến chính

là sự hấp dẫn nhưng cũng rất khó nắm bắt của biểu tượng Có lẽ chính vì vậy mà cho đến nay, có bao nhiêu nhà nghiên cứu về biểu tượng thì có bấy nhiêu khái niệm, định nghĩa, nhưng vẫn chưa có một khái niệm, định nghĩa nào thâu tóm toàn bộ sự phức tạp

ấy để được đông đảo các nhà nghiên cứu chấp thuận Vì những lí do đó, chúng tôi không nỗ lực để đưa ra một định nghĩa Trong phạm vi cần thiết của luận án, chúng tôi

sử dụng khái niệm của tác giả Nguyễn Văn Hậu như sau: “Biểu tượng là một hình thái ngôn ngữ - ký hiệu tượng trưng của văn hóa Nó được sáng tạo nhờ vào năng lực

“tượng trưng hóa” của con người, theo phương thức dùng hình ảnh này để bày tỏ ý nghĩa kia nhằm để nhận thức và khám phá ra một giá trị trừu tượng nào đó Biểu tượng

Trang 24

21

được xem là “tế bào” của văn hóa và là hạt nhân “di truyền xã hội” đầu tiên của nhân loại Nó quy định mọi hành vi ứng xử và giao tiếp của con người đồng thời liên kết họ lại thành một cộng đồng riêng biệt” [46]

Tuy khó xác định và thâu tóm toàn bộ tính phức tạp ấy bằng một khái niệm phổ quát, song, tính chất của biểu tượng vẫn có thể xác định được qua một số thuộc tính tiêu biểu như sau:

Biểu tượng có tính thống nhất giữa cấp độ bản thể và cấp độ biểu hiện Đây

chính là mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt có tính thống nhất giữa vật

chất và tinh thần; Đặc điểm thứ hai có thể kể đến là tính quy ước và võ đoán của biểu

tượng Đây thực chất là mối quan hệ giữa mặt vật biểu và mặt hàm biểu của sự vật hiện tượng Cũng có khi, tính võ đoán và tính quy ước không trùng khít nhau Điều này cho phép ta suy ra biểu tượng không có tính mã hóa đồng loạt Điều này có thể nhận thấy qua các tín hiệu thẩm mỹ (tín hiệu học hàm biểu) trong ngôn ngữ Tất nhiên, không phải tín hiệu thẩm mỹ nào cũng là biểu tượng Với những khái niệm mà chúng

tôi đã nêu ở phần trên, đặc tính thứ ba của biểu tượng có thể được xác định là tính đa nghĩa và linh hoạt Sự khác nhau giữa tín hiệu và biểu tượng là tín hiệu đơn nghĩa,

còn biểu tượng thì đa nghĩa và tồn tại trên nhiều bình diện khác nhau Nghĩa hàm biểu của biểu tượng không phải là duy nhất và không có tính ổn định Tùy theo các biến thể của chủ thể mà khả năng hiện thực hóa của biểu tượng sẽ khác nhau Một hình ảnh, nhưng trong từng nền văn hóa sẽ có những ý nghĩa và giá trị khác nhau, tùy theo mối quan hệ của hình ảnh đó với hoàn cảnh và các chủ thể của nó

Quan niệm và xác định các đặc tính của biểu tượng đã là một việc làm phức tạp, việc mô hình hóa các ký hiệu biểu thị của nó lại càng phức tạp hơn Đúng như Đinh

Hồng Hải đã nhận định: “việc xác định nghiên cứu biểu tượng là một khoa học liên

ngành không chỉ đúng trong hiện tại mà còn phù hợp cả trong tương lai Điều mà

chúng ta cần xác định, thậm chí phải xác định sớm, là một khung lý thuyết và phương

pháp luận dành cho đối tượng nghiên cứu vô cùng hấp dẫn nhưng cũng hết sức phức

tạp này” [42]

Trang 25

về biểu tượng” [42]

Người đầu tiên đưa ra cấu trúc của ký hiệu biểu tượng là Ferdinand de Saussure, cấu trúc này khá đơn giản, chúng bao gồm: Ký hiệu = cái biểu đạt và cái

được biểu đạt, qua mô hình sau:

Từ mô hình đầu tiên này, trên nền tảng của ký hiệu học, nhiều nhà khoa học sau

đó đã phát triển cấu trúc này từ nhiều góc độ khác nhau và trở thành những trường phái, lý thuyết vô cùng phong phú Có thể kể đến các nhà nghiên cứu biểu tượng học như: Jacques Derrida, Michel Foucault, Romand Jakobson, Roland Barthes, Louis Hjelmslev, Claude Levi-Strauss, Nhà nghiên cứu biểu tượng – huyền thoại Roland Barthes đã phát triển mô hình cấu trúc luận của Ferdinand de Saussure như sau:

- A là hệ thống ký hiệu biểu thị (ký hiệu thông thường)

- B là hệ thống ký hiệu hàm nghĩa (Siêu ký hiệu – biểu tượng)

Trang 26

23

Tiếp tục vận dụng cấu trúc này, tác giả Nguyễn Văn Hậu đã chi tiết hóa Sơ đồ cú

pháp hệ thống ký hiệu học hàm nghĩa của R.Barthes như sau:

Tác giả Nguyễn Văn Hậu đã vận dụng mô hình này để giải mã biểu tượng hoa sen trong tác phẩm kiến trúc như sau:

Ký hiệu hiển ngôn

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

CĐBĐ

Ký hiệu mật ngôn

Thanh cao

Siêu ký hiệu – Biểu tượng

(Nguồn: Nguyễn Văn Hậu, “Biểu tượng như là đơn vị cơ bản của văn hóa”, Tạp

chí Văn hóa dân gian (03), Hà Nội)

