1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Tổng quan nghiên cứu nước thải mỏ hầm lò và ảnh hưởng của chúng tới quá trình sản xuất

56 826 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong sự phát triển của nền công nghiệp khai thác than, cónhiều vấn đề liên quan tới nước mỏ như bục nước, ngập mỏ, nước thải axít ăn mòn,nước thải ô nhiễm… Công tác nghiên cứu nước mỏ v

Trang 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU NƯỚC THẢI MỎ1.1 NƯỚC THẢI MỎ

Khai thác mỏ dù theo phương thức nào (lộ thiên, hầm lò hay hỗn hợp) cũngtạo ra những khoảng trống hàng triệu mét khối trong lòng đất Do đó, đất đá bêntrên và xung quanh hầm lò sẽ dịch chuyển tới để lấp kín các khoảng trống lập lạicân bằng tự nhiên Quá trình đất đá dịch chuyển, biến dạng, phá hủy tạo ra nhữngvùng sập đổ, nứt vỡ lan tới bề mặt địa hình dẫn nước mưa, nước mặt xuống hầm lònhanh hơn trong đất đá nguyên khối hàng trăm, ngàn lần Nước mưa, nước mặt,nước dưới đất chảy qua vùng đất đá nứt vỡ đã tương tác với các khoáng vật trongquặng và đất đá,… chảy vào mỏ trở thành nước thải mỏ

Định hướng luận văn là tập trung nghiên cứu về nước thải mỏ, trong đó quantâm đến tính ăn mòn của nước thải mỏ than (than antraxit, than nâu, than bùn…)

Tính axít của nước thải mỏ than: Đặc trưng đầu tiên của nước thải mỏ than

là có tính axít (tính ăn mòn) ở các mức độ khác nhau, do có nhiều ion H+, Fe2+, Fe3+,

SO42-, TSS,… trong nước thải mỏ than Để đánh giá tính axít của môi trường nước,người ta thường sử dụng chỉ số pH Theo nhà địa chất thuỷ văn Ba Lan Z Pazdro-

1964, thì môi trường của nước chia ra:

Bảng 1.1 Đặc tính môi trường nước phân theo Z Pazdro-1964

Trang 2

1.2 NGHIÊN CỨU NƯỚC THẢI MỎ THAN TRÊN THẾ GIỚI

Hiện nay, sau thuỷ điện và dầu khí thì than đá là nguồn năng lượng sơ cấpchủ lực của nhiều quốc gia để đảm bảo an ninh năng lượng và cung cấp nguyên liệucho nhiều ngành kinh tế Trong sự phát triển của nền công nghiệp khai thác than, cónhiều vấn đề liên quan tới nước mỏ như bục nước, ngập mỏ, nước thải axít ăn mòn,nước thải ô nhiễm… Công tác nghiên cứu nước mỏ và cách xử lý nước thải đượctiến hành ở nhiều nơi trên thế giới

Có hai hướng nghiên cứu chính về nước thải mỏ trên thế giới: 1- Nghiên cứuđiều kiện hình thành, thành phần hóa học, ảnh hưởng của nước thải mỏ để tìm giảipháp giảm thiểu lượng nước thải ngay từ đầu nguồn (giảm lượng nước thải, giảmmức ô nhiễm) Nghiên cứu theo hướng này, giảm thiểu được tác động ăn mòn củanước mỏ axít mỏ…; 2- Theo dõi lưu lượng và thành phần hoá học của nước thải ởcuối nguồn để tìm biện pháp xử lý trước khi thải ra môi trường… Nghiên cứu theohướng 1 là chủ động hơn vì vừa nâng cao hiệu suất khai thác mỏ (giảm tác động ănmòn) vừa giảm chi phí xử lý nước thải cuối nguồn Nghiên cứu xử lý ở cuối nguồn

là bị động, đối phó với luật môi trường (sẽ đóng cửa các mỏ xả thải không qua xửlý)

1.2.1 Nghiên cứu nước mỏ tại Hoa Kỳ

Các nhà khoa học thuộc cơ quan Bảo vệ môi trường Mỹ (Jon Fripp, Dr Paul

F Ziemkiewicz và Hari Charkavorki…) đã nghiên cứu về nước thải mỏ, đặc biệt lànước thải có tính axit tới 2004 cho rằng: Nước thải từ các mỏ than đang hoạt độngchảy thoát ra các dòng mặt Họ đưa ra cách giải thích như sau về sự hình thànhnước thải mỏ:

Các nhà khoa học Mỹ của cơ quan này đã giải thích cụ thể các nguồn hìnhthành nước thải mỏ có tính axit: Tại các mỏ khai thác than, hoạt động khai đào bềmặt và đào sâu của các mỏ làm tăng lượng oxy của không khí tiếp xúc với vỉa than.Nước thải mỏ có tính axit được hình thành khi nước dưới đất chảy vào và tiếp xúcvới các lượng than còn lại sau khai thác và đất đá vách trụ vỉa than giàu hợp chất

Trang 3

sunfua Các hợp chất sunfua trong các vùng than thông thường là pyrite (FeS2) đicùng với các khoáng vật khác (Green Lands-1998) Các khoáng vật sunfua này khingậm nước đã bị oxy hóa tạo ra nước thải mỏ có tính axit cao

Hình 1.1 Các mỏ than đang hoạt động

tại West Virginia, Hoa Kỳ

Hình 1.2 Nước thải axit của mỏ thải

ra tại tiểu bang Maryland, Hoa Kỳ

Tóm lại: Nước thải mỏ được hình thành khi than chứa nhiều pyrite sắt(sunfua) khai đào lộ ra, tiếp xúc với không khí và nước tạo ra axit H2SO4… Trongnước mỏ, các hợp chất chứa sắt có thể kết tủa tạo thành hydrroxyt sắt có màu đỏ, dacam hoặc màu vàng đọng ở đáy hệ thống thoát nước mỏ Nước thải mỏ có tính axit

sẽ hòa tan các khoáng vật nặng như đồng, chì, thủy ngân… trước khi bơm chảythoát ra ngoài…

1.2.2 Nghiên cứu nước mỏ tại Australia

Các nhà khoa học ở đại học Wollongong, Australia có công trình “Nghiên

cứu quản lý chất lượng nước thải tại các mỏ than vùng IIlawarra, Australia”.

