1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

BAO TANG DIEU KHAC CHAMPA

25 572 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 9,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giúp các bạn nắm được lịch sữ hình thành tổng quan viện bảo tàng điêu khắc chăm pa Đà Nẵng. Những cổ vật tại đây.

Trang 1

2/ Bão tàng điêu khắc Chămpa:

Vài nét khái quát về vương quốc Chăm pa:

Trang 2

- Trước khi vào tham quan bảo tàng, tôi sẽ giới thiệu vài nét khái quát về lịch sử và văn hóa Chăm

pa cho đoàn chúng ta hiểu được phần nào về Chăm pa Như vậy, khi tham quan chúng ta sẽ dễ dàng tiếpcận hơn với các hiện vật trong bảo tàng

- Lịch sử vương quốc Chăm Pa được khôi phục dựa trên ba nguồn sử liệu chính: Các di tích còn lạibao gồm các công trình đền tháp xây bằng gạch còn nguyên vẹn cũng như đã bị phá hủy và cả các côngtrình chạm khắc đá; các văn bản còn lại bằng tiếng Chăm và tiếng Phạn trên các bia và bề mặt các côngtrình bằng đá; các sách sử của Việt Nam và Trung Quốc, các văn bản ngoại giao, và các văn bản khácliên quan còn lại

- Trên dải đất Việt Nam ngày nay vào thời xưa đã từng tồn tại ba quốc gia Về đại thể thì miền bắc

là lãnh thổ Đại Việt, miền trung là địa bàn của vương quốc Chămpa và miền nam là một phần lãnh thổcủa vương quốc Phù Nam Các kết quả nghiên cứu về khảo cổ học, dân tộc học, sử học… ngày càngchứng minh rõ ràng hơn về cội nguồn của ba quốc gia cổ đại ấy Có thể nói một cách khái quát là vănminh Đại Việt bắt nguồn từ văn hóa Đông Sơn, văn minh Chămpa phát triển từ văn hóa Sa Huỳnh, vănminh Phù Nam mà một phần quan trọng là văn hóa Óc Eo

- Vào thời ấy lãnh thổ, biên giới giữa các quốc gia cổ đại luôn là vấn đề không bao giờ rành mạch

rõ ràng Tuy vậy nếu theo phân bố hành chánh ngày nay thì có thể coi các tỉnh ven biển miền Trung – từQuảng Bình đến Bình Thuận – và các tỉnh khu vực Tây Nguyên là thuộc địa bàn của vương quốcChămpa cổ xưa

- Lịch sử Chăm Pa độc lập được khởi đầu khoảng cuối thế kỷ thứ 2 và kết thúc vào khoảng cuối thế

kỷ 17 Trước thế kỷ 2, vùng đất của người Chăm đã được nhắc đến trong sử sách với tên Hồ Tôn Tinh,rồi tên Tượng Lâm khi nằm dưới sự thống trị của Trung Hoa Lãnh thổ này được ghi nhận là từ miềnTrung trở vào miền Nam Việt Nam, thay đổi tùy thời kỳ Từ cuối thế kỷ 17 đến cuối thế kỷ 18, Chăm Panằm dưới sự đô hộ của các chúa Nguyễn cho đến lúc Chăm pa trở thành một bộ phận của Việt Nam

- Năm 192, một số bộ tộc sống ở khu vực thuộc Huế ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Khu Liên ( tứcSri Mara) nổi dậy lật đổ sự đô hộ của Trung Hoa, xây dựng Vương quốc Chăm Pa, lúc bấy giờ gọi làLâm Ấp Thủ đô của Lâm Ấp nằm ở vùng Trà Kiệu bây giờ Người Chăm Pa, hay người Chàm, lànhững người đã đến từ các đảo của Malaysia và Polynesia; ngôn ngữ của họ, tiếng Chàm, thuộc nhómMalaysia-Polynesia của hệ ngôn ngữ Nam Đảo Sau khi thành lập, Vuơng quốc Chăm Pa tìm cách mởrộng biên giới bằng vũ lực, phía Bắc lấn chiếm đất của người Việt, phía Nam đô hộ những vương quốctheo Ấn Độ giáo

- Từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 9, Chăm Pa trở thành một quốc gia hùng mạnh, lãnh thổ kéo dài từHoành Sơn ở phía Bắc đến sông Đồng Nai ở phía Nam, được sử sách Trung Hoa ghi nhận với tên gọiHoàn Vương Quốc

- Cuối thế kỷ thứ 9, Chăm Pa dời thủ đô từ Panduranga ở miền Nam đến Indrapura ở miền Bắc

- Từ đây cho đến thế kỷ 15 về tổ chức xã hội, hệ thống chính quyền, lễ nghi Chăm Pa ảnh hưởngvăn minh Phạn Ngữ, Bà La Môn Trong thời kỳ này các vua Chăm Pa cũng cho xây dựng nhiều đền đài

Bà La Môn Giáo ở Mỹ Sơn

Trang 3

- Trước quá trình Nam tiến mãnh mẽ của Đại Việt thì lãnh thổ của Chăm pa đã dần dần gia nhậpvào Đại Việt Năm 1471, vua Lê Thánh Tông đã đánh thắng quân Chiêm và thu được phần lớn đất đaicủa Chăm pa Đến lúc này thì xem như vương quốc Chăm pa đã chấm dứt sự tồn tại của mình như mộtquốc gia độc lập Từ lúc này trở đi, Chăm pa phải tiếp tục lùi dần, lùi dần để rồi chấm dứt hẳn sự tồn tạicủa mình như một nước chư hầu vào năm 1832.