Ý nghĩa “thanh cao” của biểu tượng hoa sen mà tác giả Nguyễn Văn Hậu giải

mã trong kiến trúc nói trên là điều không có gì để bàn cãi Tuy nhiên, như đã nói ở trên, một trong những đặc trưng của biểu tượng là tính võ đoán và quy ước Tính thanh

cao (mật ngôn) của biểu tượng sen được quy ước trong hoàn cảnh và tâm lý tiếp nhận

cụ thể Trong ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ ca dao, không phải bao giờ và luôn luôn

sen biểu trưng cho sự thanh cao này Chúng tôi xin đơn cử hai bài ca dao sau: Hoa sen sao khéo giữ màu,/Nắng nồng không nhạt, mưa dầu không phai Cách giữ màu không nhạt, không phai trước nắng, gió thuộc về phẩm chất Chúng tôi cho rằng, hoa sen

Trang 27

24

trong bài ca dao trên biểu tượng cho những phẩm chất thanh cao của người con gái nói chung Cũng là hoa sen, song ý nghĩa biểu tượng của nó trong bài ca dao sau lại là một

trường hợp khác: Búp sen lai láng giữa hồ,/ Anh đưa tay bẻ, sợ trong chùa có sư./ Có

sư thì mặc có sư,/ Anh đưa tay ra bẻ, có hư em đền Ý nghĩa biểu tượng của búp sen ở

đây không nằm ở trọng tâm là sự thanh cao mà là vẻ đẹp, thậm chí đó là vẻ đẹp rất đời, rất người, rất phụ nữ Rõ ràng, biểu tượng không tồn tại một cách bất biến, các ý nghĩa biểu tượng vì thế rất phong phú Trong văn học dân gian nói riêng và folklore nói chung, dân gian thường có xu hướng mở rộng nhận thức và do vậy, biểu tượng cũng

luôn mang tính đa nghĩa Do đó, việc phân biệt biểu tượng văn hóa, biểu tượng nghệ

thuật và biểu tượng nghệ thuật trong ca dao là điều cần thiết

Văn hóa là một quá trình tạo lập các giá trị về tinh thần, vật chất do con người tác động đến tự nhiên, xã hội trong quá trình lịch sử lâu dài để tạo nên Nó tích tụ và

thể hiện sâu sắc của mỗi cộng đồng Biểu tượng văn hóa mang chiều sâu cảm xúc, có

tính dân tộc, tính thời đại, là một tín hiệu đặc biệt của tín hiệu văn hóa Theo Nguyễn Thị Bích Hà: “Biểu tượng văn hóa được hình thành trong quá trình lâu dài, có tính ước

lệ và bền vững, là cảm quan, nhận thức được lắng đọng, kết tinh, chắt lọc trải qua bao biến cố thăng trầm vẫn không bị phai mờ mà ngược lại càng khắc sâu hơn vào tâm khảm con người Biểu tượng là vật môi giới giúp ta tri giác cái bất khả thị giác” [40]

Biểu tượng văn hóa có tính chất sống động, khó nắm bắt, khó xác định nhưng

lại vừa có tính chất ổn định tương đối, nếu luôn thay đổi sẽ không còn mang tính chất biểu tượng Khi biểu tượng có thể lí giải được là nhờ liên hệ với các yếu tố khác trong một trường liên tưởng Trường liên tưởng của biểu tượng càng rộng, sự khám phá biểu tượng càng phong phú và hấp dẫn Biểu tượng cũng luôn mang tính quan niệm, bởi nó bắt nguồn từ tư duy hình tượng xâm nhập với cái được biểu trưng, các cấp độ đó phản ánh trình độ tư duy và quan niệm nghệ thuật của con người Biểu tượng cổ nhất và đơn giản nhất bao giờ cũng gần với thực tế, giải mã biểu tượng cũng chính là bóc tách các lớp lịch sử bồi đắp, che phủ biểu tượng, làm cho nó biến đổi

Biểu tượng văn hóa và biểu tượng nghệ thuật cũng có sự khác biệt nhất định

Thường trong quá trình phát triển, biểu tượng văn hóa có sự bổ sung ý nghĩa, nhưng sau một thời gian ý nghĩ đó trở nên cố định Còn biểu tượng nghệ thuật luôn có xu

Trang 28

25

hướng tái sinh về mặt ý nghĩa cả trong sáng tác và trong tiếp nhận Cái biểu đạt có thể vẫn giữ nguyên nhưng ý nghĩa được bổ sung, cách tân Giữa biểu tượng văn hóa và biểu tượng nghệ thuật tuy có chút ít khác biệt nhưng lại thường có sự hoán đổi vị trí Biểu tượng văn hóa đi vào từng tác phẩm nghệ thuât trở thành biểu tượng nghệ thuật

và ngược lại có trường hợp biểu tượng nghệ thuật từ trong tác phẩm bước ra cuộc sống trở thành biểu tượng văn hóa

Biểu tượng nghệ thuật tuân theo quy luật của cái đẹp, thể hiện được cái đẹp và

đưa lại rung động thẩm mỹ cho con người Biểu tượng nghệ thuật được tạo nên từ nhiều loại hình khác nhau như: điêu khắc, kiến trúc, hội họa, điện ảnh, sân khấu, văn học… Nguyễn Xuân Kính đã nêu khái quát biểu tượng nghệ thuật về văn học: “Biểu tượng là hình ảnh cảm tính về hiện thực khách quan, thể hiện quan niệm thẩm mỹ, tư tưởng của những nhóm tác giả (có khi của riêng một tác giả), từng thời đại, từng dân tộc và từng khu vực cư trú” [29 (sđd); tr85]

Biểu tượng nghệ thuật ca dao có những nét riêng, được xây dựng bằng ngôn từ

nói và viết với những quy ước của cộng đồng, đó chính là những kí hiệu ngôn từ được lặp đi lặp lại nhiều lần, có khả năng biểu hiện những ý nghĩ sâu xa từ những hình ảnh,

sự kiện về thế giới tự nhiên và xã hội đã được dân gian chọn lọc và sử dụng từ thế hệ này qua thế hệ khác, thể hiện đậm nét những đặc trưng truyền thống của phong cách dân gian