Vùng than IIlawarra, cách Wollongong 60 km về phía Đông Bắc hiện có 12 mỏ thanđang hoạt động Hầu hết các mỏ than nằm trong vùng hứng nước và lưu vực cungcấp nước cho các con sông của New South Wales Ba tháng một lần họ lấy mẫunước tại các điểm quan trắc, đo độ pH, độ dẫn điện, tổng các chất rắn hòa tan, BOD,Coliform và thành phần bari trong nước thải Từ đó, họ cho rằng nước thải mỏ đượccung cấp từ các nguồn sau:

+ Nước thải bơm ra từ 03 lỗ khoan hạ thấp mực nước;

Trang 4

+ Nước mặt và nước mưa vào mùa mưa bão chảy tràn trên bề mặt mỏ;

+ Nước mặt và nước mưa chảy tràn qua moong than, băng tải than;

+ Nước thải mỏ hình thành do áp lực nước ngầm,…

Một nghiên cứu khác trong chương trình phát triển bền vững ngành mỏ tạiAustralia tháng 2 năm 2007 chỉ ra: Ngoài vấn đề khai thác, phương thức khai thác,địa hình, cấu trúc địa chất… thì để hình thành nên nước thải mỏ có tính axit thì phải

có sự oxy hóa khoáng vật có chứa sunfua trong vỉa than Yếu tố dẫn đến sự oxy hóasunfua trong than bao gồm:

- Hàm lượng, sự phân bố, tính chất, hình thức tồn tại của các sunfua kim loạitrong vỉa than;

- Tốc độ cung cấp oxy từ khí quyển cho các điểm chứa sunfua kim loại theophương thức đối lưu hoặc khuếch tán;

- Thành phần hóa học của nước lỗ rỗng tiếp xúc với điểm chứa sunfua kimloại có phản ứng, kể cả độ pH và tỷ số giữa sắt II / sắt III;

- Nhiệt độ tại điểm phản ứng;

- Khối lượng nước và vi khuẩn tại điểm phản ứng Sau đây là một số nguồnhình thành nước thải mỏ:

Các bãi thải: Các bãi thải ngoài ở mỏ than lộ thiên thường được đổ thải trên

địa hình cao, nơi mà chúng không ngập nước và chỉ chứa chừng 5-10% nước Vớicác bãi thải trong (được đổ trở lại moong khai thác), một phần đá thải ngập trongnước dưới đất Trong cả hai trường hợp, bất kỳ vùng đá thải nào chưa bão hòa nướccủa bãi đá thải có chứa sunfua sắt đều có khả năng sinh ra nước thải mỏ có tính axit

Trang 5

Hình 1.3 Sơ đồ thành tạo và di chuyển của nước thải mỏ axit từ một bãi thải

(Ritchie 1994) Các đống than: Tính chất của các đống than (than đổ chất thành đống ngoài

trời tại các sân công nghiệp, nhà máy tuyển, kho than) nhìn chung tương tự như bãithải nhưng hàm lượng sunfua ở trong các đống than đương nhiên cao hơn Các đốngthan thường tồn tại thời gian ngắn rồi mang đi chế biến nhưng đối với những đống

đá than xít có thể tồn tại trong mỏ trong nhiều năm (không tuyển tận thu) là nguồntiềm tàng tạo ra nước thải axit…

Kho bãi, bể chứa bùn than: Các loại bùn than sinh ra khi tuyển than thường

được đổ ra một hệ thống kho bãi chứa dưới dạng bùn nhão Các bể chứa bùn than

có sunfua có thể là nguồn sinh ra nước thải mỏ có tính axit do chúng có kích thướchạt mịn

Bờ mỏ moong lộ thiên: Bờ mỏ lộ thiên hay vách trụ vỉa than trong các lộ vỉa

hoặc trong hầm lò đều chứa các khoáng vật chứa sunfua có khả năng sinh ra nướcthải có tính axit Khai thác đã hạ thấp mực nước dưới đất ở trong bờ mỏ xung quanhcác moong khai thác làm cho các khoáng vật sunfua phơi lộ ra không khí Từ đó,nước thải axit hình thành trên bờ mỏ chảy xuống moong khai thác cùng với nướcdưới đất Do đó, chất lượng nước được bơm ra từ đáy moong, các hầm chứa hoặc

Trang 6

các giếng khoan hạ thấp mực nước dưới đất trong quá trình khai thác thường có tính

a xít (pH < 5)

Trong lò chợ khấu than: Gió (không khí) chứa đầy oxy được thổi vào lò chợ

với tốc độ vài mét/giây, tác động tới các khoáng vật sunphua trong than nguyênkhối hoặc dập vỡ sũng nước,… tạo ra nước thải axít tương tự như trên bờ moongkhai thác Mọi loại sunfua phơi lộ ra không khí trong quá trình thoát nước, tháo khô

mỏ đều là nguồn tiềm tàng tạo ra nước thải axit

1.2.3 Nghiên cứu nước mỏ tại NewZealand

Việc nghiên cứu nước thải mỏ axit tại NewZealand được thực hiện bởi DaveTrumm, CRL Energy LTD, Christchurch, Winterbourn (1998), Lindsay, Kingsbury

và Pizey (2003), Harding và Boothryd (2004), Darding (2005) và Pope, Newman vàCraw (2006) Tại New Zealand, những năm gần đây ở các hồ thủy điện có sự giảmmực nước hồ chứa nên việc sử dụng than để phát điện được đẩy mạnh hơn Cácnghiên cứu về nước thải cho thấy sự khác nhau giữa nước thải mỏ axit ở NewZealand và các mỏ than ở miền Đông nước Mỹ: Có 2 yếu tố chính là: địa hình vàcấu trúc địa chất trong đó có sự tồn tại của khoáng vật sunfua Địa hình ở WestCoast, New Zealand phát triển theo các bậc từ mặt biển tới độ cao trên 700m, có lớpthực vật mỏng và có mưa nhiệt đới Các mỏ thường ở vị trí cao và hẻo lánh Địahình và cấu trúc địa chất ở New Zealand ảnh hưởng rất lớn đến nước thải các mỏkhai thác than Các nghiên cứu nhiều năm tập trung vào địa hóa học của nước thảiaxit mỏ và những ảnh hưởng của nó tới hệ thống sinh vật sống dưới nước

Nhận xét chung

Như vậy, vấn đề nước thải mỏ và việc nghiên cứu chúng trên thế giới chỉdiễn ra ở điều kiện hình thành nước thải mỏ như thế nào? Và cách giải thích chung

là do chủ yếu từ sự oxy hóa các khoáng vật có chứa pyrit, từ các moong, hầm lò, đất