- Theo sự nghiên cứu của các học giả thì cho rằng Chăm pa không phải là một quốc gia thống nhất

mà đây là một quốc gia được tạo nên bởi nhiều tiểu quốc ( gọi là thiết chế mandala) trên nền tảng vănhóa và ngôn ngữ chung Vương quốc này bao gồm 5 tiểu vương quốc là: Indrapura (vùng Quảng Bình,Quảng Trị, Thừa Thiên Huế ngày nay), Amaravati (vùng Quảng Nam ngày nay), Vijaya (vùng BìnhĐịnh ngày nay), Kauthara (vùng Phú Yên, Nha Trang ngày nay) và Panduranga (vùng Ninh Thuận vàBình Thuận ngày nay)

- Người Chăm trong thời vương quốc Chăm Pa lịch sử bao gồm hai bộ tộc chính là bộ tộc Dừa vàCau Bộ tộc Dừa sống ở Amaravati và Vijaya trong khi bộ tộc Cau sống ở Kauthara và Pandaranga Hai

bộ tộc có những cách sinh hoạt và trang phục khác nhau và có nhiều lợi ích xung đột dẫn đến tranh chấpthậm chí chiến tranh Nhưng trong lịch sử vương quốc Chăm Pa các mối xung đột này thường được giảiquyết để duy trì sự thống nhất của đất nước thông qua hôn nhân

- Vương quốc Chămpa cổ từng có nhiều tôn giáo, tín ngưỡng Họ tôn thờ Nữ Thần Mẹ của vươngquốc là Pô Inư Nagar theo truyền thống tín ngưỡng Mẫu hệ lâu đời của cư dân Đông Nam Á Tínngưỡng này còn tồn tại khá đậm nét trong xã hội người Chăm hiện nay

- Từ khi tiếp nhận những ảnh hưởng của văn hóa – văn minh Ấn Độ người Chăm cổ theo Ấn Độgiáo, quốc vương là người quyết định tôn giáo chính thống của vương quốc Tôn giáo chính của ngườiChăm là Ấn Độ giáo, thờ một hay cả ba vị Thần của Tam vị nhất thể là Brahma – Visnu – Siva Tuynhiên người Chăm cổ tôn sùng thần Siva hơn cả Các văn bia cổ bằng chữ Phạn (Sanskrit) trong khu MỹSơn đã tôn Siva là Chúa tể của muôn loài, là cội rễ của nước Chămpa Thần Siva thường được thờ bằngmẫu tượng sinh thực khí nam giới Ngoài ra người Chăm cổ còn theo cả Phật giáo với trung tâm ĐồngDương (Quảng Nam) phát triển cực thịnh hồi thế kỷ IX – X Bên cạnh việc tiếp nhận tôn giáo Ấn Độ,người Chăm cổ đã tiếp thu cả mô hình tổ chức chính quyền nhà nước mà nhiều nhà nghiên cứu chỉ rađặc trưng chủ yếu là vương quyền kết hợp với thần quyền, các quốc vương Chămpa thường được đồngnhất với thần Siva

- Qua các công trình nghiên cứu lịch sử, các tác giả cho rằng nền kinh tế Chăm Pa xưa chủ yếu dựavào các hoạt động nông nghiệp, sản xuất đồ thủ công và thương mại

- Qua các thông tin mà tôi vừa cung cấp đó, có lẽ phần nào cũng đã giúp cho quý khách hình dungnhững nét khái quát nhất về vương quốc Chăm pa Nhìn chung, Chăm pa thực sự là một quốc gia đã cóđược sự phát triển nhất định về các mặt chính trị., kinh tế, văn hóa trong một thời kì lịch sử nhất định.Đến bây giờ thì người Chăm hiện đại vẫn còn giữ lại được những sinh hoạt kinh tế, văn hóa truyềnthống của cha ông mình Và một điều mà chúng ta dễ nhận thấy nhất trong số các di sản mà người Chăm

để lại cho chúng ta ngày nay thì nổi bật nhất, đặc sắc nhất, độc đáo nhất là kiến trúc và điêu khắc Chínhkiến trúc và điêu khắc đã đem lại sự “nổi tiếng” cho dân tộc Chăm, mang dân tộc Chăm đến với cả thế