Với tư cách là những kí hiệu ngôn ngữ được lặp đi lặp lại nhiều lần, có khả năng biểu hiện những ý nghĩa sâu xa, biểu tượng trong ca dao có những đặc tính riêng

biệt, trước tiên đó là tính cộng đồng Có những biểu tượng của cộng đồng này, dân tộc

này nhưng đưa sang cộng đồng khác lại không có ý nghĩa Chẳng hạn, cây trúc, cây mai trong ca dao người Việt tượng trưng cho đôi bạn tình nhưng trong dân ca trữ tình Tày-Nùng lại trở thành tầm thường, không được nhắc đến nhiều Trong ca dao, biểu

tượng vừa mang tính khái quát, vừa mang tính cụ thể, hai khái niệm tưởng chừng như

là đối lập nhưng trong biểu tượng ca dao lại có sự tác hợp cho nhau, chính sự kết hợp này đã mang lại hiệu quả nghệ thuật cho các biểu tượng Một tính chất khác cũng thể

hiện rất rõ trong biểu tượng ca dao đó là tính nhận thức và tính biểu cảm Tác giả dân

gian thể hiện rất rõ ràng thái độ yêu ghét, khen chê, trân trọng hay khinh rẻ của mình

Trang 29

26

đối với đối tượng biểu hiện trong ca dao Thế giới biểu tượng ca dao tràn đầy cảm xúc,

đó là sự gắn bó giữa hai yếu tố lí trí và tình cảm, đến với biểu tượng ca dao chúng ta phải biết “Tổng hợp và đồng cảm hết mực, nghĩa là chia sẻ và cảm nghiệm một cách nhìn nào đó về thế giới” [29 (sđd); tr XXII] Đặc biệt, trong ca dao biểu tượng mang

tính ổn định tương đối Như chúng ta đã biết, nếu ý nghĩa tượng trưng của một hình

ảnh, một sự kiện thường xuyên thay đổi thì hình ảnh, sự kiện đó không thể trở thành biểu tượng Nhưng ý nghĩa hình ảnh sự kiện đó còn nghèo nàn, lạc hậu, sáo mòn mà bất di bất dịch, không điều chỉnh, bổ sung được thì ý nghĩa biểu tượng đó không hay, tầm ảnh hưởng bị hạn chế và có nguy cơ bị mai một

Tìm hiểu biểu tượng ca dao là tìm hiểu những tín hiệu thẩm mỹ đã được tạo lập

và sử dụng từ hàng ngàn năm lịch sử của dân tộc Qua hệ thống các biểu tượng văn hóa, nghệ thuật từ bao đời nay của đất nước, chúng ta có thể cảm nhận được tâm hồn Việt Nam ở tầng sâu kín nhất Trong phần sau của chương 2 chuyên luận này, chúng tôi sẻ tìm hiểu biểu tượng ca dao về thế giới thực vật chứ không dám có tham vọng tìm hiểu toàn bộ biểu tượng ca dao

1.3.3 Cơ sở thi pháp học

Thuật ngữ “thi pháp học”(poétique, poetics, 诗学) có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp là “Poietike”, được Aristote (384 – 322) dùng để chỉ một lĩnh vực tri thức về các quy tắc chuyên ngành sáng tác nghệ thuật, phân loại về thể loại nghệ thuật Theo Trần Đình Sử, thuật ngữ này trước Aristote đã có nhiều người đề xuất, đến lượt mình, ông

đã kết hợp tư tưởng mua vui và nhận thức khi nhìn nhận bản chất nghệ thuật, từ đó, lần lượt xem xét các thể loại bi kịch, sử thi, cấu trúc cho đến ngôn từ, kết hợp lí thuyết với thực hành phân tích nghệ thuật cụ thể Từ khi ra đời đến nay, thi pháp học không ngừng biến đổi và hoàn thiện lý thuyết để trở thành một lĩnh vực có ảnh hưởng bậc nhất trong nghiên cứu văn học thế kỷ XX Chính sự phát triển và không ngừng hoàn thiện đó đã phát sinh ra nhiều xu hướng nghiên cứu về thi pháp học, và tất nhiên, quan niệm về nó cũng là một vấn đề rất đáng quan tâm Sau đây, chúng tôi xin dẫn lại các quan niệm, định nghĩa về thi pháp học của các nhà nghiên cứu được Trần Đình Sử

tổng hợp trong công trình Toàn cảnh thi pháp học như sau: “V Girmunski: “Thi pháp

học là khoa học nghiên cứu thi ca (tức là văn học) như là một nghệ thuật (Nhiệm vụ

Trang 30

27

của thi pháp học) Viacheslav Ivanov: “Thi pháp học là khoa học về cấu tạo của tác phẩm văn học và hệ thống các phương tiện thẩm mĩ được sử dụng trong đó M L Gasparov: “Thi pháp học – khoa học về hệ thống các phương tiện biểu hiện trong tác phẩm văn học (…)… V Vinogradov: “Thi pháp học là khoa học về các hình thức, các dạng thức, các phương tiện, phương thức tổ chức tác phẩm sáng tác ngôn từ, về các kiểu cấu trúc và các thể loại tác phẩm văn học Nó muốn bao quát không chỉ ngôn

từ thơ, mà còn cả các khía cạnh khác nhau nhất của tác phẩm văn học và sáng tác dân gian,” (Phong cách học, lí thuyết ngôn từ nghệ thuật, thi pháp học) B Tomashevski:

“Nhiệm vụ của thi pháp học là nghiên cứu phương thức cấu tạo của tác phẩm văn học Đối tượng của thi pháp học là các sáng tác có giá trị Phương pháp nghiên cứu thi pháp

là tiến hành miêu tả, phân loại và giải thích các hiện tượng được nghiên cứu.”(Định nghĩa thi pháp học) Đối với R Jakobson đối tượng của thi pháp học là “tính văn học”

và “các thủ pháp” tạo nên nó, phương pháp nghiên cứu thi pháp học là phương pháp

ngôn ngữ học (Thi pháp học và ngôn ngữ học)” (Toàn cảnh thi pháp học, lược trích)