đá thải và các yếu tố liên quan như địa hình,… nhằm phục vụ cho công tác bảo vệmôi trường khu vực mỏ, đảm bảo phát triển bền vững,…

Trang 7

Ngoài nghiên cứu nước thải mỏ có tính axit, người ta còn nghiên cứu cácthành phần khác của nước thải mỏ như BOD, COD, TSS, Coliform,…

Về những ảnh hưởng của nước thải mỏ đối với hoạt động khai thác (trong đó

có nước thải mang tính axit) thì chưa được nghiên cứu cụ thể Chính vì vậy, nghiêncứu điều kiện hình thành và ảnh hưởng của nước thải mỏ đối với khai thác than làmột vấn đề mới mẻ cần được nghiên cứu hiện nay

Tuy nhiên, trên thế giới họ đã đưa ra các công nghệ xử lý nước thải mỏ nhằmgiảm thiểu ảnh hưởng của nó tới môi trường và một phần đảm bảo quá trình khaithác bền vững

1.2.4 Nghiên cứu và xử lý nước thải mỏ trước khi xả thải ra môi trường

Các chuyên gia về mỏ đã nghiên cứu và thường áp dụng các phương pháp xử

lý nước thải mỏ sau đây:

* Công nghệ hóa học

Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhận định sau: Phương pháp hóa học xử lýnước thải mỏ gồm 5 bước chính:

+ Điều hòa, kiểm soát lưu lượng và đặc tính của nguồn thải;

+ Trung hòa bằng các hóa chất;

+ Oxy hóa, làm kết tủa các ion kim loại dạng hòa tan;

+ Lắng cặn của các hydroxit kim loại và các chất rắn lơ lửng khác;

+ Loại bỏ bùn cặn

Tùy theo tính chất và lưu lượng của nước thải mỏ mà người ta áp dụngnhững hệ thống khác nhau cũng như các hóa chất, chất trợ lắng khác nhau

Hiện nay, trên thế giới việc nghiên cứu nước thải mỏ, tác hại của nó gây ra

và xử lý chúng, người ta áp dụng rộng rãi phương pháp hóa học Phương pháp nàyphân thành 2 dạng: Sục khí và sử dụng các hóa chất để trung hòa nước thải mỏ cótính axit và kết tủa Fe, Mn

Trang 8

- Dạng sục khí

Sục khí là phương pháp xử lý bằng hóa học đơn giản nhất Khi sục khí Fe(II) và Mn (II) ở dạng hòa tan có thể được oxy hóa và kết tủa dưới dạng Fe (III) và

Mn (IV) Mức độ oxy hóa các chất phụ thuộc nhiều vào giá trị pH của nước thải

Sục khí tạo phản ứng oxy hóa Fe (II) thành Fe (III) khi pH >7,2; với Mn (II)thành Mn (IV) khi pH > 9,4

Những khu vực rộng lớn thường được áp dụng kiểu các thác nước để trộn lẫnkhông khí khi không có sự điều chỉnh pH

Theo Dudeney (1994), hệ thống Denby Graige Colliery để xử lý nước thải

mỏ ở Anh đã sử dụng 5 thác nước trong hệ thống sục khí Các kết tủa của Fe (III) và

Mn (IV) tạo thành các hạt nhỏ phân tán Do đó, việc lắng đọng dưới tác dụng củatrọng lực rất chậm

Theo nghiên cứu của ông thì thời gian lưu nước thải để các hạt lắng xuốngđáy phải trên 24 giờ Sau đó, nước mới được thải ra môi trường Để tăng khả nănglắng, cần cấp thêm các chất trợ lắng (polyme hữu cơ và vô cơ) cho phép các hạt kếttủa lại với nhau tạo thành hạt to hơn nên tốc độ lắng sẽ nhanh hơn

* Các hệ thống xử lý hóa chất điển hình

Đặc tính chung của nước thải mỏ than là có tính axit cao, đi cùng là hàmlượng ion Fe, Mn ở dạng hòa tan cao Trên thế giới, các công ty khai thác mỏthường nghiên cứu và chủ động dùng các hóa chất để xử lý nước thải mỏ Các hóachất có tính kiềm được sử dụng để trung hòa và chuyển hóa các kim loại dạng hòatan trong nước thải mỏ có tính axit Wildeman (1994) đã nghiên cứu về nước thải

mỏ và đưa ra sơ đồ công nghệ chung cho việc xử lý nước thải mỏ có tính axit bằngkiềm và oxy hóa Fe

Trang 9

Nước thải mỏ có tính axit được tập trung, thu gom:

2 Hóa chất oxy hóa

3 Oxy hóa sinh học

Hình vẽ 1.4 Quy trình xử lý nước thải mỏ có tính axit bằng kiềm và

oxy hóa Fe của Wildemam

Dưới đây là một số hệ thống xử lý nước thải mỏ than dùng các loại hóa chất

khác nhau như:

+ Hệ thống dùng sữa vôi: Sữa vôi được khuấy trộn và nạp bằng hệ thống

“Aqua Fix Systems” dạng Silo

Trang 10

Hình 1.5 Hệ thống xử lý nước thải mỏ bằng sữa vôi ở West Virginia - Mỹ.

* Nghiên cứu và xử lý bằng sinh học

Các chất ô nhiễm trong nước thải mỏ có thể được xử lý bằng việc sử dụngcác phản ứng sinh học Giảm sunfat bằng sinh học đã được xem như là một phươngpháp để trung hòa nước thải mỏ có tính axit Đồng thời, kết tủa kim loại ở dạngsunfit Trên thế giới, công nghệ xử lý nước thải mỏ bằng sinh học đang ở giai đoạnthử nghiệm

Trang 11

* Nghiên cứu nước thải mỏ sử dụng đầm lầy nhân tạo (Wetlands)

“Wetlands” là thuật ngữ chung chỉ vùng bao phủ lầy lội, đầm lầy, đồng cỏngập nước và đơn giản là khu đầm lầy Đầm lầy tự nhiên có thể hấp thu Fe và cácion kim loại khác ở trong nước, làm giàu limonit (hợp chất của hydroxit sắt III)được dẫn chứng bằng việc tìm thấy ở các bãi lầy có chứa quặng sắt ở dạng khoánglimonit hoặc các bãi lầy chứa quặng mangan (Hammer và Bastian, 1989)