Trang 4

giới Trên khu vực miền Trung này thì có rất nhiều tháp Chăm vần còn tồn tại và chúng ta có thể chiêmngưỡng chúng ở Quảng Nam, Bình Định, Nha Trang, Ninh Thuận, Bình Thuận Còn về các tác phẩmđiêu khắc thì chúng đã được đưa về trưng bày rải rác ở các bảo tàng ở Việt Nam Tuy nhiên không cóbảo tàng nào là độc đáo và đặc sắc như Bảo tàng điêu khắc Chăm Đà Nẵng Đây là bảo tàng có những

bộ sưu tập vô cùng độc đáo của nền điêu khắc Chăm Và trước khi chúng ta chiêm ngưỡng những kiệttác điêu khắc Chăm thì chúng ta sẽ tìm hiểu đôi nét về lịch sử hình thành bảo tàng điêu khắc Chăm ĐàNẵng

Lịch sử bảo tàng Chăm:

- Bảo tàng điêu khắc Chăm là nơi lưu giữ một bộ sưu tập các tác phẩm điêu khắc Chăm phong phúnhất Bảo tàng được ông Henry Parmentier – kiến trúc sư trưởng và là trưởng khoa khảo cổ học củatrường Viễn Đông Bác Cổ - E’cole Francaise d’extreme Orient ( EFEO) xây dựng nên

- Người có công đầu trong việc sưu tầm những tác phẩm điêu khắc Chămpa để tập trung trưng bàytại Lejardin de Tourane ( Vườn hoa thành phố Tourane – tên gọi cũ của Đà Nẵng) là Charle Lemire _công sứ tỉnh Quảng Nam năm 1892 Trước đó, vào năm 1885 lúc còn là công sứ tỉnh Bình Định , ôngđược mời tham gia một cuộc sưu tầm những tác phẩm điêu khắc Chăm pa để cùng với những tác phẩmnghệ thuật khác được tìm thấy ở Đông Dương, mang về trưng bày tại Pháp theo chỉ thị của Bộ giáo dục

và mỹ nghệ Pháp thời thuộc địa

- Công việc thu thập và chuyên chở những hiện vật ở Trà Kiệu-Duy Xuyên và Khương Mỹ - NúiThành của tỉnh Quảng Nam về trưng bày tại Lejardin de Tourane được thực hiện vào những năm 1891 –

1892, tập trung trên một ngọn đồi nhỏ bên cạnh bên cạnh chùa Long Thủ ( nay là chùa An Long nằmphía sau bảo tàng Chăm thuộc quận Hải Châu - Đà Nẵng), là nơi mà sau này bảo tàng được xây dựng.Sau đó thì ông Camille de Paris đã cho sưu tầm thêm một số hiện vật phát hiện trong tỉnh Quảng Nam,nâng số hiện vật trưng bày tại Lejardin de Tourane lên đến gần 100 tác phẩm

- Năm 1902, chỉ hai năm sau khi thành lập trường Viễn Đông Bác Cổ - E’cole Francaise d’extremeOrient ( EFEO) tại Hà Nội, các nhà chuyên môn đã nảy ra ý định xây dựng một bảo tàng trưng bàynhững tác phẩm điêu khắc Chămpa tại Tourane, dưới hình thức một kho bảo quản trực thuộc đội khảo cổcủa trường Nhưng ý định này vấp phải vô vàn trở ngại bởi ý kiến bác bỏ của những viên khâm sứ vàtoàn quyền đương thời

- Năm 1912, toàn quyền Sarraut ra quyết định chuyển tất cả hiện vật trưng bày tại Lejardin deTourane về bảo tàng mới thành lập của EFEO tại Hà Nội Quyết định này đã gặp phải sự phản đối quyếtliệt của Hội đồng thành phố Tourane Dựa vào sự phản đối này, hội đồng khảo cổ học của EFEO bày tỏ

ý muốn tập trung trưng bày những tác phẩm điêu khắc ở Đà Nẵng chứ không ở Hà Nội Cuối cùng đơnxin của ông giám đốc EFEO vào tháng 7/ 1915 đã được chính phủ thuộc địa chấp thuận giải quyết

- Thuở ban đầu, bảo tàng chỉ là một kiến trúc hình chữ nhật với diện tích khiêm tốn tương ứng vớiphòng Trà Kiệu ngày nay và những hành lang bao quanh phòng này được hoàn tất vào tháng 5/ 1916 Việc trưng bày nội dung mãi đến đầu năm 1918 mới xúc tiến và được hoàn tất vào tháng 2/ 1919 Xét rađây là kết quả của một quá trình cố gắng liên tục trong gần 17 năm ròng của trường Viễn Đông Bác Cổ

Trang 5

- Kiến trúc của bảo tàng được thiết kế bởi hai kiến trúc sư Delaval và Auclair, là một sáng tạo dựatrên những mô típ phổ biến, đặc trưng trong kiến trúc Chăm (như những đường gờ chạy quanh chântường và các cột trụ, kiểu mái nhà) và dựa trên các nguyên tắc truyền thống của kiến trúc Pháp vào đầuthế kỉ XX , tuy đơn giản nhưng độc đáo Ngày nay, nó được đánh giá là một trong những bảo tàng cókiến trúc độc đáo nhất Đông Nam Á