Trong các định nghĩa và cách quan niệm về thi pháp học như vừa nêu, có thể thấy thi pháp học được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Về nghĩa rộng, thi pháp học trùng với lí luận văn học, về nghĩa hẹp, thi pháp học trùng với nghiên cứu ngôn ngữ thơ hay ngôn từ nghệ thuật Dù có những quan niệm không giống nhau, song điểm chung có thể rút ra ở đây là thi pháp học nghiên cứu về đặc trưng, tổ chức, các phương thức, phương tiện, nguyên tắc làm nên giá trị thẩm mĩ của văn học trong tính chỉnh thể của văn bản Như vậy, có thể hiểu, Thi pháp là hệ thống những nguyên tắc, cách thức xây dựng hình tượng, tổ chức tác phẩm, lựa chọn và sử dụng, tổ chức các phương tiện ngôn ngữ để làm nên tác phẩm văn học Nói cách khác, toàn bộ nghệ thuật được nhà

văn sáng tạo nên nhằm thể hiện nội dung tác phẩm thì gọi là thi pháp Cụ thể, thi pháp thể hiện qua các phương diện sau: Thi pháp thể hiện quan niệm của tác giả về thế giới

con người Đây là quan niệm riêng của mỗi nhà văn, quan niệm này chi phối cách nhà

văn tạo nên phần hình thức của quan niệm về thế giới con người Thi pháp là một hệ

thống những yếu tố hình thức có quan hệ chặt chẽ với nhau để cùng tạo nên một thế

giới nghệ thuật nhất định, do vậy ta nói thi pháp có tính hệ thống Thế giới nghệ thuật

trong tác phẩm văn chương bao gồm: Con người, không gian và thời gian, sự kiện,

Trang 31

tác phẩm văn chương thì thi pháp văn học dân gian là hệ thống những nguyên tắc, cách

thức xây dựng hình tượng, tổ chức tác phẩm văn học dân gian của quần chúng nhân

dân Trên thực tế, giữa thi pháp nói chung và thi pháp văn học dân gian có những

tương đồng và khác biệt Có thể kể đến những điểm tương đồng như sau:

Khi nói đến thi pháp là nói đến các đặc điểm cấu trúc tác phẩm; hệ thống phương tiện phản ánh; những chức năng tư tưởng - thẫm mỹ của cấu trúc tác phẩm và những chức năng tư tưởng - thẫm mỹ của các phương tiện thể hiện tác phẩm Điểm chung lớn nữa của thi pháp văn học dân gian và văn học viết là thế giới nghệ thuật trong tác phẩm đều là thế giới thực tại khách quan Tuy nhiên chúng lại khác nhau ở nguyên tắc phản ánh Điểm khác biệt cơ bản nhất có thể nhận ra giữa thi pháp văn học dân gian và thi pháp văn học viết đó là, nói đến thi pháp văn học viết là nói đến những đặc trưng nghệ thuật của từng tác giả còn thi pháp văn học dân gian là thi pháp của từng thể loại Chính xác là văn học dân gian không có thi pháp riêng của từng tác phẩm cụ thể Như vậy việc tiếp cận một tác phẩm văn học dân gian bằng thi pháp cần căn cứ vào đặc trưng và tình hình diễn xướng của từng thể loại Về điều này, tác giả Chu Xuân Diên cho rằng, “Thi pháp văn học dân gian là toàn bộ những đặc điểm về hình thức nghệ thuật, về phương thức và thủ pháp miêu tả, biểu hiện, về cách cấu tạo

đề tài, cốt truyện và phương pháp xây dựng hình tượng con người Việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian bao gồm từ việc khảo sát những yếu tố thi pháp riêng lẻ như thi

pháp so sánh thơ ca, các biểu tượng và luật thơ…” [121;] Cũng theo Chu Xuân Diên, thi pháp văn học dân gian không đơn thuần là những yếu tố hình thức, mà cần hết sức coi trọng ý nghĩa nội dung của thi pháp văn học dân gian Tác giả Nguyễn Xuân Kính nhấn mạnh thêm: “Trong văn học dân gian, thành phần ngôn từ là chủ yếu; cần xem

Trang 32

29

xét đối tượng nghiên cứu chính của văn học dân gian là nghệ thuật ngôn từ, còn âm nhạc của dân gian là nghệ thuật âm nhạc, của sân khấu dân gian là nghệ thuật biểu diễn…”… “việc nghiên cứu văn học của tác phẩm văn học dân gian không chỉ là khảo sát cái xác không hồn mà chính là phân tích cái hồn tồn tại trong thể xác của nó” [70; 57-58] Như vậy, phân tích tác phẩm văn học dân gian từ góc độ thi pháp chính là phân tích thi pháp thể loại của tác phẩm đó Tuy nhiên, một trong những đặc điểm của văn học dân gian nói chung là tính giao thoa thể loại diễn ra khá phổ biến khiến cho ranh giới thể loại của một số văn bản nhất định không rõ ràng Văn bản vừa có tính chất của thể loại này, vừa có tính chất của thể loại khác (như tính chất thần thoại và

truyền thuyết trong Sơn Tinh Thủy Tinh, Con Rồng cháu Tiên…), thậm chí có tác

phẩm có yếu tố của nhiều thể loại, và ca dao cũng không phải là trường hợp ngoại lệ Vấn đề thể loại ở ca dao không chỉ nằm ở tính giao thoa giữa nó và tục ngữ, ca dao với đồng dao, thậm chí với cả câu đố (trường hợp câu đố được làm bằng thơ) mà còn nằm ngay trong bản thân quan niệm thế nào là ca dao; ca dao và dân ca là một hay là hai thể loại Đây là vấn đề không hề nhỏ, đã được một số tác giả quan tâm Chu Xuân

Diên cho rằng: Ca dao dân ca là tên gọi chung các thể loại trữ tình dân gian kết hợp

lời thơ và giai điệu nhạc, nội dung miêu tả những tâm trạng, những tư tưởng và tình cảm của con người Phần lớn lời thơ của dân ca được gọi là ca dao Mặt khác, ca dao

không chỉ là lời hát, mà còn là lời nói (dùng xen vào lời nói thường) Tác giả Đỗ Bình