Sử dụng đầm lầy nhân tạo để xử lý nước thải mỏ và giảm thiểu tác hại của nóđược thể hiện qua nhiều công trình nghiên cứu về sự tương tác của đầm lầy tự nhiênvới nước thải mỏ Chất lượng nước sau khi đi ra khỏi đầm lầy được theo dõi chothấy đã cải thiện một cách đáng kể với Fe2+, Mn2+, Ca2+, Mg2+, SO42- và tăng pH từ2,5÷3,5 tới 4÷6

Ngày nay, nhiều mỏ than ở Mỹ và Anh đã nghiên cứu và sử dụng đầm lầynhân tạo để xử lý nước thải mỏ có hiệu quả

Bảng 1.2 Một số kinh nghiệm cụ thể dùng để lựa chọn

kích thước đầm lầy tại Mỹ

6 Brodie et al (1989) 0,7 l/m

2/phút; 1,1 m2/mgFe/phút; 2,8 m2/mg Mn/phút

7 Hedin el at (1994) 250 m

2 cho 5 kg Fe /ngày Nước kiềm

1300 m2 cho 5 kg Fe/ngày Nước axit

Trang 12

Bảng 1.3 Một số ví dụ về các đầm lầy đã được thiết kế

Hệ thống nguồn Dạng thước Kích

(m 2 )

Lưu lượng (l/phút)

Thời gian lưu (ngày)

Năm khai thác

* Nghiên cứu và sử dụng công nghệ mương đá vôi yếm khí (ALD Anoxic limstone drains)

-Mương đá vôi yếm khí (ALD) là loại mương mà trong lòng có chôn lớp đávôi, được sử dụng để xử lý nước thải mỏ có tính axit Nước thải mỏ được dẫn vàomương, pH và tính kiềm của nước thải mỏ tăng lên bởi phản ứng với đá vôi Sửdụng đá vôi xử lý nước thải mỏ ở trong điều kiện hiếu khí, những viên đá vôi nhanhchóng bị bao bọc bởi những lớp sắt oxit và sắt hydroxit Kiềm được cho thêm vàonước thải mỏ có tính axit cao làm cho pH tăng lên Dòng nước thải từ mương yếmkhí ra đưa ra môi trường có điều kiện hiếu khí sẽ xảy ra hiện tượng oxy hóa kimloại, thủy phân và các phản ứng kết tủa

- ALD là phương pháp xử lý được dùng trước một hệ thống xử lý hiếu khí đểchuyển hóa kim loại từ dạng tan Khi sử dụng ALD ở trước một đầm lầy nhân tạohiếu khí, ALD có thể cung cấp khả năng, điều kiện thuận lợi cho Wetlands loại bỏkim loại Hệ thống Wetlands hoạt động hiệu quả nhất khi pH của mỏ nhỏ hơn 6.0 và

có chứa kiềm Các phản ứng thủy phân tạo ra H+, mà sẽ làm giảm pH của nước mỏtrừ phi có lớp đệm bằng kiềm

Trang 13

* Nghiên cứu và đưa ra phương pháp ngăn chặn tiếp xúc nguồn ô nhiễm

Đây là phương pháp được các nhà chuyên môn nghiên cứu và áp dụng tại mỏNguyên Bảo Sơn, Nội Mông, Trung Quốc Xung quanh khai trường mỏ, người ta đãkhoan 140 lỗ khoan, chủ động tháo khô hết nước dưới đất trước khi khai thác than

Do vậy, đã ngăn chặn được sự ô nhiễm ngay từ thượng nguồn Nước dưới đất đượccung cấp trực tiếp đến các nơi tiêu thụ (như công nghiệp, tưới tiêu)

1.3 NGHIÊN CỨU NƯỚC THẢI MỎ THAN TẠI VIỆT NAM

1.3.1 Nghiên cứu nước thải mỏ ở các trung tâm nghiên cứu

- Nghiên cứu dòng chảy vào -80 mỏ than Mạo Khê, năm 1997,…

+ CN Bùi Thanh Hoàng - Viện Khoa học Công nghệ Mỏ - TKV

+ Viện Hoá Công nghiệp thuộc Tổng cục Hoá - Bộ Công Thương ở số 2 phốPhạm Ngũ Lão - Hà Nội, chuyên phân tích mẫu nước và nghiên cứu xử lý nước thảicho các mỏ thuộc Tổng cục hoá chất (TS Hoàng Văn Hoan, TS Ngô Đại Quang);

+ Viện KHCN Mỏ - Luyện kim, thuộc Bộ Công Thương, ở 30 phố Đoàn ThịĐiểm - Hà Nội, có Trung tâm phân tích môi trường chuyên nghiên cứu xử lý nước

Trang 14

thải axít Năm 2000, Viện KHCN Mỏ-Luyện kim phối hợp với Viện KHCN Mỏnghiên cứu xử lý nước thải axít tại mỏ pirit Giáp Lai - Phú Thọ (TS Nguyễn QuốcKhánh, TS Lê Phan Chính);

+ Trung tâm Cổ phần Tư vấn thiết kế Hoá chất công nghiệp thuộc Tổng cụcHoá - Bộ Công Thương ở 14 đường Cát Linh chuyên nghiên cứu, thử nghiệm trênpilot và lắp đặt các hệ thống xử lý nước thải công nghiệp, xử lý chất thải rắn, khíthải cho các mỏ thuộc Tổng cục hoá chất;

+ Viện Địa chất Khoáng sản - Thanh Xuân - Hà Nội có Trung tâm phân tíchđịa chất chuyên phân tích mẫu nước các mỏ khoáng sản (TS Trần Tân Văn, TS.Nguyễn Linh Ngọc…)

+ Viện Hoá, Viện Vật liệu, Viện Địa lý… thuộc Trung tâm Khoa học & Côngnghệ Việt Nam, đường Hoàng Quốc Việt cũng có các nghiên cứu về nước thải mỏ(PGS TS Nguyễn Xuân Tặng, TS Nguyễn Kim Tuyến…)

* Về sự ăn mòn

Hiện nay, việc nghiên cứu sự ăn mòn - ảnh hưởng của nước thải mỏ gây rađối với khai thác khoáng sản than thì có đề cập sơ bộ ở một số công trình nghiêncứu của TS Nguyễn Văn Chi về nước thải mỏ ở một số mỏ than hầm lò QuảngNinh