- Bảo tàng được xây dựng theo hướng mở, đó là điều khác biệt với các bảo tàn khác (các bảo tàngthường được xây dựng theo hướng khép kín) Đó là do các tác phẩm điêu khác Chăm pa phần lớn đềuđược đăti ở các công trình đền tháp, đã có một thời gian hàng trăm năm ở ngoài trời, vì thế việc xâydựng theo hướng mở là để các tác phẩm có thể hút được ánh nắng mặt trời và dần dần thích nghi đượcvới môi trường trong nhà

- Thời kì đầu, bảo tàng mang tên nhà khảo cổ học Henry Parmentier _ là người đã thiết kế và trưngbày nội dung cho bảo tàng Ông cũng là nhà khoa học đã cống hiến nhiều công trình giá trị về nghệthuật Chăm pa Bấy giờ bảo tàng trưng bày những tác phẩm tập trung tại Lejardin de Tourane được sưutầm bởi Charle Lemire và Camille de Paris từ Trà Kiệu, Khương Mỹ, Phong Lệ…cùng với những tácphẩm được khai quật bởi EFEO tại Mỹ Sơn, Đồng Dương, Chánh Lộ, La Nghi

- Trong những năm 1920 – 1930 các cuộc khai quật tại Trà Kiệu, Bình Định của ông Jean YuesClaeys _ một kiến trúc sư làm việc tại sở Công chánh Đông Dương, thành viên tạm thời của L’EFEO đãlàm tăng thêm rất nhiều các tác phẩm điêu khắc được gởi đến Đà Nẵng Bảo tàng vốn đã chật hẹp naylại càng thêm nhỏ bé hơn với số lượng mới Tương lai của bảo tàng trở nên không ổn định vì thế chínhquyền thành phố lúc bấy giờ đã tìm mọi cách để đảm bảo cho bảo tàng không bị giải thể và bộ sưu tậpkhông bị chuyển đến một bảo tàng mới đang được L’EFEO xây dựng tại Hà Nội ( nay là bảo tàng lịch

sử Việt Nam) Một cuộc trưng cầu ý kiến diễn ra quyết liệt giữa các bên là Chính quyền thành phố,trường Viễn Đông Bác Cổ, Chính quyền An Nam và toàn quyền Đông Dương May mắn thay, kết luậncuối cùng là vẫn giữ lại bộ sư tập tại bảo tàng Đà Nẵng và được mở rộng thêm bảo tàng

- Đến 1935, bảo tàng được nới rộng thêm hai cánh hai bên để trưng bày thêm một số lớn tác phẩmmới được khai quật bởi nhà khảo cổ J.K.Claeys tại Trà Kiệu năm 1927 – 1928 và tại Tháp Mẫm ( trongthành Chà Bàn – Bình Định ) năm 1934 Ngày 31/3/1936 bảo tàng mới được khánh thành rất hoànhtráng với tên gọi “ Bảo tàng Henry Parmentier” với sự tham gia của vua Bảo Đại, Toàn quyền ĐôngDương và giám đốc L’EFEO Bảo tàng lúc này trưng bày các hiện vật được tìm thấy ở các di tích như:

Mỹ Sơn, Đồng Dương, Trà Kiệu, Tháp Mẫm, quảng Nam, Bình Định, Quảng Trị, Quảng Ngãi, QuảngBình, Kon Tum Bảo tàng có thêm một kho bảo quản hiện vật và một thư viện

- Năm 1963, bảo tàng được đổi tên thành “ Bảo tàng Đà Nẵng” Từ năm 1975, bảo tàng đã thay đổitên gọi và thuộc sự quản lí của ngành Văn hóa – Thông tin địa phương Tên gọi hiện nay của bảo tàng là

“ Bảo tàng điêu khắc Chăm Đà Nẵng” Năm 2000, nhằm tạo điều kiện cho bảo tàng trưng bày giới thiệumột số lượng lớn các tác phẩm điêu khác được tìm thấy từ sau 1975 và để có thêm diện tích xây dựngphục vụ cho các hoạt động của bảo tàng , UBND thành phố Đà Nẵng quyết định cho mở rộng thêm hơn

2000 m2 tại phía sau của tòa nhà bảo tàng Phần xây dựng mới này đã hoàn thành vào cuối năm 2002,

Trang 6

được thiết kế dựa theo phong cách kiến trúc mà Henry Parmentier đã thể hiện trên bảo tàng cũ trướcđây.

- Hiện nay, bảo tàng đang trưng bày khoảng hơn 400 tác phẩm điêu khắc chủ yếu bằng chất liệu sathạch, ngoài ra còn có một số tác phẩm bằng đất nung và một tác phẩm bằng đồng – chúng đại diện chohầu hết các phong cách tiêu biểu của nghệ thuật điêu khắc Chăm cổ từ VII - XV

Bố cục trưng bày của bảo tàng điêu khắc Chăm:

- Hiện nay các tác phẩm điêu khắc tại bảo tàng được bố trí trưng bày tại hai tòa nhà lớn:

+ Tòa nhà phía trước: bao gồm các phòng trưng bày và các hành lang mang địa danh đã sưu tầm

được các tác phẩm từ những năm đầu thế kỉ XIX đến trước 1975 gồm:

- Hành lang Quảng Nam - Hành lang Quảng Ngãi

- Hành lang Quảng Bình - Hành lang Bình Định

+ Tòa nhà phía sau: bao gồm 2 phần trưng bày:

- Phía dưới là phần trưng bày các tác phẩm điêu khắc thuộc nhiều thể loại được sắp xếp theo các bộsưu tập mang địa danh đã có tác phẩm được đưa về bảo tàng như: Sưu tập Quảng Trị, sưu tập Bình Định– Tháp Mẫm, sưu tập Chiên Đàn, sưu tập Quá Giáng – Khuê Trung, sưu tập Trà Kiệu, sưu tập An Mỹ,sưu tập Phú Hưng, sưu tập Quảng Nam

- Phía trên là phần trưng bày bộ sưu tập ảnh, y phục, nhạc cụ, lễ hội Ka tê của người Chăm ở NinhThuận

Phòng Trà Kiệu:

Trà Kiệu thuộc xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng 50 km

về hướng tây nam Trà Kiệu được xác định là kinh đô của vương quốc Champa ở thời sơ kỳ Theo sử liệughi lại, đây là kinh đô đầu tiên và cổ nhất của Champa, được xây dựng vào cuối thế kỉ IV dưới triều vuaBhadresvara với tên gọi Sinhapura, nghĩa là Thành phố Sư Tử

Năm 1927-1928, J.Y.Claeys đã tiến hành khai quật khu di tích này Hiện tại có 43 tác phẩm, phầnlớn có niên đại thế kỉ VII-VIII và XI-XII đang được trưng bày tại phòng Trà

Kiệu của bảo tàng Điêu Khắc Chăm

Trang 7

Trong những đài thờ kết hợp Linga và Yoni, Linga tượng trưng cho nguyên lí dương và Yonitượng trưng cho nguyên lí âm Sự giao hoà âm – dương là nguồn gốc của sự sinh sôi nảy nở của vạn vậttrong vũ trụ và cũng là một nét đặc trưng trong tập tục thờ cúng của các cư dân nông nghiệp.

Vào ngày lễ, tại thánh địa người ta thường lấy “nước thánh” tưới lên đầu linga nước chảy xuốngjoni và qua đường rãnh chảy xuống đất thể hiện sự sinh sôi nảy nở của muôn loài

- Nét khác biệt lớn nhất của nền điêu khắc Chămpa so với các thể loại

điêu khắc ở khu vực Đông Nam Á đó là ở đây có các đài thờ, xung quanh có các chim thần

- Kết cấu hiện tại của đài thờ gồm hai phần:

- Phần bên trên gồm hai thớt tròn, được trang trí với những cánh hoa sen cách điệu trên và dưới đốixứng nhau Thớt phía trên thể hiện Yoni, với rãnh và vòi dẫn nước, ôm lấy một linga

- Phần bên dưới là một đế thờ hình vuông gồm bốn mặt với vô số hình người được chạm khắc tinhxảo

Hiện có nhiều ý kiến xoay quanh ý nghĩa của đài thờ này Năm 1930, Przyluski cho rằng nhữngtrang trí trên bốn mặt của đài thờ minh hoạ truyền thuyết việc thành lập nước Phù Nam Một năm sau đó,Coedes đã bác bỏ giả thuyết này, và cho rằng các cảnh của đài thờ thể hiện những giai đoạn khác nhaucủa cuộc đời thần Krishna như được kể trong Bhagavata Puruna Cũng có nhiều ý kiến khác cho rằng đàithờ kể chuyện một trích đoạn trường ca Ramayana, chủ đề là lễ cưới của nàng Sita với hoàng tử Rama

Từ những hình tượng nhân vật đuợc điêu khắc chạm trổ rất trau chuốt ,đều đặn đặc biệt là hình ảnh mười một vũ nữ Apsara nhảy múa vô cùngmềm mại, uyển chuyển, gợi cảm đến những kiểu trang phục, trang sức,kiểu tóc được thể hiện rất tỉ mỉ, tác phẩm hoàn toàn xứng đáng là mộttrong những kiệt tác nghệ thuật điêu khắc Chăm Đài thờ được đưa về bảotàng năm 1901

Thần Vishnu theo Ấn độ giáo là vị thần bảo tồn, canh giữ

không trung Trong thần thoại Ấn Độ, vị thần này có rất nhiều kiếp hóa thân khác nhau

Phù điêu có hình lá đề, được gọi là tấm tympan với viền khung xung quanh hình lá đề, bên trongthể hiện thần Vishnu ngồi xếp bằng theo kiểu Ấn Độ trên thân mình cuộn thành chín khúc của rắn Naga

Trang 8

(Ngoài kiểu ngồi Ấn Độ, các tác phẩm trong điêu khắc Chăm pa còn có 2 kiểu ngồi nữa là ngồi Châu Âu

và ngồi Java, hai kiểu ngồi này đến phòng Đồn Dương quý khách sẽ được xem kỹ hơn)