Trị định nghĩa dân ca - ca dao là tên gọi chung các thể loại trữ tình dân gian Trong

diễn xướng đó là những bài ca, là thơ được hát lên theo những giai điệu nhạc nhất định Các thể loại dân ca có bản chất chung là trữ tình (tức là chủ yếu biểu hiện những tâm trạng, những cảm nghĩ của con người) và khác nhau về chức năng sinh hoạt là chính Ngay cả trong hai bộ sách giáo khoa, quan niệm này cũng chưa hẳn đã

trùng khít nhau Sách Ngữ Văn 10, (Phan Trọng Luận, chủ biên), Nxb Giáo Dục, H 2006), trang 18, định nghĩa ca dao: lời thơ trữ tình dân gian, thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng, được sáng tác nhằm diễn tả thế giới nội tâm của con người Cũng

là sách Ngữ Văn 10, nhưng bộ do Trần Đình Sử, chủ biên, (Nxb Giáo Dục, H 2006, trang 27), định nghĩa ca dao dân ca: là thể loại trữ tình bằng văn vần, diễn tả đời sống nội tâm của con người Dân ca khác ca dao ở chỗ kết hợp giữa lời với giai điệu nhạc

Từ điển thuật ngữ văn học viết: Ca dao còn gọi phong dao Thuật ngữ ca dao được

Trang 33

30

dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca [45; 31] Như vậy, có hai xu hướng: Một, quan niệm

ca dao và dân ca là một; hai là cố gắng phân biệt ca dao và dân ca nhưng cũng thừa nhận mối quan hệ không tách rời của nó Trên thực tế, nếu xét về hình thức diễn xướng, có những bài ca dao vừa đọc, vừa hát được, song cũng có những bài chỉ để đọc

mà không hát, và cũng có những bài chỉ để hát mà không đọc Trong phạm vi của luận

án, chúng tôi không có tham vọng đi vào giải quyết và phân định ranh giới có tính chất

lý luận phức tạp của vấn đề như vừa nêu Luận án tiếp thu quan điểm và hướng tiếp cận của Nguyễn Xuân Kính, xem ca dao là thể loại có tính độc lập và cũng chấp nhận việc giao thoa thể loại của ca dao như một đặc điểm có tính loại hình Tuy vậy, khi nghiên cứu ca dao từ góc độ thi pháp, theo Nguyễn Xuân Kính, cần có những lưu ý như sau:

Thứ nhất, là xác định ranh giới thể loại Việc phân biệt ca dao với tục ngữ là cần thiết Về phương diện ngôn ngữ học, Tục ngữ là những đơn vị thông báo, chúng được kết cấu bằng những câu đơn hoặc một câu ghép Tục ngữ cũng có thể là một hay nhiều phán đoán Tất nhiên, có những trường hợp rất khó xác định ranh giới vì nhiều lời tục ngữ có hình thức thơ lục bát (vốn là hình thức đặc trưng của ca dao)

Thứ hai: Thay vì cố gắng phân biệt ca dao và dân ca, chúng ta nên quan tâm đến quan hệ giữa chúng Đó là khuynh hướng thưởng thức ca dao trong mối quan hệ mật thiết với lề lối diễn xướng, khung cảnh ca hát Và cũng cần xác định rằng “lời là đơn vị tồn tại của dân ca, ca dao trong thực tế và trong sách sưu tầm” [70; 80]

Thứ ba: cũng như nhiều thể loại văn học dân gian khác, ca dao có nhiều dị bản

Đi qua những không gian và thời gian khác nhau, sự nảy sinh các dị bản như là một đặc điểm mang tính “điều chỉnh nội dung và hình thức” cho phù hợp với hoàn cảnh và tâm lý tiếp nhận mới Tất nhiên, cần xác định, dị bản (bản khác) với tư cách là một bản

kể có sự khác biệt về hình thức và nội dung nhất định Thông thường, sự khác biệt có thể chỉ là một chi tiết, yếu tố nhỏ, không làm thay đổi kết cấu và tư tưởng của bài ca dao, nhưng cũng có những dị bản có một vế, một nội dung hoàn toàn mới Điều này

Trang 34

31

cần phân biệt ở hai cấp độ Một điều lưu ý khác nữa là cần phân biệt dị bản và bản sai Tính tùy tiện, ngẫu hứng và đôi khi chưa hiểu đúng ý nghĩa của một từ, hình ảnh hay chi tiết nào đó trong quá trình sưu tầm biên soạn đã dẫn đến những bản sai Để tránh những trường hợp này, Nguyễn Xuân Kính cho rằng, cần: “phân tích kỹ một số từ ngữ trong văn bản khi đọc có cảm giác nghi ngờ….; xét phong cách của văn bản; đối chiếu với nhiều văn bản cùng loại ở các sách sưu tầm khác….; điều tra trong nhân dân, lý tưởng nhất là đến được nơi có lời ca dao xuất hiện, nếu không điều tra qua những người đã từng sống ở đó” [70; 112-113]

Thứ tư: Tác phẩm văn học dân gian là một quá trình Nội dung và ý nghĩa của nó không phải lúc nào cũng nằm ngay trong nội tại của cấu trúc ngôn từ Do vậy, việc quan tâm đến các yếu tố ngoài văn bản của ca dao là việc hết sức cần thiết Một tác phẩm cho phép hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau… Hiện tượng có nhiều nghĩa nằm ngay trong phần ngôn từ… “Đối với những lời có nhiều cách hiểu, có thể vận dụng trong những hoàn cảnh khác nhau, tùy theo sự cảm thụ và vốn sống thực tế của người hát, người đọc, một ý nghĩa phù hợp sẽ được lựa chọn” [70; 118]

Tóm lại: Vận dụng lý thuyết về thi pháp và tiếp cận thi pháp ca dao là dựa trên các nguyên tắc và đặc trưng thể loại để tìm hiểu các vấn đề: nhân vật trữ tình, ngôn ngữ; không gian và thời gian nghệ thuật; kết cấu ca dao và các biểu tượng, hình ảnh trong ca dao Chúng tôi sẽ đi sâu nghiên cứu những vấn đề này trong ca dao về thế giới thực vật ở phần sau