1.3.2 Ở các cơ sở sản xuất mỏ than

Cho đến nay, việc nghiên cứu nước thải mỏ than và xây dựng những côngtrình xử lý nước thải ở các cơ sở sản xuất, chế biến than đã và đang được sử dụngchưa nhiều và hiệu quả nhìn chung còn thực sự khiêm tốn

Tại một số vỉa than ở một số mỏ than của Việt Nam, trong những thời điểmnhất định hoặc quanh năm đã ghi nhận có nước mỏ a xít:

Bảng 1.4 Một số mỏ than có nước thải a xít ở Việt Nam

Mẫu nước tại mỏ Năm độ pH ΣFe Mg +2 SO 4 -2

Nước thải moong Na Dương 12/94 2,0 977,2 273,4 5000

Trang 15

Nước lò chợ V14 Hà Lầm 10/95 4,0 13,96 21,27 300Nước moong số 3 Núi Hồng 12/94 3,5 376,72 151,9 2500

Nước moong vỉa 10B Hà Tu 10/96 3.5 2,1 44,36 300Cánh tây -97,5 Mông Dương 12/91 2,0 22,34 60,76 600Hầm bơm 97,5 Mông Dương 12/94 3,5 121,64 27,34 400

Điển hình về nước mỏ than axít ở Việt Nam phải nói tới mỏ than Na Dương

Nghiên cứu nước thải mỏ than Na Dương

Trong nhiều năm, ở mỏ than Na Dương, than Neogen khai thác ra tiêu thu rấtchậm vì đun nấu hay làm thủng đáy nồi (trong than có rất nhiều lưu huỳnh) Nướcthải từ mỏ chảy ra đỏ quạch, làm chết cá khi thải ra suối Toòng Già, sông Kỳ Cùng.Nước thải axít tại Na Dương mạnh tới mức làm tan mềm tất cả các loại đá nửa cứngnhư bột kết, sét kết

Các nghiên cứu về nước thải mỏ than Na Dương được tiến hành tại ViệnKhoa học Công nghệ Mỏ (KS Nguyễn Huy Hưng, KS Lã Hồng Dực…) từ nhữngnăm 1990 cho thấy nước thải axít ở mỏ Na Dương hình thành như sau:

Trong các vỉa than đang khai thác ở Na Dương có rất nhiều lưu huỳnh (Sch

≈ 6,61%) tồn tại dưới 3 dạng: các hạch pirit (FeS2), lưu huỳnh sunfat và lưu huỳnhhữu cơ và có mặt 2 loại vi khuẩn: Thiobaccilus ferooxidans (TF), Thiobacilusthiooxidans Khi có oxy tự do, các vi khuẩn này hoạt động mạnh tham gia vào cácphản ứng oxy hoá khử sau tạo ra nước thải axít theo chu trình dưới đây:

FeS2 + 3O2 + 2H2O → Fe2+ + 2SO42- + 4H+ + 2e

-PbS + O2 + 2H2O → Pb2+ + SO42- + 4H+ + 4e

-ZnS + O2 + 2H2O → Zn2+ + SO42- + 4H+ + 4e

-CuFeS2 + O2 + 2H2O → Cu2+ + Fe2+ + 2SO42- + 4H+ + 4e

Trang 16

-Qua các phương trình hoá học trên, lưu huỳnh thể rắn trong kết hạch đãchuyển sang các muối hoà tan trong nước:

2FeSO4 + H2SO4 + 1/2 O2→ Fe2(SO4)3 + H2OFeS2 + Fe2(SO4)3 → FeSO4 + 2S0

Trên bờ mỏ khắp nơi còn thấy hiện tượng mọc hoa lưu huỳnh

S0 + 3/2 O2 + H2O → H2SO4

Nước mỏ dưới moong lúc này thực sự là nước axít, hoà tan rất nhanh mọimẫu đá của mỏ Na Dương:

Bảng 1.5 Tốc độ hoà tan trong nước mỏ than Na Dương, (đơn vị: g/l)

Thời gian ngâm

1- Tuyển đãi cơ học tách lưu huỳnh pirit trong than Na Dương;

2- Dùng vi sinh vật chuyển hoá pirit thành chất hoà tan trong nước;

3- Hấp phụ lưu huỳnh bởi các phụ gia CaO, CaCO3 Ví dụ: trộn vữa vôi nungvới than theo tỷ lệ: CaO/S = 3 sau khi đốt khử được tới 86-88% lưu huỳnh chứatrong than

Ngoài ra, tại vùng than Quảng Ninh, các cơ sở sản xuất đã nghiên cứu và ápdụng các hệ thống xử lý nước thải mỏ Ví dụ như: Công ty than Mạo Khê đã nghiêncứu và xây dựng hệ thống xử lý nước thải tại các khu -25, +30 và nhà sàng MạoKhê Hệ thống này dùng để xử lý cho những khu vực nước không mang tính axit,nước bị ô nhiễm chủ yếu là do cặn lơ lửng

Trang 17

- Công ty than Vàng Danh đã nghiên cứu và xây dựng hệ thống xử lý nướcthải mỏ bằng đá vôi Hệ thống xử lý này là một hệ thống bể gồm nhiều ngăn, cácngăn được chứa đầy các hạt đá vôi Nước thải có tính axit mạnh khi đi qua các lớp

đá vôi sẽ xảy ra phản ứng để tạo Ca(HCO3)2, Ca(OH)2 khử tính axit trong nước thải.Đồng thời, nó tạo môi trường để kết tủa Fe và Mn