Phía sau lưng thần, rắn Naga mọc lên mười ba đầu tạo thành một tán che cho thần Bốn tay củathần cầm bốn vật tượng trưng gồm: chiếc gậy Kaumodaki, chiếc tù và bằng ốc biển Shankha, chiếc đĩarỗng đáy Sudarsana và đoá hoa sen ( đã gãy ) Đề tài về thần Vishnu xuất hiện không nhiều trong điêukhắc Champa vì thế tác phẩm này rất quí hiếm và có giá trị trong việc tìm hiểu nghệ thuật điêu khắc vàtôn giáo của Champa

(Thần Visnu có 2 vật cưỡi là Rắn Naga và chim thần Garuđa)

Phù điêu này thường được đặt làm vật trang trí trên các đỉnh của tháp Chăm

Đây là tác phẩm phù điêu hướng tròn (Trong điêu khắc Chăm pa thì có 3 loại tượng: tượng tròn –nhìn được toàn thân bức tượng; phù điêu – dạng khắc một mặt, chỉ nhìn được mặt; và dạng phù điêuhướng tròn – nhìn thấy gần hết chỉ trừ lại mặt lưng)

Theo Henri Parmentier, tác phẩm thể hiện thần Siva; nhưng căn cứ vào

đồ trang sức thể hiện trên tóc và dây rắn Naga quấn quanh mình thần, và một

số yếu tố khác, Boisselier kết luận tác phẩm kí hiệu [3.1] kết hợp với tác phẩm đối xứng [3.2], tạo thànhmột cặp thần hộ pháp

Thần đứng trong tư thế tribhanga, thân mình hơi nghiêng sang phải, vẻ mặt điềm tĩnh, mái tócđược tết thành nhiều lọn trang trí tạo thành một búi cao như chiếc mũ miện Kirita mukuta Dù bị hư hạinhiều, tác phẩm vẫn là một trong số những hiện vật đẹp của nghệ thuật điêu khắc Chăm

Độ Các Apsara mặc một loại váy bằng voan mỏng, bó sát người , có thểnhận biết được thông qua chiếc nơ lớn được thắt lại ở cạnh hông saulưng Cổ, tay, vòng eo và bên ngoài chiếc sampot là những chuỗi hạtngọc Phía sau nhạc công và vũ nữ là những cánh hoa sen được cáchđiệu tạo thành những đường kỷ hà sắc nét làm tôn thêm vẻ quyến rũ củacác vũ nữ Đài thờ còn lại hiện nay chỉ là 1/16 của đài thờ xưa kia

Trang 9

Apsara được xem là những vũ nữ thiên tiên Họ được sinh ra từ đại dương khi các thần khuấy biểnsữa.

6 Hình sư tử xung quanh phòng Trà Kiệu:

Xung quanh phòng Trà Kiệu quý khách thấy rất nhiều hình sư tử, đó là vì Trà Kiệu còn chính làKinh đô Shinhapura – thành phố sư thử Ngoài ra, còn có rất nhiều voi – tượng trưng cho sự thông thái

Phòng Tháp Mẫm - Bình Định

Nằm cách Đà Nẵng 300km về hướng Nam, Bình Định ngày nay còn khá nhiều di tích Chăm, tiêubiểu là hệ thống đền tháp đồ sộ được xây dựng liên tục trong thời gian từ thế kỉ XI đến XV khi trung tâmchính trị của Champa đặt tại đây Trong đợt khai quật năm 1934 và 1935 tại gò đồi Tháp Mẫm - BìnhĐịnh, J.Y Clayes đã phát hiện được rất nhiều hiện vật đẹp như rồng, voi-sư tử, chim thần Garuda, tượng

và phù điêu các nam thần, nữ thần, vũ nữ tiêu biểu cho Phong cách Tháp Mẫm Hiện tại phòng ThápMẫm – Bình Định trưng bày 67 hiện vật, niên đại từ thế kỉ XII – XV

Brahma là thần sáng tạo, một trong ba vị thần quan trọng nhất của Ấn

Độ giáo Đôi khi Brahma còn được xem là thần của sự thông thái Có nhiều

giai thoại thú vị về sự ra đời của Brahma Theo Puranas, Brahma được sinh ra từ một đoá hoa sen mọc từrốn của thần Vishnu vào buổi bình minh của vũ trụ Một giai thoại khác lại cho rằng Brahma sinh ra từmột quả trứng vàng có tên là Hiranyagarbha Khi quả trứng tách ra làm hai nửa, Brahma sinh ra và cácphần còn lại của quả trứng ngay lập tức hoá thành núi non, sông ngoài vạn vật, mọi sự sống trong vũ trụbắt đầu từ đó

Nghệ thuật truyền thống thể hiện Brahma ở dạng phù điêu với bốn đầu, bốn tay cầm bốn vậttượng trưng Mỗi cái đầu của thần được xem như tượng trưng cho một pho kinh Veda Vật cưỡi của thần

là chú ngỗng Hamsa Mặc dù là một trong ba vị thần tối cao, ở Ấn Độ Brahma ít được thờ cúng hơn sovới hai vị thần còn lại là Vishnu và Shiva

Thần cưỡi trên lưng ngỗng Hamsa là vật cưỡi của thần Brahma thường được được thể hiện dướidạng 3-4 đầu (mỗi cái đầu thường được tượng trưng cho một kinh Vê đa), 4 tay cầm 4 vật tượng trưng

Trong số các vị thần Ấn Độ giáo, Shiva là vị thần phức tạp nhất, và

đồng thời có nhiều quyền năng nhất Thông thường người ta biết đến Shiva

như là vị thần huỷ diệt, đồng thời cũng là thần sáng tạo Ngoài ra, theo thần

Trang 10

thoại Ấn Độ, Shiva còn là vị thần của những vũ điệu ( dõng chúa ), thần sơn cước, thần chết Shiva đượcthờ cúng rộng rãi duới hình dạng một linga.