Trang 35

32

Tiểu kết chương 1 Với tư cách là một loại hình văn hóa, văn học có mối quan hệ gắn bó hết sức

chặt chẽ với văn hóa dân tộc, ca dao người Việt được xem như tấm gương phản chiếu một cách sinh động đời sống và tâm hồn người Việt Với vai trò như vậy, cùng với đặc trưng của một dân tộc trọng văn, thích thơ ca, không có gì khó hiểu khi ca dao dân ca người Việt từ lâu đã được quan tâm nghiên cứu từ nhiều góc độ, với hàng trăm công trình lớn nhỏ khác nhau Tính bản sắc văn hóa vùng, thiên nhiên nói chung cho đến các lối ứng xử của người Việt trong ca dao đã được nhiều tác giả đi trước đề cập Vấn

đề thực vật trong ca dao vì thế cũng được ít nhiều nhắc đến trong các công trình liên quan

Chương một của luận án đã có cái nhìn tổng quan về tình hình nghiên cứu về ca dao nói chung và vấn đề thực vật trong ca dao nói riêng, qua đó xác định được những vấn đề mà các tác giả đi trước đã làm; những điểm luận án cần kế thừa và đặc biệt là khoảng trống trong nghiên cứu của đề tài để xác định hướng nghiên cứu cho mình

Việc thao tác hóa khái niệm, đặc biệt là một số khái niệm như: Biểu trưng, biểu tượng, hình ảnh; biểu tượng văn hoá, biểu tượng nghệ thuật dù chưa phải là một đóng góp về mặt lý luận song thao tác này là hết sức cần thiết để làm căn cứ cho việc triển khai các nội dung tiếp theo của đề tài Cách tiếp cận kế thừa của luận án có những mặt thuận lợi song cũng có những khó khăn nhất định Qua việc phân tích, đánh giá tình hình tư liệu cũng như xác lập các khái niệm liên quan đến đề tài đã giúp luận án tìm lối riêng trong hàng trăm công trình của các nhà nghiên cứu đi trước

Tìm hiểu thế giới thực vật trong ca dao không thể không đề cập đến các hình ảnh, biểu tượng về thực vật; Nguyên tắc phản ánh của hiện thực khách quan vào trong thế giới nghệ thuật ngôn từ của da dao là một trong những cơ chế cần được làm rõ Biểu tượng học và thi pháp học chính là căn cứ, là cơ sở để luận án tiếp cận, phân tích các hình ảnh của thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt

Trang 36

33

Chương 2

CÁC DẠNG THỨC THỂ HIỆN CỦA THẾ GIỚI THỰC VẬT

VÀ LỐI ỨNG XỬ CỦA CON NGƯỜI VỚI THỰC VẬT TRONG CA DAO 2.1 Khảo sát phân loại

2.1.1 Nguyên tắc khảo sát

Về đối tượng khảo sát: Thực vật và các dạng thức của thực vật

Phạm vi khảo sát: Kho tàng ca dao người Việt của Nxb Văn hóa thông tin,

2001, do các soạn giả Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật chủ biên

Phương pháp và cách thức khảo sát: Về mặt tổng thể, phương pháp thống kê định lượng sẽ giúp chúng tôi có được các số liệu chính xác về sự tồn tại của thế giới thực vật trong ca dao Từ đó tạo cơ sở khoa học cho những suy luận, lý giải của luận

án Sự lặp đi lặp lại được thể hiện qua các tần số xuất hiện của các hình tượng thực vật trong ca dao là cứ liệu xác minh tính chung, tính điển hình của các loài thực vật; từ đó làm cơ sở cho việc phân tích các dấu ấn văn hóa; cách ứng xử của con người với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội…

Phân chia các loại biểu hiện: Trong phần này, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê để khảo sát, thống kê sự xuất hiện của thực vật trong ca dao Trong đó, thực vật được chia làm các dạng thức như sau:

- Về các biểu hiện của thực vật, chúng tôi chia ra các biểu hiện cụ thể, bao

gồm: cây; hoa; lá; cành; củ/quả/hạt

- Về môi trường sống của thực vât, chúng tôi chia ra hai môi trường cụ thể:

Trên cạn và dưới nước

- Về tính chất của loại thực vật, chúng tôi chia làm hai loại: thiên nhiên tạo

và nhân tạo

Luận án giải thích thêm về khái niệm này như sau: Thực vật thiên nhiên tạo là những thực vật từ tự nhiên và sống trong môi trường tự nhiên, hoang dã Còn thực vật nhân tạo là những thực vật qua bàn tay chăm sóc, uốn nắn của con người Chẳng hạn,

Trang 37

34

lúa trong câu ca dao: Ai ơi, về miệt Tháp Mười/ Cá tôm sẵn bắt lúa trời sẵn ăn thì

được hiểu là thực vật thiên nhiên tạo (vì lúa trời là loại lúa tự mọc ở Đồng Tháp

Mười) Còn lúa trong câu Lúa chiêm phấp phới đầu bờ/ Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà

lên thì được hiểu là thực vật nhân tạo, vì lúa chiêm là do con người trồng (vụ chiêm)

Cũng cần nói thêm rằng, cũng như động vật, xét cho cùng, thực vật đều đến từ tự nhiên, song trải qua một quá trình thuần dưỡng, con người đã biến những loài thực vật

tự nhiên này thành những giống cây trồng (hoặc vì mục đích để lấy lương thực hoặc vì mục đích khác) Bên cạnh đó, trong quá trình lao động, sản xuất của mình, con người

đã tìm ra những giống cây mới (có thể bằng phương pháp lai ghép sinh học), bổ sung vào thế giới thực vật làm cho nó ngày càng phong phú hơn Tất nhiên, cách phân chia này cũng có tính tương đối, cùng một loài thực vật song đôi khi việc xác định nhân tạo hay thiên nhiên tạo lại phụ thuộc vào ngữ cảnh

Về các biến thể của tên gọi thực vật:

Mặc dù đã phân chia các biểu hiện của thực vật cụ thể bao gồm: Cây; hoa; lá; cành; củ/quả/hạt song trên thực tế khảo sát chúng tôi vẫn thấy những dạng tồn tại khác, mang tính chung chung

Thứ nhất, trường hợp cây: Trong các trường hợp như Cây đa tróc gốc trôi rồi/

đò đưa bến khác anh ngồi đợi ai? Thì cây ở đây được hiểu là cây đa với tất cả đặc