- Công ty than Hà Lầm - với sản lượng than khai thác ngày một tăng, lượngnước thải hầm lò lên tới 180 m3/h, hệ thống nước thải cũ đã có không đáp ứng đượcnhu cầu xử lý Mặt khác, nhu cầu sử dụng nước công nghiệp và sinh hoạt của công

ty ngày một tăng (2015), các moong nước không còn, đòi hỏi phải có nguồn cungcấp nước ổn định cho sản xuất và sinh hoạt Từ thực tế này, công ty đã đầu tưnghiên cứu và xây dựng trạm xử lý nước thải hầm lò (công suất 70m3/h, tươngđương 1.260 m3/ngày đêm) sử dụng công nghệ hệ thống lắng đứng kết hợp sục khí

và bình lọc áp lực Sau đó, nâng công suất xử lý lên 120 m3/h, tương đương 2.000

m3/ngày đêm

Nước trong lò trước khi xử lý có mầu vàng đục, mùi tanh, độ pH 3,3, nồng

độ amôni 3,5 mg/l (cao gấp 2 lần mức cho phép), nồng độ mangan 5,9 mg/l Trongquá trình xử lý, nước thải trong các lò than từ bể nguồn được bơm qua bể xử lýtrung hòa gồm 3 ngăn có dung tích 120 m3 Tại đây, các hóa chất cần thiết như nướcvôi trong để nâng độ pH, dung dịch keo tụ cho kết tủa lắng cặn trong nước, hóa chấtdiệt khuẩn chlorine, hóa chất cân bằng pH là NaOH được hệ thống bơm định lượngđưa vào bể nước theo tỷ lệ đã định sẽ được điều chỉnh bởi thiết bị cân bằng độ pHđiện tử Đồng thời, đưa hệ thống máy thổi khí ly tâm vào bể lắng trung hòa để tăng

độ hòa tan hóa chất và phân giải khí độc trong bể nước Khi nước ra khỏi bể lắngtrung hòa có độ pH, độ trong, độ sạch khuẩn và độ oxy hóa đạt yêu cầu mới đượcđẩy lên bộ xử lý lọc nước áp lực (gồm 12 bình lọc chuyên dụng có dung tích 1

m3/bình) để làm trong nước lần cuối và lọc kim loại nặng Khi ra khỏi hệ thống xử

lý, nước được lọc đảm bảo các tiêu chuẩn và được chứa vào téc để cấp nước sinhhoạt cho công nhân Nước cặn xả của bể lắng trung hòa được xả ra bể trung gian vàđược cụm xử lý tách bùn trước khi xả ra môi trường

Trang 18

Sau khi xử lý tại trạm, nguồn nước đảm bảo các yêu cầu, tiêu chuẩn về độtrong, không mầu, không mùi lạ, độ pH 6,8, nồng độ amôni 1,64 mg/l, độ oxyhóa/môi trường kiềm 1,52 mg/l, hàm lượng clorua 28,4 mg/l, hàm lượng nitrate0,15 mg/l Nước sau khi lọc được cấp cho khai thác than hầm lò, tưới đường chốngbụi, đưa vào nhà tắm, giặt quần áo công nhân.

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA NƯỚC THẢI MỎ

Trong [3], TS Nguyễn Văn Chi đề xuất phương pháp nghiên cứu nước thải

mỏ như sau:

- Quy luật thải nước mỏ theo không gian, thời gian (các giai đoạn khai đào);

- Điều kiện hình thành nước thải mỏ;

- Khối lượng, hướng vận động của nước thải mỏ trong hầm lò;

- Nghiên cứu bản thân nước và khoáng vật trong các vỉa than;

- Nghiên cứu các đặc điểm địa hình, cấu trúc địa chất, lượng mưa,…

- Nghiên cứu quá trình ăn mòn do cái gì và diễn ra như thế nào;

- Đánh giá sự ăn mòn qua tác động của nước thải mỏ tới hoạt động khai thác,như: ăn mòn vỉ chống lò, bánh công tác, cánh quạt của máy bơm,…

Sớm nhận ra khả năng tạo a xit và triển khai các biện pháp giảm thiểu, kiểmsoát sẽ hạn chế tối đa các tác động tiêu cực tới môi trường và kinh tế (xem sơ đồkiểm soát nước thải)

Chuyển hướng dòng chảy mặt ra Ngăn nước mưa thấm-chảy xuyên

Hạn chế lưu lượngnước chảy vào mỏtrong khai thác

Tháo khô đất đá sũng nước vây Kiểm

soát

nước

thải

Ngăn nước mưa, mặt tiếp xúc với vỉa

Kiểm soát quátrình tạo axít trongnước thải mỏ Ngăn nước ngầm chảy qua lò chợ

Ngăn nước mưa tập trung trên nóc Trung hoà nước thải mỏ có tính axítThu gom và xử lý

Trang 19

Hình 1.7 Sơ đồ kiểm soát nước thải

Để đánh giá được sự ăn mòn của nước thải mỏ, nhất thiết phải đặt các trạmquan trắc một số chỉ tiêu môi trường như: nồng độ pH, tổng các chất rắn hòa tan(TDS), SO42-, và phải lấy mẫu phân tích chất lượng của nước thải mỏ tại các vị tríquan trắc lâu dài

Pha loãng nước thải axít bằng nước

Ô xy hoá, kết tủa ion kim loại trong

Trang 20

Mỏ Khe Chàm

CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT - ĐỊA CHẤT

THỦY VĂN MỎ KHE CHÀM

2.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN MỎ KHE CHÀM 2.1.1 Vị trí địa lý

Vùng nghiên cứu mỏ Khe Chàm thuộc thị trấn Mông Dương, thị xã CẩmPhả, tỉnh Quảng Ninh, cách trung tâm thị xã Cẩm Phả khoảng 5 km về phía Bắc,nằm bên trái đường quốc lộ 18A từ Hạ Long đi Mông Dương

- Phía Bắc vùng nghiên cứu giáp Dương Huy, Bằng Tây;

- Phía Nam vùng nghiên cứu giáp Khe Sim, Lộ Trí, Đèo Nai, Cọc Sáu;

- Phía Đông vùng nghiên cứu giáp Quảng Lợi, Mông Dương;

- Phía Tây vùng nghiên giáp mỏ Khe Tam

Vùng nghiên cứu Khe Chàm là vùng khoáng sản than nằm trong giới hạn tọa

độ địa lý theo hệ toạ độ Nhà nước năm 1972 là:

X: Từ 2326.500 đến 2331.000;

Y: Từ 424.000 đến 429.500

Trang 21

Hình 2.1 Vùng than Quảng Ninh (trong đó đã chỉ ra vị trí vùng nghiên cứu)

2.1.2 Địa hình

Vùng nghiên cứu Khe Chàm có địa hình là những đồi núi nối tiếp nhau Độcao giảm dần từ Nam đến Bắc, cao nhất là đỉnh Cao Sơn ở phía Nam (+437.80m),thấp nhất là lòng sông Mông Dương phía Đông Bắc khu mỏ (+10m), độ cao trungbình từ 100m đến 150 m Địa hình bị phân cắt chủ yếu bởi hai hệ thống suối chính

là suối Bàng Nâu và suối Khe Chàm

Địa hình ở khu vực phía Nam chủ yếu là các tầng khai thác lộ thiên (thuộc

mỏ Cao Sơn) và lộ vỉa Nhìn chung, địa hình trong khu vực đã thay đổi nhiều so vớiđịa hình nguyên thuỷ ban đầu, thay vào đó là các moong khai thác và các bãi thải