Trong nghệ thuật điêu khắc Chăm, tượng và phù điêu Shiva chiếm số lượng tương đối lớn, đượcthể hiện ở nhiều phong cách nghệ thuật, nhiều tư thế khác nhau Trong tập tục của người Chăm xưa, các

vị vua có công trạng sau chết thường được phong thần , và thờ thần Shiva cũng chính là thờ vua Cácvua Chăm tự nhận mình là các hoá thân của thần Siva, được tái sinh trên cõi đời này để cứu giúp thầndân của họ vì vậy các vua thường kết hợp tên mình với tên gọi của thần Siva

Tác phẩm kí hiệu [3.17] thể hiện Siva trong tư thế ngồi xếp bằng, trên mình có sợi dây rắn Nagaquấn qua vai Mặc dù phần đầu, hai cánh tay phụ, một phần tay phải trước và những vật cầm tay đã bịgãy vỡ, tác phẩm vẫn còn rõ những chi tiết chạm trổ cầu kỳ, tinh xảo thể hiện qua các đồ trang sức trên

cổ, tay và trang phục Tác phẩm mang phong cách Tháp Mẫm, tuy nhiên motif chuỗi ngọc trai gợi nhắcđến phong cách Mỹ Sơn A1, một ví dụ điển hình cho khuynh hướng kế thừa những chi tiết của cácphong cách nghệ thuật đi trước của các tác phẩm điêu khắc Chăm

- Thần Siva đang cầm trên tay một chiếc đinh ba – đây là một trong 3 nét đặc trưng nhất để phânbiệt thần Siva, đó là: đinh ba, con mắt thứ ba và hình mặt trăng trên mũ đội đầu

Gajasimha, hay còn gọi là voi-sư tử, là con vật thần thoại Ấn Độ Thông

thường, đầu voi tượng trưng cho sự thông thái của các thần và mình sư tử thể

hiện uy quyền của các vua Tác phẩm thể hiện Gajasimha kích thước to lớn, trong tư thế đứng, cổ đeo lụclạc, vòi vươn lên cao vừa trang nghiêm vừa ngộ nghĩnh

Gajasimha thường được đặt trước cổng đền tháp như là vị thần bảo hộ canh giữ tháp Chăm

4 Thủy quái Makara.

Niên đại : thế kỉ XIII Chất liệu : đá sa thạch

Kí hiệu : [42.49]

Xuất xứ: Tháp Mẫm

Tác phẩm là một tượng tròn, ở tư thế nằm, được cách điệu với sự pha trộn

nhiều chi tiết của nhiều con vật khác nhau, hai chân trước cùng đầu vươn cao,

lòng bàn chân mở ra phía trước tạo nên tư thế vừa ngộ nghĩnh vừa hung dữ

Theo thần thoại Ấn Độ, thủy quái Makara là vật cưỡi của thần đại dương Varuna Trong điêu khắcChăm, Makara còn được gọi là rồng, thường hay được thể hiện thành một cặp đôi đối xứng nhau, đặt ởlối vào các ngôi đền, giữ gìn sự yên tĩnh, tôn nghiêm cho nơi thờ cúng, trú ngụ của các vị thần linh

Trang 11

Đây là sự kết hợp: đầu rồng, mình sư tử, da và đuôi là của rắn, trong đó

quý khách nhìn kỹ sẽ thấy miệng rồng có ngậm một viên ngọc – đây là sự giao lưu tiếp biến với văn hóaĐại Việt

Rồng được thể hiện ở dạng tượng tròn, tư thế nằm, hai chân trước đặt hướng về trước, hai chânsau đưa ngược lên về sau tạo nên dáng vẻ rất ngộ nghĩnh Chiếc vòng lục lạc đeo ở cổ khắc họa thêm nétsinh động, vui tươi Đầu rồng có vẻ chưa tương xứng với toàn bộ bố cục tác phẩm Các chi tiết tinh xảotrên mình, đầu và đuôi rồng là sự kết hợp của nhiều con vật khác nhau Toàn bộ tác phẩm thể hiện sựkhéo léo, óc sáng tạo và tính hài hước của các nghệ sĩ Chăm

Thông thường, rồng được thể hiện thành một cặp đôi, đặt song song trước lối ra vào của thápChăm Hiện vật còn lại cùng cặp với hiện vật này đang được trưng bày tại bảo tàng Guimet ở Paris