điểm của một loài thực vật (từ thân, rễ, cành, lá…) Tuy nhiên, có nhiều trường hợp

cây chỉ là danh từ chung, không định danh rõ là loài thực vật nào, ví dụ: Cây cao anh dứt giữa chừng/ Oán căn, oán nợ xin đừng oán em Rõ ràng, trong bài ca dao này, cây

chỉ một loài thực vật, thậm chí là một cây lâu năm (cây cao) nhưng không thể định

danh được; đơn giản, cây ở đây chỉ là cái cớ cho tác giả dân gian diễn đạt ý sau: Xin

đừng oán em

Cũng có trường hợp, cây định danh được, nhưng sự biểu hiện của nó vượt ra khỏi các dạng thức đã phân chia, đó là trường hợp của cây tre Tre không chỉ xuất hiện với các dạng: Cây, hoa, lá, cành, rễ mà còn có măng, vòi… Chúng ta biết rằng, măng giai đoạn còn nhỏ (chưa thành cây) của tre, người ta gọi là búp Còn vòi là giai đoạn măng đã trưởng thành, chuẩn bị thành ngọn tre, nhưng vẫn gọi là măng Lúc này người

Trang 38

35

ta không gọi là búp nữa mà là cây măng vòi (chèo bẻo đậu cây măng vòi) Những trường hợp như vậy, chúng tôi sẽ thống kê ở dạng cây

Thứ hai, là trường hợp biến âm: trường hợp đỗ và đậu, nhìn về hình thức có thể

thấy đây là dạng biến âm của từ, song trên thực tế khi khảo sát, sự biểu hiện của đỗ và đậu lại phong phú hơn nhiều Ngay cả đậu cũng có nhiều loại như đậu ván, đậu xanh, đậu nành… Tuy vậy, trong ca dao đôi khi sự thể hiện không định danh rõ Chẳng hạn:

Cưới em còn nữa anh ơi/ Có một đĩa đậu hai môn rau cần… thì rất khó xác định đây là

loại đậu gì? Trường hợp này chúng tôi chỉ thống kê là đậu

Một trường hợp khác là hồng và hường (hoa) chúng tôi sẽ thống kê là hồng

Tuy nhiên có trường hợp đồng âm cũng là hồng (quả hồng) chúng tôi thống kê loài

riêng Riêng các trường hợp cỏ thì được định danh khá rõ, như: cỏ may, cỏ năn, cỏ lác,

cỏ thia, cỏ ngựa… chúng tôi thống kê theo từng tên riêng

Đối với các trường hợp hoa như trong câu: Tiếc thay hoa nở trên ngàn/ Chẳng

ai hái đến hoa tàn hư không chúng tôi sẽ thống kê biểu hiện của thực vật là hoa, song

không có định danh tên thực vật Tùy vào trường hợp cụ thể sẽ xếp loại nó là thực vật nhân tạo hay thiên nhiên tạo Trong trường hợp cụ thể này, hoa thuộc thực vật thiên nhiên tạo (trên ngàn, hoa rừng) Đây cũng chính là biểu hiện sinh động của hình ảnh thực vật mà ca dao phản ảnh

2.1.2 Kết quả khảo sát phân loại

Kết quả khảo sát sự biểu hiện của thực vật như sau:

Bảng 1: Bảng thống kê thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt

Tổng số loài thực vật

Tổng số lần thực vật xuất hiện

Thực vật trên cạn

Thực vật dưới nước

11825 (A) 2410

20,35%/A 267/(B)

3047 25,76%/A

248/267 92,88%/B

19/267 07,12%/B

Trang 39

293 9,61%

117 3,84%

632 20,74%

Nhận xét về kết quả khảo sát

Qua các bảng thống kê trên có thể rút ra một vài nhận xét như sau:

Khảo sát 11825 bài ca dao cổ truyền người Việt, chúng tôi thấy 3047 bài ca dao

có sự xuất hiện của thực vật (3047/11825, chiếm 25,77%) Theo đó, tổng số thực vật thống kê được là 267 loài; Thực vật trên cạn là 248/267 (92,88%); thực vật dưới nước

là 19/267, chiếm 7,12% , cụ thể qua bảng 2.1

Trong số các dạng thức biểu hiện của thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt, cây có tần số xuất hiện nhiều nhất với 1656 lần, hoa 349, lá 293 lần, cành 117 lần, củ/quả 632 lần trong tổng số 267 loài thực vật xuất hiện Qua đây có thể thấy các

dạng thức tiêu biểu nhất của thực vật là cây, hoa, lá và củ/quả đã được ca dao phản

ánh Tất nhiên, con số 267 loài chỉ nói lên phần nào sự phong phú của hệ thực vật ở Việt Nam mà điều quan trọng là tần số lặp lại của ba dạng thức này đã phản ánh những đặc điểm văn hóa, ngôn ngữ của người Việt trong quá trình ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội

Bảng 2.2: Bảng thống kê các loài cây có tần số xuất hiện cao nhất

TT Tên cây Số lượng Tỉ lệ % Tổng số Số lời

Trang 40

37

6 Quế 53 76,81 69 2410

7 Tre 126 93,33 135 2410

8 Trúc 93 93,93 99 2410

Cây được định nghĩa là một loài thực vật có thân, cành, lá rõ rệt (Thực vật là

những sinh vật có khả năng tạo cho mình chất dinh dưỡng từ những hợp chất vô cơ đơn giản và xây dựng thành những phần tử phức tạp nhờ quá trình quang hợp, diễn ra trong lục lạp của thực vật) Từ nghĩa gốc là thực vật này (cây bưởi, cây si…), “cây” được chuyển nghĩa để chỉ những đồ vật có thân hình dài, cao: cây sào, cây rơm, cây nến, cây bút); vật có khả năng dựng đứng lên: Cây nhang (hương); là kết quả của sự vun đắp: Cây đức chồi nhân; là thước đo giá trị: cây vàng; đơn vị chỉ chiều dài: cột cây số Nghĩa chuyển của từ cây còn để chỉ những cá nhân xuất sắc trong một lĩnh vực nào đó như: cây hài, cây văn nghệ, cây bút (nhà văn), cây ghi ta (người chơi ghi ta giỏi)…