2.1.3 Mạng sông suối

Vùng nghiên cứu có hai suối lớn là suối Khe Chàm và suối Bàng Nâu Haisuối này tập trung toàn bộ lượng nước mặt trong vùng

Suối Khe Chàm: Hướng chảy Tây Nam - Đông Bắc rồi nhập vào suối Bàng

Nâu, sau đó chảy ra sông Mông Dương Hiện tại, địa hình khu vực đã thay đổi rấtnhiều do kết quả của quá trình khai thác lộ thiên Vì vậy, đã làm biến đổi dòng chảy,vào mùa khô có những đoạn suối chỉ là những lạch nhỏ Lòng suối rộng trung bình

từ 5m đến 10m, có nơi rộng đến 20m, lòng suối bị đất đá thải do quá trình khai thác

lộ thiên lấp nhiều Lưu lượng lớn nhất Qmax = 2688l/s đo được lúc mưa to, mùa mưa

lũ còn lớn hơn rất nhiều, lưu lượng nhỏ nhất Qmin = 0,045l/s

Nhìn chung, lưu lượng suối Khe Chàm rất lớn cắt qua nhiều địa tầng chứacác vỉa than có giá trị công nghiệp Suối có lưu vực rộng lớn hàng chục km2 kể cảsuối chính và suối phụ Suối có độ dốc khá lớn, chênh lệch độ cao từ thượng nguồnxuống hạ nguồn khoảng 230m đến 300m Vì vậy, nước tập trung khá nhanh nhưngcũng thoát dễ dàng, trong nửa ngày là giao thông có thể trở lại bình thường

Trang 22

Suối Bàng Nâu: Hướng chảy Tây - Đông qua phía Bắc khu vực, đổ ra sông

Mông Dương, đoạn chảy trong vùng nghiên cứu là hạ lưu của suối Vì vậy, suối này

có lưu vực rộng lớn Lưu lượng lớn nhất Qmax = 91686,7l/s và Qmin = 188,291l/s

Nguồn cung cấp nước cho hai suối Khe Chàm và suối Bàng Nâu chủ yếu là

do nước mưa và một phần do nước của tầng chứa than cung cấp qua các điểm lộ

2.1.4 Khí hậu, khí tượng

Vùng Khe Chàm chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa ven biển, độ

ẩm cao chia làm hai mùa rõ rệt Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khôkéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Mưa nhiều nhất vào tháng 8, tháng 9.Tháng 8 năm 2003, lượng mưa cao nhất lên đến 1342.8mm, lượng mưa trung bìnhcao trong ngày 144mm/ngày (chi tiết xem trong bảng 2.1 và hình 2.2)

Trang 24

Bảng 2.1 Bảng thống kê lượng mưa tháng trạm khí tượng Cửa Ông, (mm)

Trang 25

Hình 2.2 Biểu đồ lượng mưa trung bình tháng (từ năm 1999 đến năm 2008)

trạm khí tượng Cửa Ông - Cẩm Phả

(Nguồn: Công ty cổ phần Tin học, Công nghệ, Môi trường Than - Khoáng

sản Việt Nam (VITE)).

2.1.5 Dân cư, kinh tế, xã hội, văn hóa

Dân cư trong vùng Khe Chàm chủ yếu là công nhân mỏ và một số hộ dân(rất ít chỉ có vài 3 - 5 hộ) chủ yếu làm nghề trồng trọt, dịch vụ… Thành phần dân cưchủ yếu là người kinh và một số dân tộc ít người khác như Sán Dìu

Vùng Khe Chàm tập trung nhiều mỏ và công trường khai thác than đang hoạtđộng Hệ thống hạ tầng, kinh tế của vùng đã và đang được xây dựng tương đối hoànchỉnh và đồng bộ

2.1.6 Giao thông

Mạng lưới giao thông, công nghiệp trong vùng nghiên cứu khá phát triển rấtthuận lợi cho công tác thăm dò và khai thác mỏ Trong vùng đã có hệ thống đườnggiao thông nối liền với các mỏ than Cọc Sáu, Khe Tam, Mông Dương,…

Trang 26

2.2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT, ĐCTV MỎ KHE CHÀM

2.2.1 Đặc điểm địa chất

Khu mỏ Khe Chàm nằm về phía Đông Bắc địa hào chứa than Hòn Gai - CẩmPhả - Quảng Ninh của bể than Đông Bắc Việt Nam Về cấu trúc địa chất, vùngnghiên cứu đơn giản về mặt địa tầng nhưng phức tạp về mặt kiến tạo

2.2.1.1 Địa tầng theo thứ tự thành tạo

Giới MÊZOZOI Thống trên, bậc Nori-Reti

Hệ tầng Hòn Gai (T 3n-rhg)

Trầm tích hệ tầng Hòn Gai (T3n-rhg) được chia thành ba phân hệ tầng như

sau:

a Phân hệ tầng Hòn Gai dưới (T 3n-rhg1 ): chủ yếu là trầm tích hạt thô

không chứa than Đặc điểm chung của phân hệ tầng là sự xen kẽ các lớp đất đá hạtthô bao gồm cuội kết, sạn kết, cát kết và ít lớp bột kết, sét kết, sét than

b Phân hệ tầng Hòn Gai giữa (T 3n-rhg2 ): là phụ hệ tầng chứa than gồm

các trầm tích lục địa có xen kẽ các nhịp trầm tích vũng vịnh, chứa các vỉa than côngnghiệp Đặc điểm chung của phân hệ tầng là các trầm tích dạng nhịp kiểu lục địa vàchuyển tiếp xen kẽ nhau, bao gồm các lớp cuội kết, cát kết, bột kết, sét kết, sét than.Phân hệ tầng này phân bố trên toàn bộ diện tích khu vực nghiên cứu

c Phân hệ tầng Hòn Gai trên (T 3n-rhg3 ): gồm các trầm tích hạt thô không

chứa than Trong khu vực nghiên cứu không gặp phân hệ tầng Hòn Gai trên

Trầm tích hệ tầng Hòn Gai (T3n-rhg) phân bố hầu khắp trên diện tích khu

mỏ Đất đá bao gồm: cuội kết, cát kết, bột kết, sét kết, sét than và các vỉa than nằmxen kẽ nhau, chiều dày địa tầng khoảng 1800m