Garuda có mình người, mỏ và cánh của chim nhưng đầu và chân lại

giống sư tử Chim đứng xòe cánh, tay phải cầm một con rắn hai đầu, miệng

ngậm đuôi rắn, chân phải đạp lên một đầu rắn khác

Garuda là vật cưỡi của thần Vishnu và nữ thần Laksmi Thần thoại Ấn giáo cho rằng Garuada vàNaga luôn bất hoà với nhau và mối bất hoà này bắt nguồn từ việc mẹ của Garuada bị mẹ của loài rắn phỉnhục Các nghệ sĩ Chăm đã dành nhiều tác phẩm thể hiện chim thần Garuda ở dạng phù điêu hoặc tượngtròn

Hiện thì ở đây chưa thấy bức tượng nào thể hiện thần Visnu cưỡi chim thần Garuda, chỉ mới thấymột tác phẩm duy nhất ở bảo tàng Pari – Pháp

Đài thờ là một thớt tròn, xung quanh được trang trí với 23 bầu vú

phụ nữ đầy đặn, căng tròn, đường kính mỗi bầu là 11cm Phía trên và dưới của vòng tròn vú là các đường

Trang 12

xoắn chập hai đầu dây rất tỉ mỉ, theo phương thẳng đứng Đây là những kiểu thức trang trí rất phổ biếntrong điêu khắc Chăm vào thế kỉ XII – XIV.

Đài thờ xứng đáng là một kiệt tác của điêu khắc Chăm, thể hiện ảnh hưởng của tín ngưỡng phồnthực và xã hội mẫu hệ

Phòng Mỹ Sơn:

Mỹ Sơn từng là một trung tâm tín ngưỡng quan trọng của vương quốc Chămpa, thuộc địa phận tỉnhQuảng Nam ngày nay, cách di tích Trà Kiệu (Simhapura - kinh đô của Chămpa cho đến năm 1000)khoảng 30 km về phía tây Trong không gian thâm nghiêm của một thung lũng bao bọc bởi những ngọnnúi nhỏ, tại đây có hơn 70 ngôi tháp, phần lớn được xây dựng để thờ thần Siva

Qua các đợt khai quật và nghiên cứu đầu tiên vào những năm 1903 – 1904, Henri Parmentier vàCharles Carpeaux đã phân định các ngôi tháp ở Mỹ Sơn thành các nhóm, dùng chữ cái đặt tên cho cácnhóm tháp và chữ số đặt tên cho từng ngôi tháp trong nhóm, ví dụ ngôi tháp trung tâm của nhóm thápchính được gọi tên là tháp A1

Theo văn bia, tại Mỹ Sơn có thể đã có những ngôi tháp đầu tiên xây dựng từ khoảng thế kỷ IVhoặc V, nhưng đến nay chỉ còn lại các công trình kiến trúc có niên đại sớm nhất là khoảng thế kỷ VII(như nhóm tháp E) Đa số các công trình được bảo tồn tốt nhất có niên đại từ thế kỷ X đến XI (các nhóm

A, B, C, D) Những ngôi tháp được xây dựng muộn nhất tại Mỹ Sơn là vào khoảng thế kỷ XII, XIII(nhóm G và tháp trung tâm của nhóm B)

Các đền tháp tại khu di tích Mỹ Sơn được xây dựng lần lượt trong một thời gian dài gần 10 thế kỷ

Các kiến trúc còn lại tại Mỹ Sơn ngày nay và các hiện vật điêu khắc sưu tầmđược từ di tích này phản ánh các phong cách kiến trúc và điêu khắc khác nhautrong quá trình phát triển nghệ thuật của vương quốc Champa

Tại phòng Mỹ Sơn của Bảo tàng Điêu khắc Chăm hiện đang trưng bày

18 hiện vật, gồm 3 nhóm hiện vật: nhóm hiện vật trong các tháp chính, nhómhiện vật ở các tháp phụ và nhóm các hiện vật trang trí trên trán cửa hoặc trêntường tháp nói chung Ngoài ra tại đây cũng đang trưng bày một tấm bia chữ Sanskrit và chữ Chăm cổ(ký hiệu 1.1)

+ Nhóm các hiện vật trong các tháp chính gồm:

- Đài thờ Mỹ Sơn E1, ký hiệu 22.4

- Tượng thần Ganesa đứng, ký hiệu 5.1;

- Tượng thần Ganesa ngồi, ký hiệu 5.2

- Tượng thần Siva đứng, ký hiệu 3.3

- Nhóm 7 linga, ký hiệu 2.4

- Tượng thần Skanda, ký hiệu 8.1

+ Nhóm các hiện vật trong các tháp phụ chung quanh tháp chính, gồm tượng các vị thần phươnghướng:

- Thần Varuna 9.1

- Thần Vayu 9.2, 9.3

Ngày đăng: 20/07/2017, 08:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

6. Hình sư tử xung quanh phòng Trà Kiệu: - BAO TANG DIEU KHAC CHAMPA
6. Hình sư tử xung quanh phòng Trà Kiệu: (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w