Bảng 2.3: Bảng thống kê những loài hoa có tần số xuất hiện cao nhất

Ngày đăng: 20/07/2017, 15:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.A. Radughin, Maxcova (1997), Những bài giảng về nhân học văn hóa, Nxb Văn hóa Thông tin xuất bản năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài giảng về nhân học văn hóa
Tác giả: A.A. Radughin, Maxcova
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin xuất bản năm 2004
Năm: 1997
2. Trần Thị An (1990), “Về một phương diện nghệ thuật của ca dao tình yêu”, Tạp chí Văn học (06), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một phương diện nghệ thuật của ca dao tình yêu”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Trần Thị An
Năm: 1990
3. Trần Thị An, Nguyễn Thị Huế (1999), Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, tập IV quyển 1, Tục ngữ - Ca dao, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam," tập IV quyển 1, "Tục ngữ - Ca dao
Tác giả: Trần Thị An, Nguyễn Thị Huế
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
4. Phan Ngọc Anh (2006), Truyện kể dân gian Việt Nam về cây lúa và tín ngưỡng thờ lúa vùng đất tổ, Luận văn ThS, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện kể dân gian Việt Nam về cây lúa và tín ngưỡng thờ lúa vùng đất tổ
Tác giả: Phan Ngọc Anh
Năm: 2006
5. Thái Bạch (1957) “Ca dao miền Nam”, Tạp chí Sáng tạo (4), Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao miền Nam”, Tạp chí "Sáng tạo
6. Nguyễn Nhã Bản – Hoàng Trọng Canh (1996), “Văn hóa người Nghệ - Tĩnh qua vốn từ vựng nghề cá”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (01), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa người Nghệ - Tĩnh qua vốn từ vựng nghề cá”, Tạp chí" Nghiên cứu Đông Nam Á
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản – Hoàng Trọng Canh
Năm: 1996
7. Nguyễn Nhã Bản (chủ biên), Ngô Văn Cảnh, Phan Xuân Đạm, Nguyễn Thế Kỷ (2001), Bản sắc văn hóa của người Nghệ Tĩnh - Trên dẫn liệu ngôn ngữ, Nxb Nghệ An, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa của người Nghệ Tĩnh - Trên dẫn liệu ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản (chủ biên), Ngô Văn Cảnh, Phan Xuân Đạm, Nguyễn Thế Kỷ
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2001
8. Nguyễn Chí Bền (1993), “Thiên nhiên và văn hóa dân gian của người Việt đồng bằng sông Cửu Long”, Tạp chí Văn hóa dân gian (1), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên nhiên và văn hóa dân gian của người Việt đồng bằng sông Cửu Long”, Tạp chí "Văn hóa dân gian
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Năm: 1993
9. Phạm Hưng Bình (1996), “Về một đặc điểm nghệ thuật của ca dao dân ca sưu tầm ở Quảng Nam - Đà Nẵng”, Tạp chí Văn hóa dân gian (2), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một đặc điểm nghệ thuật của ca dao dân ca sưu tầm ở Quảng Nam - Đà Nẵng”, Tạp chí "Văn hóa dân gian
Tác giả: Phạm Hưng Bình
Năm: 1996
10. Nguyễn Phương Châm (1997), “Sự khác nhau giữa ca dao người Việt ở xứ Nghệ và xứ Bắc”, Tạp chí Văn hóa dân gian (03), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự khác nhau giữa ca dao người Việt ở xứ Nghệ và xứ Bắc”, Tạp chí "Văn hóa dân gian
Tác giả: Nguyễn Phương Châm
Năm: 1997
11. Nguyễn Phương Châm (2000), Ngôn ngữ và thể thơ trong ca dao người Việt ở Nam Bộ, Luận văn ThS, Viện Nghiên cứu văn hóa dân gian, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ và thể thơ trong ca dao người Việt ở Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Phương Châm
Năm: 2000
12. Nguyễn Phương Châm (2000), “Biểu tượng hoa sen trong văn hóa Việt Nam”, Tạp chí Văn hóa dân gian (04), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu tượng hoa sen trong văn hóa Việt Nam”, Tạp chí" Văn hóa dân gian
Tác giả: Nguyễn Phương Châm
Năm: 2000
13. Nguyễn Phương Châm (2001), “Biểu tượng hoa hồng trong ca dao”, Tạp chí Nguồn sáng dân gian (1; 33-34), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu tượng hoa hồng trong ca dao”, Tạp chí "Nguồn sáng dân gian
Tác giả: Nguyễn Phương Châm
Năm: 2001
14. Nguyễn Phương Châm (2001), “Từ gốc Hán, điển tích Hán trong ca dao người Việt ở Nam Bộ”, Tạp chí Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật (6), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ gốc Hán, điển tích Hán trong ca dao người Việt ở Nam Bộ”, Tạp chí "Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật
Tác giả: Nguyễn Phương Châm
Năm: 2001
15. Nguyễn Phương Châm (2001), “Biểu tượng hoa đào”, Tạp chí Văn hóa dân gian (5), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu tượng hoa đào”, Tạp chí "Văn hóa dân gian
Tác giả: Nguyễn Phương Châm
Năm: 2001
16. Nguyễn Đăng Châu (1955), Ca dao cũ và mới, Nha Giáo dục phổ thông thuộc Bộ giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao cũ và mới
Tác giả: Nguyễn Đăng Châu
Năm: 1955
17. Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao biên soạn (1984), Ca dao Nghệ Tĩnh, Sở Văn hóa Thông tin Nghệ Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao biên soạn
Năm: 1984
18. Đoàn Văn Chúc (1997), Văn hóa học, Viện Văn hóa và Nxb VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 1997
19. Mai Ngọc Chừ (1989) “Ngôn ngữ ca dao Việt Nam”, Tạp chí Văn học (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ ca dao Việt Nam”, Tạp chí "Văn học
82. Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam, (Điều 3), http://www.moj.gov.vn/vbpq Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w