Giới KAINOZOI

Hệ Đệ tứ (Q)

Trang 27

Trầm tích hệ Đệ tứ phủ bất chỉnh hợp lên các đá của hệ tầng Hòn Gai, phân

bố hầu khắp khu mỏ

Thành phần đất đá bao gồm cuội, sỏi, cát, sét bở rời, đôi nơi là các mảnh vụntảng lăn Chúng là sản phẩm phong hoá từ các đá có trước Phần địa hình nguyênthuỷ, lớp phủ Đệ tứ có chiều dày thay đổi từ vài mét ở sườn núi tới 10, 12m ở cácthung lũng suối Phần đã khai thác lộ thiên, địa hình thay đổi nhiều, lớp trầm tích

Đệ tứ đã bị bốc hết

2.2.1.2 Kiến tạo

Khoáng sàng than Khe Chàm nằm trong cấu tạo nếp lõm lớn Khe Tam - KheChàm, thuộc khối trung tâm Cẩm Phả Cấu tạo này được giới hạn bởi hai đứt gẫylớn có phương vĩ tuyến, đứt gẫy A - A’ ở phía Nam và đứt gẫy Bắc Huy ở phía Bắc

Phía Tây - Tây Bắc (Khe Chàm III) trục nếp uốn có phương chính kéo dàihướng Đông - Tây Phần phía Đông (Khe Chàm I) phương trục chuyển dần theohướng Tây Bắc - Đông Nam đồng thời chìm xuống và tắt dần Nếp lõm này đã bịảnh hưởng của nhiều pha kiến tạo nên dọc theo trục nếp uốn phát triển nhiều đứtgẫy, đất đá và các vỉa than bị phân cắt thành nhiều khối cấu trúc nhỏ có sự dịchchuyển khác nhau

a Nếp uốn

+ Nếp lõm Bàng Nâu: Nằm phía Tây Bắc khu mỏ Khe Chàm, phía Bắc và

Đông Bắc của nếp lõm bị chặn bởi đứt gẫy L-L Cánh phía Nam mở rộng hơn để lộ

ra các vỉa than từ vỉa 12 đến vỉa 17 Chỉ riêng vỉa 17 được lộ ra thành vòng khép kíndưới dạng ô-van Trục của của nếp lõm kéo dài gần trùng hướng Tây - Đông, càng

về phía đường trục chuyển dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và có xu hướngnối liền với nếp lõm Cao Sơn Mặt trục nghiêng về phía Nam với độ dốc 750÷ 800

Độ dốc hai cánh không cân đối, ở cánh Nam độ dốc thay đổi từ 300 ÷ 600, trung bình

450÷ 500, sát trên lộ vỉa có chỗ dốc đến 700, cánh Bắc đã bị đứt gẫy L - L cắt vát đi,phần còn lại có độ dốc thoải, càng xuống sâu độ dốc các cánh giảm đi nhanh chóng.Phía Đông Bắc của nếp lõm do bị ảnh hưởng của đứt gẫy L - L đã hình thành hainếp uốn thoải chạy song song với đường trục chính

Trang 28

+ Nếp lõm 360: Đây là một nếp lõm hẹp nằm ở phía Nam có phương kéo dài

gần trùng Bắc Nam, hơi chếch Tây Bắc - Đông Nam, mặt trục dốc đứng Độ dốc vỉahai cánh thay đổi từ 300 - 400, dần về phía Nam độ dốc vỉa tăng dần lên (450 ÷ 500)

+ Nếp lõm 375: Nằm ở phía Tây Nam khu vực mỏ, phân bố trên một diện

tích khoảng gần 1km2, là một nếp lõm không hoàn chỉnh Do ảnh hưởng của đứt gẫy

A - A phía Nam nên hai đầu của nếp lõm này tạo nên các nếp uốn kéo theo nằm kềgần với hai đứt gẫy trên

+ Nếp lồi 480: Nằm tiếp giáp với phía Đông nếp lồi 360, phân bố trên diện

tích khoảng 0,50 km2 Phía Bắc và Đông Bắc bị chặn bởi đứt gẫy E - E, phía Nam làđứt gẫy A - A Nhân nếp lồi lộ ra các vỉa 14-2, 14-4, 13-2 dưới dạng hình trái xoan

mở rộng về phía Đông Nam Vỉa 14-5 là vỉa than trên cùng lộ ra không khép kín.Đường trục nếp lồi chạy song song với nếp lõm 360 và cắm dốc đứng Hai cánh gầnđỉnh nếp lồi có cấu tạo cân đối, dốc khoảng 300, ra xa khoảng hơn 100m dốc hơn(400) sau đó thoải dần

+ Nếp lồi 2525: Phân bố ở trung tâm khu vực mỏ, ngăn cách với nếp lồi 480

bởi đứt gẫy E - E, đường phương theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Mặt trục chính

có hướng cắm về phía Tây Nam với độ dốc khoảng 850 Trên các cánh phía Đông vàĐông Nam được trải rộng và có độ dốc thoải (250÷ 350)

+ Nếp lõm Cao Sơn: Đây là một cấu tạo lớn nhất khu Khe Chàm, phân bố ở

phía Đông Nam khu vực mỏ nằm chuyển tiếp với nếp lồi 2525 Phía Bắc và phíaĐông bị chặn bởi một đoạn vòng cung của đứt gẫy L-L, phía Nam và Tây Namđược giới hạn bởi đứt gẫy A - A và đứt gẫy I - I

+ Nếp lồi E18: Nằm ở phía Bắc nếp lõm Cao Sơn, các vỉa 14-1 đến vỉa 14-5

lộ trên cánh dưới dạng khép kín, đầu quay về phía Tây Bắc Trục chạy theo hướnggần trùng hướng Tây-Đông Độ dốc hai cánh không cân xứng Cánh Nam dốc hơn(350-400), bị giới hạn bởi đứt gẫy L - L Cánh phía Bắc dốc thoải (150-200) và đượctrải rộng

+ Nếp lồi Vũ Môn: Nằm sát phía Đông Bắc khu vực mỏ, kéo dài theo hướngTây Bắc - Đông Nam Một nửa cấu tạo về phía Đông Bắc thuộc diện tích mỏ Mông

Ngày đăng: 20/07/2017, 10:41

